Đầu tư cho phát triển nông nghiệp là một hoạt động đầu tư phát triển.Hoạt động này ngoài việc đem lại lợi ích cho những người nông dân đangtham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp còn tạo
Trang 1ĐỀ ÁN MÔN HỌC NGUYỄN HOÀI ĐỨC
Đầu tu phát triển khác với đầu tu tài chính và đầu tu thương mại ở chỗ
nó đem lại lợi ích cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân Loại đầu tư này có ýnghĩa đặc biệt đổi với nền kinh tế vì nó quyết định tới sự tăng trưởng, pháttriển ốn định và thực lực của nền kinh tế xét về lâu dài
Đầu tư cho phát triển nông nghiệp là một hoạt động đầu tư phát triển.Hoạt động này ngoài việc đem lại lợi ích cho những người nông dân đangtham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp còn tạo ra thêm công ăn việc làmcho lực lượng lớn dân cư ở các ngành nghề khác, có ảnh hưởng to lớn đến sựphát triến nông nghiệp nói riêng và kinh tế cả nước nói chung
Quan hệ giữa đầu tư và phát triển
Học thuyết kinh tế hiện đại đã nghiên cứu và giải đáp thành công mốiquan hệ nhân quả giữa đầu tư và phát triến kinh tế nói chung , kinh tế nôngnghiệp và nông thôn nói riêng Lý thuyết đó bắt nguồn từ quan điểm hệ thống
và quan điếm phát triến đã được khảo nghiệm qua thực tiễnở nhiều nước .Quan điếm cho rằng , đầu tư là chìa khoá trong chiến lược và kế hoạch pháttriến đã được cụ thế hoá trong mối tương quan giữa tăng trưởng vốn đầu tưvàtăng trưởng GDP hoặc GNP Điều rõ ràng là , một nền kinh tế muốn giữđược tốc độ tăng trưởng GDP ở mức trung bình , thì phải giữ được tốc đọ tăngtrưởng vốn đầu tư thoả đáng Tỷ lệ “thoả đáng “ đó ít khi thấp hơn 15% GNP
và trong một số trường hợp phải đạt 255% GNP Trong nền kinh tế nôngnghiệp và nông thôn, quan hệ tỷ lệ đó vẫn là chuẩn mực có nghĩa là không cótăng trưởng đầu tư thoả đáng , thì sẽ không có tăng trưởng kinh tế
J M Keynes trong lý thuyết “ đầu tư và mô hình sổ nhân “ đã chứngming rằng, tăng đàu tư sẽ bù đắp những thiếu hụt của “ cầu tiêu dùng “ , từ đótăng sổ lượng việc làm, tăng thu nhập, tăng hiệu quả “ cận biên “ của tư bản
và kích thích sản xuâts phát triển Ở đây có sự tác động di chuyền theo chu
kỳ : Tăng đầu tư tăng thu nhập tăng sức mua tăng đầu ra múi tăngtrưởng nhanh
Bố sung vào lý thuyết “số nhân” của LM.Keynes , các nhà kinh tế Mỹđưa ra lý thuyết “gia tốc” Lý thuýet này không những nghiên cứu các quyết
Trang 2định đầu tư, mà còn chứng minh mối liên hệ giữa gia tăng sản lượng làm chodầu tư tăng lên thế nào , và sau đó đầu tăng lên sẽ gia tăng sản lượng với nhịp
độ nhanh hơn như thế nào Sự tăng nhanh tốc độ đầu tư so với sự thay đối vềsản lượng nói lên ý nghĩa của nguyên tắc “gia tốc” Theo lý thuyết “gia tốc”, đế vốn đầu tư tiếp tục lên thì sản lượng bán ra phải tăng lên liên tục Nhưnglôgicchs của vấn đề là ở chỗ, ssó lượng sản phẩm bán ra ngày hôm nay là kếtquả đâù tư của thời kỳ trước , năm trước
Thực tế của các nước Châu á đã chứng minh lý thuyết trên Cách đâyvài ba thập kỷ, Chau á không được biết đến với tư cách là vùng king tế cótăng trưởng Nhưng sự phát triển cuả khoa học và kỹ thuật và mở rộng giaolưu quốc tế đã làm thay dỏi dần bộ mặt các nước và một số lãnh thố trongvùng Cơn lốc của sự tăng trưởng kinh tế các nước phát triển đã tràn đếnChâu á đế tìm thị trường mới và từ đó Châu á mới bắt đầu được biết đến nhưmột vùng kinh tế mới Khi nền kinh tế thế giới giao động ở tốc độ tăngtrưởng 3-5% mỗi năm thì các nước và các lãnh thổ đang phát triển như : HànQuốc,Đài Loan, Hồng Kông, Singapore, từ điểm xuất phát thấp , tài nguyênnhgèo nàn , thị trường nội địa nhỏ , đã trở thành những nước và lãnh thổ côngnghiệp mơío xuất phát tù' nông nghiệp Đặc trung của cá nơi này là quá trìnhcông nghiệp hoá diĩen ra nhanh chóng làm thay đôi cơ cấu kinh tế , tù' nông-công nghiệp sang công nghiệp , dịch vụ , nông nghiệp Và đến những năm
1992 , GNP bình quân đầu người của Hồng Kông đã lên tới 16.250 USD,Singapore 15.200 USD, Đài Loan 11.320 USD, Hàn Quốc 6.625 USD
Sở dĩ đạt được sự phát triển thần kỳ đó vì các nơi này đã khai thác mộtcách tối đa mọi lợi thế so sánh .Một chiến lược đầu tư cao được thực hiệntrong những năm đầu công nghiệp hoá, có nơi đạt 40%GDP như Singapore,các nơi còn lại trên 30% GDP
Vậy đầu tư cao thì lấy nguồn ở đâu ? Đó là vốn tích luỹ từ nội bịi nềnkinh tế (vốn nhân sách , vốn trong dân ) , vốn vay và viện trợ của các nướcphát triển
Vốn đầu tư tù' nội bộ được tạo ra liiên quan chủ yếu đến luật pháp,chính sách và biện pháp khuyến khích đầu tư và tiết kiệm Một phần tiết kiêmcủa dân CU’ được gửi vào ngân hàng và ngân hàng có thế cho các doanhnghiệp và tư nhân vay đế đầu tư Phần khác của vốn đầu tư bên trong là vốnngân sách, vốn tự có của các doanh nghiệp và hộ sản xuất vốn đầu tư từnước ngoài gồm nguồn viện trợ, đi vay và vốn đầu tư trực tiếp thông qua các
dự án đầu tư nước ngoài dành cho các ngành sản xuất và dịch vụ
Nông nghiệp là một nghành sản xuất vật chất quan trọng của nền kinh
tế quốc dân của mồi nước Ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam,nông nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
cơ cấu GDP , Vì vậy vấn đế đầu tư cho nông nghiệp và ảnh hưởng của nó đếnnền kinh tế quốc dân nói chung , tăng trưởng kinh tế ở khu vực nông thôn nóiriêng , được các nhà kinh tế rất quan tâm Đã có nhiều công trình nghiên cứukinh tế về quan hệ giữa đầu tư và phát triển sản xuất nông ngiệp Chính sách
Trang 3ĐỀ ÁN MÔN HỌC NGUYỄN HOÀI ĐỨC
đầu tư và đầu tư cho nông nghiệp được hình thành trên cơ sở lý luận về tươngquan giưã đầu tư và phát triển cũng như yêu cầu cụ thế của tiến trình pháttriến kinh tế Dù hình thức phương pháp và mức độ đầu tư cho nông nghiệp
có khá nhau giữa nước này với nước khác , giữa thời gian này với thời giankhác của mỗi nước , song mục tiêu, đối tượng và nội dung đầu tư vẫn thốngnhất
Mục đích của chính sách đầu tư trong nông nghiệp là tái tạo và nângcao năng lực sản xuất của tài sản cố định trong nông nghiệp, thúc đẩy quátrình chuyển giao công nghệ và tiến bộ kỹ thuật trong nông nghiệp và nôngthôn, trước hết là nâng cao năng xuất và chất lượng sản phẩm của trồng trọt,chăn nuôi và nghàng nghề ở nông thôn Chính sách đầu tư đúng sẽ tạo lậphành lang pháp lý cho việc sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư cho mục tiêu đãđịnh trên cơ sở tăng năng lực sản xuất, kinh doanh của từng đơn vị cơ sở vàtoàn nghành nông nghiệp cũng như nghành nghề ở nông thôn
Đối tượng đầu tư được xác định là các đơn vị sản xuất cơ bản trongnông nghiệp và nông thôn bao gồm kinh tế nhà nước , kinh tế tập thể, tư nhân
và hộ sản xuất cá thể Mọi tổ chức , cá nhân thuộc các đơn vị sản xuất cơ bảnđược quyền bình đắng trong tiếp nhận vốn đầu tư của Nhà nước và các tốchức quốc tế
Một số chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư phát
triển:
Đe đánh giả kết quả và hiệu quả hoạt động đầu tư có thế sử dụng một so chỉ tiêu sau:
I Ket quả của hoạt động đầu tư
- Tổng vốn đầu tư: là tổng số tiền đã chi ra để tiến hành các hoạt động củamột công cuộc đầu tư bao gồm các chi phí cho chuẩn bị đầu tư, xây dựng nhàcửa và các cấu trúc hạ tầng, mua sắm thiết bị máy móc, chi phí đế tiến hànhcác công tác xây dựng cơ bản và chi phí khác theo quy định của thiết kế dựtoán và đã được duyệt chi
- Giá trị sản lượng sản xuất ra của dự án khi đi vào sản xuất
□ Hiệu quả hoạt động đầu tư
+ Hiệu quả tài chính: là mức độ đáp ứng nhu cầu phát triển trong các
cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ trên cơ sở vốn đầu tư đã thực hiện Có thếbiếu diễn khái niệm này thông qua công thức sau:
Các kết quả mà cơ sở thu được do thực hiện đầu tư
Etc = 7 7—7 - -—— -7
-Sô vôn đâu tư mà cơ sở đã thực hiện đê tạo ra các kêt quả trên
Ví dụ về chỉ tiêu hiệu quả tài chính mà các dự án và đơn vị sản xuấtkinh doanh thường sử dụng đế đánh giá hiệu quả của công cuộc đầu tư:
- Doanh thu (hàng năm hoặc cả đời dự án) trên tổng vốn đầu tư
- Lợi nhuận (hàng năm hoặc cả đời dự án) trên tổng vốn đầu tư
Trang 4- Gía trị hiện tại ròng của cả đời dự án (NPV).
- Tỷ suất thu hồi nội bộ vốn đầu tu (IRR)
+ Hiệu quả kinh tế xã hội: đuợc xem xét nhu là sự chênh lệch giữa các
lợi ích mà nền kinh tế xã hội thu đuợc so với các đóng góp mà nền kinh tế và
xã hội phải bỏ ra khi thực hiện đầu tu
Tuỳ thuộc vào phạm vi xem xét ở tầm vĩ mô hay vi mô mà có phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tể xã hội khác nhau Nhưng nhìn chung, có thể xem xét hiệu quả kinh tế xã hội theo các khía cạnh sau:
- Mức đóng góp cho ngân sách
- Chỗ làm việc tăng lên
- Số ngoại tệ thu được
- Lượng ngoại tệ tiết kiệm được
- Các tác động đến môi trường
Đáp ứng việc thực hiện các mục tiêu trong chiến lược phát triến kinh tế xã hộiđất nước, các nhiệm vụ của kế hoạch phát triến kinh tế, xã hội trong tòng thờikỳ
II VAI TRÒ CỦA NGÀNG NÔNG NGHIỆP TRONG NỀN KINH TÊ QUỐC DÂN
1 Khái quát về nghành nông nghiệp
có chính sách, chiến lược đầu tư phù họp, hiệu quả Những đặc điếm đó là:
Thứ nhất: sản xuất nông nghiệp tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức
tạp lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt Tích
tụ và tập trung cao là đặc điếm cơ bản của công nghiệp Trái lại nông nghiệpđược phân bố trên phạm vi không gian rộng lớn Đặc điếm này do tính chấtcủa đất đai quy định Đất đai với tư cách là tư liệu sản xuất chủ yếu có địa bàntrải rộng Tính chất này kéo theo sự đa dạng về địa hình, chất đất, nguồnnước, sinh vật sống và điều kiện thời tiết khí hậu Mỗi vùng đất có hệ thốngkinh tế sinh thái riêng Do đó, mồi vùng có lợi thế so sánh riêng Từ đây, cầnphải bố trí phù hợp cây trồng, vật nuôi, ứng dụng kỹ thuật canh tác phù hợpvới lợi thế của mỗi vùng, thực hiện chuyên môn hoá gắn liền với phát triểnthích hợp
Thứ hcii: Trong nông nghiệp ruộng đất là tư liệu sản xuất không thế
thay thế được Đất đai được gọi là tư liệu sản xuất đặc biệt vì nó vừa là đốitượng lao động chịu sự tác động của con người như cày xới đế có môi trườngtốt cho sinh vật phát triển, vừa là tư liệu lao động được con người dùng đế
Trang 5ĐỀ ÁN MÔN HỌC NGUYỄN HOÀI ĐỨC
trồng cấy và chăn nuôi Không có đất đai thì không có sản xuất nông nghiệp
Số luợng và chất luợng đất đai qui định lợi thế so sánh cũng như cơ cấu sảnxuất của cả vùng Đặc điếm này đòi hỏi quá trình sản xuất phải dựa vào đặcđiếm đất đai của tùng vùng đế tù’ đó xác định hướng đầu tư họp lý, vừa làmtăng năng suất, vừa giữ gìn, bảo vệ đất đai
Thứ ba: Trong nông nghiệp, đối tượng sản xuất là cơ thế sống Chúng
phát triến theo qui luật nhất định Chúng rất nhạy cảm với yếu tố ngoại cảnh,mọi sự thay đối về thời tiết, khí hậu đều tác động trục tiếp đến kết quả thuhoạch sản phẩm cuối cùng Điều này đã dẫn đến trong nông nghiệp, khốilượng đầu ra không tương đương cả về số lượng và chất lượng so với đầu vào
Từ một hạt giống ban đầu, công nghiệp làm cho thành phâm tăng lên gấp bộikhi được mùa và cũng có thế là con sổ không khi mất mùa Vì thế, cần phảitìm ra giống cây, con tốt và tiến hành bố trí mùa vụ thích họp đế phát huy tối
đa mặt lợi và hạn chế tiêu cực của thiên nhiên Bên cạnh đó, cần làm tốt côngtác khuyến nông, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho nông nghiệp như thuỷlợi, cải tạo đất, hệ thống điện và nâng cao kiến thức cho nông dân đế có khảnăng hạn chế rủi ro, phát huy tác động của môi trường sổng với sinh vật
Thứ tư: Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao và thời gian lao
động hoàn toàn không ăn khớp với thời gian sản xuất Tính thời vụ khôngnhững thế hiện ở nhu cầu về đầu vào như lao động, vật tư, phân bón rất khácnhau giữa các thời kỳ của quá trình sản xuất mà còn thế hiện ở khâu thuhoạch, chế biến, dự trữ và tiêu thụ sản phẩm trên thị trường Từ đây, cần cóbiện pháp đế khắc phục tính thời vụ như bố trí, tố chức sản xuất họp lí, thựchiện đa dạng hóa sản xuất, trang bị công cụ máy móc thích họp, thực hiện tốtbảo quản, chế biến nông sản, làm tốt các chiến lược marketing ở cả đầu vào
và đầu ra trong nông nghiệp, phát triến ngành nghề dịch vụ, tạo thêm việc làmtrong thời kỳ nông nhàn
Thứ năm: Nông nghiệp liên quan chặt chẽ đến các ngành công nghiệp
và các ngành dịch vụ khác Sự liên quan này thế hiện ở chỗ không nhữngnông nghiệp cung cấp nguyên liệu, vốn, lao động cho công nghiệp mà còn làthị trường rộng lớn của công nghiệp và dịch vụ Mối liên hệ này thế hiện ở cảkhoa học và công nghệ áp dụng trong các ngành sản xuất Chúng có tác dụngnhư đòn bấy đế cho cả công nghiệp và nông nghiệp phát triển Vì thế, mọichiến lược phát triển kinh tế nói chung, của nông nghiệp nói riêng đều phảitính toán đến mối quan hệ tương hỗ giữa công nghiệp và nông nghiệp
1.2 Vai trò
Nông nghiệp là một trong những ngành kinh tế quan trọng và phức tạp
Nó không phải là một hệ thống kinh tế đơn thuần, mà là một hệ thống sinh vật
- kỹ thuật Chúng phát triển theo quy luật sinh vật nhất định, con người khôngthể ngăn cản các quy trình phát sinh, phát triển, phát dục và diệt vong củachúng, mà phải trên cơ sở nhận thức đúng đắn các quy luật để có những giải
Trang 6pháp tác động nhằm thích nghi với chúng và có sự can thiệp theo mục đíchnghiên cứu và sử dụng nhất định.
