Việc hình thành những phẩmchất đạo đức của người thầy giáo cho sinh viên là một trong những nhiệm vụrất quan trọng của nhà trường sư phạm cần được quan tâm ngay từ khi họbước vào trường
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU1- LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1.1- Cơ sở lí luận.
Giáo dục và đào tạo là một hoạt động có tổ chức của xã hội, nhằm bồidưỡng và phát triển các phẩm chất và năng lực con người cho mỗi công dân.(Cả về tư tưởng, đạo đức, khoa học, sức khoẻ và nghề nghiệp) Trong quátrình giáo dục ở nhà trường, nhiệm vụ giáo dục tri thức luôn phải gắn vớinhiệm vụ giáo dục đạo đức Thông qua “dạy chữ” để “dạy người”, giáo dụcđạo đức là một khâu then chốt để giáo dục nhân cách con người Đạo đức làtổng hợp các qui tắc, tiêu chuẩn chỉ đạo mối quan hệ giữa con người với nhautrong một cộng đồng, một xã hội nói chung Cho dù ở giai đoạn nào của lịch
sử thì nét chung của đạo đức vẫn là hướng tới cái thiện, chống lại cái ác,hướng tới quan hệ đẹp đẽ giữa con người với con người, con người với tựnhiên và xã hội, đồng thời cũng khẳng định sự tu dưỡng, tự giáo dục củachính mỗi cá nhân Trong nền giáo dục từ xa xưa, ông cha ta vẫn rất đề cao vàcoi trọng giáo dục đạo đức của con người “Tiên học lễ, hậu học văn”, phảichăng “lễ” là đức dục, là nền tảng cho sự phát triển và tài năng của con người.Lóc sinh thời Hồ Chủ Tịch rất quan tâm đến vấn đề giáo dục, rèn luyện đạođức cho thế hệ trẻ Bác nói: “Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũngkhó, có tài mà không có đức là người vô dụng’’ Bác còn chỉ rõ “Dạy cũngnhư học phải chú trọng cả Đức lẫn Tài Đức là đạo đức cách mạng, đó là cáigốc rất quan trọng Công tác giáo dục đạo đức trong trường học là một bộphận quan trọng có tính chất nền tảng của nhà trường XHCN” Như vậy Đức
và Tài là hai phạm trù cơ bản để đánh giá nhân cách của một con người Chonên để phát triển nhân cách phải hình thành, rèn luyện phẩm chất đạo đức, giátrị đạo đức phù hợp
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX Đảng ta khẳng định: “Pháttriển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sựnghiệp CNH-HĐH, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơbản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Để phát
Trang 2triển giáo dục và đào tạo đạt hiệu quả cao, trước tiên phải nâng cao chất lượngđội ngò giáo viên Giáo viên ở bất kì cấp học nào, bậc học nào cũng là ngườigiữ trọng trách trước một thế hệ Theo G.S -V.S Phạm Minh Hạc: “ Giáo viên
là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và nhân cách người thầy giáo làmột nhân tố đảm bảo chất lượng giáo dục Sứ mệnh Êy đặt lên vai người thầygiáo, đòi hỏi người thầy không những phải có vốn kiến thức phong phú, sâurộng mà còn phải có phẩm chất đạo đức trong sáng để xứng đáng là người dẫnđường trên con đường dạy học và giáo dục” Việc hình thành những phẩmchất đạo đức của người thầy giáo cho sinh viên là một trong những nhiệm vụrất quan trọng của nhà trường sư phạm cần được quan tâm ngay từ khi họbước vào trường vì: “Tri thức có thể có được bằng cách luyện cấp tốc trongmột thời gian ngắn nhưng phẩm chất kĩ năng nghề nghiệp thì không thể cóđược trong ngày một ngày hai Những phẩm chất đó muốn có phải được tổchức giáo dục chặt chẽ ngay từ khi sinh viên mới bước vào trường”
Luật giáo dục của nhà nước ta xác định nội dung giáo dục là: “Phảitập trung vào đào tạo năng lực nghề nghiệp, coi trọng giáo dục đạo đức nhằmđạt mục tiêu người lao động vừa có kiến thức, kĩ năng nghề nghiệp, vừa cóđạo đức, lương tâm nghề nghiệp”
Với những ý nghĩa trên, nghề dạy học đòi hỏi rất cao yêu cầu về cảphẩm chất và năng lực, người giáo viên phải là tấm gương sáng cho học sinhnoi theo Chính vì thế những sinh viên sư phạm, những người thầy cô giáotrong tương lai cần phải học tập, rèn luyện để có những phẩm chất đạo đức,năng lực cần thiết đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của người giáo viên trong giaiđoạn cách mạng mới
1.2- Cơ sở thực tiễn.
Trong xu thế hội nhập quốc tế, trong xu hướng toàn cầu hoá diễn ratrên mọi mặt của đời sống xã hội đã có ảnh hưởng tích cực đến tầng líp sinhviên Mét bộ phận lớn sinh viên đã nhận thức đúng đắn việc học tập và tudưỡng đạo đức Tuy nhiên cùng với xu hướng hội nhập Êy thì mặt trái của nócũng len lỏi, xâm nhập vào tầng líp sinh viên, khiến cho một bộ phận sinh
Trang 3viên sa sút về đạo đức, mờ nhạt về lí tưởng và hoài bão ước mơ Những tệnạn xã hội đã gây không Ýt tác hại đối với sinh viên làm ảnh hưởng tới chấtlượng, uy tín của các nhà trường sư phạm Thực tế công tác giáo dục- đào tạo
ở các trường sư phạm chưa được quan tâm đúng mức Việc giáo dục đạo đứccho sinh viên mặc dù đã được chú ý nhưng chưa đổi mới thường xuyên, nộidung nghèo nàn, thực hiện chưa đồng bộ Quá trình đào tạo giáo viên ở cáctrường sư phạm nói chung và trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình nói riêngcòn nặng về trang bị, cung cấp kiến thức khoa học chưa chú ý rèn luyện kĩnăng nghề nghiệp và những phẩm chất đạo đức của người giáo viên Để đápứng yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên, các trường sư phạm cầnquan tâm hơn nữa đến việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên thôngqua các môn học Muốn dạy học tốt trước hết phải có tâm hồn đẹp Tu dưỡng
về nghề căn bản nhất và cũng gian khổ là luyện tâm hồn Không có tâm hồnđẹp khó dạy học sinh thành công Quá trình luyện tâm hồn đi song song vớiquá trình luyện tay nghề Nói cách khác hồng thắm phải tiến hành cùng lúcvới chuyên sâu
Trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình nằm trong hệ thống các trường
sư phạm thực hiện nhiệm vụ đào tạo các thầy giáo, cô giáo tương lai Là mộtgiáo viên của trường tôi luôn nhận thức được vai trò quan trọng trong việchình thành nhân cách cho sinh viên, đào tạo sinh viên vừa có kiến thức vàtrình độ chuyên môn nghiệp vô cao, vừa phải có đạo đức tốt Đặc biệt là giúpcác giáo sinh yên tâm với nghề mình đã chọn, để họ có thể trở thành nhữngthầy, cô giáo vừa có Đức, vừa có Tài, gắn bó cả đời mình với sự nghiệp đào
tạo thế hệ trẻ Từ những lÝ do trên, tôi lùa chọn đề tài: “Biện pháp giáo dục
đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình”
để tiến hành nghiên cứu
2- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.
Xác định một số biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình nhằm góp phần nâng cao hiệu quả,chất lượng đào tạo trong giai đoạn hiện nay
Trang 43- KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU.
3.1- Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục đạo đức cho sinh viên ở trường CĐSP
3.2- Đối tượng nghiên cứu.
Biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trường CĐSPThái Bình
4- GIẢ THUYẾT KHOA HỌC.
Hiện nay trước những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước, trước những tác động của cơ chế thị trường đã và đang tạo ranhững biến động về giá trị đạo đức trong xã hội nói chung và trong tầng lípsinh viên nói riêng Trường CĐSP Thái Bình đã có những biện pháp giáo dụcdạo đức nghề nghiệp cho sinh viên nhưng những biện pháp đó có thể còn hạnchế Nếu nhà trường có những biện pháp giáo dục phù hợp, đồng bộ sẽ ngănngõa được những mặt tiêu cực của sinh viên, nâng cao chất lượng giáo dụcđạo đức nghề nghiệp, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo đội ngò giáo viênvừa sức, vừa tài phục vụ đất nước
5- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.
5.1- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc giáo dục đạo đức nghề nghiệptrong nhà trường sư phạm hiện nay
5.2- Tìm hiểu thực trạng các biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệpcho sinh viên trường CĐSP Thái Bình
5.3- Đề xuất những biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinhviên trường CĐSP Thái Bình và thẩm định những biện pháp đó
6- PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
- Đề tài nghiên cứu một số biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp chosinh viên trong phạm vi trường CĐSP Thái Bình trên đối tượng khảo sát là sinhviên năm thứ 1, thứ 2 khoa tự nhiên và khoa xã hội của trường CĐSP Thái Bình
- Giảng viên dạy các môn ở trường và những cán bộ đoàn thể liên quan
Trang 57- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
7.1- Phương pháp nghiên cứu lý luận.
- Sưu tầm, tập hợp các tài liệu sách báo, tạp chí chuyên ngành, tạp chíthông tin khoa học, các công trình nghiên cứu của thạc sĩ, tiến sĩ có liên quanđến đề tài
- Mét số văn kiện đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam, văn bản chỉ thịcủa ngành về vấn đề giảng dạy, giáo dục đạo đức cho học sinh- sinh viêntrong trường học
7.2- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.
7.2.1- Phương pháp quan sát.
- Dù giê học, giê sinh hoạt trên líp
- Quan sát các sinh hoạt tập thể, sinh hoạt chuyên đề, ngoại khoá
- Quan sát các hoạt động tập thể trong kí túc xá, hoạt động thực hành,thực tế, hoạt động xã hội
7.2.2- Phương pháp điều tra bằng ankét
Dùng hệ thống câu hỏi lùa chọn, câu hỏi kín và mở, câu hỏi loại trừnhằm khẳng định một cách khoa học những vấn đề đã trao đổi, tiếp xóc vớiđối lượng cần tìm hiểu
7.2.3- Phương pháp trao đổi trò chuyện.
- Phỏng vấn sinh viên để tìm hiểu quan điểm, nhận thức, những nguyện vọngcủa họ về vấn đề đạo đức, giáo dục đạo đức và việc lùa chọn nghề nghiệp
- Thăm dò dư luận xã hội về vấn đề đạo đức của giáo viên sư phạm hiệnnay (cả tích cực và tiêu cực)
7.2.4- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia.
Thăm dò thu thập ý kiến của những người có sự am hiểu về các vấn đề liênquan đến đề tài
7.2.5- Phương pháp thống kê toán học.
Sử dụng một số phương pháp toán học nh lập bảng thống kê, xử lý thông
tin và số liệu thu thập được
Trang 6
NỘI DUNG NGHIÊN CøU
Khổng Tử (551- 479) là người sáng lập ra thuyết đạo đức của Nho giáo
Theo ông Nhân- Nghĩa là giường cột của đạo đức, nhân nghĩa được đánh giá
theo hành vi Bàn về vấn đề vai trò của Nho giáo đối với đời sống xã hội vàgiáo dục, tác giả Quang Đạm đã viết: “Nho giáo đã cã những cố gắng to lớnbền bỉ, có những cống hiến tích cực trong việc khuyên bảo dạy dỗ cho conngười yêu thương đồng loại, cho con người có quan hệ tốt với nhau: Đạo đứcNhân - Nghĩa- Lễ- Trí - Tín và Hiếu đễ tuy có phần mơ hồ do hạn chế củanhững điÒu kiện lịch sử đương thời, đều biểu thị rõ tinh thần và ý chí tốt lànhthiết tha mong muốn làm cho con người tránh được, bớt được đau khổ”.[12,106]
Ở phương tây, trước công nguyên có nhiều nhà triết học quan tâm đếnvấn đề đạo đức Nhà triết học Xôcrát (470-399) hướng triết học vào việc giáodục con người sống có đạo đức Ông cho rằng: “ Nguyên nhân sâu xa củahành vi có hay không có đạo đức là do nhận thức” Arixtốt thì xem đạo đức
và chính trị là triết học về con người Đạo đức là cái thiện của cá nhân, cònchính trị là cái thiện của xã hội Sau này trên thế giới có nhiều triết gia, nhiềunhà giáo dục khác bàn về vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức Trong đó phải
Trang 7kể đến nhà sư phạm lỗi lạc người Tiệp Khắc J.A.Komenxky (1592- 1670).
Theo ông : “ Việc trau dồi đức hạnh cần phải bắt đầu từ lúc còn thơ, trước khi tâm hồn bị hoen ố” và “ Đức hạnh của người có thể trau dồi được bằng cách luôn luôn xử sự chân chính’’ [19] Trong các phương pháp giáo dục sinh
động của mình, ông đề cao giáo dục động cơ và hành vi đạo đức
Những thập kỉ gần đây, vấn đề đạo đức và giáo dục đạo đức cho thế hệtrẻ thu hót được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo dục Có thể
kể đến các công trình sau:
- Năm (1977- 1978), trung tâm nghiên cứu khoa học về thanh niên củaBungari trong chương trình nghiên cứu về vấn đề giáo dục đạo đức cho thanhniên đã đề cập nhiều đến vấn đề định hướng giá trị cho thanh niên trong đó cógiá trị đạo đức
- Năm 1979 Nhà xuất bản Matxcơva xuất bản cuốn “Giáo dục đạo đức học sinh - những vấn đề lí luận” của N.I Bônđưrép đề cập đến vấn đề lí luận
giáo dục đạo đức cộng sản chủ nghĩa cho thanh niên
- Năm (1986 - 1987) theo đề nghị của UNESCO đã có cuộc điều tra quốc
tế về giá trị đạo đức của con người chuẩn bị bước vào thế kỉ XXI nhằm mụcđích nghiên cứu các vấn đề về giá trị đạo đức và giáo dục về giá trị đạo đức
Đáng kể đến là tài liệu “Giá trị trong hành động” của trung tâm Canh tân và
công nghệ giáo dục thuộc tổ chức Bộ trưởng Giáo dục Đông Nam Á, xuất bảnnăm 1992 Tài liệu trình bày về vấn đề đưa giáo dục giá trị vào nhà trường vàcộng đồng các nước Inđônêxia, PhilÝppin, Malaysia và Thái Lan
Ở Việt Nam đã có hơn một trăm cuốn sách về giáo dục đạo đức Nội dungsách dạy làm người và bổn phận của mỗi người đối với xã hội, cách giao tiếptrong xã hội, thể hiện qua các tựa đề sách như : Huấn nữ ca ; Thơ dạy làm dâu ;Gia huấn ca ; Phong hoá tập ; Phong hoá lễ nghi ; Tập lễ phép ; Phải trái ở đời;Lời mẹ dạy con; Đạo đức và luân lí ; Mấy lời khuyên học trò…Trong số nhữngtác giả viết loại sách này phải kể đến cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh
Trang 8Cô Phan Bội Châu khi viết “ Khổng đăng học”, cụ đã rót ra 6 tính tốt cần rèn luyện gọi là lục ngôn: Nhân, Trí, Tín, Trực, Dũng, Cương Trong
thời đại Êy việc giáo dục 6 đức tính đó có tác dụng như sự rèn luyện bảnlĩnh cho con người
Cô Phan Chu Trinh trong bài “Đạo đức và luân lí” đã tìm ra sức mạnh
cho dân cho nước ở sức mạnh đạo đức, nhân cách, bản lĩnh con người Theo
Cụ từ xưa đến nay bất cứ dân téc nào đã đứng cạnh tranh hơn thua với cácdân téc trên thế giới thì chẳng những thuần nhờ sức mạnh mà thôi mà phảinhờ có đạo đức làm gốc nữa Nhất là dân téc nào đã bị té nhào xuống naymuốn đứng lên khái bị người ta đi lên trên thì lại phải có một nền đạo đứcvững chắc hơn dân téc đang giàu mạnh hơn mình
Sau này, chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nghiên cứu về vấn đề đạo đức vàgiáo dục đạo đức Tư tưởng đạo đức của Người cụ thể và gần gũi với mọi đối
tượng Đối với trẻ thơ, Bác chỉ mong chóng “…biết ăn biết ngủ, biết học hành là ngoan” Với thiếu niên, nhi đồng, Bác dạy thành 5 điều Bác dạy mỗi
công dân nói chung phải tuân theo pháp luật, kỉ luật lao động, giữ gìn trật tự,hăng hái lao động sản xuất, tiết kiệm … Đối với các chiến sĩ trong quân đội,Bác dạy phải “Trung với nước, hiếu với dân , nhiệm vụ nào cũng hoàn thành,khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” Đối với lực lượngcông an, Bác dạy thành 6 điều theo 6 mối quan hệ với bản thân, với đồng sự,với chính phủ, với nhân dân, với công việc và với cả kẻ địch Còn đối với
người Đảng viên, cán bộ, Bác dạy phải “ cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô
tư ” Tư tưởng đạo đức của Bác Hồ thật gần gũi, dễ hiểu, dễ thực hiện nhưng
cũng rất chặt chẽ, toàn diện và sâu sắc Bên cạnh đó cũng có một sè tác giảkhác nghiên cứu về đạo đức trong mối quan hệ với văn hoá, giá trị truyềnthống, lối sống…như Vũ Khiêu, Trần Ngọc Thêm,Trần Văn Giàu…
Trong những năm gần đây, vấn đề đạo đức trong xã hội hiện tại và vấn
đề giáo dục đạo đức, tư tưởng chính trị, lối sống cho thế hệ trẻ trở thành mốiquan tâm của xã hội Nhiều nhóm tác giả đã đi sâu nghiên cứu theo các đề tài
Trang 9khoa học cấp nhà nước về định hướng giá trị, lối sống, đạo đức…Có thể kểđến một số công trình sau:
-“Giá trị - Định hướng giá trị nhân cách và giáo dục giá trị” thuộc đề tàikhoa học cấp nhà nước mã số KX- 07- 04(1995) Các tác giả trình bày về hệthống thang bậc giá trị, sự hình thành định hướng giá trị nhân cách cũng nhưviệc giáo dục giá trị Trong đó khía cạnh phẩm chất đạo đức trong nhân cáchđược coi là giá trị đích thực, cao quÝ của con người, của mỗi cá nhân mà xãhội đang đòi hỏi, mong đợi Các tác giả cũng nhấn mạnh phải coi trọng cảviệc kế thừa những giá trị truyền thống lẫn giá trị hiện đại trong việc giáo dụcgiá trị cho thế hệ trẻ
- “Về phát triển toàn diện con người thời kì CNH-HĐH ” thuộc đề tàikhoa học cấp nhà nước do Giáo sư- Viện sĩ Phạm Minh Hạc chủ trì, mã sốKHXH 04-04(2001) Trong đó dành hẳn một chương (chương7) nói về địnhhướng chiến lược xây dựng đạo đức con người Việt Nam, các tác giả trìnhbày thực trạng đạo đức, nêu rõ mục tiêu giáo dục đạo đức trong giai đoạn hiệnnay cũng như việc đề ra các giải pháp giáo dục đạo đức cho con người ViệtNam thời kì CNH-HĐH
Tóm lại, đã có nhiều công trình khoa học trong và ngoài nước đề cập đếnvấn đề giáo dục đạo đức, nhưng nghiên cứu về đạo đức và giáo dục đạo đứcnghề nghiệp cho sinh viên sư phạm thì rất Ýt Đặc biệt trong điều kiện toàncầu hoá, thế giới có nhiều biến động, sự hội nhập của các nền văn hoá trên thếgiới, một số hiện tượng tiêu cực đang xuất hiện ngày càng nhiều trong ngànhgiáo dục đã có ảnh hưởng không nhỏ tới một bộ phận sinh viên Chính vì thếviệc nghiên cứu về biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ởtrường CĐSP Thái Bình là hết sức cần thiết, và đây cũng là một vấn đề mới
mẻ chưa có ai nghiên cứu
2- MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU. 2.1- Khái niệm về đạo đức.
2.1.1- Khái niệm đạo đức.
Trang 10Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội luôn được mọi giai cấp, trongmọi thời đại quan tâm Đạo đức là phép ứng xử có nhân phẩm giữa người nàyvới người khác Đạo đức luôn luôn là mối quan hệ hai chiều, là một thể chếđặc thù của xã hội nhằm điều chỉnh các hành vi của con người trong các lĩnhvực của đời sống xã hội Đạo đức là phương thức xác lập mối quan hệ giữa cánhân và xã hội, giữa lợi Ých xã hội và lợi Ých cá nhân.
Từ điển xã hội học NXB thế giới Hà Nội 1993- Nguyễn Khắc Viện(chủ biên):
“Đạo đức bao gồm những chuẩn mực hành vi đạo đức của con người theo hướng thiện, tránh hướng ác Mỗi một xã hội, mỗi một nhóm xã hội và mỗi cá nhân có thể lí giải cái thiện (đạo đức) và cái ác (vô đạo đức) theo những cách khác nhau, tuỳ thuộc vào quan niệm sống và lợi Ých của mình”.
Theo Trần Hậu Kiểm :
“Đạo đức là tổng hợp những nguyên tắc, qui tắc, chuẩn mực xã hội nhờ
đó con người tự giác điều chỉnh hành vi của mình vì lợi Ých xã hội, hạnh
Trang 11phóc của con người trong mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân và tập thể hay toàn xã hội” [ 29,7].
Gần đây trong cuốn : “Về phát triển toàn diện con người thời kì HĐH” các tác giả đưa ra khái niệm đạo đức theo nghĩa rộng:
CNH-“Đạo đức là thành phần cơ bản của nhân cách, phản ánh bộ mặt nhân cách của mét cá nhân đã được xã hội hoá” [16,153].
