1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tài nguyên nước và các thách thức chủ yếu trong quản lý tài nguyên nước tại địa phương

27 454 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 697,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Quyết định số 58/2010/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2010 về việc bãi bỏ các văn bảncủa Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quy định thủ tục hành chính áp dụng tại Ủyban nhân dân quận –

Trang 1

Nội dung tiểu luận: Đánh giá tài nguyên nước và các thách thức chủ yếu trong quản lý

tài nguyên nước tại địa phương Thảo luận về các trở ngại chính khi triển khaiQLTHTNN tại địa phương

Phần 1: MỞ ĐẦU1.1 – Cơ sở pháp lý quản lý tài nguyên nước trên địa bàn thành phố hồ chí minh:

- Nghị định số 149/2004/NĐ-CP ngày 27 tháng 7 năm 2004 của Chính phủ quy định việccấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước

- Thông tư số 02/2005/TT-BTNMT ngày 24 tháng 6 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môitrường hướng dẫn thi hành Nghị định 149/2004/NĐ-CP;

- Nghị định số 34/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 3 năm 2005 của Chính phủ quy định về xửphạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tài nguyên nước;

- Thông tư số 05/2005/TT-BTNMT ngày 22 tháng 7 năm 2005 của Bộ Tài nguyên và Môitrường hướng dẫn thi hành Nghị định số 34/2005/NĐ-CP

- Quyết định số 157 ngày 1-12 - 2008 của Thủ tướng Chính phủ thành lập UB sông ĐồngNai

- Quyết định số 187/2007/QĐ-TTg ngày 03-12-2007 phê duyệt Đề án Bảo vệ môi trườnglưu vực hệ thống sông Đồng Nai

- Quyết định số 69/2007/QĐ-UBND ngày 03 tháng 5 năm 2007 về hạn chế khai thác nướcngầm trên địa bàn một số quận của thành phố Hồ Chí Minh

- Quyết định số 17/2006/QĐ-UBND ngày 09 tháng 02 năm 2006 về ban hành Quy địnhquản lý tài nguyên nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Quyết định số 69/2007/QĐ-UBND ngày 03 tháng 05 năm 2007 về ban hành Quy định hạnchế và cấm khai thác nước dưới đất trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Quyết định số 77/2007/QĐ-UBND ngày 22 tháng 05 năm 2007 về Quy định giá tính thuếtài nguyên nước trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

- Quyết định số 96/2007/QĐ-UBND ngày 23 tháng 07 năm 2007 về ban hành mức thu phíthẩm định hồ sơ và lệ phí cấp giấy phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xảnước thải vào nguồn nước và hành nghề khoan nước dưới đất

- Quyết định số 58/2010/QĐ-UBND ngày 28 tháng 8 năm 2010 về việc bãi bỏ các văn bảncủa Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quy định thủ tục hành chính áp dụng tại Ủyban nhân dân quận – huyện, xã – phường – thị trấn trong lĩnh vực đất đai, tài nguyênnước

- Quyết định số: 729/QĐ-TTg ngày 19 tháng 6 năm 2012 của Thủ Tướng Chính Phủ phêduyệt Quy hoạch cấp nước thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025

- Quyết định số: 24/QĐ - TTg ngày 06/01/2010 Quy hoặch xây dựng nhà máy xử lý nướcthải đến năm 2025

Trang 2

1.2 - Điều kiện tự nhiên – Kinh tế - Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

1.2.1 - Vị trí, địa hình:

Thành phố Hồ Chí Minh có tọa độ 10°10' – 10°38' Bắc và 106°22' – 106°54' Đông

Phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương

Phía Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh

Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai

Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây

Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang

Nằm trong vùng chuyển tiếp giữa miền Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, địa hìnhthành phố thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông Vùng cao nằm ở phía Bắc - ĐôngBắc và một phần Tây Bắc, trung bình 10 đến 25 mét Xen kẽ có một số gò đồi, cao nhất lên tới 32mét như đồi Long Bình ở quận 9 Ngược lại, vùng trũng nằm ở phía Nam - Tây Nam và ÐôngNam thành phố, có độ cao trung bình trên dưới 1 mét, nơi thấp nhất 0,5 mét Các khu vực trungtâm, một phần các quận Thủ Đức, quận 2, toàn bộ huyệnHóc Môn và quận 12 có độ cao trungbình, khoảng 5 tới 10 mét

Hình 1.1 Bản đồ vị trí Tp HCM và các vùng lân cận

Trang 3

Thành phố Hồ Chí Minh gồm có bốn điểm cực:

Cực Bắc là xã Phú Mỹ Hưng, huyện Củ Chi

Cực Tây là xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi

Cực Nam là xã Long Hòa, huyện Cần Giờ

Cực Đông là xã Thạnh An, huyện Cần Giờ

1.2.2 Địa chất, thủy văn:

Địa chất:

Thành phố Hồ Chí Minh bao gồm chủ yếu là hai tướng trầm tích Pleistocen và Holocen lộ ra trên

bề mặt Trầm tích Pleistocen chiếm hầu hết phần Bắc, Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Dưới tácđộng của các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người, trầm tích phù sa cổ hình thành nhómđất đặc trưng riêng: đất xám Với hơn 45 nghìn hecta, tức khoảng 23,4% diện tích thành phố, đấtxám ở Thành phố Hồ Chí Minh có ba loại: đất xám cao, đất xám có tầng loang lổ đỏ vàng vàhiếm hơn là đất xám gley Trầm tích Holocen ở Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều nguồn gốc:biển, vũng vịnh, sông biển, bãi bồi hình thành nhiều loại đất khác nhau: nhóm đất phù sa biểnvới 15.100 ha, nhóm đất phèn với 40.800 ha và đất phèn mặn với 45.500 ha Ngoài ra còn có mộtdiện tích khoảng hơn 400 ha là "giồng" cát gần biển và đất feralite vàng nâu bị xói mòn trơ sỏi đá

Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thành phố Hồ ChíMinh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km Sông Sài Gòn có lưulượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370 m, độ sâu tới

20 m, sông Sài Gòn trở thành nguồn nước ngọt chính thứ hai của thành phố

Nhờ hệ thống kênh Rạch Chiếc, hai con sông Đồng Nai và Sài Gòn nối thông ở phần nội thành

mở rộng Một con sông nữa của Thành phố Hồ Chí Minh là sông Nhà Bè, hình thành ở nơi hợplưu hai sông Đồng Nai và Sài Gòn, chảy ra biển Đông bởi hai ngả chính Soài Rạp và Gành Rái.Trong đó, ngả Gành Rái chính là đường thủy chính cho tàu ra vào bến cảng Sài Gòn

Ngoài các con sông chính, Thành phố Hồ Chí Minh còn có một hệ thống kênh rạch chằng chịt:Láng The, Bàu Nông, rạch Tra, Bến Cát, An Hạ, Tham Lương, Cầu Bông, Nhiêu Lộc-Thị Nghè,Bến Nghé, Lò Gốm, Kênh Tẻ, Tàu Hũ, Kênh Ðôi Hệ thống sông, kênh rạch giúp Thành phố HồChí Minh trong việc tưới tiêu, nhưng do chịu ảnh hưởng dao động triều bán nhật của biểnÐông, thủy triều thâm nhập sâu đã gây nên những tác động xấu tới sản xuất nông nghiệp và hạnchế việc tiêu thoát nước ở khu vực nội thành, gây nên tình trạng ngập lụt

Địa chất thủy văn:

Trang 4

Nhờ trầm tích Pleistocen, khu vực phía Bắc Thành phố Hồ Chí Minh có được lượng nước ngầmkhá phong phú Nhưng về phía Nam, trên trầm tích Holocen, nước ngầm thường bị nhiễm phèn,nhiễm mặn Khu vực nội thành cũ có lượng nước ngầm đáng kể, tuy chất lượng không thực sựtốt, vẫn được khai thác chủ yếu ở ba tầng: 0–20 m, 60–90 m và 170–200 m (tầng trầm tíchMiocen) Tại Quận 12, các huyện Hóc Môn và Củ Chi, chất lượng nước tốt, trữ lượng dồi dào,thường được khai thác ở tầng 60–90 m, trở thành nguồn nước bổ sung quan trọng

1.2.3 Khí hậu, thời tiết:

Nằm trong vùng nhiệt đới xavan, Thành phố Hồ Chí Mình có nhiệt độ cao đều trong năm và haimùa mưa – khô rõ rệt Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11, còn mùa khô từ tháng

12 tới tháng 4 năm sau Trung bình, Thành phố Hồ Chí Minh có 160 tới 270 giờ nắng một tháng,nhiệt độ trung bình 27 °C, cao nhất lên tới 40 °C, thấp nhất xuống 13,8 °C Hàng năm, thành phố

có 330 ngày nhiệt độ trung bình 25 tới 28 °C Lượng mưa trung bình của thành phố đạt1.949 mm/năm, trong đó năm 1908 đạt cao nhất 2.718 mm, thấp nhất xuống 1.392 mm vàonăm 1958 Một năm, ở thành phố có trung bình 159 ngày mưa, tập trung nhiều nhất vào các tháng

từ 5 tới 11, chiếm khoảng 90%, đặc biệt hai tháng 6 và 9 Trên phạm vi không gian thành phố,lượng mưa phân bố không đều, khuynh hướng tăng theo trục Tây Nam – Ðông Bắc Các quận nộithành và các huyện phía Bắc có lượng mưa cao hơn khu vực còn lại

34 (93)

34 (93) 33 (91) 32 (90) 31 (88) 32 (90) 31 (88) 31 (88) 30 (86) 31 (88)

23 (73)

24 (75) 25 (77) 24 (75) 25 (77) 24 (75) 23 (73) 23 (73) 22 (72) 22 (72)

có gió tín phong theo hướng Nam – Đông Nam vào khoảng tháng 3 tới tháng 5, trung bình3,7 m/s Có thể nói Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng không có gió bão Cũng như lượng mưa,

độ ẩm không khí ở thành phố lên cao vào mùa mưa (80%), và xuống thấp vào mùa khô (74,5%).Bình quân độ ẩm không khí đạt 79,5%/năm

Trang 5

trạng nước thải không được xử lý đổ thẳng vào hệ thống sông ngòi còn rất phổ biến Nhiều cơ sởsản xuất,bệnh viện và cơ sở y tế chưa có hệ thống xử lý nước thải là một thực trạng đáng báođộng Tại cụm công nghiệp Tham Lương, nguồn nước bị nhiễm bẩn bởi chất thải công nghiệp vớitổng lượng nước thải ước tính 500.000 m³/ngày Sông Sài Gòn, mức độ ô nhiễm vi sinh chủ yếu

do hoạt động nuôi trồng thuỷ sản gây ra vượt tiêu chuẩn cho phép đến 220 lần

Lượng rác thải ở Thành phố Hồ Chí Minh lên tới 6.000 tấn/ngày, trong đó một phần lượng rácthải rắn không được thu gom hết Các phương tiện giao thông, hoạt động xây dựng, sản xuất còn góp phần gây ô nhiễm không khí Khu vực ngoại thành, đất cũng bị ô nhiễm do tồnđọng thuốc bảo vệ thực vật từ sản xuất nông nghiệp gây nên