Nông nghiệp có vai trò quan trọng trong việc phát triến kinh tế, nhất là
ở các nuớc đang phát triến - đó là những nuớc nghèo, trình độ phát triến thấpkém, với đại bộ phận dân chúng sống bằng nghề nông Tuy nhiên, điều đókhông đồng nghĩa với việc phủ nhận vai trò của nông nghiệp trong nền kinh tếcủa các nuớc có nền công nghiệp cao Mặc dù tỷ trọng giá trị sản luợng nôngnghiệp không lớn, nhung khối luợng sản phẩm nông nghiệp vẫn không ngừngtăng lên và giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Các nhà kinh tếhọc thuộc nhiều truờng phái khác nhau đều thong nhất rằng, điều kiện tiênquyết cho sự phát triển là tăng cung luơng thực cho nền kinh tế, bằng hai conđuờng sản xuất trong nuớc hoặc nhập khẩu Có thể con đuờng nhập khẩuluơng thực để giành nguồn lực cho việc phát triển các ngành khác, nhung điều
đó chỉ phù hợp với những nuớc nhu Singapore, Brunây, Arập Saudi màkhông dễ dàng áp dụng đối với Trung quốc, Việt nam hay một số nuớc khác
là những nuớc đông dân Thực tiễn lịch sử phát triển của các nuớc trên thếgiới đã chứng minh rằng, chỉ có thể phát trien kinh tế nhanh chóng chừng nào
đã có sự an toàn về luơng thực Neu không đảm bảo đuợc an toàn luơng thựcthì khó có thế có sự ốn định về chính trị, và thiếu sự đảm bảo về cơ sở pháp
lý, kinh tế cho sự phát triến, tù' đó sẽ làm cho các nhà đầu tu không yên tâm
bỏ vốn đầu tu, kinh doanh dài hạn do môi truờng đầu tu thiếu sự ổn định, antoàn cần thiết Trong hội nghị các nuớc không liên kết tố chức tại Bali tháng
10/1994 về vấn đề an toàn luơng thực Thế giới phát biếu: " Sự ổn định
chính trị và tiến bộ xã hội có thế bị nạn đói cản trở "
Nông nghiệp, nông thôn có vai trò quan trọng trong việc cung cấp các yếu tổ đầu vào cho công nghiệp và khu vực thành thị Trong giai đoạn
đầu của công cuộc công nghiệp hóa, phần lớn dân cu sống bằng nông nghiệp,khu vực nông thôn thực sự là nguồn nhân lực dự trữ dồi dào cho khu vựccông nghiệp và thành thị Nhà kinh tế học Lewis đã xây dụng mô hình chuyếndịch lao động tù' khu vục nông nghiệp sang công nghiệp, ồng coi đó là quátrình tạo ra tiết kiệm, thúc đấy đầu tu và tăng truởng kinh tế Mặt khác, việcchuyến dịch lao động tù' nông nghiệp sang khu vực công nghiệp còn khắcphục đuợc tình trạng lạc hậu về kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay ởViệt Nam: Không di CU' mà di chuyến ngành nghề làm việc Khu vục nôngnghiệp còn cung cấp nguồn nguyên liệu quý cho công nghiệp, chủ yếu là côngnghiệp chế biến nông sản, nhằm nâng cao chất luợng sản phẩm, tăng thunhập, nâng cao trình độ công nghệ, từng buớc công nghiệp hoá, hiện đại hoánông nghiệp, nông thôn
Nông nghiệp, nông thôn là thị trường tiêu thụ rộng lớn của công nghiệp Ớ hầu hết các nuớc đang phát triển, sản phẩm công nghiệp, bao gồm
tu liệu sản xuất và tu liệu tiêu dùng, chủ yếu dựa vào thị truờng trong nuớc(do khả năng cạnh tranh và mức độ mở cửa nền kinh tế), mà truớc hết là khu
Trang 8Vì thế, trong quá trình phát triến sản xuất nông nghiệp, cần tìm những giảipháp đế duy trì và tạo ra sự phát triển bền vững của môi truờng sinh thái,
ơ cấu GD_P của nề
Bảng 3: c n KTQD giai đoạn 1995 - 2000.
Đơn vị: %
Nguồn: TCTK.
Trang 9ĐỀ ÁN MÔN HỌC NGUYỄN HOÀI ĐỨC
Với vị trí quan trọng như vậy, trong quá trình xây dựng và phát triểnkinh tế của đất nước, Đảng và Nhà nước luôn xác định rõ nông nghiệp nôngthôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các ngành kinh tế quốc dân.Khi đất nước mới thống nhất, non sông thu về một mối, trong khí thế thắng
lợi, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (năm 1976) đã khẳng định: "Đay mạnh
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của Chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ ỉên sản xuất lớn xã hội Chủ nghĩa Ưu tiên phát triên công nghiệp nặng một cách hợp ỉỷ trên cơ sở phát triên nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước trở thành một cơ cẩu công - nông nghiệp." Đại hội Đảng
lần thứ V tiếp tục khẳng định "Trong 5 năm 1981 - 1985 và những năm 80,
cần tập trung sức phát triền mạnh nông nghiệp, coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức đấy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và tiếp tục xây dựng một số ngành công nghiệp nặng quan trọng; kết họp nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng trong một cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý Đó là những nội dung chỉnh của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường trước mắt." Như vậy, Đại hội Đảng lần thứ V đã có một bước đối mới
về ưu tiên trong chiến lược công nghiệp hoá - đưa nông nghiệp lên mặt trậnhàng đầu
Bước sang thời kỳ Đối mới toàn diện nền kinh tế, chuyển tù' nền kinh tếquản lý theo co chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang phát triến nền kinh
tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa Trong tổng kết thực tiễn,
Đảng ta tự kiếm điếm và chỉ ra rằng: "Chủng ta đã không thực hiện nghiêm
chỉnh Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ V Nông nghiệp chưa thực sự được coi là mặt trận hàng đầu, không được bảo đảm những điều kiện cần thiết đê phát triền .Vì vậy, trước mắt trong kế hoạch 5 năm 1986 - 1990, phải thật sự tập trung sức người, sức của vào việc thực hiện cho ba chương trình mục tiêu về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khâu." Trong giai đoạn 1991 - 1995, sau khi thu được những thành tựu quan
trọng, tạo thế và lực tiếp tục đấy mạnh công cuộc đối mới Nông nghiệp nóiriêng và kinh tế nông thôn nói chung tiếp tục được khẳng định vị trí, vai trò
quan trọng trong hệ thống các ngành kinh tế quốc dân: "phát triển nông, lâm,
ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến, phát triến toàn diện kỉnh tế nông thôn và xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ quan trọng hàng dầu đế ôn định tình hình kinh tế - xã hội" 1
Năm 2001, năm đầu tiên của thế kỷ 21, thiên niên kỷ thứ 3, thực tiễntình hình kinh tế - xã hội của nước ta và Thế giới đang đặt ra nhiều thuận lợicũng như khó khăn cho sự phát triển những năm đầu thế kỷ 21 Đại hội Đảng
Trang 10toàn quốc lần thứ IX đánh dấu một mốc quan trọng Trên cơ sở phân tích,đánh giá thành tựu và hạn chế trong 5 năm 1996 - 2001 và chiến luợc 10 năm
1991 - 2001, Đảng ta tiếp tục khắng định con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội
là con đường duy nhất đúng với "Chiến lược đấy mạnh công nghiệp hoáy
hiện đại hocí theo định hướng Xã hội Chủ nghĩa, xây dựng nền tảng đê đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” 2 Đại hội coi
nông nghiệp, nông thôn là khu vục giữ vai trò quan trọng và ưu tiên đầu tư
phát triến: "Đây mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn theo hướng hình thành nền nông nghiệp hàng hoả lớn phũ hợp với nhu cầu thị trường và điều kiện sinh thái" 3
Xuyên suốt chiều dài phát triển lịch sử, chúng ta có thế thấy rằng trongđường lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam , đều xácđịnh rõ vai trò, vị trí quan trọng hàng đầu của nông nghiệp và nông thôn, đồngthời từng bước có sự bố sung, hoàn thiện đường lối đó cho sát hợp với cácđiều kiện cụ thế của quá trình phát triển đất nước
2 Một số đặc điếm riêng của nông nghiệp Việt Nam
Nông nghiệp Việt Nam có đặc điểm riêng khác với các ngành sản xuất,kinh doanh khác Vì thế hoạt động đầu tư trong nông nghiệp cũng có nhữngđặc thù riêng phản ánh đặc điếm của sản xuất nông nghiệp
Thứ nhất, hoạt động đầu tư cho nông nghiệp là hoạt động đầu tư có tính
rủi ro cao Sản xuất nông nghiệp bản thân nó đã chứa đựng nhiều rủi ro và còn
lệ thuộc vào điều kiện thời tiết, khí hậu cũng như vị trí địa lý, mang tính khuvực rõ rệt Cây trồng và vật nuôi vừa là đối tượng sản xuất vừa là tư liệu sảnxuất đặc biệt của nông nghiệp, là những cơ thế sống, sinh trưởng và phát triểntheo những quy luật sinh học nhất định Kinh nghiệm sản xuất diễn ra trên từngđịa bàn cụ thể không thế áp dụng máy móc cho các địa bàn khác Sản xuất nôngnghiệp còn mang tính thời vụ cao trong cả quá trình gieo trồng và thu hoạch.Đặc điếm này tạo ra sự mất cân bằng thường xuyên trong cung cầu về lao độngcũng như nông sản phẩm, tạo ra sự bấp bênh trong thu nhập của người sản xuất,kinh doanh nông nghiệp
Thứ hai, ở giai đoạn hiện tại, đầu tư cho nông nghiệp vẫn đòi hỏi khối
lượng vốn đầu tư gián tiếp lớn cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệmới, đầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tầng Trong điều kiện hiện nay, trình độsản xuất của nông nghiệp Việt Nam còn quá lạc hậu, đế nâng cao hiệu quả sảnxuất cần phải đầu tư phát triển chiều sâu cho nông nghiệp theo hướng nghiêncứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư trang bị cơ sở vật chất kỹ thuậthiện đại cho sản xuất
Đât đai là tu- liệu sản xuất chính không thế thay thế được nhưng ngàycàng bị thu hẹp về diện tích với cạnh tranh về nhu cầu và hiệu quả sử dụng
Trang 11ĐỀ ÁN MÔN HỌC NGUYỄN HOÀI ĐỨC
với các ngành khác cũng như giảm về chất lượng do sử dụng bừa bãi Do đónhà đầu tư phải luôn quan tâm tới việc nghiên cún, cải tạo đất đai nhằm tăngsức sản xuất trên những vùng đất hiện có và mở rộng sản xuất trên nhữngvùng đất trước đây không sản xuất được
Cơ sở hạ tầng còn quá nghèo nàn Trước khi đưa dự án vào hoạt động nhàđầu tư phải bỏ ra khối lượng vốn lớn cho việc mở mang đường sá, trang bị điện,nước
Các hoạt động đầu tư gián tiếp mang tính chất của hoạt động đầu tưphát triển, được xác định là cần thiết nhưng thường vượt quá khả năng củamỗi cá nhân trục tiếp tham gia sản xuất
Thứ ha, đầu tư trong nông nghiệp đem lại lợi ích tài chính thấp nhưng lợi
ích kinh tế, xã hội cao Nguyên nhân là do trình độ áp dụng khoa học kỹ thuậttrong sản xuất hiện nay còn ở mức độ thấp Sản xuất vẫn dựa trên sức lao động làchủ yếu Năng suất, chất lượng sản phẩm chưa cao, giá thành sản phẩm hàng hoáthấp không tương xứng với công sức và chi phí bỏ ra Hiệu suất đầu tư trong nôngnghiệp ước tính cao nhất chỉ đạt 0,2 - 0,3, người sản xuất vẫn phải lấy công làmlãi, hoặc có lãi không đáng kế so với các ngành sản xuất kinh doanh khác
Tuy nhiên, đầu tư cho nông nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế xã hội rấtlớn như: giải quyết công ăn việc làm cho lực lượng lớn lao động, nâng caotrình độ kỹ thuật của sản xuất thông qua áp dụng khoa học kỹ thuật vào sảnxuất, đóng góp cho ngân sách, đem lại nhiều ngoại tệ cho đất nước thông quaxuất khấu, góp phần cải tạo môi trường
Nông nghiệp là lĩnh vực khó hấp dẫn các nhà đầu tư, các thành phầnkinh tế tư nhân tham gia Tuy nhiên, nông nghiệp là ngành sản xuất chínhkhông thể loại bỏ không đầu tư Do đó, đối với sản xuất nông nghiệp, tronggiai đoạn hiện tại nhà nước bắt buộc phải tham gia quá trình đầu tư Nhà nướcđóng vai trò quan trọng vừa là chủ đầu tư chính trong các lĩnh vục gián tiếp,vừa là người hỗ trợ nông dân đầu tư trực tiếp cho sản xuất và là trung giankhuyến khích tạo điều kiện tho các thành phần kinh tế khác tham gia đầu tư
III HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ VÓI PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP
1 Nội dung đầu tư và kinh nghiệm một số nước về đầu tư cho
nôngnghiệp, nông thôn.
Nội dung đầu tư gồm đầu tư trực tiếp và đầu tư giản tiếp thông qua các phương thức :
3.1 Đầu tư trực tiếp bằng ngân sách Nhà nước đế khuyến khích phát triền
những sản phắm nông nghiệp có ỷ nghĩa sống còn đói với quốc gia như cây
lương thực, cây xuất khẩu , cây đặc sản có giá trị cao vốn đầu tư sẽ được sửdụng đế chuyển giao công nghệm mới , áp dụng kỹ thuật tiên tiến hoặc giốngmới có năng xuất và chất lượng cao phục vụ sản xuất nông nghiệp Đối tượngđầu tư theo nội dung này là hệ thống trạm trại nghiên cứu thử nghiệm và triểnkhai’ như : giống , thuỷ nông, bảo vệ thực vật, cải tạo đất
Trang 123.2 Đầu tư gán tiếp thông qua tín dụng phát triển nông thôn với lãi xuất
ưu đãi Nhà nước dânh một phàn vốn ngân sách, một phần vốn đi vay cho các
đối tượng sản xuất kinh doanh nông nghiệp và kinh tế nông thôn và mục tiêu
hỗ trợ vốn cho hộ sản xuất- Nhà nước thông qua ngân hàng nông nghiệp bù
lỗ cho hộ sản xuất phần lãi xuất ưu đãi
3.3 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn như thuỷ lợi, giao thông điện
, chợ, thông tin liên lạc kho tàng bến bãi tuỳ theo khả năng ngân sách Nhànước đầu tư toan bộ hoặc Nhà nược và nhân dân cùng làm để xây dựng vàhoàn thiện cơ sở hạ tầng nông thôn phục vụ sản xuất và tạo tiền đề để chuyếnđịch cơ cấu kinh tế nông thôn Cơ sở hạ tầng càng hoàn thiện thì quy mô vàtốc đọ tăng trưởng kinh tế nông thôn và sản xuấtnông nghiệp càng có điềukiện mở rộng và tăng hiệu quả Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với các vùngsản xuất hàng hoá lớn về lương thực, thực phẩm và nông sản xuất khẩu
3.4 Đầu tư qua giá mua vật tư và bán nông sản của hộ sản xuất cũng là
một phương thức được nhiều nước áp dụng Hộ sản xuất nông nghiệp đượcmua vật tư, xăng dầu sản xuát với giá ổn định và thấp, được bán nông sảnhàng hoá và sản phẩm nghành nghề dịch vụ ở nông thôn với giá cao và ốnđịnh Nhà nước bù lồ phần chênh lệch giữa giá trị thị trường với giá mua hoặcgiá bán của Nhà nước cho hộ sản xuất cũng là một dạng đaàu tư gián tiếpđượcáp dụng ở nhiều nước
3.5 Đầu tư von của nhà nước đê phát triến nông thôn và nông nghiệp còn
dược nhiều nước thực hiện qua chính sách thuế sử dụng đất, thuế doanh thu
Nói chung ở các nước đang phát triển, công nghiệp và dịch vụ chưa phát triển,nguồn ngân sách chủ yếu vào thuế nông nghiệp Tuy vậy những năm gầnđây, chính phủ nhiều nước đã thực hiện chính sách giảm thuế hoặc miễn thuếnày cho nông dân và coi đó là mọt khoản đầu tư cho nông nghiệp