Như vậy trong các định nghĩa về đạo đức nêu trên đều đề cập đến cáckhía cạnh sau:
- Đạo đức là hình thái ý thức xã hội phản ánh quan hệ giữa cá nhân với
xã hội, với người khác và chính mình
- Đạo đức bao gồm hệ thống các giá trị, quy tắc, chuẩn mực xã hội
- Đạo đức là phương thức điều chỉnh hành vi của con người
Tóm lại, đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm hệ thống cácnguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực Căn cứ vào hệ thống các nguyên tắc chuẩnmực đó để đánh giá hành vi của cá nhân là hành vi đạo đức hay phi đạo đức.Hoặc cá nhân lùa chọn và điều chỉnh cách ứng xử của mình cho phù hợp vớiyêu cầu của xã hội và cộng đồng
2.1.2- Khái niệm đạo đức nghề nghiệp.
Nói tới khái niệm đạo đức nghề nghiệp là người ta muốn thu hẹp phạm
vi của khái niệm đạo đức nói chung nhưng nó được cụ thể hoá và đặc trưnghoá cho từng nghề nghiệp nhất định
Đạo đức nghề nghiệp cũng có những nguyên tắc, chuẩn mực được dưluận xã hội thừa nhận và quy định những hành vi ứng xử trong mối quan hệ
xã hội Bản thân nó lại có những nét đặc thù riêng, phản ánh đầy đủ phẩmchất cần có của một ngành, một nghề cụ thể Đó là những qui tắc, chuẩnmực của một nghề nghiệp hoặc một nhóm nghề nghiệp nào đó, nó qui địnhnhững hành vi ứng xử của những cá nhân khi hoạt động trong lĩnh vực nghềnghiệp đó Khi những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức đó không được thựchiện hoặc thực hiện không đúng nó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng và hiệu quả
Trang 12trong hoạt động của chính hoạt động đó Mỗi một lĩnh vực nghề nghiệp đều
có chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp chung: Ví dụ khi nói đến đạo đức củangành y thì vấn đề “lương y như từ mẫu” được coi là một chuẩn mực đạođức của ngành này Trong thời kì chiến tranh, phẩm chất đạo đức “yêu xenhư con, quí xăng như máu” là phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của người bộđội lái xe thời kì đó Với những người làm công tác dịch vụ xã hội thì: “Vuilòng khách đến, vừa lòng khách đi” là biểu hiện đạo đức nghề nghiệp của
họ Với lực lượng công an nhân dân thì phẩm chất đạo đức của họ phải đạtchuẩn theo 6 điều Bác Hồ dạy:
“Với tự mình phải cần, kiệm, liêm, chính
Với đồng sự phải thân ái giúp đỡ
Với chính phủ phải tuyệt đối trung thành
Với nhân dân phải kính trọng lễ phép
Với công việc phải tận tuỵ
Đối với địch phải cương quyết khôn khéo.”
Đối với người Đảng viên, cán bộ, Bác dạy phải “cần, kiệm, liêm, chính,chí, công, vô tư” Đối với ngành giáo dục, một khẩu hiệu chung cho các cấphọc là: “Tất cả vì học sinh thân yêu” Đó chính là đạo đức nghề nghiệp củangười thầy giáo
Tóm lại, từ nội hàm của khái niệm đạo đức nói chung và qua phân tíchmột số đặc trưng về đạo đức của một vài nghề nghiệp, ta có thể hiểu:
Đạo đức nghề nghiệp là tổng hợp những nguyên tắc, qui tắc, những chuẩn mực đạo đức xã hội mang tính đặc thù của một bộ phận xã hội nhất định nhằm định hướng và điều chỉnh hành vi ứng xử và giải quyết những mối quan hệ giữa các thành viên và xã hội, nó còn chịu sự chế ước của pháp luật.
Vì vậy, đạo đức nghề nghiệp được xem như là một nội dung quan trọng củacông tác giáo dục đạo đức nói riêng và công tác giáo dục đào tạo nói chung
2.2- Khái niệm giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức nghề nghiệp.
2.2.1- Khái niệm giáo dục đạo đức.
Trang 13Theo tác giả Hà Thế Ngữ - Đặng Vũ Hoạt:
“Giáo dục đạo đức là quá trình biến đổi hệ thống các chuẩn mực đạo đức từ những đòi hỏi bên ngoài, bên trong của cá nhân thành niềm tin, nhu cầu, thãi quen của người được giáo dục.” [22, 128].
Đạo đức bao giê cũng gồm ý thức đạo đức, tình cảm và niềm tin đạo đức,hành vi đạo đức Do đó việc giáo dục đạo đức đều phải bao gồm cả ba mặtnhằm hình thành những con người có bộ mặt đạo đức phù hợp với yêu cầucủa xã hội
Trong nhà trường XHCN, giáo dục đạo đức cho học sinh là phát triểnmặt đạo đức của nhân cách, là xây dựng các sản phẩm đạo đức XHCN trongmỗi cá nhân, là hoàn thành ý thức đạo đức, tình cảm đạo đức, hành vi và thãiquen đạo đức của học sinh theo những nguyên tắc đạo đức cách mạng mà tấmgương sáng ngời là đạo đức của chủ tịch Hồ Chí Minh
Giáo dục đạo đức là bộ phận của nội dung giáo dục toàn diện con người,
là quá trình kết hợp nâng cao nhận thức với hình thành thái độ, xúc cảm, tìnhcảm, niềm tin và hành vi thãi quen đạo đức Giáo dục đạo đức phải gắn chặtvới giáo dục tư tưởng chính trị Giáo dục tư tưởng chính trị có tác dụng xâydựng cơ sở thế giới quan Mác - Lê Nin và định hướng chính trị xã hội theoquan điểm và đường lối của Đảng cộng sản, cho ý thức và hành động đạo đức.Ngoài ra giáo dục đạo đức còn phải kết hợp với giáo dục pháp luật Giáo dụcpháp luật có tác dụng củng cố và thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu đạo đức
2.2.2- Đạo đức gắn liền nghề nghiệp
Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên trong các nhàtrường sư phạm là hết sức quan trọng được các nhà trường chú ý và đặt songsong với nhiệm vụ bồi dưỡng tri thức khoa học Thực chất của công tác này làcông tác quản lí, giáo dục học sinh trong quá trình học tập, rèn luyện tại nhàtrường Đây là khâu quan trọng của quá trình hình thành nhân cách ngườigiáo viên theo mục tiêu đào tạo và theo tiêu chuẩn đạo đức của người giáoviên Đồng thời đưa hoạt động của nhà trường vào nề nếp, chính qui đáp ứng
Trang 14yêu cầu mà Đảng và Nhà nước đặt ra đó là “xã hội hoá công tác giáo dục” Do
đó giáo dục đạo đức phải đạt những yêu cầu cơ bản sau:
- Giáo dục tư tưởng phẩm chất đạo đức cách mạng, lòng nhân ái cho sinhviên là nội dung xuyên suốt quá trình quản lí giáo dục sinh viên Yêu cầu nàynhằm xây dựng niềm tin, bản lĩnh chính trị, sự tin tưởng trung thành vàođường lối lãnh đạo của Đảng, của ngành, của trường và khoa Giáo dục tìnhcảm đạo đức cách mạng và đạo đức nghề nghiệp trong sáng Đây là yếu tốtiên quyết, cốt lõi để xây dựng bản chất nhân cách người giáo viên nhân dân.Việc giáo dục đạo đức trong điều kiện hiện nay gặp không Ýt khó khăn bởinhững tác động tiêu cực của lối sống thực dụng, vị kỉ khá phổ biến trong xãhội Từ đó ảnh hưởng đến môi trường giáo dục trong nhà trường
- Nhà trường cần giáo dục mục đích, động cơ học tập đúng đắn, tinh thầnvượt khó, ý chí rèn luyện, sự ham mê sáng tạo trong học tập Đây là mặt quantrọng để giáo dục sinh viên có bản lĩnh chính trị và tri thức khoa học phục vụcho công tác sau này
- Giáo dục sinh viên xây dựng nề nếp, thãi quen sống có kỉ luật, trật tựtheo nội quy, quy chế của trường, kỉ cương của gia đình và pháp luật Yêu cầumỗi sinh viên phải rèn luyện cho mình tác phong tù tin, nhanh nhẹn, có vănhoá, thích ứng với mọi hoạt động học tập và rèn luyện trong quan hệ xã hội.Đồng thời phát hiện, bồi dưỡng những mặt tích cực, giáo dục khắc phụcnhững mặt tiêu cực, lệch lạc trong hành vi đạo đức của sinh viên để có biệnpháp giáo dục và xử lí kịp thời
- Giáo dục sinh viên nêu cao ý thức trách nhiệm, ý thức tự giác trong họctập, trong việc chấp hành nghiêm chỉnh đường lối chính sách của Đảng vàNhà nước
2.2.3- Nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong trường sư phạm.
Trong nhà trường Sư phạm, nội dung giáo dục đạo đức được gắn vớiviệc tu dưỡng phẩm chất đạo đức của người giáo viên tương lai, được cụ thểhoá theo yêu cầu nghề nghiệp trong thời đại mới Nội dung giáo dục đạo đức
Trang 15phải bao gồm cả ba mặt: phát triển ý thức đạo đức, hình thành nhu cầu, động
cơ, tình cảm đạo đức phù hợp với nền đạo đức mới, xây dựng hành vi và thãiquen đạo đức
- Phát triển ý thức đạo đức nhằm trang bị cho mọi người những hiểu biết
về các chuẩn mực, quy tắc đạo đức
- Hình thành nhu cầu, động cơ, tình cảm đạo đức phù hợp để thúc đẩyhành vi đạo đức
- Xây dựng hành vi và thãi quen đạo đức là xây dựng những hành vi đạođức ổn định, trở thành nhu cầu đạo đức được thể hiện trong mọi tình huốngtương tự, hình thành thãi quen đạo đức bền vững trong mỗi cá nhân
- Giáo dục lí luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh
- Giáo dục chủ nghĩa yêu nước, giáo dục lí tưởng của chủ nghĩa cộngsản
Giáo dục đạo đức phải gắn bó chặt chẽ với giáo dục tư tưởng chính trịnhằm xây dựng thế giới quan Mác Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, địnhhướng chính trị xã hội theo quan điểm đường lối của Đảng
Các nội dung giáo dục đạo đức nêu trên phải được thể hiện trong các mốiquan hệ cụ thể của cá nhân với xã hội, với người khác, với bản thân, cũng nhưđối với lao động
Trang 16Trong nhà trường sư phạm, nội dung giáo dục đạo đức được gắn với việc
tu luyện phẩm chất đạo đức của người giáo viên tương lai, được cụ thể hoátheo yêu cầu nghề nghiệp trong thời đại mới Tuy vậy cơ bản vẫn không táchrời những mối quan hệ chủ yếu trong xã hội, bao gồm các mối quan hệ sau:
* Mối quan hệ của cá nhân với xã hội.
Giáo dục cho sinh viên lòng yêu nước, yêu CNXH, tha thiết với lợi Ýchcủa nhà nước, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, tự hào về thành tựu văn hoá xã hộicủa đất nước, quí trọng quá khứ vẻ vang và những truyền thống của dân téc.Tinh thần Êy phải được gắn vào điều kiện, tình hình xã hội cụ thể của địaphương mình đang sống để có những hành động thiết thực mang lại lợi Ýchcho cộng đồng, xã hội
* Mối quan hệ thể hiện lí tưởng sống, nhận thức tư tưởng chính trị của cá nhân.
