LÝ LUẬN GIÁ TRỊTrong hệ thống các các lý luận cơ bản của từng trường phái cũng như của cả quá trìnhlịch sử phát triển, lý luận giá trị lao động đóng vai trò hạt nhân, là cơ sở của các lý
Trang 1LÝ LUẬN GIÁ TRỊ
Trong hệ thống các các lý luận cơ bản của từng trường phái cũng như của cả quá trìnhlịch sử phát triển, lý luận giá trị lao động đóng vai trò hạt nhân, là cơ sở của các lý luậnkhác; Nó cũng bắt đầu sơ khai từ những tư tưởng kinh tế và được phát triển thành nhữngquan niệm, khái niệm và đến Marx đã khái quát hoá thành những phạm trù, những hệthống lý luận hoàn chỉnh mà nhờ đó giải thích được các hiện tượng kinh tế trong xãhội
I-/ Lý luận của chủ nghĩa Trọng thương:
Chủ nghĩa Trọng thương hay trường phái coi trọng thương mại là hệ thống tư tưởngkinh tế đầu tiên của giai cấp tư sản ra đời trong thời kỳ tan rã của phương thức sản xuấtphong kiến, phát sinh phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa chuyển từ kinh tế hànghoá giản đơn sang kinh tế thị trường Nó ra đời vào khoảng những năm 1450, phát triểntới những năm 1650 và sau đó bị suy đồi Về mặt lịch sử, đây là thời kỳ tích luỹ nguyênthuỷ của chủ nghĩa tư bản
Tư tưởng xuất phát của chủ nghĩa Trọng thương cho rằng, tiền là nội dung căn bản củacủa cải, là tài sản thật sự của một quốc gia Một nước có càng nhiều vàng thì càng giàu
có Còn hàng hoá chỉ là phương tiện để tăng thêm khối lượng tiền tệ mà thôi Trên quanđiểm coi tiền là đại biểu duy nhất của của cải, là tiêu chuẩn đánh giá mọi hình thức hoạtđộng nghề nghiệp Những hoạt động nào không dẫn đến tích luỹ tiền tệ là những hoạtđộng tiêu cực, không có lợi Hoạt động công nghiệp không thể là nguồn gốc của của cải(trừ công nghiệp khai thác vàng và bạc) chỉ có hoạt động ngoại thương mới là nguồn gốcthật sự của của cải
Khối lượng tiền tệ chỉ có thể gia tăng bằng con đường ngoại thương Trong hoạt độngngoại thương phải thực hiện chính sách xuất siêu (xuất nhiều, nhập ít)
“Nội thương là một hệ thống ống dẫn, ngoại thương là máy bơm, muốn tăng của cải phải có ngoại thương nhập dần của cải qua nội thương”.
Những người trọng thương cho rằng, lợi nhuận thương nghiệp là kết quả của sự trao đổikhông ngang giá, là sự lừa gạt, như chiến tranh Họ cho rằng, không một người nào thuđược lợi mà lại không làm thiệt kẻ khác Dân tộc này là giàu
Trang 2bằng cách hy sinh lợi ích của dân tộc khác Trong trao đổi phải có một bên thua để bên kia được.
Mặc dù còn hạn chế về tính lý luận nhưng hệ thống quan điểm học thuyếtkinh tế Trọng thương đã taọ ra những tiền đề lý luận kinh tế xã hội cho các lý luậnkinh tế thị trường sau này phát triển Điều này thể hiện ở chỗ họ đưa ra quan điểm
sự giàu có không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, là tiền Mục đích hoạt độngcủa kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là lợi nhuận Marx chỉ ra rằng chủ nghĩa
Trọng thương thế kỷ XVI-XVII đã đi theo “cái hình thái chói lọi của giá trị trao đổi và đứng trên lĩnh vực thô sơ của lưu thông hàng hoá để xem xét nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa”
II-/ lý luận của chủ nghĩa Trọng nông:
Cũng như chủ nghĩa Trọng thương, chủ nghĩa Trọng nông xuất hiện trong khuôn khổ thời
kỳ quá độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa, nhưng ở giai đoạn phát triển kinh tếtrưởng thành hơn Vào giữa thế kỷ XVIII Tây Âu đã phát triển theo con đường tư bản chủnghĩa và ở nước Anh, cuộc cách mạng công nghiệp đã bắt đầu ở nước Pháp chủ nghĩa tưbản công trường thủ công đã bén rễ ăn sâu một cách vững chắc Điều đó đòi hỏi xét lạihọc thuyết của chủ nghĩa Trọng thương đã trở thành cấp thiết Thời kỳ tích luỹ ban đầu
đã chấm dứt và việc dùng thương mại để bóc lột các nước thuộc địa đã mất hết ý nghĩađặc biệt của nó với tư cách là nguồn làm giàu cho giai cấp tư sản
Những người theo chủ nghĩa Trọng nông mà đại diện tiêu biểu là Keynes cho rằng, xãhội loài người phát triển theo những quy luật tự nhiên Theo họ, nguồn gốc duy nhất củacủa cải là tự nhiên, là nông nghiệp vì nông nghiệp đem lại cho con người những kết quảcủa tự nhiên
Những người Trọng nông cho rằng, lợi nhuận thương nghiệp có được chẳng qua là nhờtiết kiệm các khoản chi phí thương mại Vì theo họ thương mại chỉ đơn
Trang 3thuần là “việc đổi những giá trị này lấy những giá trị khác ngang như thế” và trong
quá trình trao đổi đó, nếu xét nó dưới hình thái thuần tuý thì cả người mua, lẫn người
bán chẳng có gì để mất hay được cả Thương nghiệp không sinh ra của cải Trao đổi không sản xuất ra được gì cả” Trao đổi không làm cho tài sản tăng lên, vì tài sản
được tạo ra trong sản xuất, còn trong trao đổi thì chỉ có sự trao đổi giá trị sử dụng nàylấy giá trị sử dụng khác mà thôi K.Marx trong khi phê phán chủ nghĩa Trọng thương
cũng viết: “Người ta trao đổi những hàng hoá với hàng hoá hay những hàng hoá với tiền tệ có cùng giá trị với hàng hoá đó, tức là trao đổi những vật ngang giá, rõ ràng
là không ai rút ra được từ trong lưu thông ra nhiều giá trị hơn số giá trị đã bỏ vào trong đó Vậy giá trị thặng dư tuyệt nhiên không thể hình thành ra được” (TB.Q1.T1) Điều này chứng tỏ sự trưởng thành của các quan điểm kinh tế của phái
trọng nông
K.Marx nhận xét: “Phái trọng nông đã chuyển việc nghiên cứu nguồn gốc của giá trị thặng dư từ lĩnh vực lưu thông vào lĩnh vực sản xuất trực tiếp, và do đó
đã đặt cơ sở cho việc phân tích nền sản xuất Tư bản chủ nhĩa” (Tư bản Q4).
Chủ nghĩa Trọng nông đưa ra học thuyết rất cơ bản, đóng vai trò trung tâm trong hệthống lý luận chủ nghĩa tư bản - Đó là học thuyết về “sản phẩm ròng” (sản phẩm thuầntuý) Những người Trọng nông cho rằng sản phẩm thuần tuý chỉ được tạo ra trong nôngnghiệp F.Quesnay cho rằng của cải là vật chất, tức giá trị sử dụng Ông nghiên cứu nềnsản xuất xã hội từ mức chênh lêch giữa đầu vào và đầu ra của giá trị sử dụng trong quátrình sản xuất; ngành công nghiệp không có thể làm tăng thêm số lượng của giá trị sửdụng mà chỉ có thể làm thay đổi hình thái của giá trị sử dụng, còn thương nghiệp thìkhông thể làm thay đổi ngay cả đến hình thái của giá trị sử dụng Ông kết luận, nôngnghiệp là ngành kinh tế sản xuất duy nhất, còn công nghiệp thì “chỉ có tiêu dùng chứhoàn toàn không có sản xuất” Công nghiệp chẳng qua là chế biến lại nguyên liệu củanông nghiệp Trong công nghệp người ta không tạo ra chất mới, chỉ là sự kết hợp nhiềunguyên tố của các
Trang 4chất khác nhau đã tồn tại từ trước Trong nông nghiệp không có sự kết hợp mà chỉ có sự tăng thêm về chất, tạo ra sản phẩm thuần tuý mới.
F.Quesnay tuyên bố: “Chỉ có của cải dân cư ở nông thôn mới để ra của cải quốc gia”, “nông dân nghèo thì xứ sở nghèo”.
Như vậy, chủ nghĩa Trọng nông đã giải thích nguồn gốc của sản phẩm thuần tuý theo tinhthần của chủ nghĩa tự nhiên, tựa hồ như đất đai là nguồn gốc của sản phẩm thuần tuý.Trong học thuyết này, họ đã coi sản phẩm thuần tuý là sản phẩm lao động của người côngnhân làm thuê, bộ phận này đã biến thành nguồn thu nhập của giai cấp tư sản và địachủ
Tuy nhiên, phái Trọng nông đã tầm thường hoá khái niệm của cải, không thấy tính haimặt của nó (hiện vật và giá trị) Ai cũng biết rằng việc làm tăng thêm giá trị của vật phẩmthường kèm theo việc làm giảm khối lượng thực thể chứa đựng trong các vật phẩm đó.Giá trị và khối lượng của vật phẩm có thể thay đổi theo chiều hướng hoàn toàn ngượcnhau
III-/ Các lý luận giá trị, giá cả hàng hoá trong các học thuyết kinh tế chính trị tư sản
cổ điển Anh:
Chủ nghĩa Trọng thương đã trở thành lỗi thời và bắt đầu tan rã ngay từ thế
kỷ XVII, trước hết là Anh, một nước phát triển nhất về mặt kinh tế Tiền đề củaviệc đó được tạo ra chủ yếu là do sự phát triển các công trường thủ công ở Anh,đặc biệt là trong nhành dệt, sau đó là công nghiệp khai thác Giai cấp tư sản đã
nhận thức được rằng: “muốn làm giàu phải bóc lột lao động, lao động làm thuê của những người nghèo là nguồn gốc làm giàu vô tận cho những người giàu”.
Tất cả những điều kiện kinh tế, xã hội khoa học của cuối thế kỷ XVII đã chứng tỏ thời kỳtích luỹ ban đầu của tư bản đã kết thúc và thời kỳ sản xuất tư bản chủ nghĩa bắt đầu.Tính chất phiến diện của học thuyết trọng thương trở nên quá
Trang 5rõ ràng, đòi hỏi phải có lý luận mới để đáp ứng với sự vận động và phát triển của sản xuất tư bản chủ nghĩa Trên cơ sở đó, kinh tế chính trị học cổ điển Anh ra đời.
Theo Marx, kinh tế chính trị học cổ điển Anh bắt đầu từ William Petty và kết thúc ởDavid Ricacdo
1-/ William Petty – Người đầu tiên đưa ra nguyên lý lao động quyết định giá trị trong kinh tế chính trị học tư sản:
William Petty (1623-1687) là một trong những người sáng lập ra học thuyết kinh tế cổđiển ở Anh Ông sinh ra trong một gia đình thợ thủ công, có trinh độ tiến sĩ vật lý, lànhạc trưởng, là người phát minh ra máy chữ Ông là người áp dụng phương pháp mớitrong nghiên cứu khoa học, được gọi là phương pháp khoa học tự nhiên
Trong tác phẩm “Bàn về thuế khoá và lệ phí”, 1662 W.Petty nghiên cứu về giá cả, chiagiá cả thành hai loại: Giá cả tự nhiên và giá cả chính trị Theo ông giá cả chính trị (giá cảthị trường) phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngẫu nhiên, nó thay đổi phụ thuộc vào giá cả tựnhiên và quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường, do đó khó xác định; Còn giá cả tựnhiên (tức giá trị) là do thời gian lao động hao phí quyết định và năng suất lao động cóảnh hưởng đến mức hao phí đó Như vậy, Petty là người đầu tiên đã tìm thấy cơ sở giá cả
tự nhiên là lao động, thấy được quan hệ giữa lượng giá trị và năng suất lao động Ông kếtluận rằng: số lượng lao động bằng nhau bỏ vào sản xuất là cơ sở để so sánh giá trị hànghoá Giá cả tự nhiên (giá trị) tỷ lệ nghịch với năng suất lao động khai thác vàng và bạc.Ông có ý định đặt vấn đề lao động phức tạp và lao động giản đơn nhưng không thành.Như vậy, W.Petty chính là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho lý thuyết giá trịlao động Tuy lý thuyết giá trị - lao động của ông còn có những hạn chế chưa phân biệtđược các phạm trù giá trị, giá trị trao đổi với giá cả Ông tập trung nghiên cứu về giá cảmột bên là hàng hoá, một bên là tiền, tức là ông mới
Trang 6chú ý nghiên cứu về mặt lượng Ông nhận thức được rằng giá trị của tiền tệ cũng là dolượng lao động quyết định, từ đó khắc phục được các kiến giải không những không thểtrừu tượng hoá được giá trị từ giá trị trao đổi, mà còn không trừu tượng hoá được giá trịtrao đổi từ giá cả là biểu hiện bằng tiền của giá trị, mà ông đã lẫn lộn hai cái đó Ôngcũng chia lao động ra làm hai loại: một loại lao động sản xuất ra vàng và bạc, một loạikhác là lao động sản xuất ra những hàng hoá bình thường Ông cho rằng chỉ có lao độngkhai thác vàng và bạc mới có giá trị trao đổi, còn các lao động khác thì chỉ khi trao đổihàng và tiền mới này sinh giá trị trao đổi Theo ông, giá trị hàng hoá chính là sự phản ánhgiá trị tiền tệ cũng như ánh sáng của mặt trăng là sự phản chiếu ánh sáng mặt trời vậy Đó
là ảnh hưởng tư tưởng chủ nghĩa Trọng thương rất nặng ở ông
Petty đã lẫn lộn lao động với tư cách là nguồn gốc của giá trị với lao động với tư cách lànguồn gốc của giá trị sử dụng, nghĩa là ông đã đồng nhất lao động trừu tượng với laođộng cụ thể Từ đó Petty có ý định đo giá trị bằng hai đơn vị lao động và đất đai Ông
nêu ra câu nói nổi tiếng: “Lao động là cha, còn đất là mẹ của của cải” Về phương diện
của cải nói như vậy là đúng, chỉ rõ nguồn gốc giá trị sử dụng Nhưng cái mà ông muốnnói đến là giá trị, ông nói: việc xem xét giá trị của tất cả mọi hàng hoá đều phải xuấtphát từ hai yếu tố tự nhiên, tức là đất đai và lao động Nói như vậy ông đã đi ngược lạikết luận đúng đắn của chính mình là giá trị được quyết định bởi thời gian lao động haophí trong quá trình sản xuất hàng hoá
2-/ Adam Smith – Người đầu tiên trình bày một cách có hệ thống lý luận giá trị lao động và những yếu tố tầm thường còn tồn tại trong
lý luận của ông:
Adam Smith (1723-1790) là nhà kinh tế chính trị cổ điển nổi tiếng ở Anh và trên thế giới.Ông là nhà tư tưởng tiên tiến của giai cấp tư sản, ông muốn thủ tiêu tàn tích phong kiến,
mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển, kêu gọi tích luỹ và phát triển lực lượng sảnxuất theo ý nghĩa tư bản, xem chế độ tư bản chủ nghĩa là
Trang 7hợp lý duy nhất Marx coi A.Smith là nhà kinh tế học tổng hợp của công trường thủ công.
