1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội

84 753 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 2,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khoa học du lịch, SKH nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện khí hậu, thời tiết tác động lên cơ thể con người trong các hoạt động du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu, khám phá

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

NGUYỄN THỊ THU HOÀI

HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

- -

NGUYỄN THỊ THU HOÀI

HUYỆN BA VÌ THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Khoa học Môi trường

Mã số: 60 44 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Khanh Vân

Hà Nội - 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn thạc sỹ khoa học này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu thu thập, các kết quả nghiên cứu được nêu trong luận văn

là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình khoa học nào khác

Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn thạc sỹ khoa học này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hoài

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến các Thầy, các cô trong Khoa Môi trường Nhờ sự chỉ bảo, dạy dỗ tận tình của các Thầy cô, tôi đã nắm rõ được nhiều hơn những kiến thức cơ bản về chuyên ngành Khoa học Môi trường

Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Khanh Vân - Viện Địa Lý, Viện Hàn Lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam, người

đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tận tình để tôi hoàn thành luận văn thạc sỹ khoa học này

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tập thể các đồng chí làm việc tại UBND huyện Ba Vì, phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Ba Vì, phòng Khí hậu Viện Địa lý, Viện Hàn Lâm Khoa học Việt Nam đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi rất nhiều trong công tác thu thập số liệu, tài liệu để tôi có thể hoàn thành Luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, bạn bè và cán bộ đồng nghiệp đã giúp đỡ cho tôi trong quá trình thực hiện Luận văn này

Luận văn này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy tôi mong nhận được sự góp ý của các Thầy cô và các bạn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thu Hoài

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nội dung nghiên cứu 3

4 Ý nghĩa của Đề tài 3

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Lịch sử nghiên cứu SKH trên thế giới và ở Việt Nam 4

1.1.1 Trên thế giới 4

1.1.2 Ở Việt Nam 5

1.2 Các đề tài nghiên cứu về huyện Ba Vì, TP Hà Nội 6

1.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm khí hậu huyện Ba Vì 7

1.3.1 Điều kiện tự nhiên huyện Ba Vì 7

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 14

1.3.3 Thực trạng phát triển du lịch Ba Vì 18

1.3.4 Đặc điểm khí hậu huyện Ba Vì và ảnh hưởng của nó tới sức khỏe con người, cho nghỉ dưỡng và phát triển du lịch 20

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Đối tượng nghiên cứu 37

2.2 Phương pháp nghiên cứu 37

2.2.1 Phương pháp phân tích xử lí số liệu thống kê 37

2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa 37

2.2.3 Phương pháp phân loại SKH 37

2.2.4 Phương pháp đánh giá tổng hợp tài nguyên SKH 38

2.2.5 Phương pháp bản đồ và hệ thông tin địa lý (GIS) 38

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Thành lập bản đồ SKH sức khỏe con người phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng huyện Ba Vì 39

Trang 6

3.1.1 Vai trò, ý nghĩa của việc nghiên cứu thành lập bản đồ SKH phục vụ mục

đích du lịch và nghỉ dưỡng 39

3.1.2 Nguyên tắc thành lập bản đồ SKH cho mục đích du lịch, nghỉ dưỡng 39

3.1.3 Hệ chỉ tiêu bản đồ SKH phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng huyện Ba Vì 39

3.2 Mô tả các đơn vị SKH huyện Ba Vì 46

Từ vùng thấp lên vùng cao, từ nơi ít mưa đến nơi mưa vừa, mưa nhiều ở huyện Ba Vì có 5 loại SKH sau: 46

3.2.1 Loại SKH IC3: 46

3.2.3 Loại SKH IIB2: 48

3.2.4 Loại SKH IIIB1: 48

3.2.5 Loại SKH IVA1: 48

3.3 Đánh giá điều kiện SKH phục vụ phát triển du lịch huyện Ba Vì 48

3.3.1 Lựa chọn đối tượng đánh giá 48

3.3.2 Đánh giá điều kiện SKH đối với sức khỏe con người và phát triển du lịch huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội 49

3.4 Xác định thời gian hoạt động thích hợp với hoạt động du lịch và mùa vụ du lịch huyện Ba Vì 57

3.5 Đề xuất khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên SKH tại các vùng, điểm du lịch thuộc huyện Ba Vì 59

3.5.1 Vườn Quốc Gia Ba Vì 59

3.5.2 Các điểm du lịch thuộc sườn Đông núi Ba Vì 61

3.5.3 Các điểm du lịch thuộc khu vực Hồ Suối Hai và vùng phụ cận 63

3.6 Định hướng khai thác tài nguyên SKH huyện Ba Vì phục vụ phát triển du lịch, nghỉ dưỡng và phát triển kinh tế - xã hội 67

3.6.1 Lựa chọn loại hình du lịch phù hợp và khắc phục tính mùa vụ trong hoạt động du lịch huyện Ba Vì 67

3.6.2 Một số kiến nghị giải pháp chính để khai thác tốt tài nguyên SKH huyện Ba Vì đối với du lịch phục vụ phát triển kinh tế xã hội 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 70

TÀI LIỆU THAM KHẢO 72

Trang 7

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Diễn biến diện tích một số cây trồng chính 13

Bảng 1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp huyện Ba Vì giai đoạn 2005 - 2012 14

Bảng 1.3 Tình hình khách du lịch đến Ba Vì giai đoạn 2008 - 2013 19

Bảng 1.4 Bức xạ tổng cộng trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì - lấy trạm Láng, Hà Nội làm đại diện 21

Bảng 1.5 Lượng mây tổng quan trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì 21

Bảng 1.6 Số giờ nắng trung bình ngày các tháng và năm ở khu vực Ba Vì 22

Bảng 1.7 Tốc độ gió trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì 22

Bảng 1.8 Tốc độ gió mạnh nhất tháng và năm ở khu vực Ba Vì 23

Bảng 1.9 Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì 24

Bảng 1.10 Nhiệt độ không khí tối cao trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì 24

Bảng 1.11 Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì 25 Bảng1.12 Nhiệt độ không khí tối cao tuyệt đối tháng và năm ở khu vực Ba Vì 25

Bảng 1.13 Nhiệt độ không khí tối thấp tuyệt đối tháng và năm ở khu vực Ba Vì 26

Bảng 1.14 Biên độ nhiệt ngày trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì 26

Bảng 1.15 Tổng lượng mưa trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì 27

Bảng 1.16 Số ngày mưa trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì 28

Bảng 1.17 Lượng mưa ngày cực đại tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì 28

Bảng 1.18 Độ ẩm không khí trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì 29

Bảng 1.19 Độ ẩm không khí tối thấp trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì 29

Bảng 1.20 Độ ẩm không khí tối thấp tuyệt đối tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì 30

Bảng 1.21 Bốc hơi không khí trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì 30 Bảng 1.22 Số ngày sương mù trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì 30 Bảng 1.23 Số ngày sương muối trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì 31

Bảng 1.24 Số ngày mưa phùn trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì 31 Bảng 1.25 Số ngày dông trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì 31

Trang 8

Bảng 1.26 Phân bố các lần tố lốc một số năm ở khu vực huyện Ba Vì (1971-2007) 32

Bảng 1.27 Số ngày mưa đá trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì 32

Bảng 1.28 Hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới trên khu vực huyện Ba Vì (1960-2011) 33

Bảng 1.29 Số ngày nắng nóng trung bình tháng và năm 34

Bảng 1.30 Số ngày nắng nóng gay gắt trung bình tháng và năm 34

Bảng 1.31 Số ngày rét đậm trung bình tháng và năm 35

Bảng 1.32 Số ngày rét hại trung bình tháng và năm 35

Bảng 1.33 Số ngày mưa lớn trung bình tháng và năm 36

Bảng 1.34 Số ngày mưa rất lớn trung bình tháng và năm 36

Bảng 3.1 Danh sách các trạm khí tượng, trạm đo mưa khu vực nghiên cứu 40

Bảng 3.2 Phân cấp nhiệt độ trung bình năm 42

Bảng 3.3 Phân cấp lượng mưa năm 43

Bảng 3.4 Phân cấp sự xuất hiện của hiện tượng nắng nóng 43

Bảng 3.5 Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người 50

Bảng 3.6 Phân loại khí hậu tốt – xấu đối với sức khỏe 50

Bảng 3.7 Chuyển đổi mức độ đánh giá bảng 3.5 và 3.6 về cùng khung xếp hạng mức độ thuận lợi và cho điểm số đánh giá 50

Bảng 3.8 Đánh giá mức độ thuận lợi của một số yếu tố khí hậu cơ bản ở Ba Vì 51

Bảng 3.9 Đánh giá ảnh hưởng tổng hợp của nhiệt độ T (0C) và độ ẩm tương đối U (%) so sánh với các vùng SKH của giản đồ SKH theo P.Đ Nguyên, 2002 53

Bảng 3.10 Đánh giá số ngày mưa cho du lịch huyện Ba Vì 54

Bảng 3.11 Đánh giá số ngày mưa phùn cho du lịch huyện Ba Vì 54

Bảng 3.12 Đánh giá tổng hợp điều kiện SKH khu vực Ba Vì phục vụ mục đích du lịch, nghỉ dưỡng 55

Bảng 3.13 Đánh giá tổng hợp các loại SKH cho mục đích du lịch, nghỉ dưỡng tại huyện Ba Vì 56

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Biểu đồ chuyển dịch cơ cấu kinh tế 15

Hình 3.3 Bản đồ SKH phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng huyện Ba Vì, Tp Hà Nội Thu từ tỷ lệ 1/25.000 47

Hình 3.4 Giản đồ các vùng khí hậu với mức độ thích hợp cho sức khỏe con người theo quan hệ nhiệt độ - độ ẩm tương đối 52

Hình 3.5 Vườn Quốc gia Ba Vì 60

Hình 3.6 Hình ảnh một số khu du lịch thuộc Sườn Đông Núi Ba Vì 62

Hình 3.7 Hình ảnh Hồ Suối Hai 63

Hình 3.8 Hình ảnh Du lịch Trang trại đồng quê 65

Trang 10

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ Ý NGHĨA

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Sinh khí hậu (SKH) là môn khoa học liên ngành giữa khí hậu học và sinh thái học, nghiên cứu ảnh hưởng của khí hậu đối với cơ thể sống Theo Trần Việt Liễn

“SKH người là một bộ phận của SKH nói chung, nhằm nghiên cứu các quá trình tương tác môi trường khí hậu – con người từ các góc độ, từ những mục tiêu kacs nhau, nó là một mảng quan trọng của bộ môn nghiên cứu khí hậu ứng dụng” [7] Trong khoa học du lịch, SKH nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện khí hậu, thời tiết tác động lên cơ thể con người trong các hoạt động du lịch, tham quan, nghỉ dưỡng, tìm hiểu, khám phá tự nhiên… Bên cạnh đó, căn cứ vào nhu cầu đòi hỏi về thời tiết, khí hậu của các loại hình du lịch khác nhau, nghiên cứ SKH chỉ ra từng thời kỳ thuận lợi cho sức khỏe con người, cho từng loại hình du lịch, điều dưỡng cụ thể, ở các vùng cụ thể Nhờ có nó hoạt động du lịch ít bị ảnh hưởng do sự cố thời tiết khí hậu một cách đáng tiếc, kinh tế du lịch thu được lợi nhuận cao

Trong thời đại ngày nay bởi tính ứng dụng thực tiễn cao của nó nên SKH đang được phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam và trên thế giới Nghiên cứu SKH tại một khu vực để đánh giá những ảnh hưởng do khí hậu, thời tiết đến con người, đến cơ cấu cây trồng vật nuôi, đến cấu trúc thảm thực vật và đánh giá việc ứng dụng những lợi thế đó của người dân bản địa đã phù hợp chưa từ đó đề xuất các đặc trưng SKH phục vụ phát triển kinh tế, du lịch và canh tác của người dân địa phương