3.6 Đầu tư cho nông nghiệp còn được nhiều nước thực hiện qua chỉnh
sách khai hoang và xây dựng các khu kinh tế mới ở những khu này, Nhà
nướca đầu tư khai phá đất mới, xây dựng cơ sở hạ tầng, sau đó chuyển giaocho nông dân nghèo từ nơi khác đến lập nghiệp Chính sách đó vừa tạo thêmviệc làm , tăng thu nhập cho nông dân nghèo, vừa phân bố lại dân cư và laođộng trên các vùng lãnh thố , rút ngắn khoáng cách về thu nhập, dơi sổnggiữa các vùng , các tầng lóp dân cư ở nông thôn Ket quả cuối cùng là sảnxuất phát triển, độ đồng đều trong nông thôn cao hơn, sản phẩm xã hội dượctạo ra nhiều hơn
2 Vai trò của đầu tư phát triến vói nông nghiệp Việt Nam
Đối với bất kỳ ngành nào, đầu tư cũng có vai trò quyết định tới sự tăngtrưởng và phát triển của ngành đó Nông nghiệp Việt Nam với xuất phát điếmcòn thấp, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, trình độ khoa học kỹ thuật cònlạc hậu, đầu tư đóng vai trò to lớn như là cú huých ban đầu cho sự phát triến, cụthể:
Trang 13ĐỀ ÁN MÔN HỌC NGUYỄN HOÀI ĐỨC
Đầu tư phát triển nông nghiệp làm tăng sản phẩm lương thực, thựcphẩm cho đất nước, đáp ứng nhu cầu cấp thiết về lương thực cho người dân
và đấy nhanh xuất khấu góp phần tăng tống thu nhập quốc dân
Đầu tư phát triển nông nghiệp góp phần vào quá trình chuyển dịch cơcấu kinh tế nông nghiệp cũng như chuyến dịch cơ cấu của toàn bộ nền kinh
tế
Đầu tư giúp nhanh chóng đưa khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất,đấy mạnh thâm canh tăng vụ, nâng cao chất lượng sản phấm, đa dạng hoá câytrồng, giải phóng sức lao động, góp phần tích cực vào quá trình công nghiệphoá, hiện đại hoá nông nghiệp nói riêng và kinh tế cả nước nói chung
Đầu tư phát triển nông nghiệp tạo công ăn việc làm cho người lao động,tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân khu vực nông nghiệp và nôngthôn
Đầu tư vào nông nghiệp được sự quản lý tổt sẽ góp phần bảo vệ môitrường, xây dựng cân bằng sinh thái, phát triến bền vững nông nghiệp, nôngthôn
3 Các nhân tố tác động đến đàu tư vào nông nghiệp
Lý luận và thực tiễn sản xuất nông nghiệp của nhiều nước đã chỉ rarằng, vốn đầu tư là vấn đề then chốt đế phát triển nông nghiệp và kinh tế nôngthôn Vì vậy, tăng cường đầu tư cho nông nghiệp là một yêu cầu khách quan.Thông qua việc xem xét các nhân tố tác động đến đầu tư, chúng ta có thể đưa
ra những biện pháp, chính sách đế thúc đẩy hoạt động đầu tư tăng nhanhchóng cả về quy mô, nhịp điệu và hiệu quả đầu tư
Cũng như mọi hoạt động đầu tư khác, đầu tư vào nông nghiệp chịu ảnhhưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan, cụ thế:
3.1 Điều kiện địa lý tự nhiên (địa hình, khí hậu, đất đai): Đây có thế
coi là yếu tố quan trọng hàng đầu vì tù’ điều kiện địa lý tự’ nhiên mới hìnhthành nên đặc thù hoạt động nông nghiệp của tùng khu vực, lãnh thổ hay mộtquốc gia Từ đó, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn, thực hiện và pháthuy hiệu quả của hoạt động đầu tư Vị trí địa lý thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi,khí hậu ôn hòa sẽ là nhân tố tích cực để thu hút đầu tư và ngược lại, sẽ chẳngmấy nhà đầu tư quan tâm đến nơi mà bản thân cây cối và sinh vật khó mà cóthể phát triển thuận lợi
3.2.Sự ổn định kinh tế vĩ mô là yếu tố rất quan trọng quyết định hành
vi nhà đầu tư Đế thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tư đòi hỏi môi trường
vĩ mô của đất nước phải ốn định và bảo đảm an toàn cho đồng vốn bỏ rakhông gặp rủi ro do các yếu tố chính trị, kinh tế - xã hội gây ra, đòi hởi nềnkinh tế nói chung và các ngành cụ thế nói riêng của đất nước phải là nơi an
Trang 14toàn cho sự vận động của tiền vốn đầu tư, là noi có khả năng sinh lời cao honnhững nơi khác, ngành khác.
Một nền kinh tế ổn định vững chắc không phải và không thế là một sự
ốn định bất động, tức là sự ốn định hàm chứa trong nó khả năng trì trệ kéodài dẫn đến khủng hoảng Ồn định kinh tế phải gắn liền với năng lực tăngtrưởng Tăng trưởng kinh tế là một trong những nhân tố quan trọng giúp nângcao thu nhập của các tầng lớp dân cư, qua đó nhu cầu tiêu dùng toàn xã hộităng lên, góp phần tăng nhanh “cầu nông sản” dưới nhiều hình thức khác nhau
và kích thích ngành nông nghiệp phát triển
3.3.Điều kiện về dân số và lao động có ảnh hưởng trực tiếp đến đầu tư
vào nông nghiệp vì quy mô và đặc điểm của dân số có liên quan chặt chẽ đếnnhu cầu và khuynh hướng tiêu thụ sản phẩm Mặt khác, lực lượng lao độngdồi dào, có trình độ là cơ sở đế phát triển sản xuất cả về chiều rộng và chiềusâu
3A.Chính sách lãi suất và tỷ giá hoi đoái không những có ảnh hưởng
đối với sự ốn định giá cả tiền tề và ốn định nền kinh tế vĩ mô mà nó còn ảnhhưởng tới cả việc thu hút đầu tư nói chung
Lãi suất chính là chi phí của vốn đầu tư, lãi suất càng cao thì phí tốnvốn đầu tư cao hơn, khi phí tốn cao hơn sẽ làm giảm phần lợi nhuận của nhàđầu tư và sẽ giảm vốn đầu tư Ngược lại, lãi suất thấp sẽ khuyến khích cácnhà đầu tư mạnh dạn bở vốn vì lợi nhuận đem lại sẽ cao hơn
Đối với tỷ giá hối đoái: Khi tỷ giá hối đoái càng mềm (giảm giá trịđồng nội tệ so với đồng ngoại tệ) thì khả năng thu lợi nhuận xuất khấu cũngcao, tạo ra sức hấp dẫn lớn với các nhà đầu tư Tuy nhiên với những doanhnghiệp sử dụng quá nhiều yếu tố ngoại nhập như phân bón, giống, thuốc trừsâu., thì chi phí sản xuất sẽ tăng lên, lợi nhuận giảm
3.5 Các nhà đầu tư cũng đặc biệt quan tâm đến chính sách đầu tư của
nhà nước và các chính sách khác có liên quan như: chính sách đất đai,
chính sách thuế, chính sách phát triển kinh tế nói chung và nông nghiệp nóiriêng, chính sách chuyển dịch cơ cấu ngành vì nó tạo cơ sở pháp lý cho cácnhà đầu tu
3.6 Cơ sở hạ tầng của nền kinh tế có ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả
của sản xuất kinh doanh và đáng kể nhất là ảnh hưởng đến tốc độ chu chuyểncủa tiền vốn đầu tư Đây là một nội dung mà các nhà đầu tư rất quan tâm khiquyết định bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh Hệ thống cơ sở hạ tầng là baogồm cả mạng lưới giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống điện nước
và các cơ sở dịch vụ và đầu ra cho sản xuất Trình độ và năng lực của cácnhân tổ này cũng phản ánh lên trình độ kinh tế của một đất nước, nó tạo ra bộmặt của đất nước và là môi trường cho hoạt động đầu tư Kết cấu cơ sở hạtầng hợp lý và thuận lợi sẽ làm tăng tính hấp dẫn thu hút các nguồn vốn đầu
tư cho phát triển kinh tế nói chung cho nông nghiệp nói riêng
Trang 15ĐỀ ÁN MÔN HỌC NGUYỄN HOÀI ĐỨC
PHẦN 2
TÌNH HÌNH ĐẦU Tư PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
TRONG THỜI GIAN QUA
I CHÍNH SÁCH ĐẦU Tư PHÁT TRIẾN NÔNG NGHIẾP
TRONG THỜI GIAN QUA
1 Chính sách đầu tư