A.Smith đã phân biệt rõ ràng giá trị sử dụng với giá trị trao đổi Ông nói:
“Giá trị có hai nghĩa khác nhau, có lúc nó biểu thị hiệu quả sử dụng như là một vật phẩm đặc biệt, có lúc biểu thị sức mua do chỗ chiếm hữu một vật nào đó mà
có được đối với vật khác Cái trước gọi là giá trị sử dụng, và cái sau gọi là giá trị trao đổi” Ông còn chứng minh rõ quan hệ giữa giá trị sử dụng và giá trị trao đổi.
Những thứ có giá trị sử dụng rất lớn thường có giá trị trao đổi cực nhỏ, thậm chí
còn không có Ví dụ: “Không có gì hữu ích bằng nước, nhưng với nó thì không thể mua được gì” Ngược lại, những thứ có giá trị trao đổi rất lớn, thường có giá
trị sử dụng cực nhỏ, thậm chí không có Việc phân biệt rõ ràng hai khái niệm giátrị sử dụng và giá trị trao đổi này đồng thời giải thích rõ là giá trị trao đổi lớn haynhỏ không liên quan gì đến giá trị sử dụng, đó là công lao của A.Smith Nhưngông cho rằng những thứ không có giá trị sử dụng có thể có giá trị trao đổi thì lạisai lầm
Theo A.Smith giá trị trao đổi là do lao động quyết định, giá trị trao đổi là do hao phí laođộng để sản xuất ra hàng hoá quyết định Đó là khái niệm đúng đắn về giá trị Lao động
là thước đo thật sự để xác định giá trị trao đổi của mọi thứ hàng hoá Việc xác nhận laođộng quyết định giá trị hàng hoá là công lao và thành tích khoa học của ông Nhưng ôngkhông hiểu được tính chất xã hội của loại lao động này Vì thế, khi đi sâu tìm hiểu thêmxem lao động gì quyết định giá trị của hàng hoá , lao động xác định giá trị hàng hoá nhưthế nào thì ông rơi vào hỗn loạn Một mặt ông cho rằng lao động quyết định giá trị hànghoá là lao động tiêu hao để sản xuất ra hàng hoá Lượng giá trị của hàng hoá tỷ lệ thuậnvới lượng thời gian lao động hao phí trong sản xuất Đồng thời ông còn nghiên cứu sựphân biệt giữa lao động giản đơn và lao động phức tạp, ông cho rằng trong cùng một thờigian, lao động phức tạp tạo ra giá trị nhiều hơn là lao động đơn giản Nhưng đồng thờiông lại cho rằng giá trị một hàng hóa bằng số lượng lao động mà người ta có thể mua
Trang 8được nhờ hàng hoá đó Đây là điều luẩn quẩn và sai lầm của A.Smith, dùng giá trị quyếtđịnh giá trị Ông đã lẫn lộn vấn đề giá trị đã được quyết định như thế nào trong sản xuất
và giá trị đã biểu hiện như thế nào trong trao đổi
Về cấu thành giá trị của hàng hoá Theo A.Smith trong sản xuất tư bản chủ nghĩa, tiềnlương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọi thu nhập, cũng như mọi giátrị trao đổi A.Smith coi tiền lương, lợi nhuận và địa tô là ba nguồn gốc đầu tiên của mọithu nhập, đó là quan điểm đúng đắn Song ông lại tầm thường ở chỗ coi các khoản thunhập là nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị trao đổi Ông đã lẫn lộn hai vấn đề hình thànhgiá trị và phân phối giá trị, giá trị của hàng hoá với giá trị mới sáng tạo ra của lao động;Hơn nữa, ông cũng đã xem thường tư bản bất biến, coi giá trị hàng hoá chỉ có (V+m).A.Smith nghiên cứu quy luật giá trị và tác dụng của nó Ông đã phân biệt giá cả tự nhiênvới giá cả thị trường Ông khẳng định hàng hoá được bán theo giá cả tự nhiên, nếu giá
cả đó ngang với mức cần thiết để trả cho tiền lương, lợi nhuận và địa tô Theo ông, giá cả
tự nhiên là trung tâm Giá cả thị trường là giá bán thực tế của hàng hoá, giá cả này nhất trívới giá cả tự nhiên khi hàng hoá được đưa ra thị trường với số lượng đủ “thoả mãn lượngcầu thực tế” Nhưng do sự biến động của cung cầu là cho giá cả thị trường chênh lệch vớigiá cả tự nhiên Bản thân giá cả tự nhiên cũng thay đổi cùng với tỷ suất tự nhiên của mỗi
bộ phận cấu thành nó Ông đã nhận thấy giá cả trong chủ nghĩa tư bản được đặt ra khácvới trước đây Nhưng ông không thấy được trong chủ nghĩa tư bản quá trình thực hiện giátrị gắn liền với việc phân phối lại giá trị dưới hình thái lợi nhuận, địa tô và lợi tức Ông
đã vấp vào vấn đề giá cả sản xuất Có thể thấy rằng, không những ông coi giá cả daođộng xung quanh giá trị là một hiện tượng có tính quy luật, mà còn chứng minh rã tácdụng điều tiết của quy luật giá trị đối với sản xuất hàng hoá Nhưng do chỗ không hiểuđược mối liên hệ nối tại giữa giá trị và giá cả, ông không giải thích được sự xa rời giá cảkhỏi giá trị chính là hình thức tác động của quy luật giá trị
Trang 9Công lao chủ yếu của A.Smith về lý luận giá trị là đã phân biệt được giá trị sử dụng và
giá trị trao đổi, hơn nữa, ông đã cho rằng lao động là “thước đo thực tế của giá trị”.
Nhưng do hạn chế về lập trường, quan điểm và phương pháp nên lý luận giá trị của ôngvừa có yếu tố khoa học lại vừa có yếu tố tầm thường
3-/ Lý luận về giá trị lao động của David Ricacdo đã đạt tới đỉnh cao của kinh tế chính trị học cổ điển của giai cấp tư sản:
David Ricacdo (1772-1823) sinh trong một gia đình giàu có làm nghề chứng khoán, mộtnhà tư bản có địa vị trong số các gia đình giàu có ở châu Âu Ông hoạt động trong thời kỳcuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành; Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đãxác lập địa vị thống trị hoàn toàn và phát triển trên cơ sở chính nó, với hai giai cấp cơbản: giai cấp tư sản và giai cấp vô sản đối lập nhau Mâu thuẫn giữa hai giai cấp bọc lộ rõràng hơn Ông cũng nhìn nhận được mâu thuẫn giai cấp trong xã hội tư bản chủ nghĩa,ông đã vạch ra được những cơ sở kinh tế của các mâu thuẫn đó Ông công khai bảo vệlợi ích cho giai cấp tư sản công nghiệp với ý thức để thúc đẩy sự phát triển của nước Anh
Tư tưởng kinh tế của ông có nhiều điểm tiến bộ, vì nó hình thành trong thời kỳ giai cấp tưsản đang lên (giai cấp tiến bộ chống lại chế độ phong kiến, chưa lộ rõ mặt phản động củanó), còn giai cấp vô sản chưa đủ mạnh, và sự giác ngộ về sứ mệnh lịch sử của mìnhchưa đầy đủ
Lý luận giá trị chiếm vị trí quan trọng trong hệ thống quan điểm của
Ricacdo Ông định nghĩa giá trị hàng hoá như sau: “Giá trị của hàng hoá hay số lượng của một hàng hoá nào khác mà hàng hoá đó trao đổi, là do số lượng lao động tương đối, cần thiết để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định, chứ không phải
do khoản thưởng lớn hay nhỏ trả cho lao động đó quyết định”.
Cũng như A.Smith, Ricacdo đã phân biệt rõ hai thuộc tính của hàng hoá là giá trị sửdụng và giá trị trao đổi Ông bác bỏ lý luận giá trị sử dụng quyết định giá trị hàng hoá,ông đã chứng minh rằng các nhân tố tự nhiên giúp con người tạo nên
Trang 10giá trị sử dụng, nhưng không thêm một phân tử gì vào giá trị hàng hoá cả Ông có
ý kiến kiệt xuất rằng: “Tính hữu ích không phải là thước đo giá trị trao đổi, mặc
dù hàng hoá rất cần thiết giá trị này” “Giá trị khác xa với của cải, giá trị không phụ thuộc vào việc có nhiều hay ít của cải, mà tuỳ thuộc vào điều kiện sản xuất khó khăn hay thuận lợi” Theo ông sở dĩ có nhiều lầm lẫn trong khoa học kinh tế chính trị là do người ta coi “sự tăng của cải và tăng giá trị là một”, là do người ta
quên rằng thước đo giá trị chưa phải là thước đo của cải vì của cải không phụthuộc vào giá trị Theo ông giá trị trao đổi hàng hoá được quy định bởi lượng laođộng chứa đựng trong hàng hoá, lượng lao động đó tỷ lệ thuận với lao động tạo ra
hàng hoá “Tính hữu ích không tăng cùng nhịp độ với tăng giá trị”, “tính hữu ích
là cần thiết vì vật không có ích, nó không có được giá trị trao đổi”.
Ricacdo cho rằng hàng hoá hữu ích sở dĩ có giá trị trao đổi là do hai nguyên nhân:
- Tính chất khan hiếm
- Lượng lao động cần thiết để sản xuất ra chúng
Như vậy là ông đã nhận thức được giá trị trao đổi được quyết định bởi lượng lao độngđồng nhất của con người, chứ không phải là lượng lao động hao phí cá biệt Về điểm nàyông là người đầu tiên đã phân biệt được lao động cá biệt và lao động xã hội Nhưng lầmlẫn của ông là cho rằng giá trị hàng hoá được điều tiết bởi lượng lao động lớn nhất haophí trong những điều kiện xấu (Về điểm này thì Marx xác định trong điều kiện trungbình)
Ricacdo phân biệt giá cả tự nhiên và giá cả thị trường Ông cho rằng, không một hàng hoánào mà giá cả không bị ảnh hưởng của biến động ngẫn nhiên hay tạm thời Nhưngnguyện vọng của các nhà tư bản luôn có xu hướng muốn rút số vốn của mình ra khỏi mộtcông việc kinh doanh ít lãi và đầu tư vào một công việc kinh doanh có lãi hơn, nguyệnvọng đó không cho phép giá cả thị trường của các
Trang 11hàng hoá dừng lâu ở một mức nào đó cao hơn nhiều hay thấp hơn nhiều so với giá cả tự nhiên của chúng.
Đề cập vấn đề tăng giá cả, Ricacdo viết rằng, việc tăng giá cả lên có thể làmột nhân tố điều tiết một lượng cung không đủ so với một lượng cầu đang pháttriển, điều tiết việc tiền tệ sụt giá, việc đánh thuế vào những vật phẩm thiết yếu,ông đã cố gắng tìm hiểu sự vận động của giá cả Theo ông giá cả không phải docung cầu quyết định, quyết định mức giá ở trong tay những người sản xuất, cung
cầu chỉ ảnh hưởng đến giá cả Ông viết: “Cái có tính chất điều tiết giá trị là hao phí lao động sản xuất, không phải quan hệ cung cầu và tâm trạng người mua” Ông viết rõ hơn chỉ khi nào không có cạnh tranh thì tỷ lệ trao đổi có thể do “nhu cầu của người ta và do sự đánh giá tương đối của người ta đối với hàng hoá” quyết định Còn trong điều kiện cạnh tranh thì giá cả “rốt cuộc sẽ do cạnh tranh giữa những người bán điều tiết”.
Ricacdo chứng minh một cách tài tình rằng, giá trị hàng hoá giảm khi năng suất lao độngtăng lên – Dự đoán thiên tài của Petty được ông luận chứng Ông gạt bỏ sai lầm củaA.Smith cho rằng lao động trong nông nghiệp có năng suất cao hơn và cho rằng sự tănglên của của caỉ đi kèm với giá trị của nó giảm
Ricacdo đã trình bày lý luận giá trị của mình từ việc phê phán A.Smith Ông đã gạt bỏtính không triệt để, không nhất quán về cách xác định giá trị của A.Smith: Giá trị = Laođộng mua được Ricacdo kiên định với quan điểm: lao động là nguồn gốc của giá trị,công lao to lớn của ông là đã đứng trên quan điểm đó để xây dựng lý luận khoa học củamình Đồng thời ông cũng phê phán A.Smith cho rằng giá trị là do các nguồn gốc thunhập hợp thành Theo ông giá trị hàng hoá không phải do các nguồn gốc thu nhập hợpthành, mà ngược lại được phân thành các nguồn thu nhập
Về cơ cấu giá trị hàng hoá, ông cũng có ý kiến khác với sai lầm giáo điều của A.Smith
bỏ C ra ngoài giá trị hàng hoá Ricacdo cho rằng: giá trị hàng hoá
Trang 12không chỉ do lao động trực tiếp tạo ra, mà còn là lao động cần thiết trước đó nữa như máymóc, nhà xưởng – Tức ông chỉ biết có C1, chỉ có đến Marx mới hoàn chỉnh được côngthức giá trị hàng hoá = C+V+m.
Mặt hạn chế trong lý luận giá trị của Ricacdo là ở chỗ ông chưa vượt qua được các cửa ải
là không nhận được tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá Mặc dù ông và A.Smithbiết rằng lao động tạo ra giá trị là một thứ lao động không kể hình thái của nó
Khác với A.Smith, Ricacdo cho rằng quy luật giá trị vẫn hoạt động trong chủ nghĩa tưbản - đây là quan điểm đúng đắn của ông; Tuy nhiên, hoạt động như thế nào thì ôngkhông chứng minh được vì ông không thể giải qưuyết được vấn đề giá cả sản xuất, ông
đã đồng nhất hoá giá trị và giá cả sản xuất Ông cũng chưa hiểu được giá trị trao đổi làhình thức của giá trị Ricacdo nói riêng và các nhà kinh tế học tư sản nói chung chỉ chú ýphân tích mặt lượng giá trị, ít chú ý đến mặt chất và hoàn toàn không phân tích hình tháigiá trị Đây là một trong những nhược điểm chủ yếu của kinh tế chính trị cổ điển tư sản,khuyết điểm này là do thiếu quan điểm lịch sử, xem xét các hàng hoá, tiền tệ, tư bản làhình thái tự nhiên vĩnh viễn
Tóm lại, Ricacdo đã đứng vững trên cơ sở lý luận giá trị lao động Marx
đánh giá “Nếu A.Smith đã đưa khoa học kinh tế chính trị vào hệ thống, thì Ricacdo đã kết cấu toàn bộ khoa học kinh tế chính trị bằng một nguyên lý thống nhất, nguyên lý chủ yếu quyết định của ông là thời gian lao động quyết định giá trị”.
IV-/ Những lý luận của kinh tế chính trị tư sản tầm thường:
Đầu thế kỷ XIX, cuộc cách mạng công nghiệp đã hoàn thành, cuộc khủng hoảng kinh tế
1825 mở đầu cho các cuộc khủng hoảng có chu kỳ Sau nước Anh, phương thức sản xuất
tư bản chủ nghĩa cũng được xác lập ở các nước khác Từ
Trang 13năm 1930, sự thống trị về chính trị của giai cấp tư sản được xác lập ở Anh và Pháp,nhưng giai cấp vô sản cũng ngày càng lớn mạnh, phong trào công nhân chuyển từ tự phátsang tự giác, nay mang tính chất chính trị, đe doạ sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản Việcxuất hiện những hình thái khác nhau của CNXH không tưởng đã phê phán kịch liệt chế
độ tư banr gây tiếng vang trong giai cấp công nhân Giai cấp tư sản cần có một lý luận
để chống lại CNXH không tưởng, bảo vệ chủ nghĩa tư bản Trước bối cảnh đó, kinh tếchính trị tầm thường xuất hiện đã biểu hiện sự phản ứng của giai cấp tư sản đối vớiphong trào cách mạng và những tư tưởng của CNXH không tưởng
Các nhà kinh tế theo trường phái này không phát triển quan điểm kinh tế của trường phái
cổ điển, đặc biệt là nguyên lý giá trị – lao động Hơn thế nữa họ dần dần xã rời nguyên lýgiá trị – lao động, phát triển mặt thứ hai trong học thuyết giá trị của các nhà Cổ điển, nhưủng hộ thuyết giá trị – các nhân tố sản xuất, ủng họ nguyên lý giá trị – ích lợi, mà tiêubiểu là Thomas Robert Malthus và Jean Baptiste Say
1-/ Tính tầm thường trong lý luận giá trị của Thomas Robert Malthus:
Thomas Robert Malthus (1766 – 1844) sinh ra trong một gia đình quý tộc và làm nghề tuhành Ông là người ủng hộ tầng lớp tư bản kinh doanh ruộng đất, đồng thời bảo vệ lợiích của giai cấp tư sản Đặc điểm nổi bật trong phương pháp luận của ông là nặng vềphân tích hiện tượng, thay thế các quy luật kinh tế bằng quy luật tự nhiên sinh học.Malthus đã nhận thấy những mâu thuẫn do sự hạn chế của Ricacdo và lợi dụng lầm lẫncủa Ricacdo để bác bỏ lý luận giá trị Malthus đã sử dụng yếu tố tầm thường trong học
thuyết của A.Smith – tức là việc quy định giá trị lao động Cái “mới” của Malthus là ở
chỗ giải thích được thước đo giá trị Theo Malthus, lao động có thể mua được hàng hoá là
do chi phí để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định Chi phí đó bao gồm lượng lao độngsống và lao động vật hoá đã chi phí để
Trang 14sản xuất ra hàng hoá cộng với lợi nhuận của tư bản ứng trước Như vậy, Malthus đã phủnhận vai trò của lao động là nguồn gốc tạo ra giá trị và coi lợi nhuận là yếu tố cấu thànhkhác của giá trị Từ đó, ông giải thích lợi nhuận như là khoản thặng dư ngoài số laođộng hao phí để sản xuất hàng hoá Theo cách giải thích này, lưu thông là lĩnh vực trong
đó lợi nhuận xuất hiện, nhờ bán hàng hoá đắt hơn khi mua
2-/ Lý luận của Jean Baptisste Say:
Jean Baptisste Say (1766-1832) sinh ra trong một gia đình thương nhân ở Lyon Điểm nổibật trong phương pháp luận của ông là áp dụng phương pháp chủ quan, tâm lý trong việcđánh giá các hiện tượng và quá trình kinh tế, phủ nhận các quy luật kinh tế khách quan
Lý thuyết giá trị của B.Say xa rời lý thuyết giá trị – lao động, ủng hộ lý thuyết giá trị –
ích lợi hay giá trị – chủ quan B.Say đã đem “Thuyết về tính hữu dụng” đối lập với lý
luận giá trị của Ricacdo Theo B.Say, sản xuất tạo ra giá trị hữu dụng (giá trị sử dụng),
còn “tính hữu dụng lại truyền giá trị cho các vật” Giá trị là thước đo tính hữu dụng Như
vậy, ông đã không phân biệt được giá trị sử dụng và giá trị, coi giá trị sử dụng và giá trị
là một, do đó đã che đậy cái bản chất đặc thù xã hội của giá trị
Nếu Ricacdo đã vạch rõ, không thể lẫn lộn, giữa giá trị sử dụng và giá trị, giá trị khác xavới của cải, giá trị không tuỳ thuộc vào việc có nhiều hay ít của cải, mà tuỳ thuộc vàođiều kiện sản xuất khó khăn hay thuận lợi; năng suất lao động tăng lên thì sẽ ảnh hưởngmột cách khác nhau đến của cải và giá trị… thì B.Say lại cho rằng giá trị của vật càng caothì tính hữu dụng càng lớn Ricacdo đã phản đối điều đó một cách ý nhị rằng, nếu ngươid
ta trả cho livrơ vàng 2000 lần hơn là trả cho một livrơ sắt, thì phải chăng điều đó có nghĩa
là tính hữu dụng của vàng 2000 lần hơn tính hữu dụng của sắt? B.Say đã không giải đápđược điều đó
Trang 15B.Say còn cho rằng, giá trị được xác định trên thị trường, hay giá trị chỉ được xác địnhtrong trao đổi; thước đo giá trị của đồ vật là số lượng các vật mà người khác đồng ý đưa
ra để “đổi lấy” đồ vật nói trên Nói cách khác, theo Say, giá trị được quyết định bởi quan
hệ cung cầu Theo Marx, luận điểm này cho thấy vật nào càng hiếm thì giá trị càng cao,lại trái với luận điểm vật có giá trị sử dụng cao thì có giá trị cao Marx đã chứng minhrằng, cung cầu chỉ điều tiết sự chênh lệch giữa giá cả thị trường của hàng hoá và giá trịcủa chúng
“Học thuyết về tính hữu dụng” nhằm theo đuổi một mục đích thực tiễn nhất định, B.Say
đã giành cho lao động một vị trí phụ thuộc trong việc tạo ra giá trị Quy giá trị thành tínhhữu dụng - đó là biến thể chủ yếu trong quan niệm của B.Say về giá trị Dựa vào đó, ông
đã giải thích vấn đề thu nhập trong xã hội tư bản
Theo B.Say, có 3 nhân tố tham gia vào sản xuất: lao động, tư bản và ruộng đất Mỗi nhân
tố đều có công phục vụ, mà cái gì tạo ra sự phục vụ đều là sản xuất, do đó, không chỉ cólao động mà cả tư bản và tự nhiên đều tạo ra giá trị Cả 3 yếu tố đều có công phục vụ: laođộng tạo ra tiền lương, tư bản tạo ra lợi nhuận, ruộng đất sáng tạo ra địa tô, vì vậy, phải
có thu nhập tương ứng: công nhân được tiền lương, nhà tư bản hưởng lợi nhuận, địa chủnhận được địa tô B.Say cho rằng nếu tăng thêm đầu tư tư bản vào sản xuất sẽ tăng thêmsản phẩm phù hợp với tăng thêm giá trị, máy móc tham gia vào sản xuất sản phẩm thìcũng tạo ra giá trị
V-/ Trường phái của các nhà tiểu tư sản:
Cách mạng công nghiệp cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX dẫn đến sự thay đổi đáng kể
về kinh tế xã hội Giai cấp tư sản và giai cấp vô sản đã trở thành các giai cấp cơ bản của
xã hội Nền sản xuất máy móc ra đời, làm cho sự phụ thuộc của công nhân vào nhà tưbản từ hình thức trở thành thực tế Sự bần cùng hoá của giai cấp vô sản, thất nghiệp, vôChính phủ, phân hoá giai cấp ngày càng tăng lên ở các nước có sự phát triển của chủnghĩa tư bản yếu và bước vào cách mạng công
Trang 16nghiệp ở nền sản xuất nhỏ chiếm ưu thế thì những mâu thuẫn xã hội diễn ra càng gay gắthơn Từ đó xuất hiện phên phán chủ nghĩa tư bản theo quan điểm tiểu tư sản Học thuyếtkinh tế Tiểu tư sản xuất hiện, các đại biểu của trường phái này là Simonde de Sismondi,Pierr Joseph Proudon.
1-/ Những lý luận của Simonde de Sismondi:
Sismondi (1773-1842) sinh ở Thuỵ sĩ, gần Giơnever, xuất thân từ một gia đình quý tộc.Quá trình phát triển tư tưởng kinh tế của ông chia thành hai giai đoạn Trong giai đoạnđầu ông ủng hộ A.Smith Giai đoạn sau, ông phê phán tư bản chủ nghĩa và các quanđiểm của phái cổ điển
Sismondi đứng trên lập trường giá trị – lao động để quy định giá trị của hàng hoá TheoMarx, ông đã nhìn thấy tính chất xã hội đặc thù của lao động, ông đã đưa ra danh từ
“thời gian lao động xã hội cần thiết” để thoả mãn nhu cầu đó Khi xác định giá trị, ông
không dựa vào lao động cá biệt mà dựa vào lao động xã hội Ông chỉ ra là, lao động lànguồn gốc duy nhất của mọi của cải Ông thấy được mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng vàgiá trị
Theo ông, tiền tệ, cũng như hàng hoá khác, là sản phẩm của lao động Tiền là thước đochung của giá trị Ông thấy được sự khác nhau giữa tiền giấy và tiền tín dụng
Tuy nhiên ông không đi xa hơn quan điểm của Ricacdo, thậm chí có chỗ còn làm chonhững quan điểm đó tồi tệ hơn Chẳng hạn, Ricacdo coi giá trị tương đối của hàng hoáđược quy định bằng lượng lao động đã chi phí vào việc sản xuất hàng hoá, còn Sismondicoi giá trị tương đối của hàng hoá là phụ thuộc vào cạnh tranh, vào lượng cầu, vào tỷ lệgiữa thu nhập và lượng cung về hàng hoá Ông còn đưa ra khái niệm giá trị tuyệt đối haychân chính, điều này Ricacdo không đề cập tới Nhưng Sismondi giải thích khái niệm
đó theo kiểu tự nhiên chủ nghĩa và đi
Trang 17tìm giá trị đó trong một đơn vị kinh tế độc lập, đi vào con đường những câu truyện Robinxơn cổ truyền.
2-/ Những lý luận của Proudhon:
Proudhon (1809-1865) sinh ra trong một gia đình thợ thủ công nghèo Trong các tácphẩm của mình ông thể hiện là một nhà tư tưởng bảo vệ sản xuất nhỏ Nếu Sismondi phảnánh tư tưởng tiểu tư sản ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, thì Proudhon (1809-1865)lại phản ánh tư tưởng tiểu tư sản ở giai đoạn cao hơn của chủ nghĩa tư bản Theo Marx,Proudhon là một nhà tư tưởng chính cống nhất, một trăm phần trăm của giai cấp tiểu tưsản Lý luận giá trị là phần quan trọng trong học thuyết kinh tế của ông
Về hình thức, ông có đặt vấn đề một cách biện chứng hứa hẹn bóc trần mâu thuẫn giữagiá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá Nhưng ông đã giải thích không đúng mâu thuẫn
đó Ông coi giá trị sử dụng là hiện thân của sự dồi dào, còn giá trị trao đổi là hiện thâncủa sự khan hiếm, thành thử giá trị sử dụng và giá trị biểu hiện hai khuynh hướng đốilập: dồi dào và khan hiếm
Trung tâm lý luận giá trị của Proudhon là “giá trị cấu thành” hay “giá trị xác lâpk”.
