Trong đó “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Vốn luôn là một trong những yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp Chúng ta cần khẳng định rằng không thể thực hiện được các mục tiêu kinh tế xã hội nói chung của Nhà nước, cũng như các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng nếu như không có vốn Đối với các NHTM với tư cách là một doanh nghiệp, một chế tài trung gian hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ thì vốn lại có vai trò hết sức quan trọng NHTM là một đơn vị cung cấp vốn thu lãi Nhưng để cung cấp đủ vốn đáp ứng nhu cầu thị trường, ngân hàng phải huy động vốn từ bên ngoài Vốn huy động là nguồn “nguyên liệu” chính cho hoạt động kinh doanh của NHTM Càng ngày sức nóng trong cạnh tranh về huy động vốn càng gia tăng thể hiện tầm quan trọng của hoạt động này đối với tổng thể hoạt động kinh doanh của NHTM Vì vậy, các NHTM rất chú trọng vấn đề huy động vốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu kinh doanh của mình
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, hệ thống NHTM, NHNo&PTNT cũng đã không ngừng phát triển và ngày càng khẳng định mình là một bộ phận không thể thiếu của nền kinh tế Bằng lượng vốn huy động được trong xã hội thông qua nghiệp vụ huy động vốn, NHNo&PTNT đã cung cấp một lượng vốn lớn cho các hoạt động kinh tế, đáp ứng các nhu cầu vốn một cách nhanh chóng, kịp thời cho quá trình sản xuất Nhờ đó mà hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành phần trong nền kinh tế được diễn ra một cách thuận lợi Do vậy, trong thời gian tới, để phát huy hơn nữa vai trò của ngân hàng và đồng thời đáp ứng cho sự phát triển chung của nền kinh tế cũng như cho chính bản thân hệ thống ngân hàng thì việc huy động vốn cho kinh doanh trong tương lai chắc chắn sẽ được đặt lên hàng đầu đối với các tổ chức tài chính, các NHTM nói chung và NHNo&PTNT nói riêng
Nhận thức được tầm quan trọng đó, với những kiến thức đã được học ở trường, cùng với những kiến thức thu nhận được trong thời gian tìm hiểu tình hình thực tế
tại NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn vừa qua, em đã chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn” làm chuyên đề tốt nghiệp.
Trang 2
Ngoài lời nói đầu, kết luận, kết cấu của chuyên đề gồm ba chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
Chương 2: Thực trạng hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn.
Chương 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn
Do thời gian nghiên cứu cũng như kiến thức thực tế còn nhiều hạn chế, bài
chuyên đề của em còn nhiều điểm chưa đề cập đến và còn có những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo để bài viết được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Trang 3
CHƯƠNG 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Để đưa ra một định nghĩa về NHTM người ta thường phải dựa vào tính chất, mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính Với mỗi quốc gia khác nhau, hình thành các khái niệm khác nhau về NHTM
Theo luật ngân hàng Đan Mạch năm 1930: “Những nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc, hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra bảo hiểm…”.
Đến năm 1941, các nhà kinh tế Pháp lại khẳng định rằng: “Ngân hàng là những
xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức
ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”
Điều 20 trong Luật các tổ chức tín dụng (Số 07/1997/QHX) của Việt Nam quy
định: “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động kinh doanh khác có liên quan” Trong đó “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Mỗi khái niệm có khác nhau nhưng đều khẳng định rằng NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt hoạt động kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ Nhiệm vụ thường xuyên
và chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng với cam kết hoàn trả lại đúng số tiền đó cộng thêm một khoản tiền lãi, sử dụng số tiền này cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán cùng một số nghiệp vụ khác
Hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hàng chịu nhiều ảnh hưởng của các yếu
tố kinh tế, xã hội, chính trị, tâm lý Không thể phủ nhận rằng, nền kinh tế của một nước chỉ phát triển ổn định và bền vững khi có chính sách tài chính - tiền tệ đúng đắn và hệ thống ngân hàng hoạt động đủ mạnh, có khả năng thu hút tập trung các nguồn vốn và phân bổ hợp lý nguồn vốn đó vào các ngành sản xuất kinh doanh
Trang 41.1.2 Chức năng và vai trò của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Chức năng của ngân hàng thương mại
• Một là, NHTM làm trung gian thanh toán
Ngân hàng làm trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền gửi từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ
NHTM nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu, chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để ngân hàng thực hiện vai trò trung gian thanh toán Việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể kinh tế có nhiều hạn chế, đó là rủi ro do phải vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là với khách hàng ở cách xa nhau đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua ngân hàng
Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh
tế Thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn Khả năng lựa chọn hình thức thanh toán không dùng tiền mặt thích hợp cho phép khách hàng thực hiện thanh toán nhanh chóng và hiệu quả Điều này góp phần tăng nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội
Việc cung ứng một dich vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất lượng làm tăng uy tín cho ngân hàng và do đó tạo điều kiện để thu hút nguồn vốn tiền gửi Các NHTM cung cấp cho khách hàng nhiều phương tiện thanh toán tiện lợi như Séc, Ủy nhiệm chi, Ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán Do vậy các chủ thể kinh tế
sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn Chức năng này vô hình chung đã thúc đẩy lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ thanh toán, tốc độ lưu chuyển vốn, từ đó góp phần phát triển kinh tế
Chu chuyển tiền tệ hiện nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM và do vậy chỉ khi chức năng trung gian thanh toán được hoàn thiện thì vai trò của NHTM mới được nâng cao hơn với tư cách là người thủ quỹ của xã hội
Trang 5• Hai là, NHTM làm trung gian tín dụng
NHTM làm trung gian tín dụng khi nó là “cầu nối” giữa người có vốn dư thừa
và người có nhu cầu về vốn Thông qua việc huy động các khoản tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế, ngân hàng hình thành nên quỹ cho vay của nó rồi đem cho vay đối với nền kinh tế, mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn Với chức năng này ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay
Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ đặc điểm tuần hoàn vốn tiền tệ trong quá trình tái sản xuất xã hội Ngân hàng làm được chức năng này vì nó là một tổ chức chuyên kinh doanh về tiền tệ, tín dụng, có khả năng nhận biết được tình hình cung cầu tín dụng Thông qua việc thu hút tiền gửi với một khối lượng lớn, ngân hàng có thể giải quyết mối quan hệ giữa cung và cầu tín dụng cả về khối lượng vốn cho vay và thời gian cho vay
Thông qua chức năng trung gian tín dụng, NHTM đã góp phần tạo lợi ích cho tất
cả các bên trong quan hệ là người gửi tiền, ngân hàng và người đi vay và đảm bảo lợi ích của nền kinh tế:
Người gửi tiền thu được lợi từ vốn tạm thời nhàn rỗi của mình thông qua khoản lãi tiền gửi Ngân hàng còn đảm bảo an toàn cho các khoản tiền gửi và cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán tiện lợi
Người đi vay sẽ thỏa mãn được nhu cầu vốn để kinh doanh, chi tiêu, thanh toán mà không phải chi phí nhiều về sức lực, thời gian cho việc tìm kiếm nơi cung ứng vốn tiện lợi chắc chắn và hợp pháp
Bản thân NHTM sẽ tìm kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng môi giới
Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và để mở rộng quy mô sản xuất Ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản xuất kinh doanh
• Ba là, chức năng tạo tiền
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của NHTM Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của
Trang 6mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức năng tín dụng và chức năng thanh toán Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ…Với chức năng này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Chức năng tạo tiền còn được thể hiện trong mối quan hệ với NHTƯ đặc biệt trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ mà mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị của đồng tiền Từ một lượng tiền cơ sở do NHTƯ phát hành qua NHTM
sẽ tăng lên gấp bội khi NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế Khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng được tính theo công thức:
D = m.MB
D: là khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng
MB: khối lượng tiền cơ sở
m = 1/rd: hệ số nhân tiền
rd: tỷ lệ dự trữ bắt buộc
NHTƯ có thể điều tiết khối lượng tiền cung ứng bằng cách thay đổi lượng tiền tỷ
lệ dự trữ bắt buộc để tăng hoặc giảm khả năng tạo tiền của NHTM từ đó ảnh hưởng tới khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế do đó đạt được hiệu quả mà chính sách tiền tệ đặt ra
1.1.2.2 Vai trò của ngân hàng thương mại
Trong thời gian gần đây, tình hình diễn biến lãi suất, tín dụng, giá vàng, ngoại hối và đặc biệt là hoạt động của các NHTM đang thu hút sự quan tâm lớn của dư luận và giới kinh doanh Chính vì điều đó, NHTM thông qua việc thực hiện chức năng, vai trò của mình nhất là chức năng trung gian tín dụng đã trở thành một bộ phận thúc đẩy nền kinh tế phát triển Sự đóng góp này thể hiện như sau:
Trang 7• Thứ nhất, NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế để đầu tư vào sản xuất kinh doanh và các nhu cầu chi tiêu khác.
Hiện nay, với vai trò cầu nối, NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế bằng cơ chế tiền gửi có kỳ hạn và không có kì hạn, rồi tái phân phối cho nền kinh tế quốc dân, đáp ứng đầy đủ
và kịp thời cho quá trình tái sản xuất
• Thứ hai, NHTM hỗ trợ Nhà nước trong điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Các NHTM thực hiện đúng chức năng của mình để hướng tới mục tiêu lợi nhuận cho chính ngân hàng đồng thời đã góp phần thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia như ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo việc làm và tăng trưởng kinh tế NHTM ngày càng phát huy được vai trò công cụ đòn bẩy của nó trong việc thực thi chính sách tiền tệ tín dụng, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo như những mục tiêu đã hoạch định
• Thứ ba, NHTM góp phần phân bổ, điều hoà vốn giữa các ngành, các vùng trong nền kinh tế quốc dân, do đó tạo nên sự phát triển nhanh, các vùng trong một nước.
Để tạo đồng đều cân bằng về vốn giữa các ngành, vùng trong nền kinh tế, NHTM sẽ đứng ra thực hiện chức năng của mình, thu hút vốn thừa ở các ngành, vùng có nhiều nguồn vốn nhàn rỗi chuyển sang các ngành, vùng đang có nhu cầu sử dụng vốn
• Thứ tư, NHTM góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.
Tín dụng ngân hàng là nguồn vốn chủ yếu bổ sung vốn lưu động (ngắn hạn) cho các tổ chức kinh tế mua nguyên vật liệu để tiến hành sản xuất kinh doanh và hoạt động ngân hàng đã góp phần làm biến đổi các điều kiện sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ của các chủ thể kinh tế theo hướng tối ưu nhất là đảm bảo các yếu tố “đầu vào”
và “đầu ra” qua một hệ thống đồng bộ về vốn
• Thứ năm, NHTM là cầu nối giữa các nước, thúc đẩy phát triển ngoại thương, công nghiệp và các ngành có liên quan.
