1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

”Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh trĩ bằng phương pháp thắt trĩ kết hợp thuốc y học cổ truyền

24 619 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 110,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều trị nội khoa theo y học hiện đại chỉ có tác dụng chữa triệu chứng hay điều trị những đợt bị cấp như chảy máu, đau rát, viêm tắc … mà khó có thể điều trị trĩ nặng khỏi bệnh được.. Đi

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Bệnh Trĩ, hay còn gọi là bệnh lòi dom theo dân gian, là bệnh được tạo thành do

dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ (hay sự phình tĩnh mạch) ở mô xung quanh hậu

môn Có hai loại trĩ là trĩ nội và trĩ ngoại Là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu trong

các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập viện Theo nghiên cứu của hội Hậu môn trực tràng Việt nam, tỉ lệ mắc bệnh trĩ ở nước ta khá cao, từ 50-55% dân số, trong đó tập trung chủ yếu ở độ tuổi lao động và có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh khác nhau

Theo Tây y bệnh trĩ là tập hợp những bệnh lý có liên quan đến biến đổi cấu trúc của mạng mạch trĩ và các tổ chức tiếp xúc với mạng mạch này

Theo y học cổ truyền bệnh trĩ không đơn giản chỉ do bệnh lí tại chỗ mà còn có thể do cơ thể âm dương, khí huyết không điều hòa Bên ngoại do lục dâm, bên trong do

thất tình đều có thể gây nên bệnh trĩ

Bệnh trĩ tuy không phải là bệnh nguy hiểm nhưng nó gây ra những bất tiện trong sinh hoạt làm bệnh nhân cảm giác khó chịu cũng như ảnh hưởng đến sức khỏe về lâu dài Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống nhưng không nặng nề nên bệnh nhân thường bỏ qua và vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại ngùng nhất là phụ nữ Chỉ đến khi chảy máu nhiều hoặc bị sa búi trĩ thì bệnh đã ở cấp độ nặng, không thể dùng thuốc mà phải chỉ định phẫu thuật

Mỗi phương pháp điều trị của y học hiện đại hay y học cổ truyền đều có ưu nhược điểm, tỉ lệ kết quả khác nhau Điều trị nội khoa theo y học hiện đại chỉ có tác dụng chữa triệu chứng hay điều trị những đợt bị cấp như chảy máu, đau rát, viêm tắc …

mà khó có thể điều trị trĩ nặng khỏi bệnh được Trong khi thủ thuật hay phẫu thuật nhằm cắt bỏ búi trĩ và thắt các tĩnh mạch trĩ tận gốc cho kết quả khá khả quan, giải quyết nhanh triệu chứng cho bệnh nhân Nhưng loại bỏ búi trĩ bằng các phương pháp này tùy theo từng phương pháp cũng có những nhược điểm riêng như: thường rất đau

Trang 2

đớn, lâu hồi phục và có thể xảy ra một số biến chứng như: Nhiễm trùng hậu môn, hẹp hậu môn, đại tiện không tự chủ…hoặc chi phí còn quá cao

Điều trị bệnh trĩ bằng Y học cổ truyền vừa hiệu quả lại ít tốn kém, đồng thời nâng cao sức khoẻ mọi mặt cho người bệnh, điều trị nguyên nhân gây nên bệnh do vậy

ít khi tái phát nhưng nhược điểm trong trường hợp trĩ nặng thì thời gian điều trị kéo dài,tác dụng của thuốc khó tác dụng trực tiếp lên búi trĩ nên hiệu quả không cao

Tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Thừa Thiên Huế, bệnh nhân đến khám vàđiều trị bệnh trĩ phần lớn đã đến giai đoạn nặng, thường áp dụng phương pháp thủthuật thắt búi trĩ bằng chỉ lanh cho phần lớn bệnh nhân có chỉ định, tuy nhiên bệnhnhân thường có nhiều búi trĩ ở các mức độ khác nhau Phương pháp thắt trĩ bằng chỉlanh có nhược điểm xử lí nhiều lần trong đợt điều trị (chỉ thắt 1đến 2 búi trĩ một lầnthủ thuật ), trỉ nhỏ không thắt được, thời gian điều trị dài, chưa giải quyết đượcnguyên nhân gây trĩ

Nhằm đánh giá hiệu quả điều trị, rút ngắn thời gian điều trị cho bệnh nhân,giảm các biến chứng như chảy máu, táo bón sau thắt trĩ Chúng tôi tiến hành nghiên

cứu đề tài: ”Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh trĩ bằng phương pháp thắt trĩ kết hợp thuốc y học cổ truyền tại Bệnh viện Y học cổ truyền tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2014 - 2015” nhằm mục tiêu:

- Nhận xét những đặc điểm của bệnh nhân trĩ đến điều trị tại bệnh viện YHCTtỉnh TT-Huế

- Đánh giá kết quả điều trị trĩ bằng phương pháp thắt trĩ kết hợp thuốc y học

cổ truyền so sánh phương pháp thắt trĩ đơn thuần

Trang 3

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Dịch tể học của bệnh trĩ :

Cổ nhân có câu “Thập nhân cửu trĩ” (cứ 10 người thì có 9 người bị trĩ) để nói lênmức độ phổ biến của bệnh Thực ra không dễ để thống kê được vì trĩ quả là một bệnh tếnhị và nhạy cảm

Bệnh trĩ hậu môn (bệnh trĩ) là một bệnh thường gặp với tỷ lệ mắc cao trong cộngđồng và là bệnh đứng hàng đầu trong các bệnh lý hậu môn trực tràng

Trên thế giới, theo J.E Goligher (1984) hơn 50 % số người ở độ tuổi trên 50 mắc bệnh trĩ, nghiên cứu của J.Denis (1991) công bố tỷ lệ mắc bệnh trĩ từ 25- 42 %

Ở Việt Nam, Trần Khương Kiều (1992) điều tra theo phương pháp dịch tễ học

đã phát hiện thấy chỉ số người mắc bệnh trĩ 76,97% ± 3% Thông tin từ Hội nghị Khoa học Toàn quốc về Hậu môn - Trực tràng học diễn ra ngày 17/11/2004, tại Hà Nội Theothống kê tại phòng khám hậu môn trực tràng của khoa phẫu thuật tiêu hoá Bệnh viện Việt Đức, bệnh trĩ chiếm tỷ lệ 45% số bệnh nhân đến khám về hậu môn trực tràng độ tuổi từ 30-50 dễ bị mắc trĩ (chiếm 68%) Đáng lưu ý, 68,7% bệnh nhân trĩ chưa được điều trị bệnh mặc dù thời gian diễn biến bệnh trung bình là 3,5 năm Từ 1995- 1997, LêThị Tuyết Anh và cộng sự soi trực tràng tại khoa tiêu hoá Bệnh viện Bạch Mai thấy bệnh trĩ chiếm 42,8% và đứng đầu các bệnh ở vùng hậu môn trực tràng

Nguyễn Mạnh Nhâm điều tra dịch tễ học ở một nhà máy hoá chất lớn (năm 1999) đã khám cho 3.103 người, phát hiện 1.089 (35%) người mắc bệnh trĩ Điều tra dịch tễ học mới nhất của Nguyễn Mạnh Nhâm và cộng sự ở 5 tỉnh miền Bắc phát hiện được 1446/2651 người dân mắc bệnh trĩ chiếm tỷ lệ 55% (năm 2004)

Tại Bệnh viện Đại học Ydược Thành phố Hồ Chí Minh trong 4,5 năm từ

1/7/1997 -31/12/2001 có 1967 phẫu thuật điều trị trĩ, tỷ lệ nam nữ mắc bệnh xấp xỉ nhưnhau , nam 918, nữ 1049 hầu hết là người lớn

Trang 4

1.2 Nguyên nhân và yếu tố thuận lợi:

Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định rõ ràng và chắc chắn Những yếu tố sau đây được coi như là những điều kiện thuận lợi cho bệnh phát sinh:

1.2.1 Theo y học hiện đại:

- Do các bệnh lý về đường tiêu hóa như: Hội chứng lỵ những người bị lỵ mỗi ngày phải đi đại tiện nhiều lần và mỗi lần đi phải rặn nhiều cũng gây tăng áp lực ổ bụng, hoặc do rối loạn tiêu hóa kéo dài đặc biệt là tình trạng táo bón Những bệnh nhân

bị táo bón mỗi khi đi cầu phải rặn nhiều, khi rặn sẽ làm cho áp lực trong lòng ống hậu môn tăng lên vì vậy táo bón lâu ngày sẽ làm xuất hiện búi trĩ, lâu ngày các búi trĩ sẽ dần to lên và sa ra ngoài

- Do các bệnh gây tăng áp lực ổ bụng như những bệnh nhân bị viêm phế quản mãn tĩnh hoặc những bệnh nhân giãn phế quản phải ho nhiều, những người phải lao động nặng như khuân vác, làm việc gắng sức gây tăng áp lực ổ bụng dẫn đến xuất hiện bệnh trĩ

- Tư thế đứng: khi nghiên cứu áp lực tĩnh mạch trĩ, người ta ghi nhận áp lực tĩnh mạch trĩ là 25cm H2O ở tư thế nằm, tăng vọt lên 75cm H2O ở tư thế đứng Vì vậy, tỉ

lệ mắc bệnh trĩ ở người phải đứng lâu, ngồi nhiều, ít đi lại như thư ký bàn giấy, nhân viên bán hàng, thợ may v…v…

- Do các bệnh liên quan đến hậu môn trực tràng: thường gặp ở các trường hợp như ung thư trực tràng, u bướu vùng tiểu khung hoặc khi mang thai nhiều tháng khi

to có thể chèn ép và cản trở việc hồi lưu tĩnh mạch làm cho các các đám rối tĩnh mạch căng phồng lên tạo thành bệnh trĩ Trong những trường hợp này, trĩ được tạo nên do những nguyên nhân cụ thể, rõ ràng nên được gọi là trĩ triệu chứng, khi điều trị ta phải điều trị nguyên nhân chứ không trị như bệnh trĩ

- Do sự suy yếu các tổ chức nâng đỡ tại chỗ: do lớp cơ ở dưới niêm mạc hậu môntrực tràng bị suy yếu, hệ thống co thắt, dây chằng, cơ nâng bị suy yếu thường gặp ở người cao tuổi làm cho hệ thống đám rối tĩnh mạch suy yếu sa giãn hình thành búi trĩ

Trang 5

Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác cũng có thể coi là nguyên nhân gây bệnh như:

- Chế độ ăn uống :Ăn nhiều đồ ăn cay nóng và các chất kích thích như ớt, hạt tiêu, bia, rượu, nước chè

- Do các thói quen không tốt như nhịn đại tiện hoặc ngồi quá lâu trong nhà vệ sinh cũng là những nguyên nhân có thể gây bệnh trĩ

1.2.2 Theo y học cổ truyền:

- Ăn uống không điều độ: Ăn quá nhiều, quá no hoặc ăn quá nhiều đồ ngọt, chất béo hoặc uống nhiều rượu; ăn nhiều thức ăn có tính kích thích như ớt, gừng, tỏi, làm cho cơ thể bị nóng, gây toát mồ hôi, hư hao tân dịch, táo bón mãn, thấp nhiệt đại tràng lâu gây ra bệnh trĩ

- Làm việc quá sức, đứng lâu, ngồi lâu, đẻ nhiều, già yếu -> cân mạch sa giãn, làm đại trường bị tổn thương dẫn đến tích tụ khí huyết gây ra bệnh trĩ

- Mắc bệnh mạn tính: tiêu chảy, kiết lỵ kéo dài, ho lâu ngày làm khí huyết bị tổn thương, khí hư tích tụ, từ đó gây ra bệnh trĩ

- Bị tà khí xâm nhập: trong Kim quỹ yếu lược có ghi: Ruột non bị lạnh, đại tiện

ra máu, bị nóng gây ra bệnh trĩ, khi cơ thể bị nhiễm lạnh, nóng đều có thể là nguyên nhân gây bệnh trĩ

- Phụ nữ mang thai, kinh nguyệt không đều: phụ nữ mang thai, kinh nguyệt không đều có thể làm cho mạch máu ở tĩnh mạch không thông, từ đó gây ra bệnh trĩ

- Yếu tố tình cảm: y học cổ truyền rất coi trọng đến các trạng thái tình cảm của con người, do đó mới có cách nói, vui quá có thể làm ảnh hưởng đến tâm, buồn làm ảnh hưởng đến can Vui, buồn thất thường , khí huyết xâm nhập vào đại tràng, tạo thành cục dễ gây ra bệnh trĩ

- Tạng phủ suy yếu: tạng phủ suy yếu, lại bị nhiễm lạnh hoặc nóng trong, làm cho khí huyết tích tụ, tỳ vị mất điều hòa, thấp nhiệt dồn xuống, khí huyết hư hao từ đó

Trang 6

1.3 Sinh bệnh học :

1.3.1 Theo y học hiện đại:

Bệnh trĩ được tạo thành do giãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ Vài chục năm gần đây nhờ những nghiên cứu về sự phân bố mạch máu của vùng hậu môn trực tràng người ta hiểu rõ hơn bản chất của bệnh trĩ

Ống hậu môn có yêu cầu về chuyển hoá rất thấp nhưng lại có khá nhiều mạchmáu Các mạch máu này tạo thành các búi nằm ở lớp dưới niêm mạc Ba búi tĩnh mạchnày không đối xứng nhau theo đường giữa Chúng có tính cương cữ, do đó có chứcnăng của một cái nệm, giữ vai trò khép kín ống hậu môn Ở trạng thái sinh lý nghỉngơi, ống hậu môn đóng kín, không thông với bên ngoài

Mạng mạch máu trong lớp dưới niêm mạc của ống hậu môn được coi như một ngã tư đường của một mạng tuần hoàn rộng lớn

Như vậy trĩ là trạng thái sinh lý bình thường cần thiết cho cuộc sống Khi một mạch máu bị tắc thì mạng mạch máu sẽ đóng vai trò bù trừ Nhưng khi vượt qua giới hạn bù trừ thì sẽ xuất hiện bệnh trĩ

1.3.2 Theo y học cổ truyền:

- Tạng Phế và Đại trường tương thông nhau mà hậu môn là của của Đại trường Tạng Phế mạnh thì khí đầy đủ, nếu hư yếu thì hàn khí không thu liễm lại được làm cho đầu ruột lòi ra Đại trường nóng cũng có thể thoát ra

- Sách ‘Tế Sinh Phương’ viết: “Đa số do ăn uống không điều độ, uống rượu quá mức, ăn nhiều thức ăn béo, ngồi lâu làm cho thấp tụ lại, mót đi tiêu mà không đi ngay, hoặc là Dương minh phủ không điều hòa, quan lạc bị bế tắc, phong nhiệt không lưu thông gây nên ngũ trĩ”

1.4 Phân loại:

Các sách cổ chia làm 5 loại trĩ: Mẫu Trĩ, Tẫn Trĩ, Trường Trĩ, Mạch Trĩ, Huyết Trĩ

Trang 7

Hiện tại, bệnh trĩ theo y học hiện đại và y học cổ truyền đều chia làm 2 loại: Trĩ nội và trĩ ngoại.

Bệnh trĩ là sự phồng lớn của một hay nhiều tĩnh mạch thuộc hệ thống tĩnh mạch trĩ trên hoặc tĩnh mạch trĩ dưới hay cả hai gây nên trĩ nội, trĩ ngoại hay trĩ hỗn hợp Thực ra, trĩ nội và trĩ ngoại chỉ khác nhau về vị trí phát sinh búi trĩ Với việc phân biệt hai loại trĩ này sẽ giúp ích cho quá trình thăm khám và điều trị căn bệnh này

Đặc điểm của trĩ nội:

o Xuất phát ở bên trên đường lược

o Bề mặt là lớp niêm mạc của ống hậu môn

o Không có thần kinh cảm giác

o Diễn tiến và biến chứng: chảy máu, sa, nghẹt, viêm da quanh hậu môn

Tuỳ theo diễn tiến, được phân thành bốn độ:

§ Độ 1: mới hình thành, chảy máu là triệu chứng chính

§ Độ 2: búi trĩ sa ra ngoài khi đi tiêu nhưng tự lên

§ Độ 3: búi trĩ sa ra ngoài khi đi tiêu, phải đẩy mới lên được

§ Độ 4: búi trĩ sa ra ngoài thường trực và có thể bị thắt nghẹt, dẫn đến hoại tử

Đặc điểm của trĩ ngoại:

o Xuất phát bên dưới đường lược

o Bề mặt là lớp biểu mô lát tầng

o Có thần kinh cảm giác

o Diễn tiến và biến chứng: đau (do thuyên tắc), mẩu da thừa

Trĩ hỗn hợp: Khi diễn tiến lâu ngày, phần trĩ nội và phần trĩ ngoại sẽ liên kết với nhau, tạo thành trĩ hỗn hợp Bắt nguồn từ trên và dưới đường lược (đám rối trực tràng trong và ngoài)

Biểu hiện của giai đoạn muộn của bệnh trĩ : Các búi trĩ hỗn hợp thường liên kết với nhau tạo thành trĩ vòng

Trang 8

1.5 Triệu chứng lâm sàng:

1.5.1 Chảy máu:

Chảy máu là triệu chứng có sớm nhất và thường gặp nhất Hình thức chảy máu

và lượng máu chảy rất khác nhau Lúc mới đầu, máu chảy rất kín đáo, có thể chỉ là vài tia máu nhỏ dính phân Máu chỉ có khi táo bón, khi đại tiện phải rặn Về sau, máu chảy thường xuyên hơn và lượng máu cũng nhiều hơn Muộn nữa có những bệnh nhân mỗi lần đại tiện máu lại chảy Hoặc có bệnh nhân mỗi khi đại tiện mới ngồi xuống là máu chảy nhỏ giọt hay có khi thành tia như “như cắt tiết gà”

1.5.2 Sa búi trĩ:

Thường xảy ra trễ hơn sau một thời gian đi cầu có chảy máu, lúc đầu sau mỗi khiđại tiện thấy có khối nhỏ lồi ra ở lỗ hậu môn, sau đó khối đó tự tụt vào được Càng về sau khối lồi ra đó to lên dần và không tự tụt vào sau khi đi cầu nữa mà phải dùng tay nhét vào Cuối cùng khối sa đó thường xuyên nằm ngoài hậu môn Búi trĩ sa ra ngoài ống hậu môn là mức độ nặng của trĩ nội Tuỳ mức độ sa nhiều hay ít mà phân ra nhiều

độ

Trĩ nội độ I: Búi trĩ sa dưới đường lược nhưng vẫn nằm hoàn toàn trong ống hậu môn

Trang 9

Trĩ nội độ II: Búi trĩ nằm trong ống hậu môn khi rặn đầu búi trĩ thập thò ở lỗ hậu môn sau tự co lên

Trĩ nội độ III: Khi rặn, đi lại nhiều,ngồi xổm,làm việc nặng trĩ sa ra nằm ngoài ống hậu môn không tự co vào được phải lấy tay đẩy lên

Trĩ nội độ IV: Búi trĩ gần như thường xuyên nằm ngoài ống hậu môn có nhét vàocũng tụt ra ngay

* Ngoài 2 triệu chứng chính trên, bệnh nhân có thể có kèm theo các triệu chứng

khác như đau khi đi cầu, ngứa quanh lỗ hậu môn

Thông thường trĩ nội không gây đau, triệu chứng đau xảy ra khi có biến chứng như tắc mạch, sa trĩ nghẹt hay do các bệnh khác ở vùng hậu môn như nứt hậu môn, áp xe cạnh hậu môn… Triệu chứng ngứa xảy ra do búi trĩ sa ra ngoài và tiết dịch gây viêm daquanh hậu môn làm cho bệnh nhân cảm thấy hậu môn lúc nào cũng có cảm giác ướt và ngứa

1.6 Các phương pháp điều trị trĩ :

1.6.1 Điều trị theo y học hiện đại:

1.6.1.1 Gồm điều trị nội khoa bằng các thuốc Tân dược

- Thuốc uống: gồm các thuốc có tác nhân trợ tĩnh mạch, dẫn xuất từ flavonoid Cơ chế tác động của các thuốc này là làm gia tăng trương lực tĩnh mạch, bảo vệ vi tuần hoàn, giảm phù nề nhờ tác động kháng viêm tại chỗ, chống nhiễm trùng và chống tắc mạch

- Thuốc tại chỗ: gồm các loại thuốc mỡ (pommade) và đạn dược (suppositoire) baogồm các tác nhân kháng viêm, vô cảm tại chỗ và dẫn xuất trợ tĩnh mạch

Nhược điểm: trị nội khoa chỉ có tác dụng chữa triệu chứng hay điều trị những đợt

bị cấp như chảy máu, đau rát, …mà khó có thể điều trị khỏi bệnh được

1.6.1.2 Điều trị bằng thủ thuật:

 Chích xơ: Chích xơ được chỉ định trong trĩ nội độ 1 và trĩ nội độ 2

Trang 10

Là phương pháp dễ thực hiện, đơn giản, nhanh chóng và an toàn Tuy nhiên, người thực hiện thủ thuật phải là bác sĩ có kinh nghiệm với kỹ thuật vững vàng mới cho kết quả tốt và tránh được các biến chứng Mục đích chính của chích xơ là giảm lưu lượng máu đến búi trĩ, tạo mô sẹo xơ dính vào lớp cơ dưới lớp dưới niêm mạc giúp giảm triệuchứng chảy máu.

 Thắt trĩ bằng vòng cao su: Thắt trĩ bằng vòng cao su được chỉ định điều trị trĩ nội độ 1 và 2

Thắt trĩ bằng vòng cao su đã được thực hiện từ thế kỷ 19 nhưng vì cột búi trĩ chungvới cả da quanh hậu môn nên sau thắt rất đau, cho nên không được sử dụng rộng rải Đến năm 1958 Blaisdell đã thành công với việc chỉ cột búi trĩ không có lẫn da và các

mô chung quanh Barron 1963 đã tạo ra dụng cụ để thắt trĩ với vòng cao su và sau đó với dụng cụ cải tiến của Mc Giveny đã đưa điều trị thắt trĩ với vòng cao su thành một phương pháp điều trị trĩ thành công và được lựa chọn hàng đầu trong các phương pháp điều trị bằng thủ thuật

* Cả hai phương pháp trên đều có nhược điểm phải làm thủ thuật nhiều lần trong đợt điều trị, tỷ lệ tái phát còn cao, hạn chế hoặc không có kết quả với trĩ nặng, trĩ vòng

1.6.1.3 Phẫu thuật cắt trĩ : Có nhiều kĩ thuật được sử dụng từ trước đến nay như:

a Phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc:

Phẫu thuật Whitehead, phẫu thuật Toupet hiện nay hầu như không được sử dụng

vì để lại nhiều biến chứng nặng nề như hẹp hậu môn, đại tiện mất tự chủ và rỉ dịch ở hậu môn

b Phẫu thuật cắt từng búi trĩ:

* Cắt trĩ mở: PT Milligan Morgan , PT Nguyễn Đình Hối;

* Cắt trĩ kín: PT Ferguson

Nhóm phẫu thuật này giảm được các biến chứng của nhóm phẫu thuật cắt khoanh niêm mạc da, nhưng vẫn còn nhược điểm là đau sau mổ, thời gian nằm viện dài, thời gian trở lại lao động muộn

Trang 11

c Phẫu Thuật Longo (1993):

Là phẫu thuật sử dụng máy khâu vòng để cắt một khoanh niêm mạc trên đường lược 2-3 cm và khâu vòng bằng máy bấm

Phương pháp này được ưa chuộng vì không đau, thời gian nằm viện ngắn, trả bệnhnhân về lao động sớm, nhược điểm là chi phí cao, vẫn còn các biến chứng sau mổ (Longo A 1998, Cheetham MJ 2002, Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 – Supplement

of No 1 - 2008, ) như: đau, chảy máu,

d Khâu treo trĩ bằng tay:

Đây là phương pháp cải biên của phẫu thuật Longo ở các nước đang phát triển do giá thành cao của PT Longo PT này đã được Ahmed M Hussein, Nguyễn Mạnh

Nhâm, Nguyễn Trung Vinh, Nguyễn Trung Tín báo cáo ở các hội nghị

Tuy nhiên đây là một phương pháp điều trị mới chỉ được nghiên cứu trong một khoảng thời gian ngắn, cỡ mẫu chưa lớn, không điều trị được trĩ ngoại và có một số trường hợp chảy máu muộn sau mổ

e Khâu cột động mạch trĩ dưới hướng dẫn của siêu âm Doppler:

Phương pháp này được Kazumasa Morinaga thực hiện lần đầu năm 1995 Kết quả

là ít đau sau mổ, thời gian nằm viện ngắn (24h) và không gặp các biến chứng nặng (DalMonte PP 2007, Lê Mạnh Cường 2010), nhược điểm là chi phí cao

* Trĩ ngoại: Trĩ ngoại không có chỉ định điều trị thủ thuật và phẫu thuật trừ khi có

biến chứng nhiễm trùng, lở loét hay tắc mạch tạo thành những cục máu đông nằm trongcác búi trĩ

Phẫu thuật điều trị tắc mạch trong cấp cứu là rạch lấy cục máu đông Ngay sau mổ bệnh nhân cảm thấy dễ chịu và hết đau ngay

1.6.2 Điều trị theo Y học cổ truyền: Có nhiều phương pháp như uống thuốc, bôi

thuốc, đắp thuốc hoặc kết hợp các phương pháp với nhau để tăng hiệu quả chữa bệnh

Trang 12

Phương pháp chữa bệnh trĩ có hai loại:

+ Dùng thuốc uống trong để chống chảy máu, chống nhiễm trùng, làm nhỏ búi trĩ, giảm đau

+ Dùng các thuốc, thủ thuật ngoại khoa để gây búi trĩ hoại tử, rụng và cắt các búi trĩ như: Cao dán tiêu viêm,giảm đau; Khô trĩ tán; Thắt búi trĩ,…

1.6.2.1 Dùng thuốc uống: Tùy theo các giai đoạn bệnh có phương thang thích

hợp:

a Trĩ nội xuất huyết hay thể huyết ứ:

1 Triệu chứng: đi ngoài xong ra máu, đau, táo bón, trĩ chưa sa ra ngoài

2 Phương pháp chữa: Lương huyết chỉ huyết, hoạt huyết, khứ ứ

3 Bài thuốc: Hoạt huyết địa hoàng thang gia giảm

Tứ vật đào hồng gia giảm

b Trĩ nội, ngoại bị bội nhiễm hay thể thấp nhiệt:

1 Triệu chứng: hậu môn sưng đỏ, trĩ bị sưng to, đau, táo, nước tiểu đỏ

2 Phương pháp chữa: thanh nhiệt lợi thấp, hoạt huyết chỉ thống

3 Bài thuốc: Hoa hòe tán gia vị

Chỉ thống thang gia giảm

c Trĩ lâu ngày, trĩ ở người già, thể khí huyết đều hư.

1 Triệu chứng: Đại tiện ra máu đã lâu, hoa mắt ù tai, sắc mặt nhợt, mệt mỏi, mạch trầm tế,…

2 Phương pháp chữa: bỗ khí huyết, thăng đề, chỉ huyết

3 Bài thuốc: Tứ vật thang gia giảm

Bổ trung ích khí gia giảm Các phương pháp, bài thuốc Đông y, kinh nhiệm dân gian rất phong phú, tuy nhiên để điều trị bệnh trĩ ở mức độ nặng (trĩ nội độ 3, độ 4, trĩ vòng, trĩ hỗn hợp) thì không nhiều, thời gian điều trị thường dài Nhưng có ưu điểm là điều trị từ nguyên

Ngày đăng: 19/01/2016, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w