ớ nước ta, nông nghiệp giữ vai trò đặc biệt quan trọng và nông nghiệpchiếm tỷ trọng rất lớn trong GDP Vì vậy, vấn đề đầu tư cho nông nghiệp cóảnh hưởng lớn đến nền kinh tế quốc dân nói chung và đối với khu vực nôngthôn nói riêng
Chính sách đầu tư và đầu tư cho nông nghiệp được hình thành trên co
sở lý luận về tương quan giữa đầu tư và phát triển cũng như yêu cầu cụ thếcủa từng giai đoạn phát triển của vùng, khu vực và toàn bộ nền kinh tế Mụcđích của chính sách đầu tư cho nông nghiệp là tái tạo và nâng cao năng lựcsản xuất của tài sản cố định trong nông nghiệp là tái tạo và nâng cao năng lựcsản xuất của tài sản cố định trong nông nghiệp, thúc đấy quá trình chuyếngiao công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp, từ đó nângcao năng suất và chất lượng sản phấm của các ngành trồng trọt và chăn nuôi,đồng thời thúc đấy quá trình chuyến dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng vàchính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước đã đề ra
Thực tiễn của quá trình phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam qua cácthời kỳ đã chứng minh rằng đầu tư phát triển là cơ sở, nền tảng của sự pháttriến ngành nông nghiệp Việt Nam
□ Giai đoạn từ 1989 đến nay
Đế khắc phục những hạn chế diễn ra trong giai đoạn trước thì Đảng vàNhà nước ta tiếp tục có nhiều biện pháp, chính sách đế điều chỉnh trong hoạtđộng sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là đối mới về công tác quản lý trong nôngnghiệp Ngày 05/04/1988 Bộ Chính trị ra Nghị quyết 10 về đổi mới công tácquản lý nông nghiệp Với Nghị quyết 10 này, ngành nông nghiệp Việt Nam
đã chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, Nghị quyết 10 nhấn mạnh: “Nhànước khuyến khích hộ các thể, tư nhân bỏ vốn, bỏ sức lao động kỹ thuật đế
mở mang sản xuất”, chính vì thế Nghị quyết này đã mở đường cho việc giảiphóng tiềm năng về vốn, nguồn vốn trong khu vục dân cư được khơi dậy vàhướng vào mục tiêu phát triến sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn Ke
từ khi có Nghị quyết 10, hoạt động sản xuất nông nghiệp phát triển nhanh và
ốn định, năm sau cao hơn năm trước, thời kỳ sau cao hơn thời kỳ trước, điều
đó được thế hiện trong năm 1988 cả nước phải nhập 280.000 nghìn tấn lươngthực, nhưng bước sang năm 1989, nước ta bắt đầu xuất khẩu lương thực, đạtgần 1,5 triệu tấn
Trang 16Tháng 6/1993, Ban chấp hành Trung ương Đảng ra Nghị quyết 5, giaoquyền sở hữu các tư liệu sản xuất, quyền sử dụng đất lâu dài cho các hộ Mởrộng thị trường lao động cho hộ nông dân Khắng định vị trí các thành phầnkinh tế và tiếp thêm tài nguyên vốn, kiến thức khoa học cho sản xuất nôngnghiệp.
Từ năm 1993, Chính phủ ban hành một loạt các văn bản triển khai chủtrương mới của Đảng: Nghị định 13/CP về công tác khuyến nông, bắt đầu tốchức mạng lưới và phát triển công tác khuyến nông đế chuyến giao tiến bộ kỹthuật cho nông dân; Nghị định 14/CP của Chính phủ quy định chính sách cho
hộ sản xuất vay vốn để phát triển nông - lâm - ngư nghiệp và kinh tế nôngthôn Ngân hàng nhà nước bắt đầu cho các hộ nông dân được trực tiếp vayvốn đế sản xuất Nghị định 12/CP qui định về sắp xếp lại tổ chức và đổi mới
cơ chế quản lí các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, thực hiện cơ chếkhoán ruộng đất, vườn cây, gia súc cho các hộ thành viên ở các nông trườngquốc doanh, khoán doanh thu, sản lượng ở các cơ sở chế biến
Cùng năm, luật đất đai được ban hành khắng định quyền sử dụng ruộngđất lâu dài của nông dân Hộ gia đình được giao đất đế sử dụng từ 20 đến 50năm tuỳ theo loại, các hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ốnđịnh lâu dài
Nghị quyết đi vào cuộc sống đã tạo nên những biến đối to lớn Đầu tưngân sách cho nông nghiệp tăng nhanh, năm 1995 là 3495 tỉ đồng Sản xuấtnông nghiệp ngày càng tăng trưởng và phát triển ốn định
2 Quan điếm và mục tiêu phát triến ngành nông nghiệp :
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã xác định mục tiêu phát triểnnông nghiệp, nông thôn giai đoạn 1996 - 2000 là: “Phát triển nông nghiệptoàn diện hướng vào bảo đảm an toàn lương thực quốc gia, tăng nhanh nguồnthực phẩm và rau quả, cải thiện chất lượng bữa ăn, giảm suy dinh dường.Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn có hiệu quả Trên cơ sởđảm bảo vũng chắc nhu cầu đảm bảo nhu cầu lương thực, chủ yếu là lúa, mởrộng diện tích trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, tăng nhanh đàn gia súc, giacầm, phát triến kinh tế biến, đảo, kinh tế rùng, khai thác có hiệu quả tiềmnăng của nền nông nghiệp sinh thái, tăng nhanh sản lượng hàng hoá gắn vớicông nghiệp chế biến và xuất khẩu, mở rộng thị trường nông thôn, tăng thunhập của nông dân Đẩy mạnh việc xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội
55
Đảng ta chủ trương phát triển một nền nông nghiệp hàng hoá theohướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá Cơ cấu các ngành trong nông nghiệpcần được phát triến toàn diện, đa dạng hoá sản xuất, xoá bỏ độc canh thuầnnông, từng bước xây dựng các vùng chuyên canh lớn, kết hợp với phát triếntống họp nhằm đáp ứng đầy đủ hơn nhu cầu về sản phâm nông nghiệp, nângcao chất lượng nông sản hàng hoá Đặc biệt chúng ta cần chú trọng phát triển
Trang 171995 1996 1997 1998 1999 Tổng số (tỷ VNĐ) 68.047 79.367 96.870 97.836 103.771
Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản
(tỷVNĐ)
5.209 5.723 7.084 7.629 7.733
Nguồn: TCTK (không kế đầu tư cho thuỷ lợi).
Như vậy, vốn đầu tư toàn xã hội cho nông nghiệp nông thôn trong 10năm qua tăng đều qua các năm, đặc biệt 2 năm 1999 - 2000 đã có mức tăngvượt bậc, góp phần quyết định mức tăng trưởng, phát triến nền kinh tế nôngnghiệp nông thôn thời gian qua, mặc dù khối lượng vốn đầu tư là chưa thế đápứng được thoả mãn nhu cầu phát triển Trong thời gian tới cần có chính sáchphù hợp đế huy động các nguồn lực cho đầu tư phát triển nông nghiệp nôngthôn
II CO CẤU ĐẦU TU TRONG NÔNG NGHIỆP, NÔNG THÔN VIỆT NAM.
1 Cơ cấu nguồn vốn đầu tư trong nông nghiệp nông thôn
Nhu cầu về vốn đầu tư luôn là một vấn đề tối quan trọng đối với mỗiquốc gia, trong mọi thời kỳ phát triển Đối với các nước đang phát triển, trong
đó có Việt Nam, thì điều này lại càng bức xúc do nguồn vốn luôn trong tình
Trang 18trạng "thiếu hụt, khó cân đối", do đó đòi hỏi mỗi quốc gia phải có chính sáchphù họp để thu hút được các nguồn vốn cho đầu tư phát triển.
Trong thời gian qua, với đường lối Đối mới đế phát triến, với quanđiếm "giải phóng sức sản xuất cho xã hội", bằng các chính sách thích hợp đãthu hút được một lượng vốn đáng kể cho đầu tư phát triến nói chung, và đầu
tư cho nông nghiệp nông thôn nói riêng, các nguồn vốn ngày càng được mởrộng
1 1 Nguồn vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước.
