1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

sử dụng phương tiện dạy học nhằm tăng cường dạy học tích cực tương tác

16 331 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 86,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cơ sở lý luận Thuật ngữ phơng tiện dạy học ở đây trớc hết là nói đến những đối tợng vật chất đợc ngời dạy sử dụng với t cách là những phơng tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức c

Trang 1

tiÓu luËn

sö dông ph¬ng tiÖn d¹y häc nh»m t¨ng cêng d¹y häc tÝch cùc vµ t¬ng t¸c

Gi¸o viªn híng dÉn: §¹i t¸ §Æng S¬n TuÊn

Hä vµ tªn: Lª Huy Thanh CÊp bËc: Trung óy

Chøc vô: Trî gi¶ng

§¬n vÞ: Khoa H÷u tuyÕn tiÕp søc

Nha Trang, th¸ng 1 n¨m 2012

Trang 2

I Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây, việc nâng cao chất lợng huấn luyện là một trong nhũng vấn đề đợc Đảng ủy, Ban Giám hiệu cũng nh đội ngũ giảng viên, cán bộ quản

lý giáo dục Trờng Sĩ quan Thông tin đặc biệt quan tâm Một trong những giải pháp

đ-ợc đặt ra nhằm nâng cao chất lợng huấn luyện đó chính là đổi mới phơng pháp dạy học theo hớng dạy học tích cực nhằm phát huy vai trò của ngời học Hiện nay, ở các trờng đại học trong và ngoài quân đội, dạy học theo phơng pháp tích cực trong đó có

sử dụng các phơng tiện kỹ thuật đang thể hiện rõ là một hớng đi đúng đắn, một cách làm sáng tạo và bớc đầu đã đem lại nhiều kết quả khả quan trong việc nâng cao chất l-ợng giáo dục đào tạo Tuy nhiên, đối với trờng Sĩ quan Thông tin, việc áp dụng phơng pháp dạy học tích cực có sử dụng các phơng tiện dạy học mới là giai đoạn đầu, chúng

ta vừa làm vừa nghiên cứu, vừa thử nghiệm vừa rút kinh nghiệm.Chính vì vậy, cần có

sự nghiên cứu một cách nghiêm túc, khoa học thực sự là cơ sở để nâng cao chất lợng dạy học

“Sử dụng phơng tiện dạy học nhằm tăng cờng dạy học tích cực và tơng tác” là một vấn đề mới đợc đặt ra trong vài năm trở lại đây khi mà công cuộc đổi mới của

n-ớc ta đã thu đợc nhiều thành tựu quan trọng, cùng với sự phát triển nh vũ bão của khoa học công nghệ Trờng Sĩ quan Thông tin đợc Nhà nớc và quân đội quan tâm, trang bị nhiều phơng tiện dạy học hiện đại có chất lợng cao, chính vì vậy chúng ta có

điều kiện để đa nhiều thiết bị kỹ thuật hiện đại ấy phục vụ cho việc giảng dạy, nâng cao chất lợng huấn luyện Vấn đề đặt ra hiện nay là sử dụng các phơng tiện kỹ thuật

ấy sao cho vừa nâng cao chất lợng dạy học vừa phù hợp với từng đối tợng, từng môn học và thậm chí đến từng bài học tránh sử dụng tràn lan kém hiệu quả và lãng phí các phơng tiện dạy học và các tác dụng tiêu cực có thể xảy ra Là một trợ giảng Bộ môn

Kỹ thuật chuyển mạch - Khoa HTTS, tôi cũng mạnh dạn bày tỏ quan điểm của mình

và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lợng của việc sử dụng các phơng tiện dạy học để tăng cờng dạy học tích cực và tơng tác ở trờng Sĩ quan Thông tin nói chung cũng nh Khoa HTTS và Bộ môn KTCM nói riêng

Trang 3

II Cơ sở lý luận và thực tiễn

1 Cơ sở lý luận

Thuật ngữ phơng tiện dạy học ở đây trớc hết là nói đến những đối tợng vật chất

đợc ngời dạy sử dụng với t cách là những phơng tiện tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của ngời học; nó còn là phơng tiện để lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ năng của ngời học Chẳng hạn nh bảng, các vật mẫu, mô hình, hình vẽ mô tả đối tợng nhận thức, tranh ảnh, sơ đồ, bản đồ, sách giáo khoa, máy ghi âm, máy chiếu phim, mạng máy tính

