KIỀU THỊ THANH HUYỀN BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục Mã số: 60.14.05 LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢ
Trang 1KIỀU THỊ THANH HUYỀN
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 2KIỀU THỊ THANH HUYỀN
BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH
TẾ - KỸ THUẬT ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý Giáo dục
Mã số: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
GS.TSKH NGUYỄN VĂN HỘ
THÁI NGUYÊN - 2012
Trang 3Lời cảm ơn
Với tình cảm chân thành, tác giả luận văn xin được bày tỏ lòng biết ơn tới:
- Các thầy cô giáo khoa Tâm lý - Giáo dục, phòng Đào tạo và Quản lý
khoa học, khoa sau Đại học, trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tận
tình giảng dạy và giúp đỡ em trong thời gian học tập và nghiên cứu
- Ban giám hiệu, các phòng ban chức năng và các khoa của trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện để
tôi được tham gia khóa học này
- Gia đình, bạn bè và đồng nghiệp, những người luôn sát cánh động viên
và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn
- Đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của GS-TSKH Nguyễn Văn Hộ -
Nguyên hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên người
đã hết lòng chỉ bảo, động viên và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và
thực hiện luận văn để tác giả có thể hoàn thành luận văn này
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng do khả năng và kinh nghiệm còn hạn
chế nên khó tránh khỏi những sai sót Tác giả kính mong được sự góp ý, chỉ
dẫn của quý thầy cô và các anh chị đồng nghiệp
Thái Nguyên, tháng năm 2012
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
7.3 Phương pháp chuyên gia 5
7.4 Phương pháp toán thống kê 5
8 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG 6
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.2 Một số khái niệm cơ bản 8
1.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục 8
1.2.2 Quản lý đội ngũ giảng viên 9
1.3 Đội ngũ giảng viên và phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng 11
1.3.1 Trường cao đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân 11
1.3.2 Đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng 12
1.3.3 Phát triển đội ngũ giảng viên 16
* Kết luận chương 1 20
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN
ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ
KỸ THUẬT THUỘC ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 21
2.1 Khái quát chung về đại học Thái Nguyên và Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật 21
2.1.1 Khái quát chung về Đại học Thái Nguyên 21
2.1.2 Khái quát về Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật 25
2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên của trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật thuộc ĐHTN 28
2.2.1 Thực trạng về số lượng 28
2.2.2 Thực trạng về chất lượng 32
2.2.3 Về cơ cấu 36
2.2.4 Đánh giá chung về đội ngũ giảng viên 38
2.3 Thực trạng về công tác phát triển đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật 40
2.3.1 Sự cần thiết phải phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường 40
2.3.2 Mục tiêu phát triển đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên 41
2.3.3 Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường 43
* Kết luận chương 2 50
Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT THUỘC ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 51
3.1 Định hướng phát triển của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên 51
3.2 Nguyên tắc đề ra các biện pháp 52
Trang 63.3 Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ
thuật thuộc Đại học Thái Nguyên 53
3.3.1 Biện pháp 1: Lập quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên 53
3.3.2 Biện pháp 2: Đào tạo bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho ĐNGV 58
3.3.3 Biện pháp 3: Sử dụng hợp lý đội ngũ giảng viên hiện có 63
3.3.4 Biện pháp 4: Xây dựng và hoàn thiện chế độ chính sách đối với giảng viên 66
3.3.5 Biện pháp 5: Tăng cường các điều kiện bảo đảm cho giảng viên thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và NCKH 68
3.3.6 Mối quan hệ giữa các biện pháp 71
3.4 Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp 72
* Kết luận chương 3 74
KẾT LUẬN 75
KHUYẾN NGHỊ 76
1 Với Đại học Thái Nguyên 76
2 Đối với trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 78
Phụ lục 1: 80
Phụ lục 2: 83
Phụ lục 3: 86
Phụ lục 4: 88
Phụ lục 5: 89
Trang 7NHỮNG CỤM TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 8DANH MỤC BẢNG LUẬN VĂN
Bảng 2.1 Bảng thống kê số lượng giảng viên từ năm 2008 – 2011 29
Bảng 2.2 Bảng thống kê hiện trạng CBGV ở các khoa tính đến năm học 2010 - 2011 29
Bảng 2.3 Thống kê trình độ chuyên môn cán bộ giảng dạy (từ năm 2008 đến 2011) 32
Bảng 2.4 Thống kê trình độ cán bộ giảng dạy theo khoa (tính đến năm học 2011) 33
Bảng 2.5 Bảng thống kê cơ cấu giới tính đội ngũ giảng viên 36
Bảng 2.6 Tổng hợp trình độ chuyên môn của giảng viên toàn trường đến năm học 2010 - 2011 38
Bảng 2.7 Bảng thống kê số lượng CBGV được đào tạo hàng năm 45
Bảng 3.1 Nhận thức về tính cấp thiết của các biện pháp đã nêu 72
Bảng 3.2 Nhận thức về tính khả thi của các biện pháp 73
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong thế kỷ hội nhập và cạnh tranh - thế kỷ XXI, tất cả các quốc gia đều tìm kiếm con đường phát triển cho riêng mình: dựa vào nguồn vốn đầu tư, dựa vào tài nguyên, dựa vào lợi thế địa lý, chính trị, kinh tế Song có thể nói rằng, hầu hết các quốc gia đều thống nhất: nguồn lực con người là quan trọng nhất và giáo dục là con đường cơ bản nhất để phát huy nguồn lực con người, phục vụ cho sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia
Chính vì vậy, Đảng và Nhà nước luôn coi trọng công tác giáo dục - đào
tạo và khoa học - công nghệ Quan điểm “Con người Việt Nam vừa là động
lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội” đã trở thành nền tảng
tư tưởng của Đảng ta để chỉ đạo phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá (CNH, HĐH); thực hiện dân giàu, nước mạnh,
xã hội công bằng, dân chủ và văn minh Để đạt được mục tiêu ấy, giáo dục -
đào tạo (GD - ĐT) có vai trò đặc biệt quan trọng là “Quốc sách hàng đầu”
“Chất lượng giáo dục có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển kinh tế -
xã hội” và “đội ngũ nhà giáo là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục” Chỉ
có quản lý, xây dựng, phát triển, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo mới nâng cao chất lượng giáo dục
UNESCO đã nhấn mạnh rằng: "Vai trò của giảng viên vẫn là chủ yếu
mặc dù cải cách giáo dục đang xảy ra" Quyết định số 09/2005/QĐ-TTr ngày
11/1/2005 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt đề án: "Xây dựng đội
ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ cơ cấu đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm, nghề nghiệp
và trình độ chuyên môn của nhà giáo…"
Trang 10Giáo dục Đại học có vai trò quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, trong đó đội ngũ giảng viên trong nhà trường đóng vai trò quyết định chất lượng đào tạo Đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng và Đại học có nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng, nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những người công dân vừa có đức lại vừa có trình độ
kỹ thuật tiên tiến… để góp phần "nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi
dưỡng nhân tài" cho đất nước
Chính vì vậy mà việc phát triển đội ngũ giảng viên ở trường Đại học, Cao đẳng là việc làm cần thiết, cấp bách hiện nay Trường Cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên là một trường đào tạo đa ngành, đa nghề Nhiệm vụ của trường là: Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có trình độ cao đẳng và các trình độ thấp hơn trong các lĩnh vực: Kinh tế, kỹ thuật công nghiệp, kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật giao thông, kỹ thuật quản lý đất đai, kỹ thuật nông lâm và đào tạo nghề Song song với việc đào tạo, trường có nhiệm
vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế vùng Trung du và miền núi phía Bắc Trong những năm qua, được sự quan tâm đầu tư của Bộ Giáo dục và Đào tạo - Đại học Thái Nguyên và ủy ban Nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thực hiện
sứ mệnh, nhiệm vụ được giao, khẳng định được chức năng đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho tỉnh Thái Nguyên và một số tỉnh khác Định hướng trong những năm tiếp theo: Trường phấn đấu xây dựng, phát triển trở thành một trường Đại học đa cấp, đa ngành đào đạo nguồn nhân lực có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp cao đáp ứng nhu cầu xây dựng, phát triển kinh tế trong khu vực và toàn quốc Trên cơ sở mục tiêu đó, Nhà trường xác định nhiệm vụ trọng tâm là tập trung mọi nguồn lực, không
Trang 11ngừng nâng cao chất lượng giảng viên, chất lượng đào tạo Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, đội ngũ giảng viên của trường còn chưa đáp ứng được vì:
- Số lượng giảng viên của trường có trình độ cao còn thiếu, chưa đáp ứng được mục tiêu của Nhà trường đề ra trong tương lai
- Trình độ giảng viên không đồng đều, khả năng nghiên cứu khoa học, khả năng tự học, tự bồi dưỡng của đội ngũ giảng viên mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng chưa đạt được mức cao
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: "Biện
pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên"
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển nhà trường trong giai đoạn tới
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng Kinh
tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên
4 Giả thuyết khoa học
Đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên đã được quan tâm xây dựng và phát triển Song đứng trước yêu cầu phát triển nhà trường, đội ngũ giảng viên vẫn còn nhiều bất cập Nếu phân tích rõ được nguyên nhân những bất cập của đội ngũ giảng viên thì có thể đề ra được các biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên phù hợp với đặc
Trang 12điểm của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật với tư cách là một trường Cao đẳng nằm trong đại học vùng
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xác định cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ nhà giáo nói chung và đội ngũ giảng viên các trường Cao đẳng, Đại học nói riêng
5.2 Đánh giá thực trạng đội ngũ giảng viên và công tác phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên
5.3 Đề xuất một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật - ĐHTN đáp ứng yêu cầu phát triển nhà trường
6 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên trong giai đoạn 2010-2014, đề ra một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên của nhà trường trong giai đoạn 2010 - 2014
7 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, trong quá trình nghiên cứu, tác giả (luận văn) sẽ kết hợp sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phương pháp này sử dụng nhằm phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các văn bản của Đảng, Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Đại học Thái Nguyên Về nguồn nhân lực nhằm phát triển đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc ĐHTN
Thu thập và phân tích các dữ liệu, từ đó nghiên cứu và rút ra các cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài nghiên cứu
Trang 137.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn các hoạt động quản lý, giảng dạy học tập trong nhà trường Từ đó rút ra một số kết luật liên quan đến
vấn đề nghiên cứu như sau:
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, sử dụng phiếu trưng cầu ý kiến
để thu thập thông tin cần thiết về thực trạng đội ngũ giảng viên hiện nay
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi các biện pháp đề xuất, phương pháp mô hình hóa
7.3 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến chuyên gia về biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên Trao đổi phỏng vấn với các cán bộ quản lý có kinh nghiệm, đội ngũ giảng viên lâu năm có uy tín, thế hệ giảng viên trẻ mới vào nghề…
7.4 Phương pháp toán thống kê
Phương pháp này dùng để thống kê số lượng, chất lượng đội ngũ giảng viên, HSSV Sử lý các số liệu đã thống kê, kiểm định độ tin cậy của các số liệu do các phương pháp nghiên cứu khác mang lại
8 Cấu trúc của luận văn
Bao gồm phần mở đầu và 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển đội ngũ giảng viên trường cao đẳng Chương 2: Thực trạng đội ngũ và công tác phát triển đội ngũ giảng viên
trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên
Chương 3: Một số biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên
Kết luận và khuyến nghị
Trang 14có đội ngũ giảng viên Nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cũng như thực tiễn GD của Việt Nam, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản lý và phát triển nguồn nhân lực GD và đã đạt được một số thành công ở một số mặt nhất định như:
Trang 15- “Đầu tư cho đội ngũ giảng viên là đầu tư cho chất lượng” của Nguyễn
Kim Hồng [20]
- “Phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu phát triển nguồn lực” của
Phan Văn Kha [22]
- “Một số cách tiếp cận trong nghiên cứu và phát triển đội ngũ GV” của
Bùi Văn Quân [30];
- “Về nội dung quản lý đội ngũ GV ĐH, CĐ trong thời kỳ đổi mới” của
Dương Đức Báu [3];
- “Thực trạng và một số giải pháp xây dựng đội ngũ GV các trường ĐH,
CĐ” của Phạm VănThanh [36];
- “Một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng ĐT nguồn nhân lực tại
trường ĐH” của Nguyễn Ánh Hồng [19];
Nhiều đề tài nghiên cứu có tính chuyên đề đi sâu các vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý xây dựng và phát triển độ ngũ GV như:
- “Các giải pháp xây dựng phát triển đội ngũ GV trường ĐH Giao thông
Vận tải theo hướng chuẩn hóa” của Phạm Văn Toàn [39];
- “Nghiên cứu khoa học của giảng viên ĐH – một yếu tố đảm bảo chất
lượng ĐT” của Nguyễn Ngọc Lan [25];
- “Logic nội dung và các nhiệm vụ nghiên cứu đề tài về giải pháp quản lý
GD” của Nguyễn Phúc Châu [8]
Ngoài những công trình nghiên cứu và báo cáo khoa học nêu trên, có nhiều luận văn ThS được công bố đã đề xuất được những giải pháp khả thi về quản lý, xây dựng và phát triển đội ngũ GV phù hợp hoàn cảnh thực tế tại các địa bàn cụ thể như:
- “Thực trạng và biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Đại học
Sư phạm Tp.Hồ Chí Minh”, tác giả Nguyễn Kỷ Trung [41]
Trang 16- “Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng
Sư phạm Đăk Lăk”, tác giả Phạm Văn Luật [27]
- “Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Cao
đẳng Sư phạm Phú Yên”, tác giả Lê Bạt Sơn [33]
Những công trình nghiên cứu kể trên đã tập trung hệ thống hóa những cơ
sở lý luận chung và khảo sát thực trạng về đội ngũ giảng viên ở các địa phương khác nhau
Ở trường Cao đẳng Kinh tế - kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên việc nghiên cứu thực trạng đội ngũ, từ đó đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ giảng viên của trường về chất lượng là vấ đề mới, chính vì vậy tác giả chọn
nghiên cứu đề tài “Biện pháp phát triển đội ngũ giảng viên ở Trường Cao
đẳng Kinh tế - Kỹ thuật – Đại học Thái Nguyên”
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục, quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục
1.2.1.1 Quản lý
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đã đề ra [44]
Có thể xem Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng tới khách thể thông qua việc thực hiện các chức năng quản lý, bằng những công cụ và
phương pháp mang tính đặc thù nhằm đạt được mục tiêu chung của toàn hệ thống
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động Chính
sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt hiệu quả, năng suất cao hơn trong công việc đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý Đây là hoạt động để người lãnh đạo tập hợp sức mạnh của các thành viên trong nhóm, trong tổ chức đạt được mục tiêu đề ra
Trang 171.2.1.2 Quản lý giáo dục
Công việc quản lý đã xuất hiện tất yếu do yêu cầu của việc tổ chức lao động chung Quản lý ra đời là để tạo ra hiệu quả hoạt động cao hơn so với việc làm riêng lẻ của các cá nhân có chung mục tiêu hoạt động
Quản lý giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp, huy động các lực lượng giáo dục và xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả công việc giáo dục; không chỉ là sự nghiệp của các nhà trường, của ngành GD-ĐT mà là sự nghiệp chung của cả xã hội [26]
Quản lý giáo dục là quản lý quá trình giáo dục - đào tạo, là quản lý hoạt động của người dạy, người học và quản lý các tổ chức sư phạm ở các cơ sở khác nhau trong việc thực hiện các kế hoạch, chương trình GD-ĐT nhằm đạt
được cá mục tiêu GD - ĐT đặt ra
Quản lý giáo dục là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức, điều phối, điều chỉnh, giám sát, … một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội
1.2.2 Quản lý đội ngũ giảng viên
* Quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục
- Nguồn nhân lực:
Nhân lực là “ Sức người, về mặt dùng trong lao động sản xuất ”[45]
Nguồn nhân lực là một khái niệm cơ bản, là đối tượng nghiên cứu của môn khoa học Quản lý tổ chức: Môn quản trị học Từ góc độ quản trị học, nguồn nhân lực được hiểu là nguồn tài nguyên nhân sự và các vấn đề nhân sự trong tổ chức cụ thể Nguồn nhân lực chính là vấn đề nguồn lực con người, nhân tố con người trong một tổ chức cụ thể nào đó Điều này cũng có nghĩa là
“Nguồn nhân lực phải được thừa nhận là nguồn vốn và là tài sản quan trọng
nhất của mọi loại hình quy mô tổ chức ” [9]
Trang 18Theo UNESCO “Con người vừa là mục đích, vừa là tác nhân của sự
phát triển” và “Con người được xem như là một tài nguyên, một nguồn lực hết sức cần thiết” [36] Ngân hàng thế giới quan niệm có hai loại vốn: “Vốn con người và vốn vật chất, trong đó sự phát triển vốn con người quyết định sự phát triển của mọi vốn khác” [9]
- Quản lý nguồn nhân lực
Quản lý nguồn nhân lực là tìm mọi cách tạo điều kiện thuận lợi cho các thành viên trong tổ chức hoàn thành tốt các mục tiêu chiến lược và kế hoạch của tổ chức, tăng cường cống hiến của mọi người theo khả năng, phù hợp với chiến lược của tổ chức, đạo đức và xã hội [18]
Quản lý nguồn nhân lực là một chức năng quản lý của nhà quản lý, thể hiện trong việc lựa chọn, đào tạo, xây dựng và phát triển các thành viên của tổ chức do mình phụ trách
Quản lý nguồn nhân lực là một quá trình bao gồm thu nhận, sử dụng và phát triển lực lượng lao động của một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu tổ chức có hiệu quả Các hoạt động chủ yếu quản lý nguồn nhân lực gồm: Kế hoạch hóa nguồn nhân lực, tuyển chọn-sử dụng-bồi dưỡng-phát triển nguồn nhân lực, kiểm tra hoạt động, điều chỉnh: đề bạt, luân chuyển hoặc thải hồi Theo Leonard Nadlerd (Mỹ), nhiệm vụ của quản lý nguồn nhân lực bao gồm:
Một là, sử dụng nguồn nhân lực: Tuyển dụng; Sàng lọc; Bố trí; Đánh giá;
Đãi ngộ; Kế hoạch hóa sức lao động
Hai là, phát triển nguồn nhân lực: Giáo dục; Đào tạo; Bồi dưỡng; Phát
triển; Nghiên cứu, phục vụ
Ba là, nuôi dưỡng môi trường nguồn nhân lực: Mở rộng thị trường lao
động; Mở rộng qui mô làm việc; Phát triển tổ chức Trong GD&ĐT, quản lý nguồn nhân lực xét trên phạm vi rộng là quản lý đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và công nhân viên chức trong nhà trường Nếu xét trong phạm vi hẹp
Trang 19hơn chính là quản lý đội ngũ giáo viên và cán bộ QLGD Việc xây dựng, phát triển, đào tạo và bồi dưỡng về phẩm chất, trình độ, năng lực đội ngũ giáo viên
và cán bộ quản lý để đáp ứng yêu cầu đặt ra là nhiệm vụ trọng tâm của quá trình quản lý nguồn nhân lực trong ngành GD&ĐT
1.3 Đội ngũ giảng viên và phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng
1.3.1 Trường cao đẳng trong hệ thống giáo dục quốc dân
Giáo dục đại học và cao đẳng là một bộ phận nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân, có vai trò và vị trí hết sức quan trọng Theo Điều 39 Luật Giáo
dục: "Mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính
trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc"
Trước tác động mạnh mẽ của toàn cầu hóa, Nghị quyết Đại hội X tiếp tục xác định các nguy cơ tụt hậu về kinh tế được nhấn mạnh Để phát triển được kinh tế không có con đường nào khác là phải đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước Giáo dục đại học và cao đẳng có nhiệm vụ lớn lao là đào tạo nguồn nhân lực bậc cao và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Một số nước muốn phát triển nhanh phải có nền dân trí cao Theo báo cáo của UNESCO-1995, số dân trong độ tuổi từ 18-22 được tiếp thu giáo dục đại học ở một số nước có tỷ lệ là: Mỹ 82% (năm 1992), Pháp 50% (năm 1993), Hàn Quốc 54,8% (năm 1995), Thái Lan là 20,6% (năm 1994) Trong khi đó, ở Việt Nam là 3,2% (năm 1993) Như vậy, nước ta vẫn là nước có nền giáo dục đại học và cao đẳng thuộc số ít, điểm xuất phát thấp Để đáp ứng được yêu cầu CNH-HĐH đất nước thì yêu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao là hết sức cần thiết Các trường đại học và cao đẳng có vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo nguồn nhân lực này cho đất nước
Trang 201.3.2 Đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng
1.3.2.1 Tiêu chuẩn của người giảng viên
- Có bằng cử nhân trở lên
- Đã qua thời gian tập sự theo quy định hiện hành
- Phải có ít nhất 2 chứng chỉ bồi dưỡng sau đại học
+ Chương trình triết học nâng cao cho nghiên cứu sinh và cao học
+ Những vấn đề cơ bản của tâm lý học và lý luận dạy học bộ môn ở bậc cao đẳng và đại học
+ Sử dụng được một ngoại ngữ trình độ B (là ngoại ngữ thứ 2 đối với giảng viên ngoại ngữ)
1.3.2.2 Đội ngũ giảng viên
* Đội ngũ
Theo từ điển tiếng Việt: “Đội ngũ là tổ chức gồm nhiều người tập hợp lại
thành một lực lượng”; “Đội ngũ là số đông người có cùng chức năng hoặc nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng.” [45]
Đội ngũ là một tập hợp những cá nhân có liên hệ với nhau, tạo thành sự thống nhất ổn định, có tính chỉnh thể, có những thuộc tính và những quy luật tích hợp Đội ngũ hàm chứa yếu tố sức mạnh và có những yêu cầu chặt chẽ về
cơ cấu, kỷ cương và chất lượng công việc Ví dụ như đội ngũ công nhân,đội ngũ các nhà khoa học, đội ngũ trí thức,
Tóm lại, đội ngũ là một nhóm người được tổ chức và tập hợp thành một lực lượng để thực hiện một chức năng hay nhiều chức năng, có thể có cùng nghề nghiệp hoặc không cùng nghề nghiệp nhưng cùng có chung một mục đích nhất định
Trang 21* Đội ngũ giảng viên
Giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các
trường Đại học và cao đẳng [31] Ở đây cần phân biệt khái niệm giảng viên –
nhà giáo với khái niệm giảng viên – một chức danh của giảng viên trường ĐH -CĐ
là những người đủ tiêu chuẩn ngạch bậc của giảng viên
Tiêu chuẩn các ngạch công chức bậc đại học (Ban hành kèm theo Quyết
định số 538/TCCT –BCTL ngày 18/12/1995 của Ban Tổ chức – Cán bộ chính
phủ) đã quy định chức trách, yêu cầu, hiểu biết và trình độ của giảng viên,
giảng viên chính, giảng viên cao cấp, trong đó ghi rõ: Giảng viên là công
chức chuyên môn đảm nhận việc giảng dạy và đào tạo của trường ĐH, CĐ
thuộc một chuyên ngành đào tạo của ĐHCĐ
Giảng viên phải là những nhà giáo có đầy đủ các yêu cầu về phẩm chất
đạo đức, năng lực giảng dạy, trình độ chuyên môn và các yêu cầu khác đảm
bảo được nhiệm vụ đào tạo ở bậc ĐH, CĐ
Đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục là một trong những lực
lượng đông đảo trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của Nhà nước [15]
Đội ngũ giảng viên có vai trò nòng cốt trong sự phát triển của nhà trường
bởi vì đội ngũ giảng viên quyết định chất lượng sản phẩm tạo ra, là uy tín của
trường đối với xã hội
Như vậy, có thể hiểu: đội ngũ giảng viên là tập hợp những nhà giáo làm
nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong các nhà trường đại học và cao đẳng, họ
gắn kết với nhau nhằm thực hiện mục tiêu chung của ngành GD - ĐT và hoàn
thành mục tiêu của các nhà trường đại học, cao đẳng nơi họ công tác Lao
động của đội ngũ giảng viên là lao động trí óc, lao động khoa học, lao động
đặc thù nhằm tạo ra sản phẩm đặc biệt là con người đã được giáo dục và đào tạo
Trang 22Từ khái niệm nêu trên về đội ngũ giảng viên chúng ta có thể quan niệm rằng: Đội ngũ giảng viên là một tập thể bao gồm những giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục ở bậc đại học (đại học và cao đẳng), được tổ chức thành một lực lượng, có chung nhiệm vụ thực hiện các mục tiêu giáo dục đã đặt ra cho nhà trường hoặc cơ sở giáo dục đó
Đội ngũ giảng viên Việt Nam là những người lao động trí tuệ sáng tạo,
có tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc cao, cần cù, thông minh, năng động và nhạy bén với sự phát triển của thời đại Đồng thời đây cũng là lực lượng nghiên cứu khoa học hùng hậu Chính từ lực lượng này đã xuất hiện nhiều nhà khoa học lớn, các chuyên gia đầu ngành Họ có khả năng và thực tế đã có nhiều đóng góp tích cực và to lớn ở cả hai phương diện: Đào tạo những tài năng trẻ, bồi dưỡng đội ngũ trí thức, đồng thời nghiên cứu phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ, kỹ thuật, khoa học quản lý, văn hoá, nghệ thuật, phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đẩy nhanh quá trình xây dựng đất nước công nghiệp hoá, hiện đại hoá
* Cơ cấu đội ngũ giảng viên:
Theo Từ điển Tiếng Việt "Cơ cấu là cách tổ chức các thành phần nhằm
thực hiện chức năng của chủ thể" Như vậy có thể hiểu cơ cấu của đội ngũ
giảng viên là tổ chức bên trong của đội ngũ Cơ cấu đội ngũ giảng viên là một thể thống nhất, hoàn chỉnh bao gồm các thành phần sau: Số lượng giảng viên, chất lượng đội ngũ giảng viên và các yếu tố bên trong của đội ngũ Ngoài số lượng giảng viên và trình độ đào tạo, có thể có các yếu tố khác trong cơ cấu đội ngũ giảng viên:
- Về chuyên môn: Đảm bảo tỷ lệ giảng viên trong các tổ chức chính trị xã
hội (như tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam, tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản
Hồ Chí Minh…) giữa các đơn vị (khoa, tổ) nhằm phát huy được vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội trong đội ngũ giảng viên
Trang 23- Về lứa tuổi: Duy trì sự cân đối giữa các thế hệ già, trung niên, trẻ của
đội ngũ để có thể phát huy được tính năng động, hăng hái của tuổi trẻ và khai thác được vốn kinh nghiệm, từng trải của lớp già
- Về giới tính: Đảm bảo tỷ lệ thích hợp giữa giảng viên nam và giảng
viên nữ trong từng khoa, từng tổ, từng bộ môn và chuyên ngành được đào tạo
Cơ cấu chuyên môn, chính trị, lứa tuổi và giới tính thể hiện cấu trúc của đội ngũ giảng viên Giữa các yếu tố cần phải đảm bảo sự cân đối, hợp lý nếu sự cần đối này bị phá vỡ thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến chất lượng đội ngũ giảng viên
Tóm lại: Chất lượng đội ngũ giảng viên phải được hiểu là gồm 5 yếu tố
cấu thành đó là số lượng, phẩm chất, trình độ, năng lực và cơ cấu đội ngũ Mỗi yếu tố đều có vị trí và tầm quan trọng đặc biệt, giữa các yếu tố có sự tác động qua lại lẫn nhau, nương tựa vào nhau tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh thống nhất giúp cho đội ngũ giảng viên tồn tại, phát triển và hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao
Nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên là làm cho chất lượng đội ngũ giảng viên ngày càng hoàn thiện ở mức độ cao hơn Điều đó có nghĩa là cùng một lúc chúng ta phải làm cho tất cả các yếu tố cấu thành nên chất lượng đội ngũ giảng viên phát triển đạt tới một trạng thái cao hơn
* Chất lượng đội ngũ giảng viên
Chất lượng là tổng thể những thuộc tính khẳng định sự tồn tại của một con người, một sự vật, sự việc và phân biệt nó với những con người, sự vật,
sự việc khác [63]
Chất lượng đội ngũ giảng viên là tổng thể những thuộc tính bản chất của đội ngũ được thể hiện thông qua các yếu tố: Số lượng giảng viên, Cơ cấu giảng viên, Trình độ giảng viên, Năng lực giảng viên, Phẩm chất giảng viên
Trang 24Giữa các yếu tố luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau tạo thành một chỉnh thể mang tính hệ thống nhằm thúc đẩy quá trình tồn tại, phát triển của đội ngũ giảng viên Đồng thời trên cơ sở các yếu tố nêu trên để xây dựng đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đạt chuẩn về trình độ chuyên môn nghiệp vụ sư phạm, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, đồng thời
bố trí cơ cấu phù hợp giữa các đơn vị trong nhà trường
1.3.3 Phát triển đội ngũ giảng viên
Theo từ điển tiếng Việt khái niệm phát triển được hiểu là: “Biến đổi hoặc
làm biến đổi từ ít đến nhiều, hẹp đến rộng, thấp đến cao, đơn giản đến phức tạp” [24, tr.743]
Như vậy, mọi sự vật, hiện tượng, con người, xã hội có sự gia tăng về lượng, biến đổi về chất, làm cho số lượng và chất lượng vận động theo hướng
đi lên trong mối quan hệ bổ sung cho nhau tạo nên giá trị mới trong một thể thống nhất đều có thể coi là phát triển
Đội ngũ giảng viên là nguồn nhân lực cơ bản của nhà trường đại học, phát triển đội ngũ giảng viên chính là phát triển nguồn nhân lực trong nhà trường đại học
Tuỳ theo mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ của nhà trường, cơ sở đào tạo mà phát triển đội ngũ giảng viên có thể theo 3 chiều hướng khác nhau:
- Lấy việc phát triển cá nhân người giảng viên làm trọng tâm Đó là việc tạo ra sự chuyển biến tích cực của các giảng viên trên cơ sở nhu cầu mà họ đặt ra Điều đó nhằm khuyến khích tài năng, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình
độ và như vậy là thúc đẩy sự phát triển nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ
- Lấy phát triển nhà trường làm trọng tâm, thì rõ ràng mục tiêu của nhà trường là cơ sở cho việc phát triển đội ngũ giảng viên Điều này thường tạo ra suy nghĩ cho rằng: Phát triển đội ngũ giảng viên là công việc của nhà trường,
là việc thực hiện mục tiêu của nhà trường với tư cách là thực hiện một nhiệm
Trang 25vụ do cấp trên (lãnh đạo nhà trường) giao cho mà người giảng viên phải thực hiện chứ không phải là nhu cầu của giảng viên Do đó, đã tạo ra một sức ỳ đáng kể, hạn chế sự tích cực, sáng tạo của đội ngũ giảng viên Dẫn tới hiệu quả công tác phát triển đội ngũ giảng viên thường là thấp
- Phát triển đội ngũ giảng viên trên cơ sở phát triển cá nhân giảng viên đồng thời với việc thực hiện mục tiêu nhà trường Với quan điểm này thì phát triển đội ngũ giảng viên được xem như một quá trình mà trong đó nhà trường
và cá nhân giảng viên được đồng thời coi là trọng tâm Đây là quan điểm mang tính hợp tác, vì cho rằng: Các nhu cầu phát triển của nhà trường cũng quan trọng như các nhu cầu phát triển của giảng viên, vì vậy cả 2 loại nhu cầu đều cần phải cân nhắc, được hoà hợp và cân bằng với nhau thì công tác phát triển đội ngũ giảng viên mới đạt kết quả tốt Như vậy, mỗi quan điểm đều có những điểm tích cực, điểm hạn chế riêng Vấn đề đặt ra là mỗi nhà trường cần xem xét vận dụng trên cơ sở thực trạng của tổ chức để có bước đi thích hợp, sao cho đội ngũ giảng viên khi tiếp cận nhu cầu nhà trường đều thấy có nhu cầu của mình trong đó, tạo cho họ sự hứng thú, say mê và yên tâm với nghề nghiệp
Tóm lại, phát triển đội ngũ giảng viên là phạm trù chỉ sự tăng tiến,
chuyển biến theo chiều hướng tích cực của đội ngũ giảng viên trong việc hoàn thành mục tiêu giáo dục - đào tạo của trường đại học Phát triển đội ngũ giảng viên là quá trình chuẩn bị lực lượng để đáp ứng sự phát triển của nhà trường Trong quá trình chuẩn bị lực lượng phải chú ý toàn diện các yếu tố về số lượng, về cơ cấu, về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, thái độ, trách nhiệm của mỗi giảng viên đối với nhà trường Để đạt được điều đó, phát triển đội ngũ giảng viên phải gắn liền với việc tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng sử dụng và tạo môi trường sư phạm Sự quan tâm chăm lo đến việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên trong các nhà trường là nhiệm vụ trung tâm, ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển toàn diện của nhà trường, Menger cho
Trang 26rằng việc xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên phải “Nhằm mục đích
tăng cường hơn nữa đến sự phát triển toàn diện của người giảng viên trong hoạt động nghề nghiệp”
Còn theo Webb: “Phát triển đội ngũ giảng viên phải mang tính đón đầu
chứ không phải phản ứng nhất thời Những thiếu sót trong khâu đào tạo nghiệp vụ, các yêu cầu cần cập nhật kỹ năng cần thiết không phải là nguyên nhân căn bản dẫn đến phát triển đội ngũ giảng viên” Công tác xây dựng và
phát triển đội ngũ giảng viên trong nhà trường phải nhằm vào những mục tiêu
cơ bản là:
1 Chăm lo xây dựng đội ngũ để có đủ số lượng, đồng bộ về cơ cấu loại
hình, vững vàng về trình độ có thái độ nghề nghiệp tốt, tận tuỵ với nghề, đảm bảo chất lượng về mọi mặt để đội ngũ giảng viên thực hiện tốt nhất, có hiệu quả nhất chương trình, kế hoạch đào tạo và những mục tiêu chung của nhà trường
2 Phải làm cho đội ngũ giảng viên luôn có đủ điều kiện, có khả năng
sáng tạo trong việc thực hiện tốt nhất những mục tiêu của nhà trường đồng thời tìm thấy lợi ích cá nhân trong mục tiêu phát triển của tổ chức, phát triển đội ngũ giảng viên phải tạo ra sự gắn bó kết hợp mật thiết giữa công tác quy hoạch, kế hoạch tuyển chọn, sử dụng, đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng và tạo môi trường thuận lợi cho đội ngũ phát triển
3 Phát triển đội ngũ giảng viên là bao gồm sự phát triển toàn diện của
người giảng viên, nhà giáo giảng dạy đại học với tư cách là con người, là thành viên trong cộng đồng nhà trường, là nhà chuyên môn, nhà khoa học trong hoạt động sư phạm về giáo dục
4 Xây dựng phát triển đội ngũ là phải làm tốt công tác quy hoạch, xây
dựng được kế hoạch tiếp nhận, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ thường xuyên liên tục
Trang 275 Kết quả của công tác xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên không
những chỉ nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghề nghiệp cho các nhà giáo
mà còn cần phải quan tâm đến những nhu cầu thăng tiến, những quyền lợi thiết thực để thực sự làm cho người giảng viên gắn bó trung thành và tận tuỵ
với “Sự nghiệp trồng người”
Thuật ngữ “Phát triển đội ngũ giảng viên” được hiểu là một khái niệm
tổng hợp bao gồm cả việc bồi dưỡng đội ngũ giảng viên và phát triển nghề nghiệp của họ Nếu như phạm vi bồi dưỡng bao gồm những gì mà người giảng viên cần phải biết, phạm vi phát triển nghề nghiệp đội ngũ giảng viên bao gồm những gì họ nên biết, thì phát triển đội ngũ giảng viên là bao quát tất
cả những gì mà người giảng viên có thể trau dồi phát triển để đạt các mục tiêu
cơ bản cho bản thân, cho nhà trường Đó là con đường để người giảng viên phát triển toàn diện nội lực của bản thân để hài hoà phù hợp với thoả đáng trong sự phát triển chung của nhà trường
6 Đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên: “Đào tạo là quá trình hoạt
động có mục đích, có tổ chức hình thành và phát triển hệ thống các tri thức,
kỹ năng, kỹ xảo, thái độ để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho họ có thể vào đời hành nghề một cách năng xuất, hiệu quả” [42]
Tổ chức Khoa học văn hóa Liên hiệp quốc (UNESCO) định nghĩa: “Bồi
dưỡng với ý nghĩa nâng cao nghề nghiệp Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức và kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp”[36]
“Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu
hoặc lạc hậu trong một cấp học, bậc học và trường học được xác nhận bằng một chứng chỉ.” [35]
Đào tạo và bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thực chất
là xây dựng và phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục Đào tạo và bồi dưỡng
Trang 28là hai mặt của một thể thống nhất, trong đó bồi dưỡng giảng viên với ý nghĩa đào tạo tiếp tục là yêu cầu cấp thiết để nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ và đổi mới cơ cấu tri thức Vì vậy người lãnh đạo phải nhận
thức đúng đắn mối quan hệ bản chất giữa “dùng người” và “bồi dưỡng
người”, “bồi dưỡng người” là để “dùng người” tốt hơn nữa, người quản lý
phải có tầm nhìn chiến lược, phải coi trọng việc đầu tư trí tuệ cho đội ngũ giảng viên, CBQL
Xã hội hiện nay đang hướng đến tới xây dựng “một xã hội học tập” và
“học tập suốt đời” thì việc đào tạo, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng là điều tất yếu
và nó phải trở thành nhu cầu của mỗi cá nhân Trong bối cảnh đất nước hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên càng phải được chú trọng hơn lúc nào hết Chỉ thị số 40-CT/TW,
ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Tiến hành xây
dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, nâng cao trình độ đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục, bảo đảm số lượng, nâng cao chất
lượng, cân đối về cơ cấu, đạt chuẩn, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới.”
* Kết luận chương 1
Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên là con đường làm giàu kiến thức, kỹ năng, thái độ để giảng viên vững vàng về nhân cách nghề nghiệp Xây dựng và phát triển đội ngũ giảng viên có sự cân đối về số lượng, chất lượng và cơ cấu, sẽ góp phần thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay Các khái niệm, cơ sở lý luận, thực tiễn về xây dựng
và phát triển đội ngũ giảng viên được nêu ra ở chương 1 sẽ tạo cơ sở khoa học
để đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật - Đại học Thái Nguyên giai đoạn hiện nay, góp phần thúc đẩy chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục cao đẳng, đại học nói riêng
Trang 29Chương 2 THỰC TRẠNG ĐỘI NGŨ VÀ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ - KỸ THUẬT THUỘC ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
2.1 Khái quát chung về Đại học Thái Nguyên và trường Cao đẳng Kinh tế -
Kỹ thuật
2.1.1 Khái quát chung về Đại học Thái Nguyên
Đại học Thái Nguyên được thành lập ngày 4 tháng 4 năm 1994 theo Nghị định số 31 CP của Chính phủ ĐHTN là một trong số 5 đại học theo mô hình đại học hai cấp, đại học được giao trọng trách là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực cho các tỉnh, các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp
và dạy nghề trên địa bàn, đồng thời thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của vùng trung du, miền núi phía Bắc – vùng có nhiều đồng bào các dân tộc sinh sống, có truyền thống đấu tranh cách mạng, giàu tiềm năng phát triển
và có địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế - xã hội, quốc phòng –
an ninh và đối ngoại của cả nước
Trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại các trường đại học trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, từ chỗ ban đầu Đại học chỉ có 05 trường thành viên và 01 trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vùng Đông Bắc Đến nay, sau
17 năm xây dựng và phát triển, Đại học đã không ngừng phát triển và hoàn thiện theo mô hình đầy đủ của một Đại học vùng, bao gồm: Các đơn vị quản
lý, các đơn vị đào tạo, các đơn vị nghiên cứu và các đơn vị phục vụ đào tạo Hiện nay, Đại học Thái Nguyên có tổng số 20 đơn vị thành viên, trong đó có
7 Trường đại học, 01 Trường cao đẳng; 02 khoa trực thuộc và 11 đơn vị nghiên cứu khoa học và phục vụ đào tạo
Trang 30Xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ giảng dạy, luôn được Đại học xác định là một nhiệm vụ trọng tâm, có ý nghĩa then chốt quyết định sự phát triển và chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của Đại học Xuất phát từ nhận thức đó, ĐHTN luôn luôn coi trọng và quan tâm tới công tác cán bộ, làm cho đội ngũ cán bộ của Đại học không ngừng trưởng thành và lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng
Hiện nay, số lượng cán bộ viên chức toàn đại học gần 3600 người, trong
đó cán bộ giảng dạy gần 2400 người Trong đó có 106 GS và PGS; 320 tiến sĩ
và 1135 thạc sĩ, và 472 cán bộ giảng dạy đang được đào tạo tiến sĩ, 636 người đang học thạc sĩ tại các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước
Về đào tạo, với vai trò là Đại học vùng, một trong các Đại học trọng điểm quốc gia, việc mở rộng ngành, nghề đào tạo trong những năm qua chủ yếu tập trung cho các bậc học từ Đại học trở lên, chính vì vậy, số ngành học ở bậc đại học không ngừng phát triển nhanh chóng Đến năm 2011, ĐH đã tổ chức tuyển sinh 122 chuyên ngành đào tạo đại học, tổng chỉ tiêu tuyển sinh đại học chính quy là 10.850, và cao đẳng chính quy là 1.165 chỉ tiêu Công tác tuyển sinh sau đại học cũng không ngừng tăng lên nhanh chóng qua các năm,
sự tăng nhanh của các chuyên ngành đào tạo, quy mô tuyển sinh và quy mô học viên đã phản ánh rõ nét sự phát triển nhanh chóng của đào tạo sau đại học trong thời gian qua, đặc biệt trong những năm gần đây Năm 2011, ĐHTN tuyển sinh ở cả 41 chuyên ngành đào tạo trình độ thạc sĩ với 1570 chỉ tiêu, 19 chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ với 50 chỉ tiêu; 320 chỉ tiêu đào tạo bác
sĩ chuyên khoa, bác sĩ nội trú
Về công tác nghiên cứu khoa học Trong những năm gần đây, ĐHTN đã chủ trì triển khai thực hiện 3.500 đề tài NCKH các cấp, đăng gần 900 bài báo trên các tạo chí KH – CN, trong đó 150 bài được đăng trên các tạp chí khoa học hoặc hội thảo quốc tế
Trang 31Bằng các Chương trình cụ thể như:" Chương trình phối hợp Đào tạo
nguồn nhân lực và hoạt động công nghệ"; và "Chương trình hợp tác về đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế", Đại học Thái
Nguyên đã không ngừng mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo với nhiều địa phương Các tỉnh mà Đại học đã và đang liên kết đào tạo đang có hiệu quả tốt như: Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh, Sơn La, Bắc Kạn,
Tp Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Thanh Hóa… đặc biệt hiện nay, Đại học đang phối hợp cùng tỉnh Yên Bái thành lập Phân hiệu Đại học Thái Nguyên tại Yên Bái Bên cạnh đó, không ngừng đẩy mạnh mở rộng hợp tác với các trường mà
ĐH có thế mạnh như: ĐH Lâm nghiệp, ĐH Lao động & Xã hội, ĐH Hùng Vương, ĐH Sư phạm Hà Nội II
Cùng với việc mở rộng liên kết đào tạo trong nước, Đại học TN còn rất chú trọng đầu tư liên kết đào tạo quốc tế Nhằm tiếp cận các chuẩn mực giáo dục tiên tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của của Việt Nam cũng như từng bước đưa chất lượng đào tạo của ĐHTN rút gần khoảng cách
so với các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới Trong những năm qua, ĐHTN đã triển khai, ký 17 đề án thạc sĩ, 3 đề án tiến sĩ liên kết đào tạo quốc tế với nhiều đối tác nước ngoài Tính từ năm 1994 đến nay đã có 53 chương trình, dự án được ký kết; 111 lượt tiến sĩ; 118 lượt thạc sĩ; 895 lượt học đại học, bồi dưỡng ngắn hạn được cử đi học tập, bồi dưỡng tại nước ngoài với tổng kinh phí thu được từ hoạt động này là 29,90 triệu USD
Một bước phát triển của ĐH trong thời gian qua đó là đã xây dựng được
hệ thống bộ máy khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục trong toàn ĐH Trên 200 cán bộ đã được đào tạo bồi dưỡng nghiệp vụ khảo thí - kiểm định chất lượng, trên 80 môn học/ học phần có ngân hàng đề thi và đáp án (10% trắc nghiệm); 7/9 đơn vị đào tạo hoàn thành tự đánh giá; 03 đơn vị được Bộ GD& ĐT đánh giá và xếp cấp độ 2 (Sau ĐH Bách Khoa Hà Nội và ĐH Kinh
Trang 32tế TP HCM); 7/9 đơn vị tổ chức lấy ý kiến phản hồi từ người học đối với giảng viên
Phương hướng chung của Đại học Thái Nguyên từ nay tới năm 2020 là
thực hiện thắng lợi "Đề án quy hoạch phát triển Đại học Thái Nguyên
thành Đại học trọng điểm; trung tâm đào tạo, khoa học của vùng đến năm 2020" đã được Bộ GD & ĐT phê duyệt Có thể khẳng định, chất lượng đào
tạo của Đại học đã được Chính phủ, các tổ chức xã hội công nhận và thực sự, Đại học Thái Nguyên đã trở thành một trong các Đại học trọng điểm của Việt Nam
- Đại học Thái Nguyên gồm có các trường thành viên sau:
+ Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên
+ Đại học Sư phạm Thái Nguyên
+ Đại học Nông lâm Thái Nguyên
+ Đại học Y khoa Thái Nguyên
+ Đại học Kinh tế & Quản trị kinh doanh
+ Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông
+ Viện kinh tế xã hội và nhân văn miền núi
+ Viện nghiên cứu phát triển CNC về KHKT
- Trung tâm:
+ Trung tâm giáo dục quốc phòng
Trang 33+ Trung tâm học liệu
+ Trung tâm hợp tác quốc tế
+ Nhà xuất bản
+ Trung tâm nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ
2.1.2 Khái quát về Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
Trường Cao đẳng kinh tế - Kỹ thuật là trường thành viên của Đại học Thái Nguyên Trường được thành lập năm 2005 theo quyết định số/ QĐ-BGD-ĐT, trên cơ sở phân công lại nhiệm vụ các trường thành viên của Đại học Thái Nguyên Tiền thân Trường là Trường Công nhân cơ điện Việt Bắc được thành lập năm 1974
Tám năm qua nhà trường đã đào tạo được hàng nghìn cán bộ các ngành như: Kinh tế, kỹ thuật công nghiệp, kỹ thuật xây dựng, kỹ thuật giao thông,
kỹ thuật quản lý đất đai, kỹ thuật nông lâm của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh phía Bắc Việt Nam Đến năm 2012, do yêu cầu phát triển, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, mở rộng quy mô, đa dạng hóa các loại hình đào tạo cho phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Thái Nguyên và các tỉnh trong khu vực Mục tiêu đào tạo của trường gồm đa ngành, đa bậc, đa
hệ, đào tạo các trình độ từ cao đẳng và thấp hơn UBND tỉnh Thái Nguyên đã phê duyệt cấp cho nhà trường sử dụng diện tích từ 8,2 (ha) lên 25 (ha) (tháng
3 năm 2008) Hiện tại nhà trường đang đào tạo 32 mã ngành, nghề bao gồm:
ngân hàng, Kinh tế xây dựng, kế toán – kiểm toán, trồng trọt, thú y, quản lý đất đai, quản lý môi trường, cơ khí, điện, công nghệ thông tin, xây dựng cầu đường, xây dựng dân dụng Nhà trường đào tạo hệ này theo hệ thống tín chỉ Trung cấp chuyên nghiệp có 6 ngành: Kế toán, Quản trị kinh doanh, Tài chính ngân hàng, cơ khí, điện, công nghệ thông tin Cao đẳng nghề gồm 7 nghề: Hàn, Công nghệ ôtô, cắt gọt kim loại, Điện công nghiệp, Lắp giáp và sửa
Trang 34chữa máy tính, Nguội sửa chữa máy công cụ, Kế toán doanh nghiệp Trung cấp nghề có 5 nghề: Điện xí nghiệp, Nguội sửa chữa thiết bị, hàn, cắt gọt kim loại, công nghệ ôtô
Tổ chức bộ máy của nhà trường được xây dựng và hoạt động dựa trên cơ
sở quy chế điều lệ Trường Cao đẳng do Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành gồm : Ban giám hiệu gồm có: 1 Hiệu trưởng và 03 Phó hiệu trưởng, 05 phòng chức năng và 05 khoa trực thuộc Ban giám hiệu
- Tổng số cán bộ - giảng viên và nhân viên phục vụ là: 255 người trong đó:
- Cán bộ giảng dạy : 181 người
- Cán bộ quản lý và nhân viên phục vụ: 74 người
- Ngoài ra còn đội ngũ giảng viên hợp đồng, mời giảng là 21 người
* Vị trí, chức năng của nhà trường:
Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật là một trường thành viên của ĐHTN, chịu quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trường có chức năng:
- Đào tạo và liên kết đào tạo đa ngành, đa hệ, đa lĩnh vực với nhiều trình
độ khác nhau, nhằm phát triển theo hướng đa dạng nguồn nhân lực cho các tỉnh miền bắc Việt Nam
- Nghiên cứu khoa học và phát triển ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phục vụ cho yêu cầu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ
* Nhiệm vụ của Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên có nhiệm vụ cụ thể như sau:
- Đào tạo cán bộ kỹ thuật, kinh tế đạt trình độ cao đẳng và thấp hơn
- Liên kết với các trường đại học để đào tạo trình độ đại học theo hình thức đào tạo chính quy và không chính quy theo quy định của Luật giáo dục
Trang 35- Thực hiện hình thức đào tạo liên thông từ trung cấp chuyên nghiệp lên cao đẳng và đại học
- Nghiên cứu, triển khai ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh miền núi và trung du Bắc Bộ
- Thực hiện các hoạt động sản xuất, dịch vụ theo quy định của pháp luật
và phù hợp với các ngành nghề đào tạo của nhà trường
* Sơ đồ tổ chức bộ máy hiện tại của trường
- Ban giám hiệu gồm có:
+ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh
+ Hội sinh viên
+ Khoa Kỹ thuật Công nghiệp
+ Khoa Kỹ thuật Nông lâm
Trang 36+ Khoa Kinh tế và Quản trị kinh doanh
+ Khoa Khoa học Cơ bản
+ Khoa Đào tạo nghề
Dưới khoa có các tổ chuyên môn trực thuộc khoa, các cơ sở thực hành, thực tập, thí nghiệm…
nhà làm việc, 40 phòng học lý thuyết, 08 xưởng thực tập, 04 ký túc xá 05 tầng Hiện trường đang trong giai đoạn xây dựng cơ bản với nhiều hạng mục bao gồm: Giảng đường, phòng thí nghiệm, thư viện, phòng làm việc và khu vui chơi giải trí hiện đại
Với những thành tích nổi bật như vậy trường đã được nhà nước tặng thưởng nhiều Huân chương lao động, cờ thi đua và nhiều bằng khen Trường cũng đã hoàn thành báo cáo tự đánh giá kiểm định chất lượng và tổ chức đánh
giá xong ở cấp Đại học vùng đạt yêu cầu
Triển vọng trong tương lại sắp tới, với sự quan tâm của ĐHTN, tỉnh Thái Nguyên và Bộ Giáo dục và Đào tạo với những chính sách đầu tư của Nhà nước để tập trung đẩy nhanh sự phát triển sự nghiệp cho khu vực miền núi trung du phía Bắc, làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Từ đó đặt ra yêu cầu với sự nghiệp đào tạo nguồn nhân lực, nâng cao trình độ cho lực lượng lao động là rất lớn, sự nghiệp giáo dục và đào tạo của nhà trường từ đó sẽ có nhiều cơ hội thuận lợi để tiếp tục phát triển trong những năm sắp tới
2.2 Thực trạng đội ngũ giảng viên của trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật thuộc ĐHTN
2.2.1 Thực trạng về số lượng
Hiện tại Trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật thuộc ĐHTN có tổng số nhân sự là: 255 người gồm cán bộ quản lý, giảng viên và nhân viên phục vụ các phòng
Trang 37chức năng Trong đó 181 giảng viên đang trực tiếp tham gia giảng dạy tại 5 khoa của trường (xem bảng 1.1 và 1.2) Là bảng thống kê số lượng giảng viên trong 3 năm gần đây (từ năm học 2008- 2009 đến năm học 2009-2010 và năm học 2010 - 2011) và hiện trạng số lượng giảng viên được bố trí công tác giảng dạy ở các khoa
Bảng 2.1 Bảng thống kê số lƣợng giảng viên từ năm 2008 – 2011 Năm học 2008 - 2009 2009 - 2010 2010 - 2011
(Số liệu của Phòng Tổ chức cán bộ Trường CĐ Kinh tế - Kỹ thuật thuộc ĐHTN)
Bảng 2.2 Bảng thống kê hiện trạng CBGV ở các khoa tính
đến năm học 2010 - 2011 Hiện trạng
GV hiện có
Tình trạng thiếu GV bộ môn
Tình trạng thừa GV bộ môn
(Số liệu của phòng Tổ chức cán bộ Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật
thuộc Đại học Thái Nguyên)
Trang 38Lãnh đạo nhà trường rất quan tâm, tạo điều kiện cho giảng viên tham gia đào tạo, bồi dưỡng Chính vì vậy Đội ngũ giảng viên có trình độ thạc sĩ tăng nhanh Số lượng giảng viên được tuyển dụng trong những năm gần đây phần nào đáp ứng được yêu cầu của công tác đào tạo
Chế độ chính sách đối với đội ngũ giảng viên cơ bản được thực hiện đúng quy định của nhà nước
Là thành viên của Đại học Thái Nguyên nên đã được các trường thành viên trong đại học cung cấp nguồn nhân lực, đặc biệt là cán bộ giảng dạy có
bề dày kinh nghiệm
Đội ngũ giáo viên nhà trường trẻ khá đa dạng về ngành nghề, phân bố ở các khoa đáp ứng được yêu cầu của công tác giảng dạy theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Về số lượng đội ngũ giảng viên cơ hữu chiếm đa số so với số ít giảng viên thỉnh giảng đã tạo được sự thuận lợi trong việc bố trí ổn định kế hoạch giảng dạy
* Những mặt yếu
Do công tác quy hoạch còn yếu nên ĐNGV nhà trường còn thiếu đồng
bộ, một số bộ môn còn thiếu giảng viên có trình độ chuyên môn, kinh
Trang 39nghiệm; một số ngành đào tạo chưa có đủ đội ngũ giảng dạy, đang phải hợp đồng, liên kết đào tạo với các trường ĐH, CĐ khác
Một bộ phận giảng viên chậm đổi mới phương pháp, ít nghiên cứu học tập nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực giảng dạy; một bộ phận cán bộ quản lý và nhân viên thừa hành chưa được đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực, nghiệp vụ công tác
Các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng ĐNGV như đào tạo, bồi dưỡng, NCKH, hội thảo, hội giảng … đã được quan tâm nhưng chưa có lộ trình và biện pháp rõ ràng, chưa có sự đánh giá, tổng kết hoạt động
Mặc dù cơ sở vật chất đã từng bước được bổ sung, hoàn thiện nhưng vẫn còn chưa đáp ứng yêu cầu thực tế
Nhìn chung thu nhập của ĐNGV còn thấp, nhà trường không có nhiều khoản hỗ trợ thêm Đặc biệt đối với đội ngũ giảng viên trẻ, đời sống còn nhiều khó khăn về điều kiện ăn, ở, đi lại, … với mức lương hiện tại nhiều giảng viên chưa thể chuyên tâm giảng dạy Vì thế mà ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng giảng viên cũng như chất lượng đào tạo của nhà trường
Quan hệ hợp tác trong và ngoài nước về lĩnh vực giáo dục và đào tạo còn gặp nhiều khó khăn
Công tác kiểm tra, đánh giá chưa xây dựng được chuẩn đánh giá giảng viên; công tác thi đua; khen thưởng còn chưa tạo được sức hấp dẫn và hưởng ứng nhiệt tình từ phía ĐHGV
Các chế độ, chính sách khuyến khích giảng dạy và NCKH chưa phù hợp
Vì vậy, chưa tạo điều kiện cho giảng viên tập trung đầu tư nhiều cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy, NCKH và việc nghiên cứu biên soạn tài liệu, giáo trình phục vụ cho công tác đào tạo của nhà trường
Trang 402.2.2 Thực trạng về chất lượng
2.2.2.1 Về trình độ được đào tạo
Trình độ của đội ngũ giảng viên có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng giảng dạy nói riêng, chất lượng đào tạo của nhà trường nói chung Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng đào tạo thì trước hết cần phải quan tâm đến việc bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ giảng viên nhà trường Đối với Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật thuộc Đại học Thái Nguyên, trình độ đội ngũ giảng viên còn thấp so với mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường trong giai đoạn 2012 - 2015 Số liệu được thống kê trong 3 năm gần đây như sau:
(Bảng 2.3 và 2.4)
Bảng 2.3 Thống kê trình độ chuyên môn cán bộ giảng dạy
(từ năm 2008 đến 2011) Năm học