MỤC LỤCTrang Chương 1 : QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VỚI SỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 51.1 Quản lý nguồn nhân lực nữ và những nhân tố tác động đến việc quản lý nguồn nhâ
Trang 1Tên đề tài “Quản lý nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội ở Bình Dương
hiện nay”
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH : Công nghiệp hoá
HĐH : Hiện đại hoá
CNKT : Công nhân kỹ thuật
CSXH : Chính sách xã hội
GDI : Chỉ số phát triển giới
GDP : Tổng sản phẩm nội địa
HDI : Chỉ số phát triển con người
THCN : Trung học chuyên nghiệp
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 2MỤC LỤC
Trang
Chương 1 : QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VỚI SỤ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 51.1 Quản lý nguồn nhân lực nữ và những nhân tố tác động đến
việc quản lý nguồn nhân lực nữ ở Việt Nam hiện nay 191.2 Tầm quan trọng của việc quản lý nguồn nhân lực nữ và yêu
cầu mới đối với quản lý nguồn nhân lực nữ trong phát triển
kinh tế-xã hội ở Việt Nam hiện nay 31
Chương 2: NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VÀ VIỆC QUẢN LÝ
NGUỒN NHÂN LỰC NỮ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở BÌNH DƯƠNG HIỆN NAY- THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
2.1 Thực trạng nguồn nhân lực nữ và công tác quản lý nguồn nhân
2.2 Những vấn đề đặt ra đối với quản lý nguồn nhân lực nữ ở Bình
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ
YẾU ĐỂ QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC NỮ TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở
3.1 Phương hướng quản lý nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát
triển kinh tế - xã hội ở Bình Dương hiện nay 613.2 Những giải pháp chủ yếu để quản lý nguồn nhân lực nữ trong
quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Bình Dương hiện nay 67
Trang 3CNH-HĐH là con đường tất yếu của mọi quốc gia nhằm phát triển kinh tế - xãhội Để thực hiện CNH-HĐH cần phải huy động mọi nguồn lực cần thiết ở trong vàngoài nước, bao gồm: nguồn nhân lực, nguồn tài lực, công nghệ, tài nguyên thiênnhiên, các ưu thế và lợi thế (về điều kiện địa lý, thể chế chính trị, …) Trong cácnguồn này thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, quyết định các nguồn lực khác.
Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và xu thế chuyển nền kinh tếchủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sang nền kinh tế tri thức đã làm cho laođộng trí tuệ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và tiến bộ
xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển và trở thành tài nguyên quý giá nhất củamỗi quốc gia, dân tộc Vì vậy, vấn đề nguồn nhân lực ngày càng giữ vị trí trung tâmđối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, trong đó có Việt Nam.Con người đang được coi là động lực đồng thời là mục tiêu cuối cùng trong quá trìnhphát triển của nước ta
Với thiên chức của mình, phụ nữ là người đảm nhiệm vai trò “kép”: vừa là lựclượng lao động cơ bản của xã hội, vừa có trách nhiệm trực tiếp tái sản xuất ra conngười Quan tâm đến sự phát triển của phụ nữ nói chung, quản lý, khai thác và bồidưỡng nguồn nhân lực nữ nói riêng không chỉ là vấn đề nhân đạo của một quốc gia,một xã hội mà còn là đòi hỏi thiết yếu, ảnh hưởng trực tiếp và mạnh mẽ đến sự tăngtrưởng kinh tế và tiến bộ xã hội
Trong chiến lược chung về phát triển nguồn nhân lực, xuất phát từ những nhucầu khách quan và quan điểm mácxít về vai trò của phụ nữ, Đảng Cộng sản Việt Namluôn coi phụ nữ là động lực quan trọng của cách mạng Việt Nam Đảng và Nhà nước
ta đã có nhiều biện pháp, chính sách sử dụng nguồn nhân lực nữ và đã huy động đượcsức mạnh to lớn của phụ nữ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Định hướngchiến lược của Việt Nam hiện nay là đổi mới và phát triển Những cơ hội và thử tháchđặt ra đã và đang đòi hỏi hơn bao giờ hết mọi tiềm năng quốc gia phải được khai tháchợp lý, trong đó có nguồn nhân lực nữ
So với cả nước, Bình Dương là một trong những địa phương có tốc độ tăngtrưởng cao với mức tăng GDP bình quân của cả nước, đạt trên 14%/năm Đóng góp
Trang 4cho sự phát triển chung của tỉnh không thể không kể đến vai trò quan trọng của phụ
nữ - chiếm trên 51,9% dân số và 53% lực lượng lao động toàn tỉnh Chủ trương pháttriển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã tạo cơ hội cho sự phát triển của phụ
nữ, song, cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho phụ nữ trong việc tiếp cận vớicác cơ hội về việc làm, giáo dục - đào tạo, trong hưởng thụ các thành quả của sự pháttriển Trong khi đó, sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay ở Bình Dương đang yêu cầungày càng cao đối với nguồn nhân lực nữ về trình độ chuyên môn, thể lực, kỹ nănglao động
Vấn đề đặt ra đối với các nhà nước là phải quản lý khai thác, bồi dưỡng và pháthuy tiềm năng nguồn nhân lực nữ tạo động lực cho sự phát triển của tỉnh Do đó, việcnghiên cứu làm rõ thực trạng nguồn nhân lực nữ, tìm giải pháp để quản lý, bồi dưỡng
và phát huy nguồn lực này là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp thiết đối với
Bình Dương Vì thế, tôi chọn vấn đề “Quản lý nguồn nhân lực nữ trong quá trình
phát triển kinh tế-xã hội ở Bình Dương hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ Quản
lý hành chính công
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài.
Do vị trí, vai trò và ý nghĩa chiến lược quan trọng của nguồn nhân lực đối với
sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về
vấn đề này Tiêu biểu như:“ Con người và nguồn lực con người trong phát triển” của
Viện Thông tin Khoa học xã hội (Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995); Công trình
KHCN cấp nhà nước KX - 07 “ Con người Việt Nam - Mục tiêu và động lực của sự
phát triển kinh tế - xã hội” năm 1995, “ Phát triển nguồn nhân lực Kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta” của PTS Trần Văn Tùng và Lê Ái Lâm ( Nxb Chính trị Quốc
gia, Hà Nội, 1996), “Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào CNH - HĐH” của Phạm Minh Hạc (Nxb Chính trị Quốc gia, 2001), “ Lao động, việc làm và nguồn nhân
lực ở Việt Nam 15 năm đổi mới” của Nolwen Henaff và Jean - Yves Martin…
Luận án tiến sĩ: “ Phát triển nguồn nhân lực và vai trò của giáo dục - đào
tạo đối với phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp CNH - HĐH” của Nguyễn
Trang 5Thanh, 2001; Luận án phó tiến sĩ: “Sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình CNH
-HĐH ở nước ta” của Trần Kim Hải, 1999…; Nguồn nhân lực nữ là bộ phận quan
trọng trong chiến lược xây dựng và phát triển nguồn nhân lực, vì thế đã thu hút được
sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, đặc biệt là các nhà khoa học nghiên
cứu về phụ nữ Tiêu biểu như: GS triết học Lê Thi với Vấn đề tạo việc làm tăng thu
nhập nâng cao địa vị người phụ nữ hiện nay, Vài suy nghĩ về phương pháp luận tiếp cận việc nghiên cứu người phụ nữ và vai trò của giáo dục gia đình trong sự phát triển nguồn nhân lực, 1993; Tiến sĩ Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng với “Phụ nữ, giới
và phát triển” năm 2000…
Trước những yêu cầu cấp thiết của việc nghiên cứu vấn đề nguồn nhân lực nữtrong phát triển kinh tế - xã hội, từ phía các cơ quan hoạch định chính sách cũng đã có
một số hội thảo tập trung bàn về vấn đề này như: “Vai trò giới tính và nguồn nhân
lực trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội” do Uỷ ban Các vấn đề xã hội của
Quốc hội tổ chức năm 1995, hội thảo “Đưa vấn đề giới vào phát triển - Thông qua sự
bình đẳng giới về quyền hạn, nguồn lực và tiếng nói” do Ngân hàng Tái thiết và phát
triển Quốc tế/ Ngân hàng Thế giới tổ chức tại Hà Nội năm 2000
Ngoài ra, còn có một số bài viết đăng tải trên các báo, tạp chí đề cập đến vấn đề
nguồn lực phụ nữ như “Quan tâm bồi dưỡng nguồn nhân lực nữ trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” của PGS Bùi Thị Kim Quỳ (Tạp chí Khoa học về
phụ nữ, số 2, 1996); “Cơ sở khoa học và thực tiễn để xác định nghề đào tạo dự phòng
cho phụ nữ” của Tiến sĩ Nguyễn Tín Nhiệm và Tiến sĩ Phan Thị Thanh (Tạp chí
Khoa học về phụ nữ, số 4,2002); Điều tra cơ bản nguồn nhân lực nữ cho
CNH-HĐH- của Trần Hàn Giang (Tạp chí khoa học của Viện khoa học xã hội Việt Nam,
năm 2001); Phạm Thị Thanh Hương (2005), “Những nhân tố tác động đến nguồn
nhân lực nữ trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội”, Tạp chí Nghiên cứu con người,
Viện Nghiên cứu con người, tr 15-20
Ở Bình Dương, cho đến thời điểm hiện tại chưa có đề tài riêng biệt chuyênnghiên cứu về nguồn nhân lực nữ, đặc biệt là vấn đề quản lý nguồn nhân lực nữ Chỉ
có một số vấn đề về nguồn nhân lực nữ được nghiên cứu lồng ghép trong các đề tài
Trang 6chung về nguồn nhân lực của tỉnh như: Luận văn tiến sĩ “Những chuyển biến kinh
tế-xã hội tỉnh Bình Dương” (1945-2005) của Nguyễn Văn Hiệp, 2007; Chương trình
hành động số 56/CTr-TU của Tỉnh ủy Bình Dương về Tăng cường công tác phụ nữtrong thời kỳ CNH-HĐH; Đề án Tăng cường công tác đoàn kết, tập hợp thanh niêncông nhân tỉnh Bình Dương (2007-2010) của UBND tỉnh Bình Dương; Nghiên cứu,đánh giá tác động của quá trình CNH-HĐH đến nguồn lao động tại Bình Dương của
Sở LĐTB-XH tỉnh
Các công trình nghiên cứu, các bài viết đã đề cập những khía cạnh khác nhau
về nguồn nhân lực nói chung, nguồn nhân lực nữ nói riêng Tuy nhiên, cho đến naycác nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ tại tỉnh Bình Dương còn rất phân tán, thiếunhững chuyên khảo về thực trạng nguồn nhân lực nữ một cách toàn diện, hệ thống để
từ đó đề xuất các giải pháp nhằm quản lý nguồn nhân lực nữ dựa trên cơ sở đảm bảo
quyền lợi và trách nhiệm một cách công bằng giữa hai giới Vì vậy, vấn đề Quản lý
nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Bình Dương hiện nay vẫn là
một mảng trống cần được nghiên cứu làm sáng tỏ
3 Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Mục đích: Trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý nguồn nhân lực nữ ở Bình
Dương hiện nay, luận văn đưa ra những giải pháp chủ yếu để quản lý nhằm phát huytối ưu nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở Bình Dương
Để đạt mục đích đó, luận văn phải thực hiện nhiệm vụ sau:
- Phân tích làm rõ những vấn đề lý luận chung về quản lý nguồn nhân lực nữ,những nhân tố tác động đến quản lý nguồn nhân lực nữ cũng như tầm quan trọng củaviệc quản lý nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam hiện nay
- Làm rõ thực trạng nguồn nhân lực nữ và quản lý nguồn nhân lực nữ ở BìnhDương hiện nay
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm quản lý để phát huy tối ưu nguồnnhân lực nữ ở Bình Dương hiện nay
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ trong quá trình
phát triển kinh tế - xã hội từ khi Đảng ta chủ trương đổi mới đất nước, trong đó tập
Trang 7trung nghiên cứu thực trạng nguồn nhân lực nữ và những khía cạnh chủ yếu trongviệc quản lý để phát huy nguồn nhân lực nữ ở Bình Dương từ năm 2000 đến 2010.
