1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA

20 439 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 179 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

151 – 163 [Đã in trong Văn hóa phát triển và bản sắc, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, 1995] - [152] “Vậy bản sắc văn hóa là những nét văn hóa riêng làm thành hệ giá trị đ

Trang 1

qwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyui opasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfgh jklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvb nmqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwer tyuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopas dfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzx cvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmq wertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuio pasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghj klzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbn mqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwerty uiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdf ghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxc vbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmrty uiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdf ghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjklzxc vbnmqwertyuiopasdfghjklzxcvbnmqw ertyuiopasdfghjklzxcvbnmqwertyuiop asdfghjklzxcvbnmqwertyuiopasdfghjkl

MỘT SỐ QUAN NIỆM VỀ BẢN SẮC VĂN HÓA Tài liệu tham khảo

TS Nguyễn Văn Hiệu (Chọn ghi và chọn dịch)

Trang 2

1 Hoài Thanh, Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, Nxb Văn học, Nxb TP.HCM,

1988 (tái bản), tr 29:

“Hồn thơ Pháp hễ chuyển được vào thơ Việt là đã được Việt hóa hoàn toàn… Thi văn Pháp không làm mất bản sắc Việt Nam”

2 Hà Văn Tấn, Bản sắc văn hóa Việt cổ, trong Đến với Lịch sử văn hóa Việt

Nam, Nxb Hội Nhà văn, 2005 (tr 151 – 163) [Đã in trong Văn hóa phát triển và bản sắc, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, 1995]

- [152] “Vậy bản sắc văn hóa là những nét văn hóa riêng làm thành hệ giá trị được một dân tộc chấp nhận, được xem như phù hợp và thích hợp, được đem vào vận hành nhằm thỏa mãn nhu cầu sống và phát triển của dân tộc mình trong nền cảnh lịch sử tương ứng”

- [153] “Bản sắc văn hóa dân tộc là hệ thống các giá trị văn hóa mà mỗi dân tộc chấp nhận Tất nhiên nói “giá trị” ở đây, ta không hề

dùng khái niệm đó theo nghĩa giá trị học (axiologic), nghĩa là tiến bộ

hay không tiến bộ, theo nhận thức chủ quan của chúng ta Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hóa riêng gồm những giá trị phù hợp với nó,

kể cả những giá trị trung tính (neuter)

=> Hà Văn Tấn đề nghị cần chú ý đến ba điểm: 1 Văn hóa và môi trường tự nhiên; 2 Văn hóa và môi trường xã hội; 3 Bản sắc văn hóa dân tộc cũng thay đổi

3 Phan Ngọc, Bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Văn hóa thông tin, 1998

- [17] “Văn hóa là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một

cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hóa theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này,

đó là văn hóa dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn rriêng của cá nhân hay tộc người, khác với kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác”

- [17] “Tuy một cá nhân, một tộc người có thể có vô số kiểu lựa chọn khác nhau, tùy theo sở thích; nhưng khi nhìn kỹ ta sẽ thấy có những

yêu cầu, những mục đích bất biến tạo thành bản sắc văn hóa, chứ

không phải là những biểu hiện khác nhau của các kiểu lựa chọn”

Trang 3

- [32] “Nói đến bản sắc văn hóa tức là nói đến cái mặt bất biến của văn hóa trong quá trình phát triển lịch sử Dĩ nhiên, văn hóa là một

hệ thống những quan hệ, không phải là những vật… Cái tạo thành tính bất biến của các hệ thống quan hệ này là những nhu cầu của tâm thức con người Việt Nam” => [33] “Bảo vệ văn hóa nhằm mục đích làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh trước hết

là đáp ứng các nhu cầu về Tổ quốc, Gia đình, Thân phận và Diện mạo của người lao động sao cho phù hợp với tình hình cụ thể chứ

không phải là chạy theo những yêu cầu của một nền văn hóa khác”

4 Phan Ngọc, “Bản sắc văn hoá Việt Nam”, trong Văn hoá Việt Nam đặc

trưng và cách tiếp cận, Nxb Giáo dục, 2001, tr 60-63.

- [60] “Văn hoá là một quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng với thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân khác Nét khu biệt các kiểu lựa chọn làm cho chúng khác nhau, tạo thành những nền văn hoá khác nhau là độ khúc xạ Tất cả mọi cái mà tộc người tiếp thu hay sáng tạo đều có một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực và rất khác độ khúc xạ ở một tộc người khác” [“Bản sắc văn hoá Việt Nam”, trong Văn hoá Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận, Nxb Giáo dục,

2001, tr 60-63, tr 60]

5 Trần Ngọc Thêm, Bản sắc văn hóa Việt Nam trước cửa thiên niên kỷ mới,

trong Văn hóa Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận, Lê Ngọc Trà biên

soạn, tr 293

- [293] “Có thể nói một cách vắn tắt rằng bản sắc dân tộc – đó là những giá trị đặc sắc cơ bản được lưu truyền trong lịch sử, là cái tinh hoa bền vững của nó”

6 Trần Quốc Vượng, “Góp phần dựng lại nền văn minh Việt cổ (đặt vấn

đề)”, trong Sử học, số 2 - Những vấn đề khoa học lịch sử ngày nay, Thông

báo khoa học của ngành Sử các trường đại học, Nxb ĐH và THCN, 1981,

tr 151-159, tr 152

- “Theo tôi hiểu, cái văn hoá là sự biến đổi cái tự nhiên của từng cộng đồng người nhất định Văn hoá là sự phản ứng, sự chế ngự, sự trả lời của một cộng đồng người trước những thách đố của mọi cái gì tự

nhiên (kể cả môi trường tự nhiên lẫn cái được gọi là bản năng tự

nhiên của con người) Văn hoá là lối sống (Way of life) của một

Trang 4

cộng đồng người, là thế ứng xử xử tập thể (hay công thể)

(comportment collectif) của một cộng đồng người, của một xã hội, là tổng số những đồng nhất thể (identités) của các thành viên về các

phương diện nhận thức, quan niệm, chuẩn mực, biểu tượng và hệ thống các giá trị… Văn hoá, hiểu như vậy, thì vừa có mặt bao la

(toàn bộ các thành tựu của con ngưới) vừa có mặt chặt chẽ (phản ứng tập thể của từng cộng đồng người, do đó có nhiều loại hình văn hoá khác nhau)

7 Trần Đình Hượu, Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Văn hoá, 1996, tr 235

& 236

- [235-236] “Đặc sắc dân tộc của văn hoá làm cho mỗi dân tộc hiện ra với những nét độc đáo, phân biệt với các dân tộc khác” và “Đặc sắc văn hoá một dân tộc là bằng chứng về bản lĩnh sáng tạo của dân tộc

đó” [Đến hiện đại từ truyền thống, Nxb Văn hoá, 1996, tr 235 &

236]

8 Trần Đình Sử, “Về bản sắc dân tộc trong văn học Việt Nam”, trong Lý luận

và phê bình văn học, Nxb Hội nhà văn, 1996, tr 180-186.

- [180] “Bản sắc dân tộc là yếu tố gắn kết đời sống tinh thần cộng đồng trong không gian và thời gian, đồng thời phân biệt thế giới tinh thần của cộng đồng này với cộng đồng khác Chính vì vậy, để duy trì

và phát triển độc lập dân tộc, người ta không chỉ quan tâm đến chủ quyền lãnh thổ, mà còn phải chăm lo tới bản sắc dân tộc trong đời sống tinh thần”

- [180] “Nhưng bản sắc dân tộc không phải đơn giản là một thuộc tính khép kín, được hình thành biệt lập với giao lưu Trái lại, nó được hình thành trong giao lưu và cố định trong giao lưu Nó tạo thành cái giới hạn trong đời sống văn hóa của cộng đồng người này so với cộng đồng người khác, và giới hạn ấy là một phạm trù tương đối, không ngừng biến đổi, phát triển Do vậy cần xem xét bản sắc dân tộc trong sự biến đổi và phát triển”