Chức năng của phơng tiện dạy học

Theo quan điểm hoạt động, quá trình dạy học là quá trình hoạt động bao gồm hoạt động dạy của giảng viên (GV) và hoạt động học của học viên (HV) Hoạt động dạy là hoạt động mà GV tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HV Một trong những nhiệm vụ tổ chức, điều khiển hoạt động nhận thức của HV là GV tổ chức, điều khiển HV tri giác cảm tính đối tợng nhận thức Song đối tợng nhận thức không phải bao giờ cũng đợc hiện ra một cách trực tiếp ở ngay lớp học Trong trờng hợp đó PTDH tạo khả năng tái hiện chúng một cách gián tiếp thông qua hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, mô hình, mô phỏng v.v Nhờ chúng mà tạo nên trong ý thức của HV những hình ảnh trực quan cảm tính của đối tợng nhận thức Sản phẩm mà PTDH tạo ra thờng

là hình ảnh chủ quan, trong đó chỉ phản ánh mặt bên ngoài của đối tợng nhận thức Nhiệm vụ của dạy học là làm thế nào để từ những hình ảnh trực quan cảm tính dẫn dắt

HV hiểu đợc bản chất đối tợng nhận thức Việc chuyển hoá đó có liên hệ với t duy trừu tợng, với việc đa vào và sử dụng những khái niệm trừu tợng Với điều đó, những hình ảnh trực quan đảm bảo mối liên hệ thờng xuyên giữa t duy với đối tợng nhận thức khi cung cấp cho t duy tài liệu thông tin cần thiết PTDH thực hiện hai chức năng cơ bản:

- Chức năng nhận thức: làm phong phú quá trình t duy bằng nhiều chi tiết đã

bị mất đi trong những khái niệm trừu tợng và giúp vạch ra những thuộc tính bên trong của đối tợng nhận thức

- Chức năng điều khiển hoạt động nhận thức của ngời học: những hình ảnh

trực quan cảm tính đợc hoàn thiện và đợc làm phong phú không ngừng trong quá trình nhận thức bằng những thuộc tính đặc biệt của chúng PTDH là trợ thủ không thể thay thế đợc của ngời GV ở giai đoạn hình thành t duy trừu tợng cho HV ở giai đoạn này những hình ảnh trực quan cảm tính bao giờ cũng là thành phần và tiền đề bắt buộc của

t duy T duy dù đạt đến mức độ cao nh thế nào ít nhiều nó cũng vẫn cần đến trực quan cảm tính, cần đến hình ảnh ở giai đoạn kết thúc sự nghiên cứu đối tợng cần phải chỉ cho HV sự vận dụng trong thực tiễn của nó Điều đó cũng sẽ khó đạt đợc nếu thiếu sử dụng những PTDH Vì vậy, ở cả giai đoạn trực quan cảm tính, giai đoạn t duy trừu t-ợng và ở cả giai đoạn giới thiệu cho HV vận dụng vào thực tiễn những đối tt-ợng đã nhận thức đợc cũng cần phải sử dụng những PTDH

Trang 4

Đối với ngời học, PTDH là công cụ nhờ nó mà họ nhận thức đợc thế giới xung quanh Việc sử dụng những PTDH giúp họ có thông tin đầy đủ và sâu sắc hơn về đối tợng nhận thức và chính bằng cách đó mà tạo điều kiện nâng cao chất lợng dạy học; giúp làm thoả mãn và làm phát triển hứng thú học tập ở ngời học; làm cho tài liệu học tập trở nên vừa sức hơn đối với họ bằng tính trực quan và tăng cờng hoạt động lao

động của ngời học, bằng cách đó cho phép nâng cao nhịp điệu nghiên cứu tài liệu học tập PTDH giúp tăng cờng hoạt động độc lập, tự lực, làm tăng tính tự lực trong tiết học của HV

Trong trờng hợp tổ chức vận dụng đúng đắn về mặt s phạm, PTDH đóng vai trò

nh là nguồn thông tin và giải phóng ngời GV khỏi nhiều công việc có tính chất thuần tuý kỹ thuật trong tiết học, chẳng hạn nh thông báo thông tin, để có nhiều thời gian hơn cho công tác sáng tạo trong hoạt động với HV PTDH tạo khả năng vạch ra một cách sâu sắc hơn, trình bày rõ ràng dễ hiểu, đơn giản hơn nội dung tài liệu học tập, tạo điều kiện hình thành cho ngời học động cơ học tập đúng đắn

