Từ đó nông nghiệp được khái niệm như sau: Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho con người tồn tại
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
PHẠM THỊ NHÀN
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH
THEO HƯỚNG BỀN VỮNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn An Hà
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được bảo vệ trong một học vị khoa học hoặc công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được trân trọng ghi rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Thị Nhàn
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, Phòng đào tạo các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi hoàn thành quá trình học tập và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo, các đồng nghiệp đang công tác tại Huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ
và cung cấp thông tin cần thiết cho tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên và giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và thực hiện luận văn này
Thái Nguyên, tháng năm 2015
Tác giả luận văn
Phạm Thị Nhàn
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ ix
MỞ ĐẦU 10
1 Tính cấp thiết của đề tài 10
2 Mục tiêu nghiên cứu 11
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
4 Đóng góp và ý nghĩa của đề tài 12
5 Bố cục của đề tài 13
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 14
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững 14
1.1.1 Phát triển nông nghiệp 14
1.1.2.Phát triển nông nghiệp bền vững 23
1.1.3 Nhân tố tác động tới phát triển nông nghiệp bền vững 31
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững 34
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững của một số nước trên thế giới 34
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững ở một số địa phương ở nước ta 38
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho phát triển nông nghiệp huyện Hoành Bồ - Quảng Ninh theo hướng bền vững 45
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49
2.1 Câu hỏi nghiên cứu 49
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
2.2 Phương pháp nghiên cứu 49
2.2.1 Phương pháp thu thập thông tin 49
2.2.2 Phương pháp xử lý dữ liệu 50
2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu 51
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 52
2.3.1 Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương 52
2.3.2 Nhóm chỉ tiêu phản ánh phát triển nông nghiệp bền vững 52
Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG GIAI ĐOẠN 2011 - 2014 55
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 55
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 55
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 60
3.1.3 Những thuận lợi và khó khăn cho sự phát triển nông nghiệp huyện Hoành Bồ theo hướng bền vững 65
3.2 Thực trạng phát triển bền vững nông nghiệp huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh 66
3.2.1 Khía cạnh kinh tế 66
3.2.2.Khía cạnh xã hội 81
3.2.3 Khía cạnh môi trường 86
3.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nông nghiệp bền vững 93
3.3.1 Điều kiện tự nhiên 93
3.3.2 Các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp 94
3.3.3.Chuyển giao công nghệ kỹ thuật sản xuất nông nghiệp 99
3.3.4.Nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp 99
3.3.5.Thị trường tiêu thụ sản phẩm 101
3.3.6.Lao động và chất lượng nguồn lao động trong sản xuất nông nghiệp 103 3.4 Đánh giá chung tình hình phát triển nông nghiệp huyện Hoành Bồ,
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững 107
3.4.1 Kết quả đạt được 107
3.4.2 Tồn tài, hạn chế 108
3.4.3 Nguyên nhân hạn chế 111
Chương 4: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH THEO HƯỚNG BỀN VỮNG 112
112
- tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững 112
4.1.2 Phương h 2020 113
4.2 Giải pháp phát triển nông nghiệp huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững 114
4.2.1.Đổi mới chính sách cho phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững, nông thôn mới 114
4.2.2.Hoàn thiện quy hoạch sản xuất nông nghiệp bền vững 116
4.2.3.Cải thiện và nâng cao chất lượng của nguồn lao động 118
4.2.4.Tăng cường liên kết trong sản xuất nông nghiệp 120
4.2.5.Xây dựng thị trường tiêu thụ sản phẩm ổn định 121
4.2.6.Ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật 123
4.3 Kiến nghị 124
4.3.1 Đối với huyện Hoành Bồ 124
4.3.2 Đối với hộ nông dân 125
KẾT LUẬN 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 129
PHỤ LỤC 131
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
PTNNNT : Phát triển nông nghiệp nông thôn
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Lựa chọn địa điểm điều tra 50
Bảng 3.1 Giá trị sản xuất qua các năm của huyện Hoành Bồ 60
Bảng 3.2: Diện tích gieo trồng cây hàng năm của huyện Hoành Bồ 2011 -2013 68
Bảng 3.3: Kết quả ngành chăn nuôi huyện Hoành Bồ giai đoạn 2011 - 2013 69
Bảng 3.3 Diện tích nuôi trồng thuỷ sản của huyện giai đoạn 2011-2013 70
Bảng 3.4: Sản lượng - giá trị - tỷ suất nông sản hàng hóa của ngành trồng trọt năm 2011 - 2013 74
Bảng 3.5: Sản lượng - giá trị - tỷ suất nông sản hàng hóa của ngành chăn nuôi năm 2011 - 2013 77
Bảng 3.6: Sản lượng - giá trị - tỷ suất nông sản hàng hóa của ngành nuôi trồng thủy sản năm 2011 - 2013 78
Bảng 3.7 Thu nhập và cơ cấu thu nhập bình quân của một hộ trên năm 2013 79
Bảng 3.8 Thu nhập bình quân của các hộ giai đoạn 2011-2013 79
Bảng 3.9 Tình hình nhân khẩu - lao động BQ một hộ điều tra năm 2013 81
Bảng 3.10 Tình hình hộ nghèo ở huyện Hoành Bồ 83
Bảng 3.11 Tỷ lệ hộ nghèo tại 3 xã nghiên cứu năm 2013 83
Bảng 3.12 Mức độ tham gia quyết định sản xuất của nam và nữ 85
Bảng 3.13 Nguồn phát sinh chất thải trong trồng trọt của huyện Hoành Bồ 87
Bảng 3.14 Số lượng thuốc bảo vệ thực vật đã sử dụng của ngành trồng trọt 88
Bảng 3.15 Tổng hợp lượng chất thải nông nghiệp phát sinh 2010-2013 89
Bảng 3.16 Tình hình xử lý ô nhiễm môi trường năm 2013 91
Bảng 3.17 Mức độ ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên đến sản xuất ngành trồng trọt 94
Bảng 3.18 Nguồn vốn đầu tư cơ sở hạ tầng cho sản xuất nông nghiệp huyện Hoành Bồ 97
Bảng 3.19: Lựa chọn của hộ gia đình về khó khăn trong tiêu thụ 102
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1 Biểu đồ nhiệt và lượng mưa trong năm của huyện Hoành Bồ 57
Sơ đồ 3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Hoành Bồ giai đoạn 2010-2013 61
Sơ đồ 3.3 Tỷ lệ nông hộ nhận thức về sản xuất nông nghiệp 104
Sơ đồ 3.4 Tỷ lệ nông hộ quan tâm đến môi trường 107
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảm bảo phát triển bền vữ
nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã đặt ra
rõ, năm mưa thuận gió hoà, thời tiết thuận lợi, dịch bệnh ít thì được mùa cả trồng trọt và chăn nuôi; ngược lại có năm thiên tai dịch bệnh, mất mùa Đến nay vấn đề phát triển nông nghiệp bền vững được đề cập tới như một trong những vấn đề vừa rất cơ bản vừa bức thiết có ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh tế xã hội của đất nước
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Phát triển nông nghiệp bền vững có thể nhìn nhận ở qui mô toàn quốc
và qui mô địa phương như một vùng, một tỉnh Cũng như nhiều địa phương khác, huyện Hoành Bồ trong nhiều năm qua phát triển sản xuất nông nghiệp
Đề xuất và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển nông nghiệp huyện Hoành Bồ, tình Quảng Ninh theo hướng bền vững
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình phát triển nông nghiệp tại huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh theo hướng bền vững
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi nội dung:
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung về: Đặc điểm địa hình đất đai, khí tượng thuỷ văn và tình hình dân số của huyện Hoành Bồ Đặc biệt là nghiên cứu các kết quả sản xuất nông nghiệp mà huyện Hoành Bồ đã đạt được trong 3 năm 2012- 2004 trên cây trồng, vật nuôi, giá trị sản xuất, thu nhập và sản lượng
4 Đóng góp và ý nghĩa của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn trong phát triển nông nghiệp trên quan điểm phát triển bền vững
Đề tài tiến hành phân tích những thực trạng, tồn tại và hạn chế cho chính quyền địa phương huyện Hoành Bồ, và các nhà lãnh đạo nông nghiệp của huyện về tình hình phát triển nông nghiệp nông thôn của huyện Hoành
Bồ, tỉnh Quảng Ninh trên quan điểm phát triển bền vững
Đề tài sẽ cung cấp, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả nông nghiệp và phát triển nông nghiệp huyện Hoành Bồ bền vững
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhà nghiên cứu liên quan tới lĩnh lĩnh vực phát triển nông nghiệp bền vững
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
VỀ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG
1.1 Cơ sở lý luận về phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.1 Phát triển nông nghiệp
1.1.1.1 Khái niệm nông nghiệp
Trong chiến lược phát triển kinh tế quốc dân ở Việt Nam, nông nghiệp, nông thôn luôn là mối quan tâm thường xuyên của Đảng và Nhà nước ta, được thể hiện bằng các chủ trương, chính sách cụ thể Ở từng giai đoạn lịch
sử khác nhau, tỷ trọng thu nhập nông nghiệp trong tổng thu nhập kinh tế có khác nhau, nhưng nông nghiêp luôn được xác định là chỗ dựa vững chắc để giải quyết các vấn đề của toàn xã hội, như: Đảm bảo nhu cầu ăn về lương thực
và thực phẩm cho cả nước, góp phần tích cực cho xoá đói, giảm nghèo, giữ vững ổn định chính trị, xã hội tạo cơ sở vững chắc cho quá trình CNH, HĐH đất nước
Từ đó nông nghiệp được khái niệm như sau:
Nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế cung cấp những sản phẩm thiết yếu như lương thực, thực phẩm cho con người tồn tại và cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp Nông nghiệp là một ngành sản xuất lớn, bao gồm nhiều chuyên ngành: trồng trọt, chăn nuôi, sơ chế nông sản; theo nghĩa rộng, còn bao gồm cả lâm nghiệp, thuỷ sản.( Phạm Vân Ðình
và cộng sự, 1997)
1.1.1.2 Đặc điểm của nông nghiệp
Nông nghiệp là một ngành sản xuát có đặc thù rất riêng, khác với công nghiệp và các ngành kinh tế khác Đối tượng phát triển của nông nghiệp là các sinh vật sống, đa dạng, có quan hệ hữu cơ với môi trường tự nhiên, lại phân bổ rất rộng lớn Vì vậy, để phát triển được một nền nông nghiệp bền vững, việc phân tích đầy đủ các đặc điểm của nông nghiệp là một yêu cầu
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
không thể thiếu
Thứ 1: Đối tượng sản xuất của nông nghiệp là sinh vật sống
Trong công nghiệp, đối tượng sản xuất là các vật chất nguyên liệu vô chi, vô giác, nhưng trong nông nghiệp, thì đối tượng sản xuất lại là các sinh vật sống, bao gồm cây trồng, vật nuôi các loại và sinh vật khác Chúng sinh trưởng và phát triển theo quy luật riêng của mỗi loài, và đồng thời lại chịu tác động rất nhiều của môi trường tự nhiên ngoại cảnh, như: Thời tiết, khí hậu, các quy luật sinh học của cây con, và điều kiện ngoại cảnh tồn tại độc lập với
ý muốn chủ quan của con người Vì thế, nếu như trong công nghiệp, con người có thể tác động vào đối tượng sản xuất ở bất cứ phạm vi và mức độ nào theo ý muốn, thì trong nông nghiệp, để sản xuất có hiệu quả, con người lại phải nhận thức cho được quy luật sinh học của đối tượng định tiến hành sản xuất và quy luật tự nhiên tại vùng đang sản xuất sinh vật đó Mọi can thiệp chủ quan, theo cảm tính, thiếu căn cứ khoa học đều dẫn đến thất bại
Từ đối tượng của sản xuất nông nghiệp là các sinh vật sống, cần lưu ý những vấn đề cơ bản sau:
- Trong nông nghiệp, quá trình tái sản xuất kinh tế liên hệ mật thiết với quá trình tái sản xuất tự nhiên của sinh vật Thời gian lao động không ăn khớp,
mà xen kẽ với thời gian sản xuất, do đặc tính thời vụ trong nông nghiệp
- Tái sản xuất kinh tế là quá trình lặp đi lặp lại sự phát triển của sinh vật, dưới tác động của con người, từ lúc mở đầu đến khi kết thúc, trở lại vụ mới Tái sản xuất tự nhiên, là quá trình lặp đi lặp lại theo quy luật sinh học cũng từ lúc mở đầu, đến kết thúc một chu trình sinh học, bắt đầu một chu trình mới Thí dụ: từ hạt - cây - hoa - quả - thu hoạch Thời gian sản xuất là khoảng thời gian mà đối tượng sản xuất nằm trong chu kỳ sản xuất Thời gian lao động là thời gian mà sức lao động của con người tác động vào đối tượng lao động Trong công nghiệp, thời gian lao động, ăn khớp& trùng khít với thời gian sản xuất Trong nông nghiệp lại khác, có lúc sinh vật cần tác động
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
của con người để sinh trưởng, phát triển, nhưng nhiều lúc lại chỉ cần có sự tác động của môi trường sống Cũng từ đặc điểm này phản ánh sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ rất cao
- Trong nông nghiệp, khối lượng đầu ra không tương ứng với khối lượng và chất lượng đầu vào Trong công nghiệp, giữa khối lượng nguyên liệu và thành phần đầu vào với sản phẩm đầu ra có sự đối ứng cao Thí dụ như: Sản xuất một chiếc xe hơi hoặc máy nông cụ, trọng lượng kim loại và thành phần nguyên liệu đầu vào gần bằng trọng lượng và thành phần kết cấu của chiếc xe hơi hoặc máy nông cụ ở đầu ra Sản xuất nông nghiệp lại khác, nguyên liệu đầu vào là hạt giống cây, con giống, trọng lượng ban đầu nhỏ, thậm chí rất nhỏ Sau một thời gian nhất định có thể tạo ra trọng lượng lớn gấp bội khi được mùa, cũng có thể là con số không khi mất mùa!