- [185] “Nhân đây cũng xin lưu ý tới nội hàm hai chữ “bản sắc” Bản sắc trong tiếng Hán xét theo từ nguyên là màu gốc, chưa bị pha trộn,

là sắc thái tự nhiên, hồn nhiên, chưa bị đẽo gọt, trang điểm, tỉa tót Thuật ngữ này ít nhiều mang ý vị bảo thủ Nhưng trong đời sống hiện đại, ta hiểu bản sắc như là bản chất độc đáo, là diện mạo tinh

Trang 5

thần riêng, là cái sui generic của sự vật làm cho nó phân biệt với cái khác”

9 Dương Trung Quốc, “Bản sắc văn hoá dân tộc - Những cơ sở lịch sử” trong

Văn hoá Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận, sđd, tr 138-146; tr 138

- [138] “Theo tôi, ý niệm “đặc trưng” có thể hiểu như “bản sắc” là những yếu tố có tính cách tiêu biểu nhất, phổ biến nhất, giúp chúng

ta “nhận dạng” được văn hoá Việt Nam, hay tính cách con người Việt Nam so với nền văn hoá hay tính cách con người của các dân tộc khác” [“Bản sắc văn hoá dân tộc - Những cơ sở lịch sử” trong

Văn hoá Việt Nam đặc trưng và cách tiếp cận, sđd, tr 138-146; tr.

138]

10 Lê Thành Khôi, Vài ý kiến ngắn về văn hóa, văn học và giáo dục Việt Nam,

www Vietsciences, 2006

- “Tôi cho rằng ý niệm "bản sắc văn hoá" không phải là một ý niệm khoa học, hay là một ý niệm ít khoa học mà nhiều chính trị Người ta nói đến bản sắc dân tộc để khẳng định ý chí độc lập của mình đối với nước ngoài Tinh thần yêu nước rất rõ ràng trong văn học Việt Nam,

là đặc trưng số một của nền văn học của ta từ thế kỉ X đến bây giờ”

11 Mai Văn Hai- Mai Kiệm, Xã hội học văn hoá, Nxb KHXH, 2003

- “Trong sách báo Xã hội học, bản sắc văn hoá thường được hiểu là

những đặc điểm nổi bật và ổn định, tạo ra tính đồng nhất của con người ở các cấp độ cá nhân và nhóm, cũng như ở cấp độ toàn thể xã hội Nó được thể hiện ở tất cả các lĩnh vực của đời sống như ý thức

về nguồn cội, cách tư duy, cách sáng tạo khoa học và nghệ thuật, phong cách sinh sống, phong tục tập quán, lễ nghi, tín ngưỡng, v.v…

mà một dân tộc hay một cộng đồng người nào đó cùng chia sẻ với nhau va khu biệt họ với những dân tộc hay cộng đồng khác D P Schafer viết rằng: “Người ta không thể đi rất xa trên con đường tính nhiều vẻ mà không gặp nhu cầu về bản sắc (identité), đó là nền tảng của toàn bộ sự tồn tại của con người Chúng ta cũng không thể bỏ qua nó, với tư cách cá nhân hay tư cách quốc gia, vì khái niệm bản sắc cắm sâu vào cái vô thức tập thể và vào sự tưởng tượng của con

người” [Báo Văn nghệ số ra ngày 111/2002] [104].

Trang 6

12 Zdzislaw Mach, Symbols, Conflict, and Identity, Essays in Political

Anthropology, State University of New York Press, 1993

- [ix] “Một đặc điểm của thế giới hiện đại là sự nảy sinh và phát triển của những khuynh hướng chia rẽ, sự đấu tranh vì tự trị văn hóa, sự tìm kiếm những cội nguồn và truyền thống văn hóa, sự nhấn mạnh đến những đặc thù văn hóa, và quyền của một nhóm đối với dạng thức đặc thù của sự phát triển”

- [ix và x] “Mỗi nền văn hóa chứa đựng một mô hình nhận thức về thế giới và mô hình này xác định đặc điểm nhóm này so với những nhóm khác về giá trị, hệ tư tưởng, và những mẫu thức (stereotypes)

