Hơn nữa, dựa theo chiến lược “Khoa giáo hưng quốc”, để xây dựng Trung Quốc hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh giáo dục có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
DƯƠNG THỊ HUỆ
CẢI CÁCH THỂ CHẾ KHOA HỌC KỸ THUẬT
Ở TRUNG QUỐC VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ Ngành: Đông Phương học Chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60 31 06 01
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
DƯƠNG THỊ HUỆ
CẢI CÁCH THỂ CHẾ KHOA HỌC KỸ THUẬT
Ở TRUNG QUỐC VÀ GỢI MỞ CHO VIỆT NAM
Ngành: Đông Phương học Chuyên ngành: Châu Á học
Mã số: 60 31 06 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐÔNG PHƯƠNG HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nghiêm Thúy Hằng
Hà Nội – 2015
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU I 1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 12
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 13
6 Nguồn tài liệu sử dụng 13
7 Bố cục luận văn 13
CHƯƠNG 1 15
NGUYÊN NHÂN TRUNG QUỐC TIẾN HÀNH CẢI CÁCH THỂ CHẾ KHOA HỌC KỸ THUẬT 15
1.1 Khái niệm 15
1.1.1 Thể chế khoa học kỹ thuật 15
1.1.2 Khái niệm cải cách thể chế khoa học kỹ thuật 16
1.2 Nguyên nhân Trung Quốc tiến hành cải cách thể chế khoa học kỹ thuật 18
1.2.1 Nguyên nhân bên trong 18
1.2.2 Nguyên nhân bên ngoài 21
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 28
CHƯƠNG 2 29
QUÁ TRÌNH VÀ NỘI DUNG CẢI CÁCH THỂ CHẾ KHOA HỌC 29
KỸ THUẬT TRUNG QUỐC 29
2.1 Bối cảnh ra đời của cải cách 29
2.2 Khái quát quá trình cải cách 31
2.2.1 Giai đoạn 1978-1985 32
2.2.2 Giai đoạn 1985-1996 33
2.2.3 Giai đoạn 1996-2006 37
Trang 42.3 Nội dung cải cách thể chế khoa học kỹ thuật 42
2.4.Thành tựu, tồn tại và giải pháp cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Trung Quốc 46
2.4.1 Thành tựu 46
2.4.2 Những vấn đề còn tồn tại 48
2.4.3 Giải pháp cải cách 56
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 59
CHƯƠNG 3 60
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 60
3.1 Thực trạng cơ chế chính sách quản lý, phát triển khoa học công nghệ của Việt Nam trong những năm gần đây 60
3.1.1 Cơ chế, chính sách đầu tư tài chính cho khoa học công nghệ 62
3.1.2 Cơ chế quản lý nhân lực khoa học công nghệ 67
3.1.3 Cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ 70 3.2 Những ý kiến gợi mở góp phần đổi mới cơ chế, chính sách quản lý phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam 72
3.2.1.Cơ chế tài chính cho khoa học công nghệ 72
3.2.2 Cơ chế quản lý nhân lực khoa học công nghệ 75
3.2.3 Cơ chế quản lý và hoạt động của các tổ chức khoa học công nghệ 78
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 80
KẾT LUẬN 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 88
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
CSDLCơ sở dữ liệu
ĐTPT Đầu tư phát triển
KH&CN Khoa học và công nghệ
KH&PT Khoa học và phát triển
NC&PTNghiên cứu và phát triển
NSNN Ngân sách nhà nước
USD Đô la Mỹ
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1: Đầu tư từ ngân sách nhà nước cho khoa học
công nghệ
6
3 Bảng 3.2: Ngân sách đầu tư cho khoa học công nghệ của
một số nước năm 2011
6
3 Bảng 3.3: Tỷ lệ cơ cấu chi đầu tư phát triển KH&CN từ
NSNN theo khu vực
6
5 Bảng 3.4: Chi cho NC&PT của một số nước theo nguồn
cấp và khu vực thực hiện năm 2011
6
6 Bảng 3.5: Nhân lực NC&PT theo thành phần kinh tế
và chức năng
6
8
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trung Quốc là một quốc gia lớn, dân số đông Hiện nay, cải cách của Trung Quốc đang bước vào “giai đoạn công kiên” và “vùng nước sâu” Sau hơn 30 năm cải cách, nhờ thực hiện cải cách - mở cửa, Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đáng khâm phục: Kinh tế tăng trưởng nhanh, sức mạnh tổng hợp quốc gia được tăng cường, đời sống nhân dân được cải thiện,
vị thế quốc tế được nâng cao Một trong những nguyên nhân dẫn đến những thành công trong cải cách mở cửa là nhờ đóng góp to lớn của khoa học và công nghệ; đồng thời một trong những biện pháp nhằm giải quyết những vấn
đề còn tồn tại để tiếp tục phát triển cũng bắt đầu từ khoa học và công nghệ
Để cho khoa học và công nghệ phát huy hết vai trò to lớn của mình trong phát triển đất nước, yêu cầu đặt ra đối với Trung Quốc là cần tiếp tục tiến hành cải cách thể chế khoa học kỹ thuật
Trung Quốc được biết tới như một trong những chiếc nôi của văn minh nhân loại với nhiều sáng chế của văn minh khoa học kỹ thuật như : Giấy,
kỹ thuật in, la bàn, thuốc súng Tuy nhiên, do xuất phát từ một nước có nền văn minh nông nghiệp nên những sáng chế có tính chất khoa học - kỹ thuật chưa được coi trọng nhiều
Từ năm 1949 -1978 là giai đoạn thăng trầm của lịch sử Trung Quốc Đây là giai đoạn vật lộn với những thách thức để dò tìm một con đường tiến lên Giai đoạn này, trên thực tế đã tác động không nhỏ tới sự phát triển của nhân tài Trung Quốc, đặc biệt là nhân tài thuộc giới tri thức và khoa học kỹ thuật Trong giai đoạn này, nền kinh tế Trung Quốc mô phỏng theo thể chế kinh tế kế hoạch tập trung cao độ của Liên Xô, điều đó kéo theo cải cách khoa học kỹ thuật của Trung Quốc học theo mô hình của Liên Xô gắn với mô hình
Trang 8toàn quốc, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh : “Bốn hiện đại hóa quan trọng nhất
là hiện đại hóa khoa học - kỹ thuật Không hiện đại hóa khoa học - kỹ thuật cũng không thể có nền kinh tế phát triển tốc độ cao”.1
Khi đó, địa vị chiến lược của khoa học kỹ thuật trong sự nghiệp hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc đã bắt đầu được xác lập
Sau năm 1979 Đặng Tiểu Bình đã đưa ra quan điểm “Khoa học - kỹ thuật là lực lượng sản xuất hàng đầu” 2 nhưng chưa thực sự đi sâu vào cải cách Nhưng từ cuối những năm 70 cho đến đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Đặng Tiểu Bình đã hình thành và phát triển quan điểm “sự nghiệp hiện đại hóa phải dựa vào khoa học và giáo dục” Quan điểm ấy đã đặt cơ sở lý luận vững chắc cho việc đề xuất và thực thi chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” Và dựa theo tư tưởng chiến lược này, đến năm 1985 Đảng Cộng sản Trung Quốc tuyên bố quyết định cải cách thể chế khoa học - kỹ thuật và cải cách thể chế giáo dục, xác lập phương châm chiến lược “Phát triển kinh tế phải dựa vào khoa học kỹ thuật, công tác khoa học kỹ thuật phải hướng tới phát triển kinh tế” và “giáo dục phải phục vụ cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội phải dựa vào giáo dục” Năm 1995, Trung ương Đảng Cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc đã đưa ra “Quyết định của Trung ương Đảng Cộng sản và Quốc vụ viện Trung Quốc về việc tăng cường tiến bộ khoa học - kỹ thuật”, mở Đại hội Khoa học - kỹ thuật toàn quốc, lần đầu tiên chính thức đề xuất thực thi chiến lược “Khoa giáo hưng quốc” Tại Đại hội Khoa học - kỹ thuật toàn quốc, Giang Trạch Dân chỉ ra rằng: “Khoa
1
四个现代化,关键是科学技术现代化。没有现代科学技术,就不可能建设现代农业, 现代工业,现代国防。没有科学技术的高速发展,也就不可能有国民经济的高速度发展
Trang 9giáo hưng quốc là thực thi toàn diện tư tưởng khoa học - kỹ thuật, là lực lượng sản xuất số một, kiên trì giáo dục làm nền tảng, …”
Đặc trưng quan trọng của sự phát triển kinh tế thế giới ở những thập niên cuối của thế kỷ XX là khoa học công nghệ cao nhanh chóng được áp dụng vào sản xuất Chính vì vậy nhằm mục đích bắt kịp và đón đầu với tiến
bộ của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, Trung Quốc đã có “kế hoạch nghiên cứu phát triển công nghệ cao” mà Trung Quốc gọi là “kế hoạch 863” được nêu ra vào tháng 3 năm 1986 Nhiệm vụ chủ yếu của kế hoạch này là theo dõi sự phát triển của thế giới về công nghệ tiên tiến và đề xuất kế hoạch thực hiện phù hợp với Trung Quốc, xuất phát từ xu thế phát triển công nghệ cao thế giới và nhu cầu cùng năng lực của Trung Quốc, kế hoạch “863” ưu tiên 7 lĩnh vực như: Công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa, công nghệ vũ trụ, công nghệ la-de, công nghệ năng lượng mới và công nghệ vật liệu mới làm trọng điểm nghiên cứu và phát triển Các trọng điểm này được ưu tiên bố trí đội ngũ cán bộ khoa học - kỹ thuật giỏi để tiến hành nhiệm vụ nghiên cứu