Phơng tiện dạy học có ý nghĩa to lớn nh trên đã trình bày, song không phải tự thân nó có toàn bộ ý nghĩa đó Nói cách khác là không phải cứ sử dụng PTDH là có tác dụng dạy học - giáo dục mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc ngời GV sử dụng nó

nh thế nào, vào cách nghiên cứu, chế biến tài liệu dạy học với việc sử dụng phơng tiện

đó mà họ sẽ tiến hành Tiết học với việc sử dụng những PTDH đó là một kiểu tiết học mới mà trong đó bắt buộc ngời GV sử dụng phơng pháp dạy học phù hợp với chúng Những PTDH, đặc biệt là những phơng tiện kỹ thuật, làm thay đổi cấu trúc và cả nhịp

điệu tiết học và kết quả dẫn tới là làm thay đổi vị trí ngời GV trong tiết học Đồng thời điều đó đòi hỏi trình độ lành nghề của ngời GV cao hơn Hiệu quả sử dụng những PTDH càng lớn khi họ có trình độ nghiệp vụ s phạm càng cao

Vì sao trong dạy học kỹ thuật cần sử dụng các phơng tiện kỹ thuật dạy học

Từ mục tiêu, chơng trình dạy học kỹ thuật (và các môn học khác nói chung) cho thấy đối tợng nghiên cứu của môn học là rất rộng, đa dạng, thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau: vật lý, hóa học, cơ khí, động lực, kỹ thuật điện, điện tử, viễn thông, gọi chung là kỹ thuật Do hạn chế của điều kiện dạy học (thời gian, không gian, cơ sở vật chất bảo đảm) nên HV không có điều kiện đợc quan sát, nghiên cứu trực tiếp trên các

đối tợng thực của môn học mà chủ yếu chỉ đợc nghiên cứu trên những mô hình của chúng (chẳng hạn, các mô hình, sơ đồ, hình vẽ mô phỏng đối tợng trong giáo trình, ) Khi xây dựng những mô hình thay thế này, ngời ta đã đơn giản hoá, lợc bỏ đi nhiều dấu hiệu và khái quát hoá những dấu hiệu bản chất còn lại của đối tợng (đặc

điểm chung của mô hình) Vì thế, khi sử dụng chúng cần có bớc hợp thức hoá những

Trang 5

kết luận rút ra từ việc nghiên cứu mô hình (tức gán những kết quả thu đợc đó cho đối tợng thật) để kiến thức không mang tính phiến diện, sách vở Mặc dù có nhợc điểm

nh trên nhng phơng tiện dạy học lại có tác dụng tốt với việc phát huy tính tích cực và tơng tác của học viên; bởi vì khác với lời nói (thông tin đến với ngời học chậm, chủ yếu theo con đờng thính giác một cách từ từ theo trình tự và ý nghĩa của từng từ, câu nói), mỗi phơng tiện dạy học thờng huy động đồng thời nhiều giác quan của ngời học, tạo nên một hình ảnh tơng đối trọn vẹn về một đối tợng nhận thức Nhất là với sự trợ giúp của máy tính và các phơng tiện nghe nhìn khác, cho phép ngời học có thể quan sát đợc, tơng tác đợc với nhiều đối tợng mà trong thực tế không thể quan sát hay tơng tác trực tiếp đợc (với những đối tợng quá to, quá bé, quá xa, điều kiện nguy hiểm, những quá trình diễn ra quá nhanh, quá chậm, không thể quan sát đợc trong điều kiện thực của nó, )

Các phơng tiện nghe nhìn đa phơng tiện, máy tính điện tử, đợc sử dụng kết hợp sẽ cho phép rút ngắn thời gian trình bày mà vẫn làm cho bài giảng sinh động, trực quan, hấp dẫn đối với ngời học Một số phần mềm chuyên dụng dùng trong dạy học

kỹ thuật đang đợc sử dụng có hiệu quả

Mặt khác, cũng cần kết hợp sử dụng các phơng tiện dạy học truyền thống nh tranh vẽ, mô hình vật chất, các thiết bị thí nghiệm kỹ thuật, máy chiếu phim bản trong, cũng nh các đồ dùng dạy học do giảng viên, học viên tự xây dựng cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của từng trờng

Phơng pháp dạy học tích cực và tơng tác là gì?

Phơng pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn đợc dùng ở nhiều nớc để chỉ những phơng pháp giáo dục, dạy học theo hớng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngời học Phơng pháp dạy học tích cực hớng tới việc hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của ngời học, nghĩa là tập trung vào việc phát huy tính tích cực của ngời học chứ không phải tập trung vào phát huy tính tích cực của ngời dạy Tuy nhiên để dạy học theo phơng pháp tích cực thì ngời giảng viên phải nỗ lực hơn nhiều so với dạy theo phơng pháp chủ động

Núi đến tương tỏc là núi đến sự hợp tỏc, cộng tỏc, tỏc động qua lại giữa cỏc thành tố của hệ thống dạy - học; bao gồm: giảng viờn, học viờn, mục tiờu, chương trỡnh - nội dung, phương phỏp dạy học, phương tiện dạy học và kiểm tra - đỏnh giỏ

Đặc trng của các phơng pháp dạy học tích cực

Dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của học viên.

Trong phơng pháp dạy học tích cực, ngời học - đối tợng của hoạt động "dạy",

đồng thời là chủ thể của hoạt động "học" - đợc cuốn hút vào các hoạt động học tập do

Trang 6

giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thông qua đó tự lực khám phá những điều mình cha rõ chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức đã đợc giáo viên sắp đặt Đợc đặt vào những tình huống của đời sống thực tế, ngời học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm đợc kiến thức kĩ năng mới, vừa nắm đợc phơng pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó, không rập theo những khuôn mâu sẵn có, đợc bộc lộ và phát huy tiềm năng sáng tạo

Dạy theo cách này thì giáo viên không chỉ giản đơn truyền đạt tri thức mà còn h-ớng dẫn hành động Chơng trình dạy học phải giúp cho từng học viên biết hành động

và tích cực tham gia các chơng trình hành động của cộng đồng

Dạy và học chú trọng rèn luyện phơng pháp tự học.

Phơng pháp tích cực xem việc rèn luyện phơng pháp học tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục tiêu dạy học

Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ thông tin, khoa học,

kĩ thuật, công nghệ phát triển nh vũ bão - thì không thể nhồi nhét vào đầu óc học sinh khối lợng kiến thức ngày càng nhiều Phải quan tâm dạy cho học sinh phơng pháp học ngay từ bậc Tiểu học và càng lên bậc học cao hơn càng phải đợc chú trọng

Trong các phơng pháp học thì cốt lõi là phơng pháp tự học Nếu rèn luyện cho ngời học có đợc phơng pháp, kĩ năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng

ham học, khơi dậy nội lực vốn có trong mỗi con ngời, kết quả học tập sẽ đợc nhân lên gấp bội Vì vậy, ngày nay ngời ta nhấn mạnh mặt hoạt động học trong qúa trình dạy học, nỗ lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động, đặt vấn

đề phát triển tự học ngay trong trờng phổ thông, không chỉ tự học ở nhà sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hớng dẫn của giáo viên

Tăng cờng học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác.

Trong một lớp học mà trình độ kiến thức, t duy của học viên không thể đồng đều tuyệt đối thì khi áp dụng phơng pháp tích cực buộc phải chấp nhận sự phân hóa về c-ờng độ, tiến độ hoàn thành nhiệm vụ học tập, nhất là khi bài học đợc thiết kế thành một chuỗi công tác độc lập áp dụng phơng pháp tích cực ở trình độ càng cao thì sự phân hóa này càng lớn Việc sử dụng các phơng tiện công nghệ thông tin trong nhà tr-ờng sẽ đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và khả năng của mỗi học sinh

Tuy nhiên, trong học tập, không phải mọi tri thức, kĩ năng, thái độ đều đợc hình thành bằng những hoạt động độc lập cá nhân Lớp học là môi trờng giao tiếp thầy

Trang 7

-trò, trò - -trò, tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đờng chiếm lĩnh nội dung học tập Thông qua thảo luận, tranh luận trong tập thể, ý kiến mỗi cá nhân

đ-ợc bộc lộ, khẳng định hay bác bỏ, qua đó ngời học nâng mình lên một trình độ mới Bài học vận dụng đợc vốn hiểu biết và kinh nghiệm sống của ngời thầy giáo

Trong nhà trờng, phơng pháp học tập hợp tác đợc tổ chức ở cấp nhóm, tiểu đội, lớp hoặc trờng Đợc sử dụng phổ biến trong dạy học là hoạt động hợp tác trong nhóm nhỏ 4 đến 6 ngời Học tập hợp tác làm tăng hiệu quả học tập, nhất là lúc phải giải quyết những vấn đề gay cấn, lúc xuát hiện thực sự nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân

để hoàn thành nhiệm vụ chung Trong hoạt động theo nhóm nhỏ sẽ không thể có hiện tợng ỷ lại; tính cách năng lực của mỗi thành viên đợc bộc lộ, uốn nắn, phát triển tình bạn, ý thức tổ chức, tinh thần tơng trợ Mô hình hợp tác trong xã hội đa vào đời sống học đờng sẽ làm cho các thành viên quen dần với sự phân công hợp tác trong lao động xã hội

Trong nền kinh tế thị trờng đã xuất hiện nhu cầu hợp tác xuyên quốc gia, liên quốc gia; năng lực hợp tác phải trở thành một mục tiêu giáo dục mà nhà trờng phải chuẩn bị cho học viên

Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò.

Trong dạy học, việc đánh giá học sinh không chỉ nhằm mục đích nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động học của trò mà còn đồng thời tạo điều kiện nhận định thực trạng và điều chỉnh hoạt động dạy của thầy

Trớc đây giáo viên giữ độc quyền đánh giá học viên Trong phơng pháp tích cực, giáo viên phải hớng dẫn học viên phát triển kĩ năng tự đánh giá để tự điều chỉnh cách học Liên quan với điều này, giáo viên cần tạo điều kiện thuận lợi để học viên đợc tham gia đánh giá lẫn nhau Tự đánh giá đúng và điều chỉnh hoạt động kịp thời là năng lực rất cần cho sự thành đạt trong cuộc sống mà nhà trờng phải trang bị cho học viên

Theo hớng phát triển các phơng pháp tích cực để đào tạo những con ngời năng

động, sớm thích nghi với đời sống xã hội, thì việc kiểm tra, đánh giá không thể dừng lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, lặp lại các kĩ năng đã học mà phải khuyến khích trí thông minh, óc sáng tạo trong việc giải quyết những tình huống thực tế

Trang 8

Với sự trợ giúp của các thiết bị kĩ thuật, kiểm tra đánh giá sẽ không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáo viên, mà lại cho nhiều thông tin kịp thời hơn để linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy, chỉ đạo hoạt động học

Từ dạy và học thụ động sang dạy và học tích cực, giáo viên không còn đóng vai trò đơn thuần là ngời truyền đạt kiến thức, giáo viên trở thành ngời thiết kế, tổ chức, hớng dẫn các hoạt động độc lập hoặc theo nhóm nhỏ để học viên tự lực chiếm lĩnh nội

dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo yêu cầu của chơng trình Trên lớp, học viên hoạt động là chính, giáo viên có vẻ nhàn nhã hơn nhng trớc đó, khi soạn giáo án, giáo viên đã phải đầu t công sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mới có thể thực hiện bài lên lớp với vai trò là ngời gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong các hoạt động tìm tòi hào hứng, tranh luận

sôi nổi của học viên Giáo viên phải có trình độ chuyên môn sâu rộng, có trình độ s phạm lành nghề mới có thể tổ chức, hớng dẫn các hoạt động của học sinh mà nhiều khi diễn biến ngoài tầm dự kiến của giáo viên

Vai trò của việc sử dụng phơng tiện kỹ thuật dạy học đối với phơng pháp dạy học tích cực

Từ góc độ tâm lý học, chúng ta thấy con ngời tiếp nhận các thông tin nhờ vào năm giác quan: Cảm giác, tri giác, thính giác, vị giác, khứu giác (cảm nhận, nhìn, nghe, ngửi, nếm, ngửi) Theo cách giảng dạy trớc đây chỉ có một giác quan duy nhất