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
và những quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người, nguồn lực conngười, quan điểm về vai trò của phụ nữ và giải phóng phụ nữ
Phương pháp thực hiện đề tài là các nguyên tắc phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong phân tích những vấn đềthực tiễn xã hội, chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử và lôgíc, phân tích và tổnghợp, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể Ngoài ra luận văn còn sử dụngphương pháp thống kê, thu thập xử lý thông tin và áp dụng cách tiếp cận nghiên cứubình đẳng giới
5 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Làm rõ thực trạng nguồn nhân lực nữ và quản lý nguồn nhân lực nữ ở BìnhDương hiện nay
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp chủ yếu để quản lý nhằm nâng caochất lượng nguồn nhân lực nữ ở Bình Dương hiện nay
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Góp phần vào việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về nguồn lực phụ nữ, bổsung thêm những cơ sở khoa học có thể tham khảo trong hoạch định chiến lược tổngthể và chính sách cụ thể liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực nữ ở tỉnh Bình Dương
Dùng làm tài liệu tham khảo trong việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về nguồnnhân lực nữ trong hệ thống Hội LHPN tỉnh Bình Dương
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văngồm 3 chương, 6 tiết
Chương 1:
QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VỚI SỤ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
-XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Trang 81.1 QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC NỮ VÀ NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC NỮ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1.1 Quản lý nguồn nhân lực nữ - một số vấn đề lý luận chung
1.1.1.1 Quan niệm về nguồn lực con người (nguồn nhân lực)
Theo Từ điển Tiếng Việt : Nguồn là nơi phát sinh, nơi cung cấp Nhân lực là
sức của con người bao gồm: sức lực cơ bắp (thể lực), trình độ tri thức được vận dụngvào quá trình lao động của mỗi cá nhân (trí lực), những ham muốn, hoài bão của bảnthân người lao động hướng tới một mục đích xác định (tâm lực) [36, tr.97] Nhân lựcvới ý nghĩa đầy đủ của nó bao gồm ba yếu tố có sự liên hệ biện chứng với nhau, đó là
thể lực, trí lực, tâm lực Nguồn nhân lực được hiểu là nơi phát sinh, nơi cung cấp sức
của con người trên đầy đủ các phương diện cho lao động sản xuất
Nguồn lực con người" hay nguồn nhân lực" là khái niệm được hình thành trongquá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực của sựphát triển Các công trình nghiên cứu trên thế giới và trong nước gần đây đề cập đến kháiniệm nguồn nhân lực theo các góc độ khác nhau
Theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc: “ Nguồn nhân lực là trình độ lành nghề,
là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế hoặc tiềmnăng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng” [2, tr.3] Việc quản lý và sửdụng nguồn lực con người khó khăn phức tạp hơn nhiều so với các nguồn lực khácbởi con người là một thực thể sinh vật - xã hội, rất nhạy cảm với những tác động qualại của các mối quan hệ tự nhiên, kinh tế, xã hội diễn ra trong môi trường sống của họ
Các chuyên gia Ngân hàng Thế giới cho rằng: Nguồn nhân lực là toàn bộ “vốnngười” (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp ) mà mỗi cá nhân sở hữu Nguồn lựccon người được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các nguồn vốn khác như tàichính, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên
Ở nước ta, một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học - công nghệ cấpnhà nước mang mã số KX - 07 cho rằng nguồn lực con người được hiểu là dân số và chấtlượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực và phẩmchất, thái độ và phong cách làm việc GS Phạm Minh Hạc cho rằng “Nguồn nhân lực là
Trang 9tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương, tức là nguồn laođộng được chuẩn bị (ở các mức độ khác nhau) sẵn sàng tham gia một công việc laođộng nào đó” 13, tr.269 TS Nguyễn Thanh xác định “nguồn nhân lực đó là tổng thểsức dự trữ, những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động củacon người trong việc cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội” 32, tr.70.
Như vậy, các khái niệm trên cho thấy nguồn lực con người không chỉ đơn thuần
là lực lượng lao động đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh của thể chất, trí tuệ,tinh thần của các cá nhân trong một cộng đồng, một quốc gia được đem ra hoặc cókhả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội
Khái niệm nguồn nhân lực" (Human Resoures) được hiểu như khái niệm
nguồn lực con người" Khi được sử dụng như một khái niệm công cụ để điều hành,thực thi chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nguồn nhân lực bao gồm bộ phận dân sốtrong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động cótham gia lao động - hay còn được gọi là nguồn lao động Bộ phận của nguồn lao độnggồm toàn bộ những người từ độ tuổi lao động trở lên có khả năng và nhu cầu lao độngđược gọi là lực lượng lao động
Như vậy, xem xét dưới các góc độ khác nhau có thể có những cách hiểu, quanniệm khác nhau về nguồn nhân lực nhưng những quan niệm này đều thống nhất nộidung cơ bản: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội Con ngườivới tư cách là yếu tố cấu thành lực lượng sản xuất, giữ vị trí hàng đầu, là nguồn lực cơbản và nguồn lực vô tận của sự phát triển thì không thể chỉ được xem xét đơn thuần ởgóc độ số lượng hay chất lượng mà là sự tổng hợp của cả số lượng và chất lượng;không chỉ là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động mà là các thế hệ con người vớinhững tiềm năng, sức mạnh trong cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội
Chính từ các quan niệm trên cho thấy rằng: nguồn nhân lực là tổng thể số
lượng và chất lượng con người với tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và những phẩm chất đạo đức - tinh thần tạo nên năng lực mà bản thân con người và
xã hội đã, đang và sẽ huy động vào quá trình lao động sáng tạo vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.
Trang 10Khái niệm nguồn lực con người bao quát được những mặt, những khía cạnh,phương diện cơ bản của nguồn lực con người, khắc phục được những hạn chế trongnhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa các mặt số lượng và chất lượng con ngườivới tổng hoà các tiêu chí về trí lực, thể lực và tâm lực, khẳng định nguồn lực conngười vừa là khách thể, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và quan hệ xã hội.Nói đến nguồn nhân lực tức là nói đến con người đã, đang và sẽ tham gia vào quátrình phát triển kinh tế - xã hội Ở đây, cần lưu ý đến một số vấn đề sau:
Con người nói chung và nguồn nhân lực xã hội nói riêng vừa là lực lượng tiêuthụ sản phẩm, vừa là lực lực lượng lao động sản xuất tạo ra sản phẩm Do đó, vai tròcủa nguồn nhân lực xã hội rất quan trọng, là trung tâm của sự phát triển, nên có thểnói nguồn nhân lực xã hội vừa là động lực, mục tiêu vừa đóng vai trò quyết định đốivới sự phát triển kinh tế - xã hội Phát triển kinh tế - xã hội được dựa trên nhiều nguồnlực: nhân lực (nguồn lực con người), vật lực (nguồn lực vật chất), tài lực (nguồn lực
về tài chính, tiền tệ), vv , Song chỉ có nguồn lực con người mới tạo ra động lực cho
sự phát triển, những nguồn lực khác muốn phát huy được tác dụng chỉ có thể thôngqua nguồn lực con người Ngay cả trong điều kiện đạt được tiến bộ khoa học kỹ thuậthiện đại như hiện nay thì cũng không thể tách rời nguồn lực con người Chính conngười tạo ra những máy móc thiết bị hiện đại Điều đó thể hiện mức độ hiểu biết vàchế ngự tự nhiên của con người Ngay cả đối với máy móc thiết bị hiện đại, nếu thiếu
sự điều khiển, kiểm tra của con người thì chúng chỉ là vật vô dụng Chỉ có tác độngcủa con người mới đưa chúng vào hoạt động và phát huy được sức mạnh của chúng.Con người có khả năng sáng tạo cao, có khả năng phát huy vận dụng có hiệu quả cácnguồn lực khác nên vai trò của nguồn nhân lực xã hội được xác định đóng vai trònhân tố quyết định cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Con ngườikhông chỉ là mục tiêu, động lực của sự phát triển, thể hiện mức độ chế ngự tự nhiên,bắt thiên nhiên phụ vụ cho con người, mà còn tạo ra những điều kiện để hoàn thiệnchính bản thân con người Lịch sử phát triển của loài người đã chứng minh rằng trảiqua quá trình lao động hàng triệu năm mới trở thành con người ngày nay và trong quátrình đó, mỗi giai đoạn phát triển của con người lại làm tăng thêm sức mạnh chế ngự
Trang 11tự nhiên, tăng thêm động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Như vậy, động lực,mục tiêu của sự phát triển và tác động của sự phát triển tới bản thân con người cũngnằm trong chính bản thân con người Điều đó lý giải tại sao con người được coi lànhân tố năng động nhất, quyết định nhất của sự phát triển
Nói tới nguồn lực con người, không thể bỏ qua phẩm chất đạo đức, nhân cáchcon người Ngày nay, cái đem lại lợi thế cho nguồn nhân lực ngoài trí lực và thể lực,còn phải tính đến phẩm chất đạo đức, nhân cách con người Bởi vì, trí lực cũng nhưthể lực chỉ có thể tạo ra sức mạnh thúc đẩy tiến bộ xã hội khi chủ nhân của nó lànhững con người có phẩm chất đạo đức, nhân cách tốt Trình độ phát triển nhân cách,đạo đức đem lại cho con người khả năng thực hiện tốt các chức năng xã hội, nâng caonăng lực sáng tạo của họ trong hoạt động thực tiễn xã hội Do vậy, phát triển nguồnnhân lực, ngoài việc quan tâm nâng cao mặt bằng và đỉnh cao dân trí, tới việc bồidưỡng và nâng cao sức khoẻ cho mỗi con người, cho cộng đồng xã hội, chúng ta phảiđặc biệt coi trọng việc xây dựng đạo đức, nhân cách, lý tưởng cho con người
Kinh nghiệm của nhiều nước đã cho thấy thành tựu phát triển kinh tế - xã hộiphụ thuộc chủ yếu vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.Nhận thức đúng vai trò quyết định của nguồn lực con người và đầu tư cho chiến lượccon người, đặt lên hàng đầu chất lượng nguồn lao động, coi giáo dục - đào tạo là chìakhoá của sự tăng trưởng đã đem lại thành công cho các nước công nghiệp mới Đông
Á Hàn Quốc từ một trong những nước nghèo nhất thế giới trở thành một trong nhữngquốc gia công nghiệp mới hùng mạnh nhất về kinh tế của thế giới thứ ba, vượt xa An-giê-ri - quốc gia có cùng điểm xuất phát về trình độ cách đây 40 năm Một nước Nhậtđạt được những bước tiến vượt bậc cũng do biết đặt vấn đề con người vào trung tâmcủa sự phát triển bằng các triết lý nhân sự mang tính dân tộc, biết sử dụng nguồn lựccon người thông qua các thành tựu khoa học công nghệ và đã nhanh chóng bứt lên trởthành cường quốc kinh tế thứ hai trên thế giới
Do vậy, không phải ngẫu nhiên các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin đãkhẳng định: lịch sử phát triển chân chính của xã hội là lịch sử phát triển con người, docon người và vì con người Tiến trình phát triển lịch sử được quyết định bởi trình độ