Theo ong, trao đổi trên thị trường người ta có sự lựa chọn, đặc biệt về sản phẩm Một loạihàng hoá nào đó đi vào lĩnh vực tiêu dùng, đã qua thị trường, được thị trường thử thách,
và xã hội thừa nhận – trở thành giá trị, là giá trị cấu thành Ngược lại, những hàng hoá bịđẩy ra, không được thị trường và xã hội chấp nhận, ông cho rằng, cần phải cấu thành hayxác lập trước giá trị, làm thế nào cho hàng hoá chắc chắn được thực hiện, đi vào lĩnh vựctiêu dùng Ông lấy dẫn chứng: vàng và bạc là những hàng hoá đắt tiền, mà giá trị đượcxác lập
Như vậy, trong lý luận “giá trị cấu thành” về thực chất ông muốn xoá bỏ những mâu
thuẫn của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Quan điểm của ông thể hiện rõ những sai lầm vềmặt phương pháp luận: bảo vệ sản xuất hàng hoá (đay là mặt
Trang 18tốt), xoá bỏ mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị (mặt xấu) Về cơ bản ông muốn kếthợp quan điểm trao đổi với quan điểm giá trị – lao động, để từ đó coi cả lao động và traođổi đều là nguồn gốc của giá trị.
VI-/ lý luận giá trị trong học thuyết kinh tế Marx - lenin:
Đến những năm 40 thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản đã giành được địa vị thống trị Sự ra đờicủa chủ nghĩa tư bản đã làm thay đổi căn bản cơ cấu giai cấp xã hội Trong xã hội tư bản,
có hai giai cấp cơ bản là giai cấp tư sản giữ địa vị thống trị và giai cấp vô sản bị thống trị
đã làm tăng những mâu thuẫn vốn có của nó Phong trào đấu tranh của giai cấp vô sảnchống lại chế độ áp bức bóc lột tư bản chủ nghĩa càng lên cao; đi từ tự phát đến tự giác,
từ đấu tranh kinh tế đến đấu tranh chính trị Từ đó, đòi hỏi phải có lý luận cách mạng làm
vũ khí tư tưởng cho giai cấp vô sản Chủ nghĩa Marx ra đời Karl Marx (1818-1883) vàEngels (1820-1895) là những người sáng lập ra chủ nghĩa Marx
Chủ nghĩa Marx phát sinh ra là sự tiếp tục trực tiếp của triết học cổ điển Đức, kinh tếchính trị Cổ điển Anh và CNXH không tưởng Pháp Lênin coi đó là 3 nguồn gốc lý luậncủa chủ nghĩa Marx
Trong hệ thống các học thuyết kinh tế, học thuyết về giá trị – lao động được trình bày như
là cơ sở của tất cả các học thuyết kinh tế của Marx Lần đầu tiên, giá trị được xem xétnhư là quan hệ sản xuất xã hội của những người sản xuất hàng hoá, còn hàng hoá là nhân
tố tế bào của xã hội tư sản Giá trị hàng hoá là lao động của người sản xuất hàng hoá kếttinh trong hàng hoá Giá trị là phạm trù lịch sử – có sản xuất hàng hoá thì mới có giá trịhàng hoá Giá trị trao đổi chỉ là hình thức biểu hiện của giá trị; Giá trị là nội dung, là cơ
sở của giá trị trao đổi
Theo Marx, hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng; Ông đã tiến xa hơn lýluận của các nhà tư sản cổ điển là phân biệt 1 cách rõ ràng hai thuộc tính này; Đó là:
Trang 19Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của conngười Còn giá trị là lao động xã hội thể hiện và vật hoá trong hàng hoá.
Giá trị và giá trị sử dụng là hai thuộc tính cùng tồn tại và thống nhất với nhau ở mộthàng hoá Quá trình thực hiện giá trị và quá trình thực hiện giá trị sử dụng là hai quá trìnhkhác nhau về thời gian và không gian Trước khi thực hiện giá trị sử dụng của hàng hoá,phải thực hiện giá trị của nó; nếu không thực hiện được giá trị thì sẽ không thực hiệnđược giá trị sử dụng
Marx phân tích tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là lao động cụ thể và laođộng trừu tượng, lao động tư nhân và lao động xã hội
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể, có đối tượng lao động,mục đích, phương pháp lao động, kết quả sản xuất riêng Chính cái riêng đó phân biệtđược các loại lao động cụ thể khác nhau Mỗi lao động cụ thể tạo ra 1 giá trị sử dụng nhấtđịnh Lao động cụ thể tồn tại vĩnh viễn cùng với sản xuất và tái sản xuất xã hội, khôngphụ thuộc vào bất cứ hình thái kinh tế xã hội nào
Còn lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hoá đã gạt bỏ hình thứcbiểu hiện cụ thể của nó để quy về một cái chung đồng nhất Đó là sự tiêu phí sức laođộng, tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh của con người Lao động trừu tượng tạo ra giá trịhàng hoá Chỉ có lao động sản xuất hàng hoá mới có tính chất là lao động trừu tượng.Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá vừa là lao động cụ thể, vừa là lao độngtrừu tượng có liên hệ với tính chất tư nhân và tính chất xã hội của lao động sản xuất hànghoá Sự phân công lao động xã hội tạo ra sự phụ thực lẫn nhau giữa những người sản xuấthàng hoá thông qua trao đổi Việc trao đổi hàng hoá không thể căn cứ vào lao động cụ thể
mà phải quy về lao động chung nhất, lao động trừu tượng
Trang 20Marx định nghĩa lượng giá trị hàng hoá được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết;Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một hànghoá nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội hội, với một trình độthành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội Thời gian laođộng xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hoá thay đổi thì lượng giá trị hàng hoá sẽ thayđổi.
Marx chỉ ra ảnh hưởng khác nhau tới lượng giá trị hàng hoá của lao động giản đơn và laođộng phức tạp: “Lao động phức tạp chỉ là lao động giản đơn được nâng lên luỹ thừa, haynói cho đúng hơn, là lao động giản đơn được nhân lên, thành thử 1 lượng lao động phứctạp nhỏ hơn thì tương đương với 1 lượng lao động giản đơn lớn hơn” Vì vậy, khi traođổi người ta lấy lao động giản đơn làm đơn vị tính toán và quy tất cả những lao độngphuức tạp thành lao động giản đơn
Đồng thời Marx phê phán các quan điểm của W.Petty, A.Smith, D.Ricacdo về giá trịhàng hoá; Ông đã hoàn thiện các yếu tố cấu thành lên giá trị hàng hoá gồm 3 bộ phận: C+ V + m (Trong đó C là lao động quá khứ, V là lao động sống và m là giá trị thặng dư dolao động sống tạo ra) Ricacdo nói riêng và các nhà kinh tế học tư sản nói chung chưahiểu được, chưa phân tích các hình thái giá trị; Nhưng Marx chỉ rõ: giá trị trao đổi chỉ làhình thức biểu hiện của giá trị; Ông đã đi sâu phân tích giá cả sản xuất; trong điều kiệncạnh tranh tự do, giá trị chuyển hoá thành giá cả sản xuất (Đến Lênin chỉ ra rằng tronggiai đoạn sản xuất độc quyền thì nó lại chuyển hoá thành giá cả độc quyền)
Lý luận về giá cả hàng hoá, ông cho rằng giá cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trịhàng hoá và trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị Cơ chế này phát sinh tác dụngtrên thị trường thông qua cạnh tranh, cung – cầu, sức mua của đồng tiền
Marx là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá Trên cơ
sở phát hiện này, Marx đã thực hiện một cuộc cách mạng trong lịch
Trang 21sử học thuyết kinh tế, ông đã xây dựng học thuyết giá trị – lao động một cách hệ thống vàhoàn chỉnh Đồng thời dựa vào phát hiện này, ông đã trình bày một cách khoa học hệthống các phạm trù kinh tế chính trị mà trước đó, chưa ai có thể làm được Và cũng nhờ
đó đã giải thích được hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực tế, như sự vận động tráingược: khối lượng của cải vật chất ngày càng tăng lên, đi liền với khối lượng giá trị của
nó giảm xuống hay không thay đổi
VII-/ Trường phái của các nhà kinh tế tư sản hiện đại:
Từ cuối thế kỷ XIX đến nay, sự phát triển mạnh mẽ của lục lượng sản xuất, khoa học kỹthuật làm cho chủ nghĩa tư bản một mặt phát triển nhanh chóng, mặt khác làm tăng thêmnhững mâu thuẫn, những tệ nạn vốn có của nó Tình trạng khủng hoảng kinh tế, thấtnghiệp ngày càng trầm trọng hơn Điều đó nói lên tính đa dạng, phức tạp của con đườngphát triển tư bản chủ nghĩa và đòi hỏi các nhà kinh tế học tư sản phải tìm ra những lýthuyết kinh tế khả dĩ điều tiết nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, duy trì được sự thống trị củachủ nghĩa tư bản Nhiều trường phái kinh tế tư sản lần lượt xuất hiện Tiêu biểu là cáctrường phái kinh tế chính trị tư sản cổ điển mới, trường phái Keynes, chủ nghĩa tự domới, trường phái chính hiện đại
Trường phái cổ điển mới dựa vào yếu tố tâm lý chủ quan để giải thích các hiện tượng vàquá trình kinh tế – xã hội Đối lập với trường phái tư sản cổ điển và với Marx, trườngphái cổ điển mới ủng hộ lý thuyết giá trị - chủ quan Theo lý luận này, cùng một hànghoá với người cần nó hay nó có ích lợi nhiều thì giá trị của hàng hoá sẽ lớn và ngược lại
Trên cơ sở lý thuyết “ích lợi giới hạn” các nhà kinh tế học trường phái này xây dựng lý thuyết giá trị “giới hạn” Lý thuyết này phủ nhận lý thuyết giá trị lao động của trường
phái tư sản cổ điển và của Marx Trong lịch sử đã có các nhà kinh tế học ở thế kỷ XVIIIquan niệm rằng ích lợi quyết định giá trị Điểm mới ở chỗ, các kinh tế gia trường phái
này cho rằng “ích lợi giới hạn” tức là ích lợi của sản phẩm cuối cùng quyết định
giá trị của sản
Trang 22phẩm Vì vậy giá trị giới hạn chính là giá trị của sản phẩm giới hạn Nó quyết định giá trị của tất cả các sản phẩm khác.
Như vậy, khi sản phẩm tăng lên thì giá trị giới hạn sẽ giảm dần và do vậy tổng giá trị giớihạn cũng giảm dần Vì thế họ đi đến kết luận muốn có nhiều giá trị phải tạo ra sự khanhiếm
Cũng trong các trường phái này có trường phái Cambridge (Anh) mà người đứng đầu làAlfred Marshall (1842-1924) Lý thuyết nổi tiếng của ông là lý thuyết giá cả Theo ông,giá cả là hình thức của quan hệ số lượng mà trong đó hàng hoá và tiền tự được trao đổivới nhau Lý luận giá cả của ông là sự tổng hợp các lý thuyết chi phí sản xuất, cung cầu,ích lợi giới hạn Theo ông, giá cả được hình thành theo người mua và người bán Đối vớingười mua, giá cả được quyết định bởi ích lợi giới hạn của hàng hoá Đối với người bán,giá cả hàng hoá được quyết định theo chi phí sản xuất Giá cả thị trường là kết quả của sự
va chạm giá cả giữa người mua và người bán, tức là sự va chạm giữa cầu và cung, sự vachạm này hình thành lên giá cả cân bằng (hay giá cả trung bình)
Trang 23Lý luận giá trị lao động đã trải qua chiều dài lịch sử của nhân loại và giữ vai trò quantrọng trong hệ thống các học thuyết kinh tế để giải thích 1 loạt các hiện tượng kinh tế quacác thời kỳ phát triển, nó là cơ sở cho hệ thống các lý luận khác về tư bản, tiền công, lợinhuận, địa tô trong xã hội.
Trên cơ sở phân tích, nghiên cứu lý luận giá trị, giá cả hàng hoá đã chỉ rõ mối quan hệbản chất, bên trong của nền sản xuất hàng hoá, mối liên hệ phổ biến giữa giá trị và giá trị
sử dụng, các vấn đề về giá cả hàng hoá lên xuống xoay quanh giá trị hàng hoá
Đặc biệt, nhờ phân biệt được sức lao động và lao động trong sản xuất hàng hoá, phát hiệnđược tính chất hai mặt của sản xuất hàng hoá, Marx đã giải đáp được rất nhiều điểm bếtắc trong các học thuyết của trường phái kinh tế học tư sản cổ điển Anh (thí dụ, vì saotrao đổi theo đúng giá trị mà vẫn thu được giá trị thặng dư); Từ đó đã hoàn thiện lý luậngiá trị, tìm ra được nguồn gốc và bản chất của tiền tệ, phân tích đặc thù của quy luật giátrị trong chủ nghĩa tư bản, đưa đến phát hiện về giá trị thặng dư, vạch rõ cơ chế bóc lột tưbản chủ nghĩa và những hình thái chuyển hoá của giá trị thặng dư trên bề mặt cuộc sốngnhư lợi nhuận, lợi nhuận bình quân, lợi nhuận thương nghiệp, lợi tức, địa tô
Trên cơ sở nghiên cứu tiến trình hoàn thiện của lý luận giá trị hàng hoá là lịch sử củaquá trình nhận thức trong xã hội Nhận thức nói trên không phải là bất di bất dịch mà nóluôn biến đổi cùng với sự biến đổi của xã hội loài người và mục đích cơ bản là đạt tớinhững giá trị tư tưởng hoàn thiện hơn, tiến bộ hơn cho phù hợp với quy luật khách quan
Trang 24Thông qua nghiên cứu, phân tích, so sánh lý luận giá trị, giá cả hàng hoá trong các họchthuyết kinh tế, so sánh với lý luận của chủ nghĩa Marx Lênin để thấy rõ những điểm tíchcực, những mặt còn tồn tại từ đó nhận thức 1 cách sâu sắc quá trình vận động, phát triểnkinh tế – xã hội ở Việt nam, đưa ra được những chủ trương, đường lối, chính sách phát triểnkinh tế phù hợp với các quy luật, các điều kiện khách khách quan; Nó được thể hiện cao độthông qua những chủ trương, đường lối của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay là phát triểnnền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của Nhà nước - Đó là nềnkinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhànước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
(NẾU YÊU CẦU PHÂN TÍCH RIÊNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ CỦA MÁC)
1.1 Điều kiện ra đời, đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá
1.1.1 Điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hoá
Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế,
đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa
Sản xuất tự cấp tự túc (kinh tế tự nhiên) là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm do laođộng sản xuất ra nhằm thoả mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất
Sản xuất hàng hoá (kinh tế hàng hoá) là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm đượcsản xuất ra để trao đổi hoặc bán trên thị trường
Sản xuất hàng hoá chỉ ra đời khi có đủ hai điều kiện sau:
Thứ nhất, phân công lao động xã hội
Phân công lao động xã hội là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành nghề khácnhau của nền sản xuất xã hội Phân công lao động xã hội tạo ra sự chuyên môn hoá lao động,dẫn đến chuyên môn hoá sản xuất thành những ngành nghề khác nhau, mỗi người chỉ sản xuấtmột hay một vài sản phẩm nhất định Nhưng nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi họ phải có nhiềuloại sản phẩm khác nhau, đòi hỏi họ phải có mối liên hệ phụ thuộc vào nhau => buộc họ phảitrao đổi sản phẩm với nhau Phân công lao động xã hội là cơ sở, tiền đề của sản xuất hàng hoá
Thứ hai, sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất
Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất do quan hệ sở hữukhác nhau về tư liệu sản xuất quy định Nó xác định người sở hữu tư liệu sản xuất là người sởhữu sản phẩm làm ra, quan hệ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất đã làm cho người sản xuấtđộc lập, đối lập với nhau, nhưng họ lại cùng nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội nênphụ thuộc vào nhau cả về sản xuất lẫn tiêu dùng, người này muốn tiêu dùng sản phẩm củangười khác phải thông qua trao đổi, mua bán
Hai điều kiện trên cho thấy, phân công lao động xã hội làm cho những người sản xuấtphụ thuộc vào nhau; sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế giữa những người sản xuất lại chia rẽ
họ ra, làm cho họ độc lập, đối lập với nhau Đây là một mâu thuẫn của sản xuất hàng hoá, nóchỉ được giải quyết thông qua trao đổi, mua - bán sản phẩm
Sản xuất hàng hoá chỉ ra đời khi có đủ cả hai điều kiện nói trên, nếu thiếu một tronghai điều kiện ấy thì không có sản xuất hàng hoá và sản phẩm của lao động không mang hìnhthái hàng hoá
1.1.2 Đặc trưng và ưu thế của sản xuất hàng hoá
Mục đích của sản xuất hàng hoá là thoả mãn nhu cầu của người khác, của xã hội nên sựgia tăng không hạn chế nhu cầu của thị trường là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất pháttriển
Cạnh tranh ngày càng gay gắt, buộc mỗi người sản xuất hàng hoá phải năng động trongsản xuất kinh doanh, phải thường xuyên cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất để tăng năng suấtlao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tiêu thụ được nhiều hàng hoá và thu được nhiềulợi nhuận
Trang 25Sự phát triển của sản xuất xã hội với tính chất “mở” của các quan hệ hàng hoá tiền tệ sẽlàm cho giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng, giữa các nước ngày càng phát triển Từ đó, tạođiều kiện nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tuy nhiên kinh tế hàng hoá cũng có những mặt trái của nó như phân hoá giàu nghèo,hàng lậu, hàng giả, phá hoại môi trường
1.2 Hàng hóa
Khi nghiên cứu về chủ nghĩa tư bản, Mác bắt đầu nghiên cứu từ hàng hóa Vì theo Mác,việc phân tích về hàng hóa là vấn đề khó khăn nhất Hàng hóa trong nghiên cứu của ông làhàng hóa giản đơn, nó chứa đựng mầm mống của hàng hóa tư bản chủ nghĩa sau này(hàng hóagiản đơn mang đặc điểm chung nhất của hàng hóa tư bản chủ nghĩa) Về mặt lịch sử, khi sảnxuất hàng hóa giản đơn diễn ra và phát triển – quy luật giá trị (quy luật của sản xuất và trao đổi)hoạt động- một số kẻ trở nên phát đạt và trở thành tư bản, những người thua lỗ trở thành lựclượng làm thuê; về mặt lý luận, mác nghiên cứu hàng hóa với tư cách là tế bào kinh tế của xãhội để từ đó nghiên cứu toàn bộ cơ thể của xã hội tư bản Ông giải thích: tế bào không đơnthuần là nghĩa đen mà nó là điểm xuất phát, là mầm mống, là hình thái nguyên tố đầu tiên củachủ nghĩa tư bản " Muốn nghiên cứu " một cơ thể đã phát triển" thì phải bắt đầu từ " tế bàocủa cơ thể đó" Sản xuất hàng hóa và một nền lưu thông hàng hóa phát triển, thương mại, đó lànhững tiền đề lịch sử của sự xuất hiện của tư bản" Vì vậy, để hiểu được tư bản, cũng nhưphương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa phải bắt đầu từ hàng hóa và lịch sử vận động của nó.Đây cũng là phương pháp nghiên cứu khoa học, vừa mang tính logíc, vừa mang tính lịch sử
1.2.1 Hàng hoá và hai thuộc tính của hàng hoá
1.2.1.1 Khái niệm hàng hóa
Hàng hoá là sản phẩm của lao động có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người vàdùng để trao đổi với nhau Trong mỗi hình thái kinh tế xã hội , sản xuất hàng hoá có bản chấtkhác nhau, nhưng hàng hoá đều có hai thuộc tính:
1.2.1.2 Hai thuộc tính của hàng hóa
Giá trị sử dụng
Giá trị sử dụng là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của conngười, ví dụ: cơm để ăn, xe đạp để đi, máy móc, nguyên nhiên vật liệu để sản xuất …Vật phẩmnào cũng có một số công dụng nhất định Công dụng của vật phẩm do thuộc tính tự nhiên củavật chất quyết định Khoa học kỹ thuật càng phát triển, người ta càng phát hiện thêm nhữngthuộc tính mới của sản phẩm và lợi dụng chúng để tạo ra những giá trị sử dụng hay tiêu dùng
Nó là nội dung vật chất của của cải Giá trị sử dụng là phạm trù vĩnh viễn
Giá trị sử dụng nói ở đây với tư cách là thuộc tính của hàng hoá, nó không phải là giá trị
sử dụng cho bản thân người sản xuất hàng hoá, mà là giá trị sử dụng cho người khác, cho xãhội thông qua trao đổi – mua bán Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trịtrao đổi
Trang 26Khi hai sản phẩm khác nhau (vải và thóc) có thể trao đổi được với nhau thì giữa chúngphải có một cơ sở chung nào đó Cái chung ấy không phải là giá trị sử dụng, tuy nhiên, sự khácnhau về giá trị sử dụng của chúng là điều kiện cần thiết của sự trao đổi Nhưng cái chung đóphải nằm ngay ở trong cả hai hàng hoá Nếu gạt giá trị sử dụng của sản phẩm sang một bên, thìgiữa chúng chỉ còn một cái chung làm cơ sở cho quan hệ trao đổi Đó là chúng đều là sản phẩmcủa lao động Để sản xuất ra vải hoặc thóc, những người sản xuất đều phải hao phí lao động.Chính hao phí lao động ẩn giấu trong hàng hoá làm cho chúng có thể so sánh được với nhaukhitrao đổi Chúng được trao đổi theo một tỷ lệ nhất định, một số lượng vải ít hơn đổi lấy mộtlượng thóc nhiều hơn (1m vải = 10 kg thóc); nhưng lượng lao động hao phí để sản xuất rachúng là ngang bằng nhau Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá ẩn giấu trong hàng hoáchính là giá trị của hàng hoá
Vậy giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá
Chất của giá trị là lao động, vì vậy sản phẩm nào không có lao động của người sản xuấtchứa đựng trong đó, thì nó không có giá trị Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất rachúng càng nhiều thì giá trị càng cao
Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi; còn giá trị trao đổi là hình thức biểuhiện của giá trị ra bên ngoài Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất ngầm sosánh lao động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau Thực chất của quan hệ trao đổi là người ta traođổi lượng lao động hao phí của mình chứa đựng trong các hàng hoá Vì vậy, giá trị là biểu hiệnquan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nềnsản xuất hàng hoá Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội củahàng hoá Như vậy, hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị,nhưng là sự thống nhất của hai mặt đối lập Đối với người sản xuất hàng hoá, họ tạo ra giá trị
sử dụng, nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, họ quan tâm đếngiá trị sử dụng là để đạt được mục đích giá trị mà thôi Ngược lại, đối với người mua, cái mà họquan tâm là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình Nhưng, muốn có giá trị sửdụng thì phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Như vậy, trước khi thực hiện giá trị sử dụngphải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị
sử dụng
1.2.2 Tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá
Sở dĩ hàng hoá có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị là do lao động sản xuất hànghoá có tính hai mặt Chính tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá quyết định tính haimặt của bản thân hàng hoá C Mác là người đầu tiên phát hiện ra tính hai mặt của lao động sảnxuất hàng hoá Đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng
1.2.2.1 Lao động cụ thể
Là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhấtđịnh Mỗi lao động cụ thể có mục đích riêng, đối tượng riêng, phương pháp riên, phương tiệnriêng và kết quả riêng Ví dụ: lao động cụ thể của người thợ mộc, mục đích là sản xuất cái bàn,cái ghế, đối tượng lao động là gỗ, phương pháp của anh ta là các thao tác về bào, khoan, đục;phương tiện được sử dụng là cái cưa , cái đục, cái bào, cái khoan; kết quả lao động là tạo ra cáibàn, cái ghế
Mỗi lao động cụ thể tạo ra một loại giá trị sử dụng nhất định Lao động cụ thể càngnhiều loại càng tạo ra nhiều loại giá trị sử dụng khác nhau Các lao động cụ thể hợp thành hệthống phân công lao động xã hội Cùng với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật, các hình thứclao động cụ thể ngày càng đa dạng, phong phú, nó phản ánh trình độ phát triển của phân công
Trang 27lao động xã hội Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, là một điều kiện không thể thiếutrong bất kỳ hình thái kinh tế – xã hội nào Cần chú ý rằng, hình thức của lao động cụ thể có thểthay đổi.
1.2.2.2 Lao động trừu tượng
Lao động của người sản xuất hàng hoá, nếu coi là sự hao phí sức lực nói chung của conngười, không kể đến hình thức cụ thể của nó như thế nào, thì gọi là lao động trừu tượng Laođộng của người thợ mộc và lao động của người thợ may, nếu xét về mặt lao động cụ thể thìhoàn toàn khác nhau, nhưng nếu gạt tất cả những sự khác nhau ấy sang một bên thì chúng chỉcòn có một cái chung, đều phải tiêu phí sức óc, sức bắp thịt và sức thần kinh của con người.Lao động trừu tượng chính là lao động hao phí đồng chất của con người Lao động bao giờcũng là sự hao phí sức lực của con người xét về mặt sinh lý Nhưng không phải sự hao phí sứclao động nào về mặt sinh lý cũng là lao động trừu tượng Lao động trừu tượng chỉ có trong nềnsản xuất hàng hoá, do mục đích của sản xuất là để trao đổi Vì vậy, xuất hiện sự cần thiết phảiquy các lao động cụ thể vốn rất khác nhau, không thể so sánh được với nhau thành một thứ laođộng đồng chất, tức lao động trừu tượng Lao động trừu tượng tạo ra giá trị làm cơ sở cho sựngang bằng trong trao đổi Nếu không có sản xuất hàng hoá , không có trao đỏi thì cũng khôngcần phải quy các lao động cụ thể về lao động trừu tượng Vì vậy, lao động trừu tượng là mộtphạm trù lịch sử riêng có của sản xuất hàng hoá ở đây không phải có hai thứ lao động khácnhau mà chỉ là lao động của người sản xuất hàng hoá, nhưng lao động đó mang tính hai mặt:vừa là lao động cụ thể, vừa là lao động trừu tượng
Việc phát hiện ra tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá có ý nghĩa rất to lớn vềmặt lý luận; nó đem đến cho lý thuyết lao động sản xuất một cơ sở khoa học thực sự Giúp tagiải thích được hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực tế, như sự vận động trái ngược: khốilượng của cải vật chất ngày càng tăng lên, đi liền với khối lượng giá trị của nó giảm xuống haykhông thay đổi
Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá phản ánh tính chất tư nhân và tính chât xãhội của người sản xuất hàng hoá Trong nền kinh tế hàng hoá, sản xuất như thế nào, sản xuấtcái gì là việc riêng của mỗi người Họ là người sản xuất độc lập, lao động của họ vì vậy có tínhchất tư nhân và lao động cụ thể của họ sẽ biểu hiện của lao động tư nhân Đồng thời lao độngcủa mỗi người sản xuất hàng hoá, nếu xé về mặt hao phí sức lực nói chung, tức lao động trừutượng, thì nó luôn là một bộ phận của lao động xã hội thống nhất, nằm trong hệ thống phâncông lao động xã hội, nên lao động trừu tượng là biểu hiện của lao động xã hội
Trong nền sản xuất hàng hoá giữa lao động tư nhân và lao động xã hội có mâu thuẫnvới nhau Đó là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá “giản đơn” Mâu thuẫn này biểu hiện:sản phẩm do người sản xuất nhỏ tạo ra có thể không phù hợp với nhu cầu của xã hội; hao phílao động cá biệt của người sản xuất có thể cao hơn hay thấp hơn hao phí lao động mà xã hộichấp nhận; mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội chứa đựng khả năng “sản xuấtthừa” là mầm mống của mọi mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản
1.2.3 Lượng giá trị hàng hoá
1.2.3.1 Thời gian lao động xã hội cần thiết
Chất của giá trị là lao động trừu tượng của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hànghoá Vậy lượng giá trị là do lượng lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó quyết định.Lượng lao động được đo bằng thước đo thời gian như: một giờ lao động, một ngày lao động…
Do đó, lượng giá trị của hàng hoá cũng do thời gian lao động quyết định Trong thực tế, mộtloại hàng hoá đưa ra thị trường là do rất nhiều người sản xuất ra, nhưng mỗi người sản xuất do
Trang 28điều kiện sản xuất , trình độ tay nghề là không giống nhau, nên thời gian lao động cá biệt đểsản xuất ra hàng hoá của họ khác nhau Thời gian lao động cá biệt quyết định lượng giá trị cábiệt hàng hoá của từng người sản xuất Nhưng lượng giá trị xã hội của hàng hoá không phảiđược tính bằng thời gian lao động cá biệt mà bằng thời gian lao động xã hội cần thiết
Thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hoátrong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với trình độ kỹ thuật trung bình, trình độ khéoléo trung bình và cường độ trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhất định
Thông thường, thời gian lao động xã hội cần thiết trùng hợp với thời gian lao động cábiệt của những người cung cấp đại bộ phận loại hàng hoá nào đó trên thị trường
1.2.3.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới lượng giá trị hàng hoá
Do thời gian lao động xã hội cần thiết luôn thay đổi, nên lượng giá trị của hàng hoácũng là một đại lượng không cố định Sự thay đổi này tuỳ thuộc vào các nhân tố:
Thứ nhất, năng suất lao động
Năng suất lao động là năng lực sản xuất của lao động, nó được tính bằng số lượng sảnphẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ramột đơn vị sản phẩm Năng suất lao động ảnh hưởng đến giá trị xã hội của hàng hóa chính lànăng suất lao động xã hội Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cầnthiết để sản xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít vàngược lại Như vậy, lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động
Thứ hai, mức độ phức tạp của lao động
Mức độ phức tạp của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến số lượng giá trị của hànghóa Theo mức độ phức tạp của lao động có thể chia lao động thành lao động giản đơn và laođộng phức tạp Lao động giản đơn là sự hao phí lao động một cách giản đơn mà bất kỳ mộtngười bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được Lao động phức tạp làlao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động lành nghề Trong cùng một thờigian lao động như nhau, lao động phức tạp tạo ra được nhiều giá trị hơn so với lao động giảnđơn Hay nói cách khác, lao động phức tạp là lao động giản đơn được nhân lên gấp bội
1.2.3.3 Cấu thành lượng giá trị hàng hoá
Theo W Petty, giá trị được quyết định bởi thời gian lao động hao phí trong quá trìnhsản xuất hàng hóa (v)
Theo A Smith, các khoản thu nhập là nguồn gốc đầu tiên của mọi giá trị trao đổi Ônglẫn lộn hai vấn đề hình thành giá trị và phân phối giá trị, giá trị của hàng hóa với giá trị mớisáng tạo ra của lao động Ông cũng xem thường tư bản bất biến, coi giá trị hàng hóa chỉ có(V+m)
Theo D Ricardo, giá trị hàng hóa không chỉ do lao động trực tiếp tạo ra, mà còn là laođộng cần thiết trước đó nữa như máy móc, nhà xưởng, nghĩa là ông chỉ biết đến C1, tức là cơcấu giá trị bao gồm (C1+v+m)
Theo Mác để sản xuất ra hàng hoá cần phải chi phí lao động bao gồm lao động quá khứtồn tại trong các yếu tố tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ , nguyên liệu, vật liệu và laođộng sống Vì vậy, lượng giá trị hàng hoá được cấu thành bởi cả giá trị của những tư liệu sản
Trang 29xuất đã sử dụng để sản xuất hàng hoá, tức là giá trị cũ (ký hiệu là c) và hao phí lao động sốngcủa người sản xuất trong quá trình tạo ra hàng hoá, tức là giá trị mới (ký hiệu là v+m) Giá trịhàng hoá = giá trị cũ tái hiện + giá trị mới Ký hiệu: W
W= c + v + m
1.1.1 1.3 Tiền tệ
Hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị Về mặt giá trị sửdụng, tức hình thái tự nhiên của hàng hoá, ta có thể nhận biết trực tiếp được bằng các giácquan Nhưng về mặt giá trị, tức hình thái xã hội của hàng hoá, nó không có một nguyên tử vậtchất nào nên không thể cảm nhận trực tiếp được Nó chỉ bộc lộ ra trong quá trình trao đổi thôngqua các hình thái biểu hiện của nó
1.1.1.1 1.3.1 Sự phát triển của các hình thái giá trị
1.3.1.1 Hình thái giá trị giản đơn hay ngẫu nhiên:
Đây là hình thái phôi thai của giá trị, nó xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hànghoá, trao đổi mang tính chất hiện vật ngẫu nhiên, người ta trao đổi trực tiếp vật này lấy vậtkhác Ví dụ: 1 m vải = 10 kg thóc Ở đây, giá trị của vải được biểu hiện ở thóc Còn thóc là cáiđược dùng để làm phương tiện để biểu hiện giá trị của vải Với thuộc tính tự nhiên của mình,thóc trở thành hiện thân giá trị của vải Sở dĩ như vậy vì bản thân thóc cũng có giá trị Hànghoá (vải) mà giá trị của nó được biểu hiện ở một hàng hoá khác (thóc) thì gọi là hình thái giá trịtương đối Còn hàng hoá (thóc) mà giá trị sử dụng của nó biểu hiện giá trị của hàng hoá khác(vải) gọi là hình thái vật ngang giá Nó có ba đặc điểm: giá trị sử dụng của nó trở thành hìnhthức biểu hiện của giá trị; lao động cụ thể trở thành hình thức biểu hiện của lao động trừutượng; lao động tư nhân trở thành hình thức biểu hiện của lao động xã hội
1.3.1.2 Hình thái giá trị đầy đủ hay mở rộng:
Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, sau phân công lao động xã hội lần thứ nhất, chănnuôi tách khỏi trồng trọt, trao đổi trở nên thường xuyên hơn, một hàng hoá có thể đổi lấy nhiềuhàng hoá khác Tương ứng với giai đoạn này là hình thái đầy đủ hay mở rộng
1.3.1.3 Hình thái giá trị chung:
Với sự phát triển cao hơn của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hànghoá được đưa ra trao đổi thường xuyên hơn Nhu cầu trao đổi do đó trở nên phức tạp hơn,người có vải muốn đổi thóc, nhưng người có thóc lại không cần vải mà lại cần thứ khác Vì thế,việc trao đổi trực tiếp không còn thích hợp và gây trở ngại cho trao đổi Trong tình hình đó,người ta phải đi vòng, mang hàng hoá của mình đổi lấy thứ hàng hoá mà nó được nhiều người
ưa chuộng, rồi đem đổi lấy thứ hàng hoá mà mình cần Khi vật trung gian trong trao đổi được
cố định lại ở thứ hàng hoá được nhiều người ưa chuộng , thì hình thái chung xuất hiện Các địaphương khác nhau thì hàng hoá dùng làm vật ngang giá chung cũng khác nhau
1.3.1.4 Hình thái tiền tệ:
Khi lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội phát triển hơn nữa, sản xuất hànghoá và thị trường ngày càng mở rộng, thì tình trạng có nhiều vật ngang giá chung làm cho traođổi giữa các địa phương vấp phải khó khăn , do đó đòi hỏi khách quan phải hình thành vậtngang giá chung thống nhất Khi vật ngang giá chung được cố định lại ở một vật độc tôn vàphổ biến thì hình thái tiền tệ của giá trị ra đời
Trang 30Tiền tệ xuất hiện là kết quả phát triển lâu dài của sản xuất và trao đổi hàng hóa, khi tiền
tệ ra đời thì thế giới hàng hóa được phân thành hai cực: một bên là các hàng hóa thông thường,một bên là hàng hóa đóng vai trò tiền tệ Đến đây giá trị các hàng hóa đã có một phương tiệnbiểu hiện thống nhất Tỷ lệ trao đổi được cố định lại
1.1.1.2 1.3.2 Bản chất của tiền tệ
Tiền tệ là một hình thái giá trị của hàng hóa, là sản phẩm của quá trình phát triển sảnxuất và trao đổi hàng hóa Tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt được tách ra từ trong thế giới hànghoá làm vật ngang giá chung thống nhất; nó thể hiện lao động xã hội và biểu hiện quan hệ giữanhững người sản xuất hàng hoá
1.1.1.3 1.3.3 Các chức năng của tiền tệ
1.3.3.1 Thước đo giá trị
Làm chức năng thước đo giá trị tiền được dùng để đo lường và biểu hiện giá trị củahàng hoá Muốn vậy, bản thân tiền phải có giá trị (tức là tiền vàng) Giá trị của hàng hoá đượcbiểu hiện bằng tiền gọi là giá cả của hàng hoá Giá cả của hàng hoá phụ thuộc vào các yếu tố:giá trị hàng hoá, giá trị của tiền, quan hệ cung cầu hàng hoá trên thị trường Để làm được chứcnăng này thì bản thân tiền tệ phải được quy định một đơn vị tiền tệ nhất định làm tiêu chuẩn đolường giá trị của hàng hoá
1.3.3.2 Phương tiện lưu thông
Tiền làm phương tiện lưu thông tức là làm môi giới trong trao đổi Để làm chức năngnày cần phải có tiền mặt Tiền là hình thức biểu hiện của hàng hoá, nó phục vụ cho sự vận độngcủa hàng hoá Lưu thông hàng hoá và lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ là hai mặt củamột quá trình thống nhất với nhau Trong lưu thông, tiền tệ lúc đầu xuất hiện dưới hình tháivàng thoi, bạc nén, dần dần chuyển sang tiền đúc, tiền đúc bị hao mòn dần, bị mất một phần giá
trị nhưng vẫn được chấp nhận như tiền đủ giá trị Như vậy, giá trị thực của tiền tách rời giá trị
danh nghĩa của nó vì tiền làm phương tiện lưu thông chỉ đóng vai trò chốc lát
1.3.3.3 Phương tiện thanh toán
Làm phương tiện thanh toán tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua chịuhàng Tiền làm phương tiện thanh toán dẫn đến sự xuất hiện của hình thức thanh toán khấutrừ không dùng tiền mặt Do đó, nó ảnh hưởng tới lượng tiền cần thiết cho lưu thông Mặt khác,phát triển hình thức nợ dây chuyền làm tăng khả năng khủng hoảng kinh tế trong sản xuất hànghoá
1.3.3.4 Phương tiện cất trữ
Làm phương tiện cất trữ, tức là tiền được rút khỏi lưu thông và đem vào cất trữ Sở dĩ,tiền làm được chức năng này là vì tiền là đại biểu cho của cải xã hội dưới hình thức giá trị nêncất trữ tiền là một hình thức cất trữ của cải
1.3.3.5 Tiền tệ thế giới
Khi trao đổi hàng hoá vượt ra khỏi biên giới quốc gia thì tiền làm chức năng tiền tệ thếgiới Với chức năng này, tiền phải có đủ giá trị hay tiền tín dụng phải được công nhận làphương tiện thanh toán quốc tế Thực hiện chức năng này, tiền được sử dụng làm phương tiệnmua hàng và thanh toán quốc tế
1.4 Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa, ở đâu cósản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị
1.4.1 Nội dung của quy luật giá trị
Theo quy luật giá trị, việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí laođộng xã hội cần thiết
Trang 31Trong kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí lao động cá biệt củamình, nhưng giá trị của hàng hoá không được quyết định bởi hao phí lao động cá biệt của từngngười sản xuất hàng hoá, mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy, muốn bán đượchàng hoá, bù đắp được chi phí và có lãi, người sản xuất phải điều chỉnh làm cho hao phí laođộng cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí lao động mà xã hội chấp nhận được
Trao đổi hàng hoá cũng phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, có nghĩa
là trao đổi theo nguyên tắc ngang giá Sự vận động của giá trị thông qua sự vận động của giá cảhàng hoá Vì giá trị là cơ sở của giá cả, nên trước hết giá cả phụ thuộc và giá trị Hàng hoá nàonhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phụthuộc vào các nhân tố: cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền Sự tác động của các
Trong thời kỳ tư bản tự do cạnh tranh, giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất.Giá cả sản xuất bằng chi phí sản xuất cộng với lợi nhuận bình quân (giá cả sản xuất = k + pngang) Tiền đề của giá cả sản xuất là sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân Điều kiện đểgiá trị biến thành giá cả sản xuất gồm có: đại công nghiệp cơ khí tự bản chủ nghĩa phát triển; sựliên hệ rộng rãi giữa các ngành sản xuất, quan hệ tín dụng phát triển, tư bản tự do di chuyển từngành này sang ngành khác Trước đây, khi chưa xuất hiện phạm trù giá cả sản xuất thì giá cảhàng hoá xoay quanh giá trị hàng hoá Giờ đây, giá cả hàng hoá xoay quanh giá cả sản xuất.Xét về mặt lượng ở mỗi ngành giá cả sản xuất và giá trị hàng hoá có thể không bằng nhau,nhưng trong toàn xã hội thì tổng giá cả sản xuất luôn bằng tổng giá trị hàng hoá Trong mốiquan hệ này thì giá trị vẫn là cơ sở , là nội dung bên trong của giá cả sản xuất; giá cả sản xuất là
cơ sở của giá cả thị trường, và giá cả thị trường xoay quanh giá cả sản xuất
Trong thời kỳ tư bản độc quyền, giá trị biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền Dochiếm được vị trí độc quyền nên các tổ chức độc quyền đã áp đặt giá cả độc quyền ; giá cả độcquyền thấp khi mua, giá cả độc quyền cao khi bán Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là tronggiai đoạn đế quốc chủ nghĩa giá trị không còn hoạt động Về thực chất, giá cả độc quyền vẫnkhông thoát ly và không phủ định cơ sở của nó là giá trị Các tổ chức độc quyền thi hành chínhsách giá cả độc quyền chẳng qua là chiếm đoạt một phần giá trị và giá trị thặng dư của nhữngngười khác Nếu xem xét trong toàn bộ hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa thì tổng số giá cả vẫnbằng tổng số giá trị Như vậy, nếu như trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh giá trịbiểu hiện thành quy luật giá cả sản xuất, thì trong giai đoạn đế quốc chủ nghĩa giá trị biểu hiệnthành quy luật giá cả độc quyền
1.4.2 Tác động của quy luật giá trị
1.4.2.1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá
Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnhvực của nền kinh tế Tác dụng này của giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trênthị trường dưới tác động của quy luật cung cầu Nếu ở ngành nào đó khi cung nhỏ hơn cầu, giá
cả hàng hoá sẽ lên cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy, lãi cao, thì người sản xuất sẽ đổ xô vàongành ấy Do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành ấy tăng lên.Ngược lại, khi cung ở nành đó vượt quá cầu, giá cả hàng hoá giảm xuốn, hàng hoá bán khôngchạy và có thể lỗ vốn Tình hình ấy buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuất lại hoặcchuyển sang đầu tư vào ngành có giá cả hàng hoá cao
Điều tiết lưu thông của giá trị cũng thông qua giá cả trên thị trường Sự biến động củagiá cả thị trường cũng do tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do
đó làm cho lưu thông hàng hoá thông suốt
Trang 321.4.2.2 Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, lực
lượng sản xuất xã hội phát triển nhanh
Trong nền kinh tế hàng hoá, mỗi người sản xuất hàng hoá là một chủ thể kinh tế độclập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Nhưng do điều kiện sản xuất khácnhau nên hao phí lao động cá biệt khác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động cá biệtnhỏ hơn hao phí lao động xã hội củ hàng hoá ở thế có lợi, sẽ thu được lãi cao Người sản xuấtnào có hao phí lao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗvốn Để giành lợi thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạ thấp hao phílao động cá biệt của mình, sao cho bằng hao phí lao động xã hội cần thiết Muốn vậy, họ phảitìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suấtlao động Sự cạnh tranh quyết liệt càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính
xã hội, Kết quả là lực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ
1.4.2.3 Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất hàng hoá thành kẻ giàu
Khi xã hội bị phân hoá thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội;thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, do đó tạo điều kiện ra đời của sản xuất lớn có
xã hội cao, đồng thời chọn lọc được những người sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũcán bộ quản lý có trình độ, lao động lành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước
VẬN DỤNG HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ LAO ĐỘNG VÀO THỰC TẾ
VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1 Thực trạng vận dụng học thuyết giá trị lao động hiện nay ở nước ta
2.1.1 Thực trạng
Hiện nay, Việt Nam đang duy trì nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo
cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa Nền kinh tế vậnđộng theo những quy luật vốn có của kinh tế thị trường như quy luật cung cầu, quy luật cạnhtranh và đặc biệt là giá trị Sự tác động của các quy luật đó hình thành cơ chế tự điều tiết củanền kinh tế Các doanh nghiệp, các hộ gia đình tự quyết định hành vi của mình để trả lời thoảđáng ba câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào Trên thị trường hànghoá và dịch vụ, giá cả điều tiết cung cầu Tiến hành đổi mới doanh nghiệp Nhà nước, mở rộngquyền tự chủ của doanh nghiệp, xoá bỏ dần việc nhà nước bao cấp sản xuất và tiêu cực, giải thểcác doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả, thua lỗ kéo dài
Nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường nên nền kinh tế nước ta có nhiều loại hìnhsản xuất hàng hoá cùng tồn tại, đan xen nhau, trong đó sản xuất hàng hoá nhỏ phân tán còn phổbiến Mỗi thành phần kinh tế theo đuổi mục đích riêng và bằng những phương tiện riêng vàchịu sự tác động của các quy luật kinh tế đặc thù
Sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng kinh tế đối ngoại, hội nhập vào thịtrường khu vực và thế giới, trong hoàn cảnh trình độ phát triển kinh tế – kỹ thuật của nước tathấp so với hầu hết các nước khác Toàn cầu hoá và khu vực hoá về kinh tế đang đặt ra chung
Trang 33cho các nước cũng như nước ta nói riêng những thách thức hết sức gay gắt Nhưng nó là xu thếtất yếu khách quan, nên không đặt vấn đề tham gia hay không tham gia mà chỉ có thể đặt vấnđề: tìm cách xử sự với xu hướng đó như thế nào? Phải chủ động hội nhập, chuẩn bị tốt để chủđộng tham gia vào khu vực hoá và toàn cầu hoá, tìm ra “cái mạnh tương đối” của nước ta, thựchiện đa dạng hoá kinh tế đối ngoại, tận dụng ngoại lực để phát huy nội lực, nhằm thúc đẩy côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, định hướng đi lên xã hội chủ nghĩa
Chúng ta đã tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, xoá bỏ hoàn toàn cơ chế tập trungquan liêu bao cấp hình thành cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước định hướng xã hộichủ nghĩa Thực chất đây là quá trình đổi mới cả hệ thống các công cụ, chính sách quản lý kinh
tế, tạo lập đồng bộ các yếu tố thị trường và tăng cường chức năng quản lý của Nhà nước
2.1.2 Đánh giá chung:
2.1.2.1 Thành tựu:
Sau gần 30 năm xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng vớiviệc nghiên cứu, vận dụng một cách linh hoạt những học thuyết kinh tế của chủ nghĩa Mác –Lênin vào điều kiện hoàn cảnh đặc thù của đất nước, chúng ta đã thu được những thành tựunhư sau:
Một là, kích thích hoạt động của chủ thể kinh tế và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt
động tự do của họ Do đó làm cho nền kinh tế phát triển năng động, có hiệu quả
Hai là, sự thích ứng tự phát giữa khối lượng và cơ cấu của sản xuất (tổng cung) với
khối lượng và cơ cấu nhu cầu của xã hội (tổng cầu) Nhờ đó ta có thể thoả mãn tốt nhu cầu tiêudùng cá nhân về hàng ngàn, hàng vạn sản phẩm khác nhau Nhiệm vụ này nếu để Nhà nướclàm sẽ phải thực hiện một số công việc lớn, có khi không thực hiện được và đòi hỏi chi phí caotrong quá trình ra các quyết định
Ba là, kích thích đổi mới kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất Sức ép của cạnh tranh buộc
những người sản xuất phải giảm chi phí sản xuất cá biệt đến mức tối thiểu bằng cách áp dụngphương pháp sản xuất tốt nhất như không ngừng đổi mới kỹ thuật và công nghệ sản xuất, đổimới sản xuất, đổi mới tổ chức sản xuất và quản lý kinh doanh, nân cao hiệu quả
Bốn là, thực hiện phân phối nguồn lực một cách tối ưu Trong nền kinh tế thị trường với
sự hoạt động mạnh mẽ của giá trị, việc lưu động, di chuyển phân phối các yếu tố sản xuất, vốnđều tuân theo nguyên tắc của thị trường; chúng sẽ chuyển đến nơi được sử dụng với hiệu quảcao nhất, do đó các nguồn lực kinh tế được phân bố một cách tối ưu
Năm là, tạo sự mềm dẻo và linh hoạt và có khả năng thích nghi cao hơn nữa trước
những điều kiện kinh tế biến đổi, làm thích ứng kịp thời giữa sản xuất xã hội với nhu cầu xãhội
Sáu là, tăng trưởng GDP cao, bình quân tăng trưởng thời kỳ 1986-1990 là 4,4%/năm,
thời kỳ 1991-1995 là 8,2% /năm, thời kỳ 1996-2000 là 7%/năm, thời kỳ 2001-2005 là7,52%/năm, năm 2008 đạt 6,23%, năm 2009 đạt 5,2% và nếu năm 2010 tăng trưởng đạt 6,5%thì bình quân thời kỳ 2006-2010 sẽ đạt 6,96%/năm và tính chung thời kỳ 2001-2010 đạt 7,24%/năm Như vậy liên tục trong 25 năm, tốc độ tăng trưởng luôn đạt mức cao nên GDP/người/nămcũng tăng, từ 289 USD (năm 1995) lên đến 1.024 USD (năm 2008), cho thấy Việt Nam đãthoát được phạm vi nước nghèo, đang bước vào phạm vi nước có thu nhập trung bình thấp (cóGDP/ người từ 765 đến 3.385 USD) Xây dựng mới và nâng cấp hệ thống giao thông vận tải vàbưu điện, hoạt động thương mại và dịch vụ có nhiều chuyển biến mạnh mẽ
2.1.2.2 Hạn chế và nguyên nhân:
Trang 34● Hạn chế:
Thị trường dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành nhưng chưa đồng bộ Dogiao thông vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các vùng trong nước vào mộtmạng lưới lưu thông hàng hoá thống nhất Thị trường hàng hoá - dịch vụ đã hình thành nhưngcòn hạn hẹp và còn nhiều hiện tượng tiêu cực (hàng giả, hàng nhập lậu, hàng nhái nhãn hiệuvẫn làm rối loạn thị trường Thị trường hàng hoá sức lao động mới manh nha, một số trung tâmgiới thiệu việc làm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhưng đã nảy sinh hiện tượng khủnghoảng Nét nổi bật của thị trường này là sức cung về lao động lành nghề nhỏ hơn cầu rất nhiều,trong khi đó cung về sức lao động giản đơn lại vượt quá cầu, nhiều người có sức lao độngkhông tìm được việc làm Thị trường tiền tệ, thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn cònnhiều trắc trở, như nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân rất thiếu vốn nhưngkhông vay được vì vướng mức thủ tục, trong khi đó nhiều ngân hàng thương mại huy độngđược tiền gửi mà không hteer cho vay để ứ đọng trong két dư nợ quá hạn trong nhiều ngânhàng thương mại đã đến mức báo động Thị trường chứng khoán ra đời nhưng cũng chưa cónhiều “hàng hoá” để mua – bán và mới có rất ít doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia thị trườngnày
Sự cạnh tranh không hoàn hảo, do sự vận dụng giá trị còn chưa được hiệu quả nên vẫnxuất hiện độc quyền, các nhà độc quyền có thể giảm sản lượng, tăng giá để thu lợi nhuận cao,mặt khác, khi xuất hiện độc quyền, thì không có sức ép của cạnh tranh đối với việc đổi mới kỹthuật Thêm vào đó, hiệu quả kinh tế xã hội không được đảm bảo do mục đích của các chủ thểkinh tế là lợi nhuận tối đa; họ lạm dụng tài nguyên và gây ô nhiễm môi trường sống
Phân phối thu nhập không công bằng, dưới tác dụng của giá trị sẽ có sự phân chia kẻgiàu người nghèo nhưng do sự vận dụng còn bị hạn chế nên không đem lại được sự công bằngcho mọi người dân bằng các chính sách trợ cấp xã hội Hơn nữa, không thể tránh khỏi khủnghoảng kinh tế chu kỳ và thất nghiệp, tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta còn tương đối cao và gần đâylạm phát đã lên tới 10%
Trình độ phát triển của nền kinh tế thị trường ở nước ta còn ở giai đoạn sơ khai, nềnkinh tế vẫn chủ yếu là nông nghiệp công nghiệp nhỏ bé, kết cấu hạ tầng cơ sở vật chất kỹ thuậtthấp kém, chưa xây dựng được bao nhiêu, cơ cấu lao động chậm biến đổi, 75% dân số sống ởnông thôn Nước ta còn nghèo nhưng chưa thực hiện tốt cần kiệm trong sản xuất, tiết kiệmtrong tiêu dùng, tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế và đầu tư cho phát triển còn thấp Nền kinh tế đạtmức tăng trưởng khá nhưng năng suất và hiệu quả còn kém
Nguyên nhân:
Trên cơ sở phân tích thực trạng của việc áp dụng học thuyết giá trị lao động vào nước
ta, có thể đưa ra những nguyên nhân chủ yếu sau đấy khiến việc áp dụng học thuyết giá trị laođộng vẫn chưa mang lại hiệu quả cho nền kinh tế:
Thứ nhất, việc lãnh đạo xây dựng quan hệ sản xuất mới có phần vừa lúng túng vừa
buông lỏng Hệ thống chính sách ban hành còn chưa đồng bộ nhất quán gây ra thực tế là khókhăn trong việc chấ hành Các nhà hoạch định chính sách ít nhiều vẫn còn có tư tưởng “thử –sai – sửa” nên không tạo ra được định hướng triệt để cho nền kinh tế
Thứ hai, quản lý Nhà nước về kinh tế – xã hội còn yếu Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ VIII của Đảng ta nhận định vấn đề này như sau: “Hệ thống luật pháp cơ chế, chínhsách chưa đồng bộ và nhất quán, thực hiện chưa nghiêm” Công tác tài chính, ngân hàng, giá
cả, kế hoạch hoá, quy hoạch xây dựng, quản lý đất đai còn yếu kém; thủ tục hành chính …đổimới chậm Thương nghiệp nhà nước bỏ trống một số trận địa quan trọng, chưa phát huy tốt vai
Trang 35trò chủ đạo trên thị trường Quản lý xuất nhập khẩu có nhiều sơ hở, tiêu cực, một số trường hợpgây tác động xấu với sản xuất Chế độ phân phối còn nhiều bất hợp lý Bội chi ngân sách vànhập siêu còn lớn Lạm phát tuy được kiềm chế nhưng chưa vững chắc
Thứ ba, cơ sở vật chất kỹ thuật còn ở trình độ quá thấp, có những ngành đang ở trình độ
2/7 của thế giới, máy móc lạc hậu 2-3 thế hệ, lao động thủ công còn phổ biến, năng suất laođộng chỉ bằng 30% năng suất lao động trung bình thế giới Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải,thông tin liên lạc còn lạc hậu kém phát triển Các vùng các địa phương bị chia cắt, khó phát huythế mạnh đất nước
Thứ tư, phân công lao động kém phát triển và cơ cấu kinh tế chậm chuyển dịch Các
doanh nghiệp có sức cạnh tranh thấp, khối lượng hàng hoá nhỏ bé, chủng loại nghèo nàn, chấtlượng thấp giá cả cao
Thứ năm, sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng kinh tế đối ngoại, hội
nhập vào thị trường khu vực và thế giới, trong hoàn cảnh và trình độ phát triển kinh tế kỹ thuật
ở nước ta còn thấp so với hầu hết các nước khác Toàn cầu hoá đặt ra cho nước ta rất nhiềuthách thức, trước hết là AFTA (Khu mậu dịch tự do) mà mục tiêu là giảm và tiến tới cắt bỏhàng rào thuế quan của các loại hàng hoá và dịch vụ xuống còn 0-5% cho đến năm 2010 đốivới các nước Châu á; điều này tạo ra trở ngại lớn đối với các doanh nghiệp ít có khả năng cạnhtranh và đặt hàng loạt các doanh nghiệp trước nguy cơ phá sản Nếu không nhanh chóng chuẩn
bị tốt để hội nhập, phát huy tối đa nội lực, tìm ra cái mạnh tương đối của mình thì Việt Nam sẽgặp rất nhiều khó khăn khi gia nhập thị trường quốc tế
2.2 Giải pháp chủ yếu nhằm vận dụng hiệu quả học thuyết giá trị lao động vào Việt Nam hiện nay.
2.2.1 Đối với các chính sách vĩ mô của Nhà nước
Phải đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế từ diện rộng sang sâu, lấy hiệu quả là chủyếu; phải cơ cấu lại nền kinh tế, phải có công nghiệp chế biến và nâng chất các dịch vụ ngânhàng, tài chính, du lịch Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần Đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học – công nghệ; trên cơ sở đóđẩy mạnh phân công lao động xã hội Chuyển mạnh cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôntheo hướng tạo ra các vùng sản xuất hàng hoá tập trung chuyên canh, thâm canh, có năng suấtchất lượng cao, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhất là công nghệ sinh học, gắn chế biến vớitiêu thụ Phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ, phụ trợ cần thiết Mở rộng và nâng cao chấtlượng các hoạt động dịch vụ chất lượng cao, phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng khu vực cao hơntốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế Khuyến khích các hoạt động xuất khẩu; khắc phụcdần tình trạng nhập siêu, tiến tới cân bằng xuất nhập khẩu
Nâng cao khả năng cạnh tranh của quốc gia trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới.Xây dựng chiến lược tổng thể hội nhập kinh tế quốc tế ở các cấp độ: toàn cầu, khu vực và songphương; vừa đẩy nhanh hợp tác đa phương, vừa phát triển mạnh quan hệ song phương với cácđối tác có vị thế quan trọng và lâu dài Kiên quyết khắc phục mọi biểu hiện của lợi ích cục bộlàm kìm hãm tiến trình hội nhập Xây dựng cơ chế phối hợp và điều phối tập trung thống nhất,
có hiệu quả các hoạt động hội nhập kinh tế ở tầm quốc gia
Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của Nhà nước đối với nền kinh tế, trong đóđặc biệt coi trọng việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống các cơ chế chính sách, luật pháp, đổimới công tác kế hoạch hóa, nâng cao chất lượng công tác xây dựng các chiến lược, quy hoạch
và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội; tăng cường công tác thông tin kinh tế – xã hội trongnước và quốc tế, công tác kế toán, thống kê; ứng dụng rộng rãi các thành tựu khoa học và côngnghệ trong công tác dự báo, kiểm tra tình hình thực hiện ở cả cấp vĩ mô và doanh nghiệp
Trang 36Tích cực học hỏi tiếp thu kinh nghiệm của thế giới, đẩy mạnh hoạt động thực tiễn, đánhgiá đúng hiệu quả thực tiễn của lý luận để bổ sung hoàn thiện và phát triển lý luận Những sailầm tồn đọng trong giai đoạn vừa qua chủ yếu là do tư duy kinh tế chậm đổi mới, vẫn còn ý chíchủ quan không tôn trọng các quy luật kinh tế dẫn đến đường lối chính sách chưa đồng bộ, cơchế quản lý lỏng lẻo, vì vậy việc trước hết là phải có cơ chế quản lý chặt chẽ, phát triển nguồnnhân lực Hoàn thiện và mở rộng nhanh hoạt động của thị trường chứng khoán để sớm trởthành một kênh huy động vốn có hiệu quả cho đầu tư phát triển.
2.2.2 Đối với các doanh nghiệp, đơn vị kinh tế:
Đối với những doanh nghiệp nhà nước cần đẩy mạnh việc cổ phần hóa trên cơ sở tôntrọng nguyên tắc thị trường quyết định Việc mua – bán cổ phiếu phải công khai trên thị trường.Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổng công ty nhà nước sang hoạt động theo
mô hình công ty mẹ – công ty con; tích cực chuẩn bị để hình thành một số tập đoàn kinh tếmạnh do tổng công ty nhà nước làm nòng cốt, có sự tham gia rộng rãi của các thành phần kinh
tế trong nước và đầu tư nước ngoài Xúc tiến việc phân định rõ quyền của cơ quan nhà nướcthực hiện chức năng đại diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước Nghiên cứu việcthành lập công ty đầu tư tài chính của nhà nước và cơ quan quản lý nhà nước để thực hiệnthống nhất và có hiệu quả chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước đầu tư vào doanhnghiệp thuộc mọi ngành trong nền kinh tế quốc dân Khẩn trương xóa bỏ đặc quyền và độcquyền kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.Nhà nước kiểm soát, điều tiết hoạt động của các doanh nghiệp có thị phần lớn, có thể khốngchế thị trường, trước hết là thị trường hàng hoá, dịch vụ thiết yếu đối với an sinh xã hội Nhànước thực hiện phương thức đặt hàng hoặc đấu thầu đối với sản phẩm công ích Khuyến khíchmọi thành phần kinh tế khác đầu tư và các hoạt động công ích và dịch vụ công, tham gia nhiềuhơn trong đầu tư phát triển hạ tầng kinh tế – xã hội và các lĩnh vực văn hoá, giáo dục và đàotạo, khoa học và công nghệ, y tế , thể dục thể thao…
Tạo môi trường, điều kiện để phát triển có hiệu quả hơn kinh tế tập thể; tổng kết nhân tốmới, các mô hình kinh tế tập thể làm ăn có hiệu quả để phổ biến, nhân rộng phù hợp với điềukiện của từng ngành nghề; hỗ trợ tốt hơn việc đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ tài chính, kế toàncho hợp tác xã Tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc và có chính sách hỗ trợ về mặt bằng sảnxuất kinh doanh, tiếp cận nguồn vốn tín dụng, chuyển giao công nghệ mới, tiếp cận và mở rộngthị trường, đào tạo nguồn nhân lực… để phát triển mạnh và có hiệu quả hơn nữa kinh tế tưnhân, kể cả doanh nghiệp tư nhân có quy mô lớn; chú trọng trợ giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tạo chuyển biến cơ bản trong thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài, nhất là củacác tập đoàn xuyên quốc gia, hướng mạnh hơn vào những ngành, lĩnh vực quan trọng của nềnkinh tế, đặc biệt là các lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ nguồn Mở rộng các lĩnh vực đầu tư
và đa dạng hoá các hình thức đầu tư nước ngoài phù hợp với lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế.Đẩy nhanh việc giải ngân và sử dụng có hiệu quả vốn ODA Nâng cao hiệu quả đầu tư bằngvốn ngân sách, xác định đầy đủ trách nhiệm và thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, vaitrò chủ đầu tư và chỉ đạo thực hiện nghiêm ngặt quy chế đầu tư và xây dựng, đặc biệt là quychế đấu thầu, quy chế giám sát đầu tư
Nâng cao sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Trong đó cần nângcao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Muốn nâng cao sức cạnh tranh cần phải nghiêncứu, vận động và triển khai khoa học công nghệ (KHCN) Bởi vậy, việc vận dụng KHCN làmgiảm chi phí, tăng năng suất lao động, tăng khả năng cạnh tranh Mặt khác kích thích việcnghiên cứu KHCN bằng nhiều cách khác nhau Các doanh nghiệp, đơn vị kinh tế cần tự chủhạch toán giá thành, giá cả, lợi nhuận trên cơ sở giá trị
2.2.3 Đối với xã hội:
Người lao động cần tăng cường học tập, nâng cao trình độ, tay nghề của mình để thíchứng với sự phát triển của nền kinh tế Đồng thời cần tìm hiểu, tích cực sáng tạo các công nghệ,
Trang 37khoa học, kỹ thuật tiên tiến để áp dụng vào quá trình lao động, sản xuất làm tăng năng suất laođộng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Bên cạnh đó người lao động và công chúng cần hiểu và nắm vững quy luật giá trị để ápdụng quy luật vào tình hình thực tế của thị trường
Trang 38LÝ LUẬN GIÁ TRỊ THẶNG DƯ
1 Chủ nghĩa trọng thương
Chủ nghĩa trọng thương ra đời trong điều kiện lịch sử là thời kỳ tan rã của chế độ phong kiến
và thời kỳ tích luỹ nguyên thủy của chủ nghĩa tư bản (CNTB), khi kinh tế hàng hoá và ngoạithương đang trên đà phát triển Mặc dù thời kỳ này chưa biết đến các qui luật kinh tế và cònnhiều hạn chế về tính quy luật nhưng hệ thống quan điểm học thuyết kinh tế trọng thương đãtạo ra nhiều tiền đề về kinh tế xã hội cho các lý luận kinh tế thị trường sau này phát triển.Những người theo chủ nghĩa trọng thương rất coi trọng thương nghiệp và cho rằng lợi nhuận
là do lĩnh vực lưu thông mua bán trao đổi sinh ra Nó là kết quả của việc mua ít bán nhiều,mua rẻ bán đắt mà có Theo họ không một người nào thu được lợi nhuận mà không làm thiệthại kẻ khác, dân tộc
Trang 39này làm giàu trên sự hy sinh lợi ích của dân tộc khác, trong trao đổi phải có
một bên lợi một bên thiệt
Những người theo chủ nghĩa trọng thương coi đồng tiền là đại biểu duy nhất của củacải, là tiêu chuẩn để đánh giá mọi hình thức của nghề nghiệp Họ cho rằng khối lượngtiền đề chỉ có thể tăng bằng con đường ngoại thương thông qua chính sách xuất siêu (xuấtnhiều, nhập ít) điều này được thể hiện qua câu nói của Montchritan: "Nội thương là ốngdẫn, ngoại thương là máy bơm, muốn tăng của cải phải có ngoại thương nhập dần củacải qua nội thương"
Như vậy quan điểm về giá trị thặng dư của chủ nghĩa trọng thương chưa lý giải đượcnguồn gốc của lợi nhuận Khi phê phán chủ nghĩa trọng thương (trong bộ tư bản quyển
I, tập 1) Mác đã viết: "Người ta trao đổi hàng hoá với hàng hoá, hàng hoá vớ tiền tệ cócùng giá trị với hàng hoá đó, tức là trao đổi giữa các vật ngang giá, rõ ràng là không airút ra được từ trong lưu thông nhiều giá trị hơn số giá trị đã bỏ vào trong đó Vậy giá trịthặng dư tuyệt nhiên không thể hình thành ra được"
2 Chủ nghĩa trọng nông.
Cũng như chủ nghĩa trọng thương, chủ nghĩa trọng nông ra đời trong thời kỳ quá độ từchế độ phong kiến sang chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) nhưng ở giai đoạn kinh tế pháttriển hơn Những người theo chủ nghĩa trọng nông cho rằng lợi nhuận thương nghiệp
có được chẳng qua là nhờ các khoản tiết kiệm chi phí thương mại, họ cho rằng thươngmại chỉ đơn thuần là trao đổi ngang giá trị này lấy giá trị khác vì vậy mà không bên nào
có lợi Thương nghiệp không sinh ra của cải, trao đổi không làm cho tài sản tăng lên vìtài sản được tạo ra trong quá trình sản xuất còn trong trao đổi chỉ đơn thuần là trao đổigiá trị mà thôi Vì vâỵ chủ nghĩa trọng nông cho
Trang 40rằng giá trị thặng dư hay sản phẩm thuần tuý là quà tặng vật chất của thiên nhiên và nôngnghệi p l à ngành duy nhất tạo ra sản phẩm thuần tuý Như vậy chủ nghĩa trọng nông đã chỉ rađược là trao đổi không sinh ra của cải.
3 Kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh.
Do sự phát triển của sản xuất và tính chuyên môn hoá ngày càng cao thì quan điểm về lợ inhuận của chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa trong
nông ngày càng ỏt rõ tính chất khiến nó không đáp ứng được những yêu
cầu mới đặt ra Do đó đòi hỏi phải có những học thuyết mới phù hợp hơn vì
vậy kinh tế chính trị học tư sản cổ điển anh ra đời
Một số đại biểu của kinh tế chính trị học tư sản cổ điển Anh
+ William Petty (1623 - 1687): là nhà kinh ết học người Anh được Mác đánh giá là cha đẻ củakinh tế học cổ điển, Ông đã tìm thấy phạm trù địa tô mà chủ nghĩa trọng thương đã bỏ qua,ông cho rằng địa tô là số chênh lệch giữa giá trị sản phẩm và chi phí sản xuất (tiền lương, tiềngiống ) còn về vấn đề lợi tức ông coi nó cũng như tiền thuê ruộng
+ Adam Smith (1723 - 1790): Ông là người đầu tiên tuyên bố rằng "Lao động là nguồn gốcsinh ra giá trị thặng dư" Theo ông lợi nhuận là "Khoản khấu trừ thứ 2" vào sản phẩm laođộng Theo cách giải thích này của ông thì lợi nhuận, địa tô và lợi tức chỉ là các hình thứckhác nhau của giá trị do công nhân tạo ra ngoài tiền lương Và chính ông cũng đã khẳng địnhrằn g "giá trị hàng hoá bao gồm: tiền công + Lợi nhuận + Địa tô"
+ David Ricardo (1772 - 1823): Ông cho rằng "lợi nhuận là số còn lại ngoài tiền lương mà nhà
tư bản trả cho công nhân" Ông đã thấy được xu thế hướng giảm sút của tỷ suất lợi nhuận, ônggiải thích nguyên nhân của sự giảm sút này nằm trong sự vận động biến đổi giữa 3 giai cấp: địachủ, công nhân, nhà tư bản Ông cho rằng do qui luật mầu mỡ đất đai ngày càng