1.2 Mục tiêu dài hạn và trước mắt: Theo Quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 số: Số: 2149/QÐ-TTg ngày 17 tháng
Trang 1Phần 1: MỞ ĐẦU1.1 Tính bức thiết của chất thải rắn và chất thải nguy hại Y Tế.
Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, hiện nước ta có trên 1.200 bệnh viện và cơ sở y tế công lập, hằng ngày thải ra môi trường khoảng 350 tấn chất thải rắn y tế, trong đó có 40,5 tấn chất thải nguy hại Theo dự báo, đến năm 2015, mỗi ngày sẽ có trên 70 tấn chất thải nguy hại, đến năm
2020 sẽ lên đến trên 93 tấn/ngày (Theo báo cáo môi trường quốc gia: 2011 chất thải rắn, chất thải rắn Y tế mỗi năm thải ra 179.000 tấn)
Lượng chất thải lỏng cũng không nhỏ: khoảng 150.000m3/ngày đêm, đến năm 2015 sẽ tăng lên tới 300.000m3 Các chuyên gia môi trường đã cảnh báo, các thành phần nguy hại trong chất thải
Y Tế nếu không có biện pháp xử lý đúng sẽ phát tán ra môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc sống và sức khỏe của cộng đồng
Công nghệ xử lý: Vừa thiếu vừa yếu:
Vấn đề xử lý rác thải, nước thải Y Tế từng được các đại biểu chất vấn nhiều lần trong các kỳ họp Hội đồng Nhân dân TP.HCM Vẫn còn đó những bức xúc khi nhiều yêu cầu không được các ban ngành có liên quan giải quyết thỏa đáng
Đây vẫn là một vấn đề “nóng” được nhiều người quan tâm không phải do năng lực của đơn vị quản lý, mà vì hệ lụy không nhỏ của nó đến nhiều vấn đề xã hội Hiện mới chỉ có 53,4% bệnh viện có công trình xử lý nước thải, trong khi 46,6% không có hệ thống xử lý nước thải
Đối với chất thải rắn, 90% bệnh viện thu gom hằng ngày và xử lý bằng lò đốt, than bùn hoặc công nghệ đốt khác, còn lại hầu như chưa có hệ thống xử lý rác thải mà chỉ xử lý bằng lò thủ công, chôn lấp trong bệnh viện hoặc tại bãi chôn lấp chung của quận, huyện, thành phố
Sử dụng lò đốt thủ công để xử lý chất thải tất nhiên phải xả khói và đó cũng là nguồn gây ô nhiễm môi trường Các trạm y tế xã hầu như chưa có hệ thống xử lý rác thải
Một số quy định còn chung chung, thiếu thực tế, dẫn đến những vi phạm trong việc tổ chức, phân công trách nhiệm và quản lý chất thải y tế nguy hại, việc xử lý vi phạm cũng chưa nghiêm túc Không ít cơ sở khám chữa bệnh cố tình lờ đi việc đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường
Bên cạnh đó, việc đầu tư kinh phí xây dựng hệ thống xử lý nước thải, lò đốt, thiết bị xử lý chất thải y tế nguy hại chưa đồng bộ Đẩy mạnh tuyên truyền về bảo vệ môi trường trong hoạt động y
tế cho nhân dân và cán bộ y tế cũng là giải pháp tích cực, nhưng lại không được thực hiện thường xuyên
Mối nguy cho sức khỏe cộng đồng:
Các chất thải từ các cơ sở y tế thải ra gồm có nhiều loại như chất thải sinh hoạt, chất thải y tế, chất thải hóa học, chất thải phóng xạ và các vật chứa có áp suất… Chúng cần được phân loại theo năm nhóm cụ thể để có biện pháp xử lý phù hợp, tùy theo điều kiện của mỗi cơ sở y tế nhưng phải đáp ứng tiêu chí chất lượng nhất định
Theo Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, nguồn phát sinh thường xuyên là những cơ sở
Trang 2khám chữa bệnh, cơ sở đào tạo cán bộ y tế và các trung tâm nghiên cứu y dược (khối lượng 11,54 tấn/ngày) Nguồn phát sinh không thường xuyên là quá trình hoạt động sản xuất và kinh doanh dược phẩm, sản xuất và kinh doanh nguyên vật liệu dược phẩm (khối lượng từ 500–1.000 tấn/năm).