Cùng với xu hướng hội nhập, khu vực hoá và toàn cầu hoá đang diễn ra mạnh
mẽ, các quốc gia trên thế giới không ngừng mở rộng giao lưu buôn bán hợp tác
Trang 8tương trợ lẫn nhau Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại tê, quan
hệ tín dụng với ngân hàng nước ngoài, hệ thống ngân hàng đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.Tóm lại, NHTM có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế hiện nay Ngân hàng
có ảnh hưởng rất lớn trong quá trình hình thành, phát triển, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta, làm cho nền kinh tế tăng trưởng mạnh, từ đó tạo động lực thúc đẩy quy mô tín dụng ngân hàng, giảm bớt rủi ro xảy
ra Điều này cần được nhận thức và quán triệt xuyên suốt trong quá trình hoạch định chính sách về vốn, phương thức và cơ chế hoạt động của các NHTM
1.1.3 Các nghiệp vụ cơ bản của ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn của ngân hàng thương mại
NHTM hiện đại hoạt động với ba nghiệp vụ chính đó là: nghiệp vụ huy động
vốn, nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ cung ứng dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ tư
vấn, thanh toán hộ, giữ hộ Ba nghiệp vụ này có quan hệ mật thiết, tác động hỗ trợ thúc đẩy nhau cùng phát triển, tạo nên uy tín và thế mạnh cạnh tranh cho các NHTM, các nghiệp vụ này đan xen lẫn nhau trong quá trình hoạt động của ngân hàng, tạo nên một chỉnh thể thống nhất trong quá trình hoạt động kinh doanh của NHTM Nghiệp vụ này phản ánh quá trình hình thành vốn cho hoạt động kinh doanh của NHTM, cụ thể bao gồm các nghiệp vụ sau:
a) Nghiệp vụ tiền gửi
Đây là nghiệp vụ phản ánh hoạt động ngân hàng nhận các khoản tiền gửi từ các doanh nghiệp vào để thanh toán hoặc với mục đích bảo quản tài sản Ngoài ra, NHTM cũng có thể huy động các khoản tiền nhàn rỗi của cá nhân hay các hộ gia đình được gửi vào ngân hàng với mục đích bảo quản hoặc hưởng lãi trên số tiền gửi
b) Nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá
Các NHTM phần lớn sử dụng nghiệp vụ này để thu hút các khoản vốn có tính thời hạn tương đối dài và ổn định, nhằm đảm bảo khả năng đầu tư, khả năng cung cấp đủ các khoản tín dụng mang tính trung và dài hạn vào nền kinh tế Hơn nữa, nghiệp vụ này còn giúp các NHTM giảm thiểu rủi ro và tăng cường tính ổn định vốn trong hoạt động kinh doanh
Trang 9c) Nghiệp vụ đi vay
Nghiệp vụ đi vay được các NHTM sử dụng thường xuyên nhằm mục đích tạo vốn kinh doanh cho mình bằng việc vay các tổ chức tín dụng trên thị trường tiền tệ
và vay ngân hàng Nhà nước dưới các hình thức tái chiết khấu hay vay có đảm bảo Trong đó các khoản vay từ ngân hàng Nhà nước chủ yếu nhằm tạo sự cân đối trong điều hành vốn của bản thân NHTM khi mà nó không tự cân đối được nguồn vốn.d) Nghiệp vụ huy động vốn khác
Ngoài ba nghiệp vụ huy động vốn cơ bản kể trên, NHTM còn có thể tạo vốn kinh doanh cho mình thông qua việc nhận làm đại lý hay uỷ thác vốn cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước Đây là khoản vốn huy động không thường xuyên của NHTM, thường để nhận được khoản vốn này đòi hỏi các ngân hàng phải lập ra các dự án cho từng đối tượng hoặc nhóm đối tượng phù hợp với đối tượng các khoản vay
1.1.3.2 Nghiệp vụ tín dụng
Đây là nghiệp vụ phản ánh quá trình sử dụng vốn của NHTM vào các mục đích khác nhau nhằm đảm bảo an toàn kinh doanh cũng như tìm kiếm lợi nhuận Nghiệp
vụ tài sản Có bao gồm các nghiệp vụ cụ thể sau:
a) Nghiệp vụ ngân quỹ
Nghiệp vụ này phản ánh các khoản vốn của NHTM được dùng vào với mục đích nhằm đảm bảo an toàn về khả năng thanh toán hiện thời cũng như khả năng thanh toán nhanh của NHTM và thực hiện quy định về dự trữ bắt buộc do ngân hàng Nhà nước đề ra
b) Nghiệp vụ cho vay
Đây có thể nói là nghiệp vụ quan trọng bậc nhất trong hoạt động quản lý tài sản
Có của NHTM Nghiệp vụ này đóng góp phần lớn lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng Thông qua nghiệp vụ này mà ngân hàng cung cấp các khoản tín dụng ngắn, trung và dài hạn cho các thành phần trong nền kinh tế, thúc đẩy nền kinh tế phát triển
c) Nghiệp vụ đầu tư tài chính
Bên cạnh nghiệp vụ tín dụng, các NHTM còn dùng số vốn huy động được từ dân cư, từ các tổ chức kinh tế - xã hội để đầu tư vào nền kinh tế dưới các hình thức như: hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng khoán trên thị trường và trực tiếp thu lợi nhuận trên các khoản đầu tư đó
Trang 101.1.3.3 Nghiệp vụ cung ứng dịch vụ
Ngoài các nghiệp vụ cơ bản được nêu trên, trong hoạt động kinh doanh, các NHTM còn tiến hành các hoạt động kinh doanh khác trên thị trường như: kinh doanh ngoại tệ, vàng bạc và đá quý, thực hiện dịch vụ tư vấn, dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý trong hoạt động cung ứng chứng khoán ra thị trường
và hàng loạt những dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng như : dịch vụ bảo quản giấy tờ có giá, dịch vụ cho thuê két sắt, dịch vụ cầm đồ Cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá đặc biệt là trong nền kinh tế theo cơ chế thị trường, hoạt động thu - chi hộ, chuyển tiền qua ngân hàng ngày càng được mở rộng
và phát triển Các ngân hàng đã không ngừng áp dụng những tiến bộ, thành tựu khoa học công nghệ, kết hợp với uy tín kinh doanh của ngân hàng làm cho nghiệp
vụ này ngày càng được thay đổi về chất
1.2 HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Khái niệm về vốn
Vốn của NHTM là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập hoặc huy động được
dùng để cho vay, đầu tư, hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác Nó chi phối toàn bộ hoạt động của NHTM, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng Vốn gồm có:
Vốn tự có của NHTM là những giá trị tiền tệ do ngân hàng tự tạo lập được, thuộc sở hữu của ngân hàng Nó mang tính ổn định và là căn cứ để quyết định đến khả năng
và khối lượng vốn huy động của ngân hàng
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội và được dùng làm vốn trong kinh doanh Vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng và phải hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn Nguồn vốn này luôn biến động, tuy nhiên
nó đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Vốn đi vay là phần vốn các ngân hàng đi vay để bổ sung vào vốn dùng trong hoạt động kinh doanh của mình trong trường hợp tạm thời thiếu vốn khả dụng
Nó có chi phí tương đối cao cho nên chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng
Trang 11 Vốn khác là phần vốn phát sinh trong các nghiệp vụ thanh toán…
Trong nền kinh tế luôn tồn tại những người thừa vốn và thiếu vốn, NHTM đã biết điều hoà mâu thuẫn này bằng việc sử dụng các công cụ, và các nghiệp vụ của mình huy động các nguồn vốn trong xã hội Thực chất, nghiệp vụ huy động vốn là các hoạt động thu hút nguồn vốn nhàn rỗi của các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội dưới dạng tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán, phát hành các chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác, tạo nên một nguồn tài chính được ngân hàng
sử dụng để kinh doanh sinh lời và trả lại một phần lợi nhuận này cho người gửi thông qua công cụ lãi suất Muốn thực hiện tốt công tác này thì ngân hàng cần có những bước phân tích hai chủ thể chính trong mối quan hệ chặt chẽ và thống nhất hình thành nên nghiệp vụ này là ngân hàng và khách hàng Trong hoạt động huy động vốn quyền và nghĩa vụ của hai chủ thể có liên quan được quy định như sau:
1.2.1.1 Về phía ngân hàng
Quyền mà ngân hàng có được khi khách hàng mở tài khoản tiền gửi ở ngân hàng mình là được phép chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với số dư tiền gửi mà khách hàng đã chuyển vào tài khoản
Nghĩa vụ của ngân hàng phát sinh cùng với việc thực hiện nghiệp vụ này là phải đảm bảo an ninh cho số tiền đó Khi đến hạn ngân hàng phải trả gốc và lãi cho chủ tài khoản đó Ngân hàng sẵn sàng trả lãi cho số dư tiền gửi của khách hàng mà không hề lấy chi phí đảm bảo vì mục đích của ngân hàng không phải là thu tiền dịch vụ gửi giữ mà là thực hiện các mục tiêu kinh doanh của mình
Trang 12Như vậy, trong nghiệp vụ huy động vốn khách hàng và ngân hàng luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Quyền lợi của đối tượng này chính là nghĩa vụ phải thực hiện của đối tượng kia.