Mô hình này được hình thành bởi những dạng thức tượng trưng/những dạng thức có tính biểu tượng (symbolic forms) Các biểu tượng thiết lập/tổ chức kinh nghiệm của dân tộc (people) và biểu lộ các mối quan hệ giữa các nhóm Chúng cũng đóng vai trò cơ bản trong quá trình xây dựng nên những đường biên/ranh giới văn hóa, tự bảo vệ mình, và thiết lập các mối quan hệ với thế giới bên ngoài”

- [3] “Bản sắc là một chỉnh thể phức hợp, đại diện cho tính cách hợp nhất, đa chiều kích và không thể giản hóa về những vai trò riêng lẻ

mà một cá nhân đóng vai trò trong những nhóm xã hội và những hoàn cảnh xã hội khác nhau”

- [4] “Ở cấp độ bản sắc cá nhân là câu trả lời cho câu hỏi “Tôi là ai trong quan hệ với những người khác?” Ở cấp độ xã hội đó là câu trả lời cho câu hỏi: “Chúng tôi là ai trong quan hệ với những nhóm người khác?” Những vấn đề liên quan đến bản sắc ở cả hai cấp độ dường như giống nhau trên nhiều bình diện, đặc biệt vì trong cả hai trường hợp bản sắc được hình thành trong sự thúc đẩy của sự liên kết, thích nghi và xung đột, và vì trong cả hai trường hợp bản sắc là thuộc về tính cách chủ quan và biểu trưng”

- [5] Bản sắc được hình thành trong hoạt động, hoặc đúng hơn là trong tương tác, trong quá trình trao đổi thông tin chúng ta gởi, nhận, và được làm sáng tỏ cho đến khi một hình ảnh chung tương đối rõ ràng được hiển hiện Trong tất cả các quá trình tương tác như vậy cả bản sắc cá nhân và bản sắc nhóm, và của cả đối tác, được hình thành, xác

Trang 7

định, và biểu lộ Bản sắc, vì vậy, là một hiện tượng có bối cảnh, quá trình và động lực”

- [5] “Từ nhiều quan điểm chung, bản sắc là kết quả của sự phân loại của nhân loại/của thế giới Sự phân loại là hoạt động tình thần cơ bản, phổ quát mặc dù rất đa dạng, và là những cấu trúc văn hóa cơ bản thông qua đó con người tạo nên trật tự trong thế giới nhận thức của họ Tư duy của con người cốt ở sự phân biệt và xác định những khách thể và thiết lập các mối quan hệ giữa chúng Nó có thể là kết quả của sự tồn tại của những cấu trúc chiều sâu cơ bản trong tư duy của con người – chung cho cả nhân loại và được truyền bằng gen – hoặc nó có thể là một đòi hỏi có tính chức năng của sự sống; nguồn gốc của nó dù gì đi nữa thì sự xếp đặt của trật tự thế giới và những hiện tượng dường như xác định những qua hệ của chúng, và sự liên kết những yếu tố riêng rẽ của kinh nghiệm thành một cấu trúc là quá trình có tính chức năng thông qua đó thế giới của con người được hình thành Thế giới tượng trưng, văn hóa và thuộc con người, trong

đó con người trải nghiệm như một hiện thực họ sống trong đó và đến lượt mình thế giới đó quy định hoạt động của họ, gồm cả việc phân loại, gọi tên và xác định đối tượng, hiện hữu và hiện tượng, trong đó các quan hệ đa dạng được thiết lập để hình thành nên một vũ trụ có

hệ thống”

- [5,6] “Nói đến con người chúng ta có thể nói đến bản sắc của cá nhân hoặc của một tập thể Chúng ta cũng có thể phân biệt giữa sự xác định khách quan (bên ngoài) với chủ quan (bên trong), và sự đan kết (intermeshing) của chủ quan và khách quan là trung tâm đối với quá trình cấu trúc của bản sắc