Tình trạng ngập lụt trong trung tâm thành phố đang ở mức báo động cao, xảy ra cả trong mùakhô Diện tích khu vực ngập lụt khoảng 140 km2 với 85% điểm ngập nước nằm ở khu vực trungtâm Nguyên nhân là do hệ thống cống thoát nước được xây cách đây 50 năm đã xuống cấp vàthủy triều dâng cao Ngoài ra, việc xây dựng các khu công nghiệp và đô thị ở khu vực phía nam –khu vực thoát nước của thành phố này đã làm cho tình hình ngập càng nghiêm trọng hơn

1.2.5 Hành chính

Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là một trong 5 thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam

Về mặt hành chính, thành phố được chia thành 19 quận và 5 huyện

Quận (19): 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, Bình Tân, Bình Thạnh, Gò Vấp, Phú Nhuận,Tân Bình, Tân Phú, Thủ Đức

Huyện (5): Bình Chánh, Cần Giờ, Củ Chi, Hóc Môn, Nhà Bè

Toàn thành phố có 322 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm: 259 phường, 58 xã và 5 thị trấn

1.2.6 Diện tích – Dân số

Tổng diện tích: 2.095 km²

Dân số: Theo kết quả chính thức điều tra dân số ngày 01/04/2009 dân số thành phố là 7.162.864người, mật độ 3.419 người/km² Lượng dân cư này tập trung chủ yếu trong nội thành, gồm5.881.511 người, mật độ lên tới 11.906 người/km² Trong khi đó các huyện ngoại thành chỉ có1.281.353 người, đạt 801 người/km²

1.2.7 Kinh tế

Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu tàu kinh tế của cả Việt Nam Thành phố chiếm 0,6% diệntích và 8,34% dân số của Việt Nam nhưng chiếm tới 20,2% tổng sản phẩm, 27,9% giá trị sản xuấtcông nghiệp và 34,9% dự án nước ngoài Vào năm 2005, Thành phố Hồ Chí Minh có 4.344.000lao động, trong đó 139 nghìn người ngoài độ tuổi lao động nhưng vẫn đang tham gia làm việc.Năm 2010, thu nhập bình quân đầu người ở thành phố đạt 2.800 USD/năm, cao hơn nhiều so vớitrung bình cả nước, 1168 USD/năm Tổng GDP cả năm 2010 đạt 418.053 tỷ đồng (tính theo gíathực tế khoảng 20,902 tỷ USD), tốc độ tăng trưởng đạt 11.8%

Nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh đa dạng về lĩnh vực, từ khai thác mỏ, thủy sản, nôngnghiệp, công nghiệp chế biến, xây dựng đến du lịch, tài chính Cơ cấu kinh tế của thành phố,khu vực nhà nước chiếm 33,3%, ngoài quốc doanh chiếm 44,6%, phần còn lại là khu vực có vốn

Trang 6

đầu tư nước ngoài Về các ngành kinh tế, dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất: 51,1% Phần còn lại,công nghiệp và xây dựng chiếm 47,7%, nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản chỉ chiếm 1,2%.Tính đến giữa năm 2006, 3 khu chế xuất và 12 khu công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh đã thuhút được 1.092 dự án đầu tư, trong đó có 452 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng vốn đầu tưhơn 1,9 tỉ USD và 19,5 nghìn tỉ VND Thành phố cũng đứng đầu Việt Nam tổng lượng vốn đầu

tư trực tiếp nước ngoài với 2.530 dự án FDI, tổng vốn 16,6 tỷ USD vào cuối năm 2007 Riêngtrong năm 2007, thành phố thu hút hơn 400 dự án với gần 3 tỷ USD Trong bảng xếp hạng về Chỉ

số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, thành phố Hồ Chí Minh xếp ở vị trí thứ20/63 tỉnh thành

Về thương mại, Thành phố Hồ Chí Minh có một hệ thống trung tâm mua sắm, siêu thị, chợ đadạng Chợ Bến Thành là biểu tượng về giao lưu thương mại từ xa xưa của thành phố, hiện nayvẫn giữ một vai trò quan trọng Những thập niên gần đây, nhiều trung tâm thương mại hiện đạixuất hiện như Saigon Trade Centre, Diamond Plaza Mức tiêu thụ của Thành phố Hồ Chí Minhcũng cao hơn nhiều so với các tỉnh khác của Việt Nam và gấp 1,5 lần thủ đô Hà Nội Sở Giaodịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh, có mã giao dịch là VN-Index, được thành lậpvào tháng 7 năm 1998 Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2007, toàn thị trường đã có 507 loạichứng khoán được niêm yết, trong đó có 138 cổ phiếu với tổng giá trị vốn hóa đạt 365 nghìn tỷđồng

Tuy vậy, nền kinh tế của Thành phố Hồ Chí Minh vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn Toànthành phố chỉ có 10% cơ sở công nghiệp có trình độ công nghệ hiện đại Trong đó, có 21/212 cơ

sở ngành dệt may, 4/40 cơ sở ngành da giày, 6/68 cơ sở ngành hóa chất, 14/144 cơ sở chế biếnthực phẩm, 18/96 cơ sở cao su nhựa, 5/46 cơ sở chế tạo máy có trình độ công nghệ, kỹ thuậtsản xuất tiên tiến Cơ sở hạ tầng của thành phố lạc hậu, quá tải, chỉ giá tiêu dùng cao, tệ nạn xãhội, hành chính phức tạp cũng gây khó khăn cho nền kinh tế Ngành công nghiệp thành phốhiện đang hướng tới các lĩnh vực cao, đem lại hiệu quả kinh tế hơn

1.2.8 Cơ sở hạ tầng:

1.2.8.1 Giao thông vận tải:

Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, Thành phố Hồ Chí Minh là một đầu mối giaothông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường không, nối liền các tỉnh trong vùng vàcòn là một cửa ngõ quốc tế

Thành phố Hồ Chí Minh kết nối với các tỉnh lân cận bằng hệ thống đường bộ, sôi động nhất làquốc lộ 51 từ thành phố Hồ Chí Minh đi Vũng Tàu; quốc lộ 1A, tỉnh lộ 50, 824 và 825 đi LongAn; tỉnh lộ 25B, quốc lộ 1A đi Đồng Nai; tỉnh lộ 824 và quốc lộ 13 đi Bình Dương; đường xuyên

Á - quốc lộ 22 hoặc theo đường Trung Lập Hạ đi Tây Ninh

Mạng lưới đường trong thành phố được phân bố theo dạng hướng tâm gồm 12 trục chính theo cáchướng Đông Bắc - Tây Nam và Tây Bắc - Đông Nam Chiều dài mạng lưới đường bộ do thànhphố quản lý khoảng 1.521 km Mạng lưới đường trừ một vài khu có qui hoạch trước, còn đa sốđều phát triển tùy tiện từ kích thước, khổ đường, lộ giới, vĩa hè, nhiều hẻm chỉ còn lại 2m Một sốđường bị gián đoạn ở các chỗ thắt nút hẹp, các dòng sông chắn ngang, các đầu mối giao thông,chợ là những điểm thường xuyên gây cản trở lớn cho giao thông nội bộ thành phố

Trang 7

Giao thông trong nội ô, do tốc độ tăng dân số nhanh, quy hoạch yếu, hệ thống đường xá nhỏ khiến thành phố luôn phải đối mặt với vấn đề ùn tắc Thành phố có 239 cây cầu nhưng phần lớnchiều rộng nhỏ hơn chiều rộng của đường nên gây khó khăn cho các phương tiện giao thông.Không những thế, một phần các cây cầu có trọng tải thấp hay đang trong tình trạng xuống cấp.Tại các huyện ngoại thành, hệ thống đường vẫn phần nhiều là đường đất đá Trong khi đó, hệthống đường trải nhựa còn lại cũng trở nên quá tải, cần sửa chữa Để giải quyết vấn đề giao thông

đô thị, Thành phố Hồ Chí Minh đang đầu tư nhiều cho hệ thống giao thông công cộng Đại lộđông tây hoàn thành đã làm giảm tình trạng ùn tắc giao thông trong nội thành Hiện nay thànhphố có 3.250 xe buýt và 8.000 xe taxi, mỗi năm chỉ đáp ứng khoảng 6,2% nhu cầu đi lại

Vận tải thủy ở Thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỷ lệ quan trọng Tính riêng vận tải hàng hóa,đường biển chiếm khoảng 29% và đường sông khoảng chiếm 20% tổng khối lượng thông qua đầumối thành phố

Đường bộ chỉ chiếm 44% vận tại hàng hóa nhưng chiếm tới 85,6% vận tải hành khách

Về giao thông đường không, Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là phi trường lớn nhất Việt Nam về

cả diện tích và công suất nhà ga

Giao thông đường sắt của thành phố gồm tuyến nội ô và khu vực phụ cận - do Xí nghiệp Liênhiệp đường sắt 3 quản lý, tuyến Bắc - Nam và một vài đoạn đường chuyên dụng, hiện hầu như đãngưng khai thác Trong thành phố có hai nhà ga chính: Sóng Thần và Sài Gòn Bên cạnh đó còn

có một số nhà ga nhỏ như Dĩ An, Thủ Đức, Bình Triệu, Gò Vấp Do mạng lưới đường sắt khôngđược nối trực tiếp với các cảng, cơ sở đã cũ kỹ nên giao thông đường sắt Thành phố Hồ Chí Minhkhông phát triển, chỉ chiếm khoảng 6% khối lượng hàng hóa và 0,6% khối lượng hành khách.Giao thông đường bộ, thành phố có 5 bến xe khách liên tỉnh được phân bố ở các cửa ngõ ra vào:Miền Đông, Miền Tây, Chợ Lớn, Tân Bình - Tây Ninh, Ký Thủ Ôn Mạng lưới khả năng tiếpnhận trên 1.200 xe/ngày, vận chuyển gần 41.000 khách/ngày đi các tỉnh Nam Trung Bộ, TâyNguyên, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long Cũng theo số liệu từ 1994, tổng lượng hànhkhách liên tỉnh qua thành phố khoảng 106,4 triệu lượt người/năm, nhiều nhất qua quốc lộ 1A.Khu vực Thành phố Hồ Chí Minh có bốn cảng biển chính: Sài Gòn, Bến Nghé, Nhà Bè, TânCảng cùng các cảng sông Bình Đông, Tân Thuận, Tôn Thất Thuyết, Bình Lợi, Bình Phước Ngoài ra còn có khoảng 50 bến đò phục vụ giao thông hành khách Cảng Sài Gòn là một trongnhững cảng lớn nhất Việt Nam, chiếm 25% trong tổng khối lượng hàng hóa thông qua các cảngbiển cả nước Cảng Bến Nghé nằm phía hạ lưu sông Sài Gòn, rộng 32 ha, tổng chiều dài cầu cảng