Hơn nữa, dựa theo chiến lược “Khoa giáo hưng quốc”, để xây dựng Trung Quốc hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa, Đặng Tiểu Bình nhấn mạnh giáo dục có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tiến bộ khoa học - kỹ thuật, phát triển kinh tế - xã hội, vai trò quan trọng của nhân tài và tri thức trong sự nghiệp phát triển giáo dục
Bước sang thế kỷ XXI, khi xu thế toàn cầu hóa đang xóa bỏ dần khái niệm “chảy máu chất xám” để thay vào đó là sự xuất hiện của một khái niệm mới - “lưu thông chất xám”, cũng là lúc cuộc cạnh tranh về nhân tài giữa các nước trở nên gay gắt chưa từng có Cái gọi là “lưu thông chất xám” chính là
Trang 10Vì vậy, quốc gia nào thành công trong việc thu hút, phát triển nhân tài, quốc gia đó sẽ giành được ưu thế vượt trội trên trường quốc tế Là một đất nước được biết đến như một “điểm nóng” về nhân tài trong khu vực châu Á, Trung Quốc đã ý thức từ rất sớm tầm quan trọng của vấn đề và đi đến nhận thức
“Nhân tài là nguồn tài nguyên số một”, “khai thác nhân tài là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu” trên con đường thực hiện tham vọng trở thành siêu cường thế giới Trong hai cuộc họp vào ngày 23 tháng 5 và 24 tháng 11 năm 2003 của
Bộ chính trị Trung Quốc đã đi đến xác định coi: khoa học kỹ thuật là lực lượng sản xuất số một, phát triển nền kinh tế theo khuynh hướng chú trọng vào chất nhằm tăng cường sức sản xuất, làm nổi bật vị trí hàng đầu của phát triển nhân tài đối với việc tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao
vị thế cạnh tranh quốc tế Tiếp theo, tại Hội nghị về công tác nhân tài diễn ra trong hai ngày 19-20/12/2003, lần đầu tiên trong lịch sử quốc gia này kể từ khi thành lập nước, Trung ương Đảng Cộng sản đã tổ chức Hội nghị về công tác nhân tài diễn ra trên quy mô toàn quốc Hội nghị đã thảo luận và đề xuất thực thi chiến lược “Nhân tài cường quốc” Theo đó, ngày 26 tháng 12 năm
2003, Quốc vụ viện, Trung ương Đảng Cộng sản đã đưa ra Quyết định về vấn
đề từng bước tăng cường công tác nhân tài Điều này đã cho thấy Trung Quốc
đã sớm nhận ra tầm quan trọng của khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển đất nước và việc xây dựng thể chế khoa học kỹ thuật phù hợp, tiến hành cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Và cho đến những năm gần đây với sự phát triển
vũ bảo của khoa học kỹ thuật như Internet khiến cho các nhà lãnh đạo Trung Quốc phải nhìn lại và phát triển hơn nữa các chính sách về khoa học kỹ thuật
và tiếp tục cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Trung Quốc
Đứng trước tình hình mới của thế giới, khu vực và những yêu cầu mới đặt ra của cải cách mở cửa, Hội nghị Trung ương 3 khóa 18 Đảng Cộng sản
Trang 11Trung Quốc (11-2013) đã thông qua bản Quyết định đi sâu cải cách toàn diện trong đó đã nhấn mạnh vấn đề: “Đi sâu cải cách thể chế khoa học kỹ thuật” Điều này cho thấy, các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang rất quan tâm và coi trọng vấn đề cải cách thể chế khoa học kỹ thuật
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có nhiều điểm tương đồng Việt Nam cũng đang tiến hành công cuộc Đổi mới toàn diện đất nước Trong quá trình lãnh đạo sự nghiệp Đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng rất coi trọng vai trò của khoa học kỹ thuật và đặt vấn đề đổi mới cơ chế quản
lý khoa học kỹ thuật Trong bản Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2011-2020 được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam (1-2011) đã đặt vấn đề: “Đổi mới mạnh mẽ, đồng bộ tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động khoa học, công nghệ” Còn trong bản Cương lĩnh Xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) nhấn mạnh: “Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ” Với ý thức “lấy ngoài phục vụ trong”, trên cơ sở thu thập và hệ thống hóa tài liệu, em mạnh dạn lựa chọn chủ đề “Cải cách thể chế khoa học
kỹ thuật của Trung Quốc” để tìm hiểu, nghiên cứu và làm luận văn thạc sĩ
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tập trung vào mục tiêu và những nhiệm vụ nghiên cứu chủ yếu như sau:
Mục tiêu nghiên cứu:
Trong thời đại ngày nay, khoa học và kỹ thuật ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia Nó đã trở thành yếu tố cốt tử của sự phát triển, là lực lượng sản xuất trực tiếp của nền kinh tế toàn cầu Điều này được phản ánh rõ trong việc hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển khoa học, kỹ thuật và kinh tế của nhiều nước trên thế
Trang 12xây dựng chiến lược, chính sách phát triển khoa học kỹ thuật tương đối đa dạng và mang tính đặc thù đối với từng giai đoạn phát triển cụ thể phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện cơ sở vật chất của mỗi quốc gia Điều nổi bật rút ra
từ chiến lược, chính sách của các nước trên thế giới từ những nước có nền kinh tế phát triển đứng hàng đầu thế giới cho đến những nước có nền kinh tế chậm phát triển và lạc hậu, đó chính là quan điểm: “Sự phát triển khoa học và
kỹ thuật là một phương hướng quan trọng mới, có tính quyết định trong việc phát triển kinh tế quốc gia” Chính vì vậy, việc nghiên cứu cải cách thể chế khoa học kỹ thuật của các nước trên thế giới và trong khu vực để áp dụng và phát huy một cách sáng tạo vào hoàn cảnh của đất nước mình có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước trên con đường công nghiệp hoá - hiện đại hoá nói chung và đối với Việt Nam nói riêng hiện nay
Mục đích của luận văn là tìm hiểu và nghiên cứu quá trình cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc; phân tích những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Tìm hiểu quan niệm của Trung Quốc về thể chế khoa học kỹ thuật và cải cách thể chế khoa học kỹ thuật;
- Phân tích nguyên nhân dẫn đến tiến hành cải cách thể chế khoa học
kỹ thuật ở Trung Quốc;
-Tìm hiểu quá trình cải cách, nội dung của cải cách thể chế khoa học
kỹ thuật ở Trung Quốc;
- Phân tích đánh giá những thành tựu, tồn tại và giải pháp của cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc;
- Rút ra những bài học kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo
3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Khoa học và kỹ thuật ngày càng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế của mỗi đất nước Bên cạnh đó, Trung Quốc là một
Trang 13trong những nước có nền kinh tế phát triển mạnh mẽ dựa trên những đóng góp tích cực của khoa học và kỹ thuật Chính vì vậy, các vấn đề liên quan đến cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc là một trong những đề tài thu hút không ít các nhà nghiên cứu của Trung Quốc Tuy nhiên , đối vớ i các nghiên cứu của ho ̣c giả phương Tây và ho ̣c giả Viê ̣t Nam , đề tài này v ẫn còn tương đối mới và số lượng công trình nghiên cứu khá khiêm tốn
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Các công trình nghiên cứu của học giả Việt Nam về khoa học kỹ thuật không phải quá nhiều Các công trình tiêu biểu có thể kể đến như: Nguyễn
Chiến Thắng với công trình Phát triển thị trường khoa học công nghệ Việt Nam Trong công trình này, tác giả đã làm rõ các nhân tố thúc đẩy và kìm hãm
sự phát triển của thị trường khoa học công nghệ giai đoạn 2001-2010 Đồng thời, tác giả cũng phân tích các nhân tố mới trong giai đoạn tái cơ cấu nền kinh tế 2011-2020 tác động đến thị trường khoa học công nghệ của Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp thúc đẩy sự phát triển của thị trường khoa học công nghệ cho giai đoạn mới này