Thứ 2: Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế
Trong công nghiệp đất đai chỉ là nhà xưởng, còn trong nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thay thế, vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động Đất đai là đối tượng lao động khi con người cày xới
để có môi trường tốt cho sinh vật phát triển Đất đai là tư liệu lao động vì con người dùng đất đai để trồng cây và chăn nuôi Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp Vì vậy, số lượng và chất lượng đất đai quyết định lợi thế so sánh cũng như cơ cấu sản xuất của mỗi vùng Hướng sử dụng đất, quy định hướng sử dụng các tư liệu sản xuất khác Do đó, trong quá trình sản xuất cần phải sử dụng đất đai phù hợp với thực tế địa hình, thổ nhưỡng, nhằm vừa nâng cao được hiệu quả, vừa bảo vệ được tài nguyên đất
Thứ 3: Nông nghiệp được phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn Tích tụ và tập trung cao, là đặc trưng cơ bản của sản xuất công nghiệp Trái lại, nông nghiệp được phân bổ trên phạm vi không gian rộng lớn, tính chất này bắt nguồn từ sự đa dạng về địa hình, chất đất, nguồn nước, thời tiết khí hậu và sinh vật sống ở đó Mỗi vùng đất có lợi thế so sánh sinh thái riêng,
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
từ đó, cần bố trí sản xuất chuyên hoá cao, gắn với phát triển các sản phẩm phụ trong điều kiện có thể
Thứ 4: Sản phẩm nông nghiệp vừa được tiêu dùng tại chỗ, vừa là hàng hoá của thị trường
Với công nghiệp, sản phẩm tạo ra gần như được trao đổi toàn bộ trên thị trường Trái lại, sản phẩm của nông nghiệp sản xuất ra vừa được người sản xuất giữ lại để tiêu dùng nội bộ, tuỳ từng loại sản phẩm mà số lượng giữ lại ít hay nhiều, nhằm đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm của người sản suất,
hộ nông dân; Phần còn lại bán ra thị trường, bao gồm sản phẩm bán cho người tiêu dùng trực tiếp, cho chế biến xuất khẩu và nguyên liệu cho công nghiệp Vì vậy, nông sản có thể tham gia vào rất nhiều kênh trên thị trường, các kênh này đan xen với kênh kia theo mối quan hệ phong phú, nhiều chiều
Tỷ trọng sản phẩm bán ra phụ thuộc vào mục tiêu của người sản xuất
Thứ 5: Cung về nông sản hàng hoá và cầu đầu vào cho nông nghiệp mang tính thời vụ cao
Do sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao, nên cung về nông sản hàng hoá và cầu về đầu vào của nông nghiệp cũng mang tính thời vụ cao Đặc điểm này thường dẫn đến biến động lớn về giá cả nông sản cũng như vật tư nguyên liệu đầu vào: Đầu vụ, chính vụ và cuối vụ có khác nhau Thường là giá nông sản chính vụ thấp hơn giá đầu vụ và cuối vụ Trái lại, giá vật tư đầu vào lúc chính vụ (như: phân bón, thuốc BVTV ) thường cao hơn so với đầu
vụ hoặc sau vụ sản xuất Mặt khác, với công nghiệp, chỉ trong thời gian ngắn, người sản xuất có thể đưa ra thị trường loại sản phẩm mà người tiêu dùng cần Thì trong nông nghiệp, người sản xuất phải qua hàng vụ (từ vài tháng đến hàng năm) thậm chí dài hơn (3- 5 năm, như cây ăn quả các loại chẳng hạn) mới đưa ra được thị trường những sản phẩm mà người tiêu dùng cần Từ đặc điểm của cung về nông sản nhiều loại mang tính thời vụ, mà đòi hỏi phải có
sự dự tính, dự báo chính xác về giá cả và thị trường của nông sản hàng hoá,
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhất là khi sản xuất và Marketing các sản phẩm cây lâu năm và gia súc phải nuôi lâu năm Cũng từ đặc điểm thời vụ của cung nông sản, và cầu về vật tư nguyên liệu, đòi hỏi, một mặt phải có cơ sở hạ tầng để dự trữ, bảo quản nông sản lúc thời vụ, phải có cơ chế thị trường linh hoạt, mềm dẻo với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế Bên cạnh đó, chính phủ cần có chính sách và cơ chế quản lý về giá cả sao cho ổn định cả đầu ra và đầu vào, là một yêu cầu rất cần thiết với nông nghiệp nước ta hiện nay
Thứ 6: Nông nghiệp liên quan chặt chẽ đến các ngành công nghiệp và dịch vụ
Như đã phân tích vai trò của nông nghiệp, nông nghiệp có liên quan chặt chẽ đến công nghiệp và nhiều ngành dịch vụ khác Sự liên quan này thể hiện ở chỗ: Nông nghiệp vừa cung cấp vốn, lao động cho công nghiệp, vừa
là thị trường rộng lớn của công nghiệp và dịch vụ, kể cả dịch vụ hoá học và công nghệ ứng dụng trong các ngành sản xuất Mối liên quan này có tác dụng như đòn bẩy cho cả công nghiệp và nông nghiệp cùng phát triển Vì thế, trong chiến lược phát triển kinh tế nói chung và phát triển công nghiệp dịch vụ nói riêng, phải tính toán đến mối quan hệ tương hỗ nhiều chiều giữa CN- DV và nông nghiệp
Thứ 7: Một số đặc điểm của nông nghiệp Việt Nam
Ngoài sự tuân theo những đặc điểm phổ biến của sản xuất nông nghiệp thế giới nói chung Nền nông nghiệp Việt Nam có đặc điểm riêng, xuất phát
từ hoàn cảnh kinh tế, chính trị xã hội và điều kiện tự nhiên của Việt Nam
Nền nông nghiệp nước ta được hình thành và phát triển từ lâu đời, nhưng thật sự có sự chuyển biến sâu sắc là, từ sau khi cách mạng giải phóng dân tộc dành tháng lợi Đặc biệt từ năm 1986, Việt Nam bắt đầu tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, mà khởi đầu bằng việc đổi mới cơ chế chính sách trong nông nghiệp Nền nông nghiệp Việt Nam chuyển từ cơ chế KH hoá tập trung, bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Hiện nay, nền nông nghiệp nước ta gồm nhiều thành phần kinh tế, ruộng đất được giao ổn định lâu dài cho hộ nông dân, người nông dân có quyền ra quyết định sản xuất theo mục tiêu kinh tế của mình Các thành phần kinh tế trong nông nghiệp, trong đó kinh tế hộ nông dân được bình đẳng trước pháp luật và được khuyến khích phát triển theo luật định Vì vậy, cơ cấu kinh tế nông nghiệp đang từng bước được chuyển dịch tích cực theo hướng sản xuất hàng hoá, đáp ứng nhu cầu thị trường Tuy nhiên, cần nói thêm rằng: Sự tồn tại trong một thời gian dài (1975- 1986) cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp trong nông nghiệp, làm ăn tập thể năng suất thấp kém, đã kìm hãm sự phát triển của nền nông nghiệp nước ta với một mức độ không nhỏ!
Từ phân tích trên cho thấy: Nông nghiệp Việt Nam vừa chịu sự chi phối của quy luật phổ biến về thị trường, vừa chịu sự chi phối riêng do các đặc điểm chính trị xã hội của đất nước quy định Thị trường ở nước ta chưa thật sự phát triển được như các nước trong khu vực, mặc dù từ khi ra nhập WTO đã có những chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn nhiều hạn chế về thành phần kinh tế, đầu tư cơ sở hạ tầng và quy mô cũng như các mặt hàng sản xuất ra, nhất là sự bình đẳng của các thành phần kinh tế chưa được tôn trọng như luật định
Tuy đã đạt được những thành tựu quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nhưng nền nông nghiệp Việt Nam vẫn còn là lạc hậu, sản xuất nhỏ, đặc biệt là sản xuất hàng hoá chưa phát triển cao
Tính lạc hậu thể hiện ở trình độ sản xuất còn thấp, đại bộ phận nông dân chưa qua đào tạo, sản xuất vẫn theo truyền thống và kinh nghiệm là nhiều, hàng năm có được tập huấn kỹ thuật nhưng chỉ với thời gian ngắn và nội dung còn hạn chế Mặt khác bản thân trình độ đã có và khả năng nhận thức của nông dân cũng chưa theo kịp với yêu cầu Công cụ máy móc và các phương tiện KHCN tuy đã và đang được đưa vào sản xuất nhưng vẫn còn quá ít, nguồn vốn đầu tư còn rất nhỏ bé so với các nước có nền nông nghiệp phát triển
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Sản xuất nhỏ thể hiện ở chỗ, hình thức sản xuất nông hộ là phổ biến, ruộng đất tuy đã qua "dồn đổi ô thửa" nhưng vẫn còn manh mún Một hộ nông dân có từ 3- 4 thửa, thậm trí 4- 5 thửa vẫn còn nhiều Vì vậy, hạn chế việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất, mà có đưa vào thì chi phí lớn, dẫn tới hiệu quả sản xuất thấp
Tính chất hàng hoá chưa cao, thể hiện: Chất lượng sản phẩm nông sản còn thấp hơn đáng kể so với các nước trong khu vực, khối lượng cũng như tỷ suất hàng hoá nông sản còn thấp, sản xuất theo kiểu quy mô công nghiệp chưa nhiều Ngoài việc xuất khẩu gạo, sự hoà nhập tham gia thị trường quốc tế còn chậm, số mặt hàng còn ít, thị trường quốc tế còn nhỏ, ngành công nghiệp chế biến, bảo quản các sản phẩm nông sản đã có phát triển hơn trước nhưng vẫn còn là nhỏ chưa tương xứng với yêu cầu
Mặt khác, nền nông nghiệp nước ta còn phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của nhiều thập kỷ chiến tranh của thế kỷ trước, do đó một phần diện tích đất, tài nguyên thiên nhiên, sinh thái bị tàn phá, nhất là việc đầu tư cho khoa học
kỹ thuật bị chậm lại Do vậy, rất cần một lượng vốn đáng kể để đầu tư đáp ứng yêu cầu sản xuất trong điều kiện mới
Điều kiện tự nhiên của nước ta phức tạp, mật độ dân số vào loại cao so với thế giới, và hiện tại còn tập trung trong nông nghiệp tới trên 70% dân số
Nước ta nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, và có pha trộn một phần tính chất ôn đới, bao gồm đất đồng bằng, đất ven biển, đất trung du và miền núi Điều kiện tự nhiên phong phú đã chia nông nghiệp nước ta làm 7 vùng kinh tế tự nhiên với nhiều hệ thống sinh thái khác nhau Vì vậy, việc lựa chọn các sản phẩm nông nghiệp theo lợi thế so sánh có khó khăn Nước ta có mật độ dân số cao, nhưng phân bố không đều, trình độ dân trí chênh lệch, điều đó tạo ra sự phát triển chênh lệch giữa các vùng
1.1.1.3 Vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tế quốc dân
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ nhất: Nông nghiệp là nơi sản xuất lương thực, thực phẩm cho nhu cầu cơ bản của con người
Sản xuất nông nghiệp xuất hiện từ khi có con người, và nhờ có sản phẩm của nông nghiệp mà con người tồn tại và phát triển qua 5 phương thức sản xuất của lịch sử Ngày nay, ở bất cứ một nước nào trên thế giới, dù là nước giàu, đang phát triển, hay nước nghèo, nông nghiệp đều có vị trí rất quan trọng: Là ngành sản xuất vật chất chủ yếu của nền kinh tế, cung cấp các sản phẩm thiết yếu: Lương thực, thực phẩm cho con người ăn để sinh sống, tồn tại, lao động phát triển, và còn cung cấp nhiều nguyên liệu cho ngành công nghiệp Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, nông nghiệp luôn được quan tâm đầu tư phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về lương thực thực phẩm Vì thế, sự ổn định xã hội có yêu cầu trước hết là sự đảm bảo
an toàn lương thực và thực phẩm cho con người
Thứ hai: Nông nghiệp cung cấp nông sản, nguyên liệu cho công nghiệp
và xuất khẩu
Phần lớn nguyên liệu của các ngành công nghiệp thực phẩm; công nghiệp chế biến và công nghiệp nhẹ khác là do nông nghiệp cung cấp Ví dụ như: các ngành công nghiệp nhẹ như dệt, may, da giầy… ngành công nghiệp chế biến như chế biến đồ hộp, chế biến gỗ… đều không thể thiếu những nguyên liệu đầu vào từ nông nghiệp, nông thôn Vì vậy, sự phát triển các ngành công nghiệp sản xuất các sản phẩm tiêu dùng này lệ thuộc nhiều vào quá trình cung cấp nguyên liệu từ nông nghiệp
Ở những nước đang trong giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, kể
cả nước ta hiện nay, nông nghiệp còn là nguồn xuất khẩu tạo ra thu nhập về ngoại tệ khá lớn Tuỳ theo lợi ích so sánh của mình, mỗi nước có thể xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, thu ngoại tệ hay trao đổi lấy sản phẩm công nghiệp
để đầu tư lại cho nông nghiệp và các ngành khác của nền kinh tế quốc dân
Thứ ba: Nông nghiệp thúc đẩy phát triển toàn nền bộ nền kinh tế
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Nông nghiệp không những là nguồn cung cấp các sản phẩm hàng hoá cho thị trường trong và ngoài nước, mà còn cung cấp các yếu tố sản xuất, như: Lao động và vốn cho các ngành kinh tế khác Sự phát triển của ngành công nghiệp phục thuộc nhiều vào nguồn lao động từ nông nghiệp cung cấp
Vì vậy, sự phát triển của nông nghiệp có ảnh hưởng trực tiếp, hay gián tiếp đến khả năng đáp ứng về lao động cho các ngành công nghiệp và phi nông nghiệp khác Việc chuyển lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp tuỳ thuộc nhiều vào tốc độ tăng trưởng kinh tế và tốc độ công nghiệp hoá của mỗi nước Quá trình công nghiệp hoá đều cần sự đầu tư lớn về vốn, với những nước đang phát triển, một phần đáng kể về vốn đó phải do nông nghiệp cung cấp Sự cung cấp vốn từ nông nghiệp cho các ngành kinh tế khác thông qua nhiều con đường, như: Thuế nông sản xuất khẩu, giá trị nguyên liệu trực tiếp, giá trị nông nghiệp xuất khẩu đầu tư trở lại
Nông nghiệp còn là thị trường tiêu thụ các sản phẩm dịch vụ của công nghiệp và các ngành kinh tế khác Vì thế, nông nghiệp làm một trong những nhân tố đảm bảo cho các ngành công nghiệp khác: Cơ khí, điện, hoá học Công nghiệp sản xuất hàng hoá tiêu dùng phát triển Sự phát triển ổn định của nông nghiệp đòi hỏi phải có một lượng hàng ổn định về vật tư phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, máy nông cụ và các mặt hàng công nghiệp khác, như: vải, xà phòng, đường Ở tất cả các nước kể cả các nước công nghiệp, nông thôn, nông nghiệp là thị trường chính tiêu thụ các sản phẩm trên