1.2.2 Vai trò của vốn huy động
Đối với bất kỳ doanh nghiệp nào, muốn hoạt động kinh doanh được thì phải có vốn bởi vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh Riêng đối với ngân hàng là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hóa đặc biệt là
tiền tệ với đặc thù hoạt động kinh doanh là đi vay để cho vay nên nguồn vốn đối với
hoạt động kinh doanh của ngân hàng lại càng có vai trò hết sức quan trọng Vốn là điểm đầu tiên trong chu kỳ kinh doanh của ngân hàng Ngoài vốn ban đầu cần thiết
là đủ vốn điều lệ theo luật định thì để bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình, việc đầu tiên ngân hàng phải làm là huy động vốn Vốn huy động cho phép ngân hàng kinh doanh, đầu tư…để thu lợi nhuận Nói cách khác nguồn vốn mà ngân hàng huy động được nhiều hay ít quyết định đến khả năng mở rộng hay thu hẹp tín dụng Nguồn vốn huy động được nhiều thì cho vay được nhiều và mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng
Với chức năng tập trung và phân phối cho các nhu cầu của nền kinh tế, một nguồn vốn huy động dồi dào sẽ tạo cho ngân hàng điều kiện mở rộng hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, không bỏ lỡ cơ hội đầu tư, giảm thiểu rủi ro, tạo dựng được uy tín cho ngân hàng
Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động của ngân hàng quyết định đến khả năng cạnh tranh Nếu nguồn vốn huy động lớn sẽ chứng minh rằng nghiệp vụ, phương diện kỹ thuật của ngân hàng hiện đại
Các ngân hàng thực hiện nghiệp vụ cho vay và nhiều hoạt động khác chủ yếu dựa vào vốn huy động Còn vốn tự có chỉ sử dụng cho những trường hợp cần thiết Vì vậy, khả năng huy động vốn tốt sẽ là điều kiện thuận lợi đối với ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế cả về qui mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian, thời hạn cho vay, thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng Điều đó sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của ngân hàng sẽ tăng lên nhanh chóng và ngân hàng sẽ có được nhiều thuận lợi hơn trong hoạt động kinh doanh, đảm bảo uy tín và năng lực trên thị trường
Trang 13Với những vai trò hết sức quan trọng đó, các ngân hàng luôn tìm cách đưa ra những chính sách quản lý nguồn vốn từ khâu nhận vốn của những người gửi tiền và những người cho vay khác nhau đến việc sử dụng vốn một cách hiệu quả Bên cạnh
đó các nhà quản trị ngân hàng cũng luôn tìm cách để đổi mới, hoàn thiện chúng cho phù hợp với tình hình chung của nến kinh tế Đó là một trong những điều kiện tiên quyết để đưa ngân hàng tới thành công
1.2.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường
Sau khi đã sử dụng hết lượng vốn tự có nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu giao dịch, thanh toán của khách hàng thì các NHTM phải tiến hành huy động vốn từ bên ngoài Thông thường nguồn vốn huy động này chiếm một tỷ trọng tương đối lớn trong kết cấu nguồn vốn của ngân hàng, và cũng đảm bảo cho ngân hàng có thể hoạt động một cách b́nh thường Quá trình huy động vốn của NHTM chủ yếu dưới các hình thức sau:
1.2.3.1 Huy động vốn bằng tiền gửi không kỳ hạn
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền mà chủ sở hữu của khoản tiền này có thể rút tiền hoặc trả cho đối tác kinh doanh của họ bằng Séc Ở những nước có hệ thống ngân hàng phát triển hoạt động dựa trên công nghệ cao, thì việc rút tiền từ tài khoản này phần lớn được thực hiện bằng điện thoại hoặc thực hiện qua các máy rút tiền tự động ATM được lắp đặt rộng rãi
Đối với khách hàng, việc gửi tiền vào tài khoản này với mục đích chủ yếu là thanh toán và chi trả cho các hoạt động kinh doanh, các hoạt động dịch vụ phát sinh một cách thường xuyên Nên việc dễ dàng chuyển nhượng, dễ dàng thanh toán được xem là yếu tố rất quan trọng, còn việc hưởng lãi đối với khoản tiền gửi này chỉ là thứ yếu Do đó, loại tiền gửi này còn được gọi là tiền gửi theo yêu cầu, nó không đem lại lợi tức cao cho người gửi Ngược lại, đối với NHTM thì đây lại là một khoản vốn huy động với mức chi phí thấp nhất trong tất cả các khoản vốn huy động được khác Ngân hàng chỉ phải bỏ ra những khoản chi phí nhỏ về quản lý tài khoản hoặc trả lãi (nếu có thì nó cũng rất nhỏ) bù lại là được sử một phần lớn làm vốn kinh doanh
Tuy nhiên, vốn tiền gửi không kỳ hạn lại là khoản vốn có sự biến động nhiều nhất, số dư của khoản vốn này tăng giảm phụ thuộc vào tình hình sản xuất kinh
Trang 14doanh của người gửi tiền Do vậy, NHTM chỉ có thể sử dụng hiệu quả nguồn vốn này khi và chỉ khi đưa ra được các dự đoán về sự biến động số dư trên tài khoản tiền gửi này một cách chính xác
Tiền gửi không kỳ hạn gồm hai loai:
a) Tiền gửi thanh toán:
Là loai tiền gửi mà khách hàng gửi vào ngân hàng để thực hiện các khoản thanh toán về tiền mua hàng hóa, dịch vụ và các khoản thanh toán khác phát sinh trong hoạt động kinh doanh của khách hàng Đứng trên góc độ là khách hàng thì đây là tiền khách hàng gửi vào ngân hàng để sử dụng các công cụ thanh toán phi tiền mặt như: Séc, thẻ thanh toán, ủy nhiệm chi…Họ có thể rút ra bất kỳ lúc nào thông qua công cụ thanh toán Đứng trên góc độ ngân hàng thì ngân hàng coi đây là một khoản tiền mà họ phải có trách nhiệm hoàn trả bất kỳ lúc nào Tuy nhiên ngân hàng cần tận dụng loại tiền gửi này để làm vốn kinh doanh của mình bởi vì trong quá trình luân chuyển vốn của ngân hàng do có sự chênh lệch giữa các khoản tiền gửi vào và rút ra giữa các tài khoản của khách hàng
b) Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy:
Là loại tiền gửi không kỳ hạn, khách hàng gửi vào ngân hàng nhằm đảm bảo
an toàn cho tài sản Tiền gửi không kỳ hạn thuần túy cũng là tài sản của người ký thác, họ có quyền rút bất kỳ lúc nào, ngân hàng luôn luôn phải đảm bảo thanh toán, lãi suất không kỳ hạn thuần túy cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán Mục đích của người gửi tiền là bảo đảm an toàn vì khách hàng không xác định được thời gian nhàn rỗi cho số tiền của họ và họ không có nhu cầu sử dụng tiền gửi thanh toán không dùng tiền mặt của ngân hàng
1.2.3.2 Huy động vốn bằng tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm
Khác với tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm là hai loại tiền gửi có tính ổn định hơn, chi phí huy động và quản lý cao hơn, hơn nữa hai loại tiền gửi này lại có độ nhạy cảm cao về lãi suất nên trong quá trình huy động cũng có những điểm khác biệt
a) Huy động tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền mà khách hàng được rút ra sau một thời hạn nhất định từ một vài tháng đến một vài năm Mục đích của người gửi tiền là lấy lãi và
Trang 15ngân hàng có thể chủ động kế hoạch hóa việc sử dụng nguồn vốn này vì tính thời hạn của nguồn vốn Mức lãi suất cụ thể phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền và sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng trên cơ sở xem xét đến mức độ an toàn của ngân hàng cũng như quan hệ cung cầu về vốn tại thời điểm đó.Để tạo nên tính lỏng cho loại tiền gửi có kỳ hạn và do đó mà hấp dẫn khách hàng, ngân hàng có thể cho phép khách hàng được rút tiền trước hạn với những khoản phạt đáng kể (được hưởng lãi thấp hơn quy định).
b) Huy động tiền gửi tiết kiệm
Tiền gửi tiết kiệm là tiền để dành của dân cư được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi
Tiền gửi tiết kiệm từ lâu đã được coi là công cụ huy động vốn truyền thống của các NHTM Vốn huy động từ tiền gửi tiết kiệm thường chiếm một tỷ trọng tương đối trong cơ cấu tiền gửi vào ngân hàng, ví dụ: Tiền gửi tiết kiệm tại các NHTM Việt Nam chiếm khoảng 60 - 70% tổng tiền gửi, còn ở Mỹ là khoảng 25% Lãi suất huy động tỷ lệ thuận với thời gian gửi tiền sẽ khuyến khích khách hàng gửi tiền với thời hạn dài hơn Ngân hàng thường dùng nguồn vốn có tính ổn định cao này để đầu tư các dự án dài hạn nhưng phụ thuộc rất lớn vào đặc tính về dân số – xã hội, tình hình kinh tế xã hội, đặc biệt là thu nhập của dân cư, do đó các ngân hàng áp dụng mọi biện pháp để nâng cao uy tín và danh tiếng của ngân hàng mình nhằm lôi kéo nhiều khách hàng gửi tiền tiết kiệm nhất
Hình thức phổ biến và cổ điển nhất là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ Đối với loại tiền gửi này, người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một cuốn sổ dùng để ghi tiền gửi vào và rút ra Đồng thời quyển sổ này cũng xác nhận số sổ tiền đã gửi Loại hình này vẫn còn tồn tại đến ngày nay và trong những năm 90 nó có thể chuyển sang tài khoản Séc dễ dàng Do vậy nó có khả năng thanh toán rất cao
Ngoài ra ở nhiều nước còn có các loại tiền gửi tiết kiệm phổ biến chẳng hạn như chứng chỉ tiết kiệm (Savings certificates), trái phiếu tiết kiệm (Savings bands)
Ở Việt Nam, các hình thức tiền gửi tiết kiệm phổ biến là:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể gửi nhiều lần và rút ra bất cứ lúc nào Số dư tiền gửi này không lớn, nhưng ít biến động vì vậy đối với loại tiền gửi này các NHTM thường trả lãi suất cao hơn tiền gửi thanh toán
Trang 16 Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là loại tiền gửi được rút ra sau một thời hạn nhất định Tuy vậy khách hàng có nhu cầu rút tiền trước hạn cũng có thể được đáp ứng với điều kiện được hưởng lãi suất thấp (thường bằng mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn) hoặc thậm chí không được hưởng lãi Các ngân hàng có thể áp dụng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn thông thường (người gửi chỉ được hưởng lãi trong từng thời kỳ) và có thể áp dụng tiền gửi tiết kiệm có thưởng kèm theo lãi để khuyến khích nhân dân gửi tiết kiệm vào ngân hàng.