Đến nay, đã có nhiều đề tài và nội dung nghiên cứu và sử dụng hợp lý tài nguyên SKH đối với mục đích phát triển du lịch, phát triển lâm nghiệp…được nhiều nhà khoa học lựa chọn để nghiên cứu, đánh giá và đề xuất sử dụng hợp lý tại một vùng lãnh thổ lớn và đã có hiệu quả thiết thực Tuy nhiên việc đánh giá đặc điểm tài nguyên SKH và đề xuất hướng sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này đối với một vùng lãnh thổ nhỏ với quy mô địa giới hành chính của một huyện đã có nhưng chưa nhiều Thực tế quá trình vận động và phát triển cho thấy bất cứ một sự phát triển nào cũng tuân theo quy luật nhất định, và ngày nay sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp đã và đang đem lại những hậu quả nhất định đối với môi trường làm thay đổi hệ sinh thái, suy thoái tài nguyên….gây ô nhiễm môi trường do đó chủ

Trang 12

trương của Đảng và Nhà nước ta luôn định hướng lựa chọn định hướng phát triển bền vững cho nền kinh tế đó là sản xuất phát triển phải đi đôi với sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường Trong đó sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên cảnh quan, khí hậu phục vụ phát triển du lịch từng bước được đề xuất để tận dụng lợi thế

và phát triển ngành công nghiệp không khói mang lại nguồn thu lớn cho các địa phương nói riêng và đóng góp lớn vào ngân sách cả nước nói chung

Sau khi mở rộng, thành phố Hà Nội hiện nay có tổng diện tích tự nhiên là 334.470,02ha gồm 30 quận, huyện; dân số là 6.232.940người Trong đó huyện Ba

Vì là một huyện miền núi ở phía Tây thủ đô Hà Nội có nhiều tiềm năng phát triển

du lịch bởi được hội tụ đủ các lợi thế về địa hình, địa mạo…và truyền thống văn hóa Xứ Đoài đậm đà bản sắc Trong những năm qua, mặc dù với áp lực suy thoái kinh tế toàn cầu nhưng huyện Ba Vì vẫn giữ được vị trí là một trong các huyện có tốc độ phát triển kinh tế ổn định mà không thể không kể đến đóng góp rất lớn từ nhóm ngành dịch vụ - du lịch của huyện

Với vị trí địa lý thuận lợi nằm trong vùng Đông Bắc Việt Nam giáp với tỉnh Phú Thọ, tỉnh Vĩnh Phúc trên địa phận huyện có dãy núi Ba Vì tạo nên lợi thế cảnh quan và sự phân hóa địa hình hình thành đai khí hậu theo địa hình khác nhau, và sự phân bố thảm thực vật khác nhau do đó VQG Ba Vì có đa dạng sinh học cao Ngoài các đặc điểm về khí hậu, đa dạng sinh học, VQG Ba Vì còn có giá trị văn hóa tâm linh của người Việt Nam với đền thờ Đức Thánh Tản, đền thờ Bác Hồ Xung quanh khu vực VQG Ba Vì có nhiều cảnh quan đẹp Ao Vua, Suối Tiên, Hồ Suối Hai, khu

di tích lịch sử K9 - Đá Chông, các tài nguyên trong lòng đất cũng tạo nên tiềm năng

du lịch cho huyện Ba Vì như mỏ khoáng nóng tại xã Thuần Mỹ Nhờ lợi thế về thời tiết, khí hậu nên huyện Ba Vì ngoài những tài nguyên du lịch tự nhiên, trên địa bàn huyện còn có các nguồn tài nguyên du lịch nhân tạo đó là các khu trang trại nuôi trồng các loại cây, con cho các sản phẩm nông sản đã trở thành thương hiệu của huyện Ba Vì như khu dược liệu của Người Dao, chè Ba Trại, sữa Ba Vì, khoai lang Đồng Thái hay các khu Nông trường nay đã được đầu tư thành các khu trang trại phục vụ du lịch nghiên cứu

Trang 13

Là một người con sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Xứ Đoài và đã có nhiều năm công tác tại khu vực, học viên nhận thấy tiềm năng phát triển du lịch huyện Ba

Vì rất lớn đã được sự quan tâm của các cấp, các ngành Hơn nữa, trên địa giới hành chính Huyện có dãy núi Ba Vì đã tạo nên sự phân hóa địa hình và nét đặc trưng riêng cho khí hậu vùng thủ đô Hà Nội điều này có cơ sở để nghiên cứu đánh giá nguồn tài nguyên SKH trên địa bàn huyện Do đó học viên lựa chọn vùng lãnh thổ

huyện Ba Vì để nghiên cứu trong Luận văn tốt nghiệp khóa học với đề tài “Nghiên

cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Nghiên cứu và làm sáng tỏ đặc điểm và vai trò (ảnh hưởng) SKH huyện Ba

Vì đối với sức khỏe con người trong các hoạt động sống nói chung và trong các hoạt động kinh tế du lịch, nghỉ dưỡng nói riêng

- Đánh giá mức độ thuận lợi, khó khăn của tài nguyên SKH huyện Ba Vì cho một số loại hình du lịch, phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội huyện Ba Vì theo hướng sử dụng hợp lý và bền vững các nguồn tài nguyên của huyện

3 Nội dung nghiên cứu

- Tổng quan những vấn đề về lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu SKH

- Làm rõ đặc điểm SKH và ảnh hưởng của nó tới sức khỏe con người phục vụ nghỉ dưỡng tại lãnh thổ nghiên cứu huyện Ba Vì

- Xây dựng bản đồ SKH người nhằm mục đích dân sinh, du lịch và nghỉ dưỡng huyện Ba Vì

- Phân tích, đánh giá điều kiện SKH phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng tại huyện Ba

Vì Từ đó đề xuất, kiến nghị để sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên này cho phát triển

du lịch nói riêng và kinh tế - xã hội huyện nói chung

4 Ý nghĩa của Đề tài

Đề tài có ý nghĩa khoa học và thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ đóng góp vào việc nghiên cứu sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên SKH của một vùng lãnh thổ nhỏ với quy mô huyện nhưng có đặc thù phân hóa địa hình, khí hậu Góp phần vào các tài liệu tham khảo để đề xuất định hướng phát triển du lịch huyện Ba Vì, thành phố

Hà Nội theo hướng sử dụng hợp lý và bền vững các nguồn tài nguyên tại chỗ

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Lịch sử nghiên cứu SKH trên thế giới và ở Việt Nam

Các nhà địa lí Liên Xô đã có các công trình đánh giá các thể tổng hợp tự nhiên phục vụ giải trí (1973) đã tiến hành nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các địa điểm du lịch (Kadanxkaia, 1972; Sepier, 1973) Một số nhà địa lí cảnh quan của trường Đại học Tổng hợp Matxcơva như E.Đ.Xirnova, V.B.Nhefeđova, L.G.Svittrenco đã tiến hành nghiên cứu các vùng thích hợp cho mục đích nghỉ dưỡng trên lãnh thổ Liên Xô trước đây Nhà địa lí B.N Likhanop, 1973 đã xác định tài nguyên nghỉ ngơi giải trí là một dạng đặc biệt của tài nguyên thiên nhiên và việc nghiên cứu chúng là một nhiệm vụ quan trọng của địa lí giải trí - một nhánh mới của địa lí tự nhiên

Các nhà địa lí Mỹ như Bona, 1918; Davis, 1971; nhà địa lí Anh H.Robinson và các nhà địa lí Canada như Vofo, 1966; Henayno, 1972 cũng đã tiến hành đánh giá

và sử dụng các tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích giải trí du lịch

Các nhà địa lí Ba Lan như Kostrovixki, 1970; Vacdunx, 1973 đã xác định dung lượng tối ưu khách du lịch cho mỗi cảnh quan tự nhiên và các nhà khoa học Tiệp Khắc đã tiến hành đánh giá và thành lập các bản đồ tài nguyên du lịch cả về tự nhiên cũng như văn hóa, lịch sử (Mariot, 1971; Sulavikova, 1973) Trong vòng hai mươi năm trở lại đây, môn địa lí giải trí hay địa lí du lịch ra đời và đã được sự hưởng ứng rộng rãi của nhiều nhà địa lí trên thế giới với nhiều công trình nổi tiếng của Koliarop, H.Robinson…Nhiều nhà địa lí du lịch đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lí du lịch là các hệ thống lãnh thổ du lịch hoặc thể tổng hợp lãnh thổ du

Trang 15

lịch , trong đó cũng đã xác định các điều kiện tự nhiên được khai thác phục vụ mục đích du lịch là các điều kiện để phát triển du lịch như là một thành phần, một phân

hệ của hệ thống [2]

1.1.2 Ở Việt Nam

Cùng với sự khởi sắc của hoạt động du lịch trong những năm đầu của thập niên

90 của thế kỉ XX thì việc nghiên cứu phục vụ du lịch cũng đã có những bước tiến quan trọng cả về số lượng lẫn chất lượng, trong đó các điều kiện tự nhiên đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều công trình Các công trình này đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản về lý luận cũng như thực tiễn của việc đánh giá riêng biệt các thành phần tự nhiên cũng như đánh giá tổng hợp các điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch Đặc biệt có các công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam (Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi); phân loại khí hậu Kopen và một số ứng dụng trong công tác du lịch (Vũ Bội Kiếm), tiềm năng phát triển du lịch Việt Nam (Nguyễn Trần Cầu…), phân tích cấu trúc sinh thái cảnh quan ứng dụng định hướng tổ chức du lịch xanh ở Việt Nam, xây dựng hệ thống chỉ tiêu phân vùng du lịch Việt Nam (Lê Thông), đánh giá và khai thác điều kiện tự nhiên

và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì phục vụ mục đích du lịch (Đặng Duy Lợi), cơ

sở khoa học cho việc xây dựng tuyến điểm du lịch (Phạm Trung Lương),…và nhiều công trình có giá trị lý luận và thực tiễn Các công trình này đã đánh giá được thực trạng nguồn tài nguyên khí hậu, cảnh quan của các vùng lãnh thổ, đưa ra các đề xuất

sử dụng khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên này cho các mục đích khác nhau trong

đó chủ yếu là đánh giá tiềm năng và định hướng khai thác cho phục vụ mục đích du lịch, nghỉ dưỡng của các vùng lãnh thổ tùy điều kiện hợp lý thích hợp của từng vùng Các công trình nghiên cứu về SKH người trên thế giới, đặc biệt là các tác giả Việt Nam như: Đào Ngọc Phong, Trần Việt Liễn, Đặng Kim Nhung, Nguyễn Khanh Vân…Các tác giả với kết quả nghiên cứu của mình đã thành lập được bản đồ SKH các vùng miền trên cả nước, từ đó đề xuất định hướng khai thác sử dụng các nguồn tài nguyên SKH này cho mục đích du lịch, nghỉ dưỡng, phục vụ cho phát triển lâm nghiệp, canh tác… phục vụ phát triển kinh tế, du lịch cho các vùng, miền góp phần đề xuất, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội theo hướng phát huy lợi thế của các vùng lãnh thổ

Trang 16

1.2 Các đề tài nghiên cứu về huyện Ba Vì, TP Hà Nội

Đối với thành phố Hà Nội nói chung và huyện Ba Vì nói riêng đã có các công trình nghiên cứu về quy hoạch sử dụng đất hợp lý, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội trong đó quan tâm và ưu tiên phát triển du lịch huyện Ba Vì song nghiên cứu SKH để sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này là hướng mới mẻ Đề tài nhằm góp phần hoàn thiện hơn việc nghiên cứu điều kiện tự nhiên đặc biệt là điều kiện SKH cho mục đích du lịch, cơ sở cho quy hoạch phát triển du lịch thành phố Hà Nội nói chung và huyện Ba Vì nói riêng

Trong chiến lược phát triển thành phố Hà Nội và huyện Ba Vì, thì định hướng phát triển du lịch theo hướng bền vững luôn được quan tâm Cụ thể:

+ Đặng Duy Lợi (1992), Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài

nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch, Luận án PTS

khoa học Địa lí - Địa chất, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

+ Quyết định 1259/QĐ - TTg ngày 26/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch chung xây dựng thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn 2050 (trong đó đối với huyện Ba Vì chủ yếu là phát triển du lịch cảnh quan, nghỉ dưỡng… để phát triển được loại hình du lịch này yếu tố SKH vô cùng quan trọng) + Nghị quyết số 09 - NQ/HU ngày 31/3/2011 của Ban chấp hành Đảng bộ huyện Ba Vì về phát triển du lịch huyện Ba Vì giai đoạn 2011 - 2015 và phương hướng nhiệm vụ các năm tiếp theo

+ Kế hoạch số 81/KH - UBND của UBND huyện Ba Vì về phát triển du lịch huyện Ba Vì giai đoạn 2011 - 2015

+ Tháng 2 năm 2014, Bộ văn hóa thể thao và du lịch đã có văn bản chấp thuận cho UBND thành phố Hà Nội xây dựng quy hoạch phát triển khu vực Ba Vì - Suối Hai thành hai khu du lịch Quốc gia đến năm 2020, định hướng đến 2030

+ Quy hoạch chung xây dựng huyện Ba Vì đến năm 2030

+ Quy hoạch phát triển du lịch thành phố Hà Nội đến năm 2020 định hướng đến 2030

+ Các kế hoạch, chương trình quảng bá du lịch hàng năm của huyện

Trang 17

1.3 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, đặc điểm khí hậu

huyện Ba Vì

1.3.1 Điều kiện tự nhiên huyện Ba Vì

1.3.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Ba Vì nằm ở phía Tây của thành phố Hà Nội, được giới hạn bởi tọa

độ địa lý: Từ 20055' đến 21010' vĩ độ Bắc, từ 105018' đến 105032' kinh độ Đông

Phía Tây khu vực tiếp giáp tỉnh Phú Thọ, phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc, phía đông

giáp huyện Phúc Thọ và Thạch Thất (Hà Nội), phía nam giáp huyện Thạch Thất

(Hà Nội) và tỉnh Hòa Bình Khu vực có tuyến đường thủy là Sông Hồng và Sông

Đà, đường bộ đi qua là quốc lộ 32 và quốc lộ 21, ngoài ra còn có các tuyến tỉnh lộ

như 411, 412, 413, 414, 415, 416, 418 Tiếp giáp với khu công nghiệp Việt Trì, thuỷ

điện Hoà Bình và là tuyến phòng thủ phía tây của thủ đô Hà Nội Khu vực nghiên

cứu có vị trí quan trọng về quốc phòng, an ninh của thành phố

Vị trí địa lý tạo nên tính đặc thù về phân hóa cảnh quan cũng như các điều

kiện cho phát triển kinh tế xã hội - những nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp hình

thành nên bộ mặt cảnh quan hiện tại của khu vực này Về mặt tự nhiên, khu vực

nghiên cứu nằm ở rìa phía tây của đồng bằng châu thổ Sông Hồng, dọc hữu ngạn

Sông Đà, nơi tiếp giáp giữa các hệ núi, đồi và đồng bằng tạo nên tính đa dạng cao

về cấu trúc cảnh quan Phía bắc núi Ba Vì là đồng bằng bóc mòn chân núi thuận lợi

cho việc đắp đập, xây dựng hồ nước phục vụ sản xuất như hồ Suối Hai, hồ Đồng

Mô, cùng với hệ động thực vật phong phú của VQG Ba Vì, tạo nên giá trị kinh tế,

thẩm mỹ và giá trị khoa học cao Về giá trị văn hóa, núi Ba Vì đã đi vào văn hóa

tâm linh của người Việt Nam với đền thờ Đức Thánh Tản và nền văn hóa xứ Đoài

Tài nguyên đá ong, là nguyên vật liệu xây dựng đặc trưng cho người dân Ba Vì -

Sơn Tây, tạo nên nét văn hóa kiến trúc độc đáo như làng cổ Đường Lâm, thành cổ

Sơn Tây,…Khu vực cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 45 km với hệ thống giao

thông thuận lợi trong việc trao đổi hàng hóa, hình thành các kiểu sử dụng đất phong

phú, cộng với quá trình đô thị hóa nhanh đã tạo nên những cảnh quan văn hóa đặc thù

trong khu vực

Trang 18

1.3.1.2 Địa hình, địa mạo

Từ kết quả nghiên cứu, tổng quan các tài liệu có sẵn địa hình và các quá trình địa mạo khu vực Sơn Tây - Ba Vì có các đặc điểm chính như sau:

a) Đặc điểm trắc lượng hình thái địa hình

Địa hình khu vực mang tính chất phân bậc khá rõ nét, được tạo bởi hệ thống địa hình núi thấp và trung bình, vùng đồi gò rồi chuyển tiếp xuống khu vực đồng bằng

- Địa hình núi thấp và trung bình: độ cao tuyệt đối từ 600 - 700m trở lên, phân

bố ở phía Nam huyện Ba Vì, thuộc VQG Ba Vì Khối núi Ba Vì có dạng vòm - khối tảng, nguồn gốc kiến tạo - xâm thực, qua các pha tân kiến tạo nâng lên bị xâm thực, bào mòn thành các bậc - vai núi là những mặt bằng cục bộ Từ dưới lên có thể quan sát thấy mặt bằng 400m, 600m, có chiều dài 700 - 800m, rộng 200 - 300m [28]

- Địa hình đồi: địa hình đồi bóc mòn - xâm thực phân bố ở vùng chuyển tiếp

từ chân núi Ba Vì xuống khu vực thềm sông và đồng bằng Đây là một bề mặt được hình thành bởi các quả đồi cao đều nhau, xấp xỉ 40m, đỉnh bằng phẳng, cấu tạo bằng đá gốc phiến sét, có nơi bằng trầm tích của kỷ Đệ Tam Bề mặt độc đáo này là các pediment - đồng bằng bóc mòn chân núi, là dạng địa hình thuận lợi cho việc xây dựng các hồ nước như hồ Suối Hai, hồ Đồng Mô, hồ Xuân Khanh và các hồ nhân tạo khác có giá trị thực tiễn cao Cũng trên khu vực này, gần khu vực hồ Suối Hai, còn lộ ra lòng sông cổ của kỷ Đệ Tam với hướng chảy Tây Bắc - Đông Nam, có thành phần thạch học là cuội kết, cát kết, sét bột kết Địa hình này được hình thành trên nền đá vững chắc, hình thái nhấp nhô lượn sóng tạo cảnh quan đặc sắc, đóng vai trò vừa là tài nguyên du lịch, vừa là mặt bằng lý tưởngphục vụ xây dựng đô thị

- Địa hình đồng bằng: phân bố chủ yếu ở phía bắc và một phần phía đông

khu vực Độ cao của bề mặt địa hình này đạt từ 4-5m đến 8-10m so với mực nước biển hiện nay, được cấu tạo chủ yếu bởi các trầm tích tuổi Holocen (còn gọi là phù

sa mới) Bề mặt địa hình đồng bằng hiện nay bị chia cắt rất mạnh bởi các hệ thống sông, kênh mương và đê đập Quá trình địa mạo chiếm ưu thế hiện nay là rửa trôi bề mặt, xói lở bờ, tích tụ do sông dưới tác động của cả các nhân tố địa mạo tự nhiên và lẫn hoạt động của con người Tuy nhiên, địa hình này vẫn được sử dụng chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp và hiện nay, địa hình này có thể nghiên cứu để phát triển loại hình du lịch sản phẩm nông nghiệp trang trại đồng quê

Trang 19

b) Đặc điểm các kiểu nguồn gốc địa hình

Bản đồ địa mạo được xây dựng dựa trên nguyên tắc nguồn gốc - lịch sử phản ánh các bề mặt đồng nhất về hình thái - nguồn gốc và cùng tuổi Các bề mặt được phân chia chủ yếu thuộc các nhóm: bóc mòn tổng hợp, bóc mòn xâm thực, địa hình dòng chảy và địa hình tự nhiên - nhân sinh Theo cách phân loại này, khu vực nghiên cứu bao gồm các dạng địa hình thuộc các nhóm nguồn gốc như sau:

(i) Địa hình bóc mòn tổng hợp, bao gồm:

- Bề mặt san bằng cao 800 - 1200 m, tuổi Miocen muộn: Bề mặt này trong

khu vực nghiên cứu có diện tích rất nhỏ hẹp, tồn tại ở bề mặt cao từ 800 - 1200m gần đỉnh núi Ba Vì (cao 1295m) Sự tồn tại của bề mặt này minh chứng cho quá trình nâng cao địa hình ở vùng nghiên cứu

- Bề mặt san bằng cao 400 - 600m, tuổi Pliocen sớm: Bề mặt này hình thành

do sự liên kết các di tích dạng các vai núi ở sườn núi Ba Vì Các bề mặt này thường khá bằng phẳng, ở độ dốc khoảng 3 -120, lớp vỏ phong hóa mỏng

- Bề mặt pediment Pliocen muộn bị chia cắt bởi các sườn rửa trôi bề mặt, dốc

8 - 12 0 , cao 30 - 40m: Đây là bề mặt phát triển rộng trên diện tích các gò đồi, là nơi

chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, phân bố ở chân núi Ba Vì, huyện Ba Vì Quá trình hình thành bề mặt chủ yếu do hoạt động rửa trôi bề mặt do nước mưa khí quyển và xâm thực yếu (giai đoạn tạo máng xói) Quá trình này tạo ra trong bề mặt chỗ bị rửa trôi, chỗ được tích tụ tạo cho bề mặt càng ngày càng mềm mại Bề mặt pediment phát triển trên đá cát bột kết, đá phiến sét của hệ tầng Sông Bôi (T2 - 3sb)

và đá phun trào riodaxit của hệ tầng Viên Nam (T1 vn) Hiện nay bề mặt này bị phong hóa mạnh mẽ, độ dốc của bề mặt này khoảng 3 - 80

(ii) Địa hình nguồn gốc bóc mòn - xâm thực, bao gồm:

- Sườn bóc mòn trọng lực, độ dốc >30 0 : Loại sườn này phát triển trên đá

phun trào riodaxit thuộc hệ tầng Viên Nam với độ dốc trên 450 Sự thành tạo sườn liên quan đến các hoạt động xâm thực giật lùi, cắt ngược vào mặt ép đá phun trào của các suối nhánh tác động vào đá cứng Sự xuất hiện của loại sườn này liên quan đến hoạt động nâng cao địa hình ở núi Ba Vì

Trang 20

- Sườn xâm thực bóc mòn cao >40m (núi Ba Vì), độ dốc >20 0 : Phân bố ở

sườn phía Tây núi Ba Vì Trắc diện sườn thẳng hoặc lồi, độ dốc thay đổi từ 20 - 300

Bề mặt sườn có lớp vỏ phong hóa mỏng, thực vật phát triển Thung lũng suối cắt vào sườn này có đáy mở rộng dạng chữ U Đặc điểm kiểu sườn cho thấy sườn đã trải qua thời kỳ xâm thực mạnh, đến nay đã yếu dần đi

- Sườn rửa trôi bề mặt, cao 40 - 80m, độ dốc 10 - 15 0 : Ở khu vực nghiên cứu

loại sườn rửa trôi bề mặt thống trị trên các dạng địa hình đồi núi sót phần lớn cao 40

- 50m, đôi khi tới 100m, phân bố chủ yếu ở xã Sơn Đà, Cẩm Lĩnh, Ba Trại, Thụy

An (huyện Ba Vì); xã Vị Thủy, Cổ Đông (thị xã Sơn Tây) Đặc điểm của loại sườn này là phát triển trên đá phun trào của hệ tầng Viên Nam (T1 vn); đá cát kết, bột kết của hệ tầng Phan Lương

(iii) Địa hình nguồn gốc dòng chảy, bao gồm:

- Bề mặt tích tụ hỗn hợp sông - lũ, tuổi Pleistocen giữa - muộn: Bề mặt này

có độ cao lớn nhất trong phạm vi nghiên cứu, từ 20 - 40m, phân bố ở phía tây sông Tích Bề mặt được cấu tạo bởi trầm tích sông - lũ tuổi tuổi Pleistocen giữa - muộn thuộc hệ tầng Hà Nội (apQ12-3 hn), tương đương với thềm bậc 2 của sông Hồng, đồng sinh với nó, nhưng khác đôi chút về nguồn gốc

- Thềm sông bậc II tuổi Pleistocen giữa - muộn: Phân bố chủ yếu ở phía tây

sông Tích đoạn qua huyện Ba Vì và thị xã Sơn Tây Nền móng của bậc thềm này rất rắn chắc, phù hợp để quy hoạch làm điểm dân cư và khai thác vật liệu xây dựng

- Thềm sông bậc I, tuổi Pleistocen muộn: Thềm sông cao 12 - 14m, được bảo

tồn tốt, phân bố ở phía nam sông Hồng Về mặt hình thái, đây là một đồng bằng lượn sóng thoải, không bị sông chia cắt Bề mặt thềm được tích tụ từ những tích tụ bở rời gồm sét, bột, cát,… của hệ tầng Vĩnh Phúc (aQ12 vp) Đất canh tác trên bề mặt này kém màu mỡ do xuất hiện tầng loang lổ đỏ, có khi xuất hiện cả đá ong

- Bãi bồi trong đê: Đây là dạng địa hình có diện tích rất lớn, cao 6 - 7m, thể

hiện quá trình hoạt động mạnh mẽ của hệ thống sông Hồng, trong thời kỳ Holocen muộn Đồng bằng được cấu tạo bởi các thành tạo của hệ tầng Thái Bình (aQ23 tb) phân bố chủ yếu dọc các lòng sông cổ và hiện đại Cơ chế hình thành của dạng đồng bằng này là hoạt động xâm thực và bồi tụ trực tiếp của động lực dòng chảy sông với

Trang 21

các quá trình bồi đắp và đổi dòng trong lịch sử thành tạo Do cơ chế thành tạo như vậy, hình thái bề mặt đồng bằng có dạng lượn sóng rất thoải Bề mặt đồng bằng bị chia cắt bởi hệ thống dòng chảy nhỏ và rất nhiều ao hồ thể hiện dấu tích lòng sông

cổ tạo ra sự đan xen giữa các ô trũng với các bề mặt nổi cao

- Bãi bồi ngoài đê: Nằm trong giới hạn hệ thống đê chống lũ hai bên bờ

sông Đây là kiểu địa hình trẻ nhất, được thành tạo và luôn chịu tác động bởi dòng chảy sông liên tục cho đến nay

1.3.1.3 Đặc điểm thuỷ văn

Kết quả nghiên cứu công bố trong các tài liệu cho thấy, phạm vi lãnh thổ khu vực Sơn Tây - Ba Vì có nguồn nước mặt và nước ngầm phong phú, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động phát triển kinh tế - xã hội

* Nước mặt

- Hệ thống sông: sông chính chảy qua là sông Đà Sông Đà là một phụ lưu

của sông Hồng bắt nguồn từ Vân Nam (Trung Quốc), chảy theo hướng tây bắc - đông nam trên địa phận Lai Châu và Sơn La, đến Hoà Bình sông ngoặt lên đông bắc, đổ vào Sông Hồng ở Trung Hà, chiều dài sông Đà chảy qua khu vực nghiên cứu khoảng 20km

- Hệ thống suối: Khối núi Ba Vì được nâng vòm tân kiến tạo nên hình thành

mạng thuỷ văn toả tia điển hình với các dòng chảy sườn Tây và Tây Nam ngắn hơn

so với ở sườn Bắc và Đông Bắc Ở phía Bắc và phía Đông, có các suối lớn chảy vào sông Hồng là suối Đô, Chằm Sỏi, Chằm Me, Quanh, Bơn, Yên Cư, Cầu Rồng tạo nên các thung lũng nửa kín như Xóm Chóng, Xóm Muỗi, Đồng Vàng, Xóm Xuân, Xóm Nghe, Các suối này chảy theo hướng bắc đông bắc và đổ vào

hồ Suối Hai hoặc vào sông Hồng Phía tây núi Ba Vì, các suối thường ngắn và dốc, bắt nguồn từ núi Ba Vì và đổ vào sông Đà như các suối Mít, suối Ninh, suối Ngòi Lạt,…tạo nên các thung lũng nửa kín Mạng lưới sông suối chia cắt mạnh

mẽ địa hình với mật độ chia cắt ngang từ 1,2 - 2km/km2 Các suối có tính chất ngắn, dốc, thung lũng hẹp nên khi mưa to nước dâng lên rất nhanh, chênh lệch so với mức bình thường là +2m đến +3m, tuy nhiên rút rất nhanh vì khu vực có nhiều hồ, đầm và các con sông lớn

Trang 22

- Hệ thống hồ, đầm:Trong vùng có hồ nhân tạo như: Đồng mô - Ngải Sơn, Hồ

Hooc Cua (Tản Lĩnh) Hồ Suối Hai ngoài ra còn có 24 hồ nhỏ dung tích 10 triệu m3 Một số suối có lượng nước đã tạo nên những thác nước rất đẹp như thác Ao Vua, thác Hương, thác Ngà Voi, thác suối Tiên….Hồ Suối Hai là hồ nhân tạo

nằm dưới chân núi Ba Vì, thuộc địa bàn xã Cẩm Lĩnh, huyện Ba Vì diện tích khoảng 10km2 (được xây dựng và hoàn thành năm 1958) Đây là hồ chứa đa mục tiêu: thủy lợi cho các cánh đồng lúa ở Ba Vì, điều tiết lũ sông Tích, cải thiện môi trường, phát triển

du lịch,…Hồ Đồng Mô cũng là một hồ nhân tạo thuộc địa phận thị xã Sơn Tây và một

phần huyện Ba Vì Hồ có diện tích lưu vực khoảng 96,0km2, dung tích 84,5triệu m3

được thi công năm 1970, hoàn thành năm 1974 có nhiệm vụ cấp nước tưới trên 5.300

ha Khu vực hồ Đồng Mô hiện nay thuộc khu du lịch Làng Văn hóa du lịch các dân tộc Việt Nam nên mực nước hồ lớn nhất được hạ từ +23,25m xuống +20,0m và mực nước chết dâng từ +13,0m lên +18,0m Do phải duy trì mực nước tối thiểu trong hồ để phục

vụ du lịch nên thực tế hồ Đồng Mô chỉ tưới được khoảng 1.082ha đất

* Nước ngầm

Vùng núi Ba Vì có các mạch nước ngầm phong phú, một số nguồn nước ngầm có độ khoáng hóa cao như nước khoáng Tản Viên (Tản Lĩnh), nước khoáng nóng Thuần Mỹ Nguồn nước ngầm mạch sâu có chất lượng nước tốt và đảm bảo cung cấp đủ nhu cầu cho toàn vùng và các vùng lân cận (Tây Đằng, Phúc Thọ)

Trong phạm vi lãnh thổ khu vực, có 2 dạng tồn tại nước dưới đất là nước lỗ

hổng và nước khe nứt Các tầng chứa nước lỗ hổng tập trung chủ yếu ở ven sông

Hồng, sông Đà, ở thung lũng giữa núi, ven các sông suối nhỏ Hệ tầng chứa nước có thể phân làm hai tầng: tầng chứa nước bên trên là cát pha, cát thô, cát hạt thô và tầng chứa nước bên dưới (tầng chứa nước cơ sở) cấu tạo bởi cát thô và sỏi cuội Chất lượng nước nhìn chung đạt tiêu chuẩn, trừ một số bị ô nhiễm do vi trùng và

hàm lượng sắt trong nước cao Các tầng chứa nước khe nứt phân bố rộng trên bề

mặt chiếm khoảng 1/3 diện tích toàn vùng Khối lượng nước chủ yếu do sử dụng trữ lượng tĩnh tự nhiên của các tầng chứa nước Sự phục hồi trữ lượng khai thác chủ yếu do nước mưa thấm, nước mặt ngấm; nguồn xuất lộ ra sông suối của nước ngầm

và lượng thấm xuyên từ các tầng lân cận vào khoảng 20 - 30%

Trang 23

1.3.1.4 Lớp phủ sử dụng đất

- Lớp phủ rừng: Tổng diện tích đất có rừng trên toàn huyện là 11.134ha, chiến

26% diện tích đất tự nhiên của toàn huyện và 40% diện tích đất lâm nghiệp toàn Thành phố Rừng ở Ba Vì phân bố tập trung ở 17/31 xã, thị trấn, trong đó tập trung chủ yếu ở

7 xã miền núi thuộc vùng đệm VQG Ba Vì Đây là nguồn tài nguyên phong phú đặc biệt là khu rừng nguyên sinh được lưu trữ trong VQG Ba Vì tập trung ở độ cao từ 400m trở lên tạo nên nguồn dự trữ gen quý và đa dạng sinh học phong phú góp phần trong nghiên cứu và tạo sự hấp dẫn du khách trong hoạt động du lịch

- Lớp phủ cây trồng nông nghiệp: Hoạt động phát triển nông nghiệp diễn ra

trên toàn khu vực nghiên cứu, song tập trung nhiều nhất ở khu vực đồng bằng trong

đó tập trung một số loại cây có hiệu quả kinh tế và ngày càng có sự chuyển đổi cây trồng phù hợp với đặc điểm khu vực và nâng cao giá trị sản xuất đặc biệt là các loại

có giá trị kinh tế và đảm bảo an ninh lương thực như cây Chè, Khoai lang, cây lúa Đây là khu vực hình thành vùng canh tác nông nghiệp có hiệu quả kinh tế và là một trong những loại hình sản phẩm du lịch đang được quan tâm

Cây lương thực có hạt 17.523 17.173 17.377 17.347 17.707

Cây công nghiệp lâu năm 1.401 1.719 1.709 1.742 1.508

(Nguồn: Niên giám thống kê Hà Nội, 2013)

- Lớp phủ đất khu công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp: Sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện chủ yếu là Tiểu thủ công nghiệp và làng nghề Theo số liệu thống kê

năm 2012, tổng số cơ sở sản xuất công nghiệp trên địa bàn huyện Ba Vì là 4.508 cơ sở tập trung chủ yếu tại một số xã Cam Thượng, xã Vật Lại với tổng quy mô 37,76ha Các làng nghề, ngành nghề truyền thống được duy trì và phát triển như chế biến chè búp khô (Ba Trại), sản xuất nón lá (Phú Châu), chế biến kén tằm (Thuần Mỹ) và chế biến tinh bột sắn đao đót (Minh Quang) tại Ba Vì

Trang 24

1.3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

1.3.2.1.Hiện trạng kinh tế

Thực trạng phát triển kinh tế: Kinh tế xã hội huyện Ba Vì những năm gần đây đã đạt được những kết quả đáng kể Tổng giá trị tăng thêm từ 5.145tỷ đồng năm 2011 tăng lên 9.700tỷ đồng năm 2015 Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2011- 2015 đạt 13,5% Trong đó nhóm ngành dịch vụ - du lịch tăng 16,8%; nhóm ngành nông - lâm nghiệp - thủy sản tăng 10,5% ; nhóm ngành công nghiệp - xây dựng tăng 10,4%

Cơ cấu kinh tế đến năm 2015 có sự chuyển biến theo hướng tích cực: Nhóm ngành Dịch vụ - Du lịch 52%; nhóm ngành Nông - lâm nghiệp- thủy sản 31% ; nhóm ngành công nghiệp - xây dựng 17% Thu nhập bình quân đầu người năm

2015 đạt 35 triệu đồng

Trong giai đoạn 2001 - 2012 quy mô và nhịp độ tăng trưởng có xu hướng tăng lên Tổng giá trị sản xuất tăng từ 1.275tỷ đồng năm 2005 lên 3297 tỷ đồng năm 2012 (giá ss 94), tăng bình quân hàng năm 11%/năm giai đoạn 2001 - 2005 và 20,9%/năm giai đoạn 2006 - 2012, riêng năm 2012 tăng 64,7% so với năm 2010