528 m, có thể cho tàu có tải trọng từ 15.000 - 20.000 tấn cập bến Tuy năng lực của các cảng củaThành phố Hồ Chí Minh lớn nhưng việc chuyển tiếp giữa giao thông đường bộ, đường biển vàđường sông gặp khó khăn

1.2.8.2 Quy hoạch và kết cấu đô thị:

Tuy nhiên hiện nay thành phố này có dân số kể cả số lượng khách vãng lai là 10 triệu người, kếtcấu đô thị đã quá tải Sài Gòn từng là thành phố của cây xanh với không gian kiến trúc theo quyhoạch của Pháp trước đây đã thay đổi với việc thu hẹp không gian xanh để xây dựng nhà cửa,không gian kiến trúc thành phố này trở nên chật chội với nhiều công trình xây dựng hỗn độnthiếu tính thống nhất

Công tác quy hoạch có nhiều bất cập và yếu kém Đến thời điểm đầu năm 2008 mới chỉ có 23%khối lượng công tác quy hoạch 1/2000 được thực hiện Quy hoạch cho hệ thống công trình ngầm

Trang 8

vẫn chưa được thực hiện xong Công tác xây quy họach và xây dựng đô thị mới vẫn mang nặng

tư duy thời kỳ bao cấp Trong 10 năm gần đây, khu vực đô thị mới để lại dấu ấn lớn trong quátrình phát triển thành phố này là khu đô thị mới Phú Mỹ Hưng

Quy hoạch thành phố Hồ Chí Minh tính tới thời điểm 2010 có khoảng trên dưới 600 dự án quyhoạch tại 13 quận huyện

Chiến lược quy hoạch của Thành phố hiện nay là tránh dồn ứ dân cư về nội thành, đồng thời pháttriển một số khu đô thị mới góp phần làm giảm mật độ dân số vốn đã quá cao như hiện nay

1.2.8.3 Cấp nước:

Nguồn cung cấp nước:

Hiện nay thành phố Hồ Chí Minh sản xuất và cung cấp khoảng 1.250.000 m3/ngày đêm, bao gồmcác nhà máy:

Nhà máy nước Thủ Đức: Là nguồn cung cấp nước sạch chính cho thành phố hiện nay Hiện

công suất của Nhà máy là 750.000 m3/ngày đêm Nước thô cung cấp cho nhà máy được lấy từsông Đồng Nai qua trạm bơm Hóa An Đường ống chuyển tải nước thô về thành phố có đườngkính 1.800 mm, dài 10,8 km

Nhà máy nước BOT Bình An: Công suất 100.000 m3/ngàyđêm, bắt đầu cấp nước từ tháng8/1999 Nhà máy lấy nước thô từ sông Đồng Nai qua trạm bơm đặt tại chân cầu Đồng Nai (huyệnThuận An, tỉnh Bình Dương) công suất 105.000 m3/ngày đêm Nhà máy xử lý đặt tại đồi Bình

An, huyện Thuận An - Tỉnh Bình Dương Đường ống nước thô dài 3,2 km, đường kính 1.200 mmbằng thép dẫn nước thô đến nhà máy xử lý Đường ống nước sạch dài 6 km, đường kính1.000mm bằng thép dẫn nước từ nhà máy xử lý đến bể chứa tại nhà máy nước Thủ Đức

Nhà máy nước Tân Hiệp: Công suất 300.000 m3/ngđ, bắt đầu cấp nước từ 2004 Nguồn nước thôlấy từ sông Sài Gòn, gần cầu Bình Dương

Nhà máy nước ngầm Hóc Môn: Công suất 50.000 m3/ngày đêm, bắt đầu cấp nước vào tháng 8năm 1995, cung cấp nước cho các quận Tân Bình, quận 6, quận 11, được nối với mạng lướiđường ống hiện có thành một hệ thống liên hoàn hỗ trợ cho nhau

Hệ thống giếng ngầm: Ngoài nhà máy nước Thủ Đức, Bình An và Hóc Môn, hệ thống cấp nước

thành phố còn được bổ sung nguồn nước từ hệ thống gồm 39 giếng do Công ty Cấp nước quản lýbao gồm cụm giếng Tân Sơn Nhất, Gò Vấp, và các giếng khoan nằm rải rác trong thành phố.Trong đó có 11 giếng được xây dựng sau năm 1975, 28 giếng cũ đã được sửa chữa phục hồi hiệnđang khai thác Nước giếng bơm lên một số phải xử lý sắt mới hòa vào lưới phân phối để cungcấp Tổng công suất phát nước của hệ thống giếng này khoảng 40.000 m3/ngày đêm Ngoài ra cònmột số lượng lớn giếng ngầm của chương trình nước sạch nông thôn do UNICEF tài trợ hiện do

Sở Lao động, Thương binh và Xã hội quản lý và khoảng 100.000 giếng do các đơn vị sản xuất dịch vụ và hộ dân tự khoan đang được sử dụng

-Trạm cấp nước Bình Trị Đông: Công suất 12.000 m3/ngđ, bắt đầu cung cấp nước từ tháng2/1999

Mạng lưới chuyển tải và phân phối:

Mạng lưới chuyển tải nước sạch

Gồm 3 tuyến ống chính:

Trang 9

- Tuyến thứ nhất từ nhà máy nước Thủ Đức về thành phố có đường kính 2000 mm, dài 12,4

km bằng bê tông cốt thép dự ứng lực, có nòng thép Năm 1991, Công ty Cấp nước đo kiểm định

hệ số dẫn nước C (hệ số HAZEN) chỉ còn 107,4 giảm rất nhiều so với khi mới xây dựng là 140.Tuy nhiên chưa phát hiện dấu hiệu hư hại, do đó dự đoán khả năng vẫn có thể chuyển tải ở mức750.000 m3/ngày đêm Riêng đoạn ống đi ngầm qua đáy sông Sài Gòn ở độ sâu 21 m nên gặp khókhăn khi xác định tính chất bảo đảm an toàn