Đó là việc giáo dục thế giới quan khoa học, lí tưởng sống cao đẹp…giúp chomỗi cá nhân có nhận thức, thái độ chính trị vững vàng, có bản lĩnh trước cuộc sống
* Quan hệ của cá nhân đối với công việc.
Giáo dục cho cá nhân những giá trị đạo đức thể hiện nhận thức, thái độ,chất lượng hiệu quả công việc trong mọi hoạt động Những giá trị đạo đứcnày sẽ tạo thành động lực giúp mỗi cá nhân trong quá trình rèn luyện nhâncách
Từ đó giáo dục cho sinh viên thái độ tận tuỵ với nghề nghiệp, lòng yêunghề, tìm thấy niềm hạnh phóc trong lao động nghề nghiệp
* Quan hệ giữa cá nhân với người khác, với dân téc khác.
Đó là những phẩm chất qui định mối quan hệ giữa người với người trong
xã hội như tình yêu thương con người, tình cảm đối với ông bà, cha mẹ, anhchị em, thầy cô giáo …Đó là lòng nhân ái, tình yêu thương, sự tôn trọng, biếtquan tâm và sẵn sàng giúp đỡ người khác, luôn có hành động hướng thiện bảo
vệ hạnh phóc của người khác, có thái độ không khoan nhượng với nhữnghành vi vi phạm vào quyền con người hoặc phẩm giá con người
Trang 17Tinh thần mình vì mọi người là phẩm chất đạo đức cơ bản điều chỉnhquan hệ giữa cá nhân với cá nhân trong xã hội, giữa cá nhân với tập thể Vìvậy cần giáo dục cho sinh viên hăng hái tham gia vào những hoạt động tập thể
có Ých cho xã hội, tôn trọng các nguyên tắc và chuẩn mực do tập thể đề ra
Có tinh thần hợp tác, đoàn kết giúp đỡ nhau trong khi thực hiện công việcchung Giáo dục cho các em có nhận thức đúng đắn về tình đoàn kết, sự hợptác, tính nhân văn, bình đẳng giữa các dân téc trên thế giới
* Quan hệ của cá nhân với lao động
Giáo dục và bồi dưỡng cho sinh viên có tri thức và niềm tin đạo đức, cótình cảm và động cơ đạo đức trong sáng, có ý thức và hành vi đạo đức lànhmạnh, có thái độ đúng đắn với các hình thức lao động tạo ra sản phẩm cho xãhội Đặc biệt phải thể hiện thái độ đó trong học tập và rèn luyện như nghiêmtúc, tự giác, chăm chỉ, có ý thức kỉ luật cao, có trách nhiệm trong công tác,cần cù chịu khó trong lao động, biết tiết kiệm trong tiêu dùng, sinh hoạt
* Thái độ đối với bản thân.
Giáo dục cho mỗi cá nhân biết cách nhìn nhận, đánh giá về bản thân, cónhững định hướng đúng đắn để tự hoàn thiện nhân cách của mình, tự tu dưỡng tốt.Biểu hiện ở ý thức trách nhiệm đối với bản thân, nghiêm túc khi nhìnnhận đánh giá bản thân, kiên quyết đấu tranh với những bất công dối trá Giáodục cho sinh viên tính khiêm tốn, thật thà, lòng tự trọng, biết giữ gìn phẩm giácủa cá nhân Biết ứng xử có văn hoá, lễ độ, nhường nhịn, gương mẫu…nhữngphẩm chất này gắn chặt với lĩnh vực ý chí của họ được thể hiện trong học tập,lao động sinh hoạt đoàn thể, đời sống hàng ngày
* Quan hệ cá nhân với môi trường.
Giáo dục cho mỗi cá nhân có nhận thức đúng về môi trường sống (môitrường tự nhiên, xã hội) có cách nhìn nhận tiến bộ về tính cộng đồng, hợp táctrong việc bảo vệ môi sinh Từ đó giáo dục cho các em ý thức tự giác sẵn sàngtham gia bảo vệ, cải thiện môi trường tự nhiên, văn hoá
Trang 18Như vậy nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên trước hết là giáo dụctình cảm trách nhiệm với tổ quốc, quê hương, với truyền thống ông cha, giáodục về lối sống lành mạnh của mỗi cá nhân trong các mối quan hệ xã hội.Giáo dục đạo đức phải tiến hành cùng với giáo dục tư tưởng chính trị vàgiáo dục lối sống nhằm giúp cho sinh viên nói riêng và thanh niên nói chungthấm nhuần các quy tắc, chuẩn mực đạo đức mà xã hội quy định Ngoài racòn phải giáo dục cho họ có được bản lĩnh đấu tranh chống tư tưởng thãiquen lạc hậu, lên án hành vi phi đạo đức, tự giáo dục chính mình trở thànhcon người có Ých cho xã hội.
2.2.4- Mét sè phương pháp giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong nhà trường hiện nay:
Phương pháp giáo dục là thành tố quan trọng của quá trình giáo dục, làcách thức hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm thực hiệncác nhiệm vụ giáo dục
Theo phó Giáo sư - Tiến sĩ Hà Nhật Thăng:
“Phương pháp giáo dục là cách thức hoạt động gắn bó với nhau giữa nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dục
do xã hội đặt ra đối với nhà trường” [35, 72].
Phương pháp giáo dục được thể hiện thông qua các biện pháp giáo dụckhác nhau Biện pháp giáo dục là biểu hiện cụ thể và có tính chất bộ phận củaphương pháp giáo dục, nó nằm trong phương pháp và thuộc về phương pháp
đó Giữa phương pháp giáo dục và biện pháp giáo dục gắn bó chặt chẽ vớinhau, chuyển hoá lẫn nhau, trao đổi vai trò cho nhau trong từng tình huống sưphạm cụ thể Phương pháp giáo dục liên quan chặt chẽ với phương tiện giáodục và nó được thể hiện qua các hình thức tổ chức giáo dục
Trong giáo dục nói chung và giáo dục đạo đức nói riêng thường dùngcác nhóm phương pháp sau:
* Loại phương pháp hình thành ý thức cá nhân.
Trang 19Là những phương pháp tác động vào lí trí, tình cảm, ý chí của ngườiđược giáo dục nhằm hình thành ở họ ý thức xã hội, niềm tin đạo đức.
Nhóm này gồm các phương pháp:
- Đàm thoại là phương pháp tổ chức trò chuyện, chủ yếu là giữa nhà giáodục và người được giáo dục về các chủ đề đạo đức, thẩm mĩ dùa trên một hệthống câu hỏi nhất định
+ Giảng giải là phương pháp dùng lời nói trình bày, giải thích, chứngminh các chuẩn mực xã hội nhằm giúp người được giáo dục hiểu và nắmđược ý nghĩa, nội dung và quy tắc thực hiện các chuẩn mực này
+ Kể chuyện là phương pháp dùng lời nói kết hợp với cử chỉ điệu bộ đểthuật lại một câu chuyện có ý nghĩa giáo dục
+ Nêu gương là phương pháp dùng những tấm gương cụ thể, sống động
để kích thích người được giáo dục bắt chước hoặc né tránh
Nhóm các phương pháp hình thành ý thức cá nhân có tác dụng giúpngười được giáo dục trang bị những tri thức cần thiết về các chuẩn mực xã hội
để họ hiểu được những giá trị xã hội cần tôn trọng Trên cơ sở đó dần dần họ
sẽ hình thành niềm tin đối với các chuẩn mực, các giá trị xã hội đó, làm cơ sởđịnh hướng cho hệ thống hành vi và thãi quen đạo đức
* Loại phương pháp tổ chức hoạt động và hình thành kinh nghiệm ứng xử.
Là những phương pháp tổ chức các hoạt động thực tiễn cho người đượcgiáo dục tham gia nhằm tạo cơ hội cho họ chuyển hoá ý thức hành vi và lặp đilặp lại hành vi để có thãi quen cần thiết
Trang 20- Rèn luyện là phương pháp tổ chức các hoạt động về cuộc sống chongười được giáo dục, tạo cho chúng có điều kiện ứng xử phù hợp với chuẩnmực xã hội và các kĩ năng tổ chức các hoạt động của mình.
* Loại phương pháp kích thích hoạt động và điều chỉnh hành vi.
Là các phương pháp nhà giáo dục biểu thị sự đánh giá tích cực haykhông đồng tình, phê phán các hành động, hành vi của người được giáo dục.Nhóm này gồm 2 phương pháp:
- Khuyến khích là cách thức biểu thị sự đánh giá tích cực của xã hội đốivới hành vi ứng xử và hoạt động của từng học sinh hay của nhóm, tập thể
- Trách phạt là cách thức tác động vào nhân cách học sinh bằng cáchbiểu thị sự không đồng tình, phê phán và lên án những hành động, hành vi tráivới các chuẩn mực đạo đức của xã hội hoặc đi chệch khỏi những qui tắc tậpthể
Nhóm phương pháp nêu trên nhằm kích thích những hành vi phù hợp vớichuẩn mực xã hội đồng thời uốn nắn, điều chỉnh những hành vi không phùhợp với chuẩn mực xã hội
* Loại phương pháp kiểm tra, đánh giá hành vi và hoạt động.
Nhằm kiểm tra, đánh giá hành vi và hoạt động của học sinh, là yếu tốquan trọng đảm bảo hiệu quả giáo dục
Trong đánh giá có thể dùng các phương pháp sau:
- Quan sát để có thể phát hiện được kĩ năng, hành vi, thái độ của họcsinh, người được giáo dục
- Đàm thoại, trò chuyện, trao đổi với những người xung quanh học sinh,người được giáo dục, thấy được ý thức, thái độ, động cơ, hành vi và thãi quencủa học sinh
2.3- Biện pháp và biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp.
- Theo từ điển tiếng Việt phổ thông: Biện pháp là cách làm, cách giảiquyết một vấn đề cụ thể
Trang 21- Trong nghiên cứu khoa học người ta hiểu biện pháp như là con đường,
là cách thức để chuyển tải nội dung Có nghĩa là khi lùa chọn, sử dụng mộtbiện pháp nào đó thì phải căn cứ vào nội dung của vấn đề
- Trong thực tế, người ta sử dụng biện pháp theo hai nghĩa (nghĩa rộng
và nghĩa hẹp)
Theo nghĩa hẹp: Biện pháp là yếu tố hợp thành phương pháp, phụ thuộc vào phương pháp và trong tình huống cụ thể phương pháp và biện pháp có thể chuyển hoá cho nhau.
Theo nghĩa rộng: Biện pháp bao hàm cả nội dung và cách làm, nó nằm trong tầng bậc dưới giải pháp nhưng trên phương pháp Ở đề tài này, chúng
tôi sử dụng khái niệm biện pháp theo nghĩa rộng
Từ cách hiểu về “Đạo đức”, “Giáo dục đạo đức” và “Biện pháp” nhưtrên, theo chúng tôi:
Biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp là con đường, là cách thức tác động của nhà giáo dục đến đối tượng giáo dục để họ tự giác biến những giá trị, chuẩn mực đạo đức xã hội mang tính khách quan và nhu cầu, động cơ bên trong thành ý thức, niềm tin, tình cảm và thãi quen, hành vi đạo đức nghề nghiệp của bản thân.