Mặc dù vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước cho nông nghiệp nông thônchỉ chiếm hơn 12% vốn đầu tư toàn xã hội cho lĩnh vực này nhưng trongnhững năm qua, vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước đã chứng tỏ vai trò quantrọng của mình Tống vốn đầu tư tù' ngân sách Nhà nước tăng tù' 402 tỷ đồngnăm 1990 (chiếm 17,34% tổng vốn đầu tư toàn xã hội từ ngân sách Nhà nước)lên 1500 tỷ đồng năm 1994, 3044,0 tỷ năm 1996 (bằng 10%) và đến năm
1998, nguồn vốn này chiếm 15,3% vốn đầu tư toàn xã hội từ ngân sách Nhànước Hai năm 1999, 2000, vốn đầu tư của khu vục Nhà nước cho nôngnghiệp vẫn tiếp tục tăng và đạt 9.892,5 tỷ đồng (năm 1999) và ước đạt
11 152,9 tỷ đồng voà năm 2000
Đối tượng đầu tư đã chuyến tù' nông trường quốc doanh, HTX nôngnghiệp sang hộ gia đình, phương pháp đầu tư chiều rộng chuyến dần sangchiều sâu, Khoa học kỹ thuật được quan tâm hơn vốn đầu tư từ ngân sáchNhà nước chủ yếu tập trung vào cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế cho nôngnghiệp nông thôn, đây chính là điều kiện quan trọng đế phát huy những mặtmạnh của các yếu tố khác nhằm phát triển sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp.Hơn nữa, đây cũng là lĩnh vực cần nhiều vốn đầu tư, khả năng thu hồi vốnchậm hoặc không có khả năng thu hồi vốn, vì vậy các thành phần kinh tế kháckhông có khả năng hoặc không muốn đầu tư vốn đầu tư từ ngân sách đã cótác dụng to lớn trong việc tăng năng lực sản xuất nông nghiệp và kinh tế nôngthôn Hình thành các vùng chuyên canh sản xuất, chế biến
Ngoài nguồn vốn ngân sách đầu tư trực tiếp, Nhà nước còn bố sungbằng nguồn vốn của các chương trình như Chương trình 327, Chương trình 5triệu ha rừng Cụ thể trong 2 năm 1993-1994, vốn chương trình 327 đạt 888
tỷ đồng Mặt khác Nhà nước còn đầu tư cho nông nghiệp nông thôn qua hệthống Ngân hàng NNo&PTNT, Ngân hàng người nghèo theo phương thứccho vay không lãi hoặc lãi suất ưu đãi để bù giá vật tư nông nghiệp, giá bánnông sản hàng hoá cho nông dân Chẳng hạn trong 2 năm 1997 - 1998, do sự
cố biến động giá lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long, hệ thống ngân hàngNNo&PTNT Việt Nam đã giành hàng ngàn tỷ đồng cho các doanh nghiệpxuất khẩu gạo vay mua lúa với giá trần hợp lý Nguồn tín dụng đầu tư giántiếp vào nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ này khoảng 20-22 ngàn tỷđồng/năm
Trang 19Nguồn: Số liệu thống kê nông nghiệp nông thôn 1995-1998.
Năm 1990 tính theo giá 1989.
Năm 1995 - 1996 tính theo giá 1994
1.2 Vốn đầu tư của dãn cư.
Gồm 3 thành phần: vốn đầu tư của nông dân (Dân cư sống ở nôngthôn), vốn đầu tư của những người sống ở đô thị và vốn đầu tư của kiều bàokiều bào ta ở nước ngoài
Trang 20Sau hơn 10 năm đối mới, sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn đã
có những bước phát triển vượt bậc, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt.Điều đó cho phép họ có khả năng tích luỹ đế đầu tư phát triến sản xuất, muasắm máy móc, thiết bị đế thay thế dần lao động thủ công Với chính sáchkhuyến khích nông dân đầu tư làm giàu chính đáng của Nhà nước, mặc dù tốc
độ tăng trưởng của khu vực nông nghiệp nông thôn chậm hơn đô thị và khôngđều nhưng tỷ lệ tích luỹ đã tăng tù' 5,2% năm 1990 lên 10,6% năm 1995, cònnăm 2000 chắc chắn còn cao hơn Đây là cơ sở vật chất quan trọng cho hoạtđộng đầu tư phát triển của nông dân Ước tính, mỗi năm mồi hộ nông dân đầu
tư bình quân 1 triệu đồng thì mồi năm nguồn vốn này cũng đã đạt tới 13.000
tỷ đồng Vốn đầu tư của dân không chỉ tăng lên về số lượng mà đã chuyểndần theo cơ cấu hợp lý hơn, tập trung cho các vùng chuyên canh sản xuấthàng hoá lớn như lúa gạo ở ĐBSCL, ĐBSH, cà phê ở Tây Nguyên, điều, cao
su ở Đông Nam Bộ, nuôi trồng thủy hải sản ở các vùng ven biến và xâydựng cơ sở hạ tầng theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm Theothống kê sơ bộ tại 49 tỉnh, thành phổ trực thuộc TW, số vốn mà nhân dânđóng góp cho xây dựng cơ sở hạ tầng của các làng, xã đã dật 5.000 tỷ trongkhi tống số vốn hỗ trợ tù' các nguồn khác là 4.400 tỷ Nét mới về đầu tư củanông dân trong thời kỳ này là tập trung vào mỏ' rộng quy mô sản xuất hànghoá theo mô hình trang trại Đen cuối năm 1998, cả nước có trên 50 nghìntrang trại nông nghiệp được hình thành ở trung du và miền núi phía Bắc, TâyNguyên và Đông Nam bộ Theo kết quả điều tra điển hình của Tổng cụcThống kê tại 4 tỉnh Yên Bái, Thanh Hoá, Bình Dương và Bình Phước thì vốnđầu tư bình quân một trang trại là 97 triệu đồng, trong đó 87% là vốn của dân(tự có và vay ngân hàng) Nông dân vùng ĐBSCL hàng năm đầu tư hàng chụcngàn tỷ đồng đế khai hoang vùng Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên,làm thuỷ lợi, thau chua rửa phèn, cải tạo vườn tạp, xây dựng các cơ sở nuôitôm, đóng mới và hiện đại hoá tàu thuyền đánh bắt hải sản Riêng ở vùngĐồng Tháp Mười, nông dân đã đóng góp 60 tỷ đồng làm thuỷ lợi, 104 tỷ đồnglàm đường giao thông
Với chủ trương phát triến nền kinh tế nhiều thành phần, trong thời gianqua nhiều loại hình doanh nghiệp được phát triến Một số doanh nghiệp kinhdoanh có hiệu quả và phát triển nhanh, bên cạnh đó, kinh tế hộ gia đình ở các
đo thị cũng phát triển mạnh mẽ Điều đó giúp cho thu nhập và tích luỹ của củakhu vực thành thị tăng nhanh Tỷ lệ tích luỹ tăng nhanh nhất trong tất cả cáckhu vực khác, từ 12,9% GDP năm 1990 lên 28,7% GDP năm 1995 Nhữngnăm gần đây, nhiều hộ gia đình, nhiều doanh nghiệp nhỏ ở đô thị cũng đã chútrọng đến đầu tư vào khu vực nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là một số lĩnhvực có thu nhập cao Có những gia đình đầu tư hàng chục tỷ đồng để xâydựng và phát triển các trang trại, trồng các loại cây công nghiệp, cây ăn quả
và chăn nuôi Theo dự tính, với mức tăng trưởng vốn đầu tư 4%/năm như hiệnnay, trong thời gian tới lượng vốn đầu tư của khu vực dân cư đô thị sẽ tăngnhanh và rất lớn
Trang 21ĐƠN VỊ 1988 1997
1997
Trang 22Nông - Lâm nghiệp.
1527,4 1195,6 331,8
132.6108.723,9
Trang 23Nguồn: Các chỉ tiêu thống kê Nông - lâm - thuỷ.