Tiền gửi tiết kiệm có mục đích: thường là hình thức tiết kiệm trung và dài hạn nhằm mục đích xây dựng nhà ở Những người tham gia loại hình tiết kiệm này ngoài việc hưởng lãi còn được ngân hàng cho vay nhằm mục đích bổ sung thêm vốn cho xây dựng nhà ở
Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm được gọi chung là gửi phi giao dịch Chúng có đặc tính chung là được hưởng lãi suất và chủ những tài khoản này không được phát hành Séc Mức lãi suất của chúng thường cao hơn tiền gửi tài khoản Séc bởi vì những người gửi tiền đó không được hưởng nhiều dịch vụ như đối với tài khoản Séc
Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn của NHTM, là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh Chính vì vậy người ta gọi NHTM là ngân hàng ký thác hay ngân hàng nhận tiền gửi
1.2.3.3 Huy động vốn qua đi vay
Các khoản vốn vay ngày càng chiếm tỷ trọng cũng như vị trí đặc biệt quan trọng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM không chỉ về mặt quy mô đơn thuần mà còn mang ý nghĩa như là một biện pháp quản lý các danh mục trong tài sản Nợ Vốn vay của ngân hàng có thể hình thành từ nhiều nguồn khác nhau nhưng chủ yếu vẫn bao gồm những nguồn cơ bản sau:
a) Vay từ NHTƯ
Bất kỳ NHTM nào khi được NHTƯ cho phép thành lập hoạt động đều được hưởng quyền vay tiền tại NHTƯ trong trường hợp cần bổ sung nhu cầu vốn khả dụng NHTƯ cấp tín dụng cho các NHTM chủ yếu dưới hai hình thức:
Tái cấp vốn mà chủ yếu dưới hình thức tái chiết khấu các chứng từ có giá
Cho vay thế chấp hay ứng trước
Trang 17
Hình thức tái cấp vốn được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện theo ba cách:
Cho vay lại theo hồ sơ tín dụng
Chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
Cho vay có bảo đảm bằng cầm cố thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác
Khoản vay này liên quan đến lượng tiền của trung ương, đến việc thực hiện chính sách tiền tệ của NHTƯ
Để giữ ổn định giá trị đồng bản tệ cũng như ngăn chặn sự lạm dụng của các NHTM trong việc vay vốn, NHTƯ thường không muốn cho các NHTM vay quá nhiều, khi đó nó có thể nâng mức lãi suất chiết khấu, lãi suất phạt lên cao hoặc đưa
ra những điều kiện vay mà hiếm NHTM nào có thể chịu được
b) Vay từ các tổ chức tín dụng khác
Cũng giống như trên, trong quá trình hoạt động của mình có những lúc NHTM phải đối đầu với những tình huống khó khăn về tài chính như: thiếu hụt dự trữ bắt buộc, mất khả năng thanh toán những khoản tiền lớn và để tránh nguy cơ mất khách hàng, bảo đảm uy tín cho ngân hàng thì giải pháp tốt nhất là đi vay NHTM có thể đi vay từ nhiều nguồn khác nhau và một trong số đó là đi vay từ các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng hay thị trường tiền tệ trong và ngoài nước
Việc vay mượn vốn giữa các NHTM, giữa NHTM với các tổ chức tín dụng khác được diễn ra liên tục trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng Nó hình thành nên một loại tài sản Nợ khá thường xuyên trong bảng cân đối tài sản Mặt khác nó còn đảm bảo cho ngân hàng có những mối quan hệ tốt với các ngân hàng khác trong cùng hệ thống, đồng thời tạo ra cơ hội cho các ngân hàng giúp đỡ lẫn nhau trong quá trình kinh doanh
1.2.3.4 Huy động vốn qua phát hành công cụ nợ
Các NHTM có thể phát hành các loại công cụ nợ ra thị trường để huy động vốn như: chứng chỉ tiền gửi ngân hàng có mệnh giá lớn, trái phiếu, kỳ phiếu Trong
đó, việc huy động vốn bằng các công cụ nợ ngắn hạn (gồm có chứng chỉ tiền gửi,
Trang 18giấy thoả thuận mua lại ) lại có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý tài sản nợ bên cạnh việc huy động vốn, bởi vì nó có thể được sử dụng mọi lúc khi cần thiết Mức lãi suất được trả cho loại công cụ nợ ngắn hạn này thường được quy định bằng cách thỏa thuận trực tiếp giữa ngân hàng và người gửi tiền hoặc được quy định ở mức mà người gửi có thể chấp nhận được Có thể nói, những người mua chứng chỉ tiền gửi này rất nhạy cảm với những biến động của lãi suất trên thị trường Do vậy, để có thể làm chủ được nguồn vốn này đòi hỏi các NHTM phải đưa
ra mức lãi suất cao hơn so với mức lãi suất của các loại chứng chỉ tiền gửi khác hoặc cũng có thể cao hơn cả mức lãi suất của trái phiếu
1.2.3.5 Các hình thức huy động vốn khác
a) Tiền vay từ những công ty mẹ của ngân hàng (những công ty nắm giữ ngân hàng)
Ở các nước có nền kinh tế phát triển, một công ty hoặc tập đoàn kinh doanh có thể là chủ của một hoặc nhiều NHTM Bởi vì ngân hàng phát hành trái phiếu hay giấy nhận nợ để vay tiền trên thị trường, nó có thể chịu sự quản lý và ràng buộc của NHTƯ về dự trữ, lãi suất và thủ tục Trong khi công ty mẹ thực hiện điều này, nó không phải bị ràng buộc bởi những điều đó vì bản thân nó không phải là một ngân hàng Do vậy các công ty mẹ của ngân hàng thường thay thế nó phát hành trái phiếu công ty để huy động vốn, sau đó chuyển vốn huy động được về cho ngân hàng hoạt động dưới hình thức cho vay
b) Phát hành hợp đồng mua lại Đây là những thỏa thuận vay tiền từ các công ty
Hợp đồng mua lại hay giấy thỏa thuận mua lại (Repurchase Agreements – RPs)
là một hợp đồng bán chứng khoán giữa ngân hàng và các đối tượng kinh doanh chứng khoán tương đối thừa tiền mặt như: các công ty tài chính, các quỹ tiết kiệm,
cá quỹ hưu trí, các công ty chứng khoán… Chứng khoán mà ngân hàng đem bán là các chứng khoán mà nó đang đầu tư vào tài sản Có như trái phiếu Kho bạc, cổ phiếu…Điểm đặc biệt của hợp đồng này là chỉ bán ra trong 1 ngày, 2 ngày hay một tuần, hai tuần Sau đó ngân hàng được phép mua lại chính các loại chứng khoán mà
nó đã bán với giá mua bằng giá đã bán cộng thêm chi phí giao dịch Chính vì vậy, những hợp đồng này được gọi là hợp đồng mua lại Người đã mua chứng khoán của ngân hàng chỉ được bán lại cho ngân hàng vào một thời gian đã thỏa thuận, không được phép bán cho người khác
Trang 19Hợp đồng mua lại là một hình thức giải quyết vấn đề thiếu tiền mặt nhất thời cho NHTM Chẳng hạn trường hợp thiếu tiến mặt bất ngờ cho những thương vụ đầu tư được ký kết, hoặc thiếu hụt dự trữ tại NHTƯ…Ở các nước công nghiệp hiện nay, thời gian bán tối đa của hợp đồng này thường không quá 2 tuần.
Khi ngân hàng bán chứng khoán ra theo kiểu hợp đồng mua lại nó sẽ thu tiền mặt
về Lượng tiền mặt này được xem như một khoản vay ngắn hạn từ thị trường bởi lẽ lượng chứng khoán mà ngân hàng xuất ra bán vẫn được coi như một bộ phận cấu thành của tài sản Có mà ngân hàng sẽ thu hồi Còn khoản vay ngắn hạn này là một
bộ phận của tài sản Nợ Chủ thể mua chứng khoán là người cho vay, ngân hàng bán chứng khoán là người đi vay Ngân hàng không bao giờ bán chứng khoán theo kiểu hợp đồng mua lại cho dân chúng, bởi vì nếu bán cho dân chúng sau này mất nhiều thời gian, hiệu quả không cao, không đáp ứng được nhu cầu tiền mặt cấp thiết trong ngắn hạn
c) Vay nước ngoài
Các NHTM cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạt động từ việc phát hành phiếu
nợ để vay tiền ở nước ngoài Do loại tiền sử dụng trong thanh toán quốc tế hiện nay
là USD, cho nên vay tiền ở nước ngoài thường vay bằng USD Đối với các NHTM
ở Mỹ, đó là khoản vay mượn đôla châu Âu (tức là những khoản tiền gửi bằng đôla thuộc ngân hàng nước ngoài hoặc những chi nhánh ở nước ngoài của các ngân hàng Mỹ) Vào những năm 1940, thị trường vay chủ yếu của các ngân hàng Mỹ là châu
Âu nên đã phát sinh thuật ngữ đôla châu Âu (Euro Dollars) để chỉ các khoản vay USD từ châu Âu của các NHTM Mỹ
Đến những năm 1960, các NHTM ở các nước Nhật Bản, Pháp, Đức, Anh cũng phát hành phiếu nợ để vay USD từ nước ngoài không chỉ ở châu Âu mà còn lan sang các thị trường giàu có USD khác, như các nước xuất khẩu dầu khí Trung Đông, Nam Mỹ, Đông Á…Tuy nhiên thuật ngữ đô la châu Âu vẫn tiếp tục được
sử dụng khá phổ biến ở phần lớn các ngân hàng trên thế giới để chỉ khoản tài sản
Nợ này
Loại trái phiếu đôla châu Âu chỉ dùng để vay USD và khi đến hạn cũng trả vốn và lãi bằng USD Thời gian đền hạn của loại trái phiếu này thường rất ngắn, dưới 3
Trang 20tháng Trong những thị trường tài chính lớn như New York, London, Paris, Franfrut, Tokyo…loại trái phiếu này được xem không khác gì USD.
Ở nhiều nước (Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan…) việc phát hành loại trái phiếu Euro Dollars chỉ được giới hạn vào một số ngân hàng loại đặc biệt như Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng xuất nhập khẩu
Vốn vay đã trở thành một nguồn vốn quan trọng của ngân hàng khi nó làm cho các ngân hàng chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh Việc áp dụng một chính sách lãi suất thích hợp đối với các công cụ nợ khi đi vay ngân hàng có thể chủ động đạt được nguồn vốn phù hợp với nhu cầu
Ngoài các hình thức huy động vốn trên, NHTM cũng có thể sử dụng những hình thức huy động vốn khác để thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ dân cư, từ nền kinh tế thông qua các hoạt động uỷ thác về các dịch vụ xã hội như: dịch vụ câu lạc bộ… hoặc đứng ra làm dịch vụ đại lý phát hành chứng khoán cho các công ty, làm trung gian thanh toán…qua đó ngân hàng có thể sử dụng một lượng vốn tạm thời nhàn rỗi đáng kể trong quá trình thu hộ hoặc chi hộ khách hàng
1.3 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.3.1 Các yếu tố khách quan
1.3.1.1 Yếu tố pháp lý
Các hoạt động của ngân hàng cũng như bất kỳ ngành nghề kinh doanh nào đều chịu sự kiểm soát chặt chẽ của pháp luật Hoạt động huy động vốn cũng không nằm ngoài phạm vi đó Nó chịu sự tác động trực tiếp của các bộ luật như luật các tổ chức tín dụng, luật ngân hàng Nhà nước, các văn bản về pháp lý ngân hàng, chính sách tài chính tiền tệ, chính sách tỷ giá, đầu tư…trong đó quy định về việc phát hành trái phiếu, kỳ phiếu của ngân hàng, tỷ lệ huy động vốn so với vốn tự có, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu… nhằm đảm bảo an toàn, sự bình đẳng cho mọi tổ chức hoạt động dịch vụ ngân hàng, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ, giảm chi phí, tăng khả năng tự bảo vệ trước cạnh tranh quốc tế trong quá trình hội nhập
1.3.1.2 Yếu tố chính trị
Tình hình chính trị ổn định hay bất ổn, chính sách ngoại giao mở rộng hay thắt chặt và các quan hệ hợp tác song phương, đa phương đều ảnh hưởng trực tiếp đến
Trang 21hoạt động của NHTM trong đó có công tác huy động vốn Chính trị ổn định, chính sách ngoại giao mở rộng kích thích đầu tư nước ngoài, tăng cường quan hệ hợp tác với các nước có nền kinh tế phát triển tạo cơ hội thiết lập quan hệ với các tổ chức tài chính lớn như IMF, WB, ADB, ngân hàng đầu tư Bắc Âu, quỹ OPEC… từ đó đem lại cho ngân hàng nhiều thời cơ và thách thức mới.