Nước thải từ bệnh viện chưa qua xử lý xả ra môi trường gây bức xúc cho người dân trong khu vực lân cận vì gây ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước, gieo bệnh cho cộng đồng Có nơi nước thải y tế ứ đọng, thẩm thấu, ảnh hưởng đến cả mạch nước ngầm
Qua kiểm tra thực tế, các cơ quan chức năng phát hiện nước thải của một số bệnh viện có mức độ
ô nhiễm vượt ngưỡng cho phép nhiều lần, cụ thể là 82,54% lượng nước thải có tụ cầu vàng, 15% chứa trực khuẩn mủ xanh, 52% chứa E.Coli…
Việc tiếp xúc gần với nguồn ô nhiễm còn làm nảy sinh nguy cơ ung thư và các bệnh hiểm nghèo khác Phơi nhiễm với chất thải y tế nguy hại có thể gây ra bệnh tật hoặc tiềm ẩn nguy cơ nhiễm bệnh
Tuy thành phần chất thải rắn y tế chủ yếu là các chất hữu cơ ít độc hại (52,9%), còn thành phần chứa yếu tố nguy hại, lây nhiễm tuy ít hơn (22,6%) như chai nhựa PVC, PE, PP, bông băng, chai
lọ thủy tinh, bơm kim tiêm, các bệnh phẩm sau mổ… nhưng nếu không xử lý đúng cách thì rất đáng lo ngại
Thời gian qua, Bộ Y tế đã yêu cầu các sở, ban ngành tìm hiểu và ứng dụng các công nghệ xử lý chất thải y tế theo các tiêu chí công nghệ đã được ứng dụng trên thế giới hoặc tại Việt Nam, báo cáo kết quả thử nghiệm công nghệ phải đạt các tiêu chuẩn và quy chuẩn về chất thải, phù hợp với điều kiện thực tế trong nước…
Đối với chất thải khí y tế, các phòng xét nghiệm, kho hóa chất, dược phẩm phải có hệ thống thông khí và các tủ đốt hơi khí độc đảm bảo tiêu chuẩn quy định; các thiết bị sử dụng khí hóa chất độc hại phải có hệ thống xử lý khí đạt tiêu chuẩn trước khi thải ra môi trường; khí thải lò đốt chất thải rắn y tế phải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường
Một xét nghiệm khoa học đã cho thấy sự nguy hiểm của rác thải bệnh viện: mỗi một gram bệnh phẩm như mủ, đờm… nếu không được xử lý, sẽ truyền 11 tỉ vi khuẩn gây bệnh ra ngoài Thực trạng trong quản lý chất thải y tế khiến dư luận bức xúc và lực lượng cảnh sát môi trường đang phải tăng cường phát hiện, xử lý vi phạm
1.2 Mục tiêu dài hạn và trước mắt:
Theo Quyết định phê duyệt Chiến lược quốc gia về quản lý tổng hợp chất thải rắn đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2050 số: Số: 2149/QÐ-TTg ngày 17 tháng 12 năm 2009 của Thủ Tướng Chính Phủ với những nội dung về mục tiêu dài hạn và trước mắt sau đây:
Tầm nhìn tới năm 2050:
Phấn đấu tới năm 2050, tất cả các loại chất thải rắn phát sinh đều được thu gom, tái sử dụng, tái chế và xử lý triệt để bằng những công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường và phù hợp với điều kiện thực tế của từng địa phương, hạn chế khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp đến mức thấp nhất
Trang 3- Nhận thức của cộng đồng về quản lý tổng hợp chất thải rắn được nâng cao, hình thành lối sống thân thiện với môi trường Các điều kiện cần thiết về cơ sở hạ tầng, tài chính và nguồn nhân lực cho quản lý tổng hợp chất thải rắn được thiết lập.
b) Mục tiêu cụ thể:
- Đến năm 2015:
+ 85% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó 60% được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặc sản xuất phân hữu cơ
+ 50% tổng lượng chất thải rắn xây dựng phát sinh tại các đô thị được thu gom xử lý, trong
đó 30% được thu hồi để tái sử dụng hoặc tái chế
+ 30% bùn bể phốt của các đô thị từ loại II trở lên và 10% của các đô thị còn lại được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường
+ Giảm 40% khối lượng túi nilon sử dụng tại các siêu thị và trung tâm thương mại so với năm 2010
+ 50% các đô thị có công trình tái chế chất thải rắn thực hiện phân loại tại hộ gia đình.+ 80% tổng lượng chất thải rắn công nghiệp không nguy hại phát sinh được thu gom và xử
lý đảm bảo môi trường, trong đó 70% được thu hồi để tái sử dụng và tái chế
+ 60% tổng lượng chất thải rắn nguy hại phát sinh tại các khu công nghiệp được xử lý đảm bảo môi trường
+ 85% lượng chất thải rắn y tế không nguy hại và 70% lượng chất thải rắn y tế nguy hại được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường
+ 40% lượng chất thải rắn phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn và 50% tại các làng nghề được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường
+ 100% các bãi rác gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22 tháng 4 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ được xử lý
- Đến năm 2020:
Trang 4+ 90% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó 85% được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặc sản xuất phân hữu cơ.
+ 80% tổng lượng chất thải rắn xây dựng phát sinh tại các đô thị được thu gom xử lý, trong
đó 50% được thu hồi để tái sử dụng hoặc tái chế
+ 50% bùn bể phốt của các đô thị từ loại II trở lên và 30% của các đô thị còn lại được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường
+ Giảm 65% khối lượng túi nilon sử dụng tại các siêu thị và trung tâm thương mại so với năm 2010
+ 80% các đô thị có công trình tái chế chất thải rắn thực hiện phân loại tại hộ gia đình.+ 90% tổng lượng chất thải rắn công nghiệp không nguy hại phát sinh được thu gom và xử
lý đảm bảo môi trường, trong đó 75% được thu hồi để tái sử dụng và tái chế
+ 70% tổng lượng chất thải rắn nguy hại phát sinh tại các khu công nghiệp được xử lý đảm bảo môi trường
+ 100% lượng chất thải rắn y tế không nguy hại và nguy hại phát sinh tại các cơ sở y tế, bệnh viện được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường
+ 70% lượng chất thải rắn phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn và 80% tại các làng nghề được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường
- Đến năm 2025:
+ 100% các đô thị có công trình tái chế chất thải rắn thực hiện phân loại tại hộ gia đình.+ 100% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường, trong đó 90% được tái chế, tái sử dụng, thu hồi năng lượng hoặc sản xuất phân hữu cơ
+ 90% tổng lượng chất thải rắn xây dựng phát sinh tại các đô thị được thu gom xử lý, trong
đó 60% được thu hồi để tái sử dụng hoặc tái chế
+ 100% bùn bể phốt của các đô thị từ loại II trở lên và 50% của các đô thị còn lại được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường
+ Giảm 85% khối lượng túi nilon tại các siêu thị và các trung tâm thương mại so với năm 2010
+ 100% tổng lượng chất thải rắn công nghiệp không nguy hại và nguy hại phát sinh được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường
+ 90% lượng chất thải rắn phát sinh tại các điểm dân cư nông thôn và 100% tại các làng nghề được thu gom và xử lý đảm bảo môi trường
1.3 Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện:
Trang 5Từ địa chỉ tiếp cận trên, tiến hành:
- Tìm hiểu thành phần tính chất, khối lượng chất thải rắn và chất thải nguy hại phát sinh từ chủ nguồn thải đó
- Tìm hiểu phương thức thu gom, lưu trữ, phân loại tại nguồn của chủ nguồn thải
- Tìm hiểu về năng lực tự thu gom, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại phát sinh tại cơ sở của Chủ nguồn thải hoặc cách thức quản lý khi thuê Chủ vận chuyển, Chủ xử lý, Chủ tái sử dụng hoặc Đại lý vận chuyển chất thải rắn, chất thải nguy hại đó
1.4 Nội dung của tiểu luận:
Nội dung tiểu luận là nghiên cứu: Quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại Y tế Đề xuất hệ thống phân loại tại nguồn, thu gom vận chuyển và xử lý chất thải y tế Bệnh viện Thủ Đức - Quận Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu:
Hiện trạng hệ thống thu gom, phân loại, lưu trữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại y tế tại Bệnh viện Thủ Đức - Quận Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 6Phần 2: NỘI DUNG CHÍNH CỦA TIỂU LUẬN
2.1 Cơ sở pháp lý:
- Luật bảo vệ môi trường của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, số 52/2005/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2005
- Nghị định số: 59/2007/NĐ-CP ngày 09 tháng 4 năm 2007 về quản lý chất thải rắn
- Nghị định số: 117/2009/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2009 Về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
- QCVN 07: 2009/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật Quốc Gia về ngưỡng chất thải nguy hại
- TCVN 6727:2000 Chất thải nguy hại, dấu hiệu cảnh báo, phòng ngừa
- Thông tư số 12/2011/TT-BTNMT ngày 14 tháng 12 năm 2011 Quy định về Quản lý chất thải nguy hại
- Thông tư số: 04 /2012/TT-BTNMT ngày 8 tháng 5năm 2012 Quy định tiêu chí xác định cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
- Quyết định số: 155/1999/QĐ-TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 về việc ban hành quy chế quản
lý chất thải nguy hại
- Quyết định số: 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 về việc ban hành Quy chế Quản
- Quy hoạch chung xây dựng thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 (đã được phê duyệt)
- Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 (đã được phê duyệt)
- Định hướng quy hoạch xử lý chất thải rắn tại TPHCM đến 2020 tầm nhìn 2030
- Quyết định số: 88/2008/QĐ-UBND của UBND Tp.Hồ Chí Minh ngày 20 tháng 12 năm 2008,
về việc thu phí vệ sinh và phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắng thông thường trên địa bàn Tp.Hồ Chí Minh
Trang 72.2 Điều kiện kinh tế xã hội, môi trường của Quận Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh 2.2.1 Vị trí địa lý :
Phía Bắc giáp huyện Dĩ An (tỉnh Bình Dương)
Phía Nam giáp quận Bình Thạnh, Quận 2
Phía Đông giáp Quận 9, Quận 2
Phía Tây giáp huyện Thuận An (tỉnh Bình Dương), Quận 12, Quận Gò Vấp
Hình 2.1: Bản đồ Thành Phố Hồ Chí Minh
Trang 8Hình 2.2: Bản đồ Quận Thủ Đức - Thành Phố Hồ Chí Minh 2.2.2 Khí hậu:
Quận Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa: Mùa khô và mùa mưa với các đặc điểm là:
Bảng 2.1: Thống kê đặc điểm khí hậu.
Tháng Nhiệt độ
( o C)
Số giờ nắng (giờ)
Lượng mưa (mm)
Trang 9* Gió và hướng gió:
Theo số liệu thống kê của đài khí tượng thủy văn khu vực Nam Bộ thì thành phố Hồ Chí Minh chịu ảnh hưởng chịu ảnh hưởng bởi hai hướng gió chính và chủ yếu là gió mùa Tây – Tây Nam
Ở vùng địa hình trũng (có nơi cao trình <0,00m), chịu tác động thường xuyên của thủy triều nên
có đặc điểm khá bằng phẳng và mạng lưới sông ngòi, kênh rạch khá dày đặc
2.2.4 Diện tích – Dân số:
Trang 10* Diện tích: Quận Thủ Đức có diện tích 47,7 km2
Tỷ lệ tăng dân số cơ học ở mức cao là do những yếu tố tác động: sự bùng phát các khu công nghiệp, khu chế xuất, sự gia tăng các trường đại học và sự di chuyển dân số từ nội thành ra các quận vùng ven trong những năm gần đây
2.2.5 Đặc điểm hạ tầng kỹ thuật:
Quận Thủ Đức là cửa ngõ phía Bắc - Đông Bắc thành phố Hồ Chí Minh, thuận lợi về gia thông thủy cũng như giao thông đường bộ
Giao thông đường thủy có Sông Sài Gòn chạy qua Giao thông đường bộ có Quốc Lộ 1A và Xa
Lộ Hà Nội chạy qua
Ngoài ra giao thông liên quận, liên phường được đầu tư phát triển tốt, toàn bộ đã được nhựa hóa
2.2.6 Đặc điểm hạ tầng xã hội:
* Y tế:
Tổng số cơ sở y tế trên địa bàn Quận Thủ Đức là 15 cơ sở, trong đó có 2 bệnh viện Đa Khoa
(Một là Bệnh Viện Thủ Đức được đề cập trong tiểu luận này, phạm vi phục vụ của Bệnh Viện là cho Quận Thủ Đức – Hai là Bệnh Viện Đa Khoa Quận Thủ Đức, phạm vi phục vụ là cho khu vực, bao gồm: Quận Thủ Đức, Quận 9, Quận 2) 12 trạm y tế phường và 1 đội vệ sinh phòng
dịch Ngoài ra còn có các chi hội chữ thập đỏ cấp quận đến phường với tổng số hội viên là 5.717 người và 33 điểm sơ cấp cứu bố trí khắp địa bàn Quận Mạng lưới y tế cơ sở: mỗi trạm đều có 1 -
2 bác sĩ, các nữ hộ sinh hoặc y sĩ nhi theo qui định
Về hoạt động của các cơ sở y tế tư nhân: Có 5 phòng khám đa khoa tư nhân, 120 phòng mạch tư,
28 cơ sở khám chữa bệnh Đông y và trên 200 nhà thuốc
* Giáo dục – Đào tạo:
Bảng 2.2: Thống kê trường lớp và giáo viên trên địa bàn Quận (Nguồn niên giám thống kê
2008 - 2009).
Trang 11Ngoài ra trên địa bàn Quận còn có các Trường Đại Học Quốc Gia, Đại Học Nông Lâm, Đại Học
Sư Phạm Kỹ Thuật, Cao Đẳng Xây Dựng Số 2…
* Văn hóa – Thể thao:
- Về hoạt động văn hóa: Có bước chuyển biến tích cực trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của
Quận, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” được tập trung thực hiện
- Về hoạt động thể thao: Tình hình hoạt động thể dục thể thao của Quận tiếp tục phát huy Năm
2011, Quận tham gia tất cả các giải thi đấu cấp thành phố và cấp toàn quốc, tổ chức các giải cấp quận
2.2.7 Đặc điểm kinh tế:
Quận Thủ Đức là khu vực có tốc độ phát triển kinh tế nhanh Tổng giá trị sản xuất các ngành năm
Trang 122011 là 3.760.894 triệu đồng tăng 8% so với năm 2010.
Bảng 2.3: Giá trị sản xuất năm 2010 – 2011 của Quận Thủ Đức.
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010 - 2011)
* Giá trị sản xuất nông nghiệp:
Do quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh nên diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm để làm đất ở
và cho quá trình công nghiệp hóa Năm 2011, diện tích đất nông nghiệp còn khoảng 72.4 ha giảm 30.91 ha so với năm 2010 Hiện nay, trên địa bàn Quận ngành trồng hoa kiểng, cây giống đang có
xu hướng phát triển ổn định Ngành chăn nuôi gặp khó khăn do dịch bệnh, ngoài ra chất lượng sản phẩm tiêu thụ đòi hỏi ngày càng cao, khó cạnh tranh trên thị trường
* Sản xuất Công nghiệp – Tiểu thủ công nghiệp:
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2011 đạt 2.901.871 triệu đồng tăng 7% so với cùng kỳ năm
2008 Giá trị sản xuất công nghiệp của Quận tập trung chủ yếu vào ngành công nghiệp chế biến Trong đó, các ngành sản xuất như ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống chiếm tỷ trọng cao trong tổng giá trị chung Bên cạnh đó, một số ngành sản xuất như chế biến gỗ và sản xuất các sản phẩm từ gỗ gặp khó khăn về nguồn nguyên liệu, thị trường cạnh tranh gay gắt, sản xuất gây ô nhiễm môi trường nên phải thu hẹp sản xuất
Bảng 2.4: Giá trị công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp năm 2011.
Thành phần Đơn vị tính Năm 2011 Tốc độ tăng trưởng (%)
(Nguồn: Niên giám thống kê năm 2010 - 2011)
* Thương mại và dịch vụ:
Thương mại và dịch vụ có chiều hướng gia tăng nhưng chỉ chiếm 22% trong cơ cấu giá trị sản xuất theo ngành kinh tế của Quận Tổng doanh thu năm 2011 đạt giá trị 829.579 triệu đồng Trong đó, doanh thu của doanh nghiệp nhà nước là 20.732 triệu đồng Các hợp tác xã có doanh thu đạt được là 12.159 triệu đồng Doanh nghiệp tư nhân có doanh thu 170.550 triệu đồng Các công ty TNHH có doanh thu đạt được là 416.040 triệu đồng Cá thể đạt doanh thu 239.700 triệu đồng Toàn quận có 21.583 cơ sở hoạt động trong lĩnh vực TM - DV với các hình thức cho thuê biệt thự, nhà hàng, dịch vụ du lịch, ăn uống… Các ngành thương nghiệp bán lẻ, ăn uống phát triển và đã trở thành một thế mạnh của quận
2.3 Các thông tin về Bệnh Viện Thủ Đức – Quận Thủ Đức – Thành phố Hồ Chí Minh:
Trang 13Hình 2.3: Bệnh Viện Thủ Đức 2.3.1 Các thông tin điều kiện tự nhiên:
* Vị trí địa lý Bệnh Viện Thủ Đức - Quận Thủ Đức:
Bệnh viện Quận Thủ Đức tại số 29 đường Phú Châu - Phường Tam Phú - Quận Thủ Đức - Thành phố Hồ Chí Minh được xác định như sau:
Phía Đông giáp Trường THPT Tam Phú
Phía Tây giáp đường Tam Châu
Phía Bắc giáp trạm xử lý cấp nước của Trung Tâm Nước Sinh Hoạt và Vệ Sinh Môi Trường Nông Thôn Tp HCM
Phía Nam giáp đường Phú Châu (Cổng chính Bệnh Viện quay qua đường Phú Châu)
Tọa độ địa lý: Tọa độ trung tâm khu đất bệnh viện: X = 1201185; Y = 691256 (Theo
hệ tọa độ VN – 2000 khu vực Tp.HCM)
Trang 14Hình 2.4: Bản đồ vị trí Bệnh Viện Thủ Đức - Quận Thủ Đức - Thành Phố Hồ Chí Minh
Hình 2.5: Bản đồ mặt bằng Bệnh Viện Thủ Đức - Quận Thủ Đức - Thành Phố Hồ Chí Minh
(Nguồn Plus.Google)
2.3.2 Lịch sử hình thành Bệnh Viện Thủ Đức - Quận Thủ Đức:
Trang 15Bệnh viện Quận Thủ Đức được hình thành và phát triển trên cơ sở kế thừa và nâng cấp từ Trung Tâm Y Tế Quận Thủ Đức.
Trung Tâm Y Tế Quận Thủ Đức được xây dựng từ những năm 1970 của thế kỷ 20 với mục đích khám chữa bệnh cho nhân dân Quận Thủ Đức Năm 2002 được cải tạo xây dựng nâng cấp lên quy mô 500 giường bệnh và đưa vào khai thác sử dụng năm 2005
Năm 2007, Bệnh viện Thủ Đức được thành lập theo Quyết định số 32/2007/QĐ-UBND ngày 23/02/2007 của Ủy Ban Nhân Dân Quận Thủ Đức trên cơ sở sắp sếp lại Trung Tâm Y Tế Quận Thủ Đức
2.3.3 Diện tích mặt bằng Bệnh Viện Thủ Đức - Quận Thủ Đức: (Nguồn bệnh viện Thủ Đức).
Tổng diện tích bệnh viện là 9.703 m2, các hạng mục công trình trong đó như sau:
Số giường tại các khoa như sau:
Bảng 2.6 Bố trí giường bệnh tại các khoa khám chữa bệnh
Trang 1605 Khoa ngoại thần kinh 30 giường
2.3.5 Nhân lực của Bệnh Viện Thủ Đức - Quận Thủ Đức: (Nguồn bệnh viện Thủ Đức).
Tổng số lượng công nhân viên công tác tại Bệnh viện là 443 người, trong đó:
- Phòng hành chính quản trị: 25 người
- Phòng tổ chức: 4 người
- Phòng kế hoạch tổng hợp: 10 người
- Phòng điều dưỡng: 3 người
- Phòng vật tư trang thiết bị: 5 người
- Phòng tài vụ: 9 người
- Khoa dược: 24 người
- Khoa chuẩn đoán hình ảnh: 29 người
- Khoa hóa sinh: 8 người
- Khoa huyết học truyền máu – vi sinh: 11 người
- Khoa phẫu thuật – gây mê – hồi sức: 37 người
- Koa cấp cứu: 18 người
- Khoa hồi sức tích cực – chống độc: 18 người
- Khoa nội: 37 người
- Khoa nội tiết: 10 người
- Khoa chấn thương chỉnh hình: 17 người
- Khoa ngoại thần kinh 12 người
- Khoa ngoại tổng quát: 27 người
- Khoa sản: 31 người
- Khoa nhi: 19 người
Trang 17- Khoa tai mũi họng: 32 người.
- Khoa mắt: 8 người
- Khoa y học cổ truyền – vật lý trị liệu: 11 người
- Khoa khám bệnh: 17 người
- Khoa dinh dưỡng: 2 người
2.3.6 Danh mục thiết bị chính và hóa chất sử dụng tại Bệnh Viện Thủ Đức - Quận Thủ Đức:
Trang 1836 Máy siêu âm trị liệu Cái 01 Mỹ
Trang 19-20 Centaur Cleaning Solution Hộp 01
* Nhu cầu và nguồn cung cấp điện:
Nhu cầu sử dụng điện khoảng 2.224 kw/ tháng để phục vụ cho toàn bộ hoạt động của Bệnh viện bao gồm: hoạt động khám chữa bệnh, sinh hoạt của bệnh nhân, văn phòng và các công trình phục
vụ khác Ngoài ra bệnh viện còn trang bị thêm máy phát điện công suất 250 kw để đảm bảo ổn định nguồn điện trong quá trình hoạt động
* Nhu cầu và nguồn cung cấp nước:
Nguồn cung cấp nước từ Trung Tâm Nước Sinh Hoạt và Vệ Sinh Môi Trường Nông Thôn Tp.HCM (Trạm cấp nước nằm ngay sát cạnh bệnh viện)
Nhu cầu sử dụng nước hiện tại của bệnh viện bình quân là 300 m3/ngày
2.4 Vệ sinh môi trường tại Bệnh Viện Thủ Đức
2.4.1 Thoát nước và xử lý nước thải của bệnh viện:
* Thoát nước mưa:
Trang 20Nước mưa từ mái nhà theo các ống thoát chảy xuống rãnh, và nước mưa từ bề mặt sân bệnh viện cũng tập trung tại các rãnh thoát nước và hố ga quanh đường nội bộ, sau đó được dẫn ra hệ thống thoát nước phía ngoài đường phố.
* Nước thải và hệ thống xử lý nước thải:
Nước thải hiện tại của bệnh viện bình quân là 300 m3/ngày
Hệ thống xử lý hiện tại của bệnh viện được xây dựng năm 2005 với công suất 70 m3/ngày
Hiện nay trạm xử lý này không đáp ứng được nhu cầu xử lý nước thải của bệnh viện về mặt công suất cũng như chất lượng đầu ra xử lý.Nước thải của bệnh viện chưa xử lý đạt yêu cầu xả ra nguồn đang được xả vào hệ thống thoát nước của thành phố
Bảng 2.8: Một số mẫu nước xét nghiệm ngày 25/07/2009
(Nguồn Viện nghiên cứu công nghệ Môi trường và Bảo hộ Lao động).
Hiện nay, Bệnh viện Thủ Đức đã lập xong dự án đầu tư xây dựng mới một trạm xử lý nước thải của Bệnh Viện với quy mô công suất 300m3/ngày (Thay thế trạm xử lý cũ 70 m3/ngày), kế hoạch
sẽ khởi công xây dựng đầu năm 2013
2.4.2 Khí thải, tiếng ồn và độ rung của bệnh viện:
* Nguồn gây ô nhiễm không khí:
- Khí thải và tiếng ồn phát sinh từ hoạt động của máy phát điện dự phòng
- Khí thải phát sinh từ phương tiện giao thông ra vào bệnh viện chứa các thành phần ô nhiễm như SO2, CO2, NOx, Pb, THC,…
- Chất phóng xạ phát sinh tại các phòng X-quang, Scaner,…
- Tiếng ồn và nhiệt phát sinh từ hoạt động của căn tin
- Khí thải từ sự phân hủy các chất hữu cơ tại nơi tập trung chất thải rắn thực phẩm, hố ga thoát nước
* Nguồn tiếp nhận môi trường không khí:
- Nguồn tiếp nhận khí thải là môi trường không khí xung quanh (Bao gồm trường học và dân cư sung quanh bệnh viện)
Trang 21- Các nguồn khí thải nếu không được xử lý sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe bệnh nhân, người dân và khu vực dân cư xung quanh.
* Đánh giá tác động các nguồn gây ô nhiễm không khí:
Khí thải từ phương tiện giao thông sẽ thải các chất ô nhiễm như bụi, NOx, SOx, CO, CO2 và Hydrocacbon vào không khí
Theo kết quả phân tích của Viện nghiên cứu Công nghệ Môi trường & Bảo hộ lao động thì nồng
độ bụi và các hơi khí ở khu vực xung quanh Bệnh viện hầu hết đạt giới hạn cho phép của Tiêu chuẩn môi trường TCVN 5937 – 2005, TCVN 5938 – 2005, TCVN 5949 – 1998 Kết quả phân tích nồng độ bụi và hơi khí được trình bày trong bảng 2.9
Bảng 2.9: Kết quả phân tích nồng độ bụi và hơi khí, độ ồn khu vực xung quanh Bệnh viện
Bảng 2.10: Vị trí lấy mẫu không khí
2.4.3 Phân loại chất thải rắn và chất thải nguy hại của bệnh viện:
Việc phân loại và nhận diện chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại của Bệnh Viện Thủ Đức được thực hiện căn cứ vào các quy định sau:
- Quyết định số: 155/1999/QĐ-TTg ngày 16 tháng 7 năm 1999 về việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại
- Quyết định số: 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2007 về việc ban hành Quy chế Quản lý chất thải y tế
- Quyết định số: 23/2006/QĐ-BTNMT ngày 26 tháng 12 năm 2006 Về việc ban hành Danh mục chất thải nguy hại
Theo Quyết định số: 43/2007/QĐ-BYT, Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hoá học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong Bệnh Viện Thủ Đức được phân thành 5 nhóm sau:
1 Chất thải lây nhiễm
2 Chất thải hoá học nguy hại
Trang 223 Chất thải phóng xạ.
4 Bình chứa áp suất
5 Chất thải thông thường
2.4.5 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn thông thường và chất thải nguy hại tại Bệnh Viện
Thủ Đức.
Chất thải thông thường (Chất thải không nguy hại):
Rác thải từ các hoạt động khám chữa bệnh, sinh hoạt của bệnh nhân và các cán bộ y tế, hoạt động văn phòng hành chính, xây dựng sửa chữa không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy nổ, bao gồm các loại phế thải điển hình sau:
- Các chất thải rắn ngoại cảnh: Lá cây và rác từ các khu vực ngoại cảnh
- Các chất thải từ công việc hành chính: Giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi ni lông, túi đựng phim, các thùng gỗ kiện hàng, giẻ lâu vệ sinh sàn nhà…
- Chất thải phát sinh từ các phòng điều trị: Như hộp thức ăn, lá gói bánh, bánh kẹo dư, thức
ăn của bệnh nhân, người thăm nuôi… (Trừ các buồng bệnh cách ly)
- Chất thải sinh hoạt từ hoạt động của căng tin bệnh viện
- Các chất thải phát sinh từ hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín (Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các hóa học nguy hại)
- Các chất thải phát sinh từ công tác xây dựng, sửa chữa: Xà bần, cát đá… (Các chất này không phát sinh thường xuyên)
Chất thải nguy hại:
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khoẻ con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mũn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu những chất thải này không được tiêu huỷ an toàn
Chúng được hình thành và phát sinh trong quá trình hoạt động khám chữa bệnh của bệnh viện Bao gồm: Các phế thải trong quá trình phẫu thuật người như là các bộ phận cơ thể, các cơ quan nội tạng, các vật sắc nhọn, các bông băng có máu mủ của bệnh nhân, các chất thải ra trong quá trình xét nghiệm, các loại thuốc quá hạn sử dụng, kim, ống tiêm, đờm, dãi của bệnh nhân
Bao gồm các nhóm:
* Chất thải lây nhiễm:
- Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh
mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thuỷ tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế
Trang 23Ngoài ra còn phát sinh từ các bóng đèn thắp sáng của Bệnh Viện, đèn phục vụ kh1m chữa bệnh…
- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách ly
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): Là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như: bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
- Chất thải giải phẫu (loại D): Bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người; rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
* Chất thải hoá học nguy hại:
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
- Chất hoá học nguy hại sử dụng trong y tế (Nhóm hóa chất Formaldehyde, các chất quang hóa học, dung môi…).
- Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế
bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hoá trị liệu (Asparaginase, Bleomycin, Carboplatin, Carmustine, Cisplatin, Cyclophosphamide…).
- Chất thải chứa kim loại nặng: thuỷ ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thuỷ ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (Cd) (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
* Thành phần chất thải rắn và chất thải nguy hại: (Nguồn Bệnh Viện Thủ Đức).
Bảng 2.11: Thành phần chất thải rắn của Bệnh viện Thủ Đức
Trang 2407 Chai dịch truyền nhựa không dính máu 10,18
- Chất thải lây nhiễm không sắt nhọn (loại B)
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C)
- Chất thải giải phẫu (loại D)
99,50,30,696,52,1
2 Các loại dược phẩm thải có chứa các thành phần nguy hại 0,05
* Khối lượng chất thải rắn và chất thải nguy hại: (Nguồn Bệnh Viện Thủ Đức – Xem thêm tại phụ
lục).
Số liệu thống kê 6 tháng gần đây cho thấy bình quân mỗi tháng, lượng rác thải y tế tại Bệnh Viện
là trung bình khoảng 450 - 600kg/ngày
Bảng 2.13: Bảng khối lượng rác Y tế của Bệnh viện Thủ Đức
Trang 25Bảng 2.15: Thống kê chất thải khác (không nguy hại) trong 06 tháng vừa qua:
Tên chất thải Số lượng (kg) Phương pháp xử lý, tiêu hủy Tên, địa chỉ đơn vị xử lý, tiêu hủy Ghi chú
Chất thải nguy hại được đóng gói theo chủng loại trong các bao bì thích hợp, đáp ứng các yêu cầu
về an toàn kỹ thuật, ký hiệu rõ ràng theo quy định
Phương pháp thu gom và phân loại được thực hiện theo Quy chế “Quản lý chất thải rắn“ ban hành theo Quyết định 43/2007/QĐ-BYT ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Bộ trưởng Bộ Y tế
Sơ đồ hệ thống phân loại và thu gom chất thải rắn tại bệnh viện
Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Trần Hiếu Nhuệ Trang 25
Các nguồn phát sinh chất thải
Phân loại ngay tại
chỗ
Rác thải độc hại dạng vô cơ, hữu cơ, các hóa chất và các dược liệu quá hạn…
Thu gom tập
trung
Vô cơ hóa hoàn toàn
Bãi rác tập trung, xử
Đốt cháy trong lò nhiệt độ cao
Trang 26Sơ đồ phân loại và giải pháp phân loại rác thải y tế tại Bệnh Viện Thủ Đức
Việc kiểm soát và phân loại rác được thực hiện ngay từ đầu, và tổ chức rất tốt Từ từng buồng bệnh, từ từng khoa trong Bệnh viện Toàn bộ các y bác sĩ, hộ lý và cán bộ công nhân viên, bệnh nhân cũng như người nhà chăm sóc bệnh nhân được hướng dẫn thực hiện phân loại từng loại chất thải phải đựng trong các túi và thùng có mã mầu kèm biểu tượng theo đúng quy định ngay tại buồng bệnh, ngay tại nơi phát sinh rác thải
Trang 27Hình 2.6: Hình ảnh chụp rác thải tại Bệnh Viện Thủ Đức được phân loại ngay tại nguồn.
* Các dụng cụ bao bì, Thùng thu gom phân loại và vận chuyển chất thải trong bệnh viện
- Mã màu sắc:
1 Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm
2 Màu đen đựng chất thải hoá học nguy hại và chất thải phóng xạ
3 Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ
4 Mầu trắng đựng chất thải tái chế
- Túi đựng chất thải:
1 Túi màu vàng và màu đen phải làm bằng nhựa PE hoặc PP, không dùng nhựa PVC
2 Túi đựng chất thải y tế có thành dầy tối thiểu 0,1mm, kích thước túi phù hợp với lượng chất thải phát sinh, thể tích tối đa của túi là 0,1 m3
3 Bên ngoài túi phải có đường kẻ ngang ở mức 3/4 túi và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”
- Dụng cụ đựng chất thải sắc nhọn:
1 Hộp đựng chất thải sắc nhọn phải bảo đảm các tiêu chuẩn
Trang 28a) Thành và đáy cứng không bị xuyên thủng.
b) Có khả năng chống thấm
c) Kích thước phù hợp
d) Có nắp đóng mở dễ dàng
đ) Miệng hộp đủ lớn để cho vật sắc nhọn vào mà không cần dùng lực đẩy
e) Có dòng chữ “CHỈ ĐỰNG CHẤT THẢI SẮC NHỌN” và có vạch báo hiệu ở mức 3/4 hộp và có dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”
g) Mầu vàng
h) Có quai hoặc kèm hệ thống cố định
i) Khi di chuyển vật sắc nhọn bên trong không bị đổ ra ngoài
2 Đối với các cơ sở y tế sử dụng máy huỷ kim tiêm, máy cắt bơm kim tiêm, hộp đựng chất thải sắc nhọn phải được làm bằng kim loại hoặc nhựa cứng, có thể dùng lại và phải là một bộ phận trong thiết kế của máy huỷ, cắt bơm kim
3 Đối với hộp nhựa đựng chất thải sắc nhọn có thể tái sử dụng, trước khi tái sử dụng, hộp nhựa phải được vệ sinh, khử khuẩn theo quy trình khử khuẩn dụng cụ y tế Hộp nhựa sau khi khử khuẩn để tái sử dụng phải còn đủ các tính năng ban đầu
- Thùng đựng chất thải:
a) Phải làm bằng nhựa có tỷ trọng cao, thành dầy và cứng hoặc làm bằng kim loại có nắp đậy mở bằng đạp chân Những thùng thu gom có dung tích từ 50 lít trở lên cần có bánh
xe đẩy
b) Thùng màu vàng để thu gom các túi, hộp chất thải màu vàng
c) Thùng màu đen để thu gom các túi chất thải màu đen Đối với chất thải phóng xạ, thùng đựng phải làm bằng kim loại
d) Thùng màu xanh để thu gom các túi chất thải màu xanh
đ) Thùng màu trắng để thu gom các túi chất thải màu trắng
e) Dung tích thùng tuỳ vào khối lượng chất thải phát sinh, từ 10 lít đến 250 lít
g) Bên ngoài thùng phải có vạch báo hiệu ở mức 3/4 thùng và ghi dòng chữ “KHÔNG ĐƯỢC ĐỰNG QUÁ VẠCH NÀY”
Biểu tượng chỉ loại chất thải:
Mặt ngoài thùng đựng một số chất thải nguy hại và chất thải để tái chế có biểu tượng chỉ loại chất thải phù hợp
- Thùng màu vàng đựng chất thải lây nhiễm có biểu tượng nguy hại sinh học
Trang 29Hình 2.7: Biểu tượng nguy hại sinh học
- Thùng màu đen đựng chất thải gây độc thế bào có biểu tượng chất gây độc tế bào kèm dòng chữ “ Chất gây độc tế bào”
Hình 2.8: Biểu tượng Chất gây độc tế bào
- Thùng màu đen đựng chất thải phóng xạ có biểu tượng chất phóng xạ và có dòng chữ “ Chất thải phóng xạ”
Hình 2.9: Biểu tượng Chất thải phóng xạ (Hình vẽ trên nền đỏ)
- Thùng màu trắng đựng chất thải để tái chế có biểu tượng chất thải có thể tái chế
Hình 2.10: Biểu tượng Chất thải có thể tái chế
* Nơi đặt thùng đựng chất thải:
Trang 30Mỗi khoa, phòng, buồng bệnh sẽ được đặt các thùng đựng chất thải y tế cho từng loại chất thải, tại nơi đặt thùng đựng chất thải có hướng dẫn cách phân loại và thu gom ở vị trí dễ nhìn và thuận tiện Túi sạch thu gom chất thải luôn có sẵn tại nơi chất thải phát sinh để thay thế cho túi cùng loại đã được thu gom chuyển về nơi lưu giữ tạm thời chất thải của từng khoa trong bệnh viện Sau khi các túi chứa chất thải được thu gom thì các thùng đựng sẽ được vệ sinh hàng ngày Lượng chất thải chứa trong mỗi túi chỉ đầy tới 3/4 túi, sau đó buộc cổ túi lại và sẽ được các hộ lý hoặc nhân viên được phân công hàng ngày chịu trách nhiệm thu gom các chất thải y tế nguy hại
và chất thải thông thường từ nơi chất thải phát sinh về nơi tập trung chất thải của khoa ít nhất 1 lần trong ngày và khi cần Mỗi loại chất thải được thu gom vào các dụng cụ thu gom theo mã mầu quy định và có nhãn hoặc ghi bên ngoài túi nơi phát sinh chất thải
Hình 2.11: Hình ảnh các khoa chức năng của bệnh viện
Hình 2.12: Hình ảnh thùng chứa chất thải được phân loại tại nguồn – Chụp tại phòng lấy
máu và ngoài hành lang của khoa cận lâm sàng
(Túi đựng chất thải và thùng đựng chất thải có màu đồng nhất: 1 Túi Màu vàng đựng chất thải lây nhiễm - được đựng trong thùng màu vàng 2 Màu xanh đựng chất thải thông thường và các bình áp suất nhỏ - được đựng trong thùng màu xanh).
* Lưu trữ tạm thời chất thải: