1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thảo luận kinh tế vĩ mô phân tích chính sách kích cầu của chính phủ việt nam ( chính sách tài khóa) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010 2014

29 1,8K 18

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 67,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những giải pháp mà chính phủ các nước đưa ra để cứu vãn tình thế này và khắc phục hậu quả của nó là tung ra các gói kích cầu nhằm kích thích nền kinh tế phát triển, thoát khỏi

Trang 1

Bài thảo luận Môn kinh tế vĩ mô

Nhóm 3

Đề tài 1 phân tích chính sách kích cầu của chính phủ việt nam ( chính sách tài khóa) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010- 2014

Trang 2

Lời mở đầu

Trong giai đoạn 2010- 2014, một vấn đề bức thiết gây chấn động địa cầu đã xảy ra

đó chính là cuộc khủng hoảng tài chính thế giới Nó bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ từ cuối năm 2007, kéo theo phản ứng dây chuyền lên toàn bộ nền kinh tế của các nước công nghiệp phát triển Kết quả là các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực trên nhiều khía cạnh Một trong những giải pháp mà chính phủ các nước đưa ra để cứu vãn tình thế này và khắc phục hậu quả của nó là tung ra các gói kích cầu nhằm kích thích nền kinh tế phát triển, thoát khỏi tình trạng suy thoái Chính phủ Việt Nam cũng hành động như vậy Sau thời gian hội nhập với nền kinh tế thế giới thì nền kinh tế Việt Nam đang đứng trước một nguy cơ và thách thức to lớn Để đối phó với khủng hoảng kinh tế giai đoạn năm 2010-2014 chính phủ việt nam đã dùng nhiều biện pháp để đẩy mạnh nền kinh tế bị ảnh hưởng xấu do khủng hoảng của việt nam Giai đoạn này

là giai đoạn chính phủ đây mạnh các gói kích cầu đặc biệt là chính sách tài khóa

Vì để giúp các bạn hiểu dõ hơn về chính sách này nên nhóm 3 chúng tôi đã thự

hiện đề tài: Đề tài 1 phân tích chính sách kích cầu của chính phủ việt nam

( chính sách tài khóa) nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2010- 2014

Trang 3

Nội dung

I khái niệm của chính sách kích cầu

Chính sách kích cầu là một chính sách của nhà nước đưa ra, thường được sử dụng khi nền kinh tế lâm vào trì trệ hoặc suy thoái, đang cần vực dậy Đặc biệt chính sách này hay được sử dụng khi nền kinh tế rơi vào trạng thái bẫy thanh khoản, là khi mà chính sách tiền tệ trở nên mất hiệu lực vì lãi suất đã quá thấp

Chính sách kích cầu đôi khi còn được gọi là chính sách Keynes vì biện pháp này tác động tới tổng cầu

Hai giả thuyết của Keynes bao gồm:

Thứ nhất, suy thoái bắt đầu từ năng lực dư thừa của nền sản xuất Biểu hiện của nú

là : yếu tố đầu vào không được sử dụng hết, thất nghiệp, máy móc bỏ bê, hàng hóa

Trang 4

ế thừa Hiện tượng dư cung khiến giá cả giảm nhưng lại càng không khuyến khích người mua, dẫn đến suy thoái.

Thứ hai, chính phủ có khả năng chi tiêu toàn bộ, thậm chí nhiều hơn thu nhập của mình Trong khi đó các khu vực khác lại chi tiêu ít hơn vì họ có khuynh hướng tiết kiệm Trong điều kiện suy thoái thì các doanh nghiệp ko muốn chuyển khoản tiết kiệm này sang đầu tư

Từ giả thuyết thứ nhất, ông cho rằng nền kinh tế bị suy thoái vì tạm thời không có

đủ cầu cho cung đang dư thừa Từ giả thuyết thứ hai, ông cho rằng chính phủ mới

có khả năng chi tiêu mạnh tay – dựa trên ý chí của mình – ngay cả khi nền kinh tế đang suy thoái

Từ đó ông đề xuất một phương án: dịch chuyển sức mua từ khu vực dân cư và tư nhân vào tay chính phủ để tăng cầu hiệu lực đưa nền kinh tế ra khỏi cái bẫy đình đốn vì thiếu sức mua, kích thích tổng cầu

Mục tiêu của gói kích cầu là tại thêm cầu để đối ứng với năng lực sản xuất hiện tại của nền kinh tế khi suy thoái, tránh để dư thừa năng lực sản xuất ở mức quá cao gây lãng phí nguồn lực cũng như gây ra những vấn đề về xã hội do thất nghiệp tăng cao gây ra

Nếu không nhanh chóng ngăn chặn, thất nghiệp sẽ tiến đến ngưỡng nguy hiểm đẩy suy giảm kinh tế vào vòng xoáy luẩn quẩn: thất nghiệp sẽ dẫn đến cắt giảm thu nhập (thực tế và kỳ vọng) làm giảm tiêu dùng, càng làm khó khăn về đầu ra của doanh nghiệp phải tiếp tục cắt giảm sản xuất và lao động, đẩy thất nghiệp tăng lên

ở vòng tiếp theo và cứ tiếp tục như vậy Do vậy mục đích lớn nhất của gói kích cầu

là duy trì việc làm

Trang 5

Theo lý luận của nhà kinh tế học Lawrence Summers (giáo sư kinh tế, từng là hiệu trưởng trường đại học Harvard, và cố vấn kinh tế cho tổng thống Mỹ Obama), một gói

kích cầu có hiệu quả phải đảm bảo ít nhất 3 tiêu chí

- Nguyên tắc số 1 – Kích cầu phải kịp thời:

Kích cầu phải kịp thời có nghĩa là khi chính phủ thực hiện gói kích cầu thì những biện

pháp kích cầu này phải có hiệu ứng kích thích ngay, làm tăng chi tiêu ngay trong nền kinh

tế

- Nguyên tắc số 2 – Kích cầu phải đúng đối tượng:

Mức độ “đúng đối tượng” của gói kích cầu của Chính phủ phụ thuộc vào:

• Mức độ chi tiêu của các đối tượng nhận được thu nhập nhờ có gói kích cầu thôngqua tác động lan tỏa diễn ra trong nhiều vòng

• Mức độ “rò rỉ” ra hàng ngoại nhập của các chi tiêu đó ở trong mỗi vòng của tác động lan tỏa

Ở thế giới cũng như ở Việt Nam, những người có thu nhập thấp thường có mức tiêu dùng

cao trên 1 đồng thu nhập có thêm được và thường tiêu dùng hàng nội địa Do vậy, nếu

kích cầu đúng nhóm đối tượng này thì đạt đồng thời cả hai mục tiêu là hiệu quả và công

bằng, khác với sự đánh đổi giữa hiệu quả và công bằng mà trong kinh tế thường gặp

- Nguyên tắc số 3 – Kích cầu chỉ được thực hiện trong ngắn hạn:

Trang 6

Nguyên tắc ngắn hạn có nghĩa là sẽ chấm dứt kích cầu khi nền kinh tế được cải thiện

Nguyên tắc ngắn hạn có hai ý nghĩa:

• Gói kích cầu thực hiện trong ngắn hạn sẽ làm tăng hiệu quả gói kích cầu

• Chỉ kích cầu trong ngắn hạn để không làm ảnh hưởng tới tình hình ngân sách trong dài hạn

II Chính sách tài khóa trong gói kích cầu

Một trong những gói kích cầu của chính phủ Việt Nam , một cánh tay đắc lực trongviệc điều chỉnh kinh tế của chính phủ chính là chính sách kích cầu

1 Khái niệm

Chính sách tài khóa là một công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô được Chính phủ

sử dụng để huy động, phân phối và sử dụnghiệu quả các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia

2.Mục tiêu:

- Ngắn hạn: Tăng trưởng sản lượng, ổn định giá, giảm tỷ lệ thất nghiệp và cân bằng cán cân thanh tóan

- Dài hạn: Điều chỉnh cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế dài hạn

3 Công cụ , phân loại chính sách kích cầu

3.1 Các công cụ của chính sách tài khóa:

Hai công cụ chính của chính sách tài khóa là chi tiêu của chính phủ và hệ thống thuế Những thay đổi về mức độ và thành phần của thuế và chi tiêu của chính phủ

có thể ảnh hưởng đến các biến số sau trong nền kinh tế:

- Tổng cầu và mức độ hoạt động kinh tế

- Kiểu phân bổ nguồn lực

Trang 7

- Phân phối thu nhập

3.1.1 Thuế:

Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nướctheo mức độ và thời hạn được pháp luật qui định nhằm sử dụng cho mục đích côngcộng Đây là một thuộc tính cơ bản vốn có của thuế để phân biệt thuế với các hình thức huy động tài chính khác

3.1.2 Chi tiêu chính phủ:

Chi tiêu của chính phủ nhằm thỏa mãn nhu cầu của Nhà nước đối với việc thực hiện các mục tiêu chungtoàn xã hội Chi tiêu chính phủ bao gồm hai loại: chi tiêu công cộng (hoặc gọi là các khoản chi thường xuyên) và chi đầu tư xây dựng cơ bản

3.2 Phân loại chính sách tài khóa

Chính sách tài khóa liên quan đến tác độngtổng thể của ngân sách đối với hoạt động kinh tế Có các loại chính sách tài khóa điển hình là trung lập, mở rộng, và thu gọn

3.2.1Chính sách trung lập:

Là chính sách cân bằng ngân sách, khi đó G = T (G: chi tiêu chính phủ, T: thu nhập

từ thuế) Chi tiêu của chính phủ hoàn toàn được cung cấp do nguồn thu từ thuế và nhìn chung kết quả có ảnh hưởng trung tính lên mức độ của các hoạt động kinh tế

3.2.2 Chính sách mở rộng:

Là chính sách tăngcườngchi tiêu của chính phủ (G > T) thông qua chi tiêu chính phủ tăng cường hoặc giảm bớt nguồn thu từ thuế hoặc kết hợp cả 2 Việc này sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách nặng nề hơn hoặc thặng dư ngân sách ít hơn nếu trước

Trang 8

Giả sử nền kinh tế đang lâm vào tình trạng suy thoái và thất nghiệp Các doanh nghiệp, các nhà đầu tư sẽ không muốn đầu tư thêm, còn người tiêu dùng cũng không muốn chi tiêu thêm nữa Lúc này tổng cầu ở mức rất thấp Trong hoàn cảnh này để mở rộng tổng cầu chính phủ phải tăng chi tiêu hoặc giảm thuế, nâng cao mức chi tiêu chung của nền kinh tế làm cho sản lượng tăng thêm và mức việc làm

có thể đầy đủ có thể được khôi phục

Xét trên mô hình kinh tế, với: AD là đường tổng cầu

Y là mức sản lượng

P là mức giá

Mức sản lượng Y1 – tương ứng với đường tổng cầu AD1

Mức sản lượng Y0 – tương ứng với đường tổng cầu AD0 – Đây là mức sản lượng tiềm năng trên thị trường cân bằng, tức là cung = cầu

Khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suy thoái và thất nghiệp, mức sản lượng trên thị trường lúc này là Y1 < Y0

Trang 10

AD00

Nhưng trên thực tế, khi thực hiện chính sách tài khóa mở rộng cần lưu

ý đó là: Khi AD1 tiến đến AD thì chính phủ phải dừng thực hiện chính sách này ngay vì nếu tiếp tục thực hiện thì đường cầu AD1 sẽ dần tiến tới AD2, khi đó Y1 tiến tới Y2 > Y* Trong trường hợp này, mức sản lượng thực tế cao hơn mức sản lượng tiềm năng, nền kinh tế bị áp lực cao của lạm phát Biện pháp áp dụng để giảiquyết vấn đề mà các chính phủ đã sử dụng đó là: giảm chi tiêu và tăng thuế, nhờ đómức chi tiêu chung giảm đi, sản lượng sẽ giảm theo và lạm phát chững lại

Theo lý thuyết trên chúng ta thấy rằng nền kinh tế luôn biến động và ít khi ở trạng thái hoàn hảo ( cung = cầu ) Do vậy, chính phủ phải tác động vào nền kinh tế bằngcác chính sách của mình để điều chỉnh nó cho phù hợp và đạt hiệu quả tối ưu.Xét trong mô hình nền kinh tế giản đơn như trong lý thuyết của Keynes thì chính sách tài khóa có thể là phương thuốc hữu hiệu để ổn định nền kinh tế Tuy nhiên trong thực tế, chính sách tài khóa không có đủ sức mạnh đến như vậy, đặc biệt là

Trang 11

trong nền kinh tế hiện đại Do đó mà các nền kinh tế thị trường luôn không ổn định, chu kỳ kinh doanh chưa được khắc phục hoàn toàn Trước khi nghiên cứu những vấn đề áp dụng chính sách tài khóa trong thực tiễn, chúng ta cùng xem xet một cơ chế đặc biệt của chính sách này Đó là cơ chế ổn định tự động.

Thật vậy, hệ thống tài chính hiện đại có những yếu tố tự ổn định mạnh mẽ, đó là: Những thay đổi tự động về thuế Hệ thống thuế hiện đại bao gồm thuế thu nhập lũytiến với thu nhập cá nhân và lợi nhuận của doanh nghiệp Khi thu nhập quốc dân tăng lên, số thu về thuế tăng theo, và ngược lại khi thu nhập giảm, thuế giảm ngay mặc dù Quốc hội chưa kịp điều chỉnh thuế suất Vì vậy, hệ thống thuế có vai trò như là một bộ tự ổn định tự động nhanh và mạnh

Yếu tố thứ hai sau tự ổn định sau thuế chính là hệ thống bảo hiểm Bởi trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý xã hội, cải tạo và chinh phục tự nhiên, dù có tri thức ngày càng cao, con người vẫn phải đối mặt nhiều hơn với khả năng xảy ra tai họa từ nhiều phía, do chính bản thân con người, do những phương tiện thiết bị của con người tạo ra Trước mối đe dọa thường ngày như vậy, các cá nhân, doanh nghiệp có thể thực hiện biện pháp tự bảo hiểm, nhưng tự bảo hiểm là biện pháp hiệu quả thấp và không kinh tế Do vậy tổ chức và cá nhân có nhu cầu được bảo hiểm và sử dụng nó để chia sẻ khi rủi ro xảy ra thông qua hoạt động của các công

ty bảo hiểm Trong nền kinh tế hiện nay, hệ thống bảo hiểm bao gồm bảo hiểm thấtnghiệp và các chuyển khoản mang tính chất xã hội khác Hệ thống này hoạt động khá nhạy cảm

Điều này được hiểu như sau: Khi mất việc hay thất nghiệp thì người thất nghiệp sẽ được nhận một khoản trợ cấp – đó là trợ cấp thất nghiệp từ nhà nước Và đương nhiên là khi có việc làm thì khoản trợ cấp này sẽ không còn nữa Như vậy, hệ thống bảo hiểm bơm tiền vào và rút tiền ra khỏi nền kinh tế, ngược lại chiều hướngcủa chu kỳ kinh doanh góp phần ổn định hệ thống kinh tế Tuy nhiên, những nhân

tố ổn định tự động chỉ có tác dụng làm giảm một phần các dao động của nền kinh

tế, mà không xóa bỏ hoàn toàn những dao động đó Phần còn lại đặt trên vai các chính sách tài chính và tiền tệ chủ động của chính phủ

qua các dự án công cộng, xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển việc làm và trợ cấp xã hội Thực tế cho thấy, ngoài một số dự án công cộng thực hiện thành công, đa số các dự án tỏ ra kém hiệu quả kinh tế

Trang 12

III thực trạng nền kinh tế việt nam giai đoạn 2010-

2014

3.1.Tăng trưởng GDP

Năm 2014, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 5.98%, cao hơn hẳn mức 5,42% của năm

2013 Mức tăng trưởng trên cao hơn so với chỉ tiêu 5.8% mà Chính phủ đề ra và vượt ngoài dự đoán của các chuyên gia, tổ chức trong và ngoài nước

Tăng trưởng năm 2014 vẫn diễn ra theo kịch bản cũ “tiếp tục hồi phục, tăng trưởngquý sau cao hơn quý trước” (H.1.1) Điểm nhấn là tăng trưởng bất ngờ ở quý 3 (6.07%) và quý 4 (6.96%) làm cho mức tăng trưởng cả năm cao hơn hẳn so với 3 năm trở lại đây

Tuy nhiên, mức hồi phục này vẫn còn thấp, chưa vượt qua mức 6% và chưa thực

sự bền vững Trên thực tế, tốc độ tăng trưởng năm 2014 thấp hơn khá xa mức tăng trưởng bình quân của giai đoạn 1990-2010 (H.1.2) Trong mức tăng chung, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng cao nhất 7.14%, cao hơn nhiều so với năm trước

3.2 Ngành nông nghiệp

Tốc độ tăng trưởng của nhóm ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2014 cao hơn so với 3 năm trở lại đây nhưng vẫn thấp hơn so với giai đoạn 2006-2010 Tuy nhiên, một thực tế của ngành này là nhập khẩu đầu vào lớn, bao gồm giống, thiết bịvật tư, thuốc trừ sâu, nguyên liệu Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, giá trị nhập khẩu của toàn bộ ngành trong 11 tháng năm 2014 ước tính 19.78 tỷ

Trang 13

USD Điều này chứng tỏ khả năng sản xuất, cung ứng trong nước bị phụ thuộc ngày càng nhiều từ bên ngoài Nhiều mặt hàng nông sản (chè, cà phê, cao su), thủyhải sản (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá basa) xuất khẩu ra thị trường thế giới với sản lượng lớn nhưng “không bền vững” do chất lượng và giá trị gia tăng thấp Nông nghiệp nói chung vẫn chủ yếu phát triển “quảng canh”, chưa thật rõ định hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại, phát triển theo chiều sâu, chất lượng và hiệu quả Tuy năm 2014 đánh dấu sự chuyển hướng trong tái cơ cấu ngành, song

xu hướng chi phối vẫn là “sản lượng cao, tiêu tốn nhiều nguồn lực, chất lượng thấp

và giá trị gia tăng thấp”

Điểm sáng của ngành là đã có những đột phá mạnh trong ứng dụng rộng rãi khoa học kĩ thuật, công nghệ cao, với sự tham gia của ngày càng nhiều doanh nghiệp lớnvào sản xuất nông nghiệp Xu hướng tuy mới bắt đầu nhưng có khả năng lan tỏa nhanh

3.3 Ngành công nghiệp

Sản xuất công nghiệp năm 2014 phục hồi đáng kể ở tất cả các nhóm ngành Tính

cả năm 2014, chỉ số sản xuất toàn ngành ước tăng 7.6% so với năm 2013, cao hơn nhiều mức tăng 5.9% của năm 2013

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/12/2014 tăng 10% so cùng kỳ năm 2013 Tính cả năm 2014, chỉ số tồn kho ngành công nghiệp chế biến tăng 12%, thấp hơn cùng kỳ 2013 là 0.87 điểm % Chỉ số quản trị mua hàng PMI từ tháng 9 năm 2013 đã liên tục cao hơn ngưỡng 50 điểm

3.3.1 Các nhà quản trị mua hàng đều nhận thấy điều kiện kinh doanh trong nước đang được cải thiện rõ rệt.

Trang 14

Tuy nhiên, về thực chất, nền công nghiệp nước ta là nền công nghiệp định hướng phi công nghệ[1] Theo báo cáo của Bộ KHCN năm 2012, phần lớn các doanh nghiệp nước ta sử dụng công nghệ tụt hậu so với mức trung bình của thế giới 2-3 thế hệ Khoảng 80%-90% công nghệ Việt Nam đang sử dụng là ngoại nhập 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 1950-1960, 75% sốthiết bị đã hết khấu hao, 50% là đồ tân trang Tính chung các doanh nghiệp, mức

độ thiết bị hiện đại chỉ có 10%, trung bình 38%, lạc hậu và rất lạc hậu 52% Tỷ lệ

sử dụng công nghệ cao chỉ 2% so với 31% của Thái Lan, 51% của Malaysia, 73% của Singapore Các doanh nghiệp Việt Nam thờ ơ với công nghệ, ít có động lực sáng tạo; còn các công ty có vốn đầu tư nước ngoài cũng không quan tâm tới

nghiên cứu phát triển vì vấn đề này được thực hiện tại công ty mẹ Các công ty nàychỉ chú trọng khai thác nguồn nhân lực và nguyên liệu rẻ của Việt Nam Chính vì vậy, ở Việt Nam, ngành công nghiệp phụ trợ khó có thể phát triển, chủ yếu “khiêmtốn” đảm nhận công đoạn “công nghệ thấp” - gia công và lắp ráp

Năm 2014, ngành xây dựng bắt đầu hồi phục Nhiều dự án giao thông được khởi công và đẩy nhanh tiến độ, nhất là các dự án đường cao tốc, các dự án phát triển hạtầng xã hội sử dụng vốn Nhà nước, vốn ODA Điển hình như dự án: Đường cao tốc

Hà Nội- Lào Cai, cầu Nhật Tân - nối sân bay Nội Bài, nhà ga T2 Nội Bài, đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng…

Thị trường bất động sản có tín hiệu phục hồi Nhiều dự án phát triển nhà ở được hoàn thành và bàn giao trong năm 2014, đặc biệt là phân khúc nhà chung cư giá trung bình và rẻ Thị trường vật liệu xây dựng không có biến động lớn, góp phần giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp xây dựng Mặc dù vậy, đó chỉ là quá trìnhphục hồi chậm chạp

Tình trạng nợ đọng xây dựng từ những năm trước của các doanh nghiệp vẫn chưa

có hướng giải quyết triệt để Nhiều doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận vốn,nhất là các doanh nghiệp vừa v à nh ỏ

Ngày đăng: 18/01/2016, 14:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w