1.3.1.3 Yếu tố kinh tế
Động thái của nền kinh tế chính là cơ sở đầu tiên để người gửi tiền ra quyết định nên gửi tiền vào ngân hàng, tích trữ vàng, ngoại hối hay đầu tư vào tài sản khác Trong điều kiện kinh tế bất ổn, giá cả và sức mua của tiền tệ biến động phức tạp, lạm phát xảy ra, người dân có xu hướng tích trữ vàng, mua các ngoại tệ hoặc các dạng tài sản khác như buôn bán bất động sản, các tài sản quý giá…nhằm mục đích
an toàn tài sản Ngược lại, nền kinh tế phát triển ổn định với tỷ lệ lạm phát hợp lý thì người dân có cái nhìn khả quan hơn và có xu hướng gửi tiền vào ngân hàng làm cho nguồn vốn trong NHTM được tăng lên
1.3.1.4 Yếu tố văn hoá - xã hội
Các yếu tố thói quen, tập quán, tâm lý cũng ảnh hưởng phần nào đến hoạt động huy động vốn Chính vì vậy, các ngân hàng cần quan tâm đến các hoạt động marketing, quảng cáo, tuyên truyền giúp người dân hiểu đúng và hiểu sâu hơn nữa
về vai trò và chức năng của ngân hàng
1.3.1.5 Yếu tố kỹ thuật công nghệ
Sự thay đổi về yếu tố công nghệ có tác động mạnh mẽ tới nền kinh tế và xã hội Hoạt động ngân hàng là một trong những yếu tố chịu sự tác động mạnh mẽ của công nghệ, hoạt động ngân hàng là hoạt động không thể tách rời khỏi sự phát triển của công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin
Công nghệ có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của ngân hàng Nó mang lại cho ngân hàng nhiều cơ hội nhưng cũng mang lại cho ngân hàng hàng loạt những thách thức mới Công nghệ mới cho phép ngân hàng đổi mới quy trình nghiệp vụ, cách thức phân phối sản phẩm, phát triển sản phẩm mới…Nhờ có công nghệ mà hoạt động huy động vốn được cải tiến, phát triển rút ngắn thời gian giao dịch và thực hiện nghiệp vụ chính xác, giúp ngân hàng có khả năng thu hút được nhiều vốn, nhiều khách hàng làm tăng thu nhập và uy tín của ngân hàng
Trang 221.3.1.6 Yếu tố dân số
Môi trường dân số là môi trường quan trọng, bởi nó không chỉ tạo thành nhu cầu
và kết cấu nhu cầu của dân cư về sản phẩm dịch vụ ngân hàng, mà còn căn cứ trong việc hình thành hệ thống phân phối của ngân hàng Đồng thời yếu tố dân số là cơ sở
để xây dựng và điều chỉnh hoạt động huy động vốn của ngân hàng
1.3.1.7 Yếu tố địa lý
Yếu tố địa lý được xác định bởi quy định của quốc tế để hình thành các quốc gia
và quy định của từng quốc gia trong việc hình thành vùng, khu vực, tỉnh, thành phố, huyện, xã, thôn… Các vùng địa lý khác nhau có những đặc điểm rất khác nhau như danh lam thắng cảnh, điều kiện giao thông, sông núi, tài nguyên khoáng sản, phong tục tập quán, cách thức giao tiếp, nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ nói chung và sản phẩm dịch vụ ngân hàng nói riêng Chính những điều kiện đó đã hình thành các tụ điểm dân cư, trung tâm thương mại, du lịch hoặc trung tâm sản xuất…Vì vậy, tùy từng khu vực địa lý mà ngân hàng quyết định đặt nhiều hay ít điểm huy động vốn
và quyết định chiến lược huy động ở mỗi khu vực vì mỗi khu vực có số dân và điều kiện khác nhau
1.3.2 Các yếu tố chủ quan
1.3.2.1 Uy tín của ngân hàng
Người dân thường chọn những ngân hàng có uy tín tốt để gửi tiền hay sử dụng các dịch vụ với mong muốn an toàn và tiện lợi nhất, thậm trí họ còn phải chịu lãi tiền gửi thấp hơn các ngân hàng khác Các tổ chức tín dụng sẽ chấp nhận cho vay các ngân hàng có danh tiếng, uy tín tốt, luôn kinh doanh có lãi vì họ có khả năng trả được nợ đúng hạn, do đó không làm gián đoạn đến việc sử dụng vốn của tổ chức mình Vì vậy, các ngân hàng cần chú trọng hơn nữa đến nâng cao uy tín, hoạt động lâu dài thông qua quy mô hoạt động, trình độ quản lý, công nghệ, tài sản của ngân hàng…
1.3.2.2 Lãi suất huy động vốn
Lãi suất là mối quan tâm hàng đầu khi một cá nhân hoặc một tổ chức kinh tế nào
đó muốn gửi tiền vào ngân hàng Bởi vì người có tiền muốn đem gửi ngân hàng,
Trang 23trước tiên họ so sánh lãi suất huy động nơi nào cao hơn, kế đến mới là vấn đề an toàn tiền gửi cho họ cũng như các dịch vụ tiện ích mà họ được hưởng Nếu khách hàng đánh giá các ngân hàng có cùng một hệ số an toàn và các dịch vụ tiện ích như nhau thì họ sẽ chọn ngân hàng nào có lãi suất huy động cao hơn để gửi Điều này hoàn toàn hợp lý vì trong nền kinh tế, lĩnh vực có lợi cao bao giờ cũng thu hút được nhiều người tham gia đầu tư, và người tham gia đầu tư luôn muốn làm thế nào để mình thu được lợi nhuận cao nhất
Hơn nữa, lãi suất còn là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến quy mô của nguồn vốn huy động Thế nhưng, không phải lãi suất huy động nào cũng giống nhau, thông thường lãi suất tiết kiệm có ảnh hưởng nhiều hơn cả Người dân thường quan tâm đến lãi suất tiết kiệm để so sánh nó với tỷ lệ trượt giá của đồng tiền và khả năng sinh lợi của đồng tiền đầu tư vào tiết kiệm so với đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu, bất động sản từ đó đưa ra quyết định có nên gửi vào ngân hàng hay không, gửi bao nhiêu và gửi theo hình thức nào Ngược lại, đối với các tổ chức kinh tế thì lãi suất huy động lại có ảnh hưởng ít hơn vì phần lớn các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng đều với mục đích thanh toán là chính Do đó nguồn tiền huy động này chịu ảnh hưởng nhiều bởi kỹ thuật, công nghệ của ngân hàng cũng như khả năng thanh toán và cho vay vì lượng tiền của các doanh nghiệp và tổ chức kinh tế luôn luân chuyển và biến động theo nhu cầu thanh toán
Như vậy, để thực hiện cơ chế lãi suất huy động hợp lý tức là vừa thu hút được vốn, vừa đảm bảo sức cạnh tranh thì các NHTM phải thường xuyên theo dõi thống
kê tình hình biến động lãi suất trên thị trường và ngay trên địa bàn hoạt động để có các quyết định điều chỉnh kịp thời phù hợp với mặt bằng lãi suất trên thị trường và đặc điểm riêng của mỗi ngân hàng Bên cạnh đó ngân hàng cũng cần quan tâm đến lãi suất Kho bạc, bởi vì trên thực tế Kho bạc thường phát hành tín phiếu trả lãi cao hơn lãi suất huy động của các NHTM
1.3.2.3 Chiến lược kinh doanh của ngân hàng
Ngân hàng phải xây dựng cho mình một chiến lược kinh doanh phù hợp Trong chiến lược kinh doanh ngân hàng phải quyết định sẽ mở rộng hay thu hẹp quy mô huy động vốn, thay đổi tỷ trọng các nguồn vốn trong tổng nguồn vốn, lãi suất huy
Trang 24động Nếu chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ khai thác được nguồn vốn đáp ứng nhu cầu và đạt hiệu quả cao.