Trang 12phát triển của lực lượng sản xuất, trong đó người lao động ngày càng trở thành yếu tốquan trọng hàng đầu Nhận thức sâu sắc về vai trò của con người trong chiến lượcphát triển kinh tế - xã hội, Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: Sựnghiệp phát triển kinh tế đặt con người vào vị trí trung tâm, thống nhất tăng trưởngkinh tế với công bằng và tiến bộ xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhiều lầnkhẳng định mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con người, do conngười Vì vậy, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, xét về thực chất làchiến lược con người Nâng cao dân trí, bồi dưỡng, phát huy nguồn lực to lớn củacon người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH, HĐH đấtnước" 8, tr.21 Đại hội toàn quốc lần thứ IX Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục xácđịnh “ nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tếnhanh và bền vững ” 9, tr.112 Tạo bước chuyển mạnh về phát triển nguồn nhânlực được coi là một trong ba khâu đột phá để làm chuyển động toàn bộ tình hình kinh
tế - xã hội
Từ vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, vấn đềtất yếu đặt ra là phải quản lý được nguồn lực con người một cách tối ưu
Việc quản lý nguồn lực đòi hỏi sự hiểu biết về con người ở nhiều khía cạnh,
và trên quan niệm con người là yếu tố trung tâm của sự phát triển Các kỹ thuật quản
lý nhân lực thường có mục đích tạo điều kiện để con người phát huy hết khả năng
tiềm ẩn, giảm lãng phí nguồn lực, tăng hiệu quả của tổ chức Theo đó Quản lý nguồn
nhân lực chính là sử dụng các chính sách nhằm nâng cao vai trò của nguồn lực con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội, qua đó làm gia tăng giá trị của con người
Quản lý nguồn lực con người thể hiện ở ba mặt: phát triển nguồn nhân lực, sửdụng nguồn nhân lực và nuôi dưỡng môi trường cho nguồn nhân lực 41, tr.287 Điều
đó liên quan đến hàng loạt vấn đề từ việc nuôi dưỡng, giáo dục - đào tạo đến việc tổchức khai thác, sử dụng nguồn nhân lực; từ việc phát huy tính chủ động, tích cực,sáng tạo của mỗi cá nhân đến việc tạo môi trường xã hội thuận lợi cho sự cống hiến
và hưởng thụ của con người; từ việc nâng cao năng lực và phẩm chất của người laođộng với tư cách là chủ thể nhận thức và hoạt động thực tiễn trong quá trình phát triểnkinh tế - xã hội đến khâu khai thác hợp lý, có hiệu quả trí lực, thể lực, tâm lực của họ
Trang 13với tư cách là khách thể của sự khai thác; từ việc sử dụng con người với tư cách làmột nguồn lực, động lực cho sự phát triển đến việc chăm lo cho con người với tư cách
là mục tiêu của sự phát triển kinh tế - xã hội Những vấn đề trên nếu thực hiện tốt sẽphát huy được vai trò của nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xãhội
1.1.1.2 Quan niệm về nguồn nhân lực nữ
Nếu con người là nguồn lực có vai trò quyết định đối với sự phát triển kinh
tế-xã hội thì phụ nữ là bộ phận cơ bản cấu thành nguồn lực ấy
Hiểu theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực nữ bao gồm tổng hoà các tiêu chí của bộphận dân số nữ đang có khả năng tham gia vào quá trình lao động xã hội và các thế hệphụ nữ nối tiếp sẽ phục vụ xã hội Nói cách khác, nguồn nhân lực nữ được hiểu khôngchỉ đơn thuần là lực lượng lao động nữ đã có và sẽ có, mà còn bao gồm sức mạnh trítuệ, thể chất, tinh thần của các cá nhân nữ trong một cộng đồng, quốc gia được đem rahoặc có khả năng đem ra sử dụng vào quá trình phát triển xã hội
Nguồn nhân lực nữ - theo nghĩa hẹp - với tư cách là lực lượng lao động của xãhội, bao gồm nhóm phụ nữ đến tuổi lao động trở lên có khả năng lao động Pháp luậtViệt Nam quy định độ tuổi lao động đối với nữ trong khoảng nhỏ hơn của độ tuổi laođộng nam (nữ từ đủ 15 đến hết 55 tuổi, nam từ đủ 15 đến hết 60 tuổi) nên mặc dù dân
số nữ thường xuyên cao hơn (thường chiếm trên 51% dân số) song, lực lượng laođộng nữ lại thường chiếm tỷ lệ nhỏ hơn (khoảng 46,6% lao động xã hội)
Nghiên cứu về nguồn nhân lực nữ cần chú ý đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, việc quan niệm nguồn nhân lực nữ (rộng hay hẹp) chỉ mang tính chất
tương đối, phụ thuộc vào phạm vi điều chỉnh của chiến lược phát triển kinh tế - xãhội Với tư cách là phần nửa dân số và lực lượng lao động xã hội, vừa là người trựctiếp tái sản xuất ra nguồn nhân lực cho đất nước, phụ nữ luôn là vấn đề lớn đối vớichiến lược phát triển kinh tế - xã hội của bất kỳ quốc gia nào Vì thế, nguồn nhân lực
nữ phải được đề cập đến theo nghĩa rộng, có nghĩa là các mục tiêu phát triển nguồnnhân lực hướng tới khả năng lao động của các thế hệ phụ nữ
Trang 14Thứ hai, nghiên cứu về phụ nữ và nguồn nhân lực nữ đòi hỏi phải có phương
pháp tiếp cận đúng đắn Phương pháp luận cơ bản trong việc nghiên cứu ở đây là xemxét mối quan hệ giữa cái chung (con người) và cái riêng (giới nam, giới nữ) Đó làquan điểm tiếp cận về giới Điều này là do chính đặc điểm của đối tượng nghiên cứuquy định
Là con người, nam giới và phụ nữ giống nhau - đều vừa là thực thể sinh vật vừa
là thực thể xã hội - nhưng họ có khác biệt về mặt tự nhiên - sinh học của cơ thể.Những đặc điểm sinh học về giới tính là bẩm sinh và không thể thay đổi được Từ
những đặc điểm sinh học, xét về mặt xã hội, phụ nữ đảm nhiệm chức năng xã hội
khác nam giới, đó là chức năng trực tiếp tái sản xuất ra con người Từ đó nảy sinh
những khó khăn, thuận lợi khác nhau giữa giới nam và giới nữ trong học tập, làmviệc, sinh sống Phụ nữ thường gắn với con cái và gia đình Họ có những nhu cầu cấpthiết hơn nam giới về những dịch vụ y tế, dịch vụ gia đình, về điều kiện làm việc gầngia đình
Sự phân biệt về giới tính giữa nam và nữ có tính tự nhiên, bẩm sinh không tấtyếu dẫn tới sự phân biệt về giới có tính xã hội Tuy nhiên, từ trong lịch sử kéo dài đếnngày nay đã tồn tại sự bất bình đẳng giữa nam và nữ trong đời sống xã hội và giađình Phụ nữ thường được coi là người hiển nhiên phải chịu trách nhiệm và thích hợpvới việc chăm sóc con cái, gia đình Những công việc này thường ít được nhìn nhận ởgóc độ kinh tế Sự đánh giá thấp của xã hội về khả năng, giá trị của lao động nữ tronglao động sản xuất đã giam hãm người phụ nữ ở địa vị thấp kém trong xã hội và giađình với tất cả những bất công và thiệt thòi
Tóm lại, việc nghiên cứu về người phụ nữ nói chung và nguồn nhân lực nữ nói
riêng không thể tách rời việc nghiên cứu về giới tính và giới, về sự bình đẳng giới vàhậu quả đem lại cho sự phát triển chung khi lực lượng phụ nữ bị kìm hãm, không pháthuy được đầy đủ những tiềm năng cho việc cải tạo thiên nhiên, xã hội Vấn đề đặt ratrước hết đối với việc quản lý nguồn nhân lực nữ là phải xác định được những nhân tố
cơ bản tác động đến nguồn nhân lực nữ trong quá trình phát triển
Trang 151.1.1.3 Quản lý nguồn nhân lực nữ
Quản lý nhân lực là một lĩnh vực khó và cần nhiều phương thức khác nhau.Chính vì vậy có rất nhiều quan điểm khác nhau về quản lý nhân lực, chẳng hạn như :coi quản lý nguồn nhân lực vừa là nghệ thuật vừa là khoa học làm cho những mongmuốn của tổ chức và mong muốn của nhân viên tương hợp với nhau, cùng đạt đếnmục tiêu Hay xem quản lý nguồn nhân lực là những hoạt động (một quy trình) mà tổchức và người quản lý nhân sự tiến hành triển khai sắp xếp nhân lực nhằm đạt đượccác mục tiêu chiến lược của tổ chức Quy trình này gồm các bước tuyển dụng, quản
lý, trả lương, nâng cao hiệu quả hoạt động, và sa thải nhân viên trong tổ chức Quản
lý nguồn nhân lực là sự khai thác và sử dụng nguồn nhân lực của một tổ chức mộtcách hợp lý và hiệu quả,v
Nguồn nhân lực nữ là bộ phận quan trọng cấu thành nguồn nhân lực Do đó,quản lý nguồn nhân lực nữ gắn liền với quản lý nguồn nhân lực chung của tổ chức.Quản lý nguồn nhân lực nữ chính là việc phát huy tối đa năng lực, khai thác và sửdụng nguồn nhân lực nữ một cách hợp lý và có hiệu quả cao nhất Tuy nhiên, quản lýnguồn nhân lực nữ thường mang những đặc trưng về giới Chính vì vậy, quản lýnguồn nhân lực nữ thường lưu ý đến một số vấn đề như:
- Phụ nữ khi đi làm còn có gánh nặng về gia đình và con cái hơn so với nam giới
Vì vậy, quản lý nguồn nhân lực nữ thường phải có các chính sách nhằm tạo điều kiện
để người phụ nữ có thể điều hòa giữa gia đình và phát triển chuyên môn nghề nghiệp
- Tạo dựng các chính sách về bình đẳng giới Cả nam và nữ đều phải có những
cơ hội bình đẳng ở mỗi khu vực của quản lý nguồn nhân lực
- Tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa trong các chính sách của Chính phủ về cácdịch vụ chăm sóc gia đình, trẻ em để phụ nữ yên tâm với công việc
Vai trò đặc biệt quan trọng của nguồn nhân lực nữ không chỉ biểu hiện số lượnglớn trong dân cư và lực lượng lao động xã hội, mà chất lượng của nó quyết định sựphát triển hiện tại và tương lai của một dân tộc, quốc gia Nhưng nguồn nhân lực nữchỉ đem lại sự phát triển bền vững khi việc quản lý nó dựa trên cơ sở công bằng và
Trang 16hiệu quả, do đó bình đẳng giới cần được coi là một trong những mục tiêu của chiếnlược phát triển nguồn nhân lực
Ở Việt Nam với tỷ lệ nữ chiếm hơn 51% trong tổng số dân thì nguồn nhân lực nữ
sẽ là nguồn lao động quan trọng cho quá trình phát triển kinh tế-xã hội của đất nước.Quản lý nguồn nhân lực nữ tốt sẽ phát huy tối đa nguồn nhân lực nữ hiện có vào sựnghiệp CNH-HĐH
Không chỉ đối với Việt Nam, việc quản lý nguồn nhân lực nữ để tạo động lựcphát triển kinh tế bền vững và đảm bảo tiến bộ công bằng xã hội đã và đang được đặt
ra trong chiến lược phát triển của nhiều quốc gia Vào đầu những năm 60 của thế kỷ
XX, người ta chủ yếu đề cập đến mô hình phát triển hướng vào tăng trưởng kinh tế vàcho rằng tăng thu nhập quốc dân là biện pháp cần và đủ đối với sự phát triển của mộtđất nước Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế đã chỉ ra rằng việc tập trung quá cao chomục tiêu tăng trưởng kinh tế đã khiến cho các mục tiêu xã hội, vốn gắn chặt với ngườiphụ nữ như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục không được đầu tư phát triển một cáchtương xứng với tầm quan trọng của nó Điều này ảnh hưởng đến chất lượng củanguồn nhân lực và đến lượt nó lại có tác động tiêu cực trở lại đối với tăng trưởng kinh
tế Sự phát triển kinh tế vì thế không thể duy trì tính bền vững như mong muốn Quanđiểm mới về phát triển đòi hỏi trong việc quản lý nguồn nhân lực nữ không chỉ chú ýđến việc khai thác tối đa tiềm năng của nguồn lực này mà phải đồng thời quan tâmđầy đủ đến lợi ích và nhu cầu phát triển của phụ nữ
1.1.2 Những nhân tố tác động đến việc quản lý nguồn nhân lực nữ ở nước ta hiện nay
Thứ nhất, nhân tố tự nhiên - sinh học có tác động rất lớn đến thể lực và trí lực của nguồn nhân lực nữ, từ đó sẽ ảnh hưởng đến việc quản lý nguồn nhân lực này Do
cấu tạo cơ thể của phụ nữ khác với nam giới (phụ nữ thường thấp, bé, nhẹ cân hơn) và
do đặc điểm sinh lý của phụ nữ cũng khác nam giới (phụ nữ phải sinh con và nuôicon) nên nhìn chung sức khoẻ của phụ nữ thường yếu hơn so với nam giới Phụ nữgắn liền với việc sinh con duy trì sự tồn tại và phát triển của nhân loại Việc sinh con
vì thế là hiện tượng xã hội, nhưng trước hết cũng là hiện tượng tự nhiên, sinh học
Trang 17Song, chức năng sinh học đó được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ và chịu sự tácđộng của nhiều nhân tố như gia đình, môi trường kinh tế, môi trường giáo dục, môitrường cộng đồng Không quan tâm đúng mức đến các nhân tố tự nhiên - sinh học củaphụ nữ sẽ không chỉ mất mát hiện tại về năng suất, hiệu quả lao động, tác động tiêucực đến việc phát triển trí lực của phụ nữ mà còn là những cái giá phải trả trong mộtvài thế hệ tương lai của dân tộc xét về mặt giống nòi và phát triển bền vững đất nước.Quản lý nguồn nhân lực nữ vì thế cần thấy được những đặc điểm riêng về mặt tựnhiên - sinh học của phụ nữ để có những giải pháp và chính sách xã hội hợp lý