đợc huy động đó là thính giác (tai để nghe) Truyền thụ kiến thức chỉ thông qua lời nói, còn các giác quan khác cha đợc sử dụng cho việc tiếp thu các bài giảng, phần lớn tiềm năng học tập cha đợc phát huy

Ngời ta thống kê rằng: nếu chỉ có đọc thì ngời học chỉ nhớ đợc 10%, chỉ có nghe thôi thì khả năng tiếp thu đợc 20%, cả nghe và nhìn tiếp thu đợc 50%, nếu đợc trình bày thì khả năng nhớ có thể lên đến 70% Đặc biệt, nếu đợc kết hợp cả nghe,

đọc, nghiên cứu, tự trình bày thì mức độ nhớ lên đến 90% Chỉ riêng điều đó thôi cũng nói lên sự đòi hỏi phải áp dụng các phơng tiện nghe nhìn vào việc giảng bài

Dù phơng tiện hiện đại hay truyền thống thì phơng tịên cũng chỉ là công cụ hỗ trợ trong tiết học trên lớp, nhằm làm sáng tỏ những điều cần trình bày của giảng viên

và trực quan hoá nội dung giảng dạy giúp học viên tiếp thu dễ dàng và tham gia học tập một cách chủ động tích cực

Trang 9

Mỗi loại phơng tiện dạy học có những u điểm và nhợc điểm riêng Vấn đề còn lại là giáo viên phải biết lựa chọn phơng tiện nào cho phù hợp Bản thân mỗi phơng pháp dạy học tích cực nếu biết áp dụng đúng hoàn cảnh, nội dung bài giảng thì nhiều khi chỉ cần một cái bảng cũng có thể khơi dậy đợc sự say mê của ngời học Tuy nhiên nếu giảng viên biết kết hợp, sử dụng nhuần nhuyễn các phơng tiện hiện đại nh Projecter thì lớp học sẽ sôi nổi, sinh động và gây đợc sự chú ý của ngời học hơn Ví dụ: Khi muốn giới thiệu cơ cấu nội dung bài giảng, một hình ảnh hay một sơ đồ thì dùng phơng tiện Projecter sẽ rất hiệu quả

Và nhiều khi cũng chính phơng tiện dạy học hiện đại đó sẽ làm cho phơng pháp dạy học tích cực không phát huy đợc hiệu quả bài giảng Đó chính là khi giáo viên cha nhận thức đợc đầy đủ về tác dụng của các phơng tiện và cha biết sử dụng nhuần nhuyễn các phơng tiện hiện đai Chẳng hạn khi sử dụng Projecter giáo viên thờng mắc các lỗi: trong một buổi học chiếu quá nhiều hình ảnh hay trong mỗi sline viết quá nhiều chữ dẫn đến tình trạng học viên cha kịp nhìn, kịp ghi thì giáo viên lại chuyển sang một slide mới trong khi đó nguyên tắc vàng của việc áp dụng chơng trình Powerpoint là không đợc viết câu quá dài và quá nhiều chữ; khi trình diễn cần phải chèn cả sơ đồ, hình ảnh…

Điều đó chứng tỏ việc áp dụng phơng tiện dạy học hiện đại vào giảng dạy là một sự cần thiết nhng không phải bằng mọi giá phải áp dụng bằng đợc khi các điều kiện cha thật sự sẵn sàng ở đây chúng ta cần phải hiểu rằng phơng tiện luôn chỉ là một công cụ trợ giúp, chuyển tải các nội dung Tạo ra sự chú ý, cải thiện khả năng nhớ, mức độ tiếp thu của ngời tham dự.Nó không thể quyết định đến toàn bộ chất l-ợng giảng dạy, mà chỉ hỗ trợ để thể hiện nội dung mà thôi Tự nó không thể là nội dung

Nh vậy, dù sự dụng phơng tiện hiện đại hay truyền thống thì chúng ta không nên quá lạm dụng về các phơng tiện đó Trong giảng dạy phơng tiện quan trọng nhất vẫn chính là ngời giáo viên; giáo viên phải biết kết nối các khả năng giao tiếp về mặt nội dung và phơng tiện để mang lại hiệu quả tối u nhất Thành công của buổi học suy cho cùng phụ thuộc vào ngời giáo viên, ngời giáo viên đừng tự đánh mất mình sau những phơng tiện hiện đại đó