- [6] “Bằng cách gán cho con người hoặc nhóm người những chất lượng nào đó, hoặc bằng cách gộp họ vào những hạng loại (phạm trù) được xác định, con người tổ chức cuộc sống xã hội của họ, phân loại nó và bằng cách đó một mô thức có tính khái niệm, biểu trưng được hình thành Mô thức này miêu tả các mối quan hệ giữa con người, các nhóm, các khách thể, các tồn tại siêu nhiên, và các hiện tượng tự nhiên và đem lại những nền tảng của tư duy và hành động Con người tư duy và hành động trong quan hệ với thế giới tùy thuộc vào mô thức biểu trưng này và không phù hợp với “khách thể” tự nhiên cũng như với những đặc điểm của các thành tố của thế giới

Trang 8

Điều này không có nghĩa là khách thể không có ảnh hưởng gì đến tư duy của con người hay không liên quan đến cấu trúc văn hóa

- [7] “Ý thức xã hội, mô hình khái niệm của thế giới, phát triển cùng lúc với quá trình quan hệ giữa người với người và hoạt động của họ cũng như quan hệ với thế giới (tự nhiên và xã hội) Vì vậy, mô hình

về thế giới là một thực thể có động lực được sáng tạo, thay đổi và phát triển trong quá trình lịch sử Bất cứ thời điểm nào con người cũng hoạt động theo cách giải thích của họ về thế giới Những tác động của các hoạt động này dẫn đến hệ quả là sự hình thành/quy định (shape) quan điểm, nhận thức và cách giải thích của họ về hiện thực đồng thời đóng góp vào mô thức tinh thần (mental model) của thế giới Vì vậy, để hiểu những hoạt động của con người chúng ta phải nghiên cứu cả những mô hình của họ về thế giới lẫn quá trình tương tác trong đó tỉ lệ quyền lực, theo Elias và Ardener, đóng vai trò chính

- [7] “Chúng ta luôn chọn một ít đặc điểm tích cực và hấp dẫn của nền văn hóa chúng ta như là những thành tố của “hình ảnh tự thân” của chúng ta trong khi có xu hướng dựng nên hình ảnh của những người khác trên cơ sở của những ít hấp dẫn hơn của nền văn hóa của họ”

- [9] “Chúng ta thường xác định chúng ta trong quan hệ với kẻ khác,

và các bình diện của bản sắc của chúng ta được nhấn mạnh trong một hoàn cảnh cụ thể phụ thuộc vào những kẻ khác này và bản sắc của họ”

- [9, 10] “Một hệ thống xã hội càng phức hợp, một cá nhân hoặc một nhóm càng có nhiều bản sắc Một người có thể nói về bản sắc nghề nghiệp, bản sắc giai cấp, bản sắc vùng, bản sắc tộc người, hoặc bản sắc dân tộc Một người có thể có tất cả các cấp độ bản sắc được mã hóa trong mô thức tinh thần của anh ta về thế giới và trong một tình huống xã hội cụ thể, trong tiếp xúc với những người khác, một trong

số đó trở nên nổi bật (the fore) và nó quy định hành động được diễn

ra bởi một người đối với một hoặc những đối tác của anh ta.”

- [11] “Bản sắc trong những nhóm (mang tính) tộc người đã và đang được thảo luận rộng rãi cả trong xã hội học và nhân loại học Những thảo luận này mở rộng đến mức chính khái niệm bản sắc thường được dùng như là đồng nghĩa với bản sắc tộc người”

Trang 9

- [12] “Bản sắc tộc người được xác định trong khuôn khổ của sự thống nhất văn hóa và được dựa trên sự tự xác định trên nền tảng của những đặc trưng văn hóa của một tộc người trong thế đối lập với những đặc trưng của tộc người khác”

- [14] “Ở một cấp độ chung nhất, bản sắc tộc người tự nó chuyển thành bản sắc quốc gia/dân tộc (national identity) khi có niềm tin vào tổ tiên và cội nguồn chung và sự đồng nhất của một nền văn hóa được liên kết với ước muốn đạt được một nhà nước có chủ quyền để bảo vệ sự thống nhất và phát triển tự do của văn hóa của tộc người đó”