- Tuyến thứ hai từ nhà máy nước Thủ Đức đến khu công nghiệp Biên Hòa cung cấp nước chokhu công nghiệp có đường kính 600 mm dài 13,28 km bằng bê tông cốt thép dự ứng lực, có nòngthép, riêng đoạn qua cầu Đồng Nai là hai tuyến ống bằng thép 350 mm dài 450 m song songnhau Tuyến ống bắt đầu sử dụng từ năm 1967 và đến nay đã qua ba lần sửa chữa

- Tuyến thứ ba từ nhà máy nước ngầm Hóc Môn về Tân Hóa theo đường Cách Mạng Tháng

8 và Hương lộ 14 có đường kính 800 mm đến 1.000 mm dài tổng cộng 7 km bằng thép có lớp bảo

vệ chống ăn mòn hóa học bên ngoài và tráng xi măng bên trong, chuyển tải nước sạch từ nhà máyqua Tân Bình về quận 11 Ống mới, còn sử dụng tốt, có khả năng chuyển tải 100.000 m3/ngàyđêm

Mạng lưới phân phối

Mạng lưới phân phối nước của thành phố rất phức tạp và đa dạng do việc phát triển không đồng

bộ qua nhiều thời kỳ khác nhau Chủ yếu trên khu vực nội thành cũ với diện tích khoảng 140

km2, gồm các quận 1, 3, 4, 5, 6, 8, 10, 11, Gò Vấp, Bình Thạnh, Phú Nhuận Ngoài ra mạng lướicòn cung cấp nước cho khu chế xuất Tân Thuận, khu công nghiệp Hiệp Phước và một số khu vực

ở các quận mới Các khu vực còn lại trong thành phố tuy có mạng lưới đường ống nhưng còn rấthạn chế nên chỉ cung cấp nước cho một bộ phận dân cư

- Mạng cấp I: Chủ yếu để chuyển nước từ ống 2000 mm sang mạng cấp II, cấp III

- Mạng cấp II: tiếp nhận nước từ ống chuyển tải hoặc các ống cấp I để thông qua mạng cấpIII (có khi trực tiếp không qua mạng cấp III) cấp nước cho một hoặc nhiều địa bàn tiêu thụ

- Mạng cấp II, III tại thành phố thường là ống gang xám, ống gang dẻo, ống nhựa PE, ốngnhựa PVC Trong đó, khoảng 9% chiều dài mạng lưới là ống gang cũ, đã sử dụng trên 50 năm,nhiều đoạn đã bị ăn mòn, tập trung ở các quận trung tâm như quận 1, một phần quận 3 và quận 5.Các tuyến ống đặt trong giai đoạn từ 1940-1960 với 50 % ống 80 mm, còn lại đa số là ống 150

mm và 250 mm, chủ yếu ở vùng phía đông quận 5 và phía nam quận 10, cũng bị mục bể nhiều.Một số ống fibroximăng (abestos cement) có đường kính từ 80 mm đến 500mm với tổng chiềudài khoảng 1.301 km, ngoài ra cũng còn tồn tại một số ít ống cỡ 40 - 60 - 80 mm ở các đườngnhỏ cụt làm nhiệm vụ như ống cấp III với tổng chiều dài khoảng 1.800 km Hiện có khoảng 430

km ống cấp II - III có tuổi thọ trên 80 năm cần được cải tạo để giảm thiểu thất thoát nước, ngănngừa nhiễm bẩn làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng nước

1.2.8.4 Thoát nước:

Hệ thống thoát nước đô thị của thành phố cho đến nay đang có thay đổi lớn với các dự án xâydựng mạng lưới thoát nước lưu vực Nhiêu Lộc – Thị Nghè và Tàu Hủ - Bến Nghé, nhà máy xử lýhỗn hợp nước thải sinh hoạt và công nghiệp Bình Hưng Hòa công suất 30.000 m3/ngđ bằng côngnghệ hồ sinh học, nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt Bình Hưng công suất 141.000 m3/ngđ Hệthống thoát nước của thành phố là hệ thống thoát nước riêng một nửa, tức là vẫn áp dụng mộtmạng lưới thoát nước chung cho cả nước thải sinh hoạt, công nghiệp và nước mưa, nhưng sẽ tách

ra khi mưa lớn Sự phân cấp quản lý và thực hiện duy tu sửa chữa, xây dựng các công trình thoát

Trang 10

nước theo địa bàn quản lý vẫn giữ nguyên như thời kỳ trước, chưa có sự thay đổi.