Thứ hai, nhân tố giáo dục - đào tạo Do vai trò quan trọng trong sự hình thành
và phát triển trí tuệ và nhân cách của con người nên nhân tố này đang được coi làphương thức phát triển nhanh chất lượng nguồn nhân lực Các quốc gia hiện nay đềucoi đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư cho phát triển, đầu tư trực tiếp vào nguồnlực con người Đối với nguồn nhân lực nữ, sự tác động của giáo dục - đào tạo có ýnghĩa đặc biệt quan trọng vì không chỉ liên quan đến 1/2 nguồn nhân lực mà còn ảnhhưởng đến sự phát triển trong tương lai của lực lượng lao động Điều này xuất phát từmối liên hệ giữa học vấn của phụ nữ với sự phát triển của xã hội theo tác động dâychuyền giữa trẻ em gái - người mẹ - thế hệ tương lai Các nghiên cứu cho thấy việchọc tập của phụ nữ mang lại những lợi ích đặc biệt quan trọng cho gia đình và xã hội.Giáo dục cho các em gái có sức tác động mạnh mẽ đối với mọi khía cạnh của sự pháttriển - từ việc hạ tỉ lệ sinh đến việc tăng năng suất lao động và quản lý sử dụng môitrường Theo khảo sát của Ngân hàng thế giới năm 2000: Số lần khám thai của phụ nữ
tỷ lệ thuận với trình độ học vấn, tỉ lệ trẻ sơ sinh chết ở các bà mẹ có học vấn bậc trunghọc cơ sở giảm hơn 75% so với các bà mẹ không đi học, học vấn của người mẹ cũnggóp phần cải thiện tình trạng dinh dưỡng qua cách chăm sóc và khả năng quản lý củacác bà mẹ Những nghiên cứu về sức khoẻ ở Việt Nam cũng cho thấy người mẹ cóhọc vấn càng cao thì sinh ít con hơn Quan trọng hơn, học vấn của mẹ còn có tác độngtrực tiếp đến việc học của con Con của người mẹ có học vấn cao hơn có nhiều cơ hộiđược đến trường hơn với tỉ lệ cứ ba năm học cao hơn của mẹ tạo ra 10% khả năng đi
Trang 18học cao hơn cho con Mối liên hệ giữa khả năng đi học của con với học vấn của chacũng có xu hướng tương tự nhưng thấp hơn
Việc nâng cao địa vị phụ nữ và tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển bền vữngđất nước phụ thuộc rất nhiều vào sự kiên trì thực hiện quốc sách giáo dục - đào tạo.Giảm khoảng cách về giới trong giáo dục - đào tạo sẽ thúc đẩy sự phát triển toàn diệnnguồn nhân lực trước mắt cũng như lâu dài
Thứ ba, việc sử dụng đúng lao động nữ là một nhân tố rất quan trọng để phát huy tiềm năng tri thức và kỹ năng của người lao động nữ Sử dụng đúng ngành nghề
và trình độ thì người lao động sẽ phát huy được tài năng trí tuệ, tay nghề và ra sứcphấn đấu vươn lên về mọi mặt Sử dụng lao động hợp lý sẽ tạo ra môi trường phù hợpcho người lao động phát triển nhanh chóng Ngược lại, nếu sử dụng lao động khônghợp lý sẽ làm cho người lao động bị hạn chế thậm chí thui chột khả năng lao động củamình Sử dụng lao động nữ hợp lý không chỉ đơn thuần dựa vào kỹ năng, trình độchuyên môn nhằm đạt hiệu quả kinh tế trước mắt mà còn phải đảm bảo được sự pháttriển kinh tế - xã hội bền vững và sự bình đẳng giới Trong điều kiện nền kinh tế thịtrường, việc sử dụng lao động nữ sao cho hợp lý và hiệu quả là một trong những vấn
đề rất phức tạp Có ý kiến cho rằng, đã là nền kinh tế thị trường thì hãy để cho thịtrường lao động quyết định việc lựa chọn và sử dụng các loại lao động Không ít ýkiến đã đặt niềm tin vào sự chi phối của cơ chế thị trường trong việc tự động đem lại
sự công bằng xã hội và bình đẳng nam - nữ Theo chúng tôi, đó là một sự công bằngmáy móc, lạnh lùng, vì trên thực tế bên cạnh chức năng là người lao động như namgiới thì phụ nữ còn đảm nhận chức năng-thiên chức- sinh con “Khi thực hiện chứcnăng này người lao động nữ chẳng những phải tiêu hao sức vóc, một phần khả nănglao động mà còn mất hàng thập kỷ về thời gian lao động, hơn thế nữa lại là thời gianvàng ngọc, trẻ khoẻ, sung sức nhất” 40,tr.8
Vì vậy, sử dụng lao động nữ phải chú ý đến đặc điểm của họ, vừa có chức nănglao động như nam giới, vừa có chức năng tái sản xuất dân số và nguồn lao động, phảitính đến tiêu hao sức lực và thời gian của phụ nữ trong việc thực hiện chức năng thứhai một cách hợp lý để phụ nữ có điểm xuất phát ngang bằng về mặt sức lao động vớinam giới trong nền kinh tế thị trường
Trang 19Thứ tư, chính sách xã hội là một trong những nhân tố tác động trực tiếp đến việc quản lý nguồn nhân lực nữ Chính sách xã hội là một công cụ quan trọng của
quản lý nhà nước nhằm thực hiện và điều chỉnh các mối quan hệ của con người xoayquanh mối quan hệ lợi ích cá nhân và lợi ích xã hội Chính sách xã hội đúng đắn vìhạnh phúc của con người là động lực to lớn khơi dậy tiềm năng của con người, tạođiều kiện thuận lợi để con người lao động phát huy năng lực sáng tạo của mình đónggóp cho sự phát triển của cá nhân và cộng đồng xã hội Ngược lại, nếu hệ thống chínhsách không phù hợp, thiếu đồng bộ thì nó sẽ trở thành rào cản kìm hãm năng lực và tưduy sáng tạo của mỗi con người Như vậy, trong đời sống xã hội, việc tạo động lựchoạt động cho người lao động thực chất là thiết lập được môi trường pháp lý thuận lợicũng như những điều kiện thích hợp để con người có thể phát huy tối đa tính tích cực
và khả năng sáng tạo của mình Do những đặc điểm về giới tính và giới nên phụ nữthường chịu những thiệt thòi hơn so với nam giới Vì vậy, chính sách xã hội đối vớiphụ nữ phải phản ánh được lợi ích và nguyện vọng của nữ giới Chính sách xã hội phùhợp với phụ nữ khi nó tạo điều kiện cho phụ nữ phát triển năng lực của mình trongmọi hoạt động của đời sống xã hội, đảm bảo công bằng xã hội và bình đẳng giữa phụ
nữ và nam giới
Thứ năm, truyền thống văn hoá dân tộc có tác động rất lớn đến chất lượng nguồn nhân lực nữ - nhất là về mặt tinh thần, trên cơ sở đó ảnh hưởng tới việc quản lý nguồn nhân lực này Các giá trị văn hốa truyền thống dân tộc là nhân tố quan trọng, là môi
trường lành mạnh để hình thành và phát triển nguồn lực con người nói chung, nguồnnhân lực nữ nói riêng Một dân tộc, một quốc gia có truyền thống tốt, những tập quánlành mạnh, có nền văn hoá phát triển cao thì đó chính là cơ sở điều kiện tốt để xây dựngmột nguồn nhân lực vừa có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, vừa có thái độ, tinh thần,tác phong làm việc tốt Ngược lại, nếu một dân tộc, một quốc gia có những phong tục,tập quán lạc hậu thì sẽ kìm hãm sự vươn lên của chính quốc gia, dân tộc đó Mặt khác,những đặc trưng văn hoá - xã hội của một dân tộc còn là cơ sở cho việc sử dụng nguồnnhân lực hợp lý và hiệu quả cao Yếu tố văn hoá và truyền thống dân tộc như tinh thần
Trang 20lao động, tính kỷ luật cao, tinh thần học tập và niềm tự hào dân tộc đã đưa Hàn Quốcvươn lên vị trí xứng đáng trong chưa đầy 1/2 thế kỷ qua” 36, tr.125
Chúng ta thường hay nhắc tới truyền thống yêu nước, cần cù, thông minh, sángtạo trong lao động và những phẩm chất trung hậu, đảm đang, kiên cường của phụ nữViệt Nam Những truyền thống quý báu và phẩm chất tốt đẹp của phụ nữ Việt Namchính là sức mạnh, là điểm tựa tinh thần để phụ nữ vươn lên đáp ứng yêu cầu, đòi hỏicủa sự phát triển kinh tế - xã hội trong sự nghiệp đổi mới đất nước Liên quan đến việcphát triển nguồn nhân lực nữ hiện nay, bên cạnh việc phát huy các giá trị văn hoá, truyềnthống dân tộc đề cao vai trò của phụ nữ, quan tâm đến sự phát triển của phụ nữ, thì phảiloại bỏ những phong tục, tập quán lạc hậu, lối tư duy theo kiểu “trọng nam, khinh nữ” đểtạo điều kiện cho sự phát triển mọi mặt của phụ nữ vì mục tiêu phát triển kinh tế và tiến
Do chức năng sinh đẻ và nuôi dưỡng con cái mà phụ nữ luôn luôn gắn liền vớigia đình Đề cập đến sự tác động của gia đình đến nguồn nhân lực nữ cần phải hiểuđây là sự tác động hai chiều Gia đình là nơi phụ nữ thực hiện chức năng tái sản xuất
ra con người, nuôi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước và đồng thời là nơi phụ nữtiếp nhận những nguồn lực cho sự phát triển của chính mình Không thể nói đến quản
lý phụ nữ chỉ căn cứ vào sự tham gia hoạt động xã hội mà coi nhẹ vai trò to lớn của
họ trong gia đình Cũng như không thể chỉ đề cao vai trò của phụ nữ trong gia đình
mà quên đi trách nhiệm của gia đình trong việc chăm lo cho sự phát triển của phụ nữ.Khi gia đình tái sản xuất ra nguồn nhân lực nữ có chất lượng cao cũng chính là điềukiện cơ bản để gia đình thực hiện tốt chức năng của mình Do vậy, phụ nữ được tạo
Trang 21các điều kiện phát triển toàn diện ngay từ trong gia đình thì chính gia đình cũng sẽ cónhững biến đổi tích cực
Tóm lại, việc quản lý nguồn nhân lực nữ chủ yếu chịu sự tác động của các nhân
tố trên Mỗi một nhân tố tác động đến từng mặt của nguồn nhân lực nữ và từng mặtcủa việc quản lý nguồn nhân lực này Tuy nhiên, do các đặc điểm về giới tính và giớinên phụ nữ thường phải chịu những tác động tiêu cực nhiều hơn nam giới Vì thế khixem xét, đánh giá, xây dựng chiến lược phát triển, quản lý nguồn nhân lực nữ cầnphải phân tích đầy đủ và sử dụng tổng hợp tất cả các nhân tố này
1.2 TẦM QUẢN TRỌNG CỦA VIỆC QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC
NỮ VÀ YÊU CẦU MỚI ĐỐI VỚI QUẢN LÝ NGUỒN NHÂN LỰC NỮ TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM
1.2.1 Vai trò của quản lý nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế - xã hội
Là bộ phận cơ bản của nguồn lực con người, nguồn nhân lực nữ có vai trò quantrọng đối với sự phát triển của các quốc gia Vấn đề phát huy nguồn nhân lực nữ đãđược Đảng Cộng sản Việt Nam coi trọng ngay từ ngày đầu mới thành lập Một trongnhững luận điểm quan trọng của Hồ Chí Minh là phụ nữ được nhìn nhận như một lựclượng cơ bản của cách mạng và nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham giavào các cuộc đấu tranh cách mạng thì cách mạng không thể thắng lợi được Phụ nữcòn được coi là nguồn lực to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội "Muốnxây dựng chủ nghĩa xã hội phải làm gì? Nhất định phải tăng gia sản xuất thật nhiều.Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động Muốn có nhiều sức lao động phảigiải phóng sức lao động của phụ nữ" [16,tr.33]
Xuất phát từ vai trò to lớn của phụ nữ, Hồ Chí Minh xác định một cách nhấtquán rằng giải phóng phụ nữ là một trong những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam
…Nếu không giải phóng phụ nữ là xây dựng chủ nghĩa xã hội chỉ một nửa "
[16,tr.167]
Trang 22Có thể khẳng định rằng: xuất phát từ nhu cầu khách quan về các nguồn lực,trước hết là nguồn lực con người, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn coi phụ nữ làđộng lực quan trọng của sự phát triển kinh tế - xã hội Để quản lý nhằm phát huynguồn lực phụ nữ, các chính sách của Đảng và Nhà nước đã có một cách nhìn nhậntương đối toàn diện về các vai trò khác nhau mà người phụ nữ gánh vác trong giađình và ngoài xã hội Nhờ kiên trì quan điểm phát huy nguồn lực phụ nữ mà Đảng
ta đã động viên được các tầng lớp phụ nữ tham gia vào công cuộc bảo vệ và xâydựng đất nước Vai trò và địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam được nâng cao quatừng giai đoạn phát triển Điều này chứng tỏ rằng một trình độ mới về tiến bộ xãhội thể hiện ở mức độ bình đẳng giới có thể được tạo lập ngay cả trong điều kiệnkinh tế còn chưa thật phát triển
Ngày nay, quản lý để sử dụng, phát huy nguồn nhân lực nữ càng có ý nghĩaquyết định đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Tầm quan trọngcủa việc quản lý nguồn nhân lực nữ thể hiện ở những điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, quản lý nguồn nhân lực nữ sẽ tác động trực tiếp và lâu dài đến sự phát triển kinh tế - xã hội và phát triển con người.