1.3.2 Nguồn von ho trợ phát triên chính thức (ODA).
Cùng với việc tăng vốn FDI, trong thời gian qua lượng vốn hồ trợ pháttriến chính thức (ODA) cũng tăng mạnh Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp vàphát triến nông thôn, số vốn ODA vào khu vực này giai đoạn 1993 - 1999 liêntục tăng và đạt 3,081 tỷ USD Trong đó, năm 1996 có số vốn ODA lớn nhấtđạt 0,683 tỷ USD số vốn này được tập trung chủ yếu cho xây dựng co sở hạtầng, phát triển giao thông nông thôn, các công trình thuỷ lợi, ca sdự án xoáđói giảm nghèo, ngoài ra còn có một số dự án hỗ trợ tín dụng nông thôn.Trong sổ các dự án phát triến cơ sở hạ tầng nông thôn gồm có các dự án giaothông nông thôn (35,41%), thuỷ lợi (23,22%), trồng rừng, cấp điện (9,7%),xây dựng các công trình công cộng như trường học, trạm bơm, chợ (18,5%).Nhìn chung, ODA chủ yếu tập trung vào Đồng bàng Bắc bộ (25%), ĐôngNam bộ (19,9%) và Đồng bằng Sông Cửu Long (12%)
về tình hình giải ngân, theo đánh giá của các chuyên gia, giải ngân các
dự án ODA vào phát triển nông nghiệp nông thôn cao hơn so với mức bìnhquân của cả nước, đạt khoảng 61,44%, đặc biệt các dự án xây dựng cơ sở hạtầng nông thôn khá tốt vì quy mô dự án nhỏ hẹp, nên tỷ lệ giải ngân cao
Như vậy, nhìn chung, vốn đầu tư nước ngoài đã đóng góp một lượngvốn tương đối lớn cho đầu tư phát triến nông nghiệp nông thôn Tuy nhiên,lượng vốn này vẫn chưa tương xứng với vai trò của nền nông nghiệp nước ta
Rõ ràng vốn đầu tư nước ngoài là rất cần đối với nước ta trong giai đoạn hiệnnay, vì vậy cần có nhiều biện pháp ưu đãi hơn nữa để thu hút nguồn vốn nàycho nông nghiệp nông thôn
1.4 Nguồn von tín dụng.
Rõ ràng vốn đầu tư từ các nguồn trên không thế đáp ứng đủ nhu cầuđầu tư của xã hội vào khu vực nông nghiệp nông thôn, trên thực tế chỉ đápứng được khoảng trên dưới 50% Chính vì vậy vai trò của nguồn vốn tín dụng
là không thế thiếu Hiện nay đang có nhiều tố chức tín dụng khác nhau cùngđáp ứng nhu càu vốn tín dụng cho nông nghiệp nông thôn, cụ thế là hệ thốngcác ngân hàng thương mại quốc doanh, một số ngân hàng cố phần, hệ thốngcác quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng người nghèo và các quỹ cho vay theochương trình 120, 327, 773 các ngân hàng nước ngoài có số dư tín dụng khácao nhưng số đầu tư vào khu vực nông nghiệp nông thôn không lớn lắm.Trong số đó thì Ngân hàng NNo&PTNT Việt Nam là chủ thể cung cấp tíndụng chủ yếu cho đầu tư vào nông nghiệp nông thôn Trong những năm qua,tổng nguồn vốn kinh doanh của hệ thống ngân hàng NNo&PTNT đã tăng lênnhanh chóng, tính đến hết quý 1-1998 đã lên đến 27.000 tỷ đồng Cùng vớicác chính sách huy động, các cơ chế và chính sách cho vay cũng thườngxuyên được cải tiến nên tổng mức dư nợ cũng tăng nhanh, từ 1.525 tỷ đồngvào năm 1991 lên đến 24.000 tỷ đồng vào quý 1-1998 Tuy nhiên, trong tổng
sổ dư nợ tính đến hết quý 1-1998 thì chỉ có khoảng gần 7.000 tỷ đồng, chiếm28% là dư nợ trung và dài hạn
Trong thời gian tới, việc khuyến khích đầu tư phát triến càng ngày càngđược cởi mở, thông thoáng thì nhu cầu vay vốn đế đầu tư phát triến trongnông nghiệp nông thôn cũng sẽ tăng lên Điều đó có nghĩa là nhu cầu vay vốntrung và dài hạn tăng, mức dư nợ tín dụng trung và dài hạn như hiệ nay còncách khá xa so với nhu cầu vay vốn Vì vậy cần có những điều chỉnh phù hợp
để tạo nguồn vốn tín dụng cung cấp đủ cho đầu tư phát triển nông nghiệpnông thôn
2 Co’ cấu đầu tư theo ngành và vùng lãnh thổ.
Cơ cấu đầu tư theo ngành và vùng kinh tế là 2 chỉ tiêu quan trọng củahoạt động đầu tư vào nông nghiệp nông thôn trong mọi thời kỳ phát triển.Việc chuyến dịch Cơ cấu đầu tư ngành, vùng theo thời gian luôn là những tínhiệu thế hiện xu hướng phát triển của nền kinh tế nông nghiệp nông thôn.Trong thời gian vừa qua, với các chính sách của Đảng và Nhà nước, Cơ cấuđầu tư ngành, vùng trong nông nghiệp nông thôn đã có bước phát triển nhấtđịnh
Do lịch sử phát triển để lại, trong cơ cấu đầu tư ba ngành Nông Lâm Ngư nghiệp, đầu tư cho ngành nông nghiệp vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong Cơcấu đầu tư khu vực nông nghiệp nông thôn Điều đó cũng phù hợp với điềukiện tự nhiên, nhu cầu của nền kinh tế và quy mô phát triển Thông thường,đầu tư cho nông nghiệp chiếm tỷ lệ từ 70 - 80%
-Cơ cấu đầu tư trong ngành nông nghiệp được xem xét qua cơ cấu củaphân ngành trồng trọt chăn nuôi như sau:
Xu hướng đầu tư trong những năm qua là chuyến dịch tù' trồng trọtsang chăn nuôi nhằm tăng giá trị sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, đáp
Trang 25+ Trạm, đội máy kéo 3,9
Vốn đầu tư cho Lâm nghiệp: Nhận thức được vai trò to lớn của ngành
lâm nghiệp, trong giai đoạn hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng chocông tác đầu tư phát triến lâm nghiệp Trong thời gian làm việc với lãnh đạotỉnh Kon Tum và Đăk Lăk tháng 9/2001, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đãphân tích khả năng làm giàu tù’ phát triển Rừng và khẳng định nhân dân cáctỉnh Tây Nguyên sẽ giàu lên từ nghề Rừng Đầu tư cho Lâm nghiệp có thểchia thành hai bộ phận:
- Trồng và nuôi rừng
- Khai thác gỗ và lâm sản
Với mục tiêu tăng diện tích che phủ rừng, đầu tư cho việc trồng rừng,nuôi rừng được chú trọng đúng mức, trong giai đoạn 1992-1994 đã đầu tư1.107 tỷ đồng đế hỗ trợ việc phát triến rùng, chủ yếu được thông qua chuôngtrình 327, sử dụng các nguồn tài trợ quốc tế như SIDA, PAM đế khuyếnkhích nhân dân tích cực nhận đất, nhận rừng, khoanh nuôi bảo vệ rừng hiện
có và đẩy mạnh việc trồng rừng mới Cụ thể là Chương trình 5 triệu ha rừngđang được đấy mạnh thực hiện ở các địa phương
Vốn đầu tư cho Thuỷ sản: Đất nước ta có lợi thế về vị trí địa lý, đó là
có bờ biển dài, thềm lục địa lớn, nguồn tài nguyên biến phong phú, đa dạng
và có giá trị kinh tế cao Kinh nghiệm quốc tế chỉ rõ: "Dân tộc nào sống xa lạvới biển, chỉ có quan niệm đất liền, không có nhận thức và hành động đúng vềbiển, là bảo thủ, tự trói mình, không thể thịnh vượng phát triển mà còn rơi vàolạc hậu, lệ thuộc"5 Nhận thức được vai trò của kinh tế biển, Đảng ta đã thôngqua Nghị quyết 03/NQTW ngày 6/5/1993: "Ve một số nhiệm vụ phát triểnkinh tế biển trong những năm trước mắt" Nước ta đã đầu tư phát triển kinh tếbiển và thu được nhiều kết quả quan trọng
Cùng với kinh tế biển, kinh tế thuỷ sản cũng được chú trọng đầu tư pháttriến mạnh với tư cách là một ngành kinh tế mũi nhọn Trong 5 năm 1996 -
2000 Tổng vốn đầu tư ngành thuỷ sản đạt 9.185.640 triệu đồng chiếm 1,83%tống vốn đầu tư toàn xã hội Trong đó, đầu tư nước ngoài đạt 545 tỷ đồng,vốn dân cư 1.700 tỷ đồng Tống vốn đầu tư được chia thành các bộ phận: đầu
Trang 262Tây Nguyên 1.921,1 1.919,3 1,8 2.002,4 2.000,2 2,2
Đông Nam Bộ 2.980,7 2.279,3 701,4 3.731,2 2.751,5 979,
7
Nguồn: Tổng hợp từ Tạp chí Thuỷ sản năm 2000-2001.
Cùng với chuyển dịch Cơ cấu đầu tư ngành trong nông nghiệp nôngthôn, Cơ cấu đầu tư vùng lănh thổ cũng dần được cải thiện:
Bảng : Vốn đầu tư cho nông, lâm nghiệp và thuỷ sản phân theo vùng kinh tế
Đơn vị: tỷ đồng