Trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế nước ta hiện nay, dịch vụ công đượcchia làm hai loại cơ bản sau: - Một là loại dịch vụ có tính chất công cộng phục vụ các nhu cầu chung, tốicần thi
Trang 1HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
BÀI TIỂU LUẬN MÔN: DỊCH VỤ CÔNG
Đề tài:
CUNG ỨNG DỊCH VỤ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG – THỰC TRẠNG,
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP
Hà Nội, ngày 20 tháng 09 năm 2012
Trang 2Lời cảm ơn!
Trước khi đi vào vấn đề nhóm chúng tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Thạc sĩ Nguyễn Tuấn Minh, giảng viên môn Dịch vụ công, khoa Hành chính học, Học viện Hành chính cùng các bạn trong lớp đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trình tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu để hoàn thành bài tiểu luận này
Do có sự giới hạn trong khuôn khổ của một bài tiểu luận nên có thể có
những vấn đề mà nhóm chúng tôi chưa thể nói sâu và chưa bàn đến vì vậy nhóm rất mong nhận được sự thông cảm của bạn đọc và giảng viên Hi vọng rằng bài tiểu luận này đã mang lại cho mọi người nhiều kiến thức bổ ích
Rất mong nhận được đóng góp, nhận xét của mọi người để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
TẬP THỂ NHÓM
Trang 3Mục lục:
Chương I: cơ sở lý luận về dịch vụ công cộng
I. Dịch vụ công cộng 3
1. Khái niệm 3
2. Đặc điểm của dịch vụ công cộng 4
3. Phân loại dịch vụ công cộng 5
4. Vai trò của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công cộng 6
II. Dịch vụ vệ sinh môi trường 7
1 Sự cần thiết phải cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường 7
2 Đặc trưng của dịch vụ vệ sinh môi trường 8
3 Chủ thể cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường 9
4 Nội dung cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường 10
5 Kinh nghiệm quốc tế trong cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường .15 Chương II: Thực trạng cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường ở Việt Nam hiện nay 1 Khái quát về môi trường ở Việt Nam 21
2 Thực trạng cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường 21
3 Đánh giá việc cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường ở Việt Nam 29
Chương III: Một số giải pháp nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường ở Việt Nam 1 Một số định hướng chung 34
2 Một số giải pháp cụ thể 35
Danh mục tài liệu tham khảo 38
Danh sách nhóm 39
Bảng phân công công việc nhóm 39
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG CỘNG
I DỊCH VỤ CÔNG CỘNG
1 Khái niệm
Dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cungcấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu.Hoạt động dịch vụ mang tính phục vụ chuyên nghiệp nhằm đáp ứng nhu cầu củacon người và xã hội Dịch vụ vó thể gắn liền hay không gắn liền với một sảnphẩm vất chất
“Dịch vụ công là những hoạt động của các tổ chức nhà nước hoặc của cácdoanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước ủy quyền để thực hiệnnhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ trực tiếp những nhu cầu thiết yếuchung của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi; đảm bảo sự côngbằng và ổn định xã hội” (TS Chu Văn Thành, Dịch vụ công và xã hội hóa dịch
vụ công - một số vấn đề lý luận và thực tiễn, trang15)
Trong điều kiện cụ thể của nền kinh tế nước ta hiện nay, dịch vụ công đượcchia làm hai loại cơ bản sau:
- Một là loại dịch vụ có tính chất công cộng phục vụ các nhu cầu chung, tốicần thiết của cả cộng đồng và mỗi người dân:
Trên thực tế có những loại dịch vụ rất quan trọng phục vụ nhu cầu chung của
cả cộng đồng, nhưng không một tư nhân nào muốn cung ứng vì nó không manglại lợi nhuận, hoặc vì tư nhân không có đủ quyền lực và vốn liếng để tổ chứcviệc cung ứng chẳng hạn như dịch vụ tiêm chủng, cứu hỏa, xây dựng cầuđường… Đó là những loại dịch vụ tối cần thiết phục vụ cho cuộc sống củangười dân và xã hội
Cũng có những loại dịch vụ mà tư nhân có thể cung cấp nhưng cung cấpkhông đầy đủ hoặc thi trường tư nhân tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội gây ratình trạng độc quyền, đẩy giá lên cao làm ảnh hưởng đến lợi ích người tiêu dungchẳng hạn như dịch vụ y tế, giáo dục, cung cấp điện nước sinh hoạt,… khi đó
Trang 5nhà nước phải có trách nhiệm cung ứng điều tiết nhằm đảm bảo cho sự pháttriển của người dân.
- Hai là các hoạt động gắn với thẩm quyền của nhà nước để đáp ứng cácquyền và nghĩa vụ hợp pháp của các tổ chức và công dân
Để thực hiện chức năng quản lý nhà nước, nhà nước phải tiến hành các hoạtđộng phục vụ trực tiếp các tổ chức và công dân Các hoạt động này được họi làdịch vụ hành chính công mà nhà nước có nhiệm vụ cung ưng cho xã hội để đảmbảo cho xã hội phát triển có kỷ cương, trật tự Để thực hiện hoạt động này nhànước sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương đối với xã hộinhư cấp các loại giấy phép, đăng ký, chứng thực…Các loại giấy tờ này chỉ cógiá trị khi được các cơ quan nhà nước xác nhận chúng bằng thẩm quyền củamình
Từ khái niệm về dịch vụ và dịch vụ công như trên chúng ta có thể rút ra được
khái niệm về dịch vụ công cộng như sau: dịch vụ công cộng là các hoạt động
phục vụ lợi ích chung tối cần thiết của cả cộng đồng, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy nhiệm cho các cơ sở ngoài nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công bằng xã hội.
2 Đặc điểm của dịch vụ công cộng
- Dịch vụ công cộng là dịch vụ do nhà nước đảm nhận thực hiện: điều này
có nghĩa là nhà nước luôn phải can thiệp vào quá trình cung ứng dịch vụ để đápnhững đòi hỏi của công dân và xã hội ít nhất ở mức độ tối thiểu
- Dịch vụ công cộng có thể do nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc ủy quyềncho các đơn vị ngoài nhà nước cung ứng theo các tiêu chuẩn do nhà nước xácđịnh Chẳng hạn như trong lĩnh vực y tế, nhà nước cũng đã giao cho tư nhânnhưng ở chừng mực nào đó vẫn có sự kiểm soát của nhà nước Nếu cá nhân hay
tổ chức nào muốn mở phòng khám thì phải được nhà nước cấp phép bên cạnh đótrong quá trình hoạt động nhà nước vẫn phải quản lý về chất lượng lẫn số lượng
- Là loại dịch vụ mà khi sử dụng có thể người sử dụng sẽ phải trả mộtkhoản chi phí nhất định Việc trả chi phí đó có thể được thực hiện trực tiếp haygián tiếp Chẳng hạn như, khi người dân sử dụng điện, nước sạch hay dịch vụ vệ
Trang 6sinh môi trường do nhà nước cung cấp thì phải đóng một khoản lệ phí cho nhànước hoay tổ chức tư nhân cung ứng tùy theo mức độ sử dụng nhiều hay ít.
3 Phân loại dịch vụ công cộng
Dịch vụ công nói chung và dịch vụ công cộng nói riêng cần phải có sự phânloại một cách rõ ràng Việc phân loại này nhằm mục đích: Thứ nhất, xuất phát từchủ thể cung ứng: dựa vào đặc điểm của mỗi một loại dịch vụ cụ thể mà chủ thể
có thể dễ dàng lựa chọn loại dịch vụ phù hợp với điều kiện kinh tế, năng lực đápứng mà họ có thể tham gia cung ứng cho xã hội Thứ 2, từ đối tượng hưởng thụ,dựa vào các loại dịch vụ khác nhau đã được phân ra một cách cụ thể mà ngườidân, tổ chức có thể dễ dàng lựa chọn loại dịch vụ nào đang cần thiết mà họ đangcần Thứ 3, từ góc độ quản lý nhà nước, việc phân loại theo những tiêu chí chínhxác, hợp lý, không bỏ sót sẽ là điều kiện thuận lợi để nhà nước quản lý tốt dịch
vụ công; đồng thời đưa ra được các cơ chế quản lý phù hợp, chính sách pháttriển tốt cho từng loại dịch vụ khác nhau, xem xét xem loại dịch vụ nào có thể xãhội hóa, dịch vụ nào nhà nước nên đảm nhận Như vậy, việc phân loại dịch vụcông cũng như dịch vụ công cộng là một khâu hết sức quan trọng của nhà nướctrong công tác quản lý dịch vụ công
Căn cứ phân loại dịch vụ công cộng: có thể căn cứ vào nhiều cách phân loạikhác nhau về dịch vụ công cộng nhưng phân loại theo hình thức sử dụng dịch vụ
cụ thể thì có thể phân loại dịch vụ công thành:
- Dịch vụ cung cấp điện, nước sinh hoạt: là loại dịch vụ tối cần thiết đối vớiđời sống con người trong thời đại ngày nay, đặc biệt trong các thành phố lớn.Nhu cầu về điện, nước sinh hoạt ngày càng tăng cùng với sự phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia
- Dịch vụ xử lý và thoát nước thải, nước mưa: là những hoạt động mởimang, khơi thong cống rãnh, mương máng, xử lý các chất thải công nghiệptrước khi đổ vào hệ thống thoát nước thải chung
- Dịch vụ thu gom và xử lý rác thải: rác thải ngày càng trở thành vấn đềlớn khiến chính phủ phải quan tâm giải quyết Đây là nguồn phế thải được tạo ravới tốc độ ngày càng lớn cũng với đời sống của công nghiệp hiện đại và nhịp độ
Trang 7đô thị hóa Việc thu gom rải thải là nhiệm vụ quan trọng để bảo vệ tài nguyênmối trường.
- Dịch vụ vận tải công cộng: Nhà nước giữ vai trò quan trọng trong việcđảm bảo giao thông thông suốt và liên tục ở mọi nơi, mọi lúc
- Dịch vu bảo dưỡng đường sá: là hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng, duy tucác tuyến đường giao thông công cộng Dịch vụ chăm sóc sức khỏe: là nhữngdịch vụ y tế về khám chữa bệnh, tiêm chủng, phòng chống bệnh tật…
- Dịch vụ giáo dục
- Dịch vụ văn hóa, thông tin
4 Vai trò của nhà nước trong cung ứng dịch vụ công cộng
Chúng ta đều biết rằng, nhà nước của bất kỳ chế độ nào cũng bao gồm haichức năng cơ bản: chức năng quản lý (hay còn gọi là chức năng cai trị) và chứcnăng phục vụ (hay còn gọi là chức năng cung cấp dịch vụ cho xã hội) Hai chứcnăng này thâm nhập vào nhau, trong đó chức năng phục vụ là chủ yếu, chứcnăng quản lý xét đến cùng cũng nhằm phục vụ Với chức năng phục vụ, như đãphân tích ở các phần trên, nhà nước có trách nhiệm cung ứng các dịch vụ côngthiết yếu cho xã hội Bên cạnh đó, với chức năng quản lý, nhà nước phải thựchiện vai trò quản lý và điều tiết xã hội nói chung, trong đó có vấn đề dịch vụcông Nhà nước bằng quyền lực của mình, thông qua các công cụ quản lý vĩ mônhư pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, chính sách, để quản lý và điều tiết hoạtđộng cung ứng dịch vụ công, qua đó làm tăng hiệu quả cung ứng dịch vụ côngtrong toàn xã hội Nhìn chung, nhà nước trong cung ứng dịch vụ công cũng nhưdịch vụ công cộng bao gồm:
- Nhà nước hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức phichính phủ, các tổ chức tự quản của cộng đồng tham gia cung ứng dịch vụ công.Vai trò này vượt ra khỏi phạm vi quản lý nhà nước thuần túy, xuất phát từviệc xác định trách nhiệm cao nhất và đến cùng của nhà nước trong lĩnh vựcdịch vụ công không có nghĩa là nhà nước phải trực tiếp cung ứng toàn bộ cácdịch vụ này Thực hiện vai trò này, nhà nước cần hoàn thiện cơ chế, chính sáchkhuyến khích tư nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức xã hội của người dân
Trang 8tham gia cung ứng dịch vụ công Cơ chế, chính sách ấy bao gồm: vạch rõ nhữnglĩnh vực dịch vụ cần khuyến khích sự tham gia của khu vực phi nhà nước, chínhsách hỗ trợ tài chính, chính sách thuế, các điều kiện vật chất, các chính sách đàotạo, kiểm tra và kiểm soát.
Nhà nước cần tạo ra một môi trường pháp lý chung cho tất cả các đơn vịcung ứng dịch vụ công, đảm bảo một sân chơi bình đẳng cho tất cả các nhà cungứng dịch vụ công
- Nhà nước quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động của các cơ sở ngoài nhànước cung ứng dịch vụ công
Xét cho cùng, nhà nước vẫn là người chịu trách nhiệm cuối cùng trước xã hội
về số lượng cũng như chất lượng dịch vụ công, kể cả các dịch vụ công đượcthực hiện bởi các công ty tư nhân hay các tổ chức kinh tế-xã hội Trong khi đó,đối với các công ty tư nhân, các tổ chức, cá nhân đảm nhận các dịch vụ công, lợiích của chính bản thân họ không phải bao giờ cũng thống nhất với lợi ích củanhà nước, của xã hội Vì vậy, nhà nước phải tạo ra cơ chế để các tác nhân bênngoài nhà nước khi đảm nhận các dịch vụ công thực hiện mục tiêu xã hội Xâydựng hệ thống chỉ tiêu chất lượng dịch vụ công để đánh giá hoạt động của cácđơn vị cung cấp, giám sát và kiểm tra hoạt động của các cơ sở này Nhà nướccần định hướng phát triển đối với khu vực tư nhân, hướng khu vực tư nhân vàonhững lĩnh vực mà tư nhân hoạt động hiệu quả, đồng thời tạo môi trường cạnhtranh lành mạnh nhằm không ngừng cải tiến việc cung ứng dịch vụ công cho xãhội Điều cốt lõi là nhà nước phải cân nhắc, tính toán và giải quyết thỏa đángmối quan hệ giữa lợi ích của nhà nước, của xã hội với lợi ích của tổ chức và cánhân tham gia cung ứng dịch vụ công
II DỊCH VỤ VỆ SINH MÔI TRƯỜNG
1 Sự cần thiết nhà nước phải cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường
Môi trường có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển củacon người nhưng ngày nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, dân
số tăng nhanh, môi trường sống của chúng ta đã và đang bị đe dọa, nhất là ô
Trang 9nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên Nếu tình trạng này khôngđược giải quyết một cách kịp thời và hiệu quả thì hậu quả xảy ra là rất nghiêmtrọng: biến đổi khí hậu, dịch bệnh,… Nhà nước với vai trò của mình, phải đứng
ra giải quyết những tồn tại đó, do vậy, cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trườngnhằm góp phần làm cho môi trường sống sạch sẽ, đảm bảo cho sự tồn tại và pháttriển chung của con người
2 Đặc trưng của dịch vụ vệ sinh môi trường
- Chất thải là một trong những yếu tố gâu ra tình trạng ô nhiễm môi trường,Đời sống kinh tế - xã hội càng phát triển thì lượng chất thải các loại (rắn, lỏng,khí độc hại…) sản sinh ra càng lớn, nhất là ở các khu đô thị, nơi tập trung dân
cư và hoạt động sản xuất kinh doanh Trong khí đó, khả năng tiếp nhận và đồnghóa của môi trường đối với các chất thải là có hạn, cho nên nếu không đượckiểm soát tốt thì chất thải sẽ là nguyên nhân phá vỡ trạng thái cân bằng của môitrường Vì vậy, việc nghiên cứu những biện pháp quản lý chất thải, thu gom và
xử lý các loại chất thải là hết sức cần thiết
- Một trong những biện pháp chủ yếu để thực hiện những nhiệm vụ nêutrên là việc tổ chức tốt dịch vụ vệ sinh môi trường tại các khu đô thị và nôngthôn
- Dịch vụ vệ sinh môi trường là loại dịch vụ hết sức cần thiết đối với đờisống xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay khi nền kinh tế phát triển và tốc độ
đô thị hóa và việc xây dựng, phát triển nông thôn mới ngày càng cao Đó là loạidịch vụ nhằm làm đẹp môi trường, bao gồm thu gom rác thải, chất thải rắn ở cáckhu dân cư, các cơ quan nhà nước, trường học, bệnh viện, khu vui chơi giải trí ,các chợ, trung tâm thương mại - dịch vụ, các cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến hànghóa…; dịch vụ làm sạch các hệ thống nước thải, xử lý chất thải
- Dich vụ vệ sinh môi trường là loại dịch vụ mang tính công ích, một loạidịch vụ thuộc trách nhiệm cung ứng của Nhà nước với các đặc điểm chủ yếusau:
• Là loại dịch vụ luôn gắn chặt với các khu đô thị, các khu tập trungdân cư, các trung tâm công nghiệp, thương mại,…
Trang 10• Dịch vụ được thực hiện không cố định về không gian, thời gian mà
mà rác thải trên khắp địa bàn, thời điểm
• Là loại dịch vụ vất vả, nặng nhọc, khó tính toán chính xác khốilượng thực hiện
• Tuy là một nghề nhưng những người thực hiện dịch vụ ít được xãhội tôn trọng, quan tâm đúng mức;
• Người nhận dịch vụ trực tiếp trả tiền một phần giá trị dịch vụ đượccung ứng bằng hình thức trả lệ phí vệ sinh môi trường
• Chất lượng vệ sinh môi trường phụ thuộc vào chất lượng của hạtầng kỹ thuật như quy hoạch đô thị, hệ thống đường giao thông…
- Với những đặc điểm như vậy, dịch vụ vệ sinh môi trường là loại dịch vụnhằm phục vụ nhu cầu chung của cộng đồng, mang những đặc điểm của dịch vụcông công Việc cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường thuộc về trách nhiệm củaNhà nước
3 Chủ thể cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường
Thời gian trước đây, dịch vụ vệ sinh môi trường được xem là một loại dịch vụ
công nên chỉ có nhà nước độc quyền thực hiện Tuy nhiên gần đây, do thực hiệnchủ trương xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường, tại nước ta đã xuất hiện cáccông ty tư nhân, công ty cổ phần, hợp tác xã, viện trường trung tâm nghiên cứutham gia cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường Ngoài ra, các hoạt động hợp tácquốc tế cũng huy động được sự hỗ trợ của nước ngoài vào thực hiện các dịch vụ
vệ sinh môi trường
Đối với khu vực Nhà nước:
Nhìn chung, ở mỗi tỉnh và thành phố đều có một số công ty phụ trách về môitrường trên địa bàn tỉnh, dưới đó là các công ty cấp quận, huyện Tuỳ từng địaphương mà cơ cấu tổ chức khác nhau Tại một số địa phương, các công ty vệsinh môi trường, công ty cấp nước sạch, công ty cấp thoát nước đều thuộc khốidoanh nghiệp công ích và trực thuộc Sở Giao thông công chính, Sở Tài nguyên
và Môi trường, Sở Xây dựng hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh/thành phố, Dù là trựcthuộc dưới một đơn vị chủ quản nào, các đơn vị dịch vụ vệ sinh môi trường đều
Trang 11được cấp một khoản kinh phí hàng năm từ ngân sách Nhà nước để thực hiệnnhiệm vụ bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh, thành phố Các hoạt động đượcthực hiện chủ yếu là đầu tư cho hệ thống hạ tầng môi trường như cấp thoát nước,thu gom và xử lý chất thải rắn.
Đối với khu vực tư nhân:
Tính đến nay khu vực tư nhân đã tham gia cung ứng vào nhiều lĩnh vực dịch
vụ vệ sinh môi trường với nhiều mức độ khác nhau như cấp thoát nước, xử lýnước thải, khí thải, thu gom rác thải, hoạt động tư vấn, thiết kế 40% lượng rácthải tại TP Hồ Chí Minh được thu gom bởi các công ty tư nhân Việc các nhàđầu tư tư nhân tham gia ngày càng nhiều vào dịch vụ môi trường là một xuhướng tích cực, phù hợp yêu cầu xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường Tuynhiên, họ còn gặp nhiều khó khăn trong triển khai, ứng dụng vì nhiều lý do:năng lực tài chính của các doanh nghiệp tư nhân có hạn, Nhà nước lại chưa cónhững chính sách cụ thể nhằm tạo mọi điều kiện, nhất là về nguồn vốn, vì thếcác doanh nghiệp phải vừa triển khai ứng dụng, vừa hoàn thiện, chưa đủ cơ sở
để thuyết phục các địa phương tự bỏ vốn hoặc vay vốn xây dựng nhà máy
4 Nội dung cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường
a) Ban hành pháp luật, đổi mới hoạt động kiểm tra, thanh tra, giám sát các hoạt động mang tính bảo vệ môi trường: Qua việc xây dựng một khung hành
lang pháp lý có sức mạnh, chúng ta sẽ dễ dàng thực hiện các công tác bảo vệmôi trường cũng như giám sát hoạt động của các doanh nghiệp và người dân.Dịch vụ vệ sinh môi trường là một chuỗi các hoạt động diễn ra một liên tục,hàng ngày, hàng giờ và nó được tiếp diễn liên tục trong hoạt động, đời sốnghàng ngày của người dân Dịch vụ này bao gồm hai hoạt động chính là thu gom
và xử lý rác thải
b) Thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt: rác thải sinh hoạt là loại rác việc sinh
hoạt hàng ngày, bao gồm rác thải hữu cơ và rác thải vô cơ và nước thải sinhhoạt Hàng ngày, lượng rác thải ở Hà Nội khoảng hơn 3000 tấn/ ngày, trong đóphần lớn là các chất thải rắn, vô cơ, nước thải Chất thải sinh hoạt phát sinh mọilúc, mọi nơi và vì thế để xử lý triệt để nguồn chất thải này cần một nguồn lực
Trang 12khá lớn, từ các hố chôn rác cho tới các nhà máy xử lý chất thải, áp dụng cáccông nghệ tiên tiến để tái chế, sử dụng lại những chất thải có thể dùng được;quan trọng hơn là mỗi người dân phải biết cách phân loại rác thải từ trong chínhnhà mình Hà Nội đã triển khai chương trình phân loại rác – 3R từ năm 2007, vàgần như chương trình này không được thực hiện đến nơi đến chốn, dẫn đến kếtquả không như mong đợi
Xử lý là nước thải từ những khu công nghiệp, mỗi nhà máy, xí nghiệp muốntiến hành sản xuất thì cần có nước vì thế, lượng nước thải từ các xí nghiệp thải
ra môi trường là rất lớn (khoảng 1 triệu mét khối nước thải/1 ngày đêm) Trong
đó có khoảng 75% số này là chưa xử lý và xả thẳng ra môi trường, đây là mộtđiều đáng báo động và lo ngại với môi trường Quản lý thật chặt chẽ các khucông nghiệp cũng như các doanh nghiệp đang sản xuất trong đó, yêu cầu tốithiếu là phải lắp đặt các hệ thống xử lý nước thải với công nghệ hiện đại, đấy làđiều cần thiết cho sự phát triển bền vững, bởi lẽ nước thải từ quá trình sản xuấtcủa các doanh nghiệp đôi khi cũng là những chất thải gây nguy hại lớn đối vớimôi trường (mà vụ việc Vedan, Tung Quang là những ví dụ điển hình cho hậuquả của việc chúng ta không quản lý chặt chẽ các doanh nghiệp)
c) Xử lý chất thải rắn công nghiệp: là những loại chất thải rắn được phát sinh
từ bất kỳ một hoạt động nào trong quy trình sản xuất công nghiệp từ quá trìnhkhai thác, chế biến, sử dụng đều sinh ra các chất thải rắn công nghiệp Các loạichất thải rắn công nghiệp đều có đặc tính là vật chất trong môi trường nên nó sẽchiếm diện tích, không gian, đôi khi có giá trị sử dụng, tái chế, vì vậy xử lý chấtthải rắn công nghiệp không những làm giảm diện tích của chúng trong môitrường tự nhiên mà còn phải tận dụng chúng để tái chế sử dụng vào những mụcđích khác nhau Ví dụ, việc xử lý chất thải là những viên gạch vụn, đá ta có thểnghiền nhỏ chúng hoặc gắn kết chúng lại với nhau thành những khối bê tông;hay là xử lý các chai nhựa sau khi sử dụng, chúng ta có thể mang tái chế lạinhiều lần
d) Xử lý chất thải nguy hại phát sinh từ các bệnh viện, phòng thí nghiệm, các
cơ sở sản xuất hóa chất; chất thải nguy hại bao gồm cả chất thải rắn và nước
Trang 13thải: Theo quyết định số 23/2006/QĐ – Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định
danh mục các loại chất thải nguy hại, có rất nhiều hoạt động phát sinh chất thảinguy hại ví dụ như: chất thải từ các ngành thăm dò, khai thác, chế biến khoángsản, dầu khí và than, chất thải từ ngành sản xuất hóa chất vô cơ, hữu cơ, chấtthải từ ngành luyện kim, chất thải từ hoạt động y tế và thú y, chất thải từ các cơ
sở tái chế Với một danh mục rất dài các loại chất thải, yêu cầu các cơ quanchức năng phải liên tục áp dụng những chính sách mới, khoa học công nghệ hiệnđại để có thể xử lý tốt nhất các chất thải này, làm giảm ảnh hưởng của các loạichất thải này tới môi trường và sức khỏe người dân
e) Vệ sinh môi trường đô thị như: làm sạch đường phố, cấp thoát nước, trồng
và chăm sóc cây xanh đô thị Ở các đô thị lớn, mật độ dân số cao, lưu lượngngười tham gia giao thông lớn, vì thế, đường phố sẽ chịu nhiều sức ép từ rác thảisinh hoạt, khói bụi của các phương tiện giao thông nên vệ sinh đường phốcũng là một phần công việc của những người cung ứng dịch vụ cung ứng dịch
vụ vệ sinh môi trường Ngoài ra để hè phố luôn thông thoáng, sạch sẽ thì nhiệm
vụ quan trọng là cấp thoát nước đạt hiệu quả tốt
Tiến hành làm giảm ô nhiễm bụi và