Trong một công trình khác, “Thị trường khoa học và công nghệ ở Việt Nam”, của tác giả Danh Sơn đã làm rõ được khái niệm thị trường khoa học
công nghệ và các bộ phận cấu thành nên thị trường khoa học công nghệ Ngoài ra, bài viết nhận định thị trường khoa học công nghệ ở Việt Nam còn rất sơ khai và còn thiếu nhiều điều kiện để phát triển Đồng thời, bài viết đưa
ra một số ý kiến về chính sách và giải pháp thúc đẩy thị trường khoa học công nghệ ở Việt Nam trong thời gian tới sẽ phải tập trung vào việc hình thành và phát triển các chủ thể cấu thành thị trường khoa học công nghệ và đổi mới hoàn thiện chính sách cơ chế quản lý nhà nước đối với thị trường khoa học
Trang 14Viết về cải cách khoa học kỹ thuật của Trung Quốc, Nguyễn Điền cho
công bố công trình “Tình hình phát triển khoa học kỹ thuật nông nghiệp ở Trung Quốc trong thời kỳ cải cách” Tác giả cũng đã tiến hành phân tích rõ
tình hình phát triển khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực nông nghiệp qua từng giai đoạn của thời kỳ cải cách Từ đó, bài viết chỉ rõ những đóng góp to lớn đáng khích lệ của khoa học kỹ thuật trong việc phục vụ nông nghiệp ở Trung Quốc trong ngành trồng trọt và ngành chăn nuôi Công trình cũng chỉ ra rằng, bên cạnh những thành tựu đạt được, khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc vẫn chưa đủ đáp ứng yêu cầu đặt ra của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc
Các học giả Trung Quốc rất quan tâm đến vấn để cải cách thể chế khoa ho ̣c kỹ thuâ ̣t, điều này thể hiê ̣n qua khá nhiều công trình với những đóng góp nhất định Tác giả Phương Tâm 方新,关于深化科技体制改革的思考
,中国科学院院刊,北京, 2003 (Phương Tâm, Suy nghĩ về việc đi sâu cải cách thể chế khoa học kỹ thuật, Tạp chí Viện khoa học Trung Quốc, Bắc kinh,
2003) Bài viết chủ yếu khái quát và đánh giá quá trình cải cách thể chế khoa học kỹ thuật hơn 10 năm qua của Trung Quốc Bên cạnh đó, bài viết cũng chỉ
ra việc tăng cường cải cách thể chế quản lý khoa học kỹ thuật vĩ mô đã trở thành nhiệm vụ cấp thiết, đặc biệt là yêu cầu xây dựng hiện đại hóa đất nước đối với cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Bài viết chủ yếu đi sâu vào ba nội dung chính sau: Nhìn lại khái quát về cải cách thể chế khoa học kỹ thuật; Thích ứng với yêu cầu thời đại, cải cách thể chế quản lý vĩ mô; Thảo luận một
số vấn đề trong việc cải cách thể chế khoa học kỹ thuật vĩ mô
李振京,张林山, “十二五”时期科技体制改革与国家创新体系建设,宏观经济管理, 北京, 2010 (Lý Chấn Kinh, Trương Lâm Sơn, Thời kỳ
kế hoạch 5 năm lần thứ 12 xây dựng hệ thống đổi mới đất nước và cải cách thể chế khoa học kỹ thuật, Quản lý kinh tế vĩ mô, Bắc Kinh, 2010) Bài viết
Trang 15nêu rõ những thành tựu to lớn mà Trung Quốc đạt được kể từ khi cải cách mở cửa cho đến nay trong việc xây dựng hệ thống đổi mới và thể chế khoa học kỹ thuật của Trung Quốc Bài viết chỉ ra: Hệ thống đổi mới đất nước phải lấy chuyển hóa thành quả và thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật làm nội dung chính, sẽ trải qua sự chuyển biến sâu sắc từ mô hình kế hoạch tập trung sang
mô hình thị trường tập trung, việc ứng dụng, mở rộng và chuyển hóa trong lĩnh vực kinh tế có tác dụng thúc đẩy các thành quả và tiến bộ khoa học kỹ thuật Bên cạnh đó, bài viết còn nêu lên những bất cập, hạn chế chưa được cải cách triệt để trong hệ thống đổi mới của Trung Quốc
王天骄,中国科技体制改革、科技资源配置与创新效率,经济问
题,北京, 2014 年 02 期 (Vương Thiên Kiêu, Đổi mới hiệu suất và phân
bổ nguồn lực khoa học kỹ thuật, cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Trung Quốc, Vấn đề kinh tế, Bắc Kinh, kỳ 2/2014) Tác giả đứng từ góc độ phân bổ
nguồn vốn và hiệu quả đổi mới để nghiên cứu cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Trung Quốc và đưa ra các quan điểm mới: Giai đoạn đầu cải cách thì việc phân bổ nguồn vốn khoa học kỹ thuật và hiệu quả đổi mới vẫn chưa có những cải thiện đáng kể; việc ngành nghề hóa kỹ thuật bên ngoài và giá thành dành cho việc nghiên cứu khoa học kỹ thuật ở bên trong tương đối cao dẫn đến việc thu lại kết quả của cơ cấu khoa học kỹ thuật doanh nghiệp nội bộ, doanh nghiệp chủ yếu dựa vào sự cải tạo khoa học kỹ thuật để tích lũy năng lực đổi mới; Giai đoạn hai buộc chuyển đổi cơ cấu doanh nghiệp nghiên cứu khoa học, đồng thời hạ thấp giá thành của thị trường giao dịch kỹ thuật và nghiên cứu nội bộ, ngành nghề hóa kỹ thuật, nâng cao rõ rệt hiệu quả đổi mới doanh nghiệp, và mức vốn khoa học kỹ thuật, hiệu suất của cơ cấu nghiên cứu khoa học tuy đã được nâng cao nhưng vẫn thấp ở doanh nghiệp, nguyên nhân
là do hiệu suất của thiết bị và nhân công đều tương đối thấp
Trang 16饶 毅, 谈谈中国科技体制改革, 民主与科学,北京, 2012 年
05 期 ( Nhiễu Nghị, Bàn về cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Trung Quốc,
Dân chủ và Khoa học, Bắc Kinh, kỳ 5/2012) Bài viết khái quát vai trò của khoa học trên nhiều lĩnh vực như: y tế, giáo dục, kinh tế…để chứng minh tầm quan trọng của nó đối với sự giàu mạnh của nhân dân và thịnh vượng quốc gia Bài viết chủ yếu xoanh quanh ba vấn đề chính: Khoa học là vấn đề đáng được mọi người quan tâm chú ý đến; Trình độ khoa học của Trung Quốc vẫn
có rất nhiều không gian để phát triển; Thể chế nghiên cứu khoa học hiện nay của Trung Quốc có thể được cải cách
Tác giả Chu Lệ Lan đã cho công bố công trình “Khoa giáo hưng quốc: quyết sách chiến lược quan trọng của Trung Quốc khi bước vào thế kỷ 21” (朱丽兰,科技兴国:中国迈向 21 世纪的重大战略决策,中共中央
党校出版社, 北京,1995) Phần mở đầu, tác giả đi vào giới thiệu những quyết sách, những bài phát biểu của lãnh đạo Trung Quốc có liên quan đến vấn đề khoa học kỹ thuật và giáo dục như: quyết sách tăng cường thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật của Quốc vụ viện, bài phát biểu tại Đại hội Khoa
Trang 17học kỹ thuật toàn quốc của các nhà lãnh đạo Giang Trạch Dân, Lý Bằng, Ôn Gia Bảo…Tiếp theo, tác giả đưa ra về sự thành công, những kinh nghiệm và bài học phát triển của các quốc gia lớn như Mỹ, Anh, Đức, Nhật, Liên Xô,
…từ đó cho thấy vai trò to lớn của khoa học kỹ thuật đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của một đất nước, và cuối cùng là kiến nghị những chính sách
để thúc đẩy sự phát triển khoa học kỹ thuật Trung Quốc Đây có thể coi là một trong những công trình có đóng góp lớn cho việc nghiên cứu cải cách khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc
Chen Ru, Chinese Science and Technology: Reform and Development(Beijing: China Intercontinental Press, 2004 Tác giả cho rằng
“Khoa học kỹ thuật của Trung Quốc được phát triển theo kế hoạch dài dạn
trong vòng 5 năm và phần đầu tiên của bản kế hoạch này được giới thiệu vào năm 1956”
Tại nước ngoài:
Các công trình nghiên cứu của học giả phương Tây mà tác giả có cơ
hô ̣i được tiếp câ ̣n là không nhiều Có thể kể đến hai công trình tiêu biểu sau :
Martin L Weitzman and Chenggang Xu 1994; “Chinese Township–Village Enterprises as Vaguely Defined Cooperatives.” Dani Rodrik 2006 Trong
công trình này, tác giả cho rằng “Chính sách cải cách của Trung Quốc thường không thích ứng với bản chất của chế độ cơ bản và thỉnh thoảng làm cản trở việc phát huy tính ưu việt của chế độ cơ bản”
Công trình “Science anh technology policies, industrial reform and technical progress in China” (Chính sách khoa học và công nghệ, cải cách
công nghiệp và sự tiến bộ trong khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc) của tác giả
Alberto Gabriele (tháng 8 năm 2001, tại United Nation Conference on Trade and Development) cũng được đánh giá là một công trình có đóng góp cho
việc nghiên cứu những cải cách thể chế khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ cho