Trên địa bàn thành phố có khoảng 1.200 km kênh rạch, trong đó có 234 km do Công ty Thoátnước đô thị quản lý dùng cho chức năng thoát nước Hệ thống sông ngòi, kênh rạch chịu tác độngcủa chế độ bán nhật triều không đều của biển Đông, nên gây khó khăn cho việc thoát nước của cả

hệ thống cống - kênh rạch - sông lớn Lòng lạch bị bồi lắng, làm khả năng tiêu thoát nước tựnhiên của hệ thống này bị giảm đi khoảng 50 - 60 %

Mạng lưới cống ngầm được xây dựng từ 1890, sau đó được phát triển thêm vào cuối những năm

1960, vừa thu nước thải và vừa thu nước mưa, phát triển đến nay mang tính chắp vá và phân bốkhông đều trên điạ bàn, tập trung ở các quận trung tâm Hiện nay mạng lưới này đang được xâymới Khu vực các quận mới như quận 2, quận 9, quận 12 mạng lưới thoát nước còn rất ít Nhiềukhu tập trung dân cư ở các quận ven, trong nội thành chưa có cống thoát nước Nước thải đượcthải trực tiếp xuống mặt đất, chảy tràn lan và tự thấm gây ô nhiễm môi trường Theo số liệu thống

kê của Viện Qui hoạch, hiện trên địa bàn, các quận trung tâm có hệ thống thoát nước 100%(quận1, 3, và 5), các quận mới và huyện có tỉ lệ được phục vụ thoát nước thấp, riêng Bình Chánhchỉ có 0.3% Diện tích phục vụ chung của mạng lưới thoát nước khoảng 12% trên tổng diện tíchlãnh thổ

Mạng lưới cấp 1 là sông/kênh rạch chính tự nhiên Công ty TNHH MTV Thoát nước Đô thị(UDC) quản lý các kênh rạch nhỏ trực tiếp nhận nước thải và làm nhiệm vụ thoát nước và KhuĐường sông quản lý các kênh, sông rạch lớn làm nhiệm vụ vừa thoát nước, vừa phục vụ giaothông vận tải đường thủy, tiếp nhận và pha loãng nước thải và thoát nước thải ra biển Đông Nhưvậy hệ thống kênh rạch tự nhiên đóng một vai trò không kém phần quan trọng trong hệ thốngthoát nước so với hệ thống đường ống cống Sau khi được nạo vét thông thoáng và cải tạo kênhrạch sẽ tăng cường được nhiệm vụ thoát nước và phát triển giao thông vận tải đường thủy

Ngoài ra, trên kênh Tàu Hủ, kênh Đôi, kênh Tẻ, cửa rạch Bến Nghé khu vực tập trung ghethuyền cũng được nạo vét phuc vụ cho việc cải tạo bến cảng và giao thông thủy

Tổng chiều dài của tuyến cống thoát nước được tính từ cấp 2 đến cấp 4 chia theo 2 cấp quản lý:tuyến cấp 2 và cấp 3 nhận nước mưa/nước thải từ tuyến cống cấp 3 và cấp 4 có đường kính từ

400 mm trở lên do Công ty TNHH MTV Thoát nước đô thị quản lý ước tính có chiều dài khoảng

516 km; tuyến cống cấp 4 do quận quản lý ước tính có chiều dài khoảng 415 km Như vậy tổngcộng có khoảng 931 km đường cống thoát nước, gần 200 cửa xả trên diện tích lãnh thổ khoảng

650 km2 cần phải phục vụ thoát nước (140 km2 nội thành, và 510 km2 khu vực xung quanh nộithành) Mật độ mạng lưới bình quân là 0,143 mét/ha lãnh thổ (số liệu tổng hợp từ Dự ánJICA,1999) Chất lượng cống rất kém do xây dựng từ lâu, hay bị tắc nghẽn, riêng các cống tròn

và cống hộp đa số mới xây dựng nên chất lượng còn khá tốt

Tổng số trên toàn tuyến có 65.106 cái hầm ga Hiện tại, khả năng hoạt động của các hầm ga chỉđạt 70 – 80% Trong năm 1999 đã xây thêm gần 200 hầm ga, làm biển báo cửa xả 122 cái, giảitỏa và nạo vét 65 cửa xả Vấn đề tồn tại nghiêm trọng nhất hiện nay đối với thoát nước đô thị làúng ngập Có khoảng 28% dân số bị ảnh hưởng thường xuyên do bị ngập trong các mùa mưa.Các dự án môi trường: (1) Dự án thoát nước và vệ sinh môi trường (lưu vực Nhiêu Lộc – ThịNghè, do Ngân hàng Thế giới WB cho vay, (2) Dự án cải thiện vệ sinh và nâng cấp đô thị lưu vựcTân Hóa – Lò Gốm, do chính phủ Bỉ tài trợ, (3) Dự án cải thiện vệ sinh môi trường nước lưu vựckênh Tàu Hủ - Bến Nghé, kênh Đôi – Tẻ, do JBIC tài trợ, và (4) Dự án thoát nước Hàng Bàng, doNgân hàng Phát triển Châu Á tài trợ, đang làm thay đổi hệ thống thoát nước của Tp.Hồ Chí Minh

Trang 11

Phần 2: Nội dung chính của tiểu luận

Đánh giá tài nguyên nước và các thách thức chủ yếu trong quản

lý tài nguyên nước tại Thành phố Hồ Chí Minh.

2.1 Nhu cầu dùng nước tại Thành Phố Hồ Chí minh bao gồm các nhu cầu sau:

Nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt

Nhu cầu dùng nước cho sản xuất tiểu thủ công nghiệp

Nhu cầu nước cho các dịch vụ khác: Tưới cây, xây dựng, thương mại, chăn nuôi, du lịch…Nhu cầu dùng nước cho thủy lợi: Tiếu tiêu nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản

Nhu cầu dùng nước cho giao thông thủy

Nhu cầu dùng nước cho sinh hoạt – Sản xuất:

(Nguồn Quy hoạch cấp nước thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 – Được Thủ Tướng Chính Phủ phê duyệt theo quyết định số: 729/QĐ-TTg ngày 19 tháng 6 năm 2012).

Nhu cầu hiện tại tính tới năm 2010: 2.144.861 m3/ng.đ

Nhu cầu hiện tại tính tới năm 2015: 2.840.000 m3/ng.đ

Nhu cầu hiện tại tính tới năm 2025: 3.700.000 m3/ng.đ

Thành phố Hồ Chí Minh đã Quy hoạch cấp nước thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 về nhucầu sử dụng nước và sử dụng nguồn nước cũng như các nhà máy sẽ được xây dựng mới (Xemthông tin tại bảng: 2.1)

Bảng 2.1: Nhu cầu dùng nước của thành phố Hồ Chí Minh các giai đoạn: 2010 – 2015 -2025

TT Nhà máy nước

Công suất (m 3 /ngđ)

Hiện trạng năm 2010

Giai đoạn đến năm 2015

Giai đoạn đến năm 2025

I Nguồn sông Đồng Nai/Hồ Trị An

Trang 12

5 Nhà máy nước Thủ Đức V (năm 2024) 500.000

Tổng công suất 1.150.000 1.450.000 2.250.000

II Nguồn sông Sài Gòn/Hồ Dầu Tiếng

4 Nhà máy nước Kênh Đông I (năm 2012)

+ Cấp cho nội thành

+ Cấp cho Củ Chi

200.000 150.000 50.000

200.000 150.000 50.000

5 Nhà máy nước Kênh Đông II (năm 2015 cấp cho

III Nguồn nước ngầm

Tổng công suất 694.861 440.000 100.000 Tổng cộng công suất toàn thành phố: 2.144.861 2.840.000 3.700.000

2.2 Tài nguyên nước của thành phố Hồ Chí Minh:

Trang 13

Tài nguyên nước Thành Phố Hồ Chí Minh hiện nay có các nguồn sau:

Tài nguyên nước mặt (nước ngọt)

Tài nguyên nước ngầm

Tài nguyên nước mưa

Tài nguyên nước lợ (Nước thủy triểu sâm nhập sâu của biển đông)

Tài nguyên nước thải

2.2.1 - Tài nguyên nước mặt (nước ngọt):

Thành phố Hồ Chí Minh có hệ thống Sông Đồng Nai và Sông Sài Gòn

Sông Ðồng Nai Bắt nguồn từ cao nguyên Lâm Viên, hợp lưu bởi nhiều sông khác, có lưu vựclớn, khoảng 45.000 km² Với lưu lượng bình quân 20–500 m³/s, hàng năm cung cấp 15 tỷ m³nước, sông Đồng Nai trở thành một trong hai nguồn nước ngọt chính của thành phố

Sông Sài Gòn bắt nguồn từ vùng Hớn Quản – Bình Phước, chảy qua Thủ Dầu Một đến Thànhphố Hồ Chí Minh, với chiều dài 200 km và chảy dọc trên địa phận thành phố dài 80 km Sông SàiGòn có lưu lượng trung bình vào khoảng 54 m³/s, bề rộng tại thành phố khoảng 225 m đến 370

m, độ sâu tới 20 m, sông Sài Gòn trở thành một trong hai nguồn nước ngọt chính của thành phố

2.2.1.1 - Lưu vực hệ thống Sông Sài Gòn - Đồng Nai:

Lưu vực hệ thống sông Sông Sài Gòn - Đồng Nai bao gồm 12 tỉnh, thành: Đồng Nai, BìnhDương, Bình Phước, Bà Rịa-Vũng Tàu (BR-VT), Long An, Tây Ninh, Lâm Đồng, Dăk Lăk, DăkNông, Ninh Thuận, Bình Thuận và TP.HCM

Hình 2.1 Lưu vực hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai

Tổng diện tích tự nhiên của lưu vực khoảng 43.450 km2 (không kể phần diện tích thuộc lãnh thổCampuchia) nằm trải ra trên toàn bộ địa giới hành chính của các tỉnh Lâm Đồng, Bình Phước,

Ngày đăng: 17/01/2016, 02:08

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1 Bản đồ vị trí Tp. HCM và các vùng lân cận - Đánh giá tài nguyên nước và các thách thức chủ yếu trong quản lý tài nguyên nước tại địa phương
Hình 1.1 Bản đồ vị trí Tp. HCM và các vùng lân cận (Trang 2)
Bảng 2.1: Nhu cầu dùng nước của thành phố Hồ Chí Minh các giai đoạn: 2010 – 2015 -2025 - Đánh giá tài nguyên nước và các thách thức chủ yếu trong quản lý tài nguyên nước tại địa phương
Bảng 2.1 Nhu cầu dùng nước của thành phố Hồ Chí Minh các giai đoạn: 2010 – 2015 -2025 (Trang 11)
Hình 2.1 Lưu vực hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai - Đánh giá tài nguyên nước và các thách thức chủ yếu trong quản lý tài nguyên nước tại địa phương
Hình 2.1 Lưu vực hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai (Trang 13)
Hình 2.2 Hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai - Đánh giá tài nguyên nước và các thách thức chủ yếu trong quản lý tài nguyên nước tại địa phương
Hình 2.2 Hệ thống sông Sài Gòn – Đồng Nai (Trang 14)
Bảng 2.2: QUY HOẠCH XÂY DỰNG  NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐẾN 2025 QUY HOẠCH XÂY DỰNG  NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐẾN 2025 - Đánh giá tài nguyên nước và các thách thức chủ yếu trong quản lý tài nguyên nước tại địa phương
Bảng 2.2 QUY HOẠCH XÂY DỰNG NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐẾN 2025 QUY HOẠCH XÂY DỰNG NHÀ MÁY XỬ LÝ NƯỚC THẢI ĐẾN 2025 (Trang 22)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w