1.3.2.4 Năng lực và trình độ cán bộ ngân hàng
Về trình độ phương diện quản lý, nếu ngân hàng có trình độ quản lý tốt sẽ có khả năng tư vấn phù hợp cho khách hàng đem lại hiệu quả cao thì sẽ thu hút được khách hàng đến với mình Mặt khác, quản lý tốt sẽ đảm bảo an toàn về vốn, tăng uy tín, tạo điều kiện tốt cho công tác huy động vốn của ngân hàng
Về trình độ nghiệp vụ: trình độ của cán bộ ngân hàng ảnh hưởng lớn tới chất lượng phục vụ, chi phí dịch vụ làm ảnh hưởng tới việc thu hút vốn của ngân hàng
Hiện nay, ở nhiều ngân hàng Việt Nam trình độ các bộ còn nhiều bất cập Vì vậy cần phải chú trọng vào việc nâng cao trình độ cho các bộ sao cho phù hợp với nhu cầu đòi hỏi của kinh tế thị trường
1.3.2.5 Công nghệ ngân hàng
Trình độ ngân hàng được thể hiện theo các yếu tố sau:
Các loại dịch vụ mà ngân hàng cung ứng
Trình độ nghiệp vụ của cán bộ công nhân viên ngân hàng
Cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ hoạt động kinh doanh của ngân hàng Trình độ công nghệ ngân hàng càng cao, khách hàng sẽ càng cảm thấy hài lòng
về dịch vụ được ngân hàng cung ứng và yên tâm hơn khi gửi tiền tại các ngân hàng Đây là một yếu tố rất quan trọng giúp ngân hàng cạnh tranh phi lãi suất vì khách hàng mà ngân hàng phục vụ, không quan tâm tới lãi suất mà quan tâm đến chất lượng và loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung ứng Với cùng một lãi suất huy động như nhau, ngân hàng nào cải tiến chất lượng dich vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện hơn cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn
1.3.2.6 Các hình thức huy động vốn
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với nhiều mục đích khác nhau, có người vì mục đích bảo đảm an toàn, có người gửi chủ yếu để lấy lãi tiêu xài hàng tháng, có người gửi tiền vào ngân hàng để đồng vốn ngày càng được sinh sôi nảy nở Vì thế
họ có những hình thức gửi tiền cũng như lĩnh lãi khác nhau có thể là 3, 6, 9 tháng hoặc lâu hơn Do vậy, để có thể huy động được nhiều vốn trong dân cư, các NHTM
Trang 25phải đưa ra các hình thức huy động đa dạng Khi có nhiều hình thức huy động vốn
sẽ tạo nhiều cơ hội cho người gửi lựa chọn, đáp ứng những yêu cầu khắt khe, thoả mãn được mong muốn của họ Mỗi khách hàng đều tìm cho mình cách phù hợp nhất với yêu cầu sử dụng, bảo đảm có hiệu quả nhất với nguồn vốn của mình Điều này đồng nghĩa với số lượng người gửi tăng lên và số tiền được gửi vào ngân hàng cũng tăng theo tỷ lệ thuận, kéo theo sự giảm xuống của chi phí huy động vốn
Tuy nhiên, việc đa dạng hoá các hình thức huy động vốn sẽ làm cho công việc quản lý cũng như chi phí quản lý huy động vốn của ngân hàng sẽ tăng lên, đòi hỏi NHTM phải tìm cho mình được những mô hình quản lý vốn hợp lý, tiết kiệm chi phí huy động nhưng vẫn đảm bảo nguyên tắc huy động vốn chung là: nguồn vốn có tính ổn định càng cao thì lãi suất huy động cũng phải cao
1.3.2.7 Chính sách phục vụ quảng cáo
Trong điều kiện cạnh tranh mạnh mẽ như hiện nay khó có thể duy trì sự khác biệt
về sản phẩm và giá cả nên chiến lược phục vụ và quảng cáo trở thành yếu tố vô cùng quan trọng để thu hút khách hàng Thái độ phục vụ thân thiện, chu đáo là điều kiện để thu hút khách hàng, chiến lược quảng cáo phù hợp sẽ giúp ngân hàng có nhiều khách hàng mới Do đó để có uy tín trên thị trường, giữ vững mối quan hệ với khách hàng truyền thống và thu hút thêm nhiều khách hàng mới ngân hàng phải không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, có chiến lược quảng cáo hợp lý để
nhiều người biết đến ngân hàng và sản phẩm dịch vụ do ngân hàng cung ứng
1.3.2.8 Chính sách khách hàng
Trong công tác khách hàng, ngân hàng thường chia khách hàng ra làm nhiều nhóm để có cách phục vụ phù hợp Với những khách hàng lâu năm, giao dịch thường xuyên, có số dư tiền gửi lớn, gây được tín nhiệm với ngân hàng, ngân hàng
sẽ có chính sách phù hợp về thời hạn và lãi suất
1.3.3 Các dịch vụ cung ứng
Một ngân hàng có dịch vụ tốt, đa dạng hiển nhiên sẽ có nhiều lợi thế hơn các ngân hàng có các dịch vụ hạn chế Trong điều kiện ngân hàng có các dịch vụ ngân hàng qua thư tín, hệ thống chi nhánh tự động làm việc 24/24 giờ và các dịch vụ khác được cải tiến, nguồn thu của ngân hàng đảm bảo sẽ tăng lên
1.3.4 Các nhân tố khác
Trang 26Hoạt động huy động vốn của NHTM còn chịu tác động của nhiều nhân tố khác
và một trong số những nhân tố đó là hoạt động Marketing ngân hàng Hoạt động Marketing ngân hàng sẽ có tác dụng gây sự chú ý cho khách hàng về hình ảnh của ngân hàng để khách hàng có sự so sánh và chọn lựa trước khi quyết định tham gia giao dịch với ngân hàng Mặt khác, không phải ai cũng thông hiểu hết mọi thủ tục, thể lệ gửi tiền cũng như các chính sách khuyến khích, ưu đãi mà họ được hưởng, đặc biệt là đối với những khách hàng do trình độ học vấn chưa cao và với những khách hàng mới lần đầu đến ngân hàng gửi tiền Với hoạt động Marketing ngân hàng, thông qua các bảng niêm yết đầy đủ, công khai các tiện ích dễ hiểu sẽ tạo cho khách hàng tâm lý thoải mái dễ chịu và không cảm thấy cực nhọc khó khăn về thủ tục khi gửi tiền Hơn nữa, nó sẽ giúp cho khác hàng tìm thấy được một cơ hội hấp dẫn để gửi tiền cho ngân hàng Tạo điều kiện cho ngân hàng có thể tiếp xúc và duy trì mối quan hệ lâu dài với khách hàng
Ngoài ra, còn phải kể đến một vài nhân tố thuộc về nội bộ ngân hàng cũng có những tác động không nhỏ đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng chẳng hạn như: chiến lược kinh doanh của ngân hàng, quy mô cơ cấu vốn tự có, cơ sở vật chất
kỹ thuật trang thiết bị của ngân hàng Những yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp sâu sắc đến mô hình, cơ cấu tổ chức huy động vốn thậm chí là đến cả uy tín của ngân hàng trên thị trường, nó đảm bảo giữ vững lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng cũng như là giới hạn tối đa của nguồn vốn huy động
Tóm tắt chương 1:
Chương 1 đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM bao gồm khái niệm, chức năng, vai trò, và các nghiệp vụ cơ bản của NHTM Vai trò của của vốn, các hình thức huy động vốn tại NHTM trong nền kinh tế thị trường và các nhân tố tác động tới hoạt động huy động vốn của NHTM.
Trang 27CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHNo&PTNT CHI
NHÁNH SÓC SƠN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ NHNo&PTNT CHI NHÁNH SÓC SƠN
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn
NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn được thành lập theo Nghị định 53 HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (Chính phủ), theo nghị định này chuyển đổi toàn bộ hệ thống Ngân hàng Việt Nam từ 1 cấp thành 2 cấp Cấp quản lý vĩ mô
là NHNN và cấp kinh doanh là các ngân hàng chuyên doanh Đến 25/04/1990 các ngân hàng chuyên doanh (NHCD) được gọi với cái tên chính thức là ngân hàng thương mại (NHTM)
Từ năm 1988 đến 1995 NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn là đơn vị trực thuộc NHNo&PTNT Thành phố Hà Nội, sau đó có sự thay đổi về phân cấp quản lý thì NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn là đơn vị trực thuôc thẳng Trung tâm điều hành (NHTƯ) của NHNo&PTNT Việt Nam Đứng trên một địa bàn có nhiều khó khăn, kinh
tế chậm phát triển, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, trình độ dân trí còn thấp, sản xuất nông nghiệp cây lúa là chính, kinh tế trang trại đang dần từng bước khởi sắc nhưng chưa phát triển thực sự để phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội của huyện
NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn hoạt động trên địa bàn có sự canh tranh tương đối gay gắt của 13 ngân hàng thương mại khác nhau Để giữ vững và ngày một nâng cao hiệu quả kinh doanh của đơn vị, Ban lãnh đạo luôn sát sao trong chỉ đạo công tác huy động vốn Trong những năm gần đây, chi nhánh đã thành lập nhiều điểm huy động vốn lưu động tại các điểm giải phóng mặt bằng đất dự án trên toàn huyện
Hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn cũng gặp không ít khó khăn, nhưng với trình độ năng lực của Ban giám đốc, cán bộ công nhân viên trong toàn cơ quan mà NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn ngày càng phát triển và giành được chỗ đứng tương đối vững chắc trên thị trường
Trang 28NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn thường xuyên có những biến đổi tích cực ngày càng hoàn thiện hơn về mọi mặt, biết phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền đoàn thể ở địa phương để thực hiện nghiệp vụ cho vay thu nợ, nâng cao chất lượng tín dụng, tổ chức thanh toán hợp lý, chính xác, kịp thời, công tác kho quỹ an toàn tài sản, bố trí sắp xếp tổ chức một cách khoa học, các công tác khác đều thực hiện tốt Trên cơ sở, từng bước đầu tư về chiều sâu trang thiết bị làm việc hiện đại, đội ngũ cán bộ công nhân viên, từ cán bộ lãnh đạo điều hành, đến nhân viên không ngừng được đào tạo về trình độ kỹ thuật nghiệp vụ nâng cao tay nghề, thích ứng với
cơ chế thị trường Vì vậy hoạt động của NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận
2.1.2 Cơ cấu tổ chức và hoạt động của NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn
2.1.2.1 Sơ đồ tổ chức bộ máy NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn
Sơ đồ 1: Bộ máy tổ chức của NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn
2.1.2.2 Chức năng của các bộ phận
Ban giám đốc:
Trang 29 Giám đốc: Phụ trách chung và trực tiếp chỉ đạo các phòng ban và các phòng giao dịch trực thuộc.
Phó giám đốc: Được sự ủy quyền hàng năm của giám đốc phụ trách các phòng ban
và các phòng giao dịch trực thuộc về một số công tác
Các phòng chức năng:
Phòng kế hoạch kinh doanh:
Phòng kinh doanh có nhiệm vụ chủ yếu là thống kê báo cáo nguồn vốn kế hoạch
+ Tìm kiếm, tiếp cận khách hàng mới để mở rộng cho vay, đảm nhiệm các nghiệp vụ tín dụng phát sinh, thực hiện các chủ trương, cơ chế về công tác tín dụng
+ Liên kết mở rộng thị phần tín dụng đồng thời triển khai các hợp đồng này cho toàn hệ thống thực hiện
+ Trực tiếp đi thẩm định các dự án có quy mô vừa và lớn, thu thập các thông tin
+ Thực hiện các nghiệp vụ khác như: Thanh toán quốc tế, nghiệp vụ bảo lãnh, dịch vụ Marketing
Phòng kế toán ngân quỹ:
Đảm nhiệm cả hai công việc: Kế toán nội bộ và kế toán giao dịch
Kế toán nội bộ có nhiệm vụ là:
+ Thực hiện công tác kế toán và quản lý chi tiết nội bộ như chi trả lương cho cán bộ công nhân viên
+ Báo cáo tổng hợp thu chi hàng tháng, hàng quý và cả năm với Ban giám đốc
Kế toán giao dịch có nhiệm vụ là:
+ Xử lý các giao dịch như: nhận tiền gửi của các doanh nghiệp, các cá nhân, các
tổ chức kinh tế, xă hội
+ Thực hiện mở tài khoản giao dịch với khách hàng, hạch toán chính xác, kịp thời mọi biến động về vốn, tài sản của khách hàng và ngân hàng
+ Tiếp nhận, xử lý hạch toán kế toán theo đúng quy định các hồ sơ vay vốn của khách hàng, phối hợp với phòng kinh doanh để thực hiện nợ kịp thời, đúng chế độ + Tham mưu cho Ban giám đốc trích lập, hạch toán, sử dụng quỹ phúc lợi, quỹ khen thưởng phù hợp với chế độ của Nhà nước
+ Thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền và thanh toán cho khách hàng
Trang 30+ Thực hiện các nghiệp vụ thanh toán không dùng tiền mặt như uỷ nhiệm thu,
uỷ nhiệm chi, séc chuyển khoản, séc bảo chi
+ Tổ chức ghi chép phản ánh một cách đầy đủ, chính xác, kịp thời từng nghiệp
vụ kinh tế phát sinh về các hoạt động huy động và sử dụng vốn
+ Tổ chức thanh toán bù trừ và thanh toán liên ngân hàng
+ Lập bảng cân đối ngày, tuần, tháng, quý, năm và gửi báo cáo lên ngân hàng cấp trên
Phòng hành chính nhân sự
+ Xây dựng và triển khai thực hiện các nội quy, quy chế của ngân hàng
+ Thực hiện các vấn đề nhân sự như chi trả lương, BHXH, nghỉ phép
+ Tham mưu cho Ban điều hành trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch tuyển dụng đào tạo, bồi dưỡng và quản lý nguồn nhân lực toàn hệ thống
+ Tổ chức thực hiện các công tác hành chính quản trị phục vụ cho hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng
+ Trực tiếp thực hiện công tác quản lý hành chính văn phòng theo đúng quy định.+ Thực hiện công tác hậu cần và chịu trách nhiệm đảm bảo an ninh cho hoạt động của chi nhánh, đảm bảo điều kiện làm việc an toàn cho cán bộ công nhân viên
Phòng kiểm tra kiểm toán nội bộ
+ Thực hiện công tác kiểm tra, giám sát các hoạt động của chi nhánh theo năm, quý, tháng
+ Tham gia nghiên cứu soạn thảo hoặc chỉnh sửa, bổ sung các quy trình, quy chế nghiệp vụ của ngân hàng
+ Kiểm tra nghiệp vụ ngân hàng trong toàn hệ thống trên cơ sở các văn bản chế độ của Ngân hàng Nhà nước và các quy trình, quy chế của ngân hàng
+ Chịu trách nhiệm về việc đảm bảo tính pháp lý trung thực, khách quan
Phòng tín dụng
+ Thực hiện cho vay, thu nợ (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) với các tổ chức kinh tế,
cá nhân theo đúng cơ chế tín dụng của NHNN và hướng dẫn của Ban giám đốc
Trang 31+ Nghiên cứu đề xuất các biện pháp giải quyết vướng mắc trong hoạt động kinh doanh, phán ánh kịp thới những nghiệp vụ mới phát sinh để báo cáo Ban giám đốc xem xét, giải quyết.
+ Phân tích hoạt động kinh doanh của khách hàng vay vốn, cung cấp kịp thời chất lượng các báo cáo, thông tin về công tác tín dụng cho lãnh đạo
Phòng tài trợ ngoại thương
+ Xây dựng giá mua bán và thực hiện mua bán ngoại tệ với các tổ chức kinh tế,
tổ chức tín dụng, cá nhân theo quy định
+ Thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế và làm các dịch vụ ngân hàng đối ngoại theo thông lệ quốc tế
Phòng thông tin
+ Triển khai và phát triển các phần mềm ứng dụng và khai thác thông tin phục
vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng
+ Đảm bảo an toàn, bí mật về số liệu, thông tin hoạt động kinh doanh theo đúng quy định của NHNN, thực hiện bảo trì bảo dưỡng hệ thống máy tính, thiết bị tin học
để phục vụ công tác quản lý không bị ách tác
Các phòng giao dịch
Hiện nay, chi nhánh NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn có 7 phòng giao dịch.+ Phòng giao dịch Nỷ có địa chỉ tại Trung Giã, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.+ Phòng giao dịch Khu vực Phủ Lỗ có địa chỉ tại Khu đường II, Phủ Lỗ, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội
+ Phòng giao dịch Khu Công nghiệp Nội Bài có địa chỉ tại Khu Công nghiệp Nội Bài, Quang Tiến, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội
+ Phòng giao dịch Ga T1 Nội Bài có địa chỉ tại Ga T1 Sân bay quốc tế Nội Bài, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội
+ Phòng giao dịch Khu Vực Nội Bài có địa chỉ tại Sân bay quốc tế Nội Bài, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội
+ Phòng giao dịch Khu Vực Kim Anh có địa chỉ tại Thanh Xuân, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội
Trang 32+ Phòng giao dịch Xuân Giang có địa chỉ tại Xuân Giang, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội.
Chi nhánh NHNo&PTNT Sóc Sơn có địa chỉ tại Thị trấn Sóc Sơn, huyện Sóc Sơn, Thành phố Hà Nội
Các phòng giao dịch gồm có 1 giám đốc, 1 phó giám đốc, các cán bộ tín dụng,
kế toán giao dịch và các giao dịch viên thực hiện các nghiệp vụ huy động vốn, cho vay cầm cố các giấy tờ có giá, thực hiện các hoạt động dịch vụ như chuyển tiền, thanh toán…
2.1.3 Kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT Sóc Sơn giai đoạn 2010-2012
Với phương châm vì sự thịnh vượng và phát triển bền vững của khách hàng và ngân hàng, mục tiêu của NHNo&PTNT Việt Nam là tiếp tục giữ vững vị trí NHTM hàng đầu Việt Nam, tiên tiến trong khu vực và có uy tín cao trên trường quốc tế Là chi nhánh cấp 2, đứng trong đội ngũ ngân hàng Việt Nam, NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn đã nỗ lực và cố gắng hết mình thực hiện mục tiêu chung và phấn đấu với
tư cách độc lập để ngày một nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Trong những năm qua, NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn đã làm tương đối tốt công tác huy động vốn Giai đoạn 2010 - 2012, công tác huy động vốn nhìn chung tăng trưởng qua các năm Tính đến hết tháng 6 năm 2012, ngân hàng có nguồn vốn đạt gần 1.700 tỷ, tăng 14,1% so đầu năm; sử dụng vốn đạt 900 tỷ, tăng 11% so đầu năm; nợ xấu 3,1%; chỉ tiêu tài chính đạt 25 tỷ bằng 90% so cả năm 2011 và bằng 80,6% so kế hoạch năm 2012 Trong đó, nguồn vốn ổn định chi nhánh đạt 1.137 tỷ, tăng 49% so với đầu năm
Biểu đồ 1: Kết quả kinh doanh của NHNo&PTNT Sóc Sơn giai đoạn 2010 –2012
Đơn vị: Tỷ đồng
( Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh qua các năm 2010–2012 )
Qua biểu đồ 1 ta thấy, kết quả kinh doanh của ngân hàng có lợi nhuận cao nhất
là năm 2012 và thấp nhất là năm 2011 Năm 2010, lợi nhuận đạt 40,7 tỷ đồng,
Trang 33nhưng đến năm 2011 lợi nhuận giảm xuống chỉ còn 36,3 tỷ đồng (giảm 4,4 tỷ đồng tương đương với giảm 10,8%) Đến năm 2012, lợi nhuận đạt 58 tỷ đồng tăng 21,7
tỷ đồng (tương đương với tăng 59,8%) so với 2011 và tăng 17,3 tỷ đồng (tăng 42,5%) so với 2010 Mặc dù, năm 2012 kinh tế vô cùng khó khăn nhưng ngân hàng vẫn đạt được một kết quả tốt đẹp như vậy là một điều thật đáng mừng Như vậy, năm 2012 đã khắc phục được những điểm yếu của 2011 để có thể đạt được những kết quả tốt như vậy Điều đó chứng tỏ ngân hàng đã có nhiều cố gắng trong việc phát triển và mở rộng các nghiệp vụ kinh doanh bằng nhiều hình thức và biện pháp Ngân hàng đã mở rộng các sản phẩm dịch vụ để tăng nguồn thu như dịch vụ chuyển tiền và thanh toán quốc tế, dịch vụ kiều hối, bảo lãnh, kinh doanh ngoại tệ đang ngày càng được phát triển và có tiềm năng Năm 2012, tiếp tục triển khai và nâng cao chất lượng, hiệu quả và mở rộng các dịch vụ tiện ích như chuyển tiền nhanh, dịch vụ bảo lãnh, thu hộ chi hộ, thanh toán xuất nhập khẩu, thanh toán phi thương mại, dịch vụ Phonebanking, ATM, thẻ tín dụng Visacard, chi trả lương qua tài khoản, thu tiền điện sinh hoạt, điện thoại tới tất cả các phòng giao dịch Mặc
dù vậy, so với tiềm năng của chi nhánh và của thị trường thì công tác dịch vụ của ngân hàng vẫn chưa đạt yêu cầu Ngân hàng chưa tiếp cận được nhiều với các cửa hàng, đại lý, các doanh nghiệp trên địa bàn
Mặc dù còn nhiều hạn chế trong hoạt động kinh doanh song không thể phủ nhận những kết quả mà toàn thể cán bộ NHNo&PTNT Sóc Sơn đã nỗ lực phấn đấu đạt được Trong năm 2013, trên cơ sở phát huy những thành tích đó ngân hàng cần tiếp tục đẩy mạnh hoạt động công tác phát triển về quy mô, tăng trưởng về chất lượng hiệu quả hơn nữa
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NHNo&PTNT CHI NHÁNH SÓC SƠN
2.2.1 Tình hình huy động vốn và sử dụng vốn tại NHNo&PTNT chi nhánh Sóc Sơn
2.2.1.1 Tình hình huy động vốn giai đoạn 2010-2012 tại NHNo&PTNT Sóc Sơn
Với NHTM, nguồn vốn huy động tại địa phương là nguồn vốn quan trọng nhất
và luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn Việc các NHTM đảm bảo huy động đủ nguồn vốn cho công tác sử dụng vốn, đảm bảo thu hút được nguồn
Trang 34vốn nhàn rỗi trong xã hội vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng được ổn định và đạt hiệu quả cao.
Không giống như các loại hình doanh nghiệp khác trong nền kinh tế, hoạt ðộng của NHTM chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động Nguồn vốn tự có tuy rất quan trọng nhưng chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ và chủ yếu để đầu tư vào cơ sở vật chất, tạo
uy tín với khách hàng Ngoài ra các NHTM còn có các nguồn vốn khác như : Vốn
đi vay, vốn trong thanh toán, vốn ủy thác đầu tư…những nguồn vốn này cũng chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng
Nhận thức được điều này, NHNo&PTNT Sóc Sơn đã tập trung nỗ lực và coi đây
là nhiệm vụ trọng tâm của chi nhánh nên trong những năm gần đây vốn huy động
đã tăng lên cả về số lượng và chất lượng
Các hình thức huy động vốn chủ yếu được áp dụng tại NHNo&PTNT Sóc Sơn trong thời gian qua:
Nhận tiền gửi của tổ chức kinh tế
Nhận tiền gửi tiết kiệm của dân cư
Nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác
Phát hành giấy tờ có giá
Trong những năm qua NHNo&PTNT Sóc Sơn luôn chú trọng áp dụng các biện pháp nhằm tăng trưởng vốn huy động như: Mở rộng mạng lưới, tuyên truyền, quảng cáo, tạo mọi điều kiện cho khách hàng, linh hoạt điều chỉnh lãi suất trong phạm vi cho phép…Nhờ tăng cường công tác huy động vốn nên trong những năm qua hoạt động huy động vốn của chi nhánh luôn phát triển khá ổn định
Trang 35Bảng 1: Tình hình huy động vốn bằng VNĐ giai đoạn 2010-2012
1.728.91
6 288.633 400.741 27,77 30,17
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán qua các năm 2010 –2012 )
Trang 36Biểu đồ 2: Nguồn vốn huy động bằng VNĐ giai đoạn 2010 – 2012
Đơn vị: Triệu đồng
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán qua các năm 2010 –2012 )
Dựa vào bảng 1 và biểu đồ 2 ta thấy, tình hình huy động vốn bằng VNĐ của NHNo&PTNT Sóc Sơn như sau:
Năm 2010, tổng nguồn vốn huy động bằng VNĐ đạt 1.039.542 triệu đồng Đến năm 2011 tổng nguồn vốn này là 1.328.175 triệu đồng tăng 288.633 triệu đồng (tăng 27,77%) so với 2010 Trong đó, các khoản Nợ CP và NHNN giảm 80.111 triệu đồng (giảm 78,23%), các khoản Nợ các TCTD khác giảm 145 triệu đồng (giảm 21,84%), tiền gửi của các TCKT tăng 198.456 triệu đồng (tăng 48,46%), tiền gửi TK tăng 153.709 triệu đồng (tăng 30,86%), phát hành giấy tờ có giá tăng 16.724 triệu đồng (tăng 57,75%) Qua đó ta thấy, tổng nguồn vốn huy động bằng VNĐ năm 2011 tăng chủ yếu do tiền gửi của TCKT tăng và tiền gửi tiết kiệm tăng Năm 2012, tổng nguồn vốn huy động bằng VNĐ đạt 1.728.916 triệu đồng tăng 400.741 triệu đồng (tăng 30,17%) so với 2011 Trong đó, các khoản khoản Nợ CP
và NHNN 26.670 triệu đồng (tăng 119,63%), các khoản Nợ các TCTD khác giảm
367 triệu đồng (giảm 70,71% ), tiền gửi của các TCKT giảm 204.080 triệu đồng (giảm 33,57%), tiền gửi TK tăng 560.478 triệu đồng (tăng 86%), phát hành giấy tờ
có giá tăng 18.040 triệu đồng (tăng 39,49%) Năm 2012, tổng nguồn vốn huy động này tăng do tiền gửi TK tăng mạnh Mặc dù, lãi suất suất cơ bản của NHNN thay đổi liên tục từ cuối năm 2011 ở mức 14%/năm xuống 9%/năm và sau đó xuống 8%/năm ở thời điểm cuối năm 2012 Nhưng do thời gian này, người dân ở khu vực Sóc Sơn nhận được rất nhiều tiền giải phóng mặt bằng của dự án làm đường cao tốc
Hà Nội – Thái Nguyên (dự án xây dựng quốc lộ 3 mới đoạn Hà Nội - Thái Nguyên), dự án sân Gofl quốc tế Sóc Sơn ở xã Hồng Kỳ, Ngân sách Nhà nước đổ
về để làm dự án nông thôn mới và thời gian qua xảy ra rất nhiều vụ vỡ nợ tín dụng đen do tham lãi suất cao Các kênh đầu tư khác đều dễ gặp rủi ro trong thời buổi
Trang 37kinh tế khó khăn nên biện pháp tốt nhất để an toàn cho khoản tiền của người dân lúc này là gửi TK tại ngân hàng
Bảng 2: Tình hình huy động vốn bằng ngoại tệ (USD) giai đoạn 2010-2012
Đơn vị: Triệu đồng (ngoại tệ quy đổi)
157.65
9 38.165 14.702 36,42 10,28
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán qua các năm 2010 – 2012 )
Trang 38Biểu đồ 3: Nguồn vốn huy động bằng USD giai đoạn 2010 – 2012
Đơn vị: Triệu đồng (ngoại tệ quy đổi)
( Nguồn: Bảng cân đối kế toán qua các năm 2010 – 2012 )
Qua bảng 2 và biểu đồ 3 ta thấy, huy động vốn bằng ngoại tệ (USD) thông qua 3 hình thức là tiền gửi của TCKT, tiền gửi tiết kiệm và phát hành giấy tờ có giá
Năm 2010, tổng nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ quy đổi (USD quy đổi) của ngân hàng là 104.792 triệu đồng Đến năm 2011, tổng nguồn vốn huy động bằng USD quy đổi là 142.957 triệu đồng tăng 38.165 triệu đồng (tăng 36,42%) so với
2010 Trong đó, tiền gửi của TCKT tăng 39.032 triệu đồng (tăng 95,17%), tiền gửi tiết kiệm 2.173 triệu đồng (tăng 3,59%), phát hành giấy tờ có giá giảm 3.040 triệu đồng (giảm 95,24%) Qua đó ta thấy, tổng nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ năm
2011 tăng là do tiền gửi của TCKT tăng
Năm 2012, tổng nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ quy đổi (USD quy đổi) của ngân hàng là 157.659 triệu đồng, tăng 14.702 triệu đồng (tăng 10,28%) so với năm
2011 Trong đó, tiền gửi của TCKT tăng 12.360 triệu đồng (tăng 15,44%), tiền gửi tiết kiệm 181 triêu đồng (tăng 0,29%), phát hành giấy tờ có giá tăng 2.161 triệu đồng (tăng 1421,71%) Năm 2012, tổng nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ tăng là
do tiền gửi của TCKT tăng và phát hành giấy tờ có giá tăng
Qua phân tích tình hình trên ta thấy, tiền gửi của TCKT và tiền gửi TK chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn huy động Đối với nguồn vốn huy động bằng nội tệ thì tiền gửi TK chiếm tỷ trọng cao nhất, còn đối với nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ (USD) tiền gửi của TCKT chiếm tỷ trọng lớn nhất
2.2.1.2 Tình hình quản lý và sử dụng vốn trong giai đoạn 2010–2012
Các NHTM với chức năng là trung gian tài chính trong nền kinh tế thị trường sẽ thực hiện nhiệm vụ dẫn vốn từ những người tạm thời thừa vốn đến những người tạm thời thiếu vốn Với chức năng này, ngân hàng vừa đóng vai trò là người đi vay
Trang 39vừa đóng vai trò là người cho vay Huy động vốn và sử dụng vốn là hai hoạt động liên quan mật thiết với nhau Ngân hàng không chỉ huy động thật nhiều vốn mà còn phải tìm cách đầu tư và cho vay có hiệu quả Nếu ngân hàng chỉ chú trọng tới huy động vốn mà không cho vay hoặc đầu tư thì sẽ bị ứ đọng vốn làm giảm lợi nhuận của ngân hàng Còn nếu không huy động đủ vốn để cho vay thì sẽ mất cơ hội tăng lợi nhuận, mở rộng khách hàng, làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường Việc tăng trưởng nguồn vốn là điều kiện trước nhất để mở rộng các hoạt động kinh doanh của ngân hàng Sử dụng vốn là hoạt động nối tiếp quyết định hiệu quả của hoạt động huy động vốn, quyết định hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng Sử dụng vốn là hoạt động chủ yếu mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, nếu làm tốt công tác sử dụng vốn thì sẽ thúc đẩy hoạt động huy động vốn phát triển.
Mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn còn được thể hiện ở cơ cấu về kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và việc sử dụng vốn của ngân hàng Hiện nay theo quy định của thống đốc NHNH Việt Nam, NHNo&PTNT có thể sử dụng 30% nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn Các NHTM không được sử dụng quá tỷ lệ này vì nó có thể dẫn đến rủi ro lãi suất và tính thanh khoản
Trong những năm qua, với những cố gắng trong công tác huy động vốn, NHNo&PTNT Sóc Sơn đã chủ động được nguồn vốn để cho vay, đảm bảo đủ nguồn vốn để đáp ứng cho nhu cầu cho vay và đầu tư của ngân hàng Sóc Sơn là một huyện nông nghiệp, kinh tế còn chậm phát triển, cơ sở hạ tầng còn yếu kém, trình độ dân trí còn thấp, sản xuất nông nghiệp cây lúa là chính, kinh tế trang trại đang dần từng bước phát triển cho nên công tác tín dụng chủ yếu là cho vay hộ sản xuất Đầu tư vào các dự án lớn chiếm tỷ trọng rất nhỏ, chủ yếu là cho vay ngắn hạn
và trung hạn Điều đó cho thấy ngân hàng sử dụng nhiều tới nguồn vốn ngắn hạn Ngân hàng dư thừa nhiều về vốn, hoạt động tín dụng tại ngân hàng thực sự chưa được tốt Nhưng chúng ta phải ghi nhận một điều là tổng dư nợ cho vay tăng dần qua các năm đây là một một sự cố gắng rất lớn của bộ phận tín dụng nói riêng, các cán bộ công nhân viên trong ngân hàng nói chung
Bảng 3: Cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn trong giai đoạn 2010-2012
Đơn vị : Triệu đồng
Trang 40Chỉ tiêu Năm
CL Tuyệt đối (Triệu
đồng) CL Tương đối (%)
2010 2011 2012 2011/2010 2012/2011 2011/2010 2012/2011 I.Tổng
(Nguồn: Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh của NHNo&PTNT chi nhánh Sóc
Sơn giai đoạn 2010 -2012)