Trang 18trong tiến trình cải cách khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc - một nước lớn đang
ở giai đoạn bán công nghiệp và phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa Công trình chủ yếu đề cập đến những khía cạnh trong cải cách hệ thống khoa học kỹ thuật của Trung Quốc có liên quan đến năng lực tổng thể của nền kinh
tế, từ đó tạo ra các tiến bộ kỹ thuật phục vụ cho lĩnh vực sản xuất và phân phối Công trình đã đưa ra kết luận rằng hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc sau khi trải qua những cải cách quan trọng trong khoa học kỹ thuật cùng với sự định hướng lại thị trường, sẽ có những bước tăng tốc đột phá, tuy nhiên vẫn cần phải hiểu một cách rộng hơn đây là sự cải cách về khoa học kỹ thuật
Nhìn lại tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài , tác giả nhận thấy các công trình nghiên cứu đã làm rõ nhiều khía cạnh trong vấn đề cải các thể chế khoa học kỹ thuật của Trung Quốc Tuy nhiên, tại Việt Nam những nghiên cứu đối với cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc vẫn còn mới mẻ, tương đối khiêm tốn và hạn chế
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu, phân tích các
cải cách trong lĩnh vực thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc
- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung đi sâu vào nghiên cứu nội
dung tiến hành cải cách thể chế khoa học kỹ thuật của Trung Quốc không bao gồm các lãnh thổ Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan: (i) tập trung phân tích những nguyên nhân tác động đến cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc; (ii) Phân tích quá trình, nội dung cải cách thể chế khoa học
kỹ thuật ở Trung Quốc để thấy được những thành tựu, hạn chế trong cải cách; (iii) Thực trạng cơ chế quản lý, phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam
Trang 195 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
- Cách tiếp cận: Luận văn đặt việc nghiên cứu cải cách thể chế khoa
học kỹ thuật trong toàn bộ tiến trình cải cách thể chế nói riêng và cải cách mở cửa nói chung của Trung Quốc
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như tổng hợp, phân tích, lịch sử,
6 Nguồn tài liệu sử dụng
6.1 Nguồn tài liệu cấp 1(tài liệu gốc) chủ yếu bao gồm:
- Các văn kiện gốc của Đảng và Nhà nước Trung Quốc về cải cách thể chế khoa học kỹ thuật
- Các báo cáo của chính phủ, chính quyền các cấp về việc thực hiện các cải cách thể chế khoa học kỹ thuật
6.2 Nguồn tài liệu thứ cấp:
- Các công trình khoa học đã được công bố bao gồm các bài viết về khoa học kỹ thuật, cải cách thể chế khoa học kỹ thuật của các nhà khoa học Trung Quốc, quốc tế
- Các thông tin từ báo chí chính thống, các Website của Trung Quốc, Việt Nam và các nước khác
7 Bố cục luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Nguyên nhân Trung Quốc tiến hành cải cách thể thế khoa
học kỹ thuật
Chương này tập trung giới thiệu các khái niệm có liên quan về thể chế
và cải cách thể chế khoa học kỹ thuật; phân tích các nguyên nhân bên trong và bên ngoài dẫn đến cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc
Trang 20Chương 2: Quá trình và nội dung cải cách thể chế khoa học kỹ thuật
Trung Quốc
Chương này luận văn đã nêu ra bối cảnh ra đời và khái quát quá trình cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc Nội dung, thành tựu cũng như những tồn tại và giải pháp của Trung Quốc cho cải cách thể chế khoa học
kỹ thuật cũng đã được luận văn phân tích và làm rõ
Chương 3: Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương này luận văn đã nêu rõ thực trạng cơ chế chính sách quản lý, phát triển của khoa học công nghệ Việt Nam trong những năm gần đây thông qua phân tích đánh giá một số vấn đề cơ bản như: cơ chế tài chính, cơ chế quản lý nhân lực khoa học công nghệ Ngoài ra, luận văn đã đưa ra ý kiến gợi mở góp phần đổi mới cơ chế, chính sách quản lý phát triển khoa học công nghệ ở Việt Nam phù hợp với nhu cầu thực tế
Cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc là một chủ đề còn ít được tìm hiểu và nghiên cứu ở Việt Nam Vì vậy, mặc dù đã rất cố gắng, em
tự nhận thấy bản luận văn này vẫn còn nhiều mặt cần được hoàn thiện Em rất mong Quý Thầy/ Cô trong Hội đồng đóng góp ý kiến và chỉ bảo
Trang 21CHƯƠNG 1 NGUYÊN NHÂN TRUNG QUỐC TIẾN HÀNH CẢI CÁCH THỂ CHẾ
KHOA HỌC KỸ THUẬT 1.1 Khái niệm
Cổ Tiêu Nhân (2003) cho rằng:“Về bản chất, thể chế là hình thái hiện thực cụ thể của chế độ, bao hàm trong phạm trù chế độ”.3 Chính vì vậy, bản chất của thể chế khoa học kỹ thuật là việc chế độ hóa của các hoạt động khoa học kỹ thuật, cũng là hệ thống thể chế xã hội của khoa học kỹ thuật Nội dung của cải cách thể chế khoa học kỹ thuật chủ yếu bao gồm: Cơ cấu tổ chức khoa học kỹ thuật, điều chỉnh pháp quy chính sách khoa học kỹ thuật và chuyển dịch của cơ chế vận hành khoa học kỹ thuật Cùng với đó, các học giả nghiên cứu cũng cho rằng thể chế khoa học kỹ thuật bao gồm ba nội dung, đó là: Cơ cấu tổ chức khoa học kỹ thuật, pháp quy chính sách khoa học kỹ thuật và cơ chế vận hành khoa học kỹ thuật Điều này phản ánh giới học thuật có nhận thức chung nhất quán đối với nội hàm của thể chế khoa học kỹ thuật Hiện tại,
Trang 22
chưa có nhà nghiên cứu nào đi sâu tiến hành phân tích và mô tả chi tiết về các khái niệm và nội hàm của thể chế khoa học kỹ thuật Phương Tâm Tại trong
bài viết “ Khung phân tích trong nghiên cứu thể chế khoa học” đã đưa ra giới định về nội hàm và khái niệm của thể chế khoa học kỹ thuật Đó là “Thể phức hợp của sự phát triển các tổ chức khoa học kỹ thuật Các tổ chức này có liên quan đến việc phân bổ nguồn lực để đáp ứng nhu cầu của cá nhân, tập thể và đất nước Nó chủ yếu bao gồm hai mặt kết cấu hệ thống khoa học kỹ thuật (hệ thống tổ chức) và cơ chế vận hành (hệ thống quy tắc) Hai mặt này hỗ trợ cho nhau, là điều kiện để cùng nhau tồn tại Trong đó, cơ chế vận hành là nguyên tắc để cá nhân và tổ chức trong thể chế khoa học kỹ thuật triển khai hoạt động; thực hiện quản lý khoa học kỹ thuật, nó thuộc các tổ chức của hệ thống nội bộ, thể hiện mối quan hệ giữa các tổ chức với nhau, giữa tổ chức và cá nhân, thể hiện mối quan hệ tác động qua lại giữa môi trường bên ngoài và hệ thống khoa học kỹ thuật” Theo tôi, thể chế khoa học kỹ thuật là cơ chế vận
hành và cơ cấu tổ chức của khoa học kỹ thuật
1.1.2 Khái niệm cải cách thể chế khoa học kỹ thuật
Khoa học kỹ thuật là động lực để phát triển kinh tế Và khi kinh tế phát triển lại đòi hỏi khoa học kỹ thuật cũng phải thay đổi phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội Nên cải cách kinh tế tất yếu sẽ kéo theo cải cách khoa học kỹ thuật
Kinh tế kế hoạch trước kia của Trung Quốc học theo mô hình của Liên
Xô đã đóng vai trò nhất định trong thời kỳ kinh tế phát triển theo chiều rộng Nhưng khi kinh tế bước đến giai đoạn phát triển theo chiều sâu thì thể chế kinh tế kế hoạch đã dần bộc lộ những hạn chế: thủ tiêu cạnh tranh, kìm hãm phát triển khoa học công nghệ, triệt tiêu động lực kinh tế đối với người lao động, kìm hãm tính năng động sáng tạo… Thực tế đã đặt ra yêu cầu Trung Quốc phải tiến hành cải cách thể chế kinh tế từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế
Trang 23thị trường Trước tiên ở nông thôn, Trung Quốc đã từng bước thực hiện chế
độ trách nhiệm khoán sản lượng đến hộ gia đình, khiến cho những người nông dân trở thành chủ thể kinh tế kinh doanh tự chủ, nâng cao giá trị sản phẩm nông sản, mở cửa thị trường thành thị và nông thôn Sau đó, ở thành thị thì tiến hành thí điểm cải cách mở rộng quyền tự chủ kinh doanh xí nghiệp, giảm bớt kế hoạch pháp lệnh đối với sản xuất và tiêu thụ…Những cải cách này có hiệu quả thể chế rất rõ, kinh tế nông thôn và kinh tế thành thị trở nên nhộn nhịp, thu nhập của những người dân tăng lên đáng kể Chính những điều này
đã thuyết phục mạnh mẽ đông đảo người dân chấp nhận cải cách thể chế kinh
tế theo hướng thị trường
Kinh tế thị trường tạo động lực lao động tích cực, tự giác cho từng người lao động thông qua cơ chế cạnh tranh, thúc đẩy chuyên môn hóa ngày càng sâu để phát huy tiềm năng nhiều mặt của người lao động, phối hợp, điều tiết hành vi của mọi người một cách tự giác thông qua cơ chế trao đổi hàng hóa một cách tự nguyện, thỏa thuận theo quy luật cung - cầu So với cơ chế kế hoạch hóa tập trung của Nhà nước trong thời bao cấp, kinh tế thị trường không tốn chi phí lập và điều hành kế hoạch, mà lại phát huy được sức mạnh của con người
Cải cách kinh tế từ kinh tế kế hoạch sang kinh tế thị trường đã góp phần to lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội Trong đó vai trò nòng cốt của khoa học kỹ thuật trong phát triển kinh tế ngày càng được nhận thức rõ ràng Các thành tựu khoa học kỹ thuật là động lực chủ yếu cho phát triển kinh tế Yêu cầu đặt ra đối với cải cách thể chế khoa học kỹ thuật để phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội là đòi hỏi tất yếu đối với mỗi quốc gia trên con đường xây dựng đất nước
Để thúc đẩy sự phát triển đất nước, một trong những điều quan trọng
Trang 24ngày càng có vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội cũng như sự phát triển ổn định lâu dài của đất nước Bởi vì, khi khoa học kỹ thuật phù hợp với sự phát triển của thời đại, của nhu cầu xã hội nó sẽ góp phần thúc đẩy mọi mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của quốc gia Ngược lại nếu khoa học kỹ thuật lỗi thời, kém phát triển nó sẽ trở thành nhân tố cản trở kìm hãm sự phát triển tiến bộ xã hội của mỗi quốc gia
Theo tôi, cải cách thể chế khoa học kỹ thuật là thay đổi căn bản thể chế khoa học kỹ thuật cũ trước đây chứa đựng nhiều khiếm khuyết, thiếu sót không còn phù hợp với sự phát triển của kinh tế xã hội, xây dựng thể chế khoa học kỹ thuật mới làm cho nó được hoàn thiện và phát huy hơn nữa để phù hợp với nhu cầu phát triển của kinh tế xã hội
1.2 Nguyên nhân Trung Quốc tiến hành cải cách thể chế khoa học
kỹ thuật
Nguyên nhân dẫn đến cải cách thể chế khoa học kỹ thuật chính là những mâu thuẫn bên trong của thể chế khoa học kỹ thuật và những áp lực của nhân tố bên ngoài Sự tác động của hai nhân tố này là nguyên nhân quan trọng đã dẫn đến cải cách thể chế khoa học kỹ thuật
1.2.1 Nguyên nhân bên trong
Cho dù là do cải cách thể chế khoa học kỹ thuật hay là do sự tự biến đổi một cách tự phát của khoa học kỹ thuật thì nó đều xuất phát từ sự không thích ứng của kinh tế xã hội, khoa học kỹ thuật và thể chế khoa học kỹ thuật dẫn đến Trước tiên, sự không thích ứng này thể hiện ở mâu thuẫn bên trong
của thể chế khoa học kỹ thuật Một là, mẫu thuẫn giữa phân bổ nguồn lực và
cơ cấu tổ chức Hai là, mâu thuẫn giữa cơ chế vận hành và cơ cấu tổ chức Ba
là, mâu thuẫn giữa cơ chế vận hành, cơ cấu tổ chức và chức năng Những mâu
thuẫn này không chỉ tự phát từ nội tại của thể chế khoa học kỹ thuật mà
Trang 25còn bị tác động bởi điều kiện của bên ngoài, khiến cho thể chế khoa học kỹ thuật nảy sinh nhiều vấn đề Những vấn đề đó được cụ thể như sau:
Thứ nhất, cơ chế vận hành đơn nhất Sự vận hành của hệ thống khoa
học kỹ thuật ở Trung Quốc trước đây chỉ đơn thuần là dựa vào kế hoạch mang tính mệnh lệnh và tính hành chính để tiến hành quản lý, không coi trọng vai trò của đòn bẩy kinh tế và cơ chế thị trường, thiếu áp lực và động lực hướng lên việc xây dựng kinh tế
Thứ hai, sự tách rời giữa kinh tế và khoa học kỹ thuật Tại Trung
Quốc, các kết quả nghiên cứu chưa được ứng dụng rộng rãi, do thiếu sự kết hợp giữa doanh nghiệp và nhà nghiên cứu Các tổ chức nghiên cứu thường chú trọng tính học thuật của các kết quả nghiên cứu khoa học mà không chú ý đến ứng dụng các thành quả nghiên cứu đó vào thực tiễn đời sống Bên cạnh
đó, chi phí về tài chính, cơ sở vật chất và nhân lực cho các nghiên cứu về khoa học kỹ thuật bị hạn chế nên thời gian hoàn thành luôn bị trì hoãn kéo dài, không theo kịp xu hướng phát triển của kinh tế thị trường Điều đó ảnh hưởng đến tính ứng dụng trong thực tiễn của các nghiên cứu Mặt khác, theo thể chế truyền thống, khả năng nghiên cứu và phát triển khoa học kỹ thuật của doanh nghiệp là rất yếu Việc nghiên cứu, thiết kế và sản xuất lại càng thiếu mối liên hệ mật thiết với nhau
Thứ ba, các cơ quan nghiên cứu thiếu sức sống Ở Trung Quốc đội
ngũ nhân viên, kinh phí, và nhiệm vụ nghiên cứu của các cơ quan nghiên cứu thường do cơ quan chủ quản quản lý, thành quả nghiên cứu do nhà nước thu nhận Chính phủ Trung Quốc đã can thiệp quá sâu vào nhiều phương diện hoạt động của tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật, tổ chức nghiên cứu thiếu quyền tự chủ cần có, và cũng thiếu trách nhiệm và áp lực kinh tế
Trang 26Thứ tư, thiếu sự gắn kết giữa các cơ quan nghiên cứu Hiện nay, hệ
thống các cơ quan nghiên cứu của Trung Quốc bao gồm: Viện Khoa học Trung Quốc, Đơn vị nghiên cứu thuộc các Bộ ban ngành Trung ương, Đơn vị nghiên cứu của quân đội, các tổ chức nghiên cứu của các trường đại học, các đơn vị nghiên cứu khoa học địa phương Các đơn vị nghiên cứu này thiếu sự giao lưu trao đổi khoa học với nhau Lực lượng khoa học kỹ thuật phân tán, chồng chéo Các cơ quan nghiên cứu được sắp xếp và kinh phí hoạt động nghiên cứu được phân bổ theo quan hệ lệ thuộc hành chính, tạo nên tình trạng
sở hữu của bộ ban ngành, sở hữu của địa phương, sự chia rẽ giữa dân sự và quân sự v.v… Tình trạng hiệu quả nghiên cứu thấp rất phổ biến, nguồn lực về con người và tài chính bị phân tán và lãng phí, gây khó khăn cho việc xây dựng kinh tế
Thứ năm, chế độ nhân sự cứng nhắc Chính phủ Trung Quốc thi hành
chế độ quản lý bao cấp đối với đội ngũ hoạt động trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, phân cấp thứ bậc đối với những người có thâm niên, việc tuyển dụng; luân chuyển nhân sự không thường xuyên diễn ra Những hạn chế trong quản
lý nhân sự khiến cho đội ngũ những người làm công tác khoa học kỹ thuật khó có thể phát huy hết tài năng của họ
Thứ sáu, thiếu tổ chức trung gian trong khoa học kỹ thuật Trong thời
kỳ kinh tế bao cấp, không gian tồn tại của các tổ chức trung gian khoa học kỹ thuật rất chật hẹp, không có sự nhận thức rõ ràng đối với tầm quan trọng của
nó Vì vậy, ở Trung Quốc thường thiếu kênh và môi trường giao lưu, trao đổi khoa học kỹ thuật, việc phổ biến thông tin khoa học kỹ thuật lại không thuận lợi, thành quả khoa học lại thiếu không gian phát triển
Những nguyên nhân trên làm cho thể chế khoa học kỹ thuật không thể đáp ứng được nhu cầu phát triển khoa học kỹ thuật và nhu cầu phát triển kinh
Trang 27tế xã hội Chỉ có thông qua cải cách thể chế khoa học kỹ thuật mới có thể thích ứng được sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật và kinh tế
xã hội
1.2.2 Nguyên nhân bên ngoài
Vấn đề tồn tại trong nội tại thể chế khoa học kỹ thuật là cơ sở cho sự biến đổi và cải cách thể chế khoa học kỹ thuật, đồng thời, sự biến đổi thể chế khoa học kỹ thuật không thể tách rời áp lực từ bên ngoài Xu thế toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế của xã hội hiện đại, làm cho vai trò của các yếu tố bên ngoài ngày càng trở nên quan trọng Do vậy, việc xem xét những áp lực bên ngoài tác động đến việc thay đổi thể chế khoa học kỹ thuật sẽ giúp nắm bắt chính xác đặc trưng và xu thế quan trọng của thay đổi thể chế khoa học kỹ thuật Những áp lực này thể hiện tập trung dưới những mặt sau:
1.2.2.1 Áp lực của phát triển khoa học kỹ thuật
Sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại Trung Quốc đã sớm bước vào quỹ đạo phát triển nhanh chóng, là một xu hướng tăng trưởng vượt bậc Hiện nay, các ngành khoa học như :Vũ trụ học, hải dương học, sinh vật học, sinh thái học v.v đều đang phát triển mạnh mẽ Cùng với đó, các loại kỹ thuật công nghệ cũng đang phát triển với tốc độ nhanh chóng, đặc biệt là sự phát triển của kỹ thuật công nghệ cao
Trước hết, sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã thể hiện đặc trưng
nhất thể hóa Lịch sử phát triển của khoa học kỹ thuật cho thấy rằng, khoa học
và kỹ thuật vốn là hai sự vật phát triển độc lập, nhưng từ thế kỷ 19 đến nay, mối quan hệ giữa khoa học và kỹ thuật ngày càng trở nên chặt chẽ hơn Cho đến nay sự phát triển của khoa học và kỹ thuật đã không thể tách rời nhau với biểu hiện đặc trưng của sự phát triển nhất thể hóa của chúng Đặc trưng này
Trang 28biểu hiện trong mối liên hệ mật thiết thúc đẩy lẫn nhau, hỗ trợ lẫn nhau giữa khoa học và kỹ thuật
Một mặt, khoa học dưới sự thúc đẩy và hỗ trợ của kỹ thuật mới có thể
phát triển nhanh chóng Sự phát triển của khoa học cần phải có thực nghiệm, thiết bị thí nghiệm là phương tiện vật chất để tiến hành thí nghiệm khoa học, tách ra khỏi thiết bị thí nghiệm của hiện đại hóa, sự phát triển của khoa học hiện nay mất đi cơ sở hỗ trợ vật chất quan trọng nhất Với những hệ thống thiết bị lớn, tinh vi mà lại phức tạp của trình độ phát triển khoa học hiện đại
và là chỉ số quan trọng của toàn bộ quá trình hóa, chỉ có dựa vào cơ sở kinh tế
xã hội vững chắc và hệ thống sản xuất công nghiệp mạnh mẽ, kỹ thuật tiên tiến làm hậu thuẫn, mới có thể thiết kế, chế tạo ra nó, và đạt được ứng dụng hiệu quả rộng rãi, từ đó có sức để hỗ trợ phát triển nhanh chóng toàn bộ khoa học kỹ thuật và khoa học hiện đại
Mặt khác, sự phát triển của kỹ thuật hiện đại lại là phụ thuộc vào sự
phát triển của khoa học hiện đại, sự phát triển của khoa học hiện đại là mở rộng con đường tiến bộ của kỹ thuật hiện đại Đặc biệt là sự phát triển của kỹ thuật mới nổi hiện nay, nếu như không có cơ sở khoa học vững chắc thì sẽ không có sức sống để phát triển và chịu đựng
Thứ hai, kỹ thuật công nghệ cao trở thành điểm nóng của khoa học kỹ
thuật các nước phát triển
Kỹ thuật mới hiện nay với tiền thân là thông tin kỹ thuật vi điện tử, lấy
kỹ thuật vật liệu mới làm cơ sở, lấy kỹ thuật năng lượng mới làm trụ cột Xét
từ góc độ vĩ mô, khoa học công nghệ đang hướng vào việc phát triển các nhóm công nghệ sinh học, nhóm công nghệ biển và công nghệ vũ trụ
Thể chế khoa học kỹ thuật là chế độ tổ chức của hoạt động khoa học
kỹ thuật, nó cần liên tục thích ứng với những hướng thay đổi của phát triển
Trang 29khoa học Chính áp lực từ sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật là động lực thúc đẩy cho cải cách thể chế khoa học kỹ thuật
1.2.2.2 Áp lực của phát triển kinh tế
Áp lực phát triển kinh tế lên cải cách thể chế khoa học kỹ thuật trước tiên xuất phát từ áp lực của phát triển kinh tế quốc dân
Từ khi cải cách mở cửa cho đến nay, kinh tế quốc dân của Trung Quốc
có sự phát triển rất vượt bậc Để tiếp tục đáp ứng nhu cầu cải thiện nâng cao cuộc sống của người dân, để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển, kinh tế quốc dân của Trung Quốc vẫn cần phát triển với tốc độ nhanh và bền vững Nhưng trong quá khứ, sự phát triển và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc chủ yếu dựa vào mô hình phát triển thiếu bền vững, dựa vào
sự khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên để thúc đẩy tăng trưởng, không chú trọng đến hàm lượng khoa học kỹ thuật Hội nghị Trung ương 5 khóa 14 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đề xuất việc thực hiện kế hoạch “5 năm lần thứ 9” và mục tiêu tầm nhìn đến năm 2010, điều quan trọng là thực hiện hai
thay đổi mang tính căn bản có ý nghĩa toàn cầu đó là: Thứ nhất là thể chế kinh
tế từ thể chế kinh tế bao cấp truyền thống chuyển sang thể chế kinh tế thị trường
xã hội chủ nghĩa; thứ hai, chuyển đổi phương thức tăng trưởng kinh tế phát triển
nâng cao hiệu quả sử dụng và chất lượng các yếu tố sản xuất
Vì vậy, phát triển và tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc cần chuyển đổi phương thức phát triển chủ yếu dựa vào việc thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật Việc thay đổi của phương thức phát triển và tăng trưởng kinh tế đã đưa
ra những thách thức đối với phát triển khoa học kỹ thuật, đồng thời cũng làm tăng thêm áp lực lớn đối với quá trình thay đổi thể chế khoa học kỹ thuật Đối với việc kết hợp giữa kinh tế và khoa học kỹ thuật, cả hai chuyển đổi phát
Trang 30mà còn đưa ra yêu cầu hỗ trợ ngày càng cao và then chốt của khoa học kỹ thuật đối với phát triển và tăng trưởng kinh tế Để khoa học kỹ thuật trở thành một thứ quan trọng và hỗ trợ của tăng trưởng và phát triển kinh tế, không những khoa học kỹ thuật phải phát triển với tốc độ nhanh chóng, mà thành tựu khoa học kỹ thuật cũng phải có hiệu quả nhanh chóng để chuyển hóa thành sức sản xuất thực tế và sản phẩm thực tế
Khoa học kỹ thuật nếu như chỉ tồn tại ở dạng tri thức thì chức năng kinh tế, sản xuất của nó không thể thực hiện được Thành quả khoa học kỹ thuật cần chuyển biến thành sản phẩm thực tế, sức sản xuất thực tế mới có thể thực hiện chức năng kinh tế, sản xuất của khoa học kỹ thuật Thể chế khoa học kỹ thuật của Trung Quốc không những cản trở nghiêm trọng tới sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, mà còn cản trở nghiêm trọng tới việc khoa học kỹ thuật chuyển hóa thành sức sản xuất thực tế Thể chế khoa học kỹ thuật đối diện như thế nào để thích ứng với áp lực của phát triển kinh tế quốc dân là một câu hỏi đang được đặt ra cho giới nghiên cứu
Cải cách thể chế khoa học kỹ thuật còn chịu áp lực từ toàn cầu hóa kinh tế
Toàn cầu hóa kinh tế là xu thế phát triển của thế giới hiện nay, nó làm
sự phân chia lao động quốc tế giữa các nước ngày càng trầm trọng, làm cho nước phát triển sử dụng ưu thế như: Lợi ích kinh tế, khoa học kỹ thuật của mình, để tiêu thụ sản phẩm của mình và lợi dụng việc khai thác tài nguyên thiên nhiên của các nước trên phạm vi thế giới Trung Quốc là một nước đang phát triển với số lượng dân đông, một mặt việc cải cách mở cửa làm cho Trung Quốc thu hút vốn quốc tế lớn, có tác dụng thúc đẩy rất lớn đối với phát triển kinh tế Trung Quốc; mặt khác lại kìm hãm sự phát triển của các ngành công nghiệp liên quan của Trung Quốc, đẩy Trung Quốc vào vị trí bất lợi trong việc phân chia lao động quốc tế Để thay đổi tình trạng này, Trung Quốc chỉ có nâng cao chất lượng và sản phẩm có hàm lượng khoa học kỹ thuật của
Trang 31mình, bên cạnh đó dựa vào sự phát triển của khoa học kỹ thuật để nhanh chóng bắt kịp với trình độ tiên tiến của quốc tế, đặc biệt là cần nắm bắt cơ hội phát triển kỹ thuật công nghệ mới Vì vậy, việc thay đổi thể chế khoa học kỹ thuật phải đối mặt với áp lực lớn của toàn cầu hóa kinh tế
1.2.2.3 Áp lực cạnh tranh quốc tế
Thế giới mở cửa đồng thời cũng là thế giới cạnh tranh, xu thế toàn cầu hóa trong việc phát triển thế giới nhân loại, do đó sự cạnh tranh giữa các quốc gia ngày càng tăng cường Trong thế giới hiện nay, khoa học kỹ thuật phát triển một cách nhanh chóng, kinh tế tri thức đang nổi lên, cạnh tranh giữa các quốc gia đã không chỉ thể hiện trong lĩnh vực kinh tế công nghiệp và nông nghiệp, xung quanh việc cạnh tranh đã thể hiện rõ việc thúc đẩy đến lĩnh vực đổi mới khoa học kỹ thuật, trọng tâm của cạnh tranh cũng không đơn thuần là kinh tế mà là sự hội nhập và kết hợp của khoa học kỹ thuật, quản lý, thể chế
và văn hóa, mức độ cạnh tranh được cải thiện đáng kể Trong cạnh tranh quốc
tế, sức mạnh của quốc gia quyết định vị thế quốc tế của một quốc gia, quyết định quyền phát ngôn của Trung Quốc tham gia trong các vấn đề quốc tế Mà sức mạnh của quốc gia, bao gồm sức mạnh kinh tế, sức mạnh quân sự v.v…đều có mối liên hệ mật thiết và không thể tách rời với trình độ phát triển khoa học kỹ thuật của từng quốc gia nói chung và của Trung Quốc nói riêng, thậm chí có thể nói khoa học kỹ thuật ở vị trí quan trọng hơn Như vậy, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, nói cho cùng là sự cạnh tranh phát triển khoa học kỹ thuật của quốc gia, đặc biệt là khả năng cạnh tranh đổi mới khoa học
kỹ thuật Nguyên Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đã chỉ ra rằng “đổi mới là linh hồn của tiến bộ dân tộc, là động lực vô tận cho sự phát triển thịnh vượng của đất nước”.4
Trang 32
Thể chế khoa học kỹ thuật là chỗ dựa cho sự phát triển khoa học kỹ thuật, thể chế khoa học kỹ thuật có thể hoạt động hiệu quả cao hay không liên quan đến triển vọng phát triển của kinh tế khoa học kỹ thuật và sự thành công hay thất bại của cạnh tranh
1.2.2.4 Áp lực của chuyển đổi thể chế
Kể từ khi cải cách mở cửa cho đến nay, kinh tế xã hội của Trung Quốc trải qua những thay đổi to lớn, những thay đổi này thường được gọi là chuyển dịch xã hội Chuyển dịch xã hội của Trung Quốc hiện nay là lấy chuyển đổi thể chế kinh tế làm trung tâm, do quá trình quá độ xã hội truyền thống đến xã hội hiện nay, đặc biệt là chuyển đổi thể chế kinh tế là động lực lớn nhất để thay đổi thể chế khoa học kỹ thuật
Sau Đại hội Đảng lần thứ 14, vào cuối năm 1992, Trung Quốc chính thức lấy thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa làm mục tiêu cải cách toàn bộ thể chế kinh tế, từ đó cải cách thể chế kinh tế Trung Quốc đã phát sinh thay đổi cơ bản Thể chế quản lý kinh tế kế hoạch tập trung cao độ trước đây đang dần bị phá vỡ, một mặt là lấy chế độ sở hữu công cộng và phân phối lao động làm chủ thể, mặt khác lấy thành phần kinh tế và phương thức phân phối khác là bộ phận cấu thành quan trọng của thể chế quản lý kinh tế thị trường đang dần được hình thành Vai trò của kinh tế thị trường đối với điều tiết cơ bản và phân bổ nguồn lực trong các mắt xích như: Chi phí, phân phối, trao đổi, sản xuất của quá trình tổng sản xuất xã hội ngày càng được phát huy đầy đủ Vì thế, chuyển đổi kinh tế của Trung Quốc bắt đầu từ việc chuyển đổi thể chế kinh tế kế hoạch truyền thống sang thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa
Vai trò chi phối của chuyển đổi thể chế kinh tế đối với chuyển đổi thể chế khoa học kỹ thuật chủ yếu ở hai khía cạnh sau:
Trang 33Trước tiên, là phát triển hệ thống thị trường, hoàn thiện cơ chế thị
trường, thúc đẩy cơ chế thị trường trở thành cơ sở của việc phân bổ nguồn lực Điều này có vai trò quyết định đối với việc chỉnh vốn đầu tư và phân bổ nguồn lực khoa học kỹ thuật như thế nào trong hoạt động khoa học kỹ thuật Thay đổi phương thức phân bổ nguồn lực khoa học kỹ thuật là vai trò chuyển đổi thể chế kinh tế như là một cầu nối quan trọng của việc chuyển đổi thể chế khoa học kỹ thuật Thông qua cầu nối này, cơ cấu thể chế khoa học kỹ thuật,
cơ chế vận hành sẽ có những thay đổi mang tính cơ bản Tiếp theo, chính là
việc cải cách doanh nghiệp nhà nước ở Trung Quốc, xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại, để cho doanh nghiệp nhà nước trở thành chủ thể của kinh tế thị trường Nó có ảnh hưởng to lớn đến việc cải cách thể chế khoa học kỹ thuật, thúc đẩy doanh nghiệp trở thành chủ thể sáng tạo khoa học kỹ thuật
Những điều trình bày trên đây cho thấy, cải cách thể chế khoa học kỹ thuật ở Trung Quốc đến từ hai phía bên trong và bên ngoài; tuy nhiên, nguyên nhân bên trong đóng vai trò quyết định, còn nguyên nhân bên ngoài là quan trọng Vì vậy, Trung Quốc không có lựa chọn nào khác là phải tìm tòi cải cách thể chế khoa học kỹ thuật để thích ứng với yêu cầu cải cách kinh tế và phù hợp với xu thế chung của thế giới
Trang 34TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Hiểu một cách đơn giản nhất thể chế khoa học kỹ thuật là cơ chế vận hành và cơ cấu tổ chức của khoa học kỹ thuật Do vậy cải cách thể chế khoa học kỹ thuật chính là thay đổi những thiếu sót, hạn chế trong cơ chế vận hành,
cơ cấu tổ chức của khoa học kỹ thuật theo hướng hoàn thiện và phù hợp với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội
Dựa trên việc tìm hiểu và nghiên cứu có thể thấy, những áp lực bên trong của thể chế khoa học kỹ thuật Trung Quốc và những áp lực bên ngoài là hai nhân tố chính dẫn đến cải cách thể chế khoa học kỹ thuật Trung Quốc
Đầu tiên là những áp lực, thiếu sót bên trong của thể chế khoa học kỹ thuật Trung Quốc như: Cơ chế vận hành đơn nhất, sự tách rời của kinh tế và khoa học kỹ thuật, cơ chế quản lý nhân lực cứng nhắc… làm lĩnh vực khoa học kỹ thuật của Trung Quốc nảy sinh nhiều hạn chế, kém phát triển, không phát huy được vai trò cốt lõi của mình trong sự nghiệp phát triển đất nước Điều này đòi hỏi Trung Quốc phải khắc phục những bất cập, hạn chế đó
Bên cạnh đó, những áp lực bên ngoài cũng góp phần thúc đẩy việc tiến hành cải cách thể chế khoa học kỹ thuật của Trung Quốc Sự phát triển khoa học kỹ thuật hiện đại của Trung Quốc đã sớm bước vào quỹ đạo phát triển nhanh chóng, thể chế khoa học kỹ thuật cũ sẽ không còn phù hợp với xu hướng phát triển vượt bậc này Sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế khi Trung Quốc thực hiện cải cách mở cửa cùng với xu thế toàn cầu hóa - khoa học kỹ thuật trở thành yếu tố cạnh tranh quan trọng Đòi hỏi khoa học kỹ thuật của Trung Quốc phải phát triển tương xứng để không kìm hãm sự phát triển của kinh tế Ngoài ra, việc Trung Quốc chuyển đổi thể chế kinh tế đòi hỏi thể chế khoa học kỹ thuật cũng phải có sự thay đổi để phù hợp, thống nhất với thể chế kinh tế nói riêng và tạo ra sự nhất quán trong cơ chế vận hành của
đất nước nói chung
Trang 35CHƯƠNG 2 QUÁ TRÌNH VÀ NỘI DUNG CẢI CÁCH THỂ CHẾ KHOA HỌC
KỸ THUẬT TRUNG QUỐC
2.1 Bối cảnh ra đời của cải cách
Trước năm 1978, Trung Quốc thừa hưởng hệ thống phát triển kỹ thuật trước đây của Liên Xô,5
xây dựng thể chế khoa học kỹ thuật mang tính kế hoạch Thực hiện chiến lược phát triển “đại nhảy vọt”, mục tiêu của chiến lược là trong thời gian ngắn bắt kịp và vượt qua trình độ tiên tiến, đứng vào hàng ngũ các nước có trình độ khoa học kỹ thuật cao của thế giới Trung Quốc áp dụng một hệ thống khoa học kỹ thuật thông qua kế hoạch triển khai các dự án nghiên cứu riêng lẻ, độc lập không có sự gắn kết với nhau giữa các viện sở nghiên cứu, các trường đại học, các đơn vị nghiên cứu quốc phòng
Trong bối cảnh bị phong tỏa và sự khan hiếm về nguồn lực khoa học
kỹ thuật, hệ thống này đã huy động nguồn lực có hạn để tập trung cho mục tiêu chiến lược Trong khoảng thời gian hơn chục năm, nhờ sự nỗ lực của mình cùng với sự giúp đỡ của Liên Xô Trung Quốc cũng đã xây dựng được một hệ thống tổ chức khoa học kỹ thuật và cơ sở hạ tầng tương đối hoàn chỉnh, bồi dưỡng được một số lượng lớn các đội ngũ các nhà hoạt động lĩnh vực khoa học kỹ thuật có trình độ, giải quyết được một loạt các vấn đề khoa học kỹ thuật cho việc xây dựng quốc phòng, phát triển kinh tế xã hội của đất nước Về tổng thể, Trung Quốc đã bước đầu thu hẹp được khoảng cách giữa khoa học kỹ thuật của mình với trình độ tiên tiến trên thế giới Biểu hiện cụ
Trang 36
thể là vào năm 1964 Trung Quốc đã thử thành công bom nguyên tử và bước vào Câu lạc bộ các nước có vũ khí hạt nhân của thế giới
Nhưng cuối những năm 70 của thế kỷ 20, cùng với sự khủng hoảng về kinh tế xã hội do những cuộc đấu tranh chính trị gây ra mà đỉnh cao là Cách mạng văn hóa, thể chế khoa học kỹ thuật mang tính kế hoạch này của Trung Quốc đã gặp phải những thách thức to lớn
Trên thế giới, làn sóng cách mạng kỹ thuật mới đến dồn dập, hầu hết các lĩnh vực khoa học đều có những biến đổi sâu sắc, thành quả của khoa học