3-TẦM QUAN TRỌNG CỦA GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP TRONG NHÀ TRƯỜNG SƯ PHẠM HIỆN NAY.
3.1- Vị trí, chức năng của người thầy giáo trong xã hội.
Trong xã hội, nghề thầy giáo được đánh giá là nghề cao quý, ngườithầy giáo là người được xã hội tôn vinh, kính trọng Dù ở chế độ xã hội nào,người thầy giáo cũng được toàn dân tôn kính, đối xử khuôn phép với tấm lòngkính nể Những người thầy mẫu mực được coi là tinh hoa của dân téc, đượclưu danh muôn đời như thầy giáo Chu Văn An, Lê Qúi Đôn, Cao Bá Quát,Lương Thế Vinh…Thực hiện chức năng của mình, người thầy có một vị tríđặc biệt trong xã hội, là người đại diện cho nền văn minh nhân loại, người
Trang 22đem ánh sáng văn hoá truyền cho thế hệ trẻ nói riêng và xã hội nói chung.
“Không ai trong xã hội, ngay cả cha mẹ và cả cha mẹ là bậc vĩ nhân đi chăngnữa cũng không thể thay thế được chức năng của người thầy giáo” [24, 161]
Bằng lao động sư phạm của mình, người thầy giáo giúp học sinh tiếpcận với nền văn minh nhân loại, chỉ cho họ phương pháp tiếp thu, lĩnh hội cóhiệu quả nhất những tinh hoa văn hoá chuyển thành tài sản riêng của họ, nhờ
đó họ có thể bước vào cuộc sống xã hội Người thầy giáo thực sự là cái “dấunối” giữa nền văn hoá nhân loại và dân téc với việc tái tạo nền văn hoá đótrong chính thế hệ trẻ Thật đúng như ông cha ta đã từng đúc kết: “Khôngthầy đố mày làm nên”
Trong xã hội hiện đại thì thầy giáo cũng là người lao động, mà loại hìnhlao động này có đặc thù riêng so với nhiều loại hình lao động khác Luật Giáodục của Nhà nước ta đã khẳng định: “Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàngđầu, là sự nghiệp của nhà nước và của toàn dân” Trong công việc hệ trọng đóthì giáo viên là người có chức năng nhiệm vụ cao cả, người có vị trí được tônvinh Vị trí đó được xác định bởi tầm quan trọng của giáo dục trong xã hộihiện đại và do đặc điểm của lao động sư phạm qui định Nghề giáo có quan hệhữu cơ với mọi ngành nghề khác, người thầy giáo cũng bình đẳng với mọingười ở những ngành nghề khác, nhưng do tính chất của nghề “trồng người”nên nhà giáo được xã hội gọi là thầy Thầy giáo thời xưa được nhìn nhận cóphần chặt chẽ, xa cách đời thường, còn thầy giáo thời nay được nhìn nhận cởi
mở hơn, phù hợp hơn với nền văn minh đương đại
Trong bối cảnh mới của thời đại, thành tựu kĩ thuật- công nghệ phát triểnđang tạo ra sự chuyển dịch định hướng giá trị Giáo viên không thể chỉ đóngvai trò truyền đạt tri thức mà phải có năng lực phát triển cảm xúc, thái độ,hành vi của học sinh, đảm bảo cho người học làm chủ được và biết ứng dụnghợp lí những tri thức đó Giáo viên không chỉ đóng vai trò truyền đạt tri thức,kiến thức mà còn là người biết gợi mở, hướng dẫn, tổ chức, cố vấn và trọngtài cho các hoạt động tìm tòi của học sinh Giáo viên giỏi là người biết giúp
Trang 23học sinh tiến bộ nhanh trên con đường học tập tự lực, kết hợp thành công việcgiảng dạy tri thức với giáo dục giá trị và phát triển tư duy Như vậy ngườithầy có vị trí cơ bản đối với sự phát triển của cá nhân và đất nước, bởi lẽ khigiáo dục một thầy giáo ta được một thế hệ Muốn có trò giỏi trước hết phải cóthầy giỏi, vì thế người thầy có vai trò đặc biệt quan trọng đến việc hình thành
và phát triển nhân cách cho thế hệ trẻ
Trong nhà trường XHCN, đội ngò giáo viên là những người trực tiếpgiáo dục quan điểm của Đảng, vị trí của họ càng được coi trọng Đồng thờinhiệm vụ đặt ra cho họ càng nặng nề khi giáo dục được mang trọng trách làđòn bảy thúc đẩy lực lượng sản xuất, góp phần làm tăng trưởng xã hội Thựchiện vai trò là lực lượng nòng cốt trong giáo dục, là nhân tố quyết định chấtlượng hiệu quả giáo dục, người thầy giáo là những người tiên phong trong sựnghiệp đổi mới của đất nước
Với ý nghĩa trên đây, nghề thầy giáo đòi hỏi những ông thầy phải cónhững phẩm chất tốt đẹp và năng lực thực sự mới tham gia được loại hình laođộng trí tuệ gian khó và vẻ vang của mình
3.2- Tầm quan trọng của giáo dục đạo đức nghề nghiệp ở trường sư phạm hiện nay.
Trường sư phạm, nơi đào tạo các thầy cô giáo tương lai chuẩn bị bướcvào nghề sư phạm, nghề mà theo nhà giáo dục K.D.Usinxki đã nhận định:Dùng nhân cách để giáo dục nhân cách, thì việc giáo dục đạo đức là một trongnhững nội dung quan trọng Bởi đạo đức là cái gốc quan trọng giúp ngườithầy giáo đứng vững được với nghề, là cái nâng nghề sư phạm trở nên caoquÝ, là cái khiến người thầy giáo được đặt vào vị trí cao trong xã hội và được
xã hội tôn kính
Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên là một hoạt động mang tính
xã hội phức tạp từ nhiều phía: Gia đình, nhà trường, xã hội, được thực hiệnđồng bộ trên các mặt (giáo dục tư tưởng chính trị , giáo dục hành vi, lối sống,nếp sống, truyền thống…) Kết quả đều phục vụ mục tiêu chung là hình thành
Trang 24ở họ những tri thức đạo đức, tình cảm, hành vi đạo đức lành mạnh Từ nhậnthức về các giá trị và chuẩn mực đạo đức dần hình thành các nhu cầu, động cơbên trong thúc đẩy các em có hành vi, hành động thể nghiệm chúng trongcuộc sống hàng ngày.
Tóm lại: Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là quá trình xây dựng và điềuchỉnh hành vi hoạt động của cá nhân phù hợp với mục tiêu đã định Việc giáodục đạo đức nghề nghiệp có ý nghĩa vô cùng to lớn, nhằm mục đích tạo ramột đội ngò những người giáo viên có phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầunhiệm vụ của nhà trường trong giai đoạn mới
4- NHỮNG PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CẦN HÌNH THÀNH Ở NGƯỜI SINH VIÊN SƯ PHẠM
4.1- Đặc điểm tâm lí của sinh viên.
Sinh viên là một tầng líp xã hội, một tổ chức xã hội quan trọng đối với mọithể chế chính trị Thanh niên sinh viên là nhóm người có vị trí chuyển tiếp,chuẩn bị cho một đội ngò tri thức có trình độ và nghề nghiệp tương đối cao trong
xã hội Sinh viên là những công dân thực thụ của đất nước với đầy đủ quyền hạn
và nghĩa vụ trước pháp luật Họ có quyền bầu cử, ứng cử, phải chịu trách nhiệm
về mọi hành vi và việc làm trước Bộ luật hình sự, luật nghĩa vụ quân sự, luật hônnhân gia đình…Như vậy xã hội coi họ là một thành viên chính thức, một ngườitrưởng thành Tuy nhiên do đang ngồi trên ghế nhà trường, chưa tham gia trựctiếp sản xuất ra của cải vật chất nên thanh niên sinh viên chưa hoàn toàn tự lập
về mọi mặt so với thanh niên cùng độ tuổi vào đời sớm
* Về sự phát triển tâm lý, thanh niên sinh viên có những đặc điểm sau:
- Đa số sinh viên thích nghi khá nhanh chóng với cuộc sống và môitrường hoạt động mới (nội dung học tập mang tính chất chuyên ngành;phương pháp học tập mang tính chất nghiên cứu khoa học ; môi trường sinhhoạt mở rộng phạm vi quốc gia, thậm chí quốc tế, nội dung và cách thức giaotiếp với thầy cô giáo, bạn bè và các tổ chức xã hội phong phú đa dạng…)
Trang 25- Họ thường không thoả mãn với những gì đã biết mà muốn đào sâu suynghĩ để nắm vấn đề sâu hơn, rộng hơn Có những sinh viên không chỉ theohọc một khoa, mà 2,3 khoa khác nhau hoặc gần nhau để bổ sung kiến thứctoàn diện của mình.
* Về động cơ học tập của sinh viên.
