1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tài liệu ôn thi môn Quản lý tài nguyên nước

20 1,4K 12

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 216,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Về TNN 3dưới đất, tổng lượng sản sinh trung bình hàng năm của các tầng chứa nước là 63tỉ m /năm3, so với thế giới là ở mức dưới trung bình, cả về bình quân theo đầu người lẫn tỉ lệ khai

Trang 1

- Các vấn đề của TNN, và các thách thức lên quản lý TNN

- Nguyên tắc Dublin, Khái niệm về QLTHTNN

- Quản lý THTNN tại LVS: ý nghĩa và vai trò

- Chiến lược quản lý TNN quốc gia đến năm 2020: Quan điểm nguyên tắc chỉ đạo và mục tiêu của chiến lược;

CÂU HỎI 1: Các vấn đề của TNN, và các thách thức lên quản lý TNN

1.Tài nguyên nước

+ Tài nguyên nước là tài nguyên có hạn

Nước là vật chất thiết yếu của sự sống Nơi nào có nước nơi đó có sự sống; nơi nào hiếm nước sự sống phải đấu tranh để sinh tồn Mặc dù nước có ở khắp nơi trên trái đất, từ các đại dương đến sông ngòi, đất

ngập nước, hồ nước ngọt đến nước tồn tại trong khí quyển, nhưng tài nguyên nước (TNN) là có hạn

Trong tổng lượng nước trên trái đất có:

* 97,5% là nước mặn đại dương,

* Chỉ có 2,5% là nước ngọt tồn tại ở các dạng băng, tuyết, nước ngầm, sông ngòi, đầm lầy và hơi nước trong không khí

Trong tổng lượng nước ngọt toàn trái đất

*Nước dưới đất chiếm 30,1%,

* Băng vĩnh cửu 68,7%,

* Nước sinh vật 0,003%,

* Nước trong khí quyển 0,04%;

* Còn lại nước sông, ao, hồ và đầm lầy là loại nước được con người sử dụng quen thuộc nhất chỉ chiếm 0,3%

Với tỉ lệ thấp như vậy TNN ngọt là rất hạn chế

+ Ở Việt Nam

Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có lượng mưa hàng năm bình quân 1.940mm lượng mưa năm như vậy là cao hơn so với các vùng lục địa trên trái đất Việt Nam có 10 sông/hệ thống sông lớn có

lưu vực lớn hơn 10.000km là Hồng - Thái Bình, Kỳ Cùng - Bằng Giang, Mã, Cả, Vũ

Gia - Thu Bồn, Ba, Srê Pok, Sê1 San, Đồng Nai và Cửu Long Tổng lượng dòng chảy

mặt trong năm là 830-840tỉ m3 , với lượng dòng chảy bình quân tính theo đầu người

là 12.680m3/người-năm vào năm 1990, 9.600m3/người-năm vào 2010 (như vậy còn cao hơn mức bình quân thế giới hiện nay là 7.400m3/người-năm); dự báo2 là 6.570 - 7.600m3/người-năm vào năm 2050 (như vậy cũng còn cao hơn mức bình quân thế

giới khi đó là 5.000m3/người-năm);

Tuy nhiên TNN Việt Nam có những hạn chế lớn:

Trang 2

Sự phân bố không đều theo thời gian giữa mùa mưa và mùa khô là nghiêm

trọng, với thiên tai lụt bão xẩy ra thường xuyên hơn đa số các quốc gia Đông Nam Á khác

 Sự phân bố rất không đều theo không gian: có vùng mưa rất lớn, tới 3.000-

5.000mm/năm như Bắc Quang, Hoàng Liên Sơn, Tiên Yên, Móng Cái, Hoành Sơn, Đèo Cả, Bảo Lộc, Phú Quốc; còn vùng ít mưa là Ninh Thuận, Bình Thuận chỉ có 600-700mm/năm

 Hạn chế đặc biệt là vấn đề nguồn nước của Việt Nam đại bộ phận là nguồn

chung của sông liên quốc gia Trong số 10 sông/hệ thống sông lớn kể trên, trừ Vũ Gia - Thu Bồn và Ba tương đối nhỏ hơn, còn lại đều là sông liên quốc gia, trong đó vị trí của Việt Nam chủ yếu là hạ lưu Tổng lượng dòng chảy năm tuy lớn nhưng dòng chảy nội sinh chỉ chiếm 37%, còn từ nước ngoài chảy vào 63%

Có nghĩa là sự sử dụng nước của Việt Nam ở hạ lưu là bị động với thượng lưu Riêng sông Cửu Long, 90% nguồn nước là từ thượng lưu chảy xuống Từ đó, nếu chỉ tính nguồn nước nội sinh thì năm 2010 lượng dòng chảy bình quân tính theo đầu người chỉ là 3.585m3/người (thấp hơn mức bình quân thế giới hiện nay là 7.400m3/người-năm); dự báo đến 2050, chỉ là 2.450 - 2.840m3/người-năm (thấp hơn nhiều so với bình quân thế giới khi đó khoảng 5.000m3/người-năm)

Về TNN 3dưới đất, tổng lượng sản sinh trung bình hàng năm của các tầng chứa nước

là 63tỉ m /năm3, so với thế giới là ở mức dưới trung bình, cả về bình quân theo đầu

người lẫn tỉ lệ khai thác Vùng có tầng chứa nước dồi dào là đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ; còn tại các vùng núi Tây Bắc, Đông Bắc và duyên hải miền Trung, TNN dưới đất là hạn chế Hiện nay đang khai thác khoảng 5% tổng trữ lượng

Trữ năng kỹ thuật thủy điện của Việt Nam là 19.000 - 21.000MW4 Theo kế hoạch của Tập đoàn Điện lực EVN đến 2025, sẽ khai thác được 84% trữ năng kỹ thuật

2.Các áp lực lên tài nguyên nước

Tác động của biến đổi khí hậu lên TNN biểu hiện chủ yếu dưới hai dạng: nước biển dâng và tính chất gay gắt đến cực đoạn của thiên tai, kể cả lũ, bão, hạn, kiệt Thực tế thì biến đổi khí hậu đã và đang tác động lên TNN, thể hiện rõ ràng nhất ở thiên tai xảy ra dồn dập trên khắp thế giới trong mười năm qua: lũ lụt ngập 2/3 lãnh thổ Bangladesh năm 2004, lũ lớn sông Trường Giang Trung Quốc năm 2010 mà hồ chứa

khổng lồ Tam Hiệp không cắt lũ được như mong đợi; đặc biệt sông Chao Phraya ở

Thái Lan, một con sông đã trở nên hiền hòa từ vài chục năm nay nhờ các hồ chứa lớn điều tiết hoàn toàn dòng chảy, bỗng năm 2011 xẩy ra lũ lớn kết hợp triều cường trong tình thế quản lý TNN quốc gia bị động đã gây ra lụt thảm họa quốc gia trong nhiều tháng liền Sông Mekong 10 năm khô hạn, người ta lội sang sông ngang Vientiane, lũ nhỏ đến mức đồng bằng Cửu Long ngao ngán chờ nước nổi, nhưng đến năm 2011 này, lũ lớn bất ngờ vượt mức lịch sử năm 2000 Không phải chỉ có lũ, mà hạn cũng rất khắc nghiệt Lưu vực sông Senegal ở Tây Phi ngày nay có tổng lượng dòng chảy chỉ còn 1/4 so với thập niên 1950s, trong khi dân số tăng 30% Cũng có nghĩa lượng nước tính theo đầu người ngày nay ở Senegal chỉ còn 1/6 so với 60 năm trước

Việt Nam

Trang 3

Việt Nam đã chứng kiến những hiện tượng thiên nhiên bất thường: tháng 11-2008 Hà

Nội có đợt mưa lịch sử, lượng mưa ba ngày quan trắc được ở trạm Láng là 563mm, Hà Đông 813mm, thành phố ngập lụt mấy ngày; Sapa chưa bao giờ có tuyết vào

tháng 3, nhưng ngày 21-3-2011 bất ngờ tuyết rơi dày đặc…

Việt Nam được Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo là một trong 5 quốc gia trên thế giới sẽ bị tác động

nghiêm trọng nhất của nước biển dâng Các kịch bản dự báo quốc gia công bố năm 2009 cho thấy vào giữa thế

kỷ 21, mực nước biển có thể dâng thêm 30cm, và đến cuối thế kỷ 21 có thể dâng thêm 75cm so với thời kỳ

1980 - 1999, đe dọa trực tiếp các châu thổ, nhất là đồng bằng sông Cửu Long

Năm 2007, Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu Năm 2011,

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) là ngành đầu tiên có Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu giai đoạn 2011- 2015 và tầm nhìn đến 2050

+Áp lực về nước do gia tăng dân số

Thế giới

Trong thế kỷ 20, dân số thế giới tăng khoảng 3 lần và đạt 7tỉ ngày 31-10-2011, kéo

theo tăng lượng nước khai thác sử dụng khoảng 7 lần Ước tính có khoảng 1/3 dân số

Việt Nam

Dân số Việt Nam trong 35 năm qua từ khi thống nhất đất nước đến nay, đã tăng gần 3 lần; dân số năm 2010 là 86,9 triệu người Tổng Cục Thống kê dự báo năm 2019 dân số sẽ đạt 93,5 triệu người Việt Nam hiện nay là quốc gia đông dân thứ 2 ở Đông Nam Á và thứ 13 trên thế giới

+Tài nguyên nước dưới áp lực của phát triển

Dân số gia tăng, kinh tế tăng trưởng và nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống đã dẫn tới cạnh tranh và xung đột về nguồn nước ngọt có hạn Tập hợp các yếu tố như bất công trong xã hội, phân hoá kinh tế, thiếu những chương trình hiệu quả về xoá đói giảm nghèo đã khiến cho người nghèo tiếp tục khai phá quá mức tài nguyên đất và rừng, hậu quả thấy rõ là tác động tiêu cực đến TNN

Việt Nam

Việt Nam là quốc gia nông nghiệp lúa nước, có dân số lớn nhưng diện tích canh tác

lại ít, vì vậy từ nửa thế kỷ nay đã phát triển theo hướng thâm canh lúa tăng vụ Đông Xuân nghĩa là có yêu cầu cao về nước tưới bằng công trình và chịu áp lực lớn về nguồn nước trong mùa khô Việc khai thác TNN vì mục đích thủy lợi nông nghiệp nay đã cơ bản hoàn thành, các châu thổ và cánh đồng lúa đều có công trình tưới tiêu Tuy nhiên việc hoàn chỉnh, nâng cấp các hệ thống thủy lợi còn là sự nghiệp rất lớn, chưa nói đến yêu cầu hiện đại hóa Các nhà tài trợ quốc tế từ nhiều năm qua đã tập trung hỗ trợ ngành thủy lợi theo hướng này Khai thác các hệ thống thủy lợi đang mở rộng hướng phục vụ sang đa dạng hóa cây trồng, chăn nuôi, ngư nghiệp và thủy lợi nhỏ tại các thung lũng phân tán

Nguồn thủy điện các dòng sông lớn và vừa đã và đang khai thác mạnh mẽ và sẽ cơ bản hoàn thành

Trang 4

khoảng 2025 Hồ chứa thủy điện đều ít nhiều có điều tiết dòng chảy với khả năng tiềm tàng đem lại hiệu ích

đa mục tiêu, tuy nhiên thủy điện lại vận hành chủ yếu là đơn mục tiêu Các tác động tiêu cực về môi trường và

xã hội do khai thác thủy điện gây ra cũng để lại nhiều hậu quả kéo dài trên các lưu vực sông

Mức độ khai thác có điều tiết dòng chảy bằng hồ chứa (được tính bằng tỉ lệ dung tích có ích của hồ trên tổng lượng dòng chảy) nay đạt 4,5% trên phạm vi toàn quốc Nếu không kể phần lưu vực sông Cửu long (là địa bàn có tổng lượng dòng chảy lớn nhưng không thể làm hồ chứa) thì tỉ lệ này là 11,5% Các tỉ lệ này là thấp so với mức độ

khai thác ở một số quốc gia khác (Thái Lan đạt mức khai thác bằng hồ chứa là 29%,

cao nhất Đông Nam Á; Australia đạt 30% và tự đánh giá là đã khai thác quá mức) Mức độ khai thác dòng chảy mùa khô ở Việt Nam đã đạt mức cao, ở một vài lưu vực là rất cao như lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn 75%, lưu vực sông Mã - Chu 80%

Tuy nhiên cần thấy là ở Việt Nam nơi nào có thể làm hồ chứa thì đều đã xây dựng hoặc có kế hoạch xây dựng cả rồi Đặc biệt trên các sông lớn, đại bộ phận dòng chính đã khai thác khá triệt để (Đà, Gâm, Chu, Cả,

Vũ Gia - Thu Bồn, Ba, Đồng Nai, Se San, Sre Pok) Các dòng chính sông lớn còn lại tuy có lượng dòng chảy lớn, thậm chí rất lớn, nhưng không có điều kiện địa hình thích hợp, thậm chí không thể làm hồ chứa, như dòng chính sông Thao, Lô, Mã, Tiền, Hậu Như vậy phương hướng tăng tỉ lệ khai thác TNN bằng hồ chứa không còn mấy khả thi nữa Trước yêu cầu dùng nước tăng lên, sẽ giải quyết nguồn nước bằng cách nào? Đây là vấn đề lớn của chiến lược TNN quốc gia mà chưa có kế hoạch nào nghiên cứu Từ đó càng thấy rõ trong quản lý TNN cần đặc biệt coi trọng quản lý yêu cầu sử dụng nước, trong tính toán cân bằng nước từng lưu vực, cần thận trọng với các biện pháp tiếp tục khai thác nước mùa khô; ngoài ra cần xem xét các biện pháp lâu nay chưa chú ý hoặc chưa chú ý đúng mức như đưa lượng nước hồi qui vào cân bằng, khuyến khích sử dụng nước hợp lý (hiệu suất hệ thống thủy lợi chỉ đạt 50-60%; hệ thống cấp nước đô thị Hà Nội

và tpHCM là nơi có hệ thống nước cũ đã lâu năm, năm 2010 vẫn thất thoát 35-40%)

+ Tác động của ô nhiễm nước

Ô nhiễm nước liên quan chặt chẽ đến các hoạt động của con người Nước có chức năng phục vụ nhu cầu6

cơ bản của đời sống sinh vật và đáp ứng yêu cầu7 của sản xuất công nghiệp, ngoài ra, nước còn là nơi lắng đọng và truyền tải chất thải từ sinh hoạt, từ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp vốn là nguồn gây ô nhiễm nước Nguồn nước ô nhiễm đang ảnh hưởng đến khả năng sử dụng nước ở hạ lưu, đe dọa sức khoẻ con người, cản trở chức năng các hệ sinh thái thủy sinh Ô nhiễm nước khiến cho nước tuy có tại nguồn mà không dùng được, điều đó làm tăng cạnh tranh nguồn nước có chất lượng tốt

Việt Nam

Tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và nhiều đô thị lớn khác, nước thải công nghiệp,

nước thải bệnh viện và nước thải sinh hoạt đều tiêu thoát chung một hệ thống và trực tiếp đổ ra các nguồn nước mà không qua xử lý (cơ sở xử lý nước thải tập trung của thành phố còn đang xây dựng) Đô thị nước ta không tách hệ thống nước thải khỏi hệ thống thoát nước mưa, vì vậy xử lý nước thải đô thị thêm khó khăn

Trang 5

Các khu công nghiệp độc lập khi lập dự án xin phép đầu tư, phần lớn hồ sơ đều có dây chuyền xử lý nước thải theo qui định, nhưng sau đó hoặc không xây dựng, hoặc không vận hành, hoặc vận hành nửa vời Lãnh thổ quốc gia chỉ có 25% là đất bằng, lại chia ra 63 đơn vị hành chính nên diện tích là tương đối nhỏ, trên đó đơn vị hành chính nào cũng ra sức đẩy mục tiêu GDP công nghiệp lên, khiến cho công nghiệp hóa và đô thị hóa diễn ra tùy nghi và tràn lan ở mọi địa bàn, hậu quả là các biện pháp xử lý nước thải công nghiệp và đô thị vốn rất đắt giá càng trở nên khó khả thi Tình hình ô nhiễm nước công nghiệp và đô thị ngày một nghiêm trọng

là tác nhân chính gây suy thoái TNN Các đô thị trên lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn, Nhuệ - Đáy và Cầu

là những nơi ô nhiễm nước nghiêm trọng nhất

Ô nhiễm nước nông thôn - vốn dĩ là ô nhiễm phân tán do hóa chất nông nghiệp dư thừa - đã khó kiểm soát, trong những năm gần đây thêm hiện tượng ô nhiễm nước và rác thải làng nghề, càng trở nên trầm trọng hơn Cấp nước sinh hoạt nông thôn có nhiều tiến bộ nhưng vệ sinh môi trường nông thôn còn là vấn nạn lâu dài

+Khủng hoảng về quản trị ngành Nước

Những vấn đề Nước nói trên trở nên trầm trọng hơn do quản trị ngành Nước bất cập Nói quản trị ngành Nước (water governance) là nói về các hệ thống chính trị, hành chính, kinh tế và xã hội có tác động tới quản

lý TNN và dịch vụ nước, rộng hơn trách nhiệm chuyên môn về quản lý TNN (water resources management) Năm 2000, Hội đồng Nước Thế giới (World Water Council) lần đầu tiên đưa ra nhận định "thế giới đang khủng hoảng nước, không phải do có quá ít nước không đảm bảo được nhu cầu của chúng ta, mà là cuộc khủng hoảng về quản trị ngành Nước, đã quá kém đến mức con người và môi trường bị ảnh hưởng trầm trọng" Nhận định này tác động mạnh vào nhận thức con người, rằng quản trị ngành Nước bất cập là nguyên nhân chủ yếu

của khủng hoảng nước hiện đại Quản trị ngành Nước bất cập bao gồm:

 Nhận thức về Nước và mức ưu tiên dành cho Nước ở cấp chính trị là hạn chế

 Quản lý TNN kém hiệu quả, khai thác sử dụng thì cục bộ theo từng ngành sử

dụng trong khi TNN về bản chất có hiệu ích đa mục tiêu;

 Tiếp cận chủ yếu từ trên xuống trong khi TNN là vấn đề của địa bàn gắn với

cuộc sống con người; chính quyền địa phương thiếu năng lực quản lý TNN

 Cơ cấu định giá nước không đủ trang trải chi phí vận hành bảo dưỡng, phân

phối nước không hợp lý, tỉ lệ thất thoát nước cao

 Đầu tư cho ngành Nước còn thấp, trong đó mới đầu tư cho khai thác sử dụng,

chưa đầu tư tương xứng cho quản lý và bảo vệ tài nguyên và môi trường

 Thiếu dữ liệu và thông tin kịp thời phục vụ quản lý TNN

 Thiếu tiêu chí kinh tế xã hội môi trường để phục vụ xét duyệt chính sách, qui

hoạch và dự án TNN

3.Các thách thức chính trong quản lý tài nguyên nước

Các vấn đề nước đương đại nói trên đã nảy sinh rõ rệt sau Thế chiến II, khi kinh tế thế giới phát triển bùng

nổ và TNN được khai thác qui mô lớn, cả ở các quốc gia Âu - Mỹ thời hậu chiến, cả ở các quốc gia Á - Phi thời hậu thuộc địa Đó cũng là thời kỳ kỹ thuật xây dựng công trình thủy lực tiến triển mạnh Nhưng đồng thời, các vấn đề về nước đã nảy sinh và ngày một trầm trọng Thế giới nhận thức ra không thể tiếp tục cách

Trang 6

ứng xử với TNN như trước được nữa Cách tiếp cận truyền thống lấy công trình làm trung tâm đã tỏ ra không giải quyết được các thách thức về TNN đương đại Các

thách thức đó bao gồm:

+ An ninh nước cho con người

Mặc dù hầu hết các quốc gia đặt ưu tiên cao nhất cho thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người về nước, song ngày nay 1/5 dân số thế giới vẫn không có nước sạch để ăn uống và 1/2 dân số thế giới không có được phương tiện vệ sinh thích hợp Tình trạng này tác động đến sức khỏe con người, trước hết đến bộ phận người nghèo nhất ở các quốc gia đang phát triển Ở đó, cấp nước và vệ sinh đô thị và nông thôn vẫn là một trong những thách thức nghiêm trọng nhất trong những năm tới

Việt Nam

Cấp nước và vệ sinh là một trong các mục tiêu thiên niên kỷ MDG của Việt Nam

Đến năm 2010, mục tiêu về cấp nước đô thị và nông thôn đều 10ạt, nhưng mục tiêu về đ

vệ sinh cả đô thị lẫn nông thôn đều chưa đạt Cấp nước đô thị theo tiêu chuẩn nước

sạch của Bộ 11 tế đạt gần 85% số dân, với mức 120-150lít/người-ngày tại đô thị lớn Y

Ở nông thôn cấp nước theo tiêu chuẩn nước sạch của Bộ Y tế đạt 42% số dân với mức 60lít/người-ngày, phương tiện vệ sinh đạt 60% hộ gia đình, và 45% chuồng trại

+ An ninh nước cho lương thực

Trong khoảng 25 năm tới, thế giới cần có lương thực cho thêm 2-3 tỉ người nữa Khan hiếm nước là trở ngại then chốt đối với sản xuất lương thực, ít nhất cũng ngang bằng nếu không muốn nói là then chốt hơn khan hiếm đất Hơn nữa, suy thoái nước kéo theo suy thoái đất Nông nghiệp có tưới hiện đang tiêu thụ 70% lượng nước khai thác (tức hơn 90% lượng nước sử dụng tiêu hao) Ngay cả khi dự đoán yêu cầu nước tưới tăng thêm chỉ là 15 - 20% trong vòng 25 năm tới, thì đã có thể xẩy ra mâu thuẫn trầm trọng giữa yêu cầu nước cho nông nghiệp với nước cho các yêu cầu khác Sẽ càng khó khăn đối với những quốc gia nghèo TNN mà vẫn phải cố gắng tự túc lương thực, bởi vì muốn đạt an ninh lương thực bằng cách khác, ví dụ thông qua thương mại, lại có những khó khăn rủi ro khác Bằng cách nhập khẩu lương thực, nhất là gạo, các quốc gia đó thực tế đã nhập khẩu nước từ những vùng có nguồn nước dồi dào hơn Cũng như thế, trên một ý nghĩa nào

đó, các quốc gia xuất khẩu gạo chẳng khác nào xuất khẩu TNN quí giá và có hạn của mình với giá rẻ bèo

Việt Nam

Sau khi đổi mới chính sách kinh tế trong thập niên 1980, Việt Nam trở lại là quốc gia xuất khẩu gạo sau gần nửa thế kỷ đứt quãng Trong hai thập niên qua, Việt Nam ngày càng củng cố vị trí quốc gia đứng thứ nhì về xuất khẩu gạo trên thế giới Nguồn gạo xuất khẩu chủ yếu từ đồng bằng Cửu Long Nhờ biện pháp thủy lợi và giống lúa cùng những biện pháp khác mà Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long Xuyên đã chuyển từ hệ sinh thái một vụ lúa nổi năng suất 1,2T/ha thành hệ sinh thái lúa thâm canh 2-3 vụ với năng suất 15-18T/năm

Trang 7

Vào những năm đầu của thời kỳ đổi mới, người ta phê phán xu hướng độc canh cây lúa và vận động cho đa dạng hóa cây trồng Ngày nay trước tình hình diện tích trồng lúa đang thu hẹp có thể có nguy cơ cho an ninh lương thực quốc gia, kỳ họp Quốc Hội tháng 11-2011 đã thông qua qui hoạch sử dụng đất đến năm 2020, với chỉ tiêu giữ đất trồng lúa từ 3.950 ngàn ha hiện nay sẽ còn được 3.810 ngàn ha vào năm 2020

+ Lựa chọn các hoạt động phát triển

Hoạt động của con người đều cần sử dụng nước và đều sản sinh ra chất thải; một số

công việc đòi hỏi nhiều nước hơn và sinh ra nhiều chất thải hơn những công việc khác Nếu trong các chiến lược phát triển kinh tế xã hội và trong sự lựa chọn công nghệ sản xuất mà yếu tố nước được xem xét như một đầu vào đắt giá, đặc biệt ở nơi khan hiếm nước, thì sẽ giảm bớt nguy cơ suy thoái cho TNN

Việt Nam

Dự án bauxit Tây Nguyên là một trong những dự án khai khoáng - công nghiêp lớn

mà xã hội hết sức quan tâm đến cách lựa chọn công nghệ sản xuất và công nghệ xử lý chất thải, cũng như quan tâm đến nguy cơ gây suy thoái đất và nước vùng dự án và vùng hạ lưu dự án

+ Bảo vệ các hệ sinh thái thiết yếu

Hệ sinh thái cạn ở đầu nguồn lưu vực sông có vai trò quan trọng đối với khả năng lưu trữ nước mưa, bổ sung nước dưới đất và điều hòa chế độ dòng chảy sông ngòi Hệ sinh thái cạn và hệ sinh thái nước, ngoài vai trò cân bằng tự nhiên, còn tạo ra một loạt lợi ích kinh tế như gỗ củi, cây thuốc, nơi sinh sống cho động vật hoang

dã, địa bàn sản xuất nông ngư nghiệp v.v Hệ sinh thái phụ thuộc lượng dòng chảy, biến động theo mùa và dao động mực nước, với chất lượng nước là yếu tố cơ bản Quản lý tài nguyên đất và nước phải đảm bảo duy trì hệ sinh thái thiết yếu, xem xét và cải thiện các tác động bất lợi đối với các tài nguyên khác trước khi có quyết định

Việt Nam

Từ khi tiếp nhận quan điểm QLTH-TNN thì các nghiên cứu chính sách, chiến lược,

qui hoạch và cân bằng nước trên lưu vực sông đã từng bước thay đổi nhận thức và coi hệ sinh thái chính là một

hộ sử dụng nước cần được phân bổ TNN Đến nay, dự thảo luật TNN sửa đổi đã đưa vấn đề nhu cầu nước cho

hệ sinh thái vào luật

+ Ứng phó với thiên tai và quản lý rủi ro

Trên thế giới hầu hết các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới đều đặc trưng bởi chế độ mưa biến đổi dữ dội theo mùa và năm và tác động tổ hợp của những biến đổi bất thường Những biến động như vậy làm gia tăng yêu cầu phát triển hạ tầng, đòi hỏi quản lý yêu cầu dùng nước và cấp nước Thách thức về quản lý sự biến động này là lớn nhất đối với các quốc gia nghèo do thiếu nguồn tài chính và nhân lực Tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu càng làm gia tăng các thách thức

Ngày nay trong quản lý thiên tai, các biện pháp phi công trình rất được quan tâm:

cảnh báo, dự báo, biện pháp chủ động ứng phó và khắc phục hậu quả Tuy nhiên cho tới nay, các ngành khai thác sử dụng nước còn ít chú ý đánh giá một cách hệ thống các chi phí và lợi ích của chủ động giảm thiểu rủi

ro

Trang 8

Việt Nam

Việt Nam được đánh giá là quốc gia quản lý thiên tai có kinh nghiệm và có kết quả,

Tuy vậy, trong khai thác sử dụng TNN, chưa nhận thức được yêu cầu về quản lý rủi ro

+ Nâng cao nhận thức và hiểu biết của công chúng

Nhận thức của công chúng là một yếu tố hỗ trợ hiệu quả cho quản lý nước bền vững và thuyết phục thay đổi hành vi trong sử dụng nước, cũng như tạo sức ép thúc đẩy ý chí chính trị quốc gia Bài học về phong trào môi trường xanh (go green) là một ví dụ có ý nghĩa Thực vậy, trong một thế giới mà các nguồn lực, nguồn tài nguyên cũng như nguồn tài chính đều khan hiếm, khi mà quản trị ngành Nước yếu kém là nguyên nhân chủ yếu của khủng hoảng nước, thì chỉ có sự quan tâm và cam kết của các nhà chính trị mới bảo đảm quyết sách đúng đắn và có đầu tư cần thiết trong phát triển và quản lý TNN Vấn đề nước cần được đứng đầu trong

chương trình nghị sự cấp chính trị cao nhất của các quốc gia

Việt Nam

Vấn đề TNN ở Việt Nam ngày càng được nhà nước coi trọng, tuy vậy chưa đến mức như cần phải thế Sự tham gia chủ động của công chúng chính là điều cần ủng hộ và khuyến khích Trên thực tế, đa số trường hợp các hoạt động khai thác sử dụng nước gây tác động tiêu cực đến cuộc sống người dân, là do người dân và công luận phát giác, cuối cùng chính quyền mới đứng ra xử lý

+ Đảm bảo hợp tác liên ngành và hợp tác xuyên biên giới

Phương pháp tiếp cận truyền thống trong quản trị ngành Nước là phân tán theo ngành khai thác sử dụng nước,

vì thế các cơ quan quản lý nhà nước hóa thành đại diện cho những lợi ích mâu thuẫn nhau Hậu quả là nguồn lực tài chính và vật chất (bao gồm nước) không được sử dụng để tối đa hoá phúc lợi xã hội Cần có cách phối hợp liên ngành ở cấp hoạch định chính sách, quy hoạch và tổ chức thực hiện, vượt khỏi các giới hạn về thể chế và chuyên môn Càng cần tiếp cận như vậy khi giải quyết những vấn đề phức tạp hơn trong quản lý các con sông liên quốc gia

Việt Nam

Việt Nam là thành viên của Ủy Hội sông Mekong và đóng góp với thiện chí bền bỉ

cho sự hợp tác và hội nhập khu vưc đó Chính là thông qua chương trình hợp tác Mekong mà ý thức và hoạt động hợp tác liên ngành trong nước được xây dựng và tăng cường Việt Nam từng đưa ra các sáng kiến hợp tác về sông Hồng và chắc là còn phải kiên trì và tìm kiếm sáng kiến mới và nỗ lực mới

+ Quản lý tổng hợp tài nguyên nước là cách tiếp cận để ứng xử với thách thức

- Quá trình hình thành quan điểm quản lý tổng hợp tài nguyên nước

Trước các thách thức nói trên về TNN và môi trường, thế giới đã có hàng loạt hành động phối hợp qui mô toàn cầu Trong hơn ba mươi năm, Nước đã đi từ con số 0 bước lên vị trí hàng đầu trong các vấn đề sống còn của loài người

Các mốc quan trọng nhất là:

 Năm 1977, Liên Hiệp Quốc triệu tập Hội nghị quốc tế đầu tiên về Tài nguyên

Nước, họp tại Mar Del Plata (Argentina)

 Năm 1987, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua quan điểm Phát triển Bền

vững là mục tiêu chung của loài người

 Tháng 1-1992, Hội nghị quốc tế về Nước và Môi trường, họp tại Dublin

Trang 9

(Ireland) đã thông qua 4 nguyên tắc Dublin về Nước và Phát triển Bền vững

 Tháng 6-1992, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Môi trường và Phát triển,

họp tại Rio de Janeiro (Brazil) đã thông qua Agenda 21 về các giải pháp phát triển bền vững, trong

đó có Chương 18 về Nước phản ánh các nguyên tắc Dublin

 Năm 2000, Diễn đàn Nước thế giới lần thứ 2 về An ninh Nước thế kỷ 21, họp

tại The Hague (Hà Lan) đã công bố quan điểm Quản lý Tổng hợp Tài nguyên Nước (QLTH-TNN)

được xây dựng trên cơ sở 4 nguyên tắc Dublin với mục tiêu phát triển bền vững

 Năm 2002, Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển Bền vững, họp tại

Johannesburg (Nam Phi) đã nhấn mạnh ý nghĩa chiến lược của QLTH-TNN và kết luận 5 ưu tiên hàng

đầu trong phát triển bền vững, đó là Nước và Vệ sinh,

Năng lượng, Sức khoẻ, Nông nghiệp, Đa dạng sinh học và Hệ Sinh thái

(WEHAB)12

 Năm 2010, Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết thừa nhận tiếp

cận nước sạch và vệ sinh là một quyền của con người

 Hiện nay trong bối cảnh biến đổi khí hậu tác động ngày một rõ rệt, trong đó

TNN vừa là biểu hiện đầu tiên vừa là giải pháp thích ứng phổ quát, sự chuẩn bị cho Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới sẽ họp tại Johannesburg tháng 6-2012 càng đẩy mạnh vị trí ưu tiên của Nước

- Quan điểm quản lý tổng hợp tài nguyên nước được chấp nhận rộng rãi

Từ khi được công bố tại Diễn đàn Nước Thế giới lần thứ hai The Hague năm 2000,

quan điểm QLTH-TNN dần được thực hành trên khắp thế giới với ý nghĩa đó là:

Một uá trì nh để quản lý tài nguyên nước ngày một hiệu lực hơn vì mục tiêu phát triển bền vững;

Mộtq uan điểm bao trùm từ trách nhiệm nhà nước đến trách nhiệm các tổ chức và cộng đồng khai

thác sử dụng hiệu quả tài nguyên nước;

Một cách tiếp cận vận dụng hài hòa các dạng thể chế quản lý tài nguyên và dịch vụ nước trong

ngành Nước

Cùng với định nghĩa đầy đủ luôn luôn là chương trình hành động để từng bước đưa QLTH-TNN vào thực tiễn QLTH-TNN đã được cụ thể hóa thành các hoạt động vận động quốc tế phong phú tại các Diễn đàn Nước Thế giới ba năm họp một lần, các Ngày nước thế giới hàng năm và nhiều dạng hoạt động định kỳ khác cấp khu vực Các quốc gia đã hợp tác và lần lượt tiếp nhận đưa QLTH-TNN vào cuộc sống theo thực tế mỗi quốc gia Tại Đông Nam Á, một số kết quả 10 năm thực hiện QLTH-TNN tóm tắt như sau:

 Về chính sách TNN, hầu hết 9 quốc gia Đông Nam Á14 đều xây dựng chính sách TNN quốc gia theo quan điểm QLTH-TNN, hoặc bổ sung chính sách đã có để phù hợp QLTH-TNN

 Về luật TNN, có 5 quốc gia là Cambodia, Indonesia, Lào, Philippines, Việt Nam có luật TNN xây dựng phù hợp ở mức độ khác nhau với quan điểm QLTH-TNN Các quốc gia khác đang xây dựng

CÂU HỎI 2: Nguyên tắc Dublin, khái niệm về QLTHTNN

+ Các nguyên tắc Dublin được phát biểu như sau:

Trang 10

- Nước ngọt là tài nguyên có hạn và dễ bị tổn thương, thiết yếu đối với cuộc

sống, sự phát triển và môi trường

- Phát triển và quản lý TNN cần dựa vào sự tham gia của mọi thành phần, người

dùng nước, người lập qui hoạch-kế hoạch và người hoạch định chính sách ở

mọi cấp

- Phụ nữ đóng vai trò trung tâm trong việc dự trữ, quản lý và bảo vệ nước

- Nước có giá trị kinh tế trong mọi sử dụng cạnh tranh và cần được thừa nhận là

một hàng hoá kinh tế

Nguyên tắc 1: Nước là tài nguyên có hạn và dễ bị tổn thương, thiết yếu đối với cuộc sống, sự phát triển

và môi trường

Một phương pháp tiếp cận toàn cục

Nguyên tắc 1 nêu ra sự cần thiết phải tiếp cận toàn cục trong quản lý, đó là nhận thức

rõ mọi đặc điểm của chu trình thuỷ văn trong mối tương tác đối với các tài nguyên thiên nhiên và các hệ sinh thái khác Nguyên tắc này cũng nhấn mạnh nước là cần thiết cho nhiều mục đích, nhiều chức năng và dịch vụ khác nhau Vì vậy, thực hiện quản lý toàn cục nghĩa là xem xét và xử lý các yêu cầu đặt ra với TNN cũng như những nguy cơ đe doạ nó

Tài nguyên nước có những giới hạn tự nhiên

Cần nhận thức rõ nước ngọt là tài nguyên có hạn vì chu trình thuỷ văn trung bình diễn

ra với lượng nước cố định theo chu kỳ thời gian Tổng lượng nước nói chung là cố định, không có thay đổi đáng kể bởi hoạt động của con người (ngọt hóa nước biển có qui mô rất hạn chế) Nguồn nước ngọt có thể coi như một tài sản cố đinh tự nhiên, cần được duy trì để đảm bảo lợi ích bền vững

Tác động của hoạt động con người

Con người có ảnh hưởng rõ ràng đến năng lực của nguồn nước Con người làm giảm

lượng nước và chất lượng nước bằng các hoạt động như khai thác nước dưới đất, làm ô nhiễm nước mặt và nước dưới đất, thay đổi phương thức sử dụng đất (phá rừng, đô thị hoá) dẫn đến biến đổi chế độ dòng chảy mặt Tuy nhiên, con người cũng có những tác động tích cực như điều tiết dòng chảy theo thời gian và không gian Khi nước được sử dụng dưới hình thức không tiêu hao và có dòng hồi qui, cần có kế hoạch tái sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả và lợi ích dòng chảy Cũng cần nhận thấy giá trị hoặc phúc lợi từ công trình khai thác TNN có thể tăng giảm theo phương cách sử dụng chúng

Quan hệ trong sử dụng nước giữa thượng lưu và hạ lưu

Tác động của hoạt động con người cho thấy cần phải nhận thức được mối quan hệ

giữa người sử dụng nước ở thượng lưu và hạ lưu Người sử dụng nước ở thượng lưu phải thấy được yêu cầu chính đáng của người sử dụng nước ở hạ lưu để chia sẻ TNN sẵn có và để sử dụng lâu dài Tiêu thụ nước quá mức và làm ô nhiễm nước ở thượng lưu là vi phạm quyền sử dụng nước chính đáng của người ở hạ lưu đối với tài nguyên chung Để điều hoà các nhu cầu giữa người sử dụng nước ở thượng lưu và hạ lưu, cần đối thoại

Ngày đăng: 17/01/2016, 02:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w