kỹ thuật được ứng dụng nhanh chóng, dẫn đến sự thay đổi to lớn cho sức sản xuất của xã hội, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy điều chỉnh cơ cấu ngành nghề và tăng trưởng kinh tế của thế giới Sự cạnh tranh giữa các quốc gia không còn giới hạn trong phạm vi cạnh tranh sức mạnh quân sự, sức mạnh kinh tế, mà đã mở rộng ra cạnh tranh sức mạnh tổng hợp quốc gia với hạt nhân là khoa học kỹ thuật Tại Trung Quốc, như đã nói ở trên do ảnh hưởng của “Cách mạng văn hóa”, các hoạt động khoa học kỹ thuật đã phải hứng chịu
sự kìm kẹp nặng nề, làm cho khoảng cách về năng lực cạnh tranh khoa học kỹ thuật của Trung Quốc so với các nước phương Tây ngày càng nới rộng
Cuối năm 1978, Hội nghị Trung ương 3 khóa 11 Đảng Cộng sản Trung Quốc đã họp và ra một quyết định mang tính lịch sử là chuyển trọng tâm công tác của toàn Đảng từ “lấy đấu tranh giai cấp là chính” sang coi xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, tiến hành cải cách và mở cửa.6 Điều này đòi hỏi khoa học kỹ thuật phải có những đóng góp vào quá trình cải cách kinh tế Năm 1995, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nêu lên phương
Trang 37
châm thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật theo đó chỉ rõ: “ Xây dựng kinh tế cần dựa vào khoa học kỹ thuật, khoa học kỹ thuật cần hướng về xây dựng kinh tế”7
Như vậy, sự phát triển kinh tế và xã hội trong thời kỳ mới ở Trung Quốc đã đặt ra nhu cầu đa dạng, nhiều tầng lớp đối với khoa học kỹ thuật Cải cách thể chế khoa học kỹ thuật trở thành yêu cầu tất yếu, nếu không cải cách thể chế khoa học kỹ thuật, công cuộc cải cách thể chế kinh tế của Trung Quốc rất khó thành công
2.2 Khái quát quá trình cải cách
Quá trình cải cách thể chế khoa học kỹ thuật của Trung Quốc có thể được chia thành các giai đoạn như sau:
Giai đoạn thứ nhất (1978 - 1985): Giai đoạn “nghỉ ngơi tĩnh dưỡng”
sau “Cách mạng văn hóa” và vẫn trong khuôn khổ của mô hình kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp
Giai đoạn thứ hai (1985 - 1996): Giai đoạn chủ yếu xây dựng thị
trường khoa học và nâng cao tiếng nói của các tổ chức nghiên cứu khoa học trong bối cảnh Trung Quốc thực hiện cải cách chế độ bao cấp
Giai đoạn thứ ba (1996 - 2006): Giai đoạn đề xuất và thực hiện chiến
lược “khoa giáo hưng quốc”
Giai đoạn thứ tư ( từ năm 2006 đến nay): Giai đoạn khích lệ tinh thần
sáng tạo và xây dựng, hoàn thiện hệ thống sáng tạo quốc gia
Trang 38
2.2.1 Giai đoạn 1978-1985
Đây là giai đoạn công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc mới được tiến hành, trong đó trọng tâm là cải cách ở nông thôn và trong lĩnh vực nông nghiệp Đối với khoa học kỹ thuật, giai đoạn này được đánh dấu bằng sự kiện Đại hội đại biểu Khoa học toàn quốc tổ chức tại Bắc Kinh vào tháng 3 năm 1978 Chủ đề của Đại hội này là vận động toàn dân tập trung cho công cuộc hiện đại hóa khoa học kỹ thuật Đại hội tập trung phê phán với những tư tưởng còn sót lại từ “Cách mạng văn hóa” trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật Ngoài ra, Đại hội cũng đã đề ra một loạt phương châm, chính sách để phát triển khoa học kỹ thuật Trung Quốc, thông qua bản “Cương lĩnh quy hoạch phát triển khoa học kỹ thuật toàn quốc 1978 - 1985” hay còn gọi là “Cương lĩnh quy hoạch 8 năm”
“Cương lĩnh quy hoạch 8 năm” đã nêu lên phương châm “sắp xếp toàn diện, đột phá trọng điểm”; xác định 8 lĩnh vực phát triển là nông nghiệp, năng lượng, tài nguyên, công nghệ thông tin, quang học, vũ trụ, vật lý lượng tử, di truyền và đưa ra 108 dự án nghiên cứu trọng điểm Cương lĩnh này được coi
là đã đề cập đến mức độ cao nhất của sự phát triển khoa học kỹ thuật
Tuy nhiên, vấn đề mà Trung Quốc muốn giải quyết lúc này là khắc phục những tàn dư của cuộc “Cách mạng văn hóa” trong xã hội Trung Quốc Bản “Cương lĩnh quy hoạch 8 năm” ra đời nhằm mục đích thông qua cải tiến
kế hoạch và phương thức quản lý, từng bước khôi phục trật tự khoa học kỹ thuật trước “Cách mạng văn hóa” Tuy nhiên, xem xét một cách nghiêm túc bản Cương lĩnh này vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề do chưa nhận thức được một cách đầy đủ và triệt để vai trò của khoa học kỹ thuật Cùng với đó, bản Cương lĩnh cũng chưa nêu ra những biện pháp cụ thể cho cải cách thể chế khoa học kỹ
Trang 39thuật, mới chỉ đề ra những mục tiêu phấn đấu quá tiềm năng của nền kinh tế Trung Quốc lúc bấy giờ.8
Trong quá trình thực hiện, “Cương lĩnh quy hoạch 8 năm ” cũng đã cho thấy vai trò tìm tòi và thí điểm cải cách thể chế khoa học kỹ thuật của nó Trong thời gian đó, Trung Quốc đã nhiều lần thí điểm tạo điều kiện tự chủ, cổ
vũ việc trao đổi, hợp tác giao lưu giữa các cơ quan nghiên cứu, thí điểm chế
độ hợp đồng và chế độ trách nhiệm trong nghiên cứu khoa học kỹ thuật, bước đầu phát triển được thị trường khoa học kỹ thuật và trao đổi mua bán sản
phẩm khoa học công nghệ Tóm lại, ở giai đoạn này Trung Quốc đã xây dựng
được thể chế khoa học kỹ thuật mới, nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ của mô hình kinh tế kế hoạch tập trung quan liêu bao cấp
2.2.2 Giai đoạn 1985-1996
Đây là giai đoạn công cuộc cải cách mở cửa của Trung Quốc bắt đầu
mở rộng ra khu vực đô thị với trọng điểm là cải cách trong lĩnh vực công nghiệp; đồng thời xây dựng các đặc khu kinh tế, thực hiện mở cửa “3 vùng ven” (ven biển, ven sông, ven biên giới) Đối với khoa học kỹ thuật, giai đoạn này đánh dấu bằng sự tiến triển vượt bậc của cải cách thể chế khoa học giáo dục khi có được một sự định hướng rõ ràng Tháng 3 năm 1985, Chính phủ Trung Quốc công bố bản “Quyết định về cải cách thể chế khoa học kỹ thuật”,
đã chỉ rõ, bản thân hệ thống khoa học kỹ thuật trở thành đối tượng và trọng điểm của công cuộc cải cách Trên cơ sở tổng kết các bài học kinh nghiệm, Trung Quốc đã ý thức rõ ràng hơn về sự nghiêm trọng của việc thiếu tính kết nối giữa sáng tạo kỹ thuật và ứng dụng các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn, việc chuyển giao thành quả khoa học kỹ thuật, thiếu hụt động lực
Trang 40
nghiên cứu Đây chính là trở ngại lớn kìm hãm sự phát triển và tiến bộ của khoa học kỹ thuật trong thể chế kế hoạch tập trung
Quyết định này có ý nghĩa quan trọng bởi nó tạo nên một khuôn khổ
cơ bản cho cải cách thể chế khoa học kỹ thuật của Trung Quốc nhiều năm về sau Nó yêu cầu hoạt động giải ngân kinh phí cho khoa học kỹ thuật của cơ quan tài chính Trung ương và địa phương trong một giai đoạn nào đó về sau, nên thường cao hơn so với tốc độ tăng trưởng thu nhập ngày một gia tăng Nó cũng khuyến khích các bộ, ngành, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội đầu tư vào khoa học kỹ thuật Điều quan trọng nhất là bản Quyết định đặt ra yêu cầu cải cách đối với thể chế giải ngân kinh phí cho các tổ chức nghiên cứu theo hướng phải dựa vào đặc điểm, loại hình khác nhau của các hoạt động khoa học kỹ thuật; đồng thời thực hiện việc phân loại quản lý kinh phí.Đối với các
cơ quan nghiên cứu khoa học mà hoạt động chủ yếu là phát triển công nghệ thì nhà nước sẽ từng bước tiến hành thực hiện chế độ hợp tác về công nghệ,
cố gắng trong thời gian từ 3 đến 5 năm, giảm bớt thậm chí xóa bỏ việc sử dụng vốn từ ngân sách quốc gia
Ngày 1 tháng 12 năm 1991, Hiệp hội khoa học kỹ thuật quốc gia đã công bố bản “Đề cương quy hoạch 10 năm phát triển khoa học công nghệ nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Trung Hoa (1991-2000)” và kế hoạch “5 năm lần thứ 8” (1991-1995)”; trong đó nêu rõ nền khoa học công nghệ những năm 1990 là cần “hướng trọng tâm vào xây dựng kinh tế”, kiên trì phương châm chiến lược “xây dựng kinh tế bắt buộc phải dựa vào khoa học công nghệ, hoạt động khoa học công nghệ phải hướng tới xây dựng kinh tế”9, kiên
9