Những động cơ có tính chất nhận thức đối với chính quá trình nghiêncứu, học tập như khao khát có tri thức, có trình độ, hứng thó với những vấn đề
lý luận, những vấn đề khoa học, những nội dung có tính nghề nghiệp rõ rệt,thích có nghề nghiệp nghiêm chỉnh, muốn trở thành chuyên gia của mộtnghề…Những động cơ liên quan đến sự tự khẳng định, tự ý thức về năng lực,phẩm chất của người thanh niên trưởng thành Những động cơ có tính xã hội,muốn cống hiến tài năng, sức lực cho xã hội, có hoài bão trong việc xây dựngđất nước; những động cơ liên quan đến tương lai đường đời của cá nhân; cónghề nghiệp ổn định, tương đối cao trong xã hội để có thu nhập trong việcnuôi sống mình và gia đình…
Những nghiên cứu về động cơ học tập của sinh viên cho thấy trong cấutrúc thứ bậc động cơ, sinh viên thường biểu hiện như sau:
+ Động cơ có tính chất nhận thức được xếp ở vị trí thứ nhất
+ Động cơ nghề nghiệp được xếp ở vị trí thứ hai
+ Động cơ có tính xã hội ở vị trí thứ ba
+ Động cơ tự khẳng định ở vị trí thứ tư
+ Động cơ có tính cá nhân ở vị trí thứ năm
Thứ bậc các động cơ này không cố định mà chúng biến đổi trong quátrình học tập và cũng không phải là như nhau ở các sinh viên có trình độ họclực khác nhau, ở các lĩnh vực khoa học khác nhau
Tính tích cực phụ thuộc vào một số điều kiện sư phạm nhất định.Ví dụ:Những bài giảng của giáo viên được trình bày theo hướng nêu vấn đề, gâynhững tình huống được giải quyết, những giê thảo luận, những buổi hội thảo
Trang 26được phát huy tính độc lập, sáng tạo, việc hướng dẫn hoạt động nghiên cứu khoahọc ở phòng thí nghiệm, viện nghiên cứu thực tiễn để giải quyết vấn đề…
Theo B.G Anankev và một số nhà tâm lí khác, tuổi sinh viên là thời kìphát triển tích cực nhất của những loại tình cảm cao cấp như tình cảm trí tuệ,tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mĩ Hầu hết sinh viên bộc lé sự chăm chỉ,say mê của mình đối với chuyên ngành và nghề nghiệp đã chọn Khác vớinhững lứa tuổi trước, tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mĩ ở tuổi sinh viênbiểu lé một chiều sâu rõ rệt Họ yêu thích cái gì đều có thể lý giải, phân tíchmột cách có cơ sở Cá biệt có những sinh viên đã xây dựng được “triết lý” chocái đẹp của mình theo chiều hướng khá ổn định Điều này lí giải tại sao ở độtuổi này sinh viên có cách cảm, cách nghĩ riêng, có phong cách kiến trúc, hộihoạ, điêu khắc riêng…
Tình bạn cùng giới, khác giới ở tuổi sinh viên tiếp tục phát triển theochiều sâu, đã làm phong phú thêm tâm hồn, nhân cách của sinh viên rất nhiều.Bên cạnh tình bạn, tình yêu nam nữ ở tuổi sinh viên là một lĩnh vực rất đặctrưng, đã đạt đến hình thái chuẩn mực của những biểu hiện phong phú đặc sắccủa nó Nhìn chung tình yêu nam nữ ở tuổi sinh viên rất đẹp, lãng mạn, đầythi vị, song trong lĩnh vực này, đa số sinh viên đã chọn con đường tập trungmọi mặt cho học tập, học nghề Cách này mang lại nhiều hiệu quả trong họctập và giúp họ càng vững vàng, chín chắn hơn trong cuộc sống
* Đặc điểm về tự đánh giá, tự ý thức, tự giáo dục ở sinh viên:
Tự đánh giá ở sinh viên mang tính chất toàn diện và sâu sắc Sinh viênkhông chỉ đánh giá hình ảnh bản thân mình có tính chất bên ngoài, hình thức
mà còn đi sâu vào các phẩm chất, các giá trị của nhân cách.Tự đánh giá của
họ không chỉ trả lời câu hỏi: tôi là ai? Mà còn: Tôi là người như thế nào? Tôi
có những phÈm chất gì? Tôi có xứng đáng không? Lý giải tại sao tôi là ngườinhư thế? Cách đánh giá trên mang yếu tố phê phán rõ rệt.Vì vậy, tự đánh giácủa sinh viên có ý nghĩa tự ý thức, tự giáo dục…Tự ý thức là một trình độphát triển cao của ý thức, nó giúp sinh viên có hiểu biết về thái độ, hành vi, cử
Trang 27chỉ để chủ động hướng hoạt động của mình đi theo những yêu cầu đòi hỏi củatập thể, của cộng đồng xã hội…
* Sù phát triển về định hướng giá trị ở sinh viên:
Định hướng giá trị của sinh viên liên quan mật thiết với xu hướng nhâncách và kế hoạch đường đời của họ Nhiều sinh viên ngay từ khi ngồi trên ghếgiảng đường đã có kế hoạch riêng về nhiều mặt để đạt được mục đích cuộcđời của mình, họ không ngần ngại tìm việc làm thêm để thoả mãn những yêucầu học tập ngày càng cao và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hành nghề saunày
4.2- Những yêu cầu về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp.
Để xứng đáng với vị trí xã hội của mình, người thầy giáo trước hết phải
là người công dân tốt trong xã hội Sinh viên sư phạm cần phải phấn đấu rènluyện để có những phẩm chất đạo đức phù hợp với chuẩn mực chung của xãhội: biết sống và làm việc theo hiến pháp, pháp luật; có thế giới quan khoahọc, thấm nhuần tư tưởng chính trị của Đảng; có lòng yêu Tổ quốc, yêu hoàbình độc lập; có lòng nhân ái và tình yêu thương con người; biết tôn trọng giátrị nhân cách của người khác….Có nghĩa là sinh viên sư phạm cần hình thànhđầy đủ những phẩm chất của người công dân nói chung trong các quan hệ vớingười khác, với xã hội cũng như với chính bản thân mình Đồng thời để cóthể lao động tốt trong nghề sư phạm theo những đặc thù riêng, sinh viên sưphạm cần nhấn mạnh việc rèn luyện những phẩm chất đạo đức nổi trội cầnthiết cho hoạt động của mình như sau:
* Thế giới quan khoa học.
Nói đến sự học của thế hệ trẻ cũng có nghĩa là nói đến nhà trường, nóiđến thầy giáo, mà nói đến trường học là nói đến tri thức, nói đến văn minh,văn hoá Điều 16 Luật Giáo dục qui định: “ Không truyền bá tôn giáo, khôngtiến hành các nghi thức tôn giáo trong các trường, cơ sở giáo dục khác của hệthống giáo dục quốc dân, của cơ quan hành chính nhà nước, của tổ chức chínhtrị- xã hội, của lực lượng vũ trang nhân dân” Điều này đòi hỏi nhà giáo phải
Trang 28có thế giới quan khoa học, có quan điểm duy vật biện chứng về các quy luậtphát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Thế giới quan khoa học không phải là bản tính tự nhiên của nhà giáo, mà
nó được hình thành trong quá trình học tập của họ và dưới nhiều ảnh hưởngkhác nhau Đó là quá trình học tập trong trường phổ thông, trường sư phạm và
tự học suốt đời, trong quá trình học các môn khoa học thuộc lĩnh vực khoahọc tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là triết học
* Lí tưởng nghề nghiệp.
Theo quan niệm của tâm lí học “lí tưởng là biểu hiện tập trung nhất của
xu hướng nhân cách, nó có chức năng xác định mục tiêu, chiều hướng pháttriển của cá nhân, là động lực thúc đẩy, điều khiển toàn bộ hoạt động của conngười” [31] Vì vậy có thể nói lý tưởng nghề dạy học chính là biểu hiện xuhướng hoạt động sư phạm của người thầy giáo, “ là điều kiện bên trong đểhình thành lòng yêu nghề, yêu trẻ, nhờ đó mà thầy giáo có thái độ say mêcông việc giảng dạy và giáo dục trẻ em Khuynh hướng này ngày càng mởrộng, càng sâu sắc khi từng bước người chọn nghề thầy giáo đi sâu vàonghiệp vụ sư phạm”
Người làm nghề dạy học không phải là “ thợ dạy”, mà phải là nhà giáothực thụ Nếu chỉ là “thợ dạy” thì trong chõng mực nào đó có thể dùng máy,dùng phương tiện kĩ thuật hiện đại để thay thế, nhưng là nhà giáo thì chỉ cóthể được thay thế bằng nhà giáo khác và họ đều đạt chuẩn nhà giáo ở cấp học,bậc học cụ thể
Lí tưởng nhà giáo là lí tưởng về sự nghiệp “ quốc sách hàng đầu”, là lítưởng về sự nghiệp “trồng người”, là hạt nhân trong nhân cách người thầygiáo Lí tưởng của nhà giáo nói chung là một nền giáo dục hưng thịnh, đemlại hạnh phóc đi học cho học sinh
Lí tưởng nghề nghiệp thể hiện lí tưởng sống của người giáo viên Nghềdạy học hơn bất cứ nghề nào khác cần xác định đúng đắn lí tưởng nghềnghiệp, nó chính là biểu hiện xu hướng hoạt động sư phạm của người thầy
Trang 29giáo, là ngôi sao dẫn đường giúp cho thầy giáo luôn đi lên phía trước, thấyđược hết giá trị nghề nghiệp của mình Mặt khác, lí tưởng của thầy giáo còn
có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách của học sinh
Lí tưởng nghề nghiệp của người thầy giáo thể hiện ở niềm tin sư phạm,niềm say mê nghề nghiệp, tâm huyết với nghề, tận tâm với học sinh, với côngviệc, lối sống giản dị lành mạnh…Điều đó tạo nên sức mạnh, động lực bêntrong giúp người thầy vượt qua được những khó khăn trở ngại hoàn thànhnhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ
Trong những năm đất nước ta bước vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đạihoá, một bộ phận giáo viên vì không xác định được lí tưởng nghề nghiệp nên
đã không gắn bó được với sự nghiệp giáo dục, chạy theo lợi Ých trước mắt xarời vị trí cao quý mà xã hội đã dành cho Bên cạnh đó cũng có những nhà giáo
đã hiến dâng cả cuộc đời cho sự nghiệp giáo dục ở vùng cao, vùng sâu vùng xa,
có một số Ýt người là anh hùng lao động, nhiều người khác là anh hùng vôdanh
Lí tưởng nghề nghiệp của người thầy giáo không phải là cái có sẵn mà
nó chỉ được hình thành và phát triển trong quá trình tôi luyện nhân cách ngườithầy giáo thông qua quá trình học tập và lao động nghề nghiệp Chính vì vậycần phải quan tâm giáo dục nghề nghiệp cho sinh viên ngay từ khi mới bướcvào trường còng như trong suốt quá trình đào tạo ở nhà trường
* Lòng yêu nghề.