Nông nghiệp còn có tác dụng giữ gìn, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường Ở bất cứ nước nào, sản xuất nông nghiệp cũng gắn liền việc sử dụng với quản lý các tài nguyên thiên nhiên, như: Đất đai, nguồn nước, rừng, thực vật và động vật Một nền nông nghiệp phát triển, ngoài việc đảm bảo các vai trò nói trên, còn phải góp phần giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên môi trường, chống giảm cấp về nguồn lực và sự đa dạng sinh học của tự nhiên, đó là yếu tố cơ bản của sự phát triển một nền nông nghiệp bền vững
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Ở Việt nam, sản xuất nông nghiệp càng chiếm vị trí quan trọng, bởi nước ta là một nước vào loại đông dân số trên thế giới, và “Hiện nay còn tới trên 73% dân số, cuộc sống có thu nhập từ nông nghiệp” [1], vừa là nền tảng vừa là nội dung quan trọng của quá trình CNH- HĐH đất nước Các vai trò của nông nghiệp phân tích ở trên đã thể hiện rõ như vậy Mặc dù xu hướng chung, tỷ trọng GDP của nông nghiệp sẽ giảm dần trong quá trình phát triển kinh tế, như năm 1995: 27,5%, năm 2000 là 23,5% và năm 2005 là 19,6% [2] Song sự tăng trưởng riêng của ngành nông nghiệp vẫn tăng bình quân giai đoạn 2006- 2008 là 3,5%/năm [11] Tuy nhiên tỷ lệ GDP của nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế ở nước ta hiện nay còn lớn so với các nước trong khu vùng, và cho thấy rằng: Việt Nam vẫn đang còn là một nước nông nghiệp, công nghiệp dịch vụ có phát triển hơn những năm cuối thế kỷ 20, nhưng mới chỉ là giai đoạn đầu
1.1.2.Phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.2.1 Khái niệm phát triển nông nghiệp bền vững
Phát triển nông nghiệp bền vững được nhận thức từ định nghĩa phát triển bền vững Theo FAO đưa ra khái niệm phát triển nông nghiệp bền
vững (năm 1992): " Phát triển nông nghiệp bền vững là sự quản lý và bảo
tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật nhằm đảm bảo thoả mãn ngày càng tăng của con người cả trong hiện tại và mai sau Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp sẽ không làm tổn hại đến môi trường, không làm giảm cấp tài nguyên phù hợp với kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả kinh
tế được xã hội chấp nhận" (WCED, 1987; United Nations, 2010)
Sự phát triển nông nghiệp một cách bền vững vừa đảm bảo thoả mãn nhu cầu hiện tại ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp vừa không giảm khả năng đáp ứng những nhu cầu của nhân loại trong tương lai Mặt khác, phát triển nông nghiệp bền vững vừa theo hướng đạt năng suất nông nghiệp cao hơn, vừa bảo vệ và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo sự cần bằng có
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
lợi về môi trường
Phát triển nông nghiệp bền vững là bảo tồn đất đai, nguồn nước, các nguồn di truyền động, thực vật, là môi trường không thoái hoá, kỹ thuật phù hợp, kinh tế phát triển và một xã hội chấp nhận được
Điều cơ bản nhất của phát triển nông nghiệp bền vững là cải thiện chất lượng cuộc sống trong sự tiếp cận đúng đắn về môi trường, để giữ gìn những tài nguyên cơ bản nhất cho thế hệ sau (dẫn theo hội nghị khoa học đất Việt Nam, 2000)
,
1.1.2.2.Đặc trưng phát triển nông nghiệp bền vững
Thứ nhất, phát triển nông nghiệp bền vững là nền sản xuất trong đó hoạt động của con người phù hợp với các quy luật phát triển của tự nhiên, khai thác và bồi dưỡng được tự nhiên được thực hiện trong cùng một quá trình, nhờ đó duy trì được môi trường tự nhiên cho đời sống trường tồn của mọi thế hệ
Thứ hai, phát triển nông nghiệp bền vững là nền sản xuất nông nghiệp đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, dựa trên cơ sở ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ hiện đại sản xuất
Thứ ba, phát triển nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực nhưng vẫn đảm bảo sự tăng trưởng
Thứ tư, phát triển nông nghiệp bền vững là nền sản xuất nông nghiệp
có cơ cấu kinh tế hợp lý Nói đến cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp là nói đến
cơ cấu giữa chăn nuôi và trồng trọt
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
Thứ năm, phát triển nông nghiệp bền vững là nền sản xuất nông nghiệp bảo đảm được công ăn việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, tạo được
cơ sở vật chất cho phát triển nông thôn mới
Thứ sáu, phát triển nông nghiệp bền vững là nền nông nghiệp, trong đó đòi hỏi trình độ của người lao động ngày càng cao
1.1.2.3.Vai trò của phát triển nông nghiệp bền vững
Trên cơ sở khái niệm phát triển nông nghiệp và phát triển bền vững đã thảo luận trên, tác động của phát triển nông nghiệp bền vững được thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất, cung cấp ổn định lương thực thực phẩm cho nhu cầu xã hội
Lương thực, thực phẩm là nhân tố đầu tiên, có tính chất quyết định sự tồn tại phát triển của con người và phát triển kinh tế xã hội của đất nước Xã hội càng phát triển, đời sống của con người ngày càng được nâng cao thì nhu cầu của con người về lương thực, thực phẩm cũng ngày càng tăng cả về số lượng, chất lượng và chủng loại Điều đó do tác động của các nhân tố: sự gia tăng dân số và nhu cầu nâng cao mức sống của con người Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, SXNN giữ vai trò to lớn trong việc bảo đảm cung cấp ổn định cho đời sống con người những sản phẩm tối cần thiết đó là lương thực, thực phẩm Những sản phẩm này cho dù trình độ khoa học - công nghệ phát triển như hiện nay, vẫn chưa có ngành nào có thể thay thế được
Thứ hai, tạo ra sự ổn định, bảo đảm an toàn cho phát triển của nền kinh tế quốc dân
Nông nghiệp có vị trí quan trọng trong việc cung cấp các nhân tố đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị Nông nghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu to lớn và quí cho công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến Trên cơ sở đó, phát triển bền vững nền nông nghiệp giữ được vai trò cung cấp các nhân tố đầu vào quan trọng cho sự phát triển công nghiệp, phát triển thị trường nội địa, tạo ra sự ổn định việc tiêu dùng hàng hóa nông nghiệp,
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hàng hóa công nghiệp và hàng hóa tư liệu cho các ngành sản xuất góp phần trong quá trình phát triển kinh tế
Thứ ba, giúp cho nông hộ và cộng đồng sản xuất nông nghiệp có thu nhập ổn định
Sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao, sản phẩm làm ra nhiều không những đáp ứng tiêu dùng, thức ăn chăn nuôi, dự trữ lương thực mà còn xuất khẩu ra thị trường được hiểu là nền nông nghiệp được phát triển bền vững Trên cơ sở đó, PTNN bền vững đóng vai trò quan trọng tạo nguồn thu nhập
ổn định cho các hộ sản xuất và các cộng đồng SXNN Đối với các nước đang phát triển và đại bộ phận sống bằng nghề nông, nền kinh tế hộ và kinh tế của các địa phương phụ thuộc quá nhiều vào SXNN và sự phát triển SXNN bền vững cũng ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững nền kinh tế xã hội của toàn vùng
Thứ tư, Tạo ra, ổn định công ăn việc làm cho lao động nông nghiệp
và góp phần xóa đói giảm nghèo một cách bền vững