Phụ nữ là nhân tố quan trọng hàng đầu đối với việc tái sản xuất con người Xã
hội tồn tại và phát triển dựa trên hai cơ sở quan trọng: sản xuất ra của cải vật chất,tinh thần và tái sản xuất ra bản thân con người Sản xuất vật chất, tinh thần là cơ sởcủa tái sản xuất con người Ngược lại, tái sản xuất con người lại là tiền đề của sảnxuất vật chất, tinh thần Vai trò hay ảnh hưởng của phụ nữ đối với xã hội được xét
trên hai phương diện chủ yếu: thứ nhất, phụ nữ tác động đến sự phát triển của xã hội thông qua các hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, tinh thần của họ; thứ hai, phụ nữ
tác động đến xã hội thông qua việc thực hiện chức năng trực tiếp tái sản xuất ra bảnthân con người Chiếm phần nửa trong lực lượng lao động xã hội, nên đương nhiênphụ nữ giữ vai trò quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội
Khái niệm tái sản xuất ra con người bao gồm hai nội dung cơ bản, đó là tái sảnxuất về mặt thể chất và tái sản xuất về mặt tinh thần Cho dù khoa học kỹ thuật pháttriển đang mở ra khả năng có thể tiến hành việc sinh sản ra con người một cách nhân
Trang 23tạo thì sự tái sản xuất con người vẫn phải được thực hiện thông qua người phụ nữ Xét
cả trên phương diện sinh học và phương diện xã hội, người phụ nữ vẫn giữ vai tròkhông thể thay thế được Bởi tái sản xuất ra con người không đơn thuần chỉ là tạo ramột con người sinh học mà điều quan trọng và chủ yếu hơn là sự giáo dục, nuôidưỡng để hình thành và phát triển một con người xã hội, trở thành những công dânhữu ích cho xã hội Đối với mỗi con người điều đó lại được bắt đầu chủ yếu và trướchết bởi người mẹ, không một công nghệ, kỹ thuật thuần tuý nào có thể thay thế được
Sự phát triển kinh tế - xã hội hiện nay không chỉ chú ý đến vấn đề số lượng dân
số - như một lực lượng lao động chủ yếu, mà điều quan trọng hơn là nâng cao chấtlượng dân số như là mục tiêu của sự phát triển xã hội Con người là nhân tố hàng đầu,quyết định sự phát triển của lực lượng sản xuất Ngay cả khi khoa học công nghệ, kỹthuật phát triển như hiện nay, nhân tố con người lại càng trở nên quan trọng hơn baogiờ hết Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ đã đặt con người vào quátrình lao động hết sức phức tạp, đòi hỏi một năng lực sáng tạo, một trình độ kỹ thuậtcao và ý thức trách nhiệm rất lớn Có như vậy, lực lượng vật chất to lớn, đồ sộ của xãhội mới được sử dụng một cách tốt nhất, hiệu quả nhất và đồng thời chính con ngườilại đạt đến một bước phát triển mới, tăng thêm sức mạnh chinh phục thiên nhiên, tăngthêm động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội
"Chất lượng của tái sản xuất xã hội được thực hiện thông qua người phụ nữ làyếu tố chủ yếu của phát triển nguồn nhân lực và hơn nữa là nguồn đầu tư đặc biệt dàihạn" 40, tr.26
Thứ hai, quản lý nguồn nhân lực nữ góp phần thực hiện bình đẳng giới trên thực tế.
Con người vừa là sản phẩm lịch sử vừa là chủ thể chân chính sáng tạo ra lịch
sử Xã hội dưới mọi hình thức đều chỉ là quan hệ giữa người với người, giữa nam và
nữ Người phụ nữ trước hết là sản phẩm lịch sử (như người đàn ông) và cũng là chủ
thể sáng tạo ra lịch sử (như người đàn ông) Sự ra đời của loài người gồm có nam và
nữ, họ cùng xuất hiện trong tiến trình phát triển của loài người Nhưng ở phương Tâytruyền tụng câu chuyện coi phụ nữ - Eva, là cái xương sườn của Adam do Chúa nặn
Trang 24ra, nữ là một bộ phận cơ thể của nam và phụ thuộc vào nam Ở phương Đông, người
ta quan niệm rằng vũ trụ hợp nhất bởi âm và dương Con người cũng vậy, nam giới làkhí dương - biểu tượng cho sức mạnh, quyền năng, thống trị còn nữ giới là khí âmvới đặc trưng là sự mềm yếu, nương tựa, phụ thuộc Câu chuyện khởi thuỷ và nhữngquan niệm ngây thơ đó được hậu thuẫn bởi sự áp bức, nô dịch phụ nữ về mặt kinh tế
đã trở thành nguyên cớ làm nảy sinh những phong tục tập quán, thiên kiến xã hội đề
cao nam giới, chỉ coi nam giới là chủ thể sáng tạo còn phụ nữ chỉ là đối tượng bị sai
khiến và phải phục tùng Từ đó đã hình thành và củng cố những quan niệm về địa vị
thấp hèn của phụ nữ suốt bao thế kỷ, đòi hỏi ở người phụ nữ chỉ có trách nhiệm và hysinh “Người ta sinh ra không phải là phụ nữ (với ý nghĩa có sự phân biệt nam nữ về
mặt xã hội) mà trở thành phụ nữ, do kết quả của những định kiến, những phân biệt
đối xử trong lao động và hưởng thụ, trong học hành và nghỉ ngơi” 31, tr.53
Ngay cả khi vai trò hết sức to lớn, quan trọng, cần thiết của phụ nữ trong quá
trình phát triển được thừa nhận thì địa vị chủ thể của phụ nữ trong phát triển kinh tế
-xã hội cũng chưa được nhận thức một cách toàn diện Điều đó thể hiện ở chỗ phụ nữ
được coi là động lực và là lực lượng cần thu hút vào quá trình phát triển kinh tế - xãhội, nhưng các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khi được xác định lại thường ít tínhđến nhu cầu của phụ nữ Các vấn đề của phụ nữ mới được nhắc tới, tính đến hay lồngghép vào các chương trình, dự án phát triển Trên thực tế quan điểm này chưa đặt vấn
đề phụ nữ là chủ thể của quá trình phát triển kinh tế - xã hội Điều này không chỉ hạnchế khả năng phát huy tính chủ động, sáng tạo của phụ nữ mà có thể làm giảm hiệuquả xã hội của các quá trình kinh tế Việc phát triển kinh tế - xã hội một cách lâu bền
vì thế khó có thể thực hiện một cách triệt để
Được coi là hợp lý trong việc đánh giá vai trò của phụ nữ hiện nay là quan điểmkhẳng định mối quan hệ hữu cơ giữa phụ nữ và phát triển, giữa tăng trưởng kinh tế vàphát triển xã hội, đồng thời nhấn mạnh vai trò chủ thể của phụ nữ trong quá trìnhhoạch định, thực hiện và đánh giá các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Công cuộcđổi mới kinh tế - xã hội hiện nay đang cho thấy rõ ràng là chỉ có thể nói tới phát triểnvới nghĩa sâu rộng nhất của từ này nếu phụ nữ có cơ hội phát huy hết năng lực của
Trang 25mình và có điều kiện phát triển một cách toàn diện và bình đẳng với nam giới”
cấp học (tỷ lệ nữ học sinh trong năm học 2008-2009 đạt 47,9% ở bậc tiểu học ;
48,5% ở bậc trung học cơ sở ; 52,6% ở bậc trung học phổ thông và 48,5% ở bậc Đại học) Bình đẳng về việc làm và thu nhập cũng đạt được những bước tiến quan trọng,
hàng năm có khoảng 49% lao động nữ trong số lao động mới được giải quyết việclàm Phụ nữ tham gia tích cực hơn trong công tác, quản lý, lãnh đạo, trong các vị trícủa Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, lãnh đạo các tổ chức chính trị, xãhội, nghề nghiệp Điều đó được thể hiện qua tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội trong ba khóagần đây đạt được trên 25%, đứng vị trí thứ 2 trong khu vực Châu Á – Thái BìnhDương Tỷ lệ nữ tham gia Ban Chấp hành TW Đảng nhiệm kỳ 2006 – 2010 là 10%(trong đó chính thức là 8,3% và dự khuyết là 14,28%), tăng 1,4% so với nhiệm kỳ
2001 – 2005 Ở địa phương, tỷ lệ nữ đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2004 – 2011 ở cả bacấp đều tăng so với nhiệm kỳ trước, đạt 23,9% ở cấp tỉnh, 23% ở cấp huyện và 19,5%
ở cấp xã Có được những kết quả trên là sự nỗ lực phấn đấu của phụ nữ và toàn xãhội
Phát triển vì sự tiến bộ của phụ nữ và công bằng giới” đã được Liên HợpQuốc đưa ra bằng chỉ số phát triển liên quan đến giới viết tắt là GDI (Gender - relatedDevelopment Index) bên cạnh chỉ số phát triển con người HDI khi đánh giá mức độphát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Điều đó có nghĩa là mô hình phát triển xãhội tốt đẹp hiện nay không chỉ là mô hình tăng trưởng kinh tế mà là mô hình pháttriển con người trong đó nhấn mạnh giới Năm 2009, Báo cáo phát triển con ngườicủa UNDP xếp Việt Nam ở vị trí 116/182 quốc gia được xếp hạng (với chỉ số 0,725)cao hơn quốc gia có cùng thu nhập GDP theo đầu người như Pakistan hoặc có thu
Trang 26nhập GDP theo đầu người cao hơn như Ấn Độ, Gabon Chỉ số GDI của Việt Nam là0,723 xếp thứ 94/155 quốc gia (năm 2003 xếp 89/144) Như vậy ở Việt Nam không
có chênh lệch giữa chỉ số GDI và HDI Và được đánh giá thuộc nhóm có thành tựu tốtnhất về bình đẳng giới ở khu vực Đông Nam Á Điều đó cho thấy trong khi đời sốngcòn nhiều khó khăn nhưng sự bình đẳng giới ở nước ta đã được thực hiện tốt hơn
Nghiên cứu về vai trò của phụ nữ không thể dừng lại ở việc nhấn mạnh ý nghĩachính trị và kinh tế to lớn của việc phụ nữ tham gia vào hoạt động kinh tế - xã hội Ởmột đất nước như Việt Nam khi mà gần 80% phụ nữ trong độ tuổi lao động tham giahoạt động kinh tế và lao động nữ chiếm gần 50% lực lượng lao động xã hội thì nghiêncứu về nguồn nhân lực nữ lại càng không thể giới hạn ở việc nhấn mạnh vai trò quantrọng của lao động nữ, vấn đề đặt ra là cần phân tích và phát hiện những cơ chế gópphần cải thiện công bằng xã hội nâng cao bình đẳng nam - nữ trong chính hoạt độngkinh tế - xã hội của phụ nữ Đó chính là vấn đề quản lý nguồn nhân lực nữ
Thứ ba, góp phần thực hiện những mục tiêu của CNXH ở Việt Nam
- Trong việc sáng tạo, gìn giữ và phát triển văn hóa dân tộc : Văn hoá tạo
nên mặt cơ bản của chất lượng đời sống con người và trình độ phát triển xã hội Nhấnmạnh yếu tố văn hoá trong quá trình phát triển chính là nhấn mạnh yếu tố con ngườivới tư cách vừa là động lực, vừa là mục đích của sự nghiệp đổi mới đất nước Nếukinh tế là nền tảng vật chất của đời sống xã hội thì văn hoá là nền tảng tinh thần củađời sống ấy, và vì thế, hai lĩnh vực đó luôn luôn giữ vị trí quan trọng và quyết địnhđối với sự vận động và phát triển của xã hội Với vai trò là động lực thúc đẩy sự pháttriển kinh tế - xã hội, văn hoá có khả năng to lớn trong việc khơi dậy, nhân lên mọitiềm năng, phát triển sức sáng tạo của con người, tạo ra nguồn lực nội sinh quyết định
sự phát triển của CNH, HĐH Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi mà nguồngốc của sự giàu có và phát triển toàn diện của một đất nước ngày càng phụ thuộc vàonguồn lực con người, tiềm năng và năng lực sáng tạo của con người trong đó có phụ
nữ Phụ nữ giữ vai trò quan trọng trong việc sáng tạo, truyền thụ, giữ gìn và phát triểnvăn hoá Điều này xuất phát từ vai trò trọng yếu của họ trong nuôi dưỡng, chăm sóc, bảotồn và phát triển giống nòi đất nước Phụ nữ là những người giữ gìn, truyền thụ những
Trang 27giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc từ thế hệ này qua thế hệ khác bằng những lời ru,những truyện cổ dân gian, những khúc đồng dao đến những tục lệ tốt đẹp Chính trongcuộc sống đa dạng thường ngày, trong sản xuất, trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, trongnuôi dạy con cái, người phụ nữ đã sáng tạo, truyền đạt, giữ gìn và phát huy những giá trịtốt đẹp của văn hoá Việt Nam Họ đóng góp, làm giàu nền văn hoá đó cho dù họ khôngbiết hay ít biết làm thơ, viết chuyện, họ bảo vệ nền văn hoá đó trước mọi mưu đồ đồnghoá của các kẻ thù xâm lược… Họ đã giữ gìn, xây dựng nhân cách con người Việt Namqua tấm gương sống và làm việc của bản thân” 31, tr.56 Nhưng để điều này được hiệnthực hóa thì cần phải biết khai thác, nhân lên, gìn giữ Đó chính là quản lý nguồn nhânlực nữ.