Trong mọi loại hình lao động nghề nghiệp, người lao động đều phải yêunghề mới mang lại hiệu quả lao động cao Yêu nghề ở lao động sư phạm lạicàng cần thiết hơn bất cứ nghề nào khác Đó là một trong những phẩm chấtđạo đức hàng đầu đặt ra cho mỗi người thầy Chỉ có những người thầy saysưa, tận tuỵ, yêu nghề dạy học mới có thể thành công trong sự nghiệp Yêunghề giúp cho người thầy có nghị lực, tạo được sự tâm huyết với nghề, tìmthấy niềm vui, nguồn hạnh phóc trong hoạt động nghề nghiệp của mình Đó lànhững người thầy luôn nghĩ đến công việc, trong giảng dạy cũng như trong
Trang 30giáo dục, họ luôn luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, không thoảmãn với chính mình, cố gắng phấn đấu để không ngừng vươn lên trong sựnghiệp trồng người Yêu nghề khiến cho người thầy gắn bó cuộc đời với sựnghiệp giáo dục, cống hiến toàn bộ tài năng và sức lực cho thế hệ trẻ, chonhững nhân cách đang được hình thành Họ say sưa làm việc hết mình, khicần sẵn sàng hi sinh cả lợi Ých cá nhân cho công việc giáo dục học sinh.Lòng yêu nghề gắn liền với tình cảm nghĩa vụ và ý thức trách nhiệm củangười thầy giáo, nó là biểu hiện của tình cảm nghề nghiệp Chính từ yêu cầu
và đặc trưng của nghề nghiệp đòi hỏi người giáo viên sự cố gắng và tinh thầntrách nhiệm rất cao đối với công việc, đòi hỏi phải có tình yêu thực sự mớivượt qua những khó khăn trở ngại trên con đường sự nghiệp
thử thách để thực hiện chức năng người kĩ sư tâm hồn Lòng yêu trẻ của người
thầy giáo được thể hiện ở thái độ quan tâm thiện ý với trẻ; thấu hiểu và đồngcảm với trẻ; luôn tôn trọng và nghiêm khắc với các em Yêu thương trẻ là biểuthị của lòng nhân ái đối với con người, là đạo lý của cuộc sống Người thầy yêuthương học sinh vui trong niềm vui của các em và chia sẻ nỗi buồn, xua đi thấtvọng trong các em, biết mang đến cho các em niềm hi vọng mới Gần gũi, yêuthương học sinh, có sự quan tâm chăm sóc cụ thể đối với những học sinh cóhoàn cảnh khó khăn, những học sinh tật nguyền, tin tưởng vào khả năng và sựtiến bộ của học sinh Sống và làm việc theo tinh thần “Tất cả vì học sinh thânyêu” Công việc chăm sóc giáo dục thế hệ trẻ được ví như chăm sóc những mầmnon mới nhó, chỉ có bằng tình yêu thương thực sự mới mang lại thành công
Trang 31Lòng yêu nghề, yêu trẻ gắn bó chặt chẽ với nhau, không tách rời nhau, có yêungười mới có cơ sở để yêu nghề Dạy trẻ phải hiểu trẻ, yêu thương trẻ, có nhưvậy người thầy giáo mới tìm ra chìa khoá để đi vào thế giới tuổi thơ Người ta vícông việc của người thầy giáo giống như công việc của người làm vườn, phảichăm chút từng li từng tí, phải hết sức kiên nhẫn, thận trọng thì dần dần sẽ uốnnắn được những thãi hư tật xấu, những tình cảm sai lệch trong tư tưởng của các
em, xây dựng được những đức tính tốt, những tình cảm lành mạnh trong sáng ởcác em
Lòng yêu thương thực sự của người giáo viên có tác dụng mạnh mẽ đến
tư tưởng, tình cảm và hành vi của các em, tạo mối quan hệ gần gũi, mật thiếtgiữa giáo viên và học sinh, yếu tố quan trọng đảm bảo sù thành công tronggiáo dục Vì học sinh, vì nghề dạy học, người thầy giáo cũng luôn học tập tudưỡng để nâng cao trình độ nghề giáo của mình, đồng thời quan tâm giúp đỡ,hợp tác với đồng nghiệp trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục Chính vì vậy,người thầy giáo nhất định phải có lòng yêu nghề, yêu trẻ mới có thể thực hiệnđược chức năng của người kĩ sư tâm hồn một cách xứng đáng
* Lòng nhân ái, vị tha của người thầy giáo.
Trong cấu trúc đạo đức của một con người không thể không kể đến lòngnhân ái, đó là cái gốc của đạo đức, là cơ sở để con người làm điều thiện Hơnbất cứ nghề nào khác, nghề dạy học càng đòi hỏi người thầy giáo lòng nhân
ái, bao dung rộng mở đối với học sinh Vì nhân cách học sinh đang được hìnhthành, trong quá trình đó có thể có những nhận thức chưa đúng, thái độ hành
vi chưa phù hợp cần chúng ta uốn nắn điều chỉnh Lòng nhân ái sẽ giúp thầygiáo khoan dung, độ lượng với các em, tránh được sự định kiến nặng nề trongquan hệ thầy trò, điều mà không giáo viên nào muốn có Người thầy có lòngnhân ái, vị tha còn thể hiện trong việc nhìn nhận đánh giá học sinh, luôn nhìnvào điều tốt trong các em, tin tưởng vào cái các em có thể đạt tới Điều nàychứng tỏ niềm tin sư phạm trong cấu trúc nhân cách của thầy Nhà giáo dục vĩđại A.X.Macarencô đã giáo dục học sinh bằng chính lòng nhân ái, bao dung
Trang 32của mình Nếu người thầy giáo luôn giữ Ên tượng xấu về một học sinh vô kỉluật, coi đó là học sinh cá biệt thì đó là một sự giáo dục sai lầm.
Để có được tinh thần vị tha, lòng nhân ái cao cả, người thầy giáo phải tìmhiểu học sinh, thực sự quan tâm đến đối tượng của mình, luôn tôn trọng và thiệncảm với các em, không nên thiếu công bằng, định kiến, dồn các em vào ngõ cụt
Có như vậy người thầy giáo mới thực sự là chỗ dùa tin cậy của các em
* Tôn trọng nhân cách học sinh.
Sự tôn trọng nhân cách học sinh là một trong các nguyên tắc giao tiếp sưphạm, là phẩm chất đạo đức của người giáo viên Tôn trọng nhân cách họcsinh thể hiện trước hết ở sự tôn trọng quyền làm người của các em Biểu hiện
ở sự chú ý lắng nghe ý kiến, quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng chính đángcủa các em, có thái độ lịch sự trong giao tiếp với các em bằng những cử chỉthân mật mô phạm Bất luận trong trường hợp nào giáo viên cũng không đượcxúc phạm đến nhân phẩm học sinh, ngay cả khi các em mắc sai lầm Tôntrọng nhân cách học sinh còn thể hiện ở trang phục và ngôn ngữ của giáo viênkhi giao tiếp với các em Người thầy giáo biết tôn trọng nhân cách học sinhtức là đã biết tôn trọng chính mình Tôn trọng học sinh góp phần nâng cao ýthức nghề nghiệp, con đường đưa người giáo viên đến thành công trong hoạtđộng nghề nghiệp của mình
* Trung thực, thẳng thắn.
Đối với mỗi con người nói chung, sù trung thực thẳng thắn là một trongnhững đức tính hàng đầu để đánh giá phẩm chất nhân cách Trong lao động sưphạm, sự trung thực thẳng thắn của người thầy là vô cùng quan trọng Các emhọc sinh đến trường đã đặt hết niềm tin vào người thầy giáo, tuyệt đối tintưởng vào các thầy cô, vào nhà trường Điều đó đòi hỏi người thầy phải luônluôn trung thực, thẳng thắn, minh bạch trong mọi công việc, mọi tình huống.Khi các em thoáng có chút Ýt ngờ vực ở người thầy thì mọi sự cố gắng củathầy khó có thể đem lại kết quả nh mong muốn Vì mục đích cuối cùng của
Trang 33giáo dục là hình thành nên con người và người thầy là tấm gương sáng chohọc sinh noi theo.
* Tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ của người thầy giáo.
Trong thời đại mới ngày nay, nền kinh tế khoa học, công nghệ luôn luônbiến đổi tạo những thách thức lớn cho giáo dục, trong đó có nhân tố ngườithầy Người thầy giáo luôn phải hoàn thiện bản thân để đáp ứng với yêu cầucủa nghề nghiệp Chính vì vậy, trong ý thức đạo đức của người thầy giáo phải
có tinh thần cầu thị để không ngừng tự hoàn thiện Người thầy giáo nào trướckhi tham gia lao động sư phạm đều có cái vốn ban đầu được hình thành trongnhà trường sư phạm Hành trang ban đầu Êy không thể đủ để lao động sưphạm suốt đời mà vừa tham gia hoạt động sư phạm mỗi giáo viên phải có ýthức học hỏi thông qua đồng nghiệp, qua sách báo…để ngày càng nâng caotay nghề Bằng lòng thoả mãn với những cái đã có, không có nhu cầu học hỏivươn lên là tự đào thải chính mình Trong thời đại khoa học công nghệ thôngtin nh hiện nay đã tạo nên những biến đổi to lớn và sâu sắc trong mọi lĩnh vựccủa đời sống xã hội trong đó có giáo dục Người giáo viên phải cập nhật kịpthời với những tiến bộ của thời đại, phải thường xuyên học hỏi để khôngngừng nâng cao trình độ chuyên môn của mình Không nên thoả mãn, bằnglòng với những cái hiện có Chính vì vậy, tinh thần cầu thị là phẩm chất đạođức cần thiết của người giáo viên để thầy giáo thực sự là cái dấu nối giữa nềnvăn hoá nhân loại và dân téc với thế hệ trẻ
Tóm lại, đạo đức có vai trò quan trọng trong các mặt của đời sống xãhội, vấn đề giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên là vấn đề phải đượcđặc biệt quan tâm, phải là cả quá trình lâu dài không thể trong thời gian mộtsớm, một chiều Đặc biệt với sinh viên sư phạm phải ý thức được việc trau dồiđạo đức nhân cách làm cơ sở, công cụ cho lao động nghề nghiệp sau này
5- NHỮNG CON ĐƯỜNG CƠ BẢN NHẰM THỰC HIỆN QUÁ TRÌNH GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN Ở CÁC TRƯỜNG SƯ PHẠM HIỆN NAY.
Trang 345.1- Thông qua hoạt động dạy và học các môn trong chương trình đào tạo của nhà trường.
Hoạt động dạy và học ở trên líp nhằm cung cấp cho sinh viên hệ thống trithức học vấn chuyên ngành đã được đúc kết thành khái niệm, định luật, qui tắc,phạm trù, phản ánh bản chất của sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan.Nhờ được võ trang những tri thức văn hoá đó mà sinh viên ngày nay càng mởmang trí tuệ, giúp cho quá trình phát triển tư duy ngày một sâu sắc hơn
Chức năng trội của dạy học là giáo dưỡng, đồng thời phải thực hiện chứcnăng giáo dục(theo nghĩa hẹp) Dạy học ở trên líp nhằm cung cấp cho sinhviên những tri thức đạo đức: Hiểu biết về đạo đức, về thái độ phải có, vềnghĩa vô bổn phận phải làm là cần thiết Đây là khâu quan trọng trong việcgiáo dục đạo đức bằng những hoạt động cơ bản chủ yếu của quá trình giáodục nói chung và thông qua các môn học của nhà trường Từ đó sinh viên có
cơ sở để nhận ra và phân biệt giữa hiện tượng đạo đức và vô đạo đức biểuhiện đa dạng xung quanh mình hàng ngày, từ đó giúp các em tăng thêm tính
tự giác trong hành vi đạo đức của mình Bên cạnh việc trang bị tri thức đạođức, việc dạy dọc ở trên líp còn là con đường cơ bản ngắn nhất, hiệu quả nhất
để hình thành niềm tin và giáo dục đạo đức cho sinh viên Đặc biệt qua một sốmôn học như giáo dục đạo đức, giáo dục công dân, giáo dục dân số, giáo dụcmôi trường, vệ sinh chăm sóc, trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản,
hệ thống về những khái niệm, phạm trù, quy tắc, chuẩn mực đạo đức, nghĩa
vụ, trách nhiệm của công dân theo yêu cầu của xã hội và của địa phươngtrong giai đoạn hiện nay Mỗi môn học không ngừng khai sáng tri thức màcòn hướng dẫn các hành vi, hành động, cách ứng xử trong nhiều mối quan hệgiữa cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể, cộng đồng, môi trường, phùhợp với quy tắc, chuẩn mực chung, định hướng cho con người phát triển vàhoàn thiện nhân cách
5.2- Thông qua hoạt động ngoài giê lên líp.