Ngoài ra tạo nguồn thu nhập ổn định, PTNN bền vững đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra cho người nông dân có đầy đủ công ăn việc làm, đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao, cuộc sống lành mạnh và không có
tệ nạn xã hội Đối với các nước mà nghề nông là nghề chính, phát triển SXNN bền vững không những tạo việc làm ổn định cho lao động nông nghiệp và góp phần xóa đói giảm nghèo mà còn giải quyết việc làm cho hàng loạt lao dộng trong vùng
Thứ năm, Giữ gìn và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Con người và tài nguyên thiên nhiên gắn liền trực tiếp lẫn nhau Cuộc sống, sức khỏe con người, thực vật và động vật không thể thiếu được tài nguyên thiên nhiên hoặc sống dưới dạng môi trường tự nhiên bị hủy hoại Trên cơ sở đó, phát triển SXNN bền vững đóng vai trò lớn trong việc giữ gìn
và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên rừng và biển, bảo đảm
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cân bằng hệ sinh thái, giữ nguồn nước ngầm trong sạch và không gây ô nhiễm môi trường Khi con người tồn tại và sử dụng tài nguyên phong phú của thiên nhiên nhưng không tàn phá thiên nhiên, bảo đảm lợi ích cho các thế hệ mai
sau được hiểu là nền nông nghiệp đã phát triển bền vững
1.1.2.4 Nội dung phát triển nông nghiệp bền vững
Xuất phát từ khái niệm, tác động và yêu cầu của PTNN bền vững, nội dung của PTNN bền vững được thể hiện ở hình dưới
,
:
Quy mô sản xuất nông nghiệp
Diện tích trồng trọt và số lượng đầu con vật nuôi là yếu tố quyết định về quy mô sản xuất nông nghiệp Phát triển nông nghiệp cũng phải đối mặt với quy
mô SXNN Theo tập quán canh tác truyền thống của người nông dân, quy mô SXNN thường là quy mô nhỏ lẻ manh mún Diện tích trồng trọt đã được sử dụng
để trồng cây lương thực chủ yếu là cây lúa Số lượng đầu con vật nuôi chỉ chăn nuôi với số lượng ít để tự cung tự cấp trong gia đình chưa chăn nuôi được nhiều
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
số đầu con để bán ra thị trường Trong nội dung phát triển nông nghiệp bền vững, quy mô SXNN cần phải được phát triển theo hướng sản xuất thâm canh phù hợp với yếu tố đầu vào để mang lại giá trị sản xuất cao, nâng cao nguồn thu nhập, đáp ứng nhu cầu thị trường và góp phần tăng cường kinh tế địa phương cũng như nền kinh tế quốc dân
Hiệu quả kinh tế của sản xuất nông nghiệp
Phát triển SXNN bền vững yêu cầu phải mang lại hiệu quả kinh tế cao Tính bền vững về mặt kinh tế đó là tăng năng suất nông nghiệp và giá trị SXNN một cách ổn định Chỉ có tăng năng suất mới đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của con người về sản phẩm nông nghiệp Trong SXNN, để đạt được năng suất, sản lượng sản phẩm một cách hiệu quả, người sản xuất cần phải bỏ ra chi phí theo khả năng sản xuất PTNN bền vững là phát triển với mức tăng trưởng hợp lý, có giá trị SXNN cao, phát triển có kế hoạch cân đối,
có tầm nhìn, gắn với thị trường
Thu nhập của nông hộ
Thu nhập là một trong những yếu tố then chốt để người lao động bảo đảm sinh kế cho bản thân và gia đình, từ đó gắn kết họ với công việc Cơ hội việc làm mang lại thu nhập ổn định cho người dân là một trong những ràng buộc quan trọng đối với quá trình tăng trưởng vì mục tiêu con người Đối với các hộ làm nghề nông, nông nghiệp đóng vai trò quan trọng là nguồn thu nhập, bảo đảm an ninh lương thực và an toàn thực phẩm, và tạo việc làm cho lao động gia đình
b
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
t
tiêu chí sau:
Lao động và việc làm
Trong quá trình phát triển SXNN, có hai vấn đề cần phải xem xét Một
là tạo thêm nhiều việc làm và hai làm giảm tỷ lệ hộ nghèo Lực lượng lao động luôn tập trung ở vùng nông thôn Lực lượng lao động nông thôn chủ yếu tham gia SXNN Thu nhập từ SXNN của nông hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ thuế và chi phí sản xuất mà nông hộ nhận được từ hoạt động nông nghiệp, dịch vụ nông nghiệp và săn bắt thuần dưỡng chim thú trong một thời gian nhất định, thường là một năm Phát triển SXNN phải tạo công ăn việc làm cho lao động nông thôn cùng với nâng mức thu nhập cho nông hộ
Xóa đói, giảm nghèo
Đến nay vai trò của Chính phủ trong giải quyết vấn đề đói nghèo được thể hiện ở các điểm chính sau: tăng cường cơ hội cho người nghèo; tăng cường quyền lực cho người nghèo và tăng cường mạng lưới an sinh xã hội Nằm trong khuôn khổ chung đó, các chủ trương chính sách sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tạo nguồn lực để xóa đói giảm nghèo Cụ thể là: củng cố môi trường đầu tư, tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp và dân cư đầu tư pháttriển sản xuất kinh doanh; hoàn thiện các công cụ và chính sách kinh tế, duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô; phát triển nguồn nhân lực và cải cách hành chính Phát triển SXNN không nằm ngoài chủ trương đó Chính sách phát triển SXNN để thúc đẩy góp phần xóa đói giảm nghèo cho các bà con nông dân ở vùng nông thôn là bước đầu phải thực hiện chặt chẽ
Cân bằng giới trong phát triển sản xuất nông nghiệp
Phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong SXNN, các ngành kinh tế phi nông nghiệp, các hoạt động xã hội và cộng đồng nông thôn Trong quá trình phát triển kinh tế, ổn định xã hội, xóa đói giảm nghèo và phát triển nhiều phần
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
kinh tế, phát triển SXNN đã tạo ra những thuận lợi, mở ra những cơ hội cho
sự phát triển của lực lượng lao động nói chung, lao động nữ nói riêng nhưng cũng đặt ra không ít khó khăn, thách thức và yêu cầu mới đối với lực lượng này, làm cho khoảng cách bất bình đẳng giới trong lao động và việc làm nông thôn có xu hướng gia tăng nhanh hơn so với ở thành thị Do vậy, thực hiện cân đẳng giới trong phát triển SXNN nhằm tạo điều kiện để phụ nữ được hưởng các quyền cơ bản của mình, tham gia và hưởng thụ một cách bình đẳng
và đầy đủ trong mọi khía cạnh của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội
và môi trường thiên nhiên
Chất thải nông nghiệp
Chất thải nông nghiệp là các loại rác thải được thải ra từ hoạt động nông nghiệp như các loại chai lọ thuốc trừ sâu, thuốc BVTV, các loại túi nilon
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
hoặc gói thuốc sau khi được sử dụng… Với chất thải nông nghiệp nguy hại là các hóa phẩm nông nghiệp không nhãn mác, các chai lọ bằng nhựa, thủy tinh hay kim loại hoặc những gói thuốc thậm chí cả những lọ thuốc BVTV vẫn chưa được sử dụng hết đã và đang được vứt bỏ không đúng cách đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe cộng đồng Trong SXNN nói chung và chăn nuôi nói riêng, chất thải chăn nuôi gây ô nhiễm đến môi trường và cuộc sống của con người Phát triển SXNN luôn liên quan đến vấn đề chất thải chăn nuôi và cần xử lý chặt chẽ để giảm thiểu ô nhiễm môi trường và phát triển nông nghiệp một cách bền vững
Ô nhiễm môi trường nông nghiệp
Môi trường được coi là bị ô nhiễm nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ các tác nhân như chất thải, rắn chứa hóa chất đạt đến mức độ có khả năng tác động xấu đến con người, sinh vật và vật liệu Các loại chất thải nông nghiệp xuất hiện ngày càng nhiều tại các vùng nông thôn trong khi khả năng đầu
