Lạm phát là một hiện tượng kinh tế phức tạp gắn liền với sự tăng lên đồng loạt của giá cả và sự mất giá của tiền tệ.Lạm phát xuất hiện khi nền kinh tế chứa đựng các dấu hiệu mất cân đối:
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trong suốt khóa học, em xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong Học Viện Ngân Hàng đã truyền đạt cho em những kiến thức cần thiết để hoàn thành chuyên đề và phục vụ công việc sau này.
Em xin chân thành cám ơn!
Sinh viên:
Đỗ Khương Duy
Trang 3DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Biểu đồ 1.1: Đường Phillips 12
Biểu đồ 2.1: Cơ cấu giỏ hàng hóa tiêu dùng 2009 – 2014 16
Biểu đồ 2.2 Diễn biến CPI qua các tháng năm 2010 25
Biểu đồ 2.3 Diễn biến CPI qua các tháng năm 2011 32
Biểu đồ 2.4 Diễn biến CPI qua các tháng năm 2012 39
Biểu đồ 2.5 Diễn biến CPI qua các tháng năm 2013 43
Biểu đồ 2.6 CPI 1/2010 đến 5/2013 45
DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 12 năm 2010 25
Bảng 2.2: Chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 12 năm 2011 33
Bảng 2.3: Chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 12 năm 2012 40
Bảng 2.4: Chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 5 năm 2013 44
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ LẠM PHÁT 2
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 2
1.1.1 Khái niệm và phân loại lạm phát 2
1.1.2 Các phương pháp đo lường lạm phát 4
1.1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát 9
1.1.4 Mối quan hệ của lạm phát với chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác 11
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM THỜI GIAN GẦN ĐÂY 15
2.1 TÌM HIỂU CƠ CẤU GIỎ HÀNG HÓA TIÊU DÙNG 15
2.2 DIỄN BIẾN LẠM PHÁT QUA CÁC NĂM 16
2.2.1 CPI năm 2010 16
2.2.2 CPI năm 2011: 26
2.2.3 CPI năm 2012: 34
2.2.4 CPI năm 2013 41
2.3 NGUYÊN NHÂN CỦA LẠM PHÁT 45
2.3.1 Xét theo khung lý thuyết về nguyên nhân của lạm phát 45
2.3.2 Một số nguyên nhân khác 47
2.4 CÁC CHÍNH SÁCH KIỂM SOÁT LẠM PHÁT TẠI VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 48
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỚI 65
3.1 CÁC CĂN CỨ ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP CHỐNG LẠM PHÁT 65
3.1.1 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 2011-2015 65
3.1.2 Dự báo về tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam 2011-2015 67
Trang 53.1.3 Xác định tỷ lệ lạm phát hợp lý 2011-2015 68
3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP VỀ CHỐNG LẠM PHÁT 69
3.2.1 Chống lạm phát bằng các giảm cầu 69
3.2.2 Chống lạm phát bằng cách tác động lên cung 71
3.2.3 Chống lạm phát do quán tính 72
3.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP KIỀM CHẾ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM 73
3.3.1 Đối tượng thực hiện các giải pháp 73
3.3.2 Điều kiện thực hiện các giải pháp 73
KẾT LUẬN 74
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 12 năm 2010 25
Bảng 2.2: Chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 12 năm 2011 33
Bảng 2.3: Chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 12 năm 2012 40
Bảng 2.4: Chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 5 năm 2013 44
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Lạm phát một yếu tố tác động mạnh tới sự phát triển kinh tế xã hội, trongnhững năm gần đây ở Việt Nam lạm phát đang là bài toán lớn cho cả xã hội Nó làmột chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản và hết sức quan trọng mà mọi quốc gia đều phảiquan tâm trong quá trình phát triển kinh tế vĩ mô Lạm phát là một hiện tượng kinh
tế phức tạp gắn liền với sự tăng lên đồng loạt của giá cả và sự mất giá của tiền tệ.Lạm phát xuất hiện khi nền kinh tế chứa đựng các dấu hiệu mất cân đối: mất cân đốigiữa cung - cầu tiền, mất cân đối giữa cung - cầu hàng hoá… và thường gây ra hậu quảnghiêm trọng: làm rối loạn nền kinh tế, làm giảm sút mức sống của nhân dân và ở mộtmức nào đó thì lạm phát có thể gây nên tình trạng rối ren về chính trị - xã hội Ngănchặn lạm phát không phải dễ dàng mà đòi hỏi phải có giải pháp đồng bộ và khôn ngoancủa các nhà kinh tế, các nhà khoa học, các nhà chính trị và các nhà quản lý…
Trong những năm gần đây, lạm phát ở nước ta diễn ra rất phức tạp vàthường ở mức cao, gây ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh tế và đời sống xã hội.Chính phủ và NHNN trong thời gian qua đã có những chính sách kiềm chế lạm phát
và các chính sách đẩy nhanh phát triển kinh tế một cách hệ thống Lạm phát là mộtchỉ tiêu kinh tế vĩ mô có mối quan hệ với rất nhiều các chỉ tiêu kinh tế khác như:tăng trưởng kinh tế, tiền tệ- tín dụng, lãi suất, tỷ giá hối đoái…do vậy lựa chọn giảipháp kiềm chế lạm phát, xác định tỷ lệ lạm phát ở mức độ hợp lý cần đặt trong mốiquan hệ tổng thể của các yếu tố trên
Vấn đề lạm phát hiện nay rất quên thuộc với người dân trong cuộc sống hàngngày Chỉ ngủ qua đêm và thức dậy tiền trong túi của họ đã bị vơi đi Mỗi ngày rachợ tiền của họ lại mua được ít đồ hơn ngày hôm trước Hàng loạt doanh nghiệpvừa và nhỏ phá sản do tác động của lạm phát
Với sự phát triển của lạm phát và những ảnh hưởng của lạm phát tới kinh tế
xã hội và cuộc sống của người dân hiện nay Cùng với những thông tin được cập
nhật hàng ngày về vấn đề này Em quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu lạm phát
và một số giải pháp kiềm chế lạm phát ở Việt Nam hiện nay” để làm chuyên đề
tốt nghiệp
Trang 8CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CHUNG VỀ LẠM PHÁT
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1.1 Khái niệm và phân loại lạm phát
1.1.1.1 Khái niệm
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến và có ảnh hưởng lớn đến
đời sống kinh tế xã hội Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của
mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thịtrường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thìlạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác
Lạm phát có thể được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung.Điều này không nhất thiết có nghĩa là giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thờiphải tăng lên theo cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên Một nềnkinh tế vẫn có thể trải qua lạm phát khi giá của một số hàng hóa giảm, nếu như giá
cả của các hàng hóa và dịch vụ khác đủ tăng mạnh
Lạm phát còn được định nghĩa là sự suy giảm sức mua trong nước của đồngnội tệ Trong bối cảnh lạm phát thì một đơn vị tiền tệ chỉ có thể mua được ngày càng
ít hàng hóa và dịch vụ hơn Hay nói một cách khác, khi có lạm phát, chúng ta sẽ phảichi ngày càng nhiều đồng nội tệ hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ cố định
Trường hợp ngược lại của lạm phát là giảm phát, diễn ra khi mức giá chunggiảm liên tục Khi đó sức mua trong nước của đồng nội tệ liên tục tăng
1.1.1.2 Phân loại lạm phát
Lạm phát thường được phân loại theo tính chất hoặc mức độ của tỷ lệ lạmphát.Trong mục này chúng ta sẽ phân loại lạm phát theo mức độ của tỷ lệ lạm phát
Trang 9Theo tiêu thức này các nhà kinh tế thường phân làm ba loại: lạm phát vừa phải, lạmphát phi mã và siêu lạm phát.
* Lạm phát phi mã
Mức lạm phát tương ứng với tốc độ tăng giá trong phạm vi hai hoặc ba chữ
số một năm thường được gọi là lạm phát phi mã, nhưng vẫn thấp hơn siêu lạm phát
Ở mức phi mã, lạm phát làm cho giá cả chung tăng lên nhanh chóng, gây biến độnglớn về kinh tế, các hợp đồng được chỉ số hoá Lúc này dân tích trữ hang hoá, vàngbạc, bất động sản và không bao giờ cho vay tiền ở mức lãi suất bình thường Loạinày khi đã trở nên vững chắc sẽ xảy ra những biến động kinh tế nghiêm trọng ViệtNam và hầu hết các nước chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang nềnkinh tế thị trường đều phải đối mặt với lạm phát phi mã trong những năm đầu thựchiện cải cách
Nhìn chung lạm phát phi mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra nhữngbiến động kinh tế nghiêm trọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền bị mất giá nhanh, mọingười có xu hướng tích trữ hàng hoá, mua bất động sản và chuyển sang sử dụngvàng hoặc các ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch cógiá trị lớn và tích luỹ của cải
* Siêu lạm phát
Siêu lạm phát là lạm phát "mất kiểm soát", một tình trạng giá cả tăng nhanhchóng khi tiền tệ mất giá trị Không có định nghĩa chính xác về siêu lạm phát đượcchấp nhận phổ quát Một định nghĩa cổ điển về siêu lạm phát do nhà kinh tế người
Trang 10Mỹ Phillip Cagan đưa ra là mức lạm phát hàng tháng từ 50% trở lên (nghĩa là cứ 31ngày thì giá cả lại tăng gấp đôi) Siêu lạm phát xảy ra khi lạm phát đột biến tăng lênvới tốc độ cao, vượt nhanh lạm phát phi mã, tốc độ tiền tệ lưu thông tăng lên nhanhmột cách chóng mặt, giá cả tăng nhanh không ổn định, tiền lương thực tế bị giảmmạnh, tiền tệ bị mất giá nhanh chóng, thông tin không còn chính xác, các yếu tố thịtrường bị biến dạng và hoạt động kinh doanh lâm vào tình trạng rối loạn Siêu lạmphát có thể phá huỷ cả nền kinh tế, hệ thống tài chính, và hơn nữa, nó có thể gây nên
sự mất ổn định của tình hình chính trị - xã hội Tuy nhiên, siêu lạm phát ít khi xảy ra
Theo thống kê, thì cho đến nay thế giới mới trải qua 15 cuộc siêu lạm phát.Một trường hợp được ghi nhận chi tiết về siêu lạm phát là nước Đức sau chiến tranhThế giới thứ Nhất Giá một tờ báo đã tăng từ 0,3 mác vào tháng 1 năm 1921 lên đến70.000.000 mác chỉ trong đầy 2 năm sau đó Giá cả của các thứ khác cũng tăng vớitốc độ tương tự Từ tháng Giêng năm 1922 đến tháng 11 năm 1923, chỉ số giá đãtăng từ 1 lên đến 10.000.000.000 Cuộc siêu lạm phát ở Đức có tác động tiêu cực tớinền kinh tế Đức đến mức nó thường được coi là một trong những nguyên nhân làmnảy sinh chủ nghĩa Đức quốc xã và cuộc Chiến tranh Thế giới thứ Hai
1.1.2 Các phương pháp đo lường lạm phát
Để đo lường mức độ lạm phát mà nền kinh tế trải qua trong một thời kỳ nhấtđịnh, các nhà thống kê sử dụng chỉ tiêu tỷ kệ lạm phát được tính bằng phần trămthay đổi của mức giá chung Tỷ lệ lạm phát cho thời kỳ t được tính như sau:
% 100
Trong đó:
t: tỷ lệ lạm phát của thời kỳ t (có thể là tháng, quý hoặc năm)
Pt: mức giá của thời kỳ t
Pt-1: mức giá của thời kỳ trước đó
Trang 11
1.1.2.1 Chỉ số giá tiêu dùng (CPI)
CPI (CPI - Consumer Price Index) phản ánh tốc độ thay đổi giá của các mặthàng tiêu dùng chính của người tiêu dùng điển hình
CPI là một chỉ tiêu tương đối, phản ánh xu thế và mức độ biến động của giábán lẻ hàng hoá tiêu dùng và dịch vụ trong sinh hoạt của dân cư và các hộ gia đình.Bởi vậy, nó được dùng để theo dõi sự thay đổi của chi phí sinh hoạt theo thời gian
Khi CPI tăng nghĩa là mức giá trung bình tăng Kết quả là người tiêudùng phải chi nhiều tiền hơn để có thể mua được một lượng hàng hoá và dịch
vụ như cũ nhằm duy trì
Lạm phát trong điều kiện hiện đại bao gồm những đặc điểm sau:
+ Sự mất giá của các loại chứng khoán có giá
+ Sự giảm giá của đồng tiền so với ngoại tệ và vàng
+ Lạm phát còn thể hiện ở chỗ khối lượng tiền ghi sổ tăng vọt nhanh chóng + Lạm phát trong điều kiện hiện đại còn là Chính sách của Nhà nước,nhằm mục đích kích thích sản xuất, chống lại nạn thất nghiệp, bù đắp các chiphí thiếu hụt của ngân sách
Hiện nay, CPI được tính hàng tháng và công bố theo 4 gốc so sánh đó là: sosánh với tháng trước của cùng năm, với cùng tháng năm trước, năm gốc (2009) và
so với tháng 12 của năm trước
Cùng với số liệu CPI hàng tháng, TCTK cũng tính CPI bình quân hàng quý
và cả năm theo gốc so sánh là cùng kỳ năm trước để cung cấp theo yêu cầu của một
số đối tượng sử dụng
Việc công bố CPI hằng tháng theo gốc so sánh tháng trước và cùng thángnăm trước như hiện nay tiếp tục được duy trì để phục vụ điều hành kinh tế hằngtháng của Chính phủ và một số yêu cầu phân tích kinh tế
Trang 12Hiện nay, khi nghiên cứu tốc độ tăng giá tiêu dùng năm báo cáo so với nămtrước thì cả người sử dụng thông tin lẫn các cơ quan Chính phủ đều nghiêng về việc
sử dụng CPI tháng 12 năm báo cáo so với tháng 12 năm trước, trong thời gian tới sẽxác định chỉ tiêu kế hoạch về tỷ lệ lạm phát theo nội dung của CPI cả năm so vớinăm trước Trên cơ sở đó, TCTK công bố CPI hằng quý và cả năm so với cùng kỳnăm trước Đây là giải pháp nhằm đồng bộ với các chỉ tiêu kế hoạch và nhiều chỉtiêu thống kê khác, CPI theo gốc so sánh này sẽ phù hợp hơn trong việc sử dụng đểloại trừ sự biến động giá đối với một số chỉ tiêu thời kỳ như tổng mức bán lẻ hànghóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội, GDP, giá trị sản xuất
Tính chi phí mua giỏ hàng hóa cố định theo giá thay đổi ở các năm
Chi phí giỏ hàng ở năm t = 0
i t
i q p
t i t
q p
q p CPI
Và công việc cuối cùng giúp chúng ta tìm hiểu được ứng dụng của CPItrong phân tích kinh tế, cụ thể là dùng CPI để tính lạm phát Lạm phát là sự gia tăngliên tục của mức giá chung Do vậy, tỷ lệ lạm phát là phần trăm thay đổi của mứcgiá chung so với thời kỳ trước đó, chỉ số này được tính theo công thức:
Trang 13% 100
t
Trong đó: CPIt: CPI thời kỳ t
CPIt-1: CPI thời kỳ t-1
Trên thực tế người ta có thể xác định quyền số trong tính toán CPI bằng cáchđiều tra để tính toán tỷ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hoá, dịch vụ so với tổnggiá trị chi tiêu Sau đó quyền số này được dùng để tính CPI cho các thời kỳ sau CPIthường được tính hàng tháng và hàng năm CPI còn được tính toán cho từng nhómhàng hóa hoặc một số nhóm hàng hóa tùy theo mục đích sử dụng
Các vấn đề gặp phải khi tính toán CPI
Do sử dụng giỏ hàng hoá cố định nên khi tính toán CPI có ba vấn đề chínhdẫn đến hạn chế của CPI sau đây:
CPI không phản ánh được độ lệch thay thế vì nó sử dụng giỏ hàng hoá cốđịnh Khi giá cả một mặt hàng này tăng nhanh hơn so với các mặt hàng khác thìngười tiêu dùng sẽ có xu hướng ít tiêu dùng những mặt hàng đã trở nên quá đắt đỏ
mà tiêu dùng nhiều những hàng hoá đỡ đắt đỏ hơn Yếu tố này làm CPI đã đánh giácao hơn thực tế mức giá
CPI không phản ánh được sự xuất hiện của những hàng hoá mới vì nó sửdụng giỏ hàng hoá cố định trong khi nếu có hàng hoá mới xuất hiện thì một đơn vịtiền tệ có thể mua được các sản phẩm đa dạng hơn CPI không phản ánh được sự giatăng sức mua này của đồng tiền nên vì thế lại đánh giá mức giá cao hơn thực tế
Không phản ánh được sự thay đổi của chất lượng hàng hoá vì nếu mức giácủa một hàng hoá cụ thể nào đó tăng nhưng chất lượng cũng tăng tương ứng thậmchí tăng hơn thì trên thực tế mức giá không tăng Chất lượng hàng hoá dịch vụ nhìnchung đều có xu hướng được nâng cao nên CPI cũng đã phóng đại mức giá
Trang 14nó chỉ cho biết sự thay đổi sản lượng do giá thay đổi chứ không cho biết sự gia tăngcủa GDP thực tế Công thức tính chỉ số điều chỉnh GDP năm t là:
GDP
GDP
GDP D
Trong đó: GDPn: GDP danh nghĩa
GDPt: GDP thực tế
1.1.2.3 Chỉ số sản xuất (PPI)
Chỉ số giá sản xuất là giá trung bình của hàng hóa do người sản xuất bán rabao gồm một số hàng bán ra cho những người sản xuất khác chứ không phải báncho các hộ gia đình Nó là chỉ số được xác định để tính mức giá chung cho lần bánđầu tiên Chỉ số này rất có ích vì nó được tính chi tiết cho sát với những thay đổithực tế
* Chỉ số giá bán buôn (WPI)
* Chỉ số giá bán lẻ (RPI)
* Chỉ số lạm phát cơ bản
Thông thường người ta sử dụng chỉ số điều chỉnh GDP (DGDP) và CPI để đolường mức giá chung Tuy nhiên, nếu mục tiêu là xác định ảnh hưởng của lạm phátđến mức sống, thì rõ ràng CPI tỏ ra thích hợp hơn.Trong thực tế, các số liệu công bốchính thức về lạm phát thường được tính trên cơ sở CPI Mặt khác, chỉ số giá tiêudùng CPI phản ánh sát nhất tình hình đời sống của nhân dân theo sự biến động của
Trang 15giá cả; sự thay đổi trong CPI có tác động trực tiếp đến mức sống và phúc lợi kinh tếcủa mọi người dân trong xã hội Phần sau của bài viết này, sẽ phân tích lạm phátthông qua chỉ số giá tiêu dùng CPI.
1.1.3 Nguyên nhân gây ra lạm phát
1.1.3.1 Lạm phát do cầu
Lạm phát do cầu, còn được gọi là lạm phát cầu kéo (demand-pull inflation),xảy ra khi tổng cầu tăng trong khi tổng cung không đổi hoặc tổng cung tăng chậmhơn tổng cầu Có nhiều nguyên nhân làm tăng tổng cầu:
- Do tăng chi tiêu của các hộ gia đình và tăng đầu tư của các doanh nghiệp.Khi đó, có một lượng tiền lớn được tung ra mua hàng hoá và dịch vụ gây ra sự thừatiền trong lưu thông, dẫn đến việc đồng tiền bị mất giá
- Do tăng cán cân thương mại, khiến cho nước ngoài tăng mua hàng trongnước, còn người trong nước giảm mua hàng nước ngoài
- Do Chính phủ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế Nếu chính phủ tăng chi tiêucủa mình dành cho hàng hoá và dịch vụ, lượng tiền mà chính phủ chi mua hànghoá và dịch vụ sẽ được đưa trực tiếp vào nền kinh tế, làm tăng tổng cầu NếuChính phủ giảm thuế hoặc tăng chi chuyển nhượng thì sẽ làm tăng thu nhập khảdụng, từ đó làm tăng tiêu dùng của hộ gia đình, tức là tăng cầu Hiện nay,nguyên nhân tăng chi tiêu của Chính phủ là một trong những nguyên nhân chủyếu gây ra tình trạng lạm phát cao
- Do việc kiểm soát lượng cung tiền của ngân hàng trung ương còn hạn chế.Ngân hàng trung ương không kiểm soát được lượng cung tiền hợp lí, cung tiền tănglàm tăng lãi suất, kích thích tăng đầu tư tư nhân làm tăng cầu
Trang 16Chi phí sản xuất tăng có thể do các nguyên nhân sau: do gia tăng tiền lươngdanh nghĩa, tăng giá nguyên-nhiên-vật liệu, Do chi phí sản xuất tăng nên doanhnghiệp buộc phải tăng giá sản phẩm nhằm bảo đảm lợi nhuận, cuối cùng, thị trườngcân bằng tại mức giá cao hơn ban đầu
Năng lực sản xuất của quốc gia giảm có thể do các nguyên nhân như: giảmsút nguồn nhân lực, do sự gia tăng tỉ lệ thất nghiệp tự nhiên, do sự biến động chínhtrị, chiến tranh, thiên tai, Do năng lực sản xuất suy giảm nên khả năng đáp ứngnhu cầu giảm, gây khan hiếm hàng hoá và tăng giá cả
Trong bối cảnh này, mọi biến số kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế đều biếnđộng theo chiều hướng bất lợi: sản lượng giảm, cả thất nghiệp và lạm phát đều tăng
Vì vậy, loại lạm phát này còn được gọi là lạm phát kèm suy thoái
1.1.3.3 Lạm phát do quán tính
Lạm phát do quán tính (inertial inflation) hay lạm phát dự kiến (expectedinflation) là loại lạm phát vừa phải, có xu hướng ổn định theo thời gian Hàng năm,mức giá tăng lên theo một tỷ lệ khá ổn định Đây là loại lạm phát hoàn toàn được dựtính trước Lạm phát này làm cả đường tổng cung và tổng cầu đều tăng lên với tốc
độ như nhau; sản lượng luôn được duy trì ở mức tự nhiên, trong khi mức giá tăngvới một tỷ lệ ổn định theo thời gian Tỷ lệ này được đưa vào các hợp đồng kinh tế,các kế hoạch hay các loại thoả thuận khác
Một ví dụ cụ thể của hiện tượng lạm phát do quán tính là khi nền kinh tế bịlạm phát cao, mọi người có xu hướng chỉ giữ lại một lượng tiền mặt tối thiểu để chitiêu hằng ngày, họ đem tiền đổi lấy các đồng tiền mạnh khác, vàng hay các loạihàng hoá để tích trữ giá trị, làm tăng lượng tiền lưu thông trên thị trường, càng làmđồng tiền mất giá và tăng lạm phát
Trang 171.1.4 Mối quan hệ của lạm phát với chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác
1.14.1 Lạm phát và tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát là hai vấn đề lớn cơ bản của kinh tế vĩ môlạm phát và tăng trưởng kinh tế có một quan hệ chế ước lẫn nhau và lạm phát chỉ cóthể ở một mức nhất định mới phù hợp cho tăng trưởng kinh tế Có thể nói, trong rấtnhiều các nhân tố ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế thì lạm phát giữ một vai trò rất
to lớn
Lạm phát được coi là một hiện tượng tất yếu của các nền kinh tế đang tăngtrưởng trong khi phải đối phó với những mất cân đối trong cơ cấu Các nhà cơ cấutin rằng giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát có mối quan hệ đánh đổi lẫnnhau.Những nỗ lực nhằm kiềm chế lạm phát có xu hướng làm tăng thất nghiệp vàgây ra tình trạng đình trệ sản xuất, và do đó bất lợi cho tăng trưởng kinh tế Một xãhội giành ưu tiên cho tăng trưởng thì phải chấp nhận lạm phát đi kèm với nó
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế là hai mặt của xã hội, là hai vấn đề trongnền kinh tế Lạm phát có thể coi là kẻ thù của nền kinh tế nhưng nó lại là hai vấn đềluôn tồn tại song song với nhau
Trong thực tế, không một quốc gia nào dù phát triển đến đâu cũng khôngtránh khỏi lạm phát Bất cứ một nền kinh tế của quốc gia nào đều cũng đã trải quacác cuộc khủng hoảng kinh tế và tỷ lệ lạm phát tăng với những quy mô khác nhau
Tỷ lệ lạm phát tăng cao sẽ đẩy giá cả hàng hóa chung tăng lên mà tiền lương danhnghĩa của các công nhân không tăng do đó tiền lương thực tế của họ sẽ giảm đi Đểtồn tại các công nhân sẽ tổ chức đấu tranh, bãi công đòi tăng lương và làm cho sảnxuất đình trệ, nền kinh tế gặp nhiều khó khăn… điều này khiến cho tốc độ tăngtrưởng kinh tế giảm Khi nền kinh tế gặp khó khăn, suy thoái sẽ làm thâm hụt ngânsách và đó là điều kiện, nguyên nhân gây ra lạm phát
Khi lạm phát tăng cao gây ra siêu lạm phát làm đồng tiền tệ trong nước mấtgiá rất nhanh, khi đó người dân sẽ đồng loạt bán nội tệ và mua ngoại tệ Tệ nạntham nhũng tăng cao, nạn buôn lậu phát triển mạnh, tình trạng đầu cơ trái phép
Trang 18tăng, trốn thuế và thuế không thu được đã gây ra tình trạng nguồn thu của nhà nước
bị tổn hại nặng nề làm cho thâm hụt ngân sách trầm trọng… và điều này lại làm cho
tỷ lệ lam phát tăng lên một cách khó có thể kiểm soát được
1.1.4.2 Lạm phát và thất nghiệp
Vào năm 1985, nhà kinh tế A.W.Phillips đã phát hiện thấy mối tương quannghịch giữa tỷ lệ lạm phát và tỷ lệ lạm phát tiền lương Mặc dù phát hiện củaPhillips dựa vào số liệu thực nghiệm của nước Anh, nhưng các nhà nghiên cứu đãnhanh chóng mở rộng phát hiện của ông sang các nước khác Họ lập luận mối tươngquan này nảy sinh là vì thất nghiệp thấp gắn với tổng cầu cao, đồng thời tổng cầucao lại tạo áp lực đẩy tiền lương và giá cả tăng lên trong toàn bộ nền kinh tế.Samuelson và Robert Solow đã gọi mối quan hệ tỷ lệ nghịch giữa lạm phát và thấtnghiệp là đường Phillips
Biểu đồ 1.1: Đường Phillips
Đường Phillips đem lại những bài học quan trọng cho các nhà hoạch địnhcác kết cục kinh tế có thể xảy ra Bằng cách thay đổi chính sách tiền tệ và tài khoá
để tác động vào tổng cầu, các nhà hoạch định chính sách có thể lựa chọn một điểmbất kỳ trên đường Phillips Điểm A có thất nghiệp cao và lạm phát thấp (tương ứngvới chính sách tài khoá và tiền tệ thắt chặt) Điểm B có thất nghiệp thấp và lạm phátcao (tương ứng với chính sách tài khoá và tiền tệ mở rộng) Các nhà hoạch định cóthể muốn cả lạm phát và thất nghiệp đều thấp, nhưng đường Phillips chỉ ra rằng một
2 6
0
A B
Trang 19kết hợp như vậy không thể xảy ra Điều này hàm ý các nhà hoạch định chính sáchphải đối mặt với sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp Việc điều tiết tổng cầuthông qua các chính sách tài khóa và tiền tệ đơn giản chỉ làm nền kinh tế trượt dọctrên một đường Phillips xác định.
1.1.4.3 Lạm phát và tiền tệ
Về mặt lý thuyết các nhà kinh tế theo trường phái tiền tệ đã khẳng định tiền
tệ là yếu tố quyết định gây nên lạm phát, xem xét vấn đề tăng cung tiền có là tácnhân quan trọng gây ra lạm phát hay không Tư tưởng cơ bản của các nhà tiền tệcho rằng lạm phát về cơ bản là hiện tượng tiền tệ Tuy nhiên, nhiều tác giả khácnhau, ví dụ như Friedman đã đi xa hơn và đề ra một hình thái mạnh hơn của chủnghĩa tiền tệ Họ đã chỉ ra mối quan hệ nhân quả trực tiếp giữa cung tiền và lạmphát: “Lạm phát ở đâu và bao giờ cũng là hiện tượng tiền tệ… và nó chỉ có thể xuấthiện một khi cung tiền tăng nhanh hơn sản lượng”
Gọi Y là mức sản lượng mà nền kinh tế tạo ra trong một năm và P là giá củamột đơn vị sản lượng điển hình, khi đó số đồng được trao đổi trong năm bằngPxY.Vì tiền trao tay khi giao dịch, chúng ta có thể sử dụng thong tin này để dự đoán
số lần mà một tờ giấy bạc điển hình trao tay trong năm Nếu chúng ta kí hiệu V làtốc độ chu chuyển, tức là số lần trung bình mà một tờ giấy bạc điển hình sử dụng đểmua hàng hóa và dịch vụ trong một năm, và M là cung tiền, thì số đơn vị tiền tệ traođổi trong năm cần phải bằng MxV Do vậy, chúng ta có đồng nhất thức:
MxV = PxY
Đó là phương trình số lượng, bởi vì nó phản ánh mối quan hệ giữa lượng tiềncung ứng (M) và GDP danh nghĩa (PxY) Phương trình số lượng cho thấy sự giatăng lượng tiền trong nền kinh tế được phản ánh ở một trong ba biến số khác: mứcgiá phải tăng, sản lượng phải tăng, hoặc tốc độ chu chuyển tiền tệ phải giảm
Nhìn chung, tốc độ chu chuyển tiền tệ tương đối ổn định theo thời gian Khi
đó, lạm phát (P tăng) chỉ có thể xảy ra khi lượng tiền cung ứng (M) tăng nhanh hơnsản lượng (Y): tốc độ tăng cung tiền càng cao thì tỷ lệ lạm phát càng cao (khi các
Trang 20nhân tố khác không thay đổi) Đồng thời, các biện pháp chính sách mà một nướccần thực hiện để giảm lạm phát là cắt giảm tốc độ cung ứng tiền tệ Như vậy, theoquan điểm này, chính sách tiền tệ sẽ là chính sách then chốt nhằm kiểm soát lạmphát; và chính sách tài khóa cũng có thể ảnh hưởng đến lạm phát bởi vì thâm hụtngân sách của chính phủ có xu hướng làm tăng cung tiền.
1.1.4.4 Lạm phát và lãi suất
Lãi suất mà ngân hàng trả cho người gửi tiền gọi là lãi suất danh nghĩa(nominal interest rate-i) và lãi suất đã trừ tỷ lệ lạm phát gọi là lãi suất thực tế (realinterest rate-r) Từ đó chúng ta có thể mô tả mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa vàlãi suất thực tế dưới dạng công thức sau:
Đó là tình huống lạm phát cao và lạm phát tăng đã làm giảm giá trị của khoản tiềntiết kiệm nhanh hơn lãi suất danh nghĩa làm tăng giá trị của khoản tiết kiệm này
Trang 21CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH DIỄN BIẾN LẠM PHÁT VIỆT NAM
THỜI GIAN GẦN ĐÂY
2.1 TÌM HIỂU CƠ CẤU GIỎ HÀNG HÓA TIÊU DÙNG
Để tính CPI, cần có hai yếu tố: giá bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng vàquyền số là cơ cấu chi tiêu cho đời sống tiêu dùng của dân cư
Tính CPI cho giai đoạn 2009 – 2014, TCTK công bố cách tính CPI và rổhàng hàng hóa bao gồm 572 mặt hàng
Cơ cấu quyền số (tỷ trọng chi tiêu của từng nhóm hàng hoá, dịch vụ so vớitổng giá trị chi tiêu) giữa các nhóm hàng hóa cũng có sự thay đổi để phản ánh sátthực và chính xác hơn với xu hướng tiêu dùng hiện nay Điều này được thể hiện rõnét nhất qua việc quyền số của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ( thuộc nhómhàng cấp I ) giảm chỉ còn 39,93%, thay vì mức 42,85% trước đây Nhóm hàng nàycũng được tách chi tiết thành 3 nhóm hàng gồm lương thực (8,18 %), thực phẩm(24,35 %) và ăn uống ngoài gia đình (7,4 %) Các nhóm hàng hóa còn lại đều có cơcấu quyền số tăng lên trong rổ hàng hóa chung
Theo ông Đỗ Thức, Tổng Cục trưởng TCTK, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch vàĐầu tư khẳng định: do mức sống của người dân có xu hướng ngày càng được cải
thiện, tỷ lệ tiêu dùng dành cho ăn uống có xu hướng giảm xuống
Trang 22Biểu đồ 2.1: Cơ cấu giỏ hàng hóa tiêu dùng 2009 – 2014
(Nguồn: TCTK)
2.2 DIỄN BIẾN LẠM PHÁT QUA CÁC NĂM
Trong giai đoạn gần đây với sự bất ổn của nền kinh tế toàn cầu trong khinền kinh tế Mỹ chưa có dấu hiệu tăng trưởng thì liên minh kinh tế Châu Âukhủng hoảng với vấn đề nợ công ở một số nước như: Hy Lạp, Tây Ban Nha, Nền kinh tế Việt Nam cũng như các nền kinh tế khác ở khu vực Châu Á gặp phảirất nhiều khó khăn Biến số biểu hiện rẽ thấy hiện nay là vấn đề lạm phát ngàymột phức tạp và khó kiểm soát hơn Sau đây là diễn biến lạm phát thông qua CPI
Trang 23 CPI tháng 3/2010:
TCTK cho biết CPI tháng 3/2010 tăng 0,75% so với tháng trước, đây là lầnthứ 2 trong vòng 5 năm trở lại đây, CPI tháng 3 tăng so với tháng 2 So với tháng12/2009, chỉ số giá tháng 3 đã tăng 4,12%; so với cùng kỳ năm 2009 tăng 9,46%
Với 11 nhóm hàng hóa dịch vụ tiêu dùng thiết yếu, trong tháng 3, nhóm cótốc độ tăng chỉ số giá cao nhất là nhà ở và vật liệu xây dựng (1,38%) Đây cũng lànhóm “hứng chịu” nhiều nguyên nhân gây tăng giá nhất do là tập hợp của tiền thuênhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng
Trang 24Nhóm có quyền số cao nhất, hàng ăn và dịch vụ ăn uống, đi liền sau với mứctăng 1,03% Tuy có thấp hơn nhưng chiếm tới gần 40% quyền số trong rổ hàng hóatính CPI nên sức “áp đặt” lên chỉ số giá của nhóm này mạnh mẽ hơn.Trong nhóm,duy nhất lương thực có chỉ số giá giảm 0,9%, thực phẩm đã tăng 1,5%, ăn uốngngoài gia đình tăng 1,75%.Các nhóm còn lại, giao thông tăng 0,92%, liên quan đếntăng giá xăng và nhu cầu đi lại những ngày sau Tết, thị trường du lịch cũng khởiđầu mùa lễ hội Ở động thái ngược lại, chỉ số giá nhóm bưu chính viễn thông giảm0,2% Các nhóm còn lại có mức tăng từ 0,15-0,56%.
CPI tháng 4/2010:
Theo thông tin từ TCTK (CPI) của cả nước tháng 4/2010 chỉ tăng rất nhẹ0,14% so với tháng trước, mức tăng thấp nhất kể từ sau tháng 3/2009 Bình quân 4tháng đầu năm 2010, CPI tăng 8,69% so với 4 tháng đầu năm 2009 Mức tăng CPItrong tháng 4 tăng 9,23% so với cùng kỳ năm trước và cũng chỉ tăng 4,27% so vớitháng 12/2009
Đóng góp không nhỏ vào việc kiềm chế CPI trong tháng qua phải kể đến cácnhóm hàng: Ăn uống và dịch vụ ăn uống (lương thực và thực phẩm) và dịch vụ bưuchính viễn thông
So với tháng 3/2010, nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống đã giảm 0,63%trong tháng 4 Trong đó, lương thực giảm 1,91% và thực phẩm giảm 0,53% Tuynhiên, hàng ăn uống ngoài gia đình lại tăng 0,46% so với tháng trước
Tính cả 4 tháng đầu năm nay, nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống đãtăng 9,24% so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó riêng tháng 4 năm nay tăng 9,56%
so với cùng kỳ năm ngoái
Trong khi đó, bưu chính viễn thông tiếp tục giảm giá với mức giảm 0,06% sovới tháng trước và giảm 4,09% so với cùng kỳ năm trước Tỉnh cả 4 tháng đầu nămnay, dịch vụ bưu chính viến thông giảm 3,95% so với cùng kỳ năm trước
Trang 25 CPI tháng 5/2010:
Theo số liệu từ TCTK trong tháng 5/2010 CPI tăng là 0,27% so với tháng4/2010 và 5 tháng đầu năm 2010 so với 5 tháng đầu năm 2009, CPI có mức tăng là8,76% So với tháng 12/2009, CPI tháng 5 tăng 4,55%
Trong tháng này chỉ có nhóm hàng nhà ở và vật liệu xây dựng và nhóm hànghóa và dịch vụ khác có mức tăng trên 1% (tương ứng ở mức 1,46% và 1,34%)
Hầu hết các mặt hàng còn lại đều ở mức dưới 1 như đồ uống thuốc lá, maymặc, mũ nón, giày dép; thiết bị và đồ dùng gia đình, thuốc và dịch vụ y tế, giaothông
Trong tháng, đáng chú ý nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có mức tăngtrưởng âm 0,12% và nhóm bưu chính viễn thông -0,05%
Như vậy, với 0,27% của tháng 5/2010, lo ngại về lạm phát năm 2010 đượcphần nào giảm bớt và các Bộ, Ngành, địa phương càng tích cực và công cuộc kiềmchế lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Chính Phủ
CPI tháng 6/2010:
TCTK cho biết CPI tháng 6/2010 tăng 0.22% so với tháng 5/2010, và tăng4.78% so với tháng 12/1009 So với cùng kỳ năm 2009 CPI tăng 8.69% , và bìnhquân 6 tháng đầu năm 2010 so với 6 tháng đầu năm 2009 tăng 8.75%
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0.37% Chỉ số giá lương thực tháng
này giảm 0.83% và thực phẩm tăng 0.71%, ăn uống ngoài gia đình tăng 0.59% Việcgiảm giá của lương thực được giải thích do: so với tháng 5/2010 do các tỉnh phía Bắcđang thu hoạch vụ Chiêm Xuân, Vùng Đồng bằng sông Cửu Long bắt đầu thu hoạch
vụ hè thu, trong khi đó nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước vẫn ở mức thấp
Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 0.62% , đây là nhóm hàng có chỉ số tăng caonhất, thời tiết nắng nóng làm cho nhu cầu về các mặt hàng đồ uống tăng cao nhưnước giải khát có gas tăng 0.68%, nước quả ép 0.9%, bia hơi tăng 1.92%; bia chaităng 1.66%
Trang 26May mặc, mũnón, giầy dép tăng 0.33% , nhóm này tăng chủ yếu ở các dịch
vụ may mặc tăng 0.64%
Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0.01% , Chỉ số giá nhóm này trong tháng 6 đã
ổn định lại do giá sắt thép xăng dầu thế giới giảm nên giá trong nước cũng giảm theo
Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0.48%, nắng nóng diễn ra trên diện rộng
có nơi lên đến 41độ nên nhu cầu về một số mặt hàng điện lạnh tăng cao làm giá cácmặt hàng này tăng
Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0.21% , giá thuốc và dịch vụ y tế khá ổn định,nhưng do thời tiết nắng nóng dễ phát sinh bệnh nên nhu cầu một số mặt hàng thuốcthông thường tăng làm giá tăng theo như: thuốc kháng sinh tăng 0.29%, thuốc tiêuchảy tăng 0.18%, thuốc vitamin tăng 0.38%, thuốc cảm tăng 0.75% Chỉ số giánhóm thuốc và dịch vụ y tế tháng 6/2010 tăng nhẹ 0.21%
Giao thông giảm 0.71% , chỉ số giá nhóm này giảm chủ yếu do giá xăng thếgiới giảm nên các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu điều chỉnh giảm 2 đợt vàongày 27/5/2010 và ngày 8/6/2010, giá xăng bình quân trong tháng giảm 2.5%; dầudiezen giảm 1.2%
Bưu chính viễn thông tăng 0.49% , nhóm hàng này thường có xu hướng giảmnhưng tháng này lại tăng 0.49%, theo quyết định của Tập đoàn bưu chính viễnthông Việt Nam tăng giá cước gửi thư và bưu thiếp vì phụ phí máy bay tăng, mỗiloại tăng 500đ tăng 25%
Giáo dục tăng 0.09%, chỉ số nhóm này tăng chủ yếu do giá giấy thế giớiđang tăng nên một số Công ty văn phòng phẩm cũng tăng giá các mặt hàng sách vởlàm cho nhóm vở giấy viết tăng 0.47%, các nhóm khác giá khá ổn định do vào cuốinăm học
Văn hoá, giải trí du lịch tăng 0.36% do giá một số tua trong nước tăng
0.66%; giá phòng khách tư nhân tăng 1.13%; giá các dịch vụ về thể thao như vé bơităng 1.7%
Trang 27 CPI tháng 7/2010:
TCTK cho biết CPI tháng 7/2010 tăng 0,06% so với tháng 6/2010 , tăng4,84% so với tháng 12/2009 , tăng 8,19% so với tháng 7/2009 , và bình quân 7tháng đầu năm 2010 so với 7 tháng đầu năm 2009 tăng 8,67%
Một số nguyên nhân làm tăng giá trong tháng này là do thời tiết nắng nóngnên nhu cầu giải khát và du lịch tăng làm tăng chỉ số giá của nhóm đồ uống vànhóm du lịch khách sạn nhà hàng; nắng nóng cũng ảnh hưởng đến giá rau xanh, giáthực phẩm tươi sống như thủy hải sản; giá đường ăn dẫn đến chỉ số giá nhóm thựcphẩm tháng 7/2010 tăng 0,5% so với tháng 6/2010; Trong tháng có kỳ thi đại họcdiễn ra ở một số tỉnh có trường đại học nên làm cho chỉ số giá nhóm ăn uống ngoàigia đình tăng 0.53%, nhóm thiết bị đồ dùng cũng bị ảnh hưởng theo tăng 0,39%
CPI tháng 8/2010:
TCTK công bố chỉ số CPI tháng 8/2010 với mức tăng 0,23% so với tháng7/2010.Như vậy chỉ số CPI đã đổi hướng , xóa đi xu hướng đi xuống lập được haitháng trước để đi lên trong tháng này
Nhưng dù đã cao hơn so với tháng trước, CPI vẫn duy trì mức tăng thấp, chỉtương đương tháng 6/2010 và thấp hơn chút ít so với tháng 8/2009, trong so sánhvới tháng trước
Ở các mốc so sánh khác, CPI tháng 8/2010 vẫn còn tăng 5,08% so với tháng12/2009; tăng 8,18% so với cùng kỳ Bình quân 8 tháng đầu năm nay đã tăng 8,61%
so với bình quân 8 tháng đầu năm 2009 Sự đổi hướng của CPI tháng này xuất phát
từ một loạt nguyên nhân dẫn tới tăng giá hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng, trong đó đángchú ý là những mặt hàng có tác động lớn đến chỉ số giá đều đã tăng giá so với thángtrước
Đáng kể nhất là các tác động từ bên ngoài Giá gạo xuất khẩu của Việt Nam
đã tăng trong kỳ báo cáo vừa qua, đẩy mặt hàng này tăng giá ở một số địa phươngphía Nam Trong khi đó, trước áp lực từ thị trường thế giới, giá xăng dầu cũng đãđược điều chỉnh vào ngày 9/8/2010
Trang 28 CPI tháng 9/2010:
Theo số liệu được TCTK công bố, sau 5 tháng liên tiếp chỉ dao động với biên
độ tăng dưới 0,3%, CPI tháng 9/2010 tăng tới 1,31% so với tháng 8/2010, cho thấy
sự đột biến của giá cả thị trường, đồng thời cũng khiến nỗ lực kiềm chế lạm phátcác tháng cuối năm trở nên khó khăn hơn
So với tháng 12/2009, CPI tháng 9 đã tăng 6,46%, chỉ để lại một khoảng hẹpcho 3 tháng còn lại để phấn đấu đưa chỉ số giá về mục tiêu 7-8% của năm nay
Việc tăng đột biến của CPI tháng này là các yếu tố đã xuất hiện từ tháng8/2010 như giá xăng dầu, tỷ giá VND/USD, giá sàn xuất khẩu gạo
Ngoài ra, việc "nhập khẩu" lạm phát xuất hiện ở việc điều chỉnh giá nhậpkhẩu các mặt hàng thép, gas, đường… Đồng thời, nhu cầu nhập khẩu gạo tăng tạichâu Phi cũng đẩy giá gạo trong nước tăng cao ở các tỉnh phía Nam…
Ghi nhận đột biến lớn nhất thuộc về nhóm giáo dục, với mức tăng vượt trội12,02% so với tháng trước
Với quyền số chỉ 5,72%, nhóm giáo dục chiếm không lớn trong rổ hàng hóatính CPI chung, nhưng đã đóng góp mức tăng khoảng 0,7%, chiếm quá nửa mứctăng chỉ số giá tiêu dùng tháng này
Tiếp đến là chỉ số CPI nhóm nhà ở, điện, nước và vật liệu xây dựng thángnày tăng 1,08%, chủ yếu do tác động từ tăng giá thép xây dựng, dầu hỏa, gas…Ước tính, với quyền số khoảng 10%, nhóm này góp phần làm tăng chỉ số chungkhoảng 0,1%
Các nhóm hàng hóa, dịch vụ tăng dưới 1% đáng chú ý có CPI giao thôngtăng khá cao, ở mức 0,91%, nhưng do quyền số chỉ gần 9% nên tác động đến chỉ sốchung dưới 0,1% Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tuy tăng thấp hơn (0,79%)nhưng quyền số gần 40% nên mức đóng góp lại lớn hơn, khoảng 0,31%
Trang 29 CPI tháng 10/2010:
TCTK công bố CPI tháng 10/2010 tăng 1,05% Đây là mức tăng rất cao sovới tháng 10 nhiều năm trước đây, giai đoạn từ 1995-2009, CPI các tháng 10 ghinhận mức tăng cao nhất vào năm 2007, nhưng cũng chỉ tăng 0,74%
So với tháng 12/2009, CPI tháng 10 tăng 7,58%, chỉ để lại khoảng hẹp0,42% cho hai tháng cuối năm phấn đấu chốt vào mức tăng 8% cả năm như Chínhphủ đã dự kiến So với cùng kỳ năm ngoái, CPI tháng này tăng 9,66% Còn bìnhquân 10 tháng năm 2010, CPI đã tăng 8,75%
Nhìn về xu hướng, mặc dù CPI tháng 10 đã giảm tốc so với con số 1,31%của tháng 9, nhưng nếu loại trừ các nguyên nhân đột biến do chính sách (như tănghọc phí) khiến chỉ số giá tăng giật cục và đi ngang sau đó, giá cả nhiều loại hànghóa, dịch vụ vẫn đang tăng lên
Mặt bằng giá mới trong tháng 10 được thiết lập từ các nhân tố ảnh hưởng vĩ
mô cũng như mất cân bằng cục bộ Ở nguyên nhân cầu kéo, thị trường đang bướcdần vào giai đoạn cuối năm với nhu cầu đối với các loại hàng hóa, dịch vụ bắt đầutăng lên
Có thể thấy hiện tượng này ở gạo, việc tăng giá mặt hàng này ở phía Nam là
do các doanh nghiệp đẩy mạnh mua vào đáp ứng hợp đồng mới, trong khi ngườidân không mặn mà bán ra
Hàng triệu người đổ về Hà Nội trong dịp Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - HàNội cũng làm cho nhu cầu về dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng mạnh, đẩy giánhóm này lên cao chóng mặt Trong khi việc cấm đường cũng gây cản trở nhất địnhtới vận chuyển nhu yếu phẩm cho nội đô, khiến giá lương thực, thực phẩm cũngđược “đà” tăng cao
Ở nguyên nhân chi phí đẩy, là sự ghi nhận việc đan xen các nhân tố thuận lợi
và bất lợi cho giá cả thị trường Lãi suất bắt đầu được một số ngân hàng điều chỉnhgiảm là tín hiệu tích cực, tuy nhiên chưa thể tác động ngay đến giá hàng hóa sản
Trang 30xuất tháng 10 Trong khi đó, tỷ giá thay đổi từ vài tháng nay lại tạo sức ép lớn đếnnhóm các sản phẩm có nguồn gốc nhập khẩu.