Trang 35Con đường dạy trên líp và hoạt động ngoài giê lên líp có mối quan hệchặt chẽ với nhau Nếu dạy trên líp là khai sáng, định hướng, phát triển đạođức thì hoạt động ngoài giê lên líp bổ sung, củng cố những kiến thức đã họctrên líp Hoạt động ngoài giê lên líp có ưu thế là rèn luyện, thể hiện bằng hành
vi, thái độ, hành động đạo đức trong các mối quan hệ chứ không chỉ dừng lại
ở mức độ nhận thức lí luận Khi được tiếp xúc với người thật việc thật, vớichủ thể của hành vi đạo đức sống động sẽ có sức thuyết phục lớn trong việcgiáo dục đạo đức Những hành vi này rất có thể trở thành mẫu mực cho sinhviên noi theo trong những hoàn cảnh đòi hỏi cách xử sự tương ứng Như vậysức thuyết phục lớn của người thật việc thật là có khả năng đi thẳng vào niềmtin đạo đức của mỗi người
Hoạt động ngoài giê lên líp rất đa dạng và phong phó bao gồm các hoạtđộng như:
- Sinh hoạt của tổ chức đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh: Hoạtđộng này nhằm rèn luyện những hành vi ứng xử, giao tiếp lịch sự, có văn hoánhằm góp phần cải tạo những phong tục, thãi quen lạc hậu trong đời sống củathế hệ trẻ Thông qua các hoạt động văn nghệ, thể thao, tham quan, du lịch, tìmhiểu danh lam thắng cảnh của địa phương, của đất nước qua việc tổ chức cácngày hội, ngày lễ như ngày 2-9; 8-3; 22-12…Các phong trào phòng chống tệnạn xã hội, xoá đói giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa có ý nghĩa rất lớn để giáodục đạo đức, rèn luyện tư tưởng chính trị cho sinh viên trong nhà trường sưphạm
- Hoạt động thực tế, thực tập sư phạm là một hoạt động đặc thù đối vớisinh viên sư phạm Nó không chỉ là một hoạt động rèn luyện nghiệp vụ đơnthuần chuẩn bị cho nội dung bài dạy trên líp mà qua đó sẽ giáo dục cho sinhviên tình cảm yêu nghề, yêu trẻ
- Thông qua hoạt động thực tiễn giúp sinh viên nắm được thực tiễn giáodục của địa phương, hiểu rõ hơn chủ trương, đường lối của Đảng và Nhànước, của ngành học đối với giáo dục, nhằm mục đích là nâng cao dân trí, đào
Trang 36tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước, thấm nhuần phương châm của ngành là “xã hội hoá giáo dục”.
- Thực hành thực tập sư phạm là con đường cơ bản, đặc thù giáo dục tưtưởng chính trị, là con đường dạy nghề có hiệu quả nhất cho sinh viên sưphạm.Vì thế mà nhà giáo dục J.A.Cômenxki (1592-1670) đã có tư tưởng:Trong nhà trường sư phạm phải có nhà trường thực hành, để cho giáo sinhthường xuyên được rèn luyện
5.3- Thông qua tập thể líp học.
Líp học là tập thể được tổ chức khá chặt chẽ, có tính mục đích, có tínhgiáo dục Chính vì vậy mà việc xây dựng tổ chức líp học lành mạnh, có tính
sư phạm và tính giáo dục là một trong những nhiệm vụ của mỗi giáo viên.Trong một líp học thì cả líp là một tập thể lớn, có những tập thể nhỏ nhưĐoàn, tổ, nhóm, câu lạc bộ…và mỗi sinh viên đều là thành viên của líp, đồngthời là thành viên của vài ba tập thể nhỏ khác Trong những tập thể đó, hoạtđộng và các ý kiến của cá nhân đều được tập thể kiểm tra, đánh giá, đượcchấp nhận hoặc bị phê phán Vì ý kiến của mỗi thành viên không những cótác dụng thông báo những thông tin líp trẻ cần quan tâm, những nội dung cácchuẩn mực, nguyên tắc đạo đức, mà còn có tác dụng kiểm tra, đánh giá vàđiều chỉnh sự nhận thức các chuẩn mực và nguyên tắc đạo đức đó
Để có tập thể sinh viên lành mạnh, trước hết người giáo viên cần phải có uytín, có kĩ năng xây dựng tập thể sinh viên theo mục tiêu và kế hoạch xác định.Xây dựng tập thể tốt, lành mạnh là một trong những nhiệm vụ quan trọng củanhà giáo Một tập thể sinh viên tốt là tập thể có một số đặc điểm sau đây:
+ Có mục đích thống nhất
+ Có tinh thần trách nhiệm trước trường, trước xã hội
+ Có yêu cầu chặt chẽ đối với mọi thành viên, đồng thời mọi thành viênphải phục tùng ý chí của tập thể, phải tuân theo sự lãnh đạo thống nhất vàđược bình đẳng trước tập thể
Trang 37Từ thực tế về sự thống nhất trong đa dạng của tập thể sinh viên đòi hỏingười giáo viên phải có khả năng làm cho dư luận của những tập thể khácnhau có sự thống nhất cơ bản về cùng một vấn đề như nhau, vì chỉ có như vậythì dư luận mới có tác dụng giáo dục đạo đức cho sinh viên Hơn nữa giáoviên phải biết hướng dư luận của tập thể sinh viên một cách có chủ định vàphải biết dẹp đi những dư luận thất thiệt không có lợi cho giáo dục đạo đức.
5.4- Sự tù tu dưỡng của sinh viên.
Sự tù tu dưỡng của sinh viên là con đường tác động trực tiếp, có ý nghĩaquyết định trong quá trình giáo dục đạo đức ở mỗi sinh viên
Qúa trình hình thành phát triển đạo đức ở mỗi cá nhân là một quá trìnhlâu dài, phức tạp, trong quá trình đó các tác động bên ngoài và động lực bêntrong thường xuyên tác động lẫn nhau, vai trò của mỗi yếu tố đó thay đổi tuỳtheo từng giai đoạn phát triển của con người Nhờ có giáo dục, những yếu tốbên trong dần dần lấn áp yếu tố bên ngoài trong việc điều chỉnh hành vi củangười học Khi nhân cách của cá nhân phát triển khá đầy đủ thì việc xem xét,đánh giá hay cư xử bất cứ điều gì cá nhân cũng dùa trên quan điểm, niềm tinđạo đức của mình Lúc này cái bên ngoài được sàng lọc thông qua cái bêntrong Cá nhân dùa vào cái bên trong của mình để đánh giá, tiếp nhận, hay gạt
bỏ cái bên ngoài Ở đây lương tâm trở thành nhân tố điều chỉnh hành vi đạođức của cá nhân Sự hình thành và phát triển các phẩm chất đạo đức của sinhviên do ảnh hưởng của tác động bên ngoài mà trước hết là nhà trường, tập thể,gia đình sẽ dần dần chuyển thành sự tự giáo dục, trong đó sự tự tu dưỡng làyếu tố cơ bản
Như vậy, sự tự tu dưỡng về đạo đức là một hành động tự giác, có hệthống mà mỗi cá nhân thực hiện với chính mình nhằm khắc phục những hành
vi trái đạo đức, bồi dưỡng, củng cố hành vi đạo đức Sự tù tu dưỡng là yêucầu tự nhiên ở mỗi cá nhân, ở trình độ ý thức đã phát triển, mọi cá nhân đềucần làm cho mình tốt hơn lên, bồi dưỡng tình cảm ý chí của chính mình, khắcphục những thãi hư tật xấu Đối với sinh viên sư phạm thì việc nhận thức
Trang 38được bản thân mình, đánh giá đúng mình, luôn có thái độ phê phán nghiêmtúc những hành vi thiếu đạo đức như : thái độ tự mãn, tự kiêu, hay tù ti là rấtcần thiết.
Bên cạnh sự tự điều chỉnh cần có sự uốn nắn, điều chỉnh hành vi của các
tổ chức quản lý như nhà trường, gia đình, xã hội phù hợp với chuẩn mực đạođức của người công dân, người giáo viên XHCN trong giai đoạn hiện nay
Trang 39Chương II
THỰC TRẠNG VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC
NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH
1- VÀI NÉT KHÁI QUÁT VỀ TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM THÁI BÌNH
Trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình được thành lập từ năm 1959, làtrường Cao Đẳng loại 1, đến năm 1978 trường Cao Đẳng Sư Phạm Thái Bình
là một trong 16 trường CĐSP đầu tiên trong cả nước được thủ tướng chínhphủ ký quyết định công nhận là trường CĐSP Trường có nhiều kinh nghiệmtrong tổ chức quản lí, tổ chức đào tạo Trường đã có quan hệ liên kết đào tạovới nhiều trường Đại học trọng điểm nh Đại học Bách khoa, Đại học Sư phạm
Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội và nhiều cơ sở đào tạo khác
Nhà trường đang tích cực thực hiện đa dạng hoá các loại hình đào tạochính quy và không chính quy, các ngành sư phạm và ngoài sư phạm TrườngCĐSP Thái Bình thuộc khối trường sư phạm nên có ưu thế về khoa học cơ bản,
có đội ngò giảng viên tương đối có chất lượng so với các trường Cao Đẳng,THCN hiện có khác trên địa bàn tỉnh Chất lượng, hiệu quả đào tạo và các hoạtđộng khác của trường đã được xã hội thừa nhận, là cơ sở đào tạo có uy tín Hiện nay trường là sự hợp nhất của 3 trường: trường CĐSP, trườngTHSP (năm 1997), trường CB QLGD (năm 2004) Trường trực thuộc UBNDtỉnh Thái Bình quản lí
Trường có 6 khoa đào tạo, 2 tổ bộ môn chung và một đơn vị sự nghiệptrực thuộc Trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép đào tạo trình độcao đẳng hệ chính quy 18 mã ngành và đào tạo cấp chứng chỉ Tiếng Anh(trình độ A, B), Tin học (trình độ A, B), Nghiệp vụ sư phạm
Trang 40Ngoài hình thức đào tạo chính quy tập trung, trường còn đào tạo hệchuyên tu, tại chức nâng chuẩn cho giáo viên Mầm non và giáo viên Tiểu học,liên kết với các trường Đại học, bồi dưỡng cán bộ quản lí giáo dục các bậchọc: Mầm non, Tiểu học, THCS, bồi dưỡng nhân viên trường học.
Cùng với các hoạt động đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học của nhàtrường đã đi vào quy củ nề nếp Hàng năm trường thực hiện từ 7 đến 10 đề tàinghiên cứu khoa học cấp Bộ, cấp tỉnh, từ 30- 35 đề tài nghiên cứu cấp trường
và hàng chục đề tài nghiên cứu cấp khoa Đội ngò giảng viên của trường hiện
có 161 người trong đó có 2 tiến sĩ, 30 thạc sĩ, 27 sau đại học ; sè người đanghọc chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ 19 người
2- THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN VÀ SINH VIÊN TRƯỜNG CĐSP THÁI BÌNH VỀ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP.
2.1- Động cơ thi vào trường sư phạm của sinh viên.
Để đánh giá thái độ của sinh viên đối với nghề dạy học, trước hết chúngtôi tiến hành tìm hiểu động cơ thi vào trường của 185 sinh viên năm thứ nhấtkhoa tự nhiên và năm thứ 2 khoa xã hội Vì động cơ thi vào trường có ảnhhưởng quan trọng tới thái độ của các em đối với nghề Kết quả thể hiện quabảng 1