Con người Việt Nam đến nay còn lưu giữ được những phẩm chất, đạo đức tốtđẹp như tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lực, tự cường, thông minh,sáng tạo trong lao động, tình nghĩa chung thuỷ giữa vợ và chồng, lòng hiếu thảo củacon cái đối với cha mẹ, lòng kính trọng biết ơn người già, sự tương trợ, đùm bọc nhautrong họ hàng làng xóm Ở đây có công lao to lớn của những người phụ nữ, người
mẹ trong việc dạy dỗ con cái Họ còn đóng vai trò quan trọng đối với việc xây dựng,củng cố những quan hệ tốt đẹp giữa người với người, nhờ đó xã hội Việt Nam còn giữđược nếp sống có nghĩa, có tình, có trước, có sau, quan tâm giúp đỡ nhau lúc khókhăn hoạn nạn,v
- Góp phần thực hiện xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp: Việt Nam là một trong những quốc gia thành công về xóa đói và giảm nghèo.
Trong hai thập kỷ qua, tỷ lệ nghèo của Việt Nam liên tục giảm, từ 58,1% năm 1993xuống cón 28,9% năm 2002 và tiếp tục giảm xuống còn 16% năm 2006 và 14,5% vàonăm 2008 Bình quân mỗi năm giảm được khoảng 1,8 triệu người nghèo, từ hơn 40triệu người nghèo năm 1993 xuống 12,5 triệu người nghèo năm 2008 [4, tr.23] Trongthành tựu xóa đói giảm nghèo của đất nước, có sự đóng góp to lớn của phụ nữ Với ýchí và quyết tâm không cam chịu đói nghèo, lạc hậu, phụ nữ đã nỗ lực lao động sảnxuất Phụ nữ chiến hơn 51% dân số, là lực lượng lao động hùng hậu tham gia vào quátrình phát triển kinh tế xã hội Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, lao động nữ
Trang 28chiếm 17,6%, đóng góp gần 25% tổng thu nhập, tập trung ở các ngành dệt may, dày
da và một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Trong hoạt động nông, lâm nghiệp vàthủy sản, phụ nữ chiếm 53,7% lao động ; 26,8% lao động nữ trong ngành dịch vụ
Từ cuối năm 2008 và những tháng đầu năm 2009, cuộc khủng hoảng tài chính,suy thoái toàn cầu đã tác động tiêu cực đến tình hình kinh tế nước ta và ảnh hưởng tớikhả năng tạo việc làm Tuy nhiên, Chính phủ đã chỉ đạo tổ chức triển khai thực hiệnnhiều chính sách và giải pháp hỗ trợ người lao động, tạo điều kiện để doanh nghiệpduy trì, mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, đảm bảo và tạo thêm việc làmmới cho người lao động Năm 2009, đã tạo thêm việc làm mới cho 1.510 ngàn người,trong đó lao động nữ đạt gần 28%, xuất khẩu lao động 73,028 người, lao động nữchiếm 30,2% (22.020 người)
- Góp phần chăm sóc tốt sức khỏe phụ nữ-trẻ em : Trong những năm gần
đây, cùng với chủ trương xã hội hóa lĩnh vực y tế, công tác chăm sóc sức khỏe củanhân dân nói chung và phụ nữ-trẻ em nói riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực.Năm 2009, các số liệu về chăm sóc sức khỏe phụ nữ đã có nhiều tiến bộ, cụ thể như :
số con trung bình cùa một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm xuống còn 2,03% con; tỷ
lệ phụ nữ mang thai được khám thai định kỳ từ 3 lần trở lên đạt 85%; tỷ lệ khám sausinh đạt khoảng 90%; tỷ lệ người đẻ được cán bộ y tế chăm sóc khoảng 95%; tỷ số tửvong mẹ giảm mạnh trong hai thập kỷ qua: từ 233/100.000 ca đẻ sống năm 1990xuống còn 69/100.000 ca đẻ sống năm 2009 Chỉ số phát triển con người tăng từ0,690 điểm năm 2000 lên 0,725 điểm năm 2009 Tỷ lệ phụ nữ được tiếp cận các dịch
vụ y tế tăng dần từ 83,5% năm 2005 lên 87,5% năm 2009
Trẻ em là mầm non tương lai của đất nước, chính vì vậy Việt Nam đang tíchcực triển khai nhiều chương trình, cơ chế, chính sách nhằm tăng cường sức khỏe chotrẻ em Tỷ suất tử vong trẻ em dưới 5 tuổi giảm từ 58‰ năm 1990 xuống 24,4‰ năm
2009 và phấn đấu đến 2015 giảm xuống còn 19,3‰ Tương tự, tỷ suất tử vong trẻ emdưới 1 tuổi cũng giảm mạnh Việt Nam đặc biệt chú trọng đến lĩnh vực phòng chốngsuy dinh dưỡng và tiêm chủng ở trẻ em Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em đã giảm xuốngchỉ còn 18% vào năm 2010
Trang 29Tóm lại, phụ nữ có vai trò quan trọng đối với sự phát triển đất nước Nhìn nhận
về vai trò của phụ nữ, nghị quyết 04/BCT (khoá VIII) đã khẳng định một quan điểmmới và khá toàn diện: Phụ nữ vừa là người lao động, vừa là người công dân, vừa làngười mẹ, người thầy đầu tiên của con người Khả năng và điều kiện lao động, trình
độ văn hoá, vị trí xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của phụ nữ có ảnh hưởng sâu
xa đến sự phát triển của thế hệ tương lai" Việc phát huy nguồn lực phụ nữ vì thế, sẽtạo ra động lực phát triển xã hội, thúc đẩy bước tiến của dân tộc cả về cơ sở vật chất
và cuộc sống văn hoá tinh thần Muốn vậy, công tác quản lý nguồn nhân lực nữ đóngvai trò quan trọng
Nghiên cứu của tổ chức tài chính như Ngân hàng Thế giới hay của tổ chức pháttriển như UNDP trên phạm vi quốc tế hiện nay đều nhấn mạnh ý nghĩa của việc đầu
tư cho phụ nữ và đảm bảo lợi ích của giới nữ đối với tăng trưởng kinh tế và phát triểnnói chung Đầu tư nâng cao khả năng của phụ nữ và tạo cho họ quyền lựa chọn các cơhội không chỉ đem lại lợi ích cho phụ nữ mà còn là cách chắc chắn nhất để đóng gópvào sự tăng trưởng kinh tế và phát triển chung
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm của các nước có nhịp độ tăng trưởng caotrong nhiều năm liền, các nhà kinh tế của Ngân hàng Thế giới đã đi đến kết luận
Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào việc cải thiện giáo dục và sức khoẻ toàndân Những nước đã rút ngắn khoảng cách giữa nam và nữ trong việc học tập cũngchính là những nước đã đạt sự tăng trưởng nhanh chóng và ổn định nhất trong vòng
50 năm qua" [41,tr.17] Và nghiên cứu này đã nhấn mạnh rằng: đầu tư vào sự pháttriển của phụ nữ mang lại lợi ích cao hơn bất kỳ sự đầu tư nào khác ở các nước đangphát triển
1.2.2 Yêu cầu mới về quản lý nguồn nhân lực nữ trong phát triển kinh tế
-xã hội ở Việt Nam hiện nay.
