1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập

133 500 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 3,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Gần đây, Tổng cục du lịch Việt Nam đã xuất bản cuốn sách: “Di sản Thế giới ở Việt Nam” 2012… Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu, một số dự án, đề tài tiêu biểu cấp nhà nước, m

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA L HỌC

THÁI NGUYÊN, NĂM 2015

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/

LUẬN VĂN THẠC SĨ ĐỊA L HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Việt Tiến

THÁI NGUYÊN, NĂM 2015

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các tài liệu trong luận văn là trung thực Luận văn chƣa từng đƣợc công bố trong bất

cứ công trình nào

Tác giả

PHẠM ĐỨC VINH

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/ii

LỜI CẢM ƠN

Luận văn được thực hiện và hoàn thành tại khoa Địa , trường Đại học

Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

đến thầy giáoTS NGUYỄN VIỆT TIẾN, người hướng dẫn khoa học, người

đã gợi ý đề tài, định hướng nghiên cứu và tận tình hướng dẫn tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn

Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo khoa , Phòng Đào tạo (Bộ phận quản lý Sau đại học) Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các thầy cô đã tạo mọi điều kiện trang bị cho tác giả về kiến thức, về học liệu và kinh nghiệm nghiên cứu cũng như mọi thủ tục hành chính

để tác giả hoàn thành bản luận văn này

Tác giả cũng gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, các bạn bè, đã luôn động viên, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu hoàn thành luận văn

Do thời gian nghiên cứu và năng lực bản thân còn nhiều hạn chế, bản luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu, sự chỉ bảo tận tình của các thầy cô và bạn

bè đồng nghiệp

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/iii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG BIỂU v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu, nhiệm vụvà giới hạn nghiên cứu 1

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2

4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu 4

5 Những đóng góp của đề tài 7

6 Cấu trúc của đề tài 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG XU THẾ HỘI NHẬP 8

1.1 Cơ sở lý luận 8

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản 8

1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển du lịch 11

1.1.3 Một số hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch 21

1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động du lịch 23

1.1.5 Khái niệm về hội nhập 25

1.2 Cơ sở thực tiễn 25

1.2.1 Thực tiễn phát triển du lịch ở Việt Nam 25

1.2.2 Thực tiễn quá trình hội nhập của Việt Nam và tác động tới hoạt động du lịch 29

1.2.3 Thực tiễn phát triển du lịch tiểu vùng Đông Bắc 32

Tiểu kết chương 1 33

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/iv

Chương 2 TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH LẠNG SƠN 34

2.1 Vị trí địa lí và phạm vi lãnh thổ 34

2.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên 36

2.2.1 Địa hình 36

2.2.2 Đặc điểm khí hậu 39

2.2.3 Đặc điểm thủy văn 41

2.2.4 Tài nguyên sinh vật 43

2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn 44

2.3.1 Dân cư, dân tộc 44

2.3.2 Các di tích lịch sử văn hóa 47

2.3.3 Lễ hội 49

2.3.4 Các tài nguyên du lịch nhân văn khác 50

2.4 Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 53

2.4.1 Hệ thống giao thông vận tải 53

2.4.2 Hệ thống thông tin liên lạc 55

2.4.3 Hệ thống điện 55

2.4.4 Hệ thống cấp thoát nước 56

2.4.5 Các công trình phục vụ công cộng khác 57

2.5 Một số nhân tố kinh tế xã hội khác 57

2.5.1 Các chính sách văn hóa - xã hội, dân tộc, tôn giáo, kinh tế, đối ngoại 57

2.5.2 Môi trường xã hội 60

2.6 Đánh giá chung 61

2.6.1 Thời cơ và thuận lợi 61

2.6.2 Hạn chế và thách thức 63

Tiểu kết chương 2 64

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/v

Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH

LẠNG SƠN GIAI ĐOẠN 2005 - 2014 65

3.1 Hoạt động du lịch theo ngành 65

3.1.1 Nguồn khách 65

3.1.2 Doanh thu du lịch 67

3.1.3 Cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch 69

3.1.4 Nguồn nhân lực trong ngành du lịch 73

3.2 Thực trạng phát triển du lịch theolãnh thổ 75

3.2.1 Một số điểm du lịch 75

3.2.2 Một số tuyến du lịch 82

3.3 Đánh giá chung 84

3.3.1 Những kết quả đạt được 84

3.3.2 Những tồn tại 86

Tiểu kết chương 3 87

Chương 4 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH LẠNG SƠN TRONG XU THẾ HỘI NHẬP 88

4.1 Quan điểm và mục tiêu phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn 88

4.1.1 Quan điểm 88

4.1.2 Mục tiêu phát triển 88

4.2 Định hướng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn 90

4.2.1 Định hướng chung 90

4.2.2 Định hướng cụ thể 90

4.3 Một số giải pháp phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn 97

4.3.1 Giải pháp về công tác quy hoạch và tổ chức quản lý, thực hiện quy hoạch 97

4.3.2 Giải pháp về cơ chế chính sách 99

4.3.3 Giải pháp về đầu tư và huy động vốn đầu tư 99

4.3.4 Giải pháp về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực 101

4.3.5 Giải pháp về thị trường, xúc tiến quảng bá du dịch 101

4.3.6 Nhóm giải pháp về bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch 102

4.3.7 Giải pháp về hợp tác quốc tế phát triển du lịch 103

4.3.8 Nhóm giải pháp về bảo đảm an ninh quốc phòng 104

KẾT LUẬN 105

TÀI LIỆU THAM KHẢO 107 PHỤ LỤC

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/iv

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/v

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Mức độ thuận lợi của khí hậu đối với hoạt động du lịch

nghỉ dưỡng ở Lạng Sơn 41 Bảng 2.2 Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo

huyện, TP 45 Bảng 2.3 Số lượng di tích được xếp hạng phân bố theo các huyện

trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn 47 Bảng 3.1 Hiện trạng về cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng

Sơn giai đoạn 2005 - 2013 70 Bảng 3.2 Công suất phòng trung bình của các khách sạn ở Lạng Sơn

giai đoạn 2005- 2013 71

Trang 10

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/vi

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa 4 nhóm nhân tố của du lịch 9

Hình1.2 Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch 12

Hình 2.1 Bản đồ hành chính tỉnh Lạng Sơn 35

Hình 2.2 Bản đồ Tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Lạng Sơn 37

Hình 2.3 Cơ cấu dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2013 45

Hình 2.4 Bản đồ Tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Lạng Sơn 48

Hình 3.1 Hiện trạng khách du lịch đến Lạng Sơn giai đoạn 2005 - 2014 65

Hình 3.2 So sánh tình hình khách du lịch đến Lạng Sơn với các tỉnh trong khu vực trung du miền núi phía Bắc năm 2014 66

Hình 3.3 Doanh thu du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005 - 2014 68

Hình 3.4 Cơ cấu doanh thu du lịchtỉnh Lạng Sơn năm 2013 69

Hình 3.5 Hiện trang lao động du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005 - 2013 73

Hình 3.6 Bản đồ hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn 81

Hình 4.1 Bản đồ định hướng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn 96

Trang 11

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Du lịch là ngành kinh tế xuất hiện từ rất sớm trên Thế giới, được mệnh danh là

“ngành công nghiệp không khói” và có vai trò quan trọng trong đời sống của con

người Phát triển du lịch không những góp phần làm tăng trưởng GDP, giải quyết việc làm cho người lao động mà còn là đòn bẩy thúc đẩy các ngành kinh tế khác và

mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các dân tộc

Hiện nay, trong xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn

ra mạnh mẽ, du lịch đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm vị trí quan trọng trong nền kinh tế của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam Nhận thức rõ tầm quan trọng cũng những lợi thế, tiềm năng to lớn phát triển ngành du lịch nước ta, Nghị

quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã nhấn mạnh: “Phấn đấu đưa nước ta trở

thành một trung tâm du lịch, thương mại, dịch vụ có tầm cỡ khu vực”

Lạng Sơn là tỉnh nằm ở phía Đông Bắc Việt Nam, có TNDL phong phú, đa dạng Nơi đây có nhiều danh lanh thắng cảnh, hang động kỳ thú như: núi Mẫu Sơn,

động Tam Thanh, Nhị Thanh Với vị trí “phên dậu” che chắn phía Bắc của tổ quốc,

Lạng Sơn còn sở hữu những di tích lích sử ý nghĩa như: ải Chi Lăng, thành Nhà Mạc

“Xứ Lạng” cũng là quê hương của nhiều lễ hội truyền thống hấp dẫn và những món

ăn mang hương vị đặc trưng của miền núi Đông Bắc Lạng Sơn đã và đang trở thành

điểm đến hấp dẫn khách du lịch trong và ngoài nước

Tuy vậy ngành du lịch của Lạng Sơn phát triển chưa tương xứng với tiềm năng TNDL còn khai thác gần như đơn lẻ Đóng góp của du lịch trong GDP còn khiêm tốn, CSVCKT phục vụ cho kinh doanh du lịch chưa đồng bộ, khách lưu trú, đặc biệt là khách quốc tế còn rất ít, sự liên kết giữa các tour, các tuyến chưa hiệu quả, nhiều TNDL còn ở dạng tiềm năng

Xuất phát từ những nhu cầu cấp bách của thực tiễn trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu đi trước về vấn đề du lịch, chúng tôi lựa chọn nghiên cứuđề tài

“Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập”

2 Mục tiêu, nhiệm vụvà giới hạn nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Vận dụng cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch, đề tài tập trung đánh giá tiềm năng và phân tích thực trạng hoạt động du lịch của tỉnh Lạng Sơn Trên cơ

sở đó,đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch của tỉnhcó hiệu quả và bền vữngtrong xu thế hội nhập

Trang 12

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/2

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Đúc kết cơ sở lý luận và thực tiễn phát triển du lịch trong xu thế hội nhập để vận dụng vào việc nghiên cứu hoạt động du lịch tại tỉnh Lạng Sơn

- Đánh giá tiềm năng du lịch của tỉnh Lạng Sơn

- Phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh du lịch và khai thác các điểm, tuyến du lịch ở tỉnh Lạng Sơn

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch của tỉnh Lạng Sơn đến năm

2020 một cách hiệu quả và bền vững

2.3 Giới hạn nghiên cứu

- Về nội dung: Đề tài tập trung đánh giá tiềm năng, phân tích thực trạng phát

triển du lịch của tỉnh Lạng Sơn theo hai khía cạnh: ngành và lãnh thổ

- Về không gian: Đề tài nghiên cứu chủ yếutrên phạm vi tỉnh Lạng Sơn Tuy

nhiên du lịch là ngành kinh tế tổng hợp liên vùng nên đề tài cũng được xem xét trong mối quan hệ với các tỉnh, vùng lân cận

- Về thời gian:Các số liệu, thông tinthu thập phục vụnghiên cứu chủ yếu trong

Một trong những khía cạnh đầu tiên là nghiên cứu các yếu tố tác thành và các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động du lịch Những công trình nghiên cứu đầu tiên về

du lịch có tầm quan trọng trên thế giới có thể kể đến là những nghiên cứu về các loại hình du lịch, khảo sát về vai trò lãnh thổ, lịch sử, những nhân tố ảnh hưởng chính đến hoạt động du lịch…của Poser (1939), Christaleer (1955)…được tiến hành

ở Đức từ năm 1930 Tiếp theo đó là các công trình đánh giá các thể tổng hợp tự nhiên phục vụ giải trí của Mukhina (1973); nghiên cứu sức chứa và sự ổn định của các điểm du lịch của Khadaxkia (1972) vàSepfer (1973) Các nhà địa lí cảnh quan học của trường Đại học tổng hợp Matxcơva như E.D Xmirnova, V.B Nhefedova…đã nghiên cứu các vùng cho mục đích nghỉ dưỡng trên lãnh thổ Liên

Xô (cũ) Các nhà nghiên cứu Tiệp Khắc như Mariot (1971), Salavikova (1973) đã

Trang 13

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/3

tiến hành đánh giá và thành lập bản đồ TNDL tự nhiên và nhân văn Ngoài ra các nhà địa lí Mỹ như Bôhart (1971), nhà địa lí Anh H.Robison (1976), các nhà địa lí Canada như Vônfơ (1966)…cũng đã tiến hành đánh giá các loại tài nguyên thiên nhiên phục vụ mục đích du lịch Bên cạnh đó, một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu du lịch đã được quan tâm là vấn đề tổ chức lãnh thổ du lịch, các nhà địa

lí du lịch trên thế giới đã có nhiều công trình nổi tiếng về vấn đề này được xem là kim chỉ nan - là cơ sở lý luận có tính kế thừa cho các nghiên cứu về sau I.I Pirojnik (1985) - nhà địa lí du lịch người Bêlarut đã phân tích hệ thống lãnh thổ du lịch các vùng du lịch là đối tượng qui hoạch và quản lý Buchovarop (Bungari), N.X Mironhenke (Anh)…đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lí du lịch là hệ thống lãnh thổ du lịch các cấp hoặc thể tổng hợp lãnh thổ du lịch và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển du lịch [45].

Trong những năm gần đây, khi những lợi ích của du lịch trở nên rõ ràng hơn cũng như tác động của nó đối với hàng loạt vấn đề nảy sinh mang tính toàn cầu thì việc nghiên cứu du lịch gắn với sự phát triển vùng lại càng trở nên cần thiết Ở Pháp, Jean - Lozoto (1990) đã nghiên cứu và phân tích các tụ điểm du lịch Các nhà địa lí Anh, Mỹ gắn công việc nghiên cứu lãnh thổ du lịch với những dự án du lịch trên một miền hay một vùng cụ thể Nhìn chung, nhiều nhà địa lí đã xác định đối tượng nghiên cứu của địa lí du lịch là các hệ thống lãnh thổ hoặc tổng hợp lãnh thổ du lịch, tức là xác định các hệ thống địa bàn phát triển du lịch trên lãnh thổ và phân tích cơ cấu tổng hợp các yếu tố trên địa bàn để phát triển du lịch [45].

3.2 Ở Việt Nam

Lịch sử ngành du lịch Việt Nam được đánh dấu bắt đầu từ năm 1960, từ đó đến nay các công trình nghiên cứu địa lí du lịch nhìn chung vẫn chưa nhiều Phần lớn tập trung các vấn đề về tổ chức lãnh thổ không gian du lịch, cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu du lịch với một số các tác giả tiêu biểu như: Vũ Tuấn Cảnh, Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, Đặng Duy Lợi, Phạm Trung Lương…

Nhiều công trình nghiên cứu có giá trị trong lĩnh vực này đã được thực hiện

như: Đề tài “Tổ chức lãnh thổ du lịch Việt Nam” do Vũ Tuấn Cảnh chủ trì nghiên cứu (1991), “Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên và tài nguyên

du lịch biển Việt Nam” do Nguyễn Trần Cầu và Lê Thông chủ trì (1993); “Quyhoạch quốc gia và vùng, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu” do Vũ Tuấn Cảnh

- Lê Thông (1994); “Cơ sở địa lí du lịch” - Nguyễn Minh Tuệ (1994); “Tổ chức lãnh

Trang 14

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/4

thổ du lịch” - Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ (1999); “Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam” do Phạm Trung Lương chủ biên (2000); “Địa lý du lịch Việt Nam”-

Lê Thông, Nguyễn Minh Tuệ, (2010);“Quản lý di sản văn hóa với phát triển du lịch”

- Lê Hồng Lý chủ biên (2010), Gần đây, Tổng cục du lịch Việt Nam đã xuất bản

cuốn sách: “Di sản Thế giới ở Việt Nam” (2012)…

Ngoài ra, còn có nhiều công trình nghiên cứu, một số dự án, đề tài tiêu biểu cấp nhà nước, một số bài báo và các báo cáo trong các cuộc hội thảo về du lịch của Việt Nam, một

số luận văn, luận án, các đề tài quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của các địa phương được thực hiện với sự tham gia của các nhà khoa học địa lí trong và ngoài nước Tiêu biểu

như luận án tiến sĩ: “Tổ chức lãnh thổ du lịch thành phố Hải Phòng” - Nguyễn Thanh Sơn (1997); “Phát triển du lịch thành phố Hồ Chí Minh với việc khai thác tài nguyên du lịch

vùng phụ cận” - Đỗ Quốc Thông (2004); “Tổ chức lãnh thổ du lịch Hòa Bình trên quan điểm bền vững” - Phạm Lê Thảo (2006); và một số bài báo có giá trị trên các tạp chí Du

lịch Việt Nam, Nghiên cứu kinh tế, Toàn cảnh sự kiện và dư luận…

3.3 Tại Lạng Sơn

Tại Lạng Sơn đã có một số công trình nghiên cứu về du lịch đi sâu tìm hiểu

một số lĩnh vực cụ thể như: “Tài nguyên du lịch Lạng Sơn” (Tô Thị Quỳnh Giang - 1996), “Xây dựng tuyến điểm du lịch Lạng Sơn trong thời kỳ hội nhập”(Cao Hoàng

Hà - 2008), “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Lạng Sơn giai đoạn 2011- 2020

và tầm nhìn đến 2030 “ (Sở văn hóa thể thao và du lịch Lạng Sơn - 2009)

Tất cả những công trình nghiên cứu nêu trên là cơ sở khoa học quan trọng để tác

giả nghiên cứu đề tài: “Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập”

4 Các quan điểm và phương pháp nghiên cứu

4.1 Các quan điểm chủ yếu

4.1.1.Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Đối tượng địa lí phân bố trên phạm vi không gian nhất định và có đặc trưng lãnh thổ riêng Quan điểm này được vận dụng vào luận văn thông qua việc phân tích các tiềm năng cho phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong mối liên hệ tổng hợp các yếu

tố Đồng thời quan điểm này được áp dụng khi đánh giá các hoạt động du lịch, các vấn đề liên quan trong phát triển du lịch

Trang 15

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/5

4.1.2 Quan điểm hệ thống

Du lịch Lạng Sơn được xem là bộ phận của du lịch Bắc Bộ Trong khu vực, Lạng Sơn nằm trong không gian tiểu vùng du lịch miền núi Đông Bắc với các tuyến, trục du lịch đường bộ, đường sắt nối liền với các trung tâm du lịch lớn của cả nước Quan điểm

hệ thống cho phép phân tích, tổng hợp và xác định mối quan hệ hữu cơ trong hoạt động

sử dụng tài nguyên và phát triển KT - XH tỉnh Lạng Sơn Như vậy, khi đánh giá tiềm năng cũng như xác định hướng phát triển phải xem xét trong mối quan hệ đó

4.1.3 Quan điểm lịch sử

Áp dụng quan điểm lịch sử trong nghiên cứu hệ thống lãnh thổ để tìm hiểu nguồn gốc phát sinh, các quá trình diễn biến theo thời gian và không gian trên từng địa bàn cụ thể Trên cơ sở đó hiểu rõ những sự kiện có thật trong lịch sử để rút ra những bài học kinh nghiệm áp dụng cho hoạt động du lịch

Lạng Sơn là tỉnh có chiều dài lịch sử vẻ vang từ thời dựng nước và giữ nước với nhiều di tích lịch sử còn mãi đến ngày nay Đây là tài nguyên quan trọng và đang được khai thác phục vụ mục đích du lịch

4.1.4 Quan điểm thực tiễn

Quan điểm thực tiễn được vận dụng để đánh giá đặc điểm, hiện trạng sử dụng lãnh thổ cũng như trong việc đề xuất định hướng sử dụng hợp lý tài nguyên lãnh thổ với những kiến nghị giải pháp có tính khả thi Tất cả những giải pháp đưa ra đều xuất phát từ thực tiễn Không thể đánh giá cũng như đưa ra các giải pháp nếu không xuất phát từ thực tiễn Quan điểm này chi phối tới giới hạn nghiên cứu của đề tài

4.1.5 Quan điểm phát triển bền vững

Du lịch hiện nay đang trở thành một ngành kinh tế đem lại hiệu quả kinh tế cao Tuy nhiên phát triển du lịch phải gắn với việc bảo vệ và tôn tạo nguồn tài nguyên, môi trường sinh thái bền vững Từ đó có những kế hoạch và biện pháp phù hợp để khai thác có hiệu quả TNDL cũng như làm tốt công tác bảo tồn và tôn tạo Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn cần phải gắn với việc bảo vệ môi trường trong sạch,

có những biện pháp kịp thời ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực từ các hoạt động du lịch đến môi trường tự nhiên, văn hóa và xã hội của tỉnh

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

4.2.1 Phương pháp thu thập và xử lí số liệu, tài liệu

Phương pháp này thực hiện nhằm nghiên cứu, xử lý các tài liệu trong phòng, dựa trên cơ sở các số liệu, tư liệu, tài liệu từ các nguồn khác nhau và từ thực tế Sau

đó xử lý chúng để có được những kết luận cần thiết Các tư liệu có thể là các công

Trang 16

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/6

trình nghiên cứu trước đó, các bài viết, các báo cáo, kinh doanh, báo cáo tổng kết…Phương pháp này giúp tiết kiệm được thời gian, tiền bạc mà vẫn có được một tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu

Số liệu thống kê là một dạng tài liệu cần thiết trong quá trình thu thập tài liệu Các bảng biểu với những số liệu tương đối cũng như tuyệt đối chính là nguồn tài liệu nói lên thực trạng hoạt động cũng như phát triển của đối tượng Số liệu phục vụ cho nghiên cứu đề tài được lấy từ các nguồn: Tổng cục thống kê, Cục thống kê Lạng Sơn, UBNDtỉnh Lạng Sơn, Sở văn hóa thể thao và du lịch tỉnh Lạng Sơn…

4.2.2 Phương pháp thực địa

Đây là phương pháp nghiên cứu nhằm góp phần làm cho kết quả mang tính xác thực, khắc phục hiệu quả những hạn chế của phương pháp thu thập, xử lí số liệu trong phòng Các hoạt đông chính khi tiến hành phương pháp này bao gồm: quan sát,

mô tả, điều tra, ghi chép, chụp ảnh…tại các điểm nghiên cứu; gặp gỡ, trao đổi với các

cơ quan quản lí tài nguyên, các cơ quan quản lí chuyên ngành của địa phương

4.2.3 Phương pháp bản đồ - biểu đồ

Để kết quả nghiên cứu được thể hiện một cách trực quan, đề tài đã áp dụng phương pháp bản đồ, biểu đồ trên cơ sở phân tích, đánh giá tổng hợp các chỉ tiêu định lượng, định tính Đây là phương pháp quan trọng xác định sự phân bố, mức độ tập trung theo lãnh thổ của các đối tượng (điểm, tuyến, cụm du lịch) nghiên cứu trong không gian, đồng thời thể hiện mối liên hệ với các khu vực lân cận của địa bàn nghiên cứu Bản đồ được thành lập bằng việc sử dụng kỹ thuật GIS với phần mềm MapInfo

4.2.4 Phương pháp SWOT

SWOT là công cụ - phương pháp phân tích những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức Đây là một khung lập kế hoạch mà thông qua đó các cộng đồng có thể nêu lên những ưu tiên, xác định mối quan tâm về du lịch như là một trong những hoạt động triển vọng cho việc tạo thu nhập, sự sẵn sàng của cộng đồng cho việc phát triển và họ có thể thể hiện những lo lắng về việc phát triển du lịch Đây là một bước hữu ích nhất trước khi bước vào đánh giá chi tiết

4.2.5 Phương pháp phân tích kinh tế

Phương pháp phân tích kinh tế giúp thiết kế và lựa chọn các dự án, phương án trong du lịch Chúng cũng có thể giúp nhận diện rủi ro và đánh giá tính bền vững của hoạt động du lịchtừ đó đưa ra những kết luận, cũng như xem xét hiệu quả trong hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn nghiên cứu với các lãnh thổ phụ cận

Trang 17

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/7

4.2.6 Phương pháp dự báo

Để đánh giá và xác định các vấn đề trong nội dung có liên quan, dựa vào các nguyên nhân, hệ quả và tính thống nhất trong việc nghiên cứu tổ chức lãnh thổ du lịch một cách hợp lý, từ đó dự báo các chỉ tiêu phát triển du lịch trong tương lai của địa phương

5 Những đóng góp của đề tài

- Tổng quan có chọn lọc về cơ sở l luận và cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch trong xu thế hội nhập và áp dụng vào nghiên cứu ở một địa bàn cụ thể tỉnh Lạng Sơn

- Đánh giá những tiềm năng chủ yếu cho phát triển du lịch Lạng Sơn

- Phân tích hiện trạng phát triển du lịch Lạng Sơn trong xu thế hội nhập

- Đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm phát triển du lịch Lạng Sơn bền vững, đạt hiểu quả cao

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung chính của luận văn được chia làm 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch trong xu thế hội nhập Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn

Chương 3: Thựctrạng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005-2014 Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu

thế hội nhập

Trang 18

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/8

Thuật ngữ “du lịch” ngày nay được sử dụng phổ biến trên thế giới Tuy nhiên,

có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc thuật ngữ này

Theo một số học giả, du lịch được bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp “tonos” với ý nghĩa là “đi một vòng” Thuật ngữ này được La Tinh hóa thành “turnur” và sau đó thành “tour” (tiếng Pháp), nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi, còn “touriste” là người đi dạo chơi Theo Robert Langquar (năm 1980), từ “tourism” (du lịch) lần đầu

tiên xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1800 và được quốc tế hóa nên nhiều nước

đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa Một số học giả khác lại cho rằng du lịch

không phải bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp mà từ tiếng Pháp “le tour”,có nghĩa là một

cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hưởng ra phạm

vi toàn thế giới [41]

Cũng tương tự như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm du lịch

Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch

là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí” Khái niệm này tương đối đơn giản và coi giải trí là động cơ chính

của hoạt động du lịch.[41]

Năm 1930, Glusman (Thụy Sĩ) định nghĩa: “Du lịch là sự chinh phục không

gian của những người hướng đến một địa điểm mà ở đó họ không có chỗ cư trú thường” Cho rằng du lịch không chỉ là hiện tượng di chuyển của cư dân mà phải là

tất cả những gì có liên quan đến sự di chuyển đó.[41]

Trang 19

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/9

Năm 1941, Hunziker và Kraff (Thụy Sĩ) cho rằng: “Du lịch là tập hợp các mối

quan hệ và hiện tượng bắt nguồn từ cuộc hành trình và lưu trú tạm thời của các cá nhân tại những nơi không phải là nơi ở và nơi làm việc thường xuyên của họ”.[27]

Theo I.I Pirojnik (năm 1985): “Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư

trong thời gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu trú tạm thời bên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần nhằm nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thể thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa”.[41]

Trong quá trình hoạt động du lịch, thực tế chỉ ra rằng, tiếp cận cộng đồng mới đảm bảo cho sự phát triển lâu dài Dựa trên tiếp cận này Michael M Coltman (Mỹ)

đã định nghĩa “Du lịch là sự kết hợp và tương tác của bốn nhóm nhân tố trong quá

trình phục vụ du khách bao gồm: du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, cư dân sở tại và chính quyền nơi đón khách du lịch”.[10]

Mối quan hệ đó thể hiện qua sơ đồ:

Hình 1.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa 4 nhóm nhân tố của du lịch [10]

Tại hội nghị lần thứ 27 (năm 1993) của UNWTO đã đưa ra khái niệm du lịch

thay thế cho khái niệm năm 1963: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi

khác với môi trường sống thường xuyên (usual environment) của con người và ở lại

đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm”.[41]

Trong Luật Du lịch Việt Nam (ban hành năm 2005), tại Điều 4,Chương I, định

nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư

trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”.[15]

Chính quyền địa phương nơi đón khách

du lịch

Nhà cung ứng dịch vụ

Du khách

Dân cư sở tại

Trang 20

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/10

Như vậy, có thể thấy có sự biến đổi trong nhận thức về nội dung bản chất của thuật ngữ du lịch Tuy nhiên theo thời gian,các quan niệm này dần hoàn thiện Trong điều kiện của nước ta hiện nay, quan niệm phổ biến được công nhận rộng rãi là quan

niệm được trình bày trong Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005)

b. Khách du lịch

Khái niệm “Khách du lịch” hay “du khách”, xuất hiện lần đầu tiên tại Pháp

vào cuối thế kỉ XVIII Tới nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về khách du lịch Theo một số nhà nghiên cứu, định nghĩa đầu tiên về khách du lịch xuất hiện vào

cuối thế kỷ XVIII tại Pháp: “Khách du lịch là những người thực hiện một cuộc hành

trình lớn”(cuộc hành trình dọc theo bờ Địa trung Hải, xuống phía tây nam nước Pháp

và vùng Bourgone).[41]

Vào đầu thế kỷ XX, nhà kinh tế học người Áo, Josef Stander định nghĩa:

“Khách du lịch là những hành khách đi lại, ở lại theo ý thích ngoài nơi cư trú thường

xuyên để thỏa mãn nhu các nhu cầu sinh hoạt cao cấp mà không theo đuổi mục đích kinh tế”.[41]

Theo Khadginicolov (Bungari):“Khách du lịch là người hành trình tự nguyện,

với mục đích hòa bình Trong cuộc hành trình của mình, họ đi qua những chặng đường khác nhau và thay đổi một hoặc nhiều lần nơi cư trú của mình”.[41]

Như vậy có rất nhiều quan niệm về khách du lịch Điểm chung nhất đối với các nước trong cách hiểu khái niệm về khách du lịch là: Khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên của mình đến một nơi nào đó, quay trở lại với mục đích khác nhau, loại trừ mục đích làm công và nhận thù lao ở nơi đến; có thời gian lưu lại

ở nơi đến từ 24 giờ trở lên (hoặc có sử dụng dịch vụ lưu trú qua đêm) nhưng không quá thời gian một năm Khách du lịch là những người tạm thời ở tại nơi họ đến du lịch với các mục tiêu như nghỉ ngơi, kinh doanh, hội nghị hoặc thăm gia đình

Luật du lịch Việt Nam tại Khoản 2, Điều 4, Chương I quy định: “Khách du

lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp đi học, làm việc hoặc ngành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến”.[15]

Khách du lịch được phân chia làm 2 nhóm cơ bản: khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa

“Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại

Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam”.[15]

“Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước

ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch”.[15]

Trang 21

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/11

c. Sản phẩm du lịch

Theo Michael M.Coltman: “Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các

thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình”.[26]

Theo Luật Du lịch Việt Nam: “Sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần

thiết để thỏa mãn như cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch”.[15]

Sản phẩm du lịch bao gồm hai bộ phận: Dịch vụ du lịch và Tài nguyên du lịch.[15]

Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch

- Dịch vụ du lịch gồm có các dịch vụ về: lữ hành; vận chuyển; lưu trú, ăn uống; vui chơi giải trí; mua sắm; thông tin, hướng dẫn; dịch vụ trung gian và dịch vụ bổ sung

- TNDL gồm có: TNDL tự nhiên và TNDL nhân văn

1.1.2 Những nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành và phát triển du lịch

a Vị trí địa lí

Trong quá trình phát triển du lịch, vị trí địa lí là một trong những nguồn lực quan trọng để phát triển du lịch Vị trí địa lí bao gồm vị trí về mặt tự nhiên (các chỉ tiêu về giới hạn, tọa độ, giới hạn lãnh thổ và các điểm đặc biệt có liên quan) và vị trí địa lí KT - XH, chính trị

Đối với hoạt động du lịch, có hai yếu tố về vị trí cần xét đến là điểm đến nằm trong khu vực phát triển du lịch ở mức độ nào và khoảng cách từ điểm đến tới nơi phát sinh nhu cầu du lịch ngắn hay dài Tuy nhiên, để xét điểm đến du lịch chịu ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực từ vị trí địa lí thì còn phải xét trong loại hình du lịch nào,

ví dụ như đối với loại hình du lịch sinh thái, mạo hiểm thì vị trí thuận lợi gần đường giao thông chưa chắc đã có ý nghĩa Đối với các loại hình du lịch còn lại thì vị trí địa

l có ảnh hưởng lớn đến sự hấp dẫn của điểm đến Một điểm đến có nhiều tài nguyên, cảnh quan đẹp và hấp dẫn nhưng vị trí ở quá xa đường giao thông thì lượng khách đến chưa chắc đã nhiều

b Tài nguyên du lịch

* Khái niệm tài nguyên du lịch

TNDL là loại tài nguyên có những đặc điểm giống những loại tài nguyên nói chung, song có một số đặc điểm riêng gắn với sự phát triển của ngành du lịch

Trang 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/12

Địa

hình

Khí hậu

Thủy

văn Sinh vật

Di tích

VH -

LS

Lễ hội

Dân tộc học

Nhân văn khác

DI SẢN HỖN HỢP

Theo Pirojnik: “Tài nguyên du lịch là những tổng thể tự nhiên, văn hóa lịch

sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh thần của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, chúng được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch

và nghỉ ngơi”.[22]

Theo Nguyễn Minh Tuệ: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên và văn hóa

lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi khục, phát triển thể lực, trí tuệ của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ Những tài nguyên này được sử dụng cho nhu cầu trực tiếp và gián tiếp, cho việc sản xuất dịch vụ du lịch”.[38]

Luật Du lịch Việt Nam qu 4 (Điều 4, Chương I): “Tài

nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử văn hóa, công trình lao động sáng tạo của con người và các giá trị nhân văn khác có thể được sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch”.[15]

* Phân loại tài nguyên du lịch

TNDL rất phong phú đa dạng, vì thế có nhiều cách phân loại tùy thuộc vào việc sử dụng các tiêu chí khác nhau

Trong luật Du lịch Việt Nam (năm 2005), TNDL được chia làm 2 nhóm cơ bản theo sơ đồ:

Hình1.2: Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch[41]

Trang 23

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/13

* Tài nguyên tự nhiên

Tài nguyên tự nhiên gồm các yếu tố, các thành phần tự nhiên, các hiện tượng, các quá trình biến đổi chung hoặc có thể được khai thác và sử dụng vào đời sống và sản xuất của con người

Theo Khoản 1 (Điều 13, Chương II) Luật Du lịch Việt Nam năm 2005 quy

định: “Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yếu tố địa chất, địa hình, địa mạo, khí

hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan tự nhiên đang được khai thác hoặc có thể được

sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.[15]

- Địa hình: là một thành phần quan trọng của tự nhiên, là sản phẩm của quá

trình địa chất lâu dài Các quá trình địa chất là nguyên nhân tạo ra bề mặt địa hình,

là nơi diễn ra các hoạt động của du khách, đồng thời cũng là nơi xây dựng các công trình thuộc CSHT và CSVCKT phục vụ du lịch

Các đơn vị hình thái chính của địa hình là đồi núi, cao nguyên, đồng bằng, ven biển và đảo , địa hình đồi núi, cao nguyên có nhiều điều kiện phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch tham quan, nghỉ dưỡng, du lịch thể thao

Ngoài các dạng địa hình chính, các dạng địa hình đặc biệt có ý nghĩa với du lịch cần được quan tâm là dạng địa hình Karst và địa hình ven bờ

- Khí hậu: Khí hậu là thành phần quan trọng của tự nhiên có tác động đối với

hoạt động du lịch Trong các tiêu chí của khí hậu, đáng chú ý nhất là hai tiêu chí chính: nhiệt độ và độ ẩm không khí Ngoài ra một số yếu tố khác như gió, lượng mưa, thành phần lý hóa, vi sinh của không khí, áp suất khí quyển, ánh nắng mặt trời và các hiện tượng thời tiết đặc biệt Mỗi loại hình du lịch đòi hỏi những điều kiện khí hậu khác nhau Để xác định mức độ thích nghi của khí hậu đối với con người các nhà nghiên cứu

sử dụng các chỉ tiêu khí hậu sinh học (Phụ lục 1).[41]

Tính mùa vụ của du lịch chịu tác động chủ yếu của nhân tố khí hậu Phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, hoạt động du lịch có thể diễn ra quanh năm hoặc trong một vài tháng Các địa phương khác nhau có tính mùa du lịch không như nhau

Ngoài ra, điều kiện thời tiết cũng có ảnh hưởng đến việc thực hiện các chuyến

đi hoặc hoạt động du lịch Ở mức độ nhất định, cần phải lưu ý tới những hiện tượng thời tiết đặc biệt làm cản trở tới kế hoạch du lịch, ví dụ như những tai biến thiên nhiên (bão, gió mùa, lũ lụt )

Trang 24

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/14

- Thủy văn: Nước được coi là tài nguyên quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi để

phát triển du lịch nói chung và để phát triển nhiều loại hình du lịch Tài nguyên nước phục vụ du lịch bao gồm nước trên mặt, nước dưới đất và nước khoáng Trong đó, nguồn nước trên mặt có ý nghĩa to lớn nhất Ngoài ra, cần phải nói đến nguồn nước khoáng với những thành phần vật chất đặc biệt (các nguyên tố hóa học, chất khí, nguyên tố phóng xạ…) hoặc có một số tính chất vật lý (nhiệt độ, độ pH…) có tác dụng đối với sức khỏe con người; đây là nguồn tài nguyên có giá trị cho du lịch an dưỡng và chữa bệnh

- Sinh vật: Tài nguyên sinh vật bao gồm toàn bộ các loài thực vật, động vật

sống trên lục địa và dưới nước vốn có sẵn trong tự nhiên và do con người thuần dưỡng, chăm sóc, lai tạo

Tài nguyên sinh vật vừa góp phần cùng với các loại tài nguyên khác tạonên phong cảnh đẹp, hấp dẫn, vừa có ý nghĩa bảo vệ môi trường như: bảo vệ nguồn gen, che phủ cho mặt đất, hạn chế hiện tượng xói mòn, xâm thực, rửa trôi ở miền núi, hạn chế được hiện tượng xâm thực, động tiêu cực của sóng thần, các vùng ven biển Thảm thực vật còn cung cấp chất mùn cho thổ nhưỡng, được coi là máy điều hòa tự nhiên, lọc không khí, làm cho không khí thêm trong lành mát mẻ

Tài nguyên sinh vật là nguồn cung cấp nhiều loại dược liệu cho việc phát triển các loại hình du lịch chữa bệnh và nghỉ dưỡng, cung cấp nguồn thực phẩm cho du khách Vì vậy, tài nguyên sinh vật có ý nghĩa cho việc phát triển nhiều loại hình du lịch như: du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái, cùng với tài nguyên nước và địa hình góp phần phát triển du lịch sông nước, miệt vườn

* Tài nguyên nhân văn

TNDL nhân văn là tài nguyên có nguồn gốc nhân tạo do con người sáng tạo ra Tuy nhiên chỉ có những tài nguyên nhân văn có sức hấp dẫn với du khách và có thể khai thác phát triển du lịch để tạo ra hiệu quả xã hội, kinh tế, môi trường mới được gọi là TNDL nhân văn

Vì vậy TNDL nhân văn thường là những giá trị văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của mỗi địa phương, mỗi quốc gia

Theo Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005) quy định tại điều 13, chương II: “Tài

nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng

sử dụng phục vụ mục đích du lịch”.[15]

Trang 25

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/15

Ở Việt Nam, theo Luật di sản văn hóa (năm 2001) thì: “Di sản văn hóa là

những công trình xây dựng và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc các công trình, địa điểm có giá trị lịch sử - văn hóa và khoa học” Di sản văn hóa được phân

chia thành di tích văn hóa - khảo cổ, di tích lịch sử, di tích văn hóa nghệ thuật và các loại danh lam thắng cảnh.[14], [41]

- Lễ hội

Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa tập thể của nhân dân sau thời gian lao động vất vả, là dịp để mọi người thể hiện lòng nhớ ơn tổ tiên, những người có công với địa phương, với đất nước, có liên quan đến những lễ nghi, tôn giáo hoặc là những hoạt động vui chơi giải trí, là dịp để tăng thêm tinh thần đoàn kết cộng đồng

“Lễ hội đã dệt nên tấm thảm muôn màu mà ở đó mọi sự đan quyện vào nhau, thiêng liêng và trần tục, nghi lễ và hồn hậu, truyền thống và phóng khoáng, của cải và khốn khổ, cô đơn và kết đoàn, trí tuệ và bản năng” - (Tạp chí Người đưa tin

UNESCO, 12/1989) Như vậy lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa truyền thống

có sức lôi cuốn đông người tham gia và trở thành nhu cầu trong đời sống tinh thần của nhân dân và là TNDL hấp dẫn du khách

Các lễ hội thường bao gồm hai phần: phần nghi lễ và phần hội Thời gian diễn

ra lễ hội thường khác nhau Nhìn chung, chúng thường diễn ra vào mùa xuân Có lẽ là thời điểm bắt đầu mỗi năm mới, con người có nhu cầu thông qua các lễ hội dân tộc để nạp thêm năng l ng sống nhằm tiếp tục tồn tại và phát triển Ở một chừng mực nhất định, lễ hội cũng tạo ra tính mùa của du lịch

Khi đánh giá ý nghĩa của lễ hội với du lịch người ta thường tập trung các tiêu chí sau: Thời gian diễn ra lễ hội (mùa nào, tháng nào), quy mô của lễ hội; địa điểm diễn ra lễ hội.[41]

Trang 26

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/16

- Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học

Mỗi dân tộc có những điều kiện sinh sống, đặc điểm văn hóa, phong tục tập quán, hoạt động sản xuất mang sắc thái riêng của mình trên địa bàn cư trú nhất định Những đặc thù riêng của từng dân tộc có sức hấp dẫn riêng đối với khách du lịch Các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học có giá trị du lịch là các tập tục về cư trú, về tổ chức xã hội, về thói quen ăn uống sinh hoạt, về kiến trúc cổ, các nét truyền thống trong quy hoạch cư trú và xây dựng, trang phục dân tộc [41]

-Làng nghề thủ công truyền thống

Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, làng nghề là những làng sống bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam

Còn theo Bùi Văn Vương: “Làng nghề thủ công là trung tâm sản xuất hàng

thủ công, nơi quy tụ các nghệ nhân và nhiều hộ gia đình chuyên làm nghề mang tính truyền thống lâu đời”

Các sản phẩm thủ công cổ truyền không những mang những giá trị sử dụng mà còn có giá trị về mỹ thuật, giá trị triết học, tâm linh thể hiện tài nghệ, tâm ước, ước vọng của người làm ra chúng Chính vì vậy, mà các làng nghề thủ công là nguồn TNDL nhân văn quý giá hấp dẫn du khách, nhất là du khách quốc tế.[41], [45]

- Các đối tượng văn hóa, thể thao và hoạt động nhận thức khác

Các đối tượng văn hóa cũng thu hút khách với mục đích tham quan, nghiên cứu như: trung tâm của các viện khoa học, các thư viện lớn và nổi tiếng, các thành phố có triển lãm nghệ thuật, các trung tâm thường xuyên tổ chức liên hoan âm nhạc, sân khấu, điện ảnh, các cuộc thi đấu thể thao quốc tế, biểu diễn ba lê, các cuộc thi hoa hậu…Các đối tượng văn hóa thường tập trung ở các thủ đô và thành phố lớn vì thế các thành phố này trở thành những trung tâm lớn về du lịch văn hóa

Các thành tựu kinh tế của mỗi quốc gia hay địa phương cũng có sức hấp dẫn đặc biệt đối với phần lớn khách du lịch

c Các nhân tố kinh tế - xã hội và chính trị

- Dân cư và lao động

Dân cư và nguồn lao động là nguồn lực quan trọng của nền sản xuất xã hội Cùng với hoạt động lao động, dân cư còn có nhu cầu nghỉ ngơi và du lịch Số dân càng đông thì số người tham gia vào các hoạt động du lịch càng nhiều Việc nắm vững số dân, thành phần dân tộc, đặc điểm nhân khẩu, sự phân bố và mật độ dân cư

có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển du lịch

Trang 27

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/17

- Sự phát triển của nền sản xuất xã hội và các ngành kinh tế

Sự phát triển của nền sản xuất xã hội có tầm quan trọng hàng đầu làm xuất hiện nhu cầu du lịch và biến nhu cầu của con người thành hiện thực Không thể nói tới nhu cầu hoặc hoạt động du lịch của xã hội nếu như lực lượng sản xuất còn ở trong tình trạng thấp kém

Trong nội bộ nền kinh tế, hoạt động của một số ngành như công nghiệp, nông nghiệp và cả giao thông vận tải có ý nghĩa quan trọng để phát triển du lịch

+ Công nghiệp cùng với cách mạng khoa học - công nghệ đã tạo nên những tiền đề nâng cao thu nhập của người lao động, đồng thời làm tăng khả năng đi du lịch

+ Nông nghiệp cũng có ý nghĩa lớn vì du lịch không thể phát triển được nếu như không đảm bảo được việc ăn uống cho khách du lịch Trong những ngày du lịch, khách cần có nguồn thực phẩm đa dạng từ nông nghiệp, trong đó các món đặc sản đã trở thành TNDL Sự có mặt của nguồn hoa quả, rau xanh, thảo mộc mở ra khả năng phát triển du lịch chữa bệnh

+ Giao thông cũng là một trong những tiền đề quan trọng để phát triển du lịch Nhờ mạng lưới giao thông hoàn thiện mà du lịch có điều kiện phát triển với tốc độ nhanh Bên cạnh tốc độ, sự đảm bảo về an toàn, tiện nghi, cùng giá thành hạ làm cho hoạt động vận tải ngày càng đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành du lịch

-Điều kiện an ninh chính trị và an toàn xã hội

Điều kiện an ninh đảm bảo, chính trị ổn định là cơ sở cho việc hình thành và phát triển các mối quan hệ ở mọi lĩnh vực của thế giới, đặc biệt là trong thời đại toàn cầu hóa như hiện nay Trên phạm vi quốc tế, du lịch ngày càng mở rộng Du lịch nói chung và du lịch quốc tế nói riêng chỉ có thể phát triển trong bầu không khí hòa bình,

ổn định, trong tình hữu nghị giữa các dân tộc Ngược lại du lịch có tác dụng trở lại đến việc củng cố hòa bình Thông qua du lịch quốc tế con người thể hiện nguyện vọng nóng bỏng của mình là được sống, lao động trong hòa bình và tình hữu nghị

Điều kiện đảm bảo về y tế trước các dịch bệnh cũng ảnh hưởng đến tâm lý và nhu cầu của du khách Thêm vào đó, các tai biến thiên nhiên (như động đất, sóng thần, lũ lụt ) gây mất an toàn cũng là những nhân tố ảnh hưởng không nhỏ đến khả năng thu hútkhách của các quốc gia và vùng lãnh thổ

Trang 28

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/18

- Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch

Nhu cầu nghỉ ngơi du lịch và sự thay đổi của nó theo thời gian và không gian trở thành một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình ra đời và phát triển du lịch Nhu cầu nghỉ ngơi, du lịch mang tính chất KT - XH là sản phẩm của sự phát triển xã hội Nó được hình thành trong quá trình phát triển KT - XH dưới tác động của các nhân tố khách quan thuộc môi trường bên ngoài và phụ thuộc trước hết vào phương thức sản xuất Cụ thể hơn đó là nhu cầu của con người về khôi phục sức khỏe và khả năng lao động, thể chất và tinh thần bị hao phí trong quá trình sống

- Cách mạng khoa học - công nghệ và xu hướng hội nhập quốc tế

Những tiến bộ của các cuộc cách mạng khoa học - công nghệ trong thế kỷ XX

và sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng toàn cầu hóa là những nhân tố trực tiếp làm nảy sinh nhu cầu và hoạt động du lịch

- Đô thị hóa

Là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất, đô thị hóa được xem như một trong những nhân tố phát sinh góp phần đẩy mạnh nhu cầu du lịch Đô thị hóa có những đóng góp to lớn trong việc cải thiện điều kiện sống của nhân dân về phương diện vật chất và văn hóa, thay đổi tâm lý và hành vi của con người Mặt khác, đô thị hóa cũng bộc lộ ra những mặt trái của nó Nó làm biển đổi các điều kiện sống tự nhiên, tách con người ra khỏi môi trường xung quanh, thay đổi không khí Từ những mặt trái đó, nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí trở thành một trong những nhu cầu không thể thay thế được của người dân thành phố Nhu cầu này làm xuất hiện một loạt các loại hình du lịch đặc biệt, đặc biệt là du lịch ngắn ngày

- Điều kiện sống

Điều kiện sống của dân cư là nhân tố quan trọng để phát triển du lịch Nó được hình thành nhờ việc tăng thu nhập thực tế và cải thiện điều kiện sinh hoạt, nâng cao khẩu phần ăn uống, phát triển đầy đủ mạng lưới y tế, văn hóa, giáo dục

- Thời gian rỗi

Du lịch trong nước và quốc tế không thể phát triển được nếu con người thiếu thời gian rỗi Nó thực sự trở thành một trong những nhân tố quan trọng thúc đẩy hoạt động du lịch

Trang 29

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/19

d Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật

-Cơ sở hạ tầng

CSHT nói chung có vai trò đặc biệt đối với việc đẩy mạnh du lịch Về phương diện này, mạng lưới và phương tiện giao thông là những nhân tố quan trọng hàng đầu

+ Du lịch gắn với sự di chuyển của con người trên một khoảng cách nhất định

Nó phụ thuộc vào mạng lưới đường sá và phương tiện giao thông Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn đối với khách du lịch, nhưng vẫn không thể khai thác được khi thiếu nhân tố giao thông Việc phát triển giao thông cho phép mau chóng khai thác các nguồn TNDL mới Chỉ có thông qua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng thì du lịch mới trở thành hiện tượng phổ biến trong xã hội

+ Thông tin liên lạc là một phần quan trọng trong CSHT của hoạt động du lịch Nó là điều kiện cần thiết để đảm bảo thông tin cho khách du lịch trong nước và quốc tế Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông và các phương tiện vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiệm việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời, góp phần thực hiện các mối giao lưu trong nước và quốc tế

+ Trong CSHT phục vụ du lịch còn phải đề cập đến hệ thống các công trình cấp điện, nước, mà sản phẩm của nó phục vụ trực tiếp cho việc nghỉ ngơi giải trí của khách

Như vậy, CSHT là tiền đề và trở thành đòn bẩy của mọi hoạt động kinh tế, trong đó có du lịch

-Cơ sở vật chất - kỹ thuật

CSVCKT du lịch đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra sản phẩm du lịch, cũng như quyết định mức độ khai thác các tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu du khách Chính vì có vai trò quan trọng như vậy nên sự phát triển ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện CSVCKT

+ Cơ sở lưu trú du lịch

“Cơ sở lưu trú du lịch là cơ sở cho thuê buồng, giường và cung cấp các dịch

vụ khác phục vụ khách lưu trú, trong đó khách sạn là cơ sở lưu trú du lịch chủ yếu”

(Theo điều 4, khoản 12, Luật du lịch Việt Nam, 2005).[15]

Có nhiều loại hình cơ sở lưu trú nhưng nhìn chung, các cơ sở lưu trú bao gồm:

“khách sạn, làng du lịch, biệt thự du lịch, căn hộ du lịch, bãi cắm trại du lịch, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng khách du lịch thuê và các cơ sở lưu trú du lịch khác”

(điều 62, mục 4, chương IV, Luật du lịch Việt Nam, 2005).[15]

Trang 30

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/20

+ Mạng lưới cửa hàng ăn uống, dịch vụ thương mại

Đây là một bộ phận trong cơ cấu CSVCKT phục vụ du lịch Mục đích của chúng là đáp ứng nhu cầu về ăn uống, mua sắm hàng hóa của khách du lịch (trong nước cũng như quốc tế) bằng việc bán các mặt hàng đặc trưng cho du lịch, hàng thực phẩm và các hàng hóa khác

+ Cơ sở thể thao

Cơ sở thể thao là một bộ phận của CSVCKT du lịch Chúng có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho kỳ nghỉ của du khách, làm cho kỳ nghỉ đó trở nên tích cực hơn Các cơ sở thể thao gồm có các công trình thể thao, các phòng tập thể thao hay trung tâm thể thao với nhiều loại khác nhau, các thiết bị chuyên dụng cho mỗi loại