- [14] “Sự đồng nhất (identity) và sự chia tách (separateness) là hai mặt của một đồng tiền Bằng cách xác định “những người khác” chúng ta tách bạch họ và chúng ta Sự phân tách này không cần thiết phải có nghĩa là sự thù địch Những đối tác trong những quan hệ xã hội luôn tích ứng với nhau, thiết lập nên những quy phạm/quy tắc tiếp xúc tương đối bền vững, và cùng tồn tại phụ thuộc vào mối cân bằng quyền lực giữa chúng”

- [18] “Ở cấp độ nhóm, con người muốn trau dồi và phát triển truyền thống và di sản – những thứ làm cho họ khác với các đơn vị văn hóa khác (other cultural units)

- [18,19] “Nói chung, con người muốn khác biệt và muốn những khác biệt của mình được nhận biết và duy trì, phát triển một cách an toàn.”

13 Judith N Martin, Thomas K Nakajama, Lisa A Flores, Readings in Cultural Contexts, Mayfield Publishing Company, California, 1998

Bản chất của văn hóa (Gust A Yep)

- Nhìn chung, bản sắc là một quan niệm/ý niệm của một cá nhân về bản thân (self) trong một bối cảnh chính trị, văn hóa, địa lý và xã hội

cụ thể Bản sắc đem lại cho cá nhân một ý thức/cảm nhận về bản thân, về tình người và về nền tảng của kinh nghiệm (Hecht, Collier

& Ribeau, 1993)

- Bản sắc là trừu tượng, phức tạp, đa chiều kích, thay đổi (fluid) và không hình thù (Cupach & Imahori, 1993)

Trang 10

- Con người có đa bản sắc – tộc người, chủng tộc, nghề nghiệp, kinh

tế xã hội, giới tính, và quan hệ thân thuộc – được Cupach và Imahori miêu tả như là “những bản sắc văn hóa liên quan hệ” (interconnected cultural identity)

- Collier và Thomas (1988), đồng ý với quan niệm của Geert (1973)

về văn hóa như là những hệ thống truyền phát có tính lịch sử, xác định bản sắc văn hóa như là “sự đồng nhất và chấp nhận một cách có

ý thức mình thuộc cộng đồng – nơi có hệ thống biểu trưng, ý nghĩa cũng như những chuẩn mực trong ứng xử được mọi người chia sẻ

- Sarup (1996) đi xa hơn, cho rằng “ bản sắc là một cấu trúc, một chuỗi/hệ quả (consequence) của một quá trình tương tác giữa con người, thể chế và thói quen/thực tiễn”

- Nói tóm lại, bản sắc văn hóa là một cấu trúc xã hội đem lại cho cá nhân một thân phận/địa vị có tính bản thể luận (cảm giác/ý thức về

“sự tồn tại”) và những kỳ vọng trong quan hệ ứng xử xã hội (cách thức hoạt động) (trang 79)

14 Trompenaars, Fons; Hampden-Turner, Charles, Riding the Waves of

Culture Understanding Cultural Diversity in Business, London: Nicholas

Brealey Publishing, Second Edition, 1997

- Văn hóa không phải là một “vật”, một chất mà là được tạo nên bởi quan hệ tương tác của con người

- Mỗi nền văn hóa đều tự phân biệt nó với các nền văn hóa khác bằng cách lựa chọn những phương án giải quyết riêng đối với những tình huống khó xử

15 Charles Lindholm, Culture Identity, the History, Theory, and Practice of Psychological Anthropology, McGraw-Hill, New York, 2001

- Đối với người Hy Lạp và người La Mã, con người không được coi như là những người hành động có vai trò quan trọng Thay vào đó,

họ bị ràng buộc vào quan hệ gia đình và cộng đồng, gắn chặt họ với

tổ tiên và với những người cùng thời Sự tồn tại cá nhân được gắn kết sâu sắc với tổ tiên, dòng họ Người chiến binh của Homer tự hào

kể lại phả hệ của mình bất kỳ khi nào được hỏi về bản sắc (identity) của mình, vì anh ta chỉ cảm thấy qua dòng máu của tổ tiên anh ta mới có được vị trí cao quý trong cộng đồng Sức mạnh của dòng phụ

Ngày đăng: 17/01/2016, 23:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w