Có thể khẳng định rằng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta chophép khai thác mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân, tạo ra những khả năng để pháthuy cao độ trí tuệ và trình độ phát triển mọi mặt của nguồn lực con người, song cũngđặt ra những đòi hỏi rất cao Yêu cầu mới đòi hỏi ở mỗi con người không chỉ về năng
Trang 30lực, trình độ học vấn, phẩm chất lao động mà cả về mặt sức khoẻ, tình cảm, tư tưởng,tâm trạng thích hợp Đó không phải là một mẫu người duy nhất, rập khuôn giống nhau
mà là những con người đa dạng cụ thể, có cá tính và chuyên môn, tài năng khác nhauđáp ứng nhu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH trên tất cả các lĩnh vực Đất nước đangđòi hỏi có những chuyên gia giỏi, những nhà quản lý sáng suốt, những chủ kinhdoanh tài ba, những nhà khoa học sáng tạo và có đầu óc thực tế, đồng thời cũng cầnmột đội ngũ đông đảo những người lao động có tay nghề thành thạo, có lương tâmnghề nghiệp, trình độ và năng lực đối phó kịp thời với những biến động trong sản xuất
và trong hoạt động nghề nghiệp Đất nước cũng không thể thiếu những nhà hoạt độngnghệ thuật xuất sắc đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hoá và định hướng thị hiếu thẩm
mỹ của nhân dân, bảo tồn và phát triển những giá trị tốt đẹp của văn hoá Việt Nam
Người lao động nói chung không chỉ cần có sự cần cù, chịu khó, chịu đựng giankhổ (vốn là đức tính truyền thống của nhân dân ta, đặc biệt của người phụ nữ) màquan trọng hơn là cần sự thông minh, nhạy bén với cái mới, sự tháo vát năng động,quyết đoán, chủ động và tự tin Điều này đòih hỏi công tác quản lý nguồn nhân lựcnói chung, quản lý nguồn nhân lực nữ nói riêng phải đáp ứng được những yêu cầumới này
Việc quản lý nguồn nhân lực nói chung, quản lý nguồn nhân lực nữ nói riêngphải hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng được đòihỏi của thị trường lao động, đáp ứng yêu cầu của phân công lao động quốc tế, thíchứng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và yêu cầu phát triển của khoa học côngnghệ ; hướng tới bình đẳng giới
Những yêu cầu nêu trên đặt ra đối với mọi người lao động với mức độ khácnhau tuỳ công việc, ngành nghề, vị trí xã hội Phụ nữ có những đặc điểm riêng dochức năng mang thai, sinh nở và gánh nặng trong việc giáo dục con cái, chăm sóc giađình nên những đòi hỏi đó càng trở nên khắt khe
Hiện nay, ở nước ta phụ nữ chiếm khoảng 50,5% dân số và 46,6% lực lượnglao động xã hội Phụ nữ có mặt trong tất cả các lĩnh vực hoạt động, chiếm tỷ lệ caotrong các ngành giáo dục - đào tạo, thương mại, y tế - cứu trợ xã hội, nông - lâm
Trang 31nghiệp, công nghiệp chế biến Nhưng trước yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệpCNH, HĐH chất lượng lao động nữ đã tỏ ra có nhiều bất cập Phụ nữ chiếm 70% tổng
số người mù chữ, càng lên các cấp học cao thì tỷ lệ nữ càng giảm Trình độ chuyênmôn kỹ thuật của nữ cũng kém hơn, 80% không được đào tạo Cùng với sự phát triểnkhoa học công nghệ, xu hướng lao động giản đơn giảm dần là một tất yếu trong quátrình phát triển kinh tế - xã hội Nhưng điều đó lại gây ra sự bất lợi đối với lao động
nữ, vốn yếu thế trong điều kiện cạnh tranh của thị trường lao động Khả năng thấtnghiệp của phụ nữ cao hơn, phụ nữ tập trung ở các ngành có thu nhập thấp, kĩ thuậtthô sơ và là khu vực sản xuất không phù hợp khi xã hội phát triển theo hướng hiện đạihoá
Tuy nhiên, CNH- HĐH cũng đem lại một số lợi thế cho phụ nữ Sự phát triểncác khu công nghiệp, các doanh nghiệp có khả năng tạo ra nhiều việc làm mới, linhhoạt về không gian và thời gian Nhiều lĩnh vực hoạt động xã hội, khoa học, văn hoá,dịch vụ công cộng phù hợp với sở trường của phụ nữ Nhiều ngành công nghệ pháttriển mạnh trong thế kỷ cần thu hút lực lượng lao động nữ với ưu thế về sự khéo léo
và tỉ mỉ như tin học, điện tử, công nghiệp thực phẩm, chế biến, may mặc, thươngmại…Phụ nữ có điều kiện tham gia vào quá trình lao động sản xuất dựa trên côngnghệ cao, hao tốn ít sức lực Sự mở rộng dân chủ về kinh tế và tri thức, các tiến bộcủa khoa học - kỹ thuật và dịch vụ gia đình tạo cơ hội cho phụ nữ không ngừng họctập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp Khi năng suất lao động phát triển, mứcsống được nâng cao, phụ nữ không chỉ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế
mà còn đóng vai trò to lớn trong phát triển văn hoá của cộng đồng, địa vị chính trị
-xã hội của phụ nữ được nâng lên Các tiềm năng sáng tạo của phụ nữ được phát huycho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Không phải ngẫu nhiên mà các nhànghiên cứu đã đưa ra dự báo rằng phụ nữ là nguồn nhân lực có khả năng phát huy caotrong thế kỷ XXI
Yêu cầu đối với việc quản lý nguồn nhân lực nữ cho sự phát triển kinh tế - xãhội là vừa khai thác tối đa tiềm năng nguồn nhân lực này, vừa phải quan tâm bồi
Trang 32dưỡng nguồn nhân lực quý giá đó cho sự phát triển bền vững của đất nước Điều đóđòi hỏi phải có chính sách hợp lý đối với phụ nữ, trong đó chính sách đào tạo nguồnnhân lực, chính sách sử dụng lao động nữ, chính sách đãi ngộ lao động nữ có ý nghĩaquyết định
Với những khó khăn và hạn chế nhiều mặt so với nam giới, bên cạnh sự hỗ trợbằng các chính sách của nhà nước, bản thân phụ nữ buộc phải nỗ lực nhiều hơn mớiđáp ứng được những đòi hỏi ngày càng cao về chất lượng nguồn nhân lực Phụ nữphải nỗ lực học tập ngay từ khi còn trẻ tuổi bởi họ có ít thời gian để chờ đợi và nghỉngơi, thường xuyên nâng cao trình độ và tích luỹ các kiến thức cần thiết để đáp ứngnhu cầu năng động của sự phát triển kinh tế - xã hội Phải biết sắp xếp công việc, cuộcsống của mình một cách khoa học, biết san sẻ trách nhiệm nuôi dạy con cái và côngviệc gia đình Phải suy nghĩ độc lập, sáng tạo, khắc phục cách suy nghĩ, làm việc thụđộng
Làm việc cần cù chịu khó nhẫn nại là ưu điểm thường có ở phụ nữ nhưng lạiphải biết sáng tạo, thông minh, nhạy bén với cái mới, cần tự tin vào năng lực bảnthân, rèn luyện một tác phong làm việc nhanh nhẹn và tháo vát phù hợp với yêu cầuCNH, HĐH
Tóm lại, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đặt con người vào
trung tâm của sự phát triển đã và đang tạo điều kiện thuận lợi cho phụ nữ bộc lộ tiềmnăng, tài năng mọi mặt của mình, song, cũng đặt ra nhiều thách thức lớn cho mục tiêuphát triển trong bình đẳng của phụ nữ Ngày nay, sự phát triển của mỗi địa phương,quốc gia, dân tộc phụ thuộc rất lớn vào nguồn nhân lực nữ Bình Dương với vị trí tiênphong trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đi đầu và là hạt nhân trong cả vùng trọngđiểm kinh tế phía Nam thì càng phải dựa vào nguồn nhân lực nữ với tư cách là yếu tốnội sinh, chi phối và giữ vai trò quyết định trong sự phát triển bền vững của Tỉnh Đểthực hiện tốt điều anỳ thì phải làm tốt công tác quản lý nguồn lực nữ
Trang 34Bình Dương là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam Ranh giới địabàn tiếp giáp với các tỉnh Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh và BìnhPhước Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên, giao thông… khá thuận lợi cho quá trìnhphát triển kinh tế Hiện nay, Bình Dương là một trong những tỉnh công nghiệp có khảnăng to lớn để thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho sự phát triển củamình; đồng thời sự phát triển của Bình Dương có vai trò to lớn thúc đẩy sự phát triểncủa cả vùng Với vị thế địa chính trị - kinh tế - văn hoá quan trọng, Bình Dương là địabàn hết sức thuận lợi cho con người ở đây giao lưu học hỏi, kích thích tính sáng tạo và
sự phát triển toàn diện của con người
Bình Dương có diện tích tự nhiên 2695,22 km² và dân số là 1.497.117 ngườivới mật độ dân số 555 người/km², gồm 03 thị xã và 04 huyện với 91 xã, phường, thị
trấn (trong đó tỉnh sở hữu 3 thị xã có dân số đông nhất nước) Do kinh tế phát triển
nhanh, trong thời gian qua Bình Dương thu hút nhiều dân nhập cư từ các địa phươngkhác Kết quả điều tra dân số năm 2010 cho thấy: Trong 5 năm từ 2005-2010 dân sốtỉnh Bình Dương đã tăng gấp đôi, là tỉnh có tốc độ tăng dân số cao nhất nước với tỷ lệtăng trung bình 7,3%/năm, trong đó tốc độ tăng tự nhiên chỉ từ 1,004%- 1,145%/năm.Điều đó phản ánh xu thế phát triển của Bình Dương, đồng thời tác động không nhỏđến sự biến động nguồn nhân lực Nhiều huyện, thị xã, thị trấn có khu công nghiệpphát triển đã làm tăng thêm quy mô dân số, nguồn nhân lực cũng như làm thay đổi cơcấu dân số và nguồn nhân lực tỉnh Việc quản lý nguồn nhân lực nói chung, nguồnnhân lực nữ nói riêng vì thế phải luôn theo sát yêu cầu phát triển của tỉnh và yêu cầuphát triển nguồn nhân lực
2.1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trong quá trình đổi mới đất nước, việc phát triển nền kinh tế thị trường địnhhướng XHCN, xác lập nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đã mở ra khả năng khaithác và sử dụng một cách sâu rộng hơn nguồn nhân lực của Bình Dương, trong đó cónguồn nhân lực nữ Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - dịch vụ -nông nghiệp tạo cơ sở cho việc chuyển dịch cơ cấu nguồn nhân lực giúp cho Bình
Trang 35Dương có cơ hội hoà nhập vào quá trình phát triển năng động của các nước trong khuvực Tỷ trọng các ngành công nghiệp, dịch vụ ngày càng tăng lên, nhất là dịch vụ vàcông nghiệp ngoài quốc doanh, tạo khả năng thu hút thêm nhiều lao động nữ
Bắt đầu những năm 90, với việc thực hiện hiện chính sách ‘’trải thảm đỏ’’ chàođón các nhà đầu tư, Bình Dương trở thành địa phương phát triển năng động nhất trong
tứ giác kinh tế trọng điểm của cả nước Bình Dương hiện tại có 28 khu công nghiệpđang hoạt động với 7.150 cơ sở công nghiệp thu hút 5.374 dự án đầu tư trong nước và1.992 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, tạo việc làm cho khoảng 600.000 lao động từkhắp nơi hội tụ về Bình Dương Việc thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đếnBình Dương là cơ hội lớn cho những người Bình Dương nhanh chóng được tiếp cậnvới những thành tựu khoa học kỹ thuật và tinh hoa văn hoá của các vùng, miền và cácquốc gia trên thế giới Mặt khác, các khu công nghiệp của Bình Dương là khu vực cósức thu hút lao động với số lượng lớn, trong đó có lao động nữ Bên cạnh đó BìnhDương còn có thế mạnh trong xuất khẩu một số mặt hàng sử dụng nhiều lao động nữnhư dệt may, giày da, thêu ren
Bình Dương còn nổi tiếng từ xưa với nhiều làng nghề truyền thống có giá trị kinh
tế cao cần nhiều lao động thủ công phù hợp với phụ nữ như: mây tre, đan, gốm sứ, sơnmài, So với cả nước, Bình Dương luôn là một trong những địa phương có tốc độtăng trưởng GDP cao hàng đầu với mức tăng bình quân từ 2005 - 2010 là 14%/năm.Năm 2010, GDP bình quân đầu người của Bình Dương đạt 30,1 triệu đồng, cao hơnnhiều so vớibình quân cả nước (22,8 triệu đồng) Tăng trưởng kinh tế đã góp phần cải
thiện rõ rệt đời sống nhân dân Bình Dương đã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở từnăm 2003; mạng lưới y tế được kiện toàn đảm bảo 100% các trạm y tế xã, phườngđều có bác sỹ; không còn hộ nghèo theo tiêu chí chung của cả nước (Bình Dương 3lần nâng chuẩn nghèo theo tiêu chí của tỉnh, cao hơn tiêu chí chung của cả nước); có99,06% số hộ dân sử dụng điện thắp sáng, 100% xã có phủ mạng lưới bưu điện, 100%
xã có điểm phục vụ và có báo chí đọc trong ngày Bình Dương được đánh giá là địaphương có điều kiện phúc lợi đảm bảo cho sự phát triển con người cao nhất cả nước
Trang 36Chỉ số phát triển con người (HDI) và chỉ số phát triển giới (GDI) của Bình Dươngluôn dẫn đầu cả nước
Bình Dương còn có lợi thế đặc biệt về tiềm lực khoa học kỹ thuật Với địa bàngiáp ranh với Thành phố Hồ Chí Minh, nơi tập trung số lượng hơn 200 trường Đạihọc, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, 112 viện nghiên cứu chuyên ngành
và một số trường Đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề của tỉnh Nếu
có chính sách khai thác và phối hợp tốt thì sẽ tạo nên động lực lớn cho sự phát triểnkinh tế và sự phát triển nguồn nhân lực Bên cạnh đó, tỉnh hiện đã thiết lập quan hệkinh doanh, hợp tác với trên 180 quốc gia và vùng lãnh thổ tạo điều kiện cho KT-XHcủa tỉnh phát triển thuận lợi
Tóm lại, có thể nói những đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội đã tạo nên những
nét đặc thù của Bình Dương có ảnh hưởng trực tiếp tới việc quản lý nguồn nhân lực
nữ Điều này thể hiện :
Thứ nhất, nguồn nhân lực nữ Bình Dương có nhiều điều kiện thuận lợi để phát
triển cả về trí lực, thể lực, đời sống văn hoá tinh thần
Thứ hai, Bình Dương tất yếu cần sử dụng nguồn nhân lực nữ để phát huy
những lợi thế và nhanh chóng hội nhập với sự phát triển của khu vực và thế giới Việcphát triển kinh tế - xã hội đồng bộ và bền vững của Bình Dương không thể tách rờiviệc phát quản lý nhân lực nữ
2.1.2 Thực trạng nguồn nhân lực nữ ở Bình Dương hiện nay
2.1.2.1 Quy mô dân số, cơ cấu lực lượng lao động nữ
Năm 2009, dân số Bình Dương là 1,497,117 người, trong đó nữ chiếm tỷ lệ51,9 % dân số và hơn 53% lực lượng lao động xã hội Bình Dương là địa phương có
tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm thấp Song, do hiện tượng di dân dưới sức hút củaquá trình phát triển kinh tế - xã hội và tác động của đô thị hoá nên biến động cơ họcdân số hàng năm rất cao, vượt xa tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
Quy mô dân số tăng nhanh chóng đã làm cho nguồn nhân lực nữ của BìnhDương rất dồi dào Thời kỳ 2005- 2010, tỉ lệ tăng dân số trung bình 7,3%/năm, lựclượng lao động nữ tăng trung bình 5,1%/năm Từ năm 2005 đến nay, bình quân mỗi
Trang 37năm có trên 30.000 người đổ về Bình Dương tìm việc làm, trong đó lao động nữchiếm tỷ trọng cao Bình Dương còn tiếp nhận một năm khoảng gần 10.000 lao độngtốt nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp Tình hình này đãlàm cho nguồn nhân lực nữ của Bình Dương ngày càng đông đúc về số lượng, nhưngcũng gây sức ép rất lớn về mọi mặt, tác động đến sự phát triển kinh tế - xã hội củatỉnh
Hiện tại, Bình Dương có nguồn lực lao động dồi dào với tổng dân số trong độtuổi lao động của tỉnh năm 2010 khoảng 1.193.500 người, chiếm 79,7% dân số, tỷ lệnày rất cao, chứng tỏ lực lượng trong độ tuổi lao động từ các tỉnh khác về Bình
Dương lớn Tốc độ tăng trưởng lao động ngoài độ tuổi tăng cao (lao động ngoài độ
tuổi khoảng 356.500 người chiếm 23% dân số), hiện tượng này có thể là lực lượng
ngoài độ tuổi đã di chuyển từ nơi khác về Bình Dương tìm kiếm việc làm và sinhsống Lao động trong độ tuổi có khả năng lao động có việc làm khá cao: từ 93% đến97% trong những năm gần đây
Nguồn nhân lực nữ Bình Dương có lợi thế to lớn về nguồn lao động trẻ với tỷ
lệ 61,2% lao động dưới 40 tuổi, được đánh giá là tỉnh đang có thời kỳ “dân số vàng".
Mức độ tham gia các hoạt động kinh tế của phụ nữ cao và ổn định với tỉ lệ trên 70%
Xét cơ cấu lực lượng lao động theo tuổi cho thấy đại đa số lực lượng lao động
nữ ở độ tuổi 15 - 40, cao nhất là nhóm tuổi 20-30 chiếm 50% đến 53,3% lực lượng laođộng nữ hàng năm Điều này phù hợp với xu hướng chung khi tham gia vào lực lượnglao động của nữ trên thế giới bởi trước khi bước vào thị trường lao động, mỗi phụ nữđều muốn chuẩn bị cho mình một nghề nghiệp nhất định Vì thế, tỉ lệ nữ ở nhóm tuổi15-20 tham gia lao động không cao Sau khi đã có nghề hoặc chuyên môn, ở nhómtuổi 20-30 tỷ lệ tham gia lao động nhích dần lên, đặc biệt ở nhóm tuổi 35 - 40 là giaiđoạn phụ nữ thường đã hoàn thành chức năng sinh và nuôi con nhỏ nên tham gia thịtrường lao động với tỉ lệ cao
Cơ cấu dân số và lao động theo vùng của Bình Dương cho thấy dân số thành
thị có xu hướng tăng nhanh qua các năm (năm 2009 là 30,9% - tăng 10% so với2000) Dân số vùng nông thôn giảm dần Dân số phi nông nghiệp chiếm tỉ trọng lớn
Trang 38(năm 2010 chiếm 86,4%) so với dân số nông nghiệp (12,6%) Năm 1997, sau khi táchkhỏi tỉnh Sông Bé, toàn tỉnh có 325,5 nghìn lao động làm việc, trong đó ngành nôngnghiệp (mở rộng) có 183,1 nghìn người, chiếm tỷ lệ 56,2%, ngành công nghiệp chỉ có87,3 nghìn người, chiếm 26,7% và khu vực dịch vụ có 55,1 nghìn người, chiếm16,9% tổng số Năm 2003 lao động nông nghiệp chỉ còn 150 nghìn người, chiếm30,7% trong khi đó lao động công nghiệp đã tăng lên 231 nghìn người, chiếm 46,6%,lao động dịch vụ tăng lên 114 nghìn người, chiếm 23,3% Năm 2004 xu hướngchuyển dịch cơ cấu lao động xã hội của tỉnh tiếp tục tăng nhanh: lao động côngnghiệp tăng lên 240 nghìn người, chiếm 47% và khu vực dịch vụ tăng lên 125 nghìnngười, chiếm 24,5% và lao động nông nghiệp giảm xuống còn 145 nghìn người,chiếm 28,3% Kết cấu dân số và lao động trên đây là kết quả của quá trình đô thị hoá vàchuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Bình Dương Xu hướng biến đổi này tạo thuậnlợi cho việc phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH của tỉnh
Cơ cấu lao động nữ theo thành phần kinh tế cho thấy từ khi chuyển sang cơ chế
thị trường có sự quản lý của nhà nước, cơ cấu phân bố nhân lực nữ trong các thànhphần kinh tế ở Bình Dương có sự thay đổi tích cực theo hướng giảm dần tỉ trọng laođộng nữ trong khu vực doanh nghiệp nhà nước, tăng nhanh tỉ trọng lao động nữ khuvực doanh nghiệp ngoài nhà nước Năm 2010, lao động nữ trong thành phần kinh tếNhà nước là 30,18%, trong các thành phần kinh tế ngoài Nhà nước là 69,82% Xu thếnày phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, cho phép giải phóng sứcsản xuất và khai thác tiềm năng của các thành phần kinh tế cho sự nghiệp CNH, HĐHcủa Bình Dương
Xét cơ cấu lao động theo ngành, lao động nữ tập trung đông hơn cả vào ngành
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng (58,24%), tiếp đến là thương mại-dịch
vụ (57,42%), và thấp nhất trong nhóm ngành là nông nghiệp (51,7%) Mặc dù trongtất cả các nhóm ngành, tỷ lệ lao động nữ đều chiếm số đông (hơn 50%), nhưng vai trò
và tỷ trọng đóng góp của lao động nữ vào tổng thu nhập chưa cao (chiếm chưa tới 5%GDP của tỉnh) Cơ cấu lao động nữ theo ngành còn cho thấy lao động nữ chiếm tỉ lệ
Trang 39cao trong giáo dục đào tạo 69,9%, y tế 68%, du lịch 56,3%, tài chính tín dụng 56%,ngân hàng 54%, công nghiệp chế biến 53,3%, dịch vụ công cộng 52%, thông tin viễnthông 52% Mặc dù vậy, so với nam giới, phụ nữ lại chiếm đa số trong lĩnh vực sảnxuất trực tiếp, kỹ thuật giản đơn, ở ngành giáo dục đào tạo 100% giáo viên mẫu giáo,82,9% giáo viên tiểu học là nữ và gần 75% giáo viên phổ thông cơ sở là nữ; hayngành y tế, y tá nữ cũng chiếm tới 80%
Như vậy, nhìn tổng thể phân bổ lao động của Bình Dương thì lao động nữ
chưa theo kịp xu hướng biến đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh và còn tham gia chưa tương xứng tốc độ phát triển của những ngành có cơ sở kỹ thuật, có khả năng mang lại năng suất và thu nhập cao
Trong hoạt động quản lý xã hội, phụ nữ tham gia các vị trí lãnh đạo còn thấp
Tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp uỷ đảng, HĐND các cấp còn thấp hơn so với tỉ lệ trungbình của cả nước Bình Dương hiện có tỷ lệ nữ tham gia BCH Đảng bộ ba cấp đạt17,3%, nữ đại biểu HĐND ba cấp đạt 23,8% Trong đó tỷ lệ nữ trong chính quyền, sở,ngành của tỉnh đạt 12,77%, nữ cán bộ chủ chốt cấp huyện-thị đạt 12,5%, nữ cán bộchủ chốt cấp cơ sở đạt 14,14.% Tuy nhiên, tỷ lệ nữ lãnh đạo quản lý các doanhnghiệp, sở ngành đông nữ đạt gần 86 %
Tỉ lệ phụ nữ nắm giữ các cương vị lãnh đạo còn thấp so với tỉ lệ phụ nữ trongdân cư và trong các lĩnh vực lao động sản xuất, phụ nữ tham gia quản lý chủ yếu ở vịtrí cấp phó, không giữ vai trò quyết định Phần lớn cán bộ nữ chủ chốt ở độ tuổi trên
45 (trong đó có tới 35% ở độ tuổi trên 50) tạo nên nguy cơ hẫng hụt lớn về đội ngũ nữcán bộ quản lý trong những năm tới Như vậy, so với yêu cầu của sự nghiệp đổi mớiđất nước và từ góc nhìn vai trò to lớn phụ nữ thì quy mô và mức độ tham gia của phụ
nữ vào quá trình lãnh đạo quản lý, hoạch định chính sách còn rất hạn chế
Tóm lại, nguồn nhân lực nữ ở Bình Dương có ưu điểm dồi dào về số lượng,
cơ cấu nguồn lao động trẻ là lợi thế to lớn về sức khoẻ, khả năng tiếp thu khoa học
- công nghệ hiện đại vào sản xuất, kinh doanh hơn nhiều các địa phương khác Cơcấu lực lượng lao động nữ theo khu vực, thành phần kinh tế phù hợp với xu thế
Trang 40phát triển kinh tế theo hướng CNH, HĐH, sự tham gia đông đảo của lao động nữtrong các lĩnh vực là tiền đề quan trọng cho việc quản lý để phát huy nguồn lựcphụ nữ trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng về quy mô dân số và lao động do sự dichuyển của các dòng nhập cư vào Bình Dương đã và đang gây sức ép rất lớn về việclàm, quản lý đô thị và trật tự an toàn xã hội của tỉnh, sự phân bổ bất hợp lý của laođộng theo nhóm ngành và trong nội bộ từng ngành ở vị thế bất lợi cho phụ nữ đangđặt ra yêu cầu cấp thiết giải quyết hài hoà giữa mục tiêu phát triển kinh tế và tiến bộcông bằng xã hội
2.1.2.2 Chất lượng nguồn nhân lực nữ ở Bình Dương hiện nay
Chất lượng nguồn lực phụ nữ thể hiện tổng hoà nhiều yếu tố, song, khái quát lại
có thể đánh giá ở khía cạnh chủ yếu là trình độ học vấn, chuyên môn, nghiệp vụ
Bình Dương là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về tất cả các chỉ số giáodục cơ bản Tỉ lệ người lớn biết chữ, tỉ lệ nhập học tiểu học, trung học cơ sở và trunghọc phổ thông đều vượt khá xa so với các tỉnh khác Tỷ lệ biết chữ của nữ ở BìnhDương đã được cải thiện nhanh chóng với tỉ lệ tăng từ 92,8% năm 2000 lên 97% năm
2010 (nữ toàn quốc là 88,2%), trong khi tỷ lệ biết chữ của nam tăng tương ứng từ98,5% lên 98,9% Tuy còn có sự chênh lệch giữa tỉ lệ biết chữ của nam và nữ nhưngxét theo nhóm tuổi, trình độ học vấn của nam và nữ theo các cấp học (không có sựcách biệt lớn) đã cho thấy khoảng cách về giới trong giáo dục cơ bản ở Bình Dương
đã được khắc phục đáng kể
Tuy nhiên, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật của đội ngũ lao động nữmới là thế mạnh nổi bật của Bình Dương Tỉ lệ lao động nữ mù chữ và chưa tốt
nghiệp tiểu học giảm từ 1,86% năm 2000 xuống còn 0,46% năm 2010, trong đó
100% phụ nữ từ 25 - 45 tuổi được xóa mù chữ Tỉ lệ lao động nữ có trình độ trung học
phổ thông tăng tương ứng từ 32,16% lên 61,14% Tỷ trọng lực lượng lao động nữkhông có chuyên môn kỹ thuật tức lao động chưa qua đào tạo đã giảm từ 63,21%(năm 2000) xuống còn 40,82% (năm 2010) Trong đó tỷ trọng lực lượng lao động nữ
có trình độ cao đẳng, đại học, trên đại học đã tăng tương ứng từ 20,6% lên 41,42%