+ Cơ sở y tế chữa bệnh

Các cơ sở y tế chữa bệnh có mục đích phục vụ du lịch chữa bệnh và cung cấp dịch vụ bổ sung tại các điểm du lịch CSVCKT ở đây bao gồm các trung tâm chữa bệnh (bằng nước khoáng, ánh nắng mặt trời, bùn, các món ăn kiêng ), các phòng y tế với các trang thiết bị trong đó (phòng tắm hơi, massage )

Các cơ sở y tế thư giãn, chữa bệnh luôn gắn liền với các công trình thể thao và

có thể được bố trí ngay trong khu vực khách sạn

+ Cơ sở vui chơi giải trí hoạt động thông tin văn hóa

Các cơ sở này nhằm mục đích giúp cho khách vui chơi, giải trí, mở rộng kiến thức văn hóa xã hội, tạo điều kiện giao tiếp, quảng bá về truyền thông, thành tựu văn hóa của các dân tộc Chúng bao gồm cơ sở vui chơi giải trí cũng như các trung tâm văn hóa, thông tin, phòng chiếu phim, nhà hát, câu lạc bộ, phòng triển lãm và có thể được bố trí hoặc trong khách sạn, hoặc hoạt động một cách độc lập tại các trung tâm du lịch

+ Cơ sở phục vụ các dịch vụ bổ sung khác

Các cơ sở này là điều kiện bổ sung, giúp cho khách sử dụng hiệu quả hơn thời gian du lịch, tạo thêm sự thuận tiện khi họ lưu trú tại điểm du lịch Các dịch vụ bổ sung bao gồm trạm xăng dầu, trạm cấp cứu (ở biển hoặc núi), xưởng sửa chữa dụng

cụ thể thao, hiệu cắt tóc, giặt là, tiệm thẩm mĩ, cửa hàng dịch vụ về ảnh

Tại các điểm du lịch, chúng góp phần làm tăng tính đồng bộ của hệ thống dịch

vụ du lịch Chính các dịch vụ này trong hệ thống CSVCKT có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo ra và thực hiện toàn bộ sản phẩm du lịch

Trang 31

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/21

1.1.3 Một số hình thức tổ chức lãnh thổ du lịch

Hệ thống phân vị trong phân vùng luôn là đề tài gây tranh cãi Đối với việc nghiên cứu du lịch, vấn đề các cấp phân vị cũng không phải là trường hợp ngoại lệ Nhiều nước, trong đó có Việt Nam đã sử dụng hệ thống phân vị theo 5 cấp từ thấp đến cao, bao gồm: điểm du lịch, trung tâm du lịch, tiểu vùng du lịch, á vùng du lịch

Là cấp phân vị thấp nhất trong hệ thống phân vị Về mặt lãnh thổ, điểm du lịch

có quy mô nhỏ, sự chênh lệch về diện tích giữa các điểm du lịch tương đối lớn

Theo Điều 4, Chương I, khoản 8, Luật du lịch Việt Nam (2005), "Điểm du lịch

là nơi có tài

lịch"[15] Cũng theo Luật này quy định tại khoản 1, 2, điều 24, chương IV, thì các

điều kiện để công nhận là điểm du lịch như sau:

- Điểm du lịch quốc gia phải có đủ các điều kiện sau: có TNDL đặc biệt hấp dẫn với nhu cầu tham quan của khách du lịch; có CSHT và dịch vụ du lịch cần thiết,

có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất 100 nghìn lượt khách/năm

- Điểm du lịch địa phương phải có đủ các điều kiện sau: có TNDL đặc biệt hấp dẫn với nhu cầu tham quan của khách du lịch, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất

10 nghìn lượt khách/năm

b Trung tâm du lịch

Đây là một cấp hết sức quan trọng Về đại thể trung tâm du lịch là một sự kết hợp lãnh thổ của nhiều điểm du lịch Nói cách khác, mật độ điểm du lịch trên lãnh thổ tương đối dày đặc

Đặc trưng của trung tâm du lịch là nguồn TNDL tương đối tập trung và được khai thác một cách cao độ CSHT và CSVCKT ở đây tương đối đầy đủ về số lượng, đảm bảo

về chất lượng để đón, phục vụ và lưu khách lại trong thời gian dài Chính nó đã tạo nên

bộ khung để cho vùng du lịch hình thành và phát triển Nhìn chung có hai loại trung tâm

du lịch,đó là trung tâm có ý nghĩa quốc gia và trung tâm có ý nghĩa địa phương

Trang 32

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/22

c Khu du lịch

"Khu du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn với ưu thế về tài nguyên du lịch tự nhiên, được quy hoạch, đầu tư phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách du lịch, đem lại hiệu quả về kinh tế - xã hội và môi trường".[15]

Khu du lịch quốc gia có đầy đủ các điều kiện sau: có TNDL đặc biệt hấp dẫn, có khả năng thu hút lượng khách du lịch cao; có diện tích tổi thiểu 1000ha; có CSHT kỹ thuật du lịch đồng bộ, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất 1 triệu lượt khách/năm

Khu du lịch địa phương có đầy đủ các điều kiện sau: có TNDL hấp dẫn, có khả năng thu hút lượng khách du lịch; có diện tích tối thiểu 200ha; có CSHT kỹ thuật du lịch, có cơ sở lưu trú và dịch vụ du lịch cần thiết, có khả năng bảo đảm phục vụ ít nhất 100 nghìn lượt khách/năm

e Tuyến du lịch

"Tuyến du lịch là lộ trình liên kết các khu du lịch, điểm du lịch, cơ sở cung cấp dịch vụ du lịch, gắn với các tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, đường thủy, đường hàng không".[15]

Tuyến du lịch là một đơn vị tổ chức không gian du lịch được tạo bởi nhiều điểm

du lịch khác nhau về quy mô, chức năng, sự đa dạng của các đối tượng du lịch với nhau trên lãnh thổ Cơ sở cho việc xác định tuyến là điểm du lịch và hệ thống giao thông

Các tuyến du lịch có thể được chia thành:

- Về mặt lãnh thổ trên thế giới: tuyến du lịch nội địa, tuyến du lịch quốc tế

- Về mặt lãnh thổ trong một quốc gia: tuyến du lịch nội vùng, tuyến du lịch liên vùng

- Đối với lãnh thổ cấp tỉnh: du lịch nội tỉnh, du lịch ngoại tỉnh

Trang 33

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/23

1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động du lịch

+ Đối với toàn ngành: số khách du lịch quốc tế là tổng số khách được thu thập

ở các cửa khẩu, đường hàng không, đường bộ, đường biển

Còn số khách du lịch trong nước được thu thập theo:

+ Theo thống kê kinh nghiệm: số khách du lịch trong nước là tổng số khách của các đơn vị kinh doanh nhân hệ số điều chỉnh quy định trước

+ Qua điều tra: điều tra từng hộ gia đình hoặc điều tra chọn mẫu

Ngoài ra tổng số khách du lịch bao gồm số khách của 3 bộ phận: số lượng khách du lịch quốc tế, số lượng khách du lịch trong nước, số lượng khách du lịch trong nước đi ra nước ngoài

* Nhóm chỉ tiêu thống kê nghiên cứu kết cấu khách du lịch

- Kết cấu theo nguồn khách: khách du lịch quốc tế phân theo khu vực và quốc tịch, khách du lịch trong nước chia theo vùng và địa phương

- Kết cấu theo mục đích chuyến đi: nhóm khách vui chơi giải trí, du lịch, nhóm khách du lịch kết hợp với công việc, nhóm khách với mục đích thăm thân và bạn bè, nhóm khách với mục đích khác

Trang 34

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/24

- Kết cấu theo phương tiện đến: khách đến bằng đường hàng không, khách đến bằng đường bộ, khách đến bằng đường biển

- Kết cấu theo thời gian lưu trú

- Kết cấu theo độ độ tuổi

- Kết cấu theo nghề nghiệp

- Kết cấu theo đặc tính tinh thần của khách

- Kết cấu theo phương thức hợp đồng: khách đi trọn gói, khách đi từng phần

- Kết cấu theo loại hình lưu trú: khách sạn, Motel, nhà nghỉ, nhà trọ, Campping

- Kết cấu theo tháng, theo quý, theo năm

* Nhóm chỉ tiêu phản ánh đặc trưng tiêu dùng của khách

- Thu nhập bình quân của khách

- Chi tiêu bình quân của khách cho du lịch

- Cơ cấu tiêu dùng của khách

- Số ngày lưu trú bình quân của khách

b Nhóm chỉ tiêu doanh thu du lịch

Doanh thu du lịch là toàn bộ số tiền thu được từ khách du lịch do hoạt động phục vụ các loại bao gồm các chi phí của khách về du lịch, doanh thu bán hàng hóa (trừ chi phí cho vận tải hành khách quốc tế)

* Chỉ tiêu tổng doanh thu du lịch

- Doanh thu lữ hành

- Doanh thu khách sạn

- Doanh thu vận chuyển khách

- Doanh thu khác: doanh thu bán hàng, doanh thu dịch vụ giải trí

* Nhóm chỉ tiêu thống kê nghiên cứu kết cấu doanh thu du lịch

- Theo từng loại khách: khách quốc tế, khách du lịch trong nước, khách trong nước ra nước ngoài

- Theo loại hình sản phẩm du lịch: thuê phòng, lữ hành, bán hàng hóa, vận chuyển khách, bán hàng ăn uống, dịch vụ vui chơi giải trí và doanh thu khác

Trang 35

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/25

* Chỉ tiêu doanh thu bình quân 1 khách, doanh thu bình quân 1 ngày khách

c Chỉ tiêu lợi nhuận du lịch

Tổng lợi nhuận của tổ chức du lịch là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí (hoặc giá thành toàn bộ) của tổ chức du lịch đó

Chỉ tiêu này phản ánh kết quả cuối cùng của hoạt động du lịch trong kỳ nghiên cứu vì mục tiêu cuối cùng của các doanh nghiệp là tối đa hóa lợi nhuận

d Chỉ tiêu giá trị sản xuất ngành du lịch

Đây là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh toàn bộ kết quả cuối cùng của hoạt động du lịch Nghiên cứu chỉ tiêu này cho phép phản ánh một cách tổng hợp thành quả đạt được của đơn vị Giá trị sản xuất du lịch toàn ngành bao gồm: giá trị sản xuất của hoạt động lữ hành, giá trị sản xuất của hoạt động khách sạn, giá trị sản xuất của hoạt động vận chuyển khách, giá trị sản xuất của các dịch vụ khác

1.1.5 Khái niệm về hội nhập

Hội nhập trong điều kiện hiện nay là một khái niệm mang nghĩa rộng, nó diễn

ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội của các quốc gia trên toàn thế giới