2 Cơ sở thực tiễn

Đặc điểm các môn học của bộ môn

Bộ môn KTCM là bộ môn đợc giao nhiệm vụ huấn luyện các môn học thuộc lĩnh vực chuyên ngành thông tin hữu tuyến điện có liên quan đến tổng đài và máy

Trang 10

điện thoại Với t cách là bộ môn huấn luyện chuyên ngành, các môn học do bộ môn

đảm nhiệm phần lớn có liên quan đến khí tài thông tin quân sự cả thô sơ lẫn hiện đại Bên cạnh đó là các môn học cơ sở có tính trừu tợng cao đòi hỏi khả năng t duy, suy luận cao của ngời học cũng nh phơng pháp truyền đạt dễ hiểu nhng phải có chất lợng của ngời giảng viên Chính vì vậy việc giảng dạy của ngời giảng viên trong bộ môn

đòi hỏi phải sử dụng rất nhiều các phơng tiện dạy học nh sơ đồ nguyên lý của thiết bị, mô hình, tranh vẽ, thiết bị mô phỏng và cả thiết bị thật thì mới có thể đáp ứng đợc với yêu cầu giảng dạy đảm bảo truyền thụ đợc hết những kiến thức cần thiết cho học viên

Thực trạng việc sử dụng các phơng tiện kỹ thuật vào dạy học ở bộ môn

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của Nhà trờng, Khoa HTTS và bộ môn KTCM đã đợc quan tâm đầu t một lợng rất lớn cơ sở vật chất phục

vụ cho huấn luyện Bộ môn đã đợc trang bị các khí tài thông tin sử dụng phổ biến trong toàn quân nh tổng đài T24S8, T64S và T64S1; các loại tổng đài nhân công và các loại máy điện thoại làm cơ sở để nghiên cứu và giảng dạy Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ, giảng viên, nhân viên kỹ thuật trong bộ môn cũng đầu t thiết kế các thiết bị mô phỏng, mô hình, phần mềm mô phỏng; phim huấn luyện, bài giảng, giáo trình

điện tử nhằm làm phong phú thêm cho bài học cũng nh tạo điều kiện thuận lợi cho học viên trong quá trình thực hành Các giảng đờng huấn luyện chuyên ngành cũng đã

đợc trang bị đầy đủ hệ thống máy tính, máy chiếu, camera, âm thanh tạo điều kiện thuận lợi nhất cho ngời giảng viên trong quá trính giảng dạy và làm cho học viên cảm thấy hứng thú hơn, tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn Hệ thống mạng LAN đợc kết nối

đến từng giảng đờng cũng nh từng đơn vị tạo điệu kiện thuận lợi cho trao đổi kiến thức ngoài giờ giữa giáo viên và học viên trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn trớc rất nhiều

Tuy nhiên, việc sử dụng các phơng tiện dạy học đợc trang bị hiện nay còn nhiều

điểm hạn chế Trớc hết đó là cha phát huy đợc hết tác dụng của các phơng tiện dạy học Đối với việc sử dụng mày tính, máy chiếu vào thiết kế bài giảng, nhiều giảng viên trình độ công nghệ thông tin cũng nh trình dộ áp dụng phơng tiện kỹ thuật vào dạy học còn hạn chế, vẫn sử dụng phơng pháp giảng dạy cũ đó là đọc chép nên trong bài giảng vẫn chủ yếu là chữ, cha chú trọng sử dụng hình ảnh, âm thanh vào giảng

để tạo nên sự sinh động, thu hút đợc sự chú ý của học viên Một vài giảng viên có sử dụng vào việc thiết kế bài giảng nhng sử dụng không hợp lý, sử dụng một cách tràn lan, không tác động đợc vào nhận thức của học viên mà ngợc lại còn làm học viên bị phân tâm nên cũng không phát huy đợc tác dụng của chúng Đối với các thiết bị mô phỏng, thiết bị thật, các phần mềm huấn luyện cha đợc quan tâm sử dụng hợp lý Học viên chủ yếu vẫn phải học trên sách vở, ít đợc tiếp cận với thiết bị thật nên không thể khai thác thiết bị một cách hiệu quả nhất Với các thiết bị, phần mềm mô phỏng số

Ngày đăng: 20/01/2016, 08:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w