Bảng 1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp huyện Ba Vì giai đoạn 2005 - 2012

Tăng trưởng

bq (%) 2001-

2005

2006-2012

- Nông, lâm – ngư nghiệp Tỷ đồng 600 1050 1271 7,8 16,2

- Công nghiệp và xây dựng Tỷ đồng 260 400 647 11,2 20,0

- Nông, lâm – ngư nghiệp Tỷ đồng 340 520 438,5 6,5 5,2

- Công nghiệp và xây dựng Tỷ đồng 85 171 211,6 12,3 20,0

Trang 25

Chỉ tiêu Đơn vị

Tăng trưởng

bq (%) 2001-

2005

2006-2012

- Nông, lâm – ngư nghiệp Tỷ đồng 532.8 1154 1662

- Công nghiệp và xây dựng Tỷ đồng 138,4 384 846

- Nông, lâm – ngư nghiệp % 50,7 50,5 38,6

- Công nghiệp và xây dựng % 13,2 16,8 19,6

Trang 26

1.3.2.2 Hoạt động nhân sinh và yếu tố văn hóa

Con người và các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội vừa là nhân tố thành tạo cảnh quan vừa là nhân tố tác động làm biến đổi cảnh quan lãnh thổ Ba Vì Kết quả của sự tác động ấy có thể vẫn giữ được tính chất đặc trưng của cảnh quan cũ hoặc hình thành nên cảnh quan mới Theo số liệu thống kê, năm 2013, dân số huyện

Ba Vì có số dân 267,3ngàn người, mật độ dân số là 630người/km2 Khu vực có ba nhóm dân tộc (Kinh, Mường và Dao), trong đó người Kinh chiếm số lượng lớn nhất Nhóm người Dao cư trú chủ yếu ở xã Ba Vì Nhóm người Mường phân bố ở 7

xã miền núi thuộc huyện Ba Vì là Tản Lĩnh, Ba Trại, Yên Bài, Minh Quang, Khánh Thượng, Vân Hòa và Ba Vì)

1.3.2.3 Cơ sở hạ tầng

Hệ thống giao thông

Hệ thống giao thông của huyện là đường bộ và đường sông, có khả năng liên kết rộng rãi địa bàn huyện với các quận huyện và tỉnh lân cận; hoạt động vận tải trên địa bàn huyện chủ yếu vẫn là giao thông đường bộ

- Đường bộ: hệ thống giao thông vận tải của huyện đường bộ giữ vai trò chủ đạo, được phân bố đều khắp trên địa bàn huyện, có tổng chiều dài 1.475,67km, bao gồm Quốc lộ 32 dài 15,5km, tỉnh lộ có 11 tuyến dài 115km, đường đê 40,1km, đường huyện có 35 tuyến dài 151km, đường thị trấn 29,9km và đường xã, thôn 1.135,5km Mật độ đường bộ của huyện đạt 3,48km/km2 và 5,56km/1000 dân đây là

tỷ lệ cao so với toàn quốc 0,86km/km2 và 3,35km/1000 dân Quốc lộ và tỉnh lộ cơ bản được dải nhựa, đường giao thông nông thôn đã được kiên cố hóa tỷ lệ thấp đạt 28%; hệ thống giao thông quốc lộ, tỉnh lộ đã đạt từ cấp V đến cấp II, đảm bảo chất lượng khai thác từ trung bình trở lên

- Đường sông: có 02 sông chính chảy qua là sông Hồng và sông Đà, các phương tiện có trọng tải dưới 400 tấn có thể hoạt động trên 2 tuyến sông này

Hệ thống điện

Đến nay lưới điện quốc gia đã về đến 100% số trung tâm xã Tổng chiều dài lưới điện trên địa bàn huyện là 871.702km, trong đó lưới cao thế 310.169km, hạ thế 561.533km Tỷ lệ hộ dùng điện đạt tỷ lệ 100%

Trang 27

Bưu chính viễn thông

Bưu điện huyện giữ vai trò đầu mối trong việc duy trì ổn định của 8 bưu cục,

31 điểm bưu điện văn hóa xã; dịch vụ viễn thông ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu của khách hàng Tổng số máy điện thoại trung bình đạt 10 máy/100 dân; tỷ lệ dân nghe đài 4 cấp đạt 99%, số hộ xem được Đài Truyền hình Việt nam lên 99,6% năm 2012

Cơ sở văn hóa

Toàn huyện hiện nay có 371 điểm vui chơi, giải trí Đến năm 2012, toàn huyện

đã có 63 di tích được xếp hạng, trong đó 24 di tích cấp thành phố

Cơ sở hạ tầng phục vụ lưu trú du lịch (CSLT)

Theo số liệu thống kê, hiện nay trên địa bàn huyện Ba Vì có 15 đơn vị kinh doanh du lịch với các loại hình kinh doanh phong phú nhằm khai thác tiềm năng du lịch địa phương Tổng cơ sở lưu trú trên địa bàn huyện gồm 13 cơ sở với tổng số phòng nghỉ phục vụ du khách là 415 phòng nghỉ tiêu chuẩn đáp ứng nhu cầu lưu trú của khách du lịch

Công suất sử dụng phòng tại các khu vực nói chung đạt mức 34,08%, riêng khu vực xung quanh VQG Ba Vì do khí hậu mát mẻ, phù hợp nghỉ dưỡng nên có sức thu hút du khách theo mùa, công suất phòng nghỉ khu vực này thời điểm mùa

du lịch đạt 70% đến 80%, trái lại không phải mùa du lịch thì công suất lại giảm xuống chỉ đạt trên 30%

Sự phân bố các CSLT trên địa bàn cũng không đều, chủ yếu tập trung ở xung quanh khu vực núi Ba Vì và thị trấn Tây Đằng (70%) Chất lượng các CSLT ngày một tăng lên, nhiều khách sạn đã được xếp hạng sao và đầu tư đồng bộ về mở rộng quy mô, tăng số lượng phòng, dịch vụ bổ sung tắm hơi, massage, nhà hàng hội trường phục vụ hội thảo …

Cơ sở y tế

Theo thống kê đến hết năm 2012, mạng lưới cơ sở y tế trên địa bàn huyện Ba

Vì gồm có: 01 bệnh viện đa khoa (242giường), 1 trung tâm y tế , 3 phòng khám đa khoa khu vực (Minh Quang, Tản Lĩnh, Bất Bạt) và 31 trạm y tế xã, thị trấn Tổng số cán bộ y tế trên địa bàn huyện là 307 cán bộ, trong đó có 55 bác sỹ (8 bác sỹ chuyên

Trang 28

khoa cấp 1), 47 y sỹ, kỹ thuật viên, 172 y tá, nữ hộ sinh, 16 cán bộ nghành dược, trong đó có 2 dược sỹ (1 thạc sỹ chuyên ngành dược), 2 cao đẳng điều dưỡng Số trạm y tế có bác sỹ hiện là 19 trạm, chiếm tỷ lệ 61,3% Tỉ lệ số xã đạt tiêu chuẩn quốc gia về y tế tính đến năm 2012 là 90,3% (28/31 xã) Số giường bệnh/1 vạn dân

Nhìn chung, lượng khách du lịch quốc tế đến Ba Vì ổn định và đáp ứng được các mục tiêu đề ra Nguyên nhân cơ bản do nhu cầu của thị trường khách quốc tế đến Việt Nam hiện nay thường quan tâm đến du lịch biển, núi, tham quan các di tích lịch sử, du lịch cộng đồng…mà Ba Vì có nhiều thế mạnh Bên cạnh đó, với cơ chế chính sách thu hút đầu tư linh hoạt nên thời gian qua các dự án đầu tư phát triển

hạ tầng và phát triển du lịch đã tạo ra một lợi thế cho Ba Vì

- Khách quốc tế lưu trú ở khách sạn và các cơ sở lưu trú tương đối ngắn, trung bình khoảng 0,5 - 1,2ngày…Nguyên nhân chủ yếu ở đây là do Ba Vì tương đối gần

so với Hà Nội, điều kiện đi lại cũng không khó khăn nên số khách đi từ Hà Nội chỉ

đi nghỉ ở Ba Vì vào các dịp lễ, tết nghỉ cuối tuần

b Khách nội địa

Khách du lịch nội địa vẫn là nguồn khách chủ yếu của tỉnh, trung bình hàng năm chiếm 85% tổng lượng khách đến Ngoài khu vực VQG Ba Vì là nơi tập trung thu hút khách, còn có các khu du lịch và khu tâm linh phụ cận như Đền và Sơn Tây, Chùa Mía, Đình Tây Đằng, khu du lịch Ao Vua, Thiên Sơn - Suối Ngà, Hồ Suối Hai cũng thu hút khách nội địa đến ngày một nhiều hơn vì điều kiện đi lại thuận

Trang 29

tiện gần Hà Nội Khác với khách quốc tế, khách nội địa liên tục tăng từ năm 2008 trở lại đây với tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 20 - 22%

Nguyên nhân một phần do nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng của người dân trong

cả nước, đặc biệt là thủ đô Hà Nội và các tỉnh lân cận ngày càng cao; bên cạnh đó là việc ngành du lịch Hà Nội chú trọng phát triển du lịch nghỉ dưỡng cuối tuần, du lịch văn hóa - lễ hội, du lịch cộng đồng…phù hợp với thị hiếu khách du lịch trong nước Điều đó cũng có nghĩa rằng, trong tương lai gần thị trường khách nội địa sẽ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của du lịch Ba Vì

Khách du lịch nội địa đến Ba Vì thường là khách đi tham quan, du lịch, nghỉ dưỡng, công tác…năm sau cao hơn năm trước đặc biệt là vào thời điểm của các dịp đầu năm sau tết âm lịch, lễ hội Đền Và,…Tuy nhiên thời gian lưu trú của khách du lịch còn ngắn, do dịch vụ và chất lượng dịch vụ còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch

Khách du lịch nội địa thường là khách đi theo nhóm do các công ty du lịch, lữ hành tổ chức, hoặc do các tổ chức công đoàn của các cơ quan, xí nghiệp tổ chức hoặc tự tổ chức theo các nhóm…Đa phần là khách từ Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và các địa phương khu vực Bắc Trung Bộ

(Nguồn: Phòng Văn hóa - thể thao du lịch huyện Ba Vì)

1.3.3.2 Thu nhập và giá trị gia tăng du lịch

Thu nhập từ dịch vụ nói chung và du lịch của Ba Vì nói riêng trong những năm qua đã có sự tăng trưởng đáng kể Tổng giá trị tăng thêm nhóm ngành từ 2.346

tỷ đồng năm 2011 tăng lên 5.093tỷ đồng năm 2015 Tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 16,8% và tỷ trọng chiếm 52%

Trang 30

Theo kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Ba Vì nhiệm kỳ

2011 - 2015, tổng doanh thu từ nhóm ngành dịch vụ - du lịch đạt 320tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân 34,3%/năm; tổng lượt khách đạt 4.302.400 lượt người, tốc độ tăng bình quân 22,65%

1.3.3.3 Lao động trong ngành du lịch

Cùng với sự phát triển ngày càng trở thành nền kinh tế mũi nhọn của huyện Ba

Vì, tỷ lệ lao động tham gai trong lĩnh vực này ngày càng tăng Đến nay, tổng số lao động trên địa bàn huyện trong lĩnh vực dịch vụ du lịch là gần 3.000 lao động và trên 1.000 lao động ở các địa phương đến kinh doanh tại các điểm du lịch trong mùa du lịch Chất lượng phục vụ trong ngành du lịch ngày càng tăng lên, lao động được đào tạo nâng cao nghiệp vụ chuyên môn thường xuyên