Hội nhập là một xu thế bao gồm nhiều phương diện như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội Trong đó, hội nhập kinh tế là trung tâm, là động lực thúc đẩy các lĩnh vực khác trong xu thế hội nhập nói chung

Bản chất của hội nhập kinh tế là quá trình tăng lên mạnh mẽ của mối liên hệ,

sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của các khu vực, các quốc gia

và các dân tộc trên toàn thế giới Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại nhiều thuận lợi cho các quốc gia trên toàn thế giới Đặc biệt đối với các quốc gia chậm phát triển, quá trình hội nhập giúp các quốc gia nhanh chóng tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế, hình thành một cơ cấu kinh tế xã hội hiệu quả, đẩy nhanh, rút nhắn tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nó phá bỏ những rào cản ngăn cách giữa các quốc gia, mở ra điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các quan hệ quốc tế, từ đó mà quá trình hội nhập diễn ra nhanh chóng

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực tiễn phát triển du lịch ở Việt Nam

Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch Nằm ở rìa đông bán đảo Đông Dương, gần trung tâm Đông Nam Á, vừa có biên giới lục địadài, vừa

có hải giới rộng lớn, vị trí đó tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam giao lưu với các

Trang 36

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/26

nước trong khu vực và trên thế giới Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm, gió mùa; nhờ

đó có hệ sinh thái vô cùng đa dạng và phong phú thể hiện qua những danh lam thắng cảnh như vịnh Hạ Long, vườn quốc giaPhong Nha- Kẻ Bàng là những di sản tự nhiên của thế giới sức hút du lịch mạnh mẽ

Đường bờ biển dài 3.200km, cùng hơn 4.000 hòn đảo ven bờ và hệ thống quần đảo Hoàng Sao và Trường Sa, nhiều bãi biển như Thiên Cầm, Non Nước, Mỹ Khê vịnh đẹp và nổi tiếng như Hạ Long, Nha Trang cùng các đảo gần bờ như Cát Bà, Côn Đảo, Phú Quốc là thế mạnh nổi trội của Việt Nam đối với phát triển du lịch biển đảo

Với lịch sử hơn 4.000 năm dựng nước, giữ nước và bề dày truyền thống văn hóa của 54 dân tộc sinh sống trải dài từ Bắc chí Nam, Việt Nam đã tạo dựng được một nền văn hóa phong phú và độc đáo được thể hiện qua lối sống, tôn giáo, văn hóa dân gian, lễ hội, ẩm thực và đặc biệt là các di sản văn hóa như Cố Đô Huế, Hội An, Hoàng Thành Thăng Long là những điểm sáng cũng như điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch nhân văn

Những TNDL tự nhiên và nhân văn kể trên qua bàn tay và khối óc của con người nhào nặn trở thành nguồn lực cơ bản hình thành nên các sản phẩm du lịch

Nhận thức được tiềm năng và vai trò của ngành du lịch đối với sự phát triển của nền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã sớm đưa ra các chính sách hỗ trợ cho sự phát triển của ngành du lịch Qua đó du lịch được nhận thức đúng hơn với vai trò là ngành kinh tế quan trọng của đất nước Đặc biệt từ 1999 với sự ra đời của Pháp lệnh

Du lịch và đến năm 2005 Luật Du lịch đã đi vào cuộc sống

Sự ổn định về chính trị và chính sách ngoại giao cởi mở làm bạn với các nước và vùng lãnh thổ, cùng với nhận thức đúng đắn, sự quan tâm của Đảng và Nhà nước là những yếu tố rất thuận lợi mở đường cho du lịch phát triển Những thành tựu của ngành du lịch trong thời gian qua đã phản ánh phần nào qua những con số

- Khách du lịch và doanh thu du lịch

Giai đoạn 1990-2000 có thể khẳng định là giai đoạn bứt phá trong tăng trưởng khách và thu nhập Khách quốc tế tăng trên 9 lần, từ 250 nghìn lượt (năm 1990) lên 2,05 triệu lượt (năm 2000); khách nội địa tăng 11 lần, từ 1 triệu lượt lên 11 triệu lượt; thu nhập du lịch tăng gần 13 lần từ 1.350 tỷ đồng lên 17.400 tỷ đồng

Trang 37

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/27

Giai đoạn 2001-2011, tuy phải đối mặt với rất nhiều khó khăn như chiến tranh, khủng bố, dịch SARS và cúm gia cầm, nhưng do áp dụng các biện pháp táo bạo tháo gỡ kịp thời, nên lượng khách và thu nhập du lịch hàng năm vẫn tiếp tục tăng trưởng 2 con

số Khách quốc tế tăng từ 2,33 triệu lượt lên hơn 6 triệu lượt; khách nội địa tăng từ 11,7 triệu lượt lên 30 triệu lượt; tổng thu du lịch tăng từ 20.500 tỷ đồng lên 130.000 tỷ đồng

Đến năm 2013, nước ta đã đón 7.572.352 lượt khách quốc tế, tăng 10,6% so với cùng kỳ năm 2012, khách nội địa đạt trên 35 triệu lượt, tổng thu du lịch đạt 200.000 tỷ đồng

Du lịch là một trong ít ngành kinh tế ở nước ta mang lại nguồn thu trên 2 tỷ USD/năm Hơn 10 năm trước, Du lịch Việt Nam đứng vào hàng thấp nhất khu vực, nhưng đến nay khoảng cách này đã được rút ngắn, đã đuổi kịp và vượt Philippin, chỉ còn đứng sau Malaysia, Singapore, Thái Lan và Indonesia

Với doanh thu và lượng khách du lịch ngày càng tăng, ngành du lịch Việt Nam ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong quá trình phát triển KT - XH Từ đó, ngành du lịch Việt Nam cần chú trọng đầu tư phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch

cả về số lượng và chất lượng; xây dựng hệ thống CSHT - CSVCKT cho hoạt động du lịch; tăng cường tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến hình ảnh Việt Nam với bạn bè quốc tế;

đa dạng hóa các sản phẩm du lịch; tăng cường đầu tư và hội nhập quốc tế và khu vực

-Về cơ cấu khách theo thị trường và mục đích du lịch

Thị trường khách Trung Quốc đến Việt Nam chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó là khách Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Mỹ, Nga…Về mục đích đến Việt Nam, số khách đi du lịch chiếm hơn 61%, sau đó là lý do thương mại (17%), thăm thân (16,6%)

và các mục đích khác (5,4%) Khách du lịch quốc tế đến Việt Nam chủ yếu bằng đường hàng không (78,3%), tiếp theo là đường bộ (20,3%) và đường thủy (1,4%).[35]

- Về đầu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật

Để đáp ứng nhu cầu du lịch ngày càng tăng, các CSHT, CSVCKT cũng được đầu tư xây dựng, nâng cấp phát triển tương ứng Tính đến hết tháng 6/2014cả nước có 15.998 cơ sở lưu trú với hơn 331.538 buồng, trong đókhách sạn từ 3 sao đến 5 sao là

648 khách sạn Trước hết phải kể đến TP Hồ Chí Minh chiếm hơn 50% số phòng toàn quốc đạt tiêu chuẩn 5 sao, chiếm tỷ lệ 60 - 70% tổng lượng khách cả nước Theo đánh giá của khách thì chất lượng phục vụ tại TP Hồ Chí Minh là tốt nhất Việt Nam Tại các trung tâm du lịch lớn như Hà Nội, Đà Nẵng, Huế…hệ thống khách sạn, nhà nghỉ được phát triển tương đối hiện đại và đạt tiêu chuẩn quốc tế

Trang 38

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/28

- Nguồn nhân lực phục vụ du lịch

Lực lượng lao động tăng lên nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu về sự phát triển của ngành Năm 2013, lao động trong lĩnh vực du lịch có khoảng 1,5 triệu người,trong đócó hơn 460.000 lao động trực tiếp Tuy nhiên, nguồn lao động chưa thật sự được đào tạo một cách có hệ thống (7,4% đạt trình độ đại học sau đại học; 47,3% sơ cấp và trung cấp; 45,3% dưới sơ cấp) Nhìn chung, lao động du lịch Việt Nam còn thiếu về số lượng và kém về chất lượng do đó cần phải đào tạo thêm

- Xúc tiến, quảng bá, phát triển sản phẩm du lịch

Những thành tựu đã và đang đạt được đã mở ra cho du lịch Việt Nam những

cơ hội mới Hình ảnh du lịch Việt Nam đã khẳng định được những nét riêng độc đáo

với dấu ấn của một số thành phố du lịch rất đậm nét trong lòng du khách: “Hà Nội

-thành phố phục hưng của Đông Nam Á”, “Thành phố Hồ Chí Minh - sự pha trộn đầy quyến rũ giữa quá khứ và hiện tại”,“Nha Trang - biển nhiệt đới Việt Nam” Bên cạnh

khai thác những giá trị tự nhiên và văn hóa tạo ra các sản phẩm du lịch truyền thống (du lịch tham quan nghỉ dưỡng, du lịch văn hóa - lịch sử, du lịch biển, núi, du lịch chữa bệnh…) nhiều loại hình du lịch mới: du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch làng nghề không những được đầu tư phát triển mà còn nhận được sự hỗ trợ tích cực của một số quốc gia và tổ chức như EU, Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), Hiệp hội các trường đại học - cao đẳng Canada (ACCC)…góp phần xóa đói giảm nghèo ở một số địa phương

Hoạt động du lịch của nước ta đã có bước phát triển mới góp phần làm thay đổi diện mạo đất nước, tạo thêm việc làm, gia tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo; góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu, phát triển ngành nghề thủ công; thúc đẩy giao thông, văn hóa, thông tin và giao lưu các vùng miền trong nước và quốc tế Những hiệu quả KT - XH mà du lịch đem lại là động lực thúc đẩy đầu tư cho sự phát triển vững chắc của ngành Vận hội mới đang mở ra cho du lịch Việt Nam nhiều cơ hội tốt để đẩy mạnh quảng bá, kích cầu du lịch, hứa hẹn sẽ đạt được nhiều thành tựu hơn trong thời gian tới

Trang 39

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/29

1.2.2 Thực tiễn quá trình hội nhập của Việt Nam và tác động tới hoạt động du lịch

* Quá trình hội nhập của Việt Nam

Đại hội Đảng lần thứ VI (năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện và sâu sắc mọi lĩnh vực của nền kinh tế Sự nghiệp đổi mới của Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh quốc tế có nhiều thay đổi sâu sắc và một cục diện, trật tự thế giới mới đang hình thành, trong đó các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác với nhau Đảng đã nhận thức rõ rằng bối cảnh đó là điều kiện để chúng ta phát triển đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và rộng mở

Đại hội Đảng lần thứ VII (năm 1991) đã xác định rõ chủ trương “độc lập tự

chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại” với phương châm “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”, đánh dấu bước khởi đầu tiến trình hội nhập trong giai đoạn

mới của nước ta Thực tế giai đoạn đó cho thấy chủ trương đúng đắn của Đảng đã đánh dấu bước khởi đầu của Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế

Tháng 11/1996, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 01-NQ/TW về mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại giai đoạn 1996 - 2000 Tới năm 2001, Chủ trương vềhội nhập kinh tế quốc tế được đề cập trong Báo cáo chính trị Đại hội IX của Đảng

của Bộ Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế đã nhấn mạnh:“Chủ động hội nhập kinh tế

quốc tế và khu vực theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững, đảm bảo tính độc lập, tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, gìn giữ an ninh quốc gia, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái”.