tư cho xử lý, giảm thiểu ô nhiễm rất hạn chế Do vậy, người dân nông thôn đang hàng ngày, hàng giờ đối mặt với tình trạng ô nhiễm ngày càng trầm trọng Để phát triển SXNN bền vững, nên việc ô nhiễm môi trường nông nghiệp cần được bảo vệ gắn chặt với trách nhiệm của mọi tổ chức, cá nhân và mọi người dân
1.1.3 Nhân tố tác động tới phát triển nông nghiệp bền vững
1.1.3.1Điều kiện tự nhiên
Sản xuất nông nghiệp chịu sự ảnh hưởng khá lớn bởi điều kiện tự nhiên Các nhân tố có thể ảnh hưởng đến năng suất cây trồng, vật nuôi bao gồm lượng mưa, nhiệt độ trung bình cao nhất, nhiệt độ trung bình thấp nhất,
số giờ nắng, bão gió, hạn hán, lụt lội, dịch bệnh Thời tiết, khí hậu thuận lợi sẽ làm tăng năng suất, chất lượng của sản phẩm nông nghiệp; ngược lại, khi các nhân tố trên không thuận lợi, sẽ gây ra những thiệt hại nghiêm trọng không chỉ trong vụ mùa đó mà còn ảnh hưởng kéo dài qua những năm tiếp theo
Để phát triển SXNN ổn định, bền vững thì vấn đề đặt ra là phát triển
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
SXNN phải bảo đảm sự phù hợp với đặc điểm tự nhiên Phát triển SXNN sẽ
ổn định khi điều kiện tự nhiên thuận lợi và ngược lại
1.1.3.2 Các chủ trương, chính sách phát triển nông nghiệp
Để phát triển nông nghiệp hiệu quả và bền vững thì chủ trương, chính sách của các cơ quan quản lý nhà nước cũng là một trong những nhân tố ảnh hưởng Chính sách cho phát triển nông nghiệp được ban hành từ các Bộ, ngành Chính phủ đến địa phương nhằm định hướng, hỗ trợ cho người sản xuất, cộng đồng và cũng là những quy định cụ thể, bắt buộc phải tuân thủ trong quá trình sản xuất - chế biến - tiêu thụ nông sản Do đó, việc ban hành chính sách một cách đồng bộ, đầy đủ, kịp thời, chính xác sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến SXNN
Các chính sách của nhà nước liên quan đến phát triển nông nghiệp chủ yếu là các chính sách như: chính sách đất đai, chính sách đầu tư cơ sở hạ tầng, chính sách cung cấp giống và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, chính sách tín dụng cho SXNN, quy hoạch đất SXNN, quy hoạch phát triển KT - XH Các chính sách này có ảnh hưởng lớn đến phát triển nông nghiệp bền vững và là công cụ đắc lực để Nhà nước can thiệp có hiệu quả vào SXNN
1.1.3.3.Chuyển giao công nghệ kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp
Một trong các nhân tố quan trọng, ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả, SXNN đó là việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ Đây là nhân tố tác động trực tiếp đến SXNN
Việc ứng dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ từ khâu chọn giống, trồng, giống vật nuôi, kỹ thuật canh tác, kỹ thuật điều trị bệnh cho động vật… nhằm đạt năng suất cao, góp phần tái tạo đất và môi trường sinh thái là nhân
tố quan trọng trong phát triển SXNN bền vững Việc ứng dụng đồng bộ, hiệu quả các nhân tố này một cách tối ưu sẽ làm tăng năng suất, giảm giá thành sản xuất và đem lại lợi nhuận cao hơn
1.1.3.4 Nguồn vốn đầu tư cho phát triển nông nghiệp
Cũng như sự phát triển các ngành khác, vốn cho SXNN là điều kiện
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
cần để người sản xuất đầu tư về tư liệu sản xuất, nguyên vật liệu, thuê nhân công để tiến hành sản xuất Hầu hết, các hộ và cộng đồng đều phải đi vay vốn
để sản xuất lúa và chăn nuôi theo quy mô lớn Do đó, vốn là điều kiện tiên quyết, là nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất, chế biến và tiêu thụ
Việc xác định mức vốn, lãi suất, thời gian để cho vay ảnh hưởng rất lớn đến SXNN Cho vay phải đáp ứng đủ nhu cầu, đúng thời điểm, thời gian cho vay phải hợp lý, đáp ứng nhu cầu của người sản xuất thì mới phát huy tác dụng và đem lại hiệu quả
1.1.3.5 Thị trường tiêu thụ sản phẩm
Thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển nông nghiệp bền vững Thị trường là nhân tố hướng dẫn và điều tiết các hoạt động sản xuất - buôn bán nông sản (FAO, 2012b) Mỗi đơn vị, tổ chức SXNN cần dựa vào
và phân tích tín hiệu thị trường (giá đầu vào và giá đầu ra, lợi nhuận ), quan hệ cung, cầu hàng hoá (số lượng, chất lượng, chủng loại và cơ cấu sản phẩm hàng hoá, dịch vụ ) trên thị trường để đưa ra các quyết định sản xuất của mình Việc đưa ra quyết định một cách đúng đắn sẽ góp phần giúp cho SXNN được ổn định, bền vững Các nhân tố thị trường bao gồm: thị trường đầu ra (sản phẩm và dịch vụ, số lượng và chất lượng, giá bán và khả năng tiêu thụ sản phẩm), thị trường đầu vào (số lượng, giá đầu vào, khả năng cung cấp) và giá cả
1.1.3.6 Lao động và chất lượng nguồn lao động sản xuất nông nghiệp
SXNN là một ngành đóng vai trò then chốt quyết định đến năng suất, chất lượng sản phẩm thu hoạch, nó dựa vào nhân tố kỹ thuật Chính vì vậy, lao động SXNN không chỉ đòi hỏi phải có sức khỏe, sự cần mẫn, khéo léo, kinh nghiệm mà cần phải có kiến thức và có trình độ văn hóa nhất định để tiếp thu học hỏi và áp dụng các giải pháp kỹ thuật một cách tốt nhất, biết xử lý tình huống trong quá trình sản xuất, biết chọn lọc và đưa ra các phương án hữu hiệu
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nhằm đạt tối đa năng suất, tiết kiệm chi phí mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng nông sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 2006)
Trình độ nhận thức và trình độ lao động của người sản xuất ngày càng được nâng lên, cùng với đức tính cần cù, sáng tạo, chịu khó, có nhiều kinh nghiệm trong việc gieo trồng, thâm canh và chăn nuôi đạt năng suất cao là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tích cực đến PTNN bền vững cả ngành trồng trọt và chăn nuôi Trình độ nhận thức và trình độ lao động của người sản xuất cao sẽ dễ dàng hơn trong việc áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thâm canh tăng năng suất, sản lượng và nâng cao chất lượng sản phẩm, sảnxuất có lãi, tích lũy tăng tạo điều kiện tăng lượng vốn đầu tư ngược trở lại cho SXNN, góp phần ổn định PTNN
1.2 Cơ sở thực tiễn về phát triển nông nghiệp bền vững
1.2.1 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững của một số nước trên thế giới
1.2.1.1 Thực tiễn phát triển nông nghiệp bền vững ở tỉnh Surin, Thái Lan
Surin là một tỉnh nông nghiệp truyền thống của Thái Lan giáp với tỉnh Oddar Meanchey của Campuchia Nông nghiệp Surin trong hàng thập kỷ qua đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế vùng Tây Bắc bộ của Thái Lan Không những nó góp phần tăng trưởng kinh tế, bảo đảm chất lượng cuộc sống cho người dân mà còn bảo vệ môi trường sinh thái hiệu quả (Woranoot, 2009) Trong những năm qua, nông nghiệp nông thôn ở tỉnh Surin đã có chuyển biến nhiều mặt, cụ thể là ngành nông nghiệp của tỉnh đã được cơ giới hóa ở trình
độ khá cao Hiện nay khâu làm đất, tưới nước, tuốt lúa đã cơ giới hóa gần 90% Đối với khâu sơ chế, chế biến thức ăn, vệ sinh chuồng trại chăn nuôi cũng được các chủ trang trại, hộ chăn nuôi áp dụng cơ khí hóa và hiện đại hóa Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp đã chuyển dịch mạnh theo hướng giảm dần diện tích lúa có năng suất thấp, hiệu quả kém sang nuôi thủy sản và cây
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
ăn trái có chất lượng cao Surin cũng như nhiều tỉnh khác, đều áp dụng những tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất và thu được kết quả khả quan như: năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt, giải quyết được việc làm và tăng thu nhập cho nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường hiệu quả (Viboon and Anucit, 2009)
Tác giả Sachika (2010) đề cập đến sự thành công của nền nông nghiệp Thái Lan nói chung - đó là phát triển bền vững về khía cạnh môi trường Nông dân đã đề ra phương án SXNN theo hướng hữu cơ Nghĩa là cây trồng được chăm sóc bằng phân bón hữu cơ là chủ yếu, giảm phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật Nông dân ở các vùng đã thành lập nhóm sản xuất phân hữu cơ nhằm tạo ra sản phẩm phân bón chất lượng cao, có hiệu quả kinh tế, thúc đẩy SXNN phát triển, tăng thu nhập và bảo vệ môi trường Kinh nghiêm của Hart (2008) trong PTNN bền vững là phát triển về quy mô và hình thức SXNN Phát triển nông nghiệp theo quy mô lớn, chuyên môn hóa bằng cách
áp dụng công nghệ kỹ thuật tiên tiến sẽ mang lại hiệu quả sản xuất cao và bảo đảm tính ổn định, bền vững của SXNN
1.2.1.2 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững của Hàn Quốc
Hàn Quốc nằm ở phía nam bán đảo Triều Tiên ( giáp ba nước lớn là Trung Quốc, Nhật Bản và Liên bang Nga) với diện tích 100,032 km2, chủ yếu là đồi núi, nghèo tài nguyên, dân số 48,87 triệu người, chia làm 17 đơn
vị hành chính gồm thủ đô Seoul, 7 thành phố trực thuộc trung ương và 9 tỉnh
Trong quá trình phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng, Hàn Quốc đó rất chú trọng đến sự phát triển bền vững Nông nghiệp bền vững đó bắt đầu được chú ý ở Hàn Quốc vào cuối những năm 1970 với những biện pháp:
Một là, thiết lập hệ thống quản lý nông nghiệp bền vững Ngay từ
những năm 1970, các tổ chức tư nhân, như Hiệp hội các trang trại lành mạnh và Hiệp hội nghiên cứu nghề nông trại hữu cơ (organic farming),
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghề nông trại hữu cơ đó bắt đầu như một phần của các phong trào tôn giáo Hiện nay, đó có toàn bộ 13 nhóm tiến hành hoạt động về nông nghiệp bền vững thông qua các tổ chức của quốc gia hoặc vùng Các nhóm này bắt đầu tiến hành các hoạt động nông trại bằng việc tổ chức hiệp hội những người sản xuất và tiêu dùng đối với các sản phẩm nông nghiệp
Hai là, giảm thiểu ô nhiễm môi trường: Để giảm ô nhiễm môi trường
gây ra bởi các hóa chất nông nghiệp, số lượng các hóa chất sử dụng phải được cắt bớt bằng cách sử dụng có hiệu quả và thận trọng Chương trình quản lý dịch hại tổng hợp (IPM) đó được đưa ra để khuyến khích việc
sử dụng có hiệu quả các hóa chất Trong một thời gian ngắn từ năm 1992
đó có hơn 9.000 người được đào tạo thành các huấn luyện viên và các chủ trang trại để áp dụng chương trình IPM Chương trình này kêu gọi giảm
số lượng các bình phun hóa chất nông nghiệp và khối lượng sử dụng xuống còn 1/2 vào năm 2004, thông qua việc kiểm soát một cách hiệu quả các bệnh và loài gây hại dựa trên cơ sở các cuộc thử nghiệm khoa học nghiêm ngặt và kiểm soát sinh học, sử dụng các kẻ thù tự nhiên Các tiêu chuẩn để
sử dụng an toàn các hóa chất cũng sẽ được xây dựng, và một hệ thống các quy định về hóa chất nông nghiệp cũng sẽ được áp dụng Các hóa chất có nồng độ độc tố thấp và các chế phẩm vi sinh cũng sẽ được phát triển mạnh để hạn chế tối đa các tác hại do sử dụng hóa chất nông nghiệp
Ba là, duy trì và cải thiện các nguồn lực: Đất trồng trọt của Hàn Quốc có
độ chua cao, nhưng hàm lượng các chất hữu cơ và axit si-lic thì lại ở mức thấp Axit si-lic được cung cấp cho những đồng lúa mà hàm lượng axit si-lic có khoảng 130 ppm hoặc thấp hơn, và vôi được cung cấp cho đất đồi mà
độ chua của chúng là 6,5 pH hoặc thấp hơn Chính phủ Hàn Quốc đó lập kế hoạch xây dựng các dự án cải tạo đất cho toàn bộ đất trồng trọt ít nhất 6 năm
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
một lần Đối với đất trồng trọt có năng suất thấp hoặc đất bị ô nhiễm; đất được lấy từ các vị trí khác cũng được bổ sung vào, để hàm lượng đất sét đạt đến 15%
Bốn là, thúc đẩy sự tiến bộ của các dự án khuyến khích nông nghiệp bền
vững: Các chương trình trợ giúp các trang trại cỡ vừa và nhỏ trong việc sản xuất các sản phẩm nông nghiệp có chất lượng cao đó được khởi xướng từ năm
1995 Mục tiêu của việc trợ giúp bao gồm cả sản xuất và tiếp thị các phương tiện và thiết bị cho nông nghiệp bền vững, như các thiết bị sản xuất vi sinh tự nhiên, kho thóc và nhà kính, thiết bị làm lạnh và các loại xe làm lạnh
1.2.1.3 Kinh nghiệm phát triển bền vững của Nhật Bản
Nhật Bản là nước có diện tích đất đai canh tác có hạn, số lượng người đông, đơn vị sản xuất nông nghiệp chính tại Nhật Bản vẫn là các hộ gia đình nhỏ, mang đậm tính chất của nền văn hóa lúa nước Với đặc điểm tự nhiên và
xã hội, trong phát triển nông nghiệp Nhật Bản đã đề ra một chiến lược khôn khéo và hiệu quả, như tăng năng suất nền nông nghiệp quy mô nhỏ (bằng cách thâm canh tăng năng suất trên đơn vị diện tích và trên đơn vị lao động để nông nghiệp Nhật Bản cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm cho nhu cầu của nhân dân); dưỡng sức dân, tạo khả năng tích lũy và phát huy nội lực; thâm canh tăng năng suất; xuất khẩu nông, lâm sản (nguồn thu ngoại tệ quan trọng) để nhập khẩu máy móc, thiết bị phục vụ công nghiệp hóa; phi tập trung hóa công nghiệp, đưa sản xuất công nghiệp về nông thôn, gắn nông thôn với công nghiệp, gắn nông thôn với thành thị Những bước đi thích hợp này là những điều kiện quan trọng để phát triển nông nghiệp, nông thôn Nhật Bản theo hướng hiện đại hóa
Để tạo cơ sở thúc đẩy nông nghiệp tăng trưởng và phát huy tác dụng máy móc, thiết bị và hóa chất cho quá trình cơ giới hóa và hóa học hóa nông
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - ĐHTN http://www.lrc-tnu.edu.vn/
nghiệp, tạo ra năng suất lao động cao trong nông nghiệp, Nhật Bản đã chú trọng phát triển, xây dựng và hoàn thiện kết cấu hạ tầng, hệ thống năng lượng
và thông tin liên lạc hoàn chỉnh, phân bổ các ngành công nghiệp chế biến dùng nguyên liệu nông nghiệp (như tơ tằm, dệt may ), các ngành cơ khí, hóa chất trên địa bàn nông thôn toàn quốc Tạo việc làm cho lao động nông thôn, ngăn chặn làn sóng lao động rời bỏ nông thôn ra thành thị Chính phủ Nhật Bản thường xuyên có chính sách trợ giá nông sản cho các vùng nông nghiệp mũi nhọn
Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng bền vững và hiện đại hóa hiện là xu thế tất yếu trong chiến lược phát triển kinh tế các nước Nhật Bản đã thực hiện chính sách lấy nông nghiệp làm nền tảng ổn định xã hội và tích lũy cho công nghiệp, thu hút vốn đầu tư, phát triển công nghiệp hướng vào xuất khẩu làm tăng nhanh tiềm lực kinh tế đất nước
1.2.2 Kinh nghiệm phát triển nông nghiệp bền vững ở một số địa phương ở nước ta
Các địa phương trồng lúa ở
ết quả
, 3 tăng