Ngoài ra, lũ lụt tại miền Trung vừa làm tăng giá lương thực tại các tỉnh này,vừa cắt đường vận chuyển ra Bắc khiến một số tỉnh cũng xuất hiện tình trạng tănggiá mạnh mặt hàng lương thực…
2009 tăng 9,19%
Chỉ số giá của nhóm hàng tăng cao nhất là lương thực với mức tăng 4,67% ,tiếp đến là thực phẩm tăng 3,28%, nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,53% Duy nhất ngành bưu chính viễn thông giảm nhẹ 0,02%
Các ngành khác tăng không đáng kể: Ngành may mặc, mũ nón, giầy dép(tăng 1,81%), thiết bị và đồ dùng gia đình (tăng 0,86%), thuốc và dịch vụ y tế(0,41%), giao thông (tăng 0,45%), nếu tháng trước ngành giáo dục tăng mạnh thìtháng này tăng 0,07% so với tháng 11
Nếu so sánh với tháng 12/2009, chỉ số giá các nhóm hàng trong năm 2010 cómức tăng như sau: giáo dục tăng 19,38%, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng16,18% (trong đó lương thực tăng 17,96%), thực phẩm tăng 16,69%, hàng hóa vàdịch vụ khác tăng 11,83%, may mặc mũ nón giầy dép tăng 8,38%, các ngành khácchỉ tăng từ 4 – 5%
Trang 31Biểu đồ 2.2 Diễn biến CPI qua các tháng năm 2010:
so với năm 2009
Kỳ gốc năm 2009 năm 2009 Tháng 12 năm 2010 Tháng 11
3- Ăn uống ngoài gia đình 119,02 112,45 101,86 110,29
III May mặc, mũ nón, giầy dép 111,94 108,38 101,81 106,92
IV Nhà ở và vật liệu xây dựng (*) 124,93 115,74 102,53 114,68
V Thiết bị và đồ dùng gia đình 108,33 106,60 100,86 105,36
VII Phương tiện đi lại, bưu điện 114,21 103,75 100,45 123,37
Trang 322.2.2 CPI năm 2011:
Diễn biến lạm phát năm 2011 rất phức tạp biểu hiện ở việc CPI tăng nhanhnhững tháng đầu năm và giảm dần từ quý III Trong quý IV, CPI có dấu hiệu giảmtốc, chỉ dươi 1% mỗi tháng Tuy nhiên lạm phát tháng 12 lại có dấu hiệu nhích lên
so vơi 2 tháng trước đó Đáng lưu ý là lạm phát tháng 12 chưa phản ánh hiện tượngtăng giá điện, trần vé máy bay vì thời điểm tăng giá 2 mặt hàng này diễn ra sau ngàychốt số liệu lấy CPI Việc biến động của CPI làm cho mục tiêu lạm phát Quốc hội
đề ra phải thay đổi đến 2 lần nhưng cuối cùng cũng không đạt mục tiêu
CPI tháng 1/2011:
TCTK cho biết : Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) cả nước tháng 1 năm 2011 tăng1.74% so với tháng 12 năm 2010, CPI cả nước tháng 1/2011 tăng 1,74% So vớitháng 1 năm 2010, CPI tháng 1 năm 2011 tăng 12,17%
Những nhóm hàng có CPI tăng mạnh so với tháng 12/2010 gồm hàng ăn vàdịch vụ ăn uống với mức tăng 2,47%, nhóm hàng giáo dục tăng 2,89%
Nhu cầu đồ uống và thuốc lá dịp Tết Nguyên Đán khiến nhóm hàng này có mứctăng 1,67% cao thứ ba trong rổ hàng hóa tính CPI
Nhóm bưu chính viễn thông giảm nhẹ 0,06% so với tháng 12/2010
Vùng Tây Bắc là vùng có CPI tăng mạnh nhất trong cả nước với mức tăng 2,68% sovới tháng 12/2010 Nhóm hành ảnh hưởng mạnh mẽ tới tiêu dùng của khu vực này
là lương thực , thực phẩm
CPI tháng 2/2011:
Theo TCTK chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 2/2011 tăng 2,09% so với tháng
1 trước đó Song mức tăng CPI tháng Tết năm nay “chỉ ở mức trung bình” Cơ sởcho đánh giá này đến từ việc so sánh mức tăng của CPI tháng 2 trong nhiều năm trởlại đây Cụ thể, trong 10 năm gần nhất, chỉ số giá tiêu dùng tháng 2 đã có 8 nămvượt mức tăng 2% và tháng 2 năm nay cũng đạt mức tăng thấp nhất trong 8 năm
Trang 33vừa nêu Tuy nhiên, so sánh trong ngắn hạn, CPI tháng 2/2011 đã tăng cao hơnmức của khoảng hơn 30 tháng liền trước.
So với tháng 12/2010, chỉ số giá tiêu dùng tháng này đã tăng 3,87%; so vớicùng kỳ tăng 12,31% CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2011 so với cùng kỳ đã tăng12,24%
CPI tháng 3/2011:
Theo TCTK CPI tháng 3 tăng kỷ lục tới 2,17% Nếu so với tháng 12/2010,
mức tăng là 6,12% đã xấp xỉ mục tiêu lạm phát 7% cả năm 2011 của Chính phủ.
CPI tháng 3 nếu so với tháng 2 vừa qua thì có mức tăng là 2,17% Trong 11nhóm hàng hóa và dịch vụ được liệt kê, có tới 6 nhóm có mức tăng trên 1%
Tăng chóng mặt nhất ở tháng 3 là nhóm giao thông, CPI nhóm này lên tới6,69% Kế đến là nhóm nhà ở, vật liệu xây dựng tăng 3,67%
Sự tăng giá mạnh mẽ này vẫn nằm trong tầm dự đoán của các nhà lãnh đạo
và chuyên gia kinh tế Từ đầu năm đến nay, có quá nhiều cú hích đẩy mặt bằng giá
cả lên cao, như tỷ giá tăng 9,3%, giá điện tăng 15,28% và giá xăng dầu tăng trêndưới 3000 đồng/lít
Nhóm có tỷ trọng lớn nhất trong "rổ" hàng hóa tính CPI là hàng ăn và dịch
vụ ăn uống, cũng tăng cao ở mức 1,98%
Đáng chú ý là, nhóm bưu chính viễn thông đã có một thời gian nhiều thángliên tục "âm" về chỉ số tăng giá thì sang tháng 3, cũng đã nhúc nhích lên 0,02%
Có thể nói, quí I năm nay, một mặt bằng giá mới cao hơn nhiều so với nămtrước đã hình thành Theo xu hướng giá dầu thô hiện nay thì e rằng, mặt bằng này sẽkhó giảm
Nhiều chuyên gia kinh tế dự báo CPI quí I đã tăng 6,12% thì thật khó đảmbảo chỉ tiêu lạm phát cả năm nay là 7%, song theo Nghị quyết của Bộ Chính trị vừaban hành, do chỉ mới 3 tháng trôi qua nên tạm thời, chưa điều chỉnh mục tiêu lạmphát này
Trang 34Trong tháng 4/2011, hầu hết các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tiêudùng tăng so với tháng trước, trong đó nhóm giao thông tăng cao nhất với 6,04% ,hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,5% , nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,38%.
Các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có mức tăng trên, dưới 1% là: maymặc , mũ nón , giày dép , thiết bị và đồ dùng gia đình , văn hóa , giải trí và du lịch ,thuốc và dịch vụ y tế , đồ uống và thuốc lá , giáo dục, bưu chính viễn thông
Giá tiêu dùng tăng cao do ảnh hưởng của nhiều yếu tố trong và ngoài nước,trong đó việc điều chỉnh tăng giá xăng, dầu trong nước cuối tháng trước là một trongnhững nguyên nhân chủ yếu tác động đến giá của nhiều loại hàng hóa và dịch vụ
do giá điện, nước được điều chỉnh tăng theo lộ trình, ngoài ra là tác động của “bãogiá” những tháng vừa qua khiến giá thuê nhà ở cũng đã tăng Ngoài ra, hiện đang làcao điểm mùa xây dựng vì vậy sức tiêu thụ nhóm ngành này cũng tăng cao
Trang 35Có mức tăng cao sau nhóm nhà ở và Vật liệu xây dựng, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống cũng tăng 3,01% so với tháng trước đó, trong đó, thực phẩm cómức tăng mạnh nhất (3,53%), tiếp đến là Ăn uống ngoài gia đình (2,67%, Lươngthực (1,77%).
Kế đến là nhóm giao thông có mức tăng 2,67% so với tháng 4 Ngoài ra, cácnhóm hàng còn lại như may mặc, giày dép, mũ nón; thiết bị và đồ dùng gia đình;thuốc và dịch vụ y tế,… có mức tăng dưới 2%
CPI tháng 6/2011:
Theo số liệu TCTK CPI tháng 6/2011 tăng 1,09% so với tháng 5/2011, CPItháng 6 tăng 13,29% so với tháng 12/2010 và tăng 20,82% so với tháng 6/2010 Trong rổ hàng hóa: chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,79%,trong đó lương thực tăng 0,33%; thực phẩm tăng 2,47%; ăn uống ngoài gia đìnhtăng 1,16% Chỉ số giá nhóm giao thông tháng 6 tăng 0,39 % Nhóm nhà ở và vật liệuxây dựng tăng 0,56% do giá gas, điện, nước, dầu hỏa, và nhiều loại vật liệu xây dựngtiếp tục tăng giá Với 8 nhóm còn lại, duy nhất CPI bưu chính viễn thông giảm 0,01%.Chỉ số giá vàng tăng 0,36% trong khi đó, chỉ số giá USD giảm 0,78% so vớitháng 5
CPI tháng 7/2011:
Theo số liệu TCTK CPI tháng 7/2011 tăng 1,17% so với tháng 6/2011, tăng22,16% so với 7/2010 và tăng 14,61% so với tháng 12/2010
Trong rổ hàng hóa: nhóm có sự ảnh hưởng và chiếm tỉ lệ cao nhất trong tháng 7
là hàng ăn và dịch vụ ăn uống (tăng tới 2,12%), trong đó: lương thực giảm 0,88%còn thực phẩm tăng 3,2% và hàng ăn tăng 1,78% So với cùng kỳ năm trước, nhómhàng này đã tăng giá tới 32,63%
Ngoài ra các nhóm hàng khác như: May mặc, mũ nón, giầy dép; nhà ở và vậtliệu xây dựng; thiết bị và đồ dùng gia đình; thuốc và dịch vụ y tế; hàng hoá và dịch
vụ khác,…có mức tăng dưới 1% trong tháng vừa qua Duy nhất chỉ có nhóm bưuchính - viễn thông giảm với mức khoảng 0,02%
Trang 36vụ khác tăng 1,01% Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có mức tăng 0,89%; nhóm
đồ uống và thuốc lá tăng 0,55%; nhóm hàng may mặc tăng 0,79%; nhóm giao thôngtăng nhẹ 0,21%
Nhóm bưu chính viễn thông là nhóm duy nhất trong 11 nhóm hàng có chỉ số giátiêu dùng tháng 8 thấp hơn so với tháng 7 với mức giảm 0,06%
CPI tháng 9/2011:
Theo công bố của TCTK CPI tháng 9/2011 tăng 0,82% so với tháng 8, tăng16,63% so với tháng 12/2010 và tăng 22,42% so với tháng 9/2010, bình quân 9tháng 2011 tăng 18,16% so với cùng kỳ năm trước
Trước đó, tại phiên họp thường kỳ tháng 8, Chính phủ cho biết sẽ cố gắng giữmức lạm phát năm nay ở mức 18%
Trong 11 nhóm hàng hóa: có chín nhóm chỉ số giá tăng so với tháng trước và hainhóm có chỉ số giảm giao thông giảm 0,24%, bưu chính viễn thông giảm 0,07%.Tháng 9 gắn với sự kiện khai giảng năm học mới nên nhóm giáo dục có chỉ số giátăng cao nhất so với tháng trước ở mức 8,62% Đây cũng là tác nhân chính gây tănggiá trong tháng này Ngoài ra, tháng 9 cũng đánh dấu mức giảm nhiệt CPI so vớitháng trước đó ở một số địa phương như Hà Nội tăng 0,2%; TP.HCM tăng 0,88%;
Đà Nẵng tăng 0,77%; Cần Thơ tăng 0,06%,…
Trang 37 CPI tháng 11/2011:
Theo TCTK công bố CPI tháng 11 tăng 0,39% so với tháng 10/2011
So với tháng 12/2010, CPI tháng 11 tăng 17,5% và so với cùng kỳ tháng 11/2010tăng 19,83%
Trong rổ hàng hóa: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,56% so vớitháng 10 trong đó nhóm hàng lương thực tăng 3,25%, nhóm hàng thực phẩm giảm0,26% và nhóm hàng ăn uống ngoài gia đình tăng 0,43% Nhóm hàng đồ uống vàthuốc lá tăng 0,25%, Nhóm may mặc, mũ nón, giầy dép tăng 0,65%; Nhóm nhà ở
và vật liệu xây dựng tăng 0,12%, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,61%,nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,2%, giáo dục tăng 0,08%, hàng hóa, dịch vụ kháctăng 0,61% Nhóm có chỉ số giá giảm là giao thông và bưu chính viễn thông vớimức giảm 0,01% và 0,02%
CPI tháng 12/2011:
Theo số liệu của TCTK CPI tháng 12/2011 tăng 0,53% so với tháng 11 CPItháng 12/2011 so với tháng 12/2010 tăng 18,13%, CPI bình quân cả năm tăng18,58% so với bình quân năm 2010
Trong rổ hàng hóa: các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng cao hơnmức tăng chung là: may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,86%, nhóm hàng ăn và dịch
vụ ăn uống tăng 0,69 %,lương thực tăng 1,4% và thực phẩm tăng 0,49%, thiết bị và
đồ dùng gia đình tăng 0,68% Nhóm các hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng thấp
Trang 38hơn mức tăng chung gồm: Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,51%, đồ uống vàthuốc lá tăng 0,49%, văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,35%, thuốc và dịch vụ y tếtăng 0,24%, giao thông tăng 0,16%, giáo dục tăng 0,05%, riêng bưu chính viễnthông giảm 0,09%.
Biểu đồ 2.3 Diễn biến CPI qua các tháng năm 2011:
Trang 39Bảng 2.2: Chỉ số giá tiêu dùng cả nước tháng 12 năm 2011:
Đơn vị tính: %
CHỈ SỐ GIÁ THÁNG 12 NĂM 2011
SO VỚI
Chỉ số giá năm 2011
so với năm 2010
Kỳ gốc năm 2009
Tháng 12 năm 2010
Tháng 11 năm 2011
I Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 150,50 124,80 100,69 126,49
3- Ăn uống ngoài gia đình 146,83 123,37 100,57 121,54
III May mặc, mũ nón, giầy dép 126,38 112,90 100,86 112,10
IV Nhà ở và vật liệu xây dựng
V Thiết bị và đồ dùng gia đình 118,90 109,76 100,68 108,83
Trang 40Diễn biến lạm phát năm 2012 có nhiều điểm đi ngược lại với quy luật –tăngđầu năm, giảm giữa năm, tăng cuối năm của những năm trước đó khi vẫn tăng theoquy luật những tháng đầu năm, giám sâu vào giữa năm( giảm vào tháng 6 và tháng7), đột ngột tăng vào tháng 9 và giảm từ tháng 9 cho đến cuối năm.
Theo mục tiêu kiềm chế lạm phát do Quốc Hội đề ra trong nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 03/01/2012 chỉ số lạm phát được đặt ra dưới 10% So với mục tiêunày lạm phát năm 2012 đã được thực hiện rất tốt ở mức 6,81%, thấp nhất từ năm
Có 4 nhóm hàng tính giá có chỉ số giá tăng cao hơn mức tăng chung là: Hàng
ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,01% trong đó nhóm hàng thực phẩm tăng 1,41%, đồuống và thuốc lá tăng 1,17%, may mặc, giày dép, mũ nón tăng 1,97%, nhà ở, vậtliệu xây dựng tăng 1,71% Trong số các nhóm mặt hàng tính chỉ số giá chỉ có nhómhàng bưu chính viễn thông có mức giá giảm nhẹ 0,01%
Ngoài ra, các lĩnh vực khác trong rổ hàng hóa cũng có dấu hiệu tăng rất nhẹCác nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có mức tăng ở mức 1% và dưới 1% bao gồmthiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,96%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,93%;giao thông tăng 0,66%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,25%
CPI tháng 2/2012:
Theo TCTK trong tháng 2, CPI cả nước tăng 1,37% so với tháng 1/2012 vàtăng 16,44% so với tháng 2/2011 Tháng 2 cũng đánh dấu mức tăng chỉ số giátiêu dùng cao nhất kể từ tháng 5/2011 và là tháng thứ 5 liên tiếp chỉ số nàykhông giảm tốc