Sau khi nước ta gia nhập WTO vào tháng 01/2007, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 05/02/2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của WTO Nghị quyết đã nêu rõ các cơ hội và thách thức của việc gia nhập WTO và đề ra các định hướng lớn để nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và bền vững sau khi gia nhập WTO Trên tinh thần đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP, ngày 27/2/2007, Chương trình hành động của Chính phủ

về “Một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững

Trang 40

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn/30

khi Việt Nam là thành viên của WTO”; giao các bộ, ngành, địa phương triển khai các

nhiệm vụ cụ thể nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức, đưa nước ta bước vào giai đoạn phát triển mới

Tháng 01/2011, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra đường lối đối ngoại của Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới, trong

đó có chủ trương “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” Ngày 10/4/2013, Bộ

Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 22-NQ/TW về hội nhập quốc tế Đây là văn kiện quan trọng, có ý nghĩa chiến lược, làm rõ và thống nhất nhận thức trong toàn Đảng, toàn dân về hội nhập quốc tế trong tình hình mới

* Tác động của quá trình hội nhập tới hoạt động du lịch

Trong xu thế hòa nhịp với hội nhập các ngành kinh tế, du lịch Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta xác định là ngành kinh tế mũi nhọn Thực hiện phát triển du lịch theo xu hướng hội nhập khu vực và thế giới

Trong quá trình hình thành và phát triển, du lịch Việt Nam đã thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác du lịch nhiều mặt với Trung Quốc, Liên Xô (cũ), tăng cường hợp tác đặc biệt với Lào, Cuba, xây dựng quan hệ tốt với Campuchia, mở rộng hợp tác với các nước phát triển với các nước Đông Nam Á, Châu Á - Thái Bình Dương, bước đầu xây dựng quan hệ hợp tác với các nước Bắc Mỹ và Châu Mỹ Latinh

Hợp tác song phương về du lịch của Việt Nam được đẩy nhanh mạnh, tính đến nay đã có 29 hiệp định hợp tác du lịch song phương với các nước bạn bè, là thị trường trọng điểm, là đầu mối kinh tế, du lịch quốc tế như Lào, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng cho việc mở rộng mối quan hệ song phương trên tất cả các lĩnh vực hoạt động du lịch, khuyến khích công dân hai nước và nước thứ 3 đi lại du lịch thuận tiện, trao đổi chuyên gia, kinh nghiệm

và thông tin quản lý du lịch đồng thời tạo điều kiện và những kinh nghiệm ban đầu cho hợp tác đa phương

Thực hiện đẩy mạnh các mối quan hệ hợp tác với các hãng ở các nước Các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay có quan hệ với trên 1.000 hãng của hơn 60 nước và vùng lãnh thổ, để kết hợp khai thác khách và đầu tư Một số chính phủ và tổ chức quốc tế đã viện trợ không hoàn lại hoặc hỗ trợ kỹ thuật cho du lịch Việt Nam

Ngày đăng: 19/01/2016, 16:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Chung Lê Dung (2010), Phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang trong xu thế hội nhập, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa lí học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch tỉnh Tuyên Quang trong xu thế hội nhập
Tác giả: Chung Lê Dung
Năm: 2010
3. Nguyễn Dƣợc (2008), Sổ tay địa danh Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay địa danh Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Dƣợc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
4. Tô Thị Quỳnh Giang (1996), Tài nguyên du lịch Lạng Sơn, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành địa lí du lịch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên du lịch Lạng Sơn
Tác giả: Tô Thị Quỳnh Giang
Năm: 1996
5. Nguyễn Trường Giang (2003), Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Lạng Sơn, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kinh tế và chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức lãnh thổ du lịch tỉnh Lạng Sơn
Tác giả: Nguyễn Trường Giang
Năm: 2003
6. Cao Hoàng Hà (2008), Xây dựng một số tuyến điểm du lịch Lạng Sơn trong thời kì hội nhập, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa lí học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng một số tuyến điểm du lịch Lạng Sơn trong thời kì hội nhập
Tác giả: Cao Hoàng Hà
Năm: 2008
7. Vũ Mạnh Hà (2014), Giáo trình kinh tế du lịch, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế du lịch
Tác giả: Vũ Mạnh Hà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2014
8. Mai Thu Hà (2013), Phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hà Giang theo hướng bền vững, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa lí học, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch cộng đồng tỉnh Hà Giang theo hướng bền vững
Tác giả: Mai Thu Hà
Năm: 2013
9. Phùng Thị Hằng (2008), Xây dựng một số điểm, tuyến du lịch phía Tây Hà Nội trong tiến trình hội nhập, Luận văn thạc sĩ khoa học địa lí, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Xây dựng một số điểm, tuyến du lịch phía Tây Hà Nội trong tiến trình hội nhập
Tác giả: Phùng Thị Hằng
Năm: 2008
10. Trần Thị Minh Hòa (2008), Giáo trình Kinh tế du lịch, NXB ĐH Kinh tế quốc dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế du lịch
Tác giả: Trần Thị Minh Hòa
Nhà XB: NXB ĐH Kinh tế quốc dân
Năm: 2008
12. Dương Văn Hưng (2013), Phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình trong thời kì hội nhập, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa lí học, Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch tỉnh Ninh Bình trong thời kì hội nhập
Tác giả: Dương Văn Hưng
Năm: 2013
13. Vũ Tự Lập (chủ biên) (1999), Địa lý tự nhiên Việt Nam, Đại học Sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địa lý tự nhiên Việt Nam
Tác giả: Vũ Tự Lập (chủ biên)
Năm: 1999
14. Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành, NXB Chính trị quốc gia, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật di sản văn hóa và văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
15. Luật du lịch Việt Nam, NXB Tƣ Pháp, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật du lịch Việt Nam
Nhà XB: NXB Tƣ Pháp
16. Phạm Trung Lương (2000), Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài nguyên và môi trường du lịch Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
17. Trần Thị Mai (2006), Giáo trình tổng quan du lịch, NXB Lao động - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tổng quan du lịch
Tác giả: Trần Thị Mai
Nhà XB: NXB Lao động - xã hội
Năm: 2006
18. Trần Văn Mầu (2005), Cẩm nang hướng dẫn viên du lịch, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang hướng dẫn viên du lịch
Tác giả: Trần Văn Mầu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
19. Vũ Đức Minh (1999), Tổng quan về du lịch, NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan về du lịch
Tác giả: Vũ Đức Minh
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1999
20. Hoàng Thị Trà My (2009), Phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên trong thời kì hội nhập, Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa lí học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển du lịch tỉnh Thái Nguyên trong thời kì hội nhập
Tác giả: Hoàng Thị Trà My
Năm: 2009
21. Đặng Văn Phan (2006), Địalí kinh tế - xã hội việt Nam thời kì hội nhập, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Địalí kinh tế - xã hội việt Nam thời kì hội nhập
Tác giả: Đặng Văn Phan
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
22. Pirojnik (1985), Cơ sở địa lí du lịch và dịch vụ tham quan (Trần Đức Thanh và Nguyễn Thị Hải Yến biên dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở địa lí du lịch và dịch vụ tham quan
Tác giả: Pirojnik
Năm: 1985

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Sơ đồ mối quan hệ giữa 4 nhóm nhân tố của du lịch [10] - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Hình 1.1. Sơ đồ mối quan hệ giữa 4 nhóm nhân tố của du lịch [10] (Trang 19)
Hình1.2: Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch[ 41 ] - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Hình 1.2 Sơ đồ phân loại tài nguyên du lịch[ 41 ] (Trang 22)
Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Lạng Sơn - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Hình 2.1. Bản đồ hành chính tỉnh Lạng Sơn (Trang 45)
Hình 2.2. Bản đồ Tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Lạng Sơn - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Hình 2.2. Bản đồ Tài nguyên du lịch tự nhiên tỉnh Lạng Sơn (Trang 47)
Hình 2.3: Cơ cấu dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2013[1] - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Hình 2.3 Cơ cấu dân tộc tỉnh Lạng Sơn năm 2013[1] (Trang 55)
Bảng 2.2. Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện, TP[1] - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Bảng 2.2. Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2013 phân theo huyện, TP[1] (Trang 55)
Hình 2.4. Bản đồ Tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Lạng Sơn - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Hình 2.4. Bản đồ Tài nguyên du lịch nhân văn tỉnh Lạng Sơn (Trang 58)
Hình 3.3. Doanh thu du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005 - 2014 - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Hình 3.3. Doanh thu du lịch tỉnh Lạng Sơn giai đoạn 2005 - 2014 (Trang 78)
Bảng 3.1. Hiện trạng về cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Bảng 3.1. Hiện trạng về cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn (Trang 80)
Hình 3.6. Bản đồ hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Hình 3.6. Bản đồ hiện trạng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn (Trang 91)
Hình 4.1. Bản đồ định hướng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Hình 4.1. Bản đồ định hướng phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn (Trang 106)
Phụ lục 1: Bảng chỉ tiêu khí hậu đối với sinh học con người - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
h ụ lục 1: Bảng chỉ tiêu khí hậu đối với sinh học con người (Trang 120)
Bảng 3: Mức độ thích hợp của cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Bảng 3 Mức độ thích hợp của cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật (Trang 121)
Bảng 4: Sức chứa khách du lịch của các điểm tài nguyên - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Bảng 4 Sức chứa khách du lịch của các điểm tài nguyên (Trang 122)
Bảng 6: Độ bền vững của tài nguyên tại các điểm du lịch - Phát triển du lịch tỉnh Lạng Sơn trong xu thế hội nhập
Bảng 6 Độ bền vững của tài nguyên tại các điểm du lịch (Trang 123)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w