1.3.3.4 Thực trạng môi trường du lịch ở Ba Vì

Thực tế, trong những năm qua lượng khách đến tham quan và du lịch tại Ba Vì

đã tăng lên đáng kể Bên cạnh việc mang lại hiệu quả đáng kể về tăng nguồn thu cho ngân sách, mở rộng quan hệ giao lưu, tăng thu nhập cho người lao động và góp phần nâng cao mức sống cho người dân địa phương ở những điểm du lịch thì vẫn đề cấp thiết là tình trạng ô nhiễm môi trường tại các điểm tham quan du lịch cũng đang báo động

1.3.4 Đặc điểm khí hậu huyện Ba Vì và ảnh hưởng của nó tới sức khỏe con người, cho nghỉ dưỡng và phát triển du lịch

Ánh sáng Mặt Trời là nguồn gốc của vạn vật trên Trái Đất Quá trình sinh trưởng và phát triển của các tế bào sinh vật đều bị chi phối bởi quá trình hấp thu và chuyển hóa năng lượng Mặt Trời

Trang 31

tổng cộng tháng đều trên 10 kcal/cm².tháng, cao nhất là ba tháng 5 - 7, đạt khoảng

14 - 15 kcal/cm².tháng - chỉ riêng tổng lượng bức xạ của 3 tháng này đã chiếm tới 35,4% tổng lượng bức xạ năm Các tháng đông - xuân, lượng bức xạ thấp, chỉ đạt khoảng 5,6 - 8,7 kcal/cm².tháng, thấp nhất là trong các tháng 1 - 3, bức xạ tổng cộng chỉ đạt 5,2 - 6,2 kcal/cm².tháng - tổng lượng bức xạ của 3 tháng này chỉ chiếm 13,8% tổng lượng bức xạ năm Nhìn chung, lượng bức xạ tháng cao nhất (tháng 7) gần gấp ba lần lượng bức xạ tháng thấp nhất (tháng 1)

Bảng 1.4 Bức xạ tổng cộng trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì

- lấy trạm Láng, Hà Nội làm đại diện (kcal/cm²)

Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Hà Nội 5.6 5.2 6.2 8.6 14.2 14.1 15.2 13.8 12.5 10.8 8.7 7.9 122.8

(Nguồn: Số liệu KTTV Việt Nam tập 1 - Chương trình Tiến bộ KHKT cấp nhà nước 42A)

1.3.4.2 Chế độ mây và nắng

Lượng mây: Liên quan đến chế độ nắng là lượng mây Lượng mây tổng quan

ở khu vực Ba Vì, Hà Nội thuộc loại trung bình so với nhiều nơi khác ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, trung bình năm đạt khoảng 7,6 - 7,7 phần 10 bầu trời (bảng 1.5)

Bảng 1.5 Lượng mây tổng quan trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì

(phần mười bầu trời)

Ba Vì 8.3 9.0 9.2 8.8 7.8 8.0 7.8 7.8 6.5 6.4 6.4 6.5 7.7 Sơn Tây 8.2 8.9 9.1 8.6 7.5 8.1 7.8 7.7 6.6 6.2 6.4 6.6 7.6

(Nguồn: Số liệu lưu trữ phòng Địa lý Khí hậu, Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam)

Thời kỳ nhiều mây là các tháng cuối đông - xuân (các tháng 1 - 4) và các tháng giữa mùa mưa (tháng 6 và 7) Thời kỳ ít mây là các tháng cuối mùa thu - đầu đông (từ tháng 9 đến tháng 12), trong đó tháng ít mây nhất là tháng 10, lượng mây trung bình tháng lúc này chỉ khoảng 6,2 - 6,4/10 bầu trời, và đây chính là thời kỳ có kiểu thời tiết trong xanh đẹp trời của mùa thu Hà Nội

Số giờ nắng: So với nhiều nơi ở Đồng bằng Bắc Bộ, tổng số giờ nắng năm

trung bình trên khu vực Ba Vì không cao, đạt khoảng 1450 - 1530giờ/năm (bảng

Trang 32

1.3.6) Số giờ nắng hàng ngày trung bình nhiều năm ở khu vực Hà Nội khoảng 4,0

- 4,2 giờ/ngày, thay đổi không nhiều từ nơi này qua nơi khác Các tháng hè nắng nhiều hơn, có khoảng 5 - 6 giờ nắng/ngày, các tháng đông ít nắng hơn, có khoảng 2-3 giờ nắng/ngày Thời điểm nhiều nắng nhất trong năm ở khu vực Hà Nội thường là tháng 7, trung bình lúc này có khoảng 5,5 đến 6,0 giờ nắng/ngày Thời điểm ít nắng nhất trong năm là tháng 2 - 3 - thường là thời kỳ mưa phùn trời nhiều mây ở Đồng bằng Bắc Bộ, trung bình lúc này mỗi ngày chỉ có từ 1,8 - 2,1 giờ nắng/ngày tùy theo từng nơi (Bảng 1.6)

Bảng 1.6 Số giờ nắng trung bình ngày các tháng và năm ở khu vực Ba Vì (giờ)

Trạm Tổng

năm

Các tháng trong năm Trung

bình năm

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12

Ba Vì 1455.4 2.0 1.8 1.4 2.6 5.0 5.3 5.5 5.5 5.7 4.8 4.5 3.6 4.0 Sơn Tây 1527.1 2.1 1.8 1.6 3.0 5.6 5.5 6.0 5.6 5.8 4.9 4.5 3.6 4.2

(Nguồn: Số liệu KTTV Việt Nam tập 1 - Chương trình Tiến bộ KHKT cấp nhà nước 42A;

Bộ số liệu khí hậu 1971-2000)

1.3.4.3 Chế độ Gió

Tốc độ gió trung bình: Ở khu vực Ba Vì tốc độ gió trung bình nhiều năm

nhìn chung không cao, đạt khoảng 1,1 - 1,7 m/s, thời kỳ có tốc độ gió trung bình lớn trong năm là các tháng cuối đông - đầu hè (các tháng 1 - 5), đạt khoảng 1,2 - 2,2m/s Thời kỳ tốc độ gió trung bình thấp là các tháng cuối hè - đầu thu (các tháng 9 - 10), đạt khoảng 0,9 - 1,4 m/s tùy theo từng nơi (bảng 1.7)

Bảng 1.7 Tốc độ gió trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì (m/s)

Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Ba Vì 1.2 1.2 1.2 1.2 1.2 1.0 1.1 0.9 0.9 1.0 1.1 1.1 1.1 Sơn Tây 1.7 2.0 2.0 2.2 1.9 1.7 1.7 1.5 1.4 1.4 1.4 1.5 1.7

(Nguồn: Số liệu lưu trữ, Phòng Địa lý Khí hậu, Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam)

Tốc độ gió tối cao tuyệt đối và hướng: Các số liệu thống kê cho thấy tốc độ gió

mạnh nhất ở khu vực Ba Vì có thể lên đến 20 - 24 m/s (Bảng 1.8) Cụ thể, gió hướng Tây Bắc - NW, tốc độ 26 m/s đã quan trắc thấy vào ngày 14 tháng 6 năm 1974 ở trạm

Trang 33

Ba Vì; Gió hướng Đông Nam - SE, tốc độ 34 m/s quan trắc thấy ở Sơn Tây ngày 6 tháng 5 năm 1965 Đặc biệt là tất cả những tốc độ gió mạnh nhất vừa nêu hầu như đều quan trắc thấy vào các tháng 5 - 6, là trong thời điểm đầu mùa mưa, nhiều khả năng những vận tốc gió lớn như vậy đều có liên quan đến hoạt động của dông, lốc là những hiện tượng thời tiết đặc biệt đặc trưng của khu vực Ba Vì trong thời gian này

Bảng 1.8 Tốc độ gió mạnh nhất tháng và năm ở khu vực Ba Vì (m/s)

Ghi chú: NH - Nhiều hướng; NN - Nhiều ngày

(Nguồn: Số liệu KTTV Việt Nam tập 1- Chương trình Tiến bộ KHKT cấp nhà nước 42A)

1.3.4.4 Chế độ nhiệt

Nhiệt độ không khí trung bình: Nằm ở vĩ độ nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của

gió mùa Đông Bắc lạnh, điểm nổi bật của chế độ nhiệt ở khu vực Ba Vì là sự hạ thấp của nền nhiệt trong các tháng mùa đông

Về phân hóa của nhiệt độ trung bình năm theo không gian lãnh thổ, nhiệt độ trung bình năm ở khu vực thấp (đồi - đồng bằng) của Ba Vì phổ biến đạt khoảng 23,3 - 23,5C (bảng 1.9) Điều kiện nhiệt này quy định tổng nhiệt độ năm ở khu vực thấp là vào khoảng 8600 - 8500C Khu vực đồi núi thấp thuộc huyện Ba Vì, điều kiện nhiệt tuân theo những quy luật đai cao trong địa lý, cụ thể nhiệt độ giảm theo độ cao địa hình rõ rệt với gradien nhiệt độ trung bình năm là khoảng - (0,5 - 0,6)°C/100m Ở độ cao khoảng

500 - 700m, nhiệt độ trung bình năm ở đây sẽ vào khoảng 20 - 19C, tương đương với tổng độ tích ôn khoảng 7000C Lên đến độ cao 900 - 1000m nhiệt độ trung bình năm sẽ chỉ còn vào khoảng 18C và tổng nhiệt độ năm lúc này chi còn khoảng 6500C

Trang 34

Bảng 1.9 Nhiệt độ không khí trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì (C)

Trạm H

(m) 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Ba Vì 20 16.0 17.5 20.1 23.9 27.0 28.7 28.7 28.1 27.0 24.5 20.9 17.5 23.3 Sơn Tây 7 16.2 17.6 20.2 23.9 27.1 28.8 28.9 28.4 27.2 24.8 21.4 18.1 23.5

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu, Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KNCN Việt Nam)

Mùa hè, kéo dài 5 tháng (từ tháng 5 đến hết tháng 9), thời tiết nóng bức, nhiệt độ trung bình của thời kỳ này khoảng 27,9 - 28,9C Mùa đông, từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau, thời tiết lạnh - mát, nhiệt độ trung bình thời kỳ này khoảng 17,5 - 18,0C, trong mùa đông ở khu vực thấp của Ba Vì có tới 2 - 3 tháng lạnh (nhiệt độ trung bình tháng lạnh xuống  18C) Các tháng 4 và 10 là các tháng chuyển tiếp - tháng giao mùa

Và mặc dù nền nhiệt mùa đông ở đây đã hạ thấp so với những vĩ độ nhiệt đới khác, biến trình năm của nhiệt độ không khí ở đây vẫn giống biến trình năm ở những vùng có vĩ độ tương đương, mang tính chất của vùng khí hậu NĐGM có mùa đông lạnh Đó là dạng biến trình đơn gồm một cực đại vào mùa hè - tháng 6 hoặc tháng 7 và một cực tiểu vào tháng 1

Nhiệt độ không khí tối cao trung bình: Trên khu vực Ba Vì, nhiệt độ không

khí tối cao trung bình năm là khoảng 27,2 - 27,4C, thời kỳ mùa hè (các tháng từ 5 đến 9) nhiệt độ tối cao trung bình tháng vào khoảng 31 - 33C (bảng 1.10)

Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Ba Vì 19.3 20.4 23.0 27.3 31.4 32.9 32.9 32.3 31.3 28.7 25.2 21.8 27.2 Sơn Tây 19.6 20.4 23.2 27.5 31.6 33.0 33.0 32.3 31.3 29.0 25.5 22.1 27.4

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu, Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KNCN Việt Nam)

Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình: Nhiệt độ không khí tối thấp trung

bình năm ở khu vực Ba Vì là vào khoảng 20,5 - 20,9C tùy theo từng nơi (bảng 1.11) Thời kỳ có nhiệt độ tối thấp trung bình tháng thấp nhất là tháng 1, đạt khoảng 13,7 - 14,0C

Trang 35

Bảng 1.11 Nhiệt độ không khí tối thấp trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì (C)

Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Ba Vì 13.7 15.2 17.8 21.3 23.9 25.6 25.6 25.3 24.2 21.5 17.8 14.4 20.5 Sơn Tây 14.0 15.3 18.0 21.3 24.1 25.7 25.9 25.6 24.6 22.0 18.6 15.2 20.9

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu, Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KNCN Việt Nam)

Nhiệt độ không khí tối cao tuyệt đối: Nằm ở khu vực xảy ra sự luân phiên liên

tục giữa các khối khí mang sắc thái nhiệt đới và cực đới (theo sau các đợt xâm nhập lạnh của gió mùa Đông Bắc), trong các tháng giữa mùa đông ở khu vực ba Vì vẫn có thể gặp những ngày nhiệt độ tối cao tuyệt đối lên đến 31 - 33C, trong các tháng hè, đặc biệt là đầu hè - các tháng 5 - 6, khi gió Tây khô nóng hoạt động, nhiệt độ tối cao tuyệt đối còn có thể lên cao hơn nữa, tới 40 - 41C Nhiệt độ tối cao tuyệt đối cao nhất

ở trạm Ba Vì là 41,6C quan sát thấy vào ngày 2 tháng 5 năm 1994 (bảng 1.12)

Ba Vì 31.9 34.4 38.8 38.2 41.6 40.2 39.5 38.5 37.3 34.4 35.0 32.4 41.6

Năm 1989 1979 1996 1983 1994 1997 1998 1990 1992 1995 1997 1998 1994 Sơn Tây 31.4 33.3 37.6 37.6 40.5 41.0 39.7 38.7 36.7 35.0 34.0 31.2 41.0

Năm 1980 1979 1996 1998 1994 1983 1983 1990 1992 1999 1997 1998 1983

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu, Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KNCN Việt Nam; Số liệu KTTV Việt Nam tập 1- Chương trình Tiến bộ KHKT cấp nhà nước 42A)

Nhiệt độ không khí tối thấp tuyệt đối: Chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùa

cực đới, đặc biệt là vào chính đông - từ tháng 12 đến tháng 1 năm sau, ở khu vực Ba

Vì có thể gặp nhiệt độ tối thấp tuyệt đối xuống tới vài ba độ C Thấp nhất trên toàn khu vực Ba Vì đã từng ghi nhận được là 2,8C (Bảng 1.13)

Trang 36

Bảng 1.13 Nhiệt độ không khí tối thấp tuyệt đối tháng và năm ở khu vực Ba Vì (C)

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu, Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KNCN Việt

Nam; Số liệu KTTV Việt Nam tập 1- Chương trình Tiến bộ KHKT cấp nhà nước 42A)

Biên độ nhiệt năm và biên độ nhiệt ngày - đêm: Nằm ở vĩ độ nhiệt đới

nhưng chịu ảnh hưởng sâu sắc của mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ năm ở khu vực

Ba Vì khá cao, chênh lệch nhiệt độ giữa tháng nóng nhất (thường là vào tháng 5 - 7)

và tháng lạnh nhất (tháng 1) khoảng 12,7 - 12,8C tùy theo từng nơi

Mặt khác, khí hậu Ba Vì là khu vực đồi – đồng bằng trước núi nên biên độ nhiệt ngày - đêm trung bình năm ở đây thuộc loại trung bình, khoảng 6,5 - 6,6C (bảng 1.14)

Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Ba Vì 5.6 5.0 5.3 6.1 7.6 7.3 7.5 7.0 6.8 6.6 7.4 7.4 6.6 Sơn Tây 5.5 5.0 5.2 6.0 7.4 7.4 7.2 6.9 6.9 7.0 7.0 7.1 6.5

(Nguồn: Số liệu ĐKTN dùng trong Xây dựng (Phần 1) QCXDVN 02: 2008/BXD Số liệu

KTTV Việt Nam tập 1- Chương trình Tiến bộ KHKT cấp nhà nước 42A)

1.3.4.5 Chế độ mưa

Tổng lượng mưa, mùa mưa và phân bố không gian: Cũng như nhiều nơi

khác ở Bắc Bộ, khu vực Ba Vì có chế độ mưa mùa hè của vùng NĐGM Các khu vực thấp của Ba Vì có tổng lượng mưa trung bình nhiều năm dao động trong khoảng 1500 - 1700mm/năm (Bảng 1.15), phía bắc Hà Nội khu vực Sóc Sơn, Mê Linh, Quảng Oai (các trạm Kim Anh, Xuân Hòa, Quảng Oai) tổng lượng mưa năm thấp hơn, khoảng 1450 - 1900mm/năm; thấp nhất là ở khu vực Quảng Oai, lượng

Trang 37

mưa năm chỉ đạt khoảng 1427mm/năm; khu vực vùng đồi - chân núi Sơn Tây, Ba

Vì tổng lượng mưa năm cao hơn cả, đạt 1700 - 1900mm/năm, ước tính ở những nơi cao hơn trên núi Ba Vì lượng mưa năm có thể cao hơn nữa, lên đến 2000 - 2400mm/năm [3] Ở Bắc Bộ, lượng mưa như Ba Vì thuộc vào loại mưa từ trung bình đến tương đối phong phú

Bảng 1.15 Tổng lƣợng mƣa trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì (mm)

Quảng Oai 23.2 21.1 45.9 67.5 191.6 218.5 264.7 263.5 156.6 108.7 45.3 20.0 1426.7 Bất Bạt 18.7 20.0 35.9 94.1 186.4 216.6 249.3 255.8 220.7 156.4 54.5 10.7 1519.1 Suối Hai 14.8 18.5 38.3 99.2 199.2 263.9 287.0 299.7 233.5 185.9 51.7 16.5 1708.2

Cổ Đằng 21.2 23.4 28.8 92.2 189.3 279.9 288.3 346.3 289.0 211.1 52.4 24.3 1846.3

Ba Vì 27.3 33.7 50.8 98.5 270.7 274.8 327.8 339.6 238.0 188.7 58.7 21.2 1929.9 Sơn Tây 19.9 27.5 40.3 96.1 217.7 263.6 312.2 309.0 223.2 155.9 57.9 19.6 1742.8

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu, Viện Địa lý, Viện HL KH &CN Việt Nam)

Dù cho tổng lượng mưa năm có sự phân hóa khác nhau trong không gian lãnh thổ, ở khu vực Ba Vì chế độ mưa khá đồng nhất và có sự phân lập rõ ràng trong năm:

mùa mưa (khi tổng lượng mưa vượt trên 100mm/tháng) kéo dài 6 tháng, từ tháng 5 đến

tháng 10, là thời kỳ hoạt động của gió mùa mùa hè (bảng 1.15); và mùa ít mưa kéo dài 6

tháng còn lại, từ tháng 11 của năm trước đến hết tháng 4 của năm sau, là thời kỳ hoạt động của gió mùa đông - gió Đông Bắc Trong mùa ít mưa có một thời kỳ khô hạn rõ rệt (khi lượng mưa thấp dưới 25mm/tháng) đó là các tháng giữa đông - từ tháng 12 đến hết tháng 2 năm sau với cao điểm khô hạn nhất thường quan sát thấy trong tháng 1 hoặc 2 với lượng mưa tháng chỉ khoảng 20mm/tháng

Số ngày mưa: Trên địa bàn huyện Ba Vì trung bình hàng năm có khoảng

144 - 157 ngày mưa/năm, riêng khu vực trên núi Ba Vì do ảnh hưởng của độ cao địa hình, lượng mưa tăng và số ngày mưa cao hơn chút ít, đạt khoảng 160 ngày/năm Thời kỳ có nhiều ngày mưa ở huyện Ba Vì là trong nửa đầu mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 8), tháng nào cũng có khoảng 15 ngày mưa/tháng; và thời kỳ mưa phùn (các tháng 2 - 3) có khoảng 13 - 15 ngày mưa/tháng Thời kỳ ít ngày mưa, đẹp trời

ở khu vực Ba Vì là các tháng 11 - 12, khi số ngày mưa trong tháng rất thấp, chỉ khoảng 5 - 7 ngày mưa/tháng (bảng 1.16)

Trang 38

Bảng 1.16 Số ngày mƣa trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì (ngày)

Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Ba Vì 10.7 11.8 15.6 14.8 16.6 16.6 17.2 17.1 13.0 10.8 7.0 5.6 157.0 Sơn Tây 8.9 10.6 13.8 12.7 15.2 15.2 16.3 16.6 12.9 9.3 6.5 5.7 143.9

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu, Viện Địa lý, Viện KHCN Việt Nam)

Lượng mưa ngày cực đại: Các số liệu quan trắc trong thời gian dài (phần lớn từ

1960 đến nay) cho thấy trong các tháng mùa mưa, lượng mưa ngày cực đại ở mọi nơi đều có thể đạt đến 200 - 300 mm/ngày Đặc biệt trên địa phận huyện Ba Vì đã quan trắc thấy lượng mưa ngày kỷ lục hơn 500mm: như Ba Vì: 554,6mm vào ngày 24/7/1980; Sơn Tây: 508,0mm vào ngày 14/7/ 1971 Trong mùa ít mưa cũng đã có những lần quan trắc thấy lượng mưa từ vài chục đến cả trăm mm/ngày (bảng 1.17)

Bảng 1.17 Lƣợng mƣa ngày cực đại tháng và năm trên địa bàn

huyện Ba Vì (mm/ngày)

Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Ba Vì 26.0 53.6 61.1 80.7 195.4 184.7 554.6 258.7 222.5 275.9 295.5 33.9 554.6 Ngày 5 8 20 30 18 12 24 29 9 23 9 13 24/07 Năm 1989 1976 1989 1973 1970 1989 1980 1978 1985 1989 1984 1975 1980 Sơn Tây 35.4 56.6 54.0 187.4 201.0 201.3 508.0 246.6 178.4 237.0 251.1 37.9 508.0 Ngày 30 17 20 - 7 16 14 29 24 27 9 10 14/07 Năm 1969 1985 1989 1935 1988 1958 1971 1978 1982 1966 1984 1963 1971

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu, Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KHCN Việt

Nam; Số liệu KTTV Việt Nam tập 1- Chương trình Tiến bộ KHKT cấp nhà nước 42A)

1.3.4.6 Độ ẩm không khí và bốc hơi

Độ ẩm không khí tương đối trung bình: Độ ẩm không khí trung bình năm

trên khu vực Ba Vì là khoảng 84% (bảng 1.18), giá trị độ ẩm này thuộc vào loại trung bình ở Miền Bắc Việt Nam

Trang 39

Bảng 1.18 Độ ẩm không khí trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì (%)

Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Ba Vì 85 86 87 87 84 83 84 86 85 83 82 82 84

Sơn Tây 84 85 87 87 85 83 84 86 85 83 81 81 84

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam;

Số liệu KTTV Việt Nam tập 1- Chương trình Tiến bộ KHKT cấp nhà nước 42A)

Độ ẩm không khí tương đối ở khu vực Ba Vì biến động không nhiều trong năm, tuy nhiên vẫn có thể thấy thời kỳ có mưa phùn ở Bắc Bộ (tháng 3 và 4), độ ẩm không khí cao hơn rõ rệt, đạt khoảng 87%; Thời kỳ có độ ẩm thấp nhất trong năm là các tháng cuối thu đầu đông (tháng 11 và 12), độ ẩm không khí lúc này thấp nhất năm, đạt khoảng 81 - 82%

Độ ẩm không khí tối thấp trung bình năm ở khu vực Ba Vì là khoảng 67% (bảng 1.19)

Bảng 1.19 Độ ẩm không khí tối thấp trung bình tháng và năm trên địa bàn

huyện Ba Vì (%)

Ba Vì 69 71 73 72 67 65 66 67 65 62 60 60 67 Sơn Tây 68 71 73 73 66 66 66 69 66 63 61 61 67

(Nguồn: Số liệu KTTV Việt Nam tập 1- Chương trình Tiến bộ KHKT cấp nhà nước 42A;

Bộ số liệu khí hậu (giai đoạn 1971-2000) TT TLKTTV, TTKTTVQG-Bộ TNMT)

Độ ẩm không khí tối thấp tuyệt đối: Mặc dù ở giữa mùa mưa, trong các

tháng 7 và 8 cũng có thể gặp những ngày khô, lúc này độ ẩm không khí tối thấp tuyệt đối có thể xuống đến 38 - 43% Tuy nhiên, trong các tháng mùa khô giá trị tối thấp tuyệt đối của độ ẩm còn hạ thấp hơn nữa, thông thường vào khoảng 20 - 25%, đặc biệt, giá trị thấp nhất đã gặp của độ ẩm ở Ba Vì là 18%, ghi nhận được vào ngày 04/01/1974; hoặc độ ẩm 21% ghi nhận được ở Sơn Tây ngày 05/ 01/1963 (bảng 1.20)

Trang 40

Bảng 1.20 Độ ẩm không khí tối thấp tuyệt đối tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì (%)

Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Ba Vì 18 25 27 33 32 31 38 39 31 29 22 19 18 Ngày 4 27 3 9 31 21 1 21 22 27 11 27 04/01 Năm 1974 1974 1986 1983 1982 1982 1982 1978 1981 1988 1992 1973 1974 Sơn Tây 21 28 29 26 26 36 39 43 32 30 24 27 21 Ngày 5 27 4 27 NN 3 13 NN 26 26 26 10 05/01 Năm 1963 1963 1977 1985 1988 1983 1966 1998 1979 1969 1963

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam;

Số liệu khí tượng thủy văn Việt Nam tập 1- Chương trình tiến bộ KHKT cấp nhà nước 42A)

Lượng bốc hơi không khí: Là hệ quả của chế độ bức xạ, nắng, mưa và chế

độ gió, lượng bốc hơi không khí trên địa bàn Hà Nội dao động trong khoảng 770 - 850mm/năm (bảng 1.21) Thời kỳ có lượng bốc hơi lớn là các tháng đầu hè, khi độ cao mặt trời lớn, từ tháng 5 đến tháng 7, tổng lượng bốc hơi các tháng lúc này đều

từ khoảng 75 đến 90mm/tháng Lượng bốc hơi cao nhất trong năm quan sát thấy vào tháng 6, tháng 7 Lượng bốc hơi tháng thấp nhất năm là trong tháng 2, chỉ đạt khoảng một nửa lượng bốc hơi tháng cực đại

Bảng 1.21 Bốc hơi không khí trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì (mm)

Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Ba Vì 52.3 50.4 56.1 64.8 85.9 91.0 87.6 71.6 71.8 75.2 70.4 65.9 842.9 Sơn Tây 52.7 47.7 51.0 55.9 75.4 79.3 79.9 65.0 65.7 70.5 66.2 63.0 772.2

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam)

1.3.4.7 Các hiện tượng thời tiết đặc biệt

Sương mù: Sương mù là hiện tượng thời tiết đặc biệt có thể gặp trong các tháng

mùa đông ở khu vực huyện Ba Vì, sương mù ảnh hưởng đến tầm nhìn xa, đặc biệt là đối với hoạt động giao thông vận tải So với nhiều nơi khác ở Ba Vì không nhiều ngày sương mù, trung bình có khoảng 8 - 14 ngày sương mù/năm (bảng 1.22)

Bảng 1 22 Số ngày sương mù trung bình tháng và năm trên địa bàn huyện Ba Vì (ngày)

Trạm 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm

Ba Vì 2.1 1.0 1.2 0.4 0.0 0.0 0.0 0.0 0.3 0.3 0.7 2.0 8.0 Sơn Tây 2.1 0.9 1.6 0.8 0.6 0.2 0.2 0.3 0.9 1.5 2.2 3.1 14.4

(Nguồn: Số liệu lưu trữ Phòng Địa lý Khí hậu Viện Địa lý, Viện Hàn lâm KHCN Việt Nam)

Ngày đăng: 19/01/2016, 18:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ xây dựng (2008), Số liệu điều kiện tự nhiên dùng trong xây dựng (Phần 1) QCXDVN 02: 2008/BXD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ xây dựng
Tác giả: Bộ xây dựng
Năm: 2008
2. Phạm Văn Công (2008), Luận văn Thạc sĩ “Nghiên cứu, đánh giá điều kiện SKH đối với sức khỏe con người và phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc”. Khoa Địa lý, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Văn Công "(2008), Luận văn Thạc sĩ "“Nghiên cứu, đánh giá điều kiện SKH đối với sức khỏe con người và phát triển du lịch tỉnh Vĩnh Phúc”
Tác giả: Phạm Văn Công
Năm: 2008
3. Trương Quang Hải (Tổng chủ biên) và nnk (2010), Atlas Thăng Long Hà Nội, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trương Quang Hải (Tổng chủ biên) và nnk
Tác giả: Trương Quang Hải (Tổng chủ biên) và nnk
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2010
4. Nguyễn Cao Huần (2008), Đánh giá cảnh quan theo quan điểm kinh tế sinh thái, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Cao Huần
Tác giả: Nguyễn Cao Huần
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
5. Vũ Tự Lập (1976), Phân vùng cảnh quan Miền Bắc Việt Nam, NXB Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Tự Lập
Tác giả: Vũ Tự Lập
Nhà XB: NXB Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1976
6. Vũ Tự Lập (1978), Cảnh quan địa lý Miền Bắc Việt Nam, NXB. Khoa học Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Tự Lập
Tác giả: Vũ Tự Lập
Nhà XB: NXB. Khoa học Kỹ thuật
Năm: 1978
7. Trần Việt Liễn (1993), Khí hậu với vấn đề tổ chức lao động, nghỉ ngơi và du lịch trên lãnh thổ Việt Nam, Tổng luận Tổng cục Khí tượng Thủy văn Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Việt Liễn
Tác giả: Trần Việt Liễn
Năm: 1993
8. Đặng Duy Lợi (1992), Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch, Luận án PTS khoa học Địa lí - Địa chất, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Duy Lợi" (1992), "Đánh giá và khai thác các điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên huyện Ba Vì (Hà Tây) phục vụ mục đích du lịch
Tác giả: Đặng Duy Lợi
Năm: 1992
9. Phạm Đức Nguyên 2002, Kiến trúc SKH thiết kế SKH trong kiến trúc Việt Nam, NXB Xây dựng Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Đức Nguyên
Nhà XB: NXB Xây dựng Hà Nội
10. Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu (2013), Khí hậu và tài nguyên khí hậu Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu
Tác giả: Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2013
11. Đào Ngọc Phong (1972), Thời tiết và bênh tật, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Ngọc Phong
Tác giả: Đào Ngọc Phong
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1972
12. Đào Ngọc Phong (1980), Các chỉ tiêu sinh lý người Việt Nam, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào Ngọc Phong
Tác giả: Đào Ngọc Phong
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 1980
13. Phòng Địa lý Khí hậu (2015), Số liệu lưu trữ khí hậu. Viện Địa Lý, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng Địa lý Khí hậu
Tác giả: Phòng Địa lý Khí hậu
Năm: 2015
14. Nguyễn Viết Thịnh (Chủ biên) và nnk (2015), Địa lý Hà Nội (Bản thảo 1), NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Viết Thịnh (Chủ biên) và nnk
Tác giả: Nguyễn Viết Thịnh (Chủ biên) và nnk
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2015
15. Trần Văn Thụy, Bản đồ đa dạng hệ sinh thái vùng Ba Vì - Sơn Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Văn Thụy
16. Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc (1980), Khí hậu với đời sống (Vấn đề cơ sở của sinh khí hậu), NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc
Tác giả: Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1980
17. Tổng cục Khí tượng Thủy văn (1980), Số liệu khí tượng thủy văn Việt Nam tập 1. Chương trình tiến bộ KHKT cấp nhà nước 42A Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng cục Khí tượng Thủy văn
Tác giả: Tổng cục Khí tượng Thủy văn
Năm: 1980
18. Trung tâm tư liệu Khí tượng Thủy văn (2004), Số liệu khí hậu, giai đoạn 1971- 2000 (Tập 1), Đề tài “Xây dựng bộ chuẩn khí hậu Việt Nam”. TT Khí tượng thủy văn quốc gia, Bộ Tài nguyên và Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung tâm tư liệu Khí tượng Thủy văn" (2004), Số liệu khí hậu, giai đoạn 1971-2000 (Tập 1), Đề tài “Xây dựng bộ chuẩn khí hậu Việt Nam
Tác giả: Trung tâm tư liệu Khí tượng Thủy văn
Năm: 2004
19. Thái Văn Trừng (1978), Thảm thực vật rừng Việt Nam, NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thái Văn Trừng
Tác giả: Thái Văn Trừng
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1978
20. Đặng Văn Tu - Nguyễn Tá Nhí (Chủ biên) và nnk (2007), Địa chí Hà Tây, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Hà Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặng Văn Tu - Nguyễn Tá Nhí (Chủ biên) và nnk
Tác giả: Đặng Văn Tu - Nguyễn Tá Nhí (Chủ biên) và nnk
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ Ý NGHĨA - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
BẢNG KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ Ý NGHĨA (Trang 10)
Bảng 1.2. Một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp huyện Ba Vì giai đoạn 2005 - 2012 - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 1.2. Một số chỉ tiêu kinh tế tổng hợp huyện Ba Vì giai đoạn 2005 - 2012 (Trang 24)
Bảng 1.13. Nhiệt độ không khí tối thấp tuyệt đối tháng và năm ở khu vực Ba Vì (C) - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 1.13. Nhiệt độ không khí tối thấp tuyệt đối tháng và năm ở khu vực Ba Vì (C) (Trang 36)
Bảng 1.15. Tổng lƣợng mƣa trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì (mm) - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 1.15. Tổng lƣợng mƣa trung bình tháng và năm ở khu vực Ba Vì (mm) (Trang 37)
Bảng 1.33. Số ngày mƣa lớn trung bình tháng và năm - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 1.33. Số ngày mƣa lớn trung bình tháng và năm (Trang 46)
Bảng 3.1: Danh sách các trạm khí tƣợng, trạm đo mƣa khu vực nghiên cứu - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.1 Danh sách các trạm khí tƣợng, trạm đo mƣa khu vực nghiên cứu (Trang 50)
Bảng 3.2: Phân cấp nhiệt độ trung bình năm - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.2 Phân cấp nhiệt độ trung bình năm (Trang 52)
Bảng 3.3: Phân cấp lƣợng mƣa năm - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.3 Phân cấp lƣợng mƣa năm (Trang 53)
Hình 3.3. Bản đồ SKH phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội Thu từ tỷ lệ 1/25.000 - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Hình 3.3. Bản đồ SKH phục vụ du lịch, nghỉ dưỡng huyện Ba Vì, Tp. Hà Nội Thu từ tỷ lệ 1/25.000 (Trang 57)
Bảng 3.5. Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.5. Chỉ tiêu khí hậu sinh học đối với con người (Trang 60)
Bảng 3.8: Đánh giá mức độ thuận lợi của một số yếu tố khí hậu cơ bản ở Ba Vì - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Bảng 3.8 Đánh giá mức độ thuận lợi của một số yếu tố khí hậu cơ bản ở Ba Vì (Trang 61)
Hình 3.4: Giản đồ các vùng khí hậu với mức độ thích hợp cho sức khỏe con - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Hình 3.4 Giản đồ các vùng khí hậu với mức độ thích hợp cho sức khỏe con (Trang 62)
Hình 3.6: Hình ảnh một số khu du lịch thuộc Sườn Đông Núi Ba Vì - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Hình 3.6 Hình ảnh một số khu du lịch thuộc Sườn Đông Núi Ba Vì (Trang 72)
Hình 3.7: Hình ảnh Hồ Suối Hai - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Hình 3.7 Hình ảnh Hồ Suối Hai (Trang 73)
Hình 3.8: Hình ảnh Du lịch Trang trại đồng quê - Nghiên cứu, sử dụng hợp lý tài nguyên sinh khí hậu huyện ba vì, thành phố hà nội
Hình 3.8 Hình ảnh Du lịch Trang trại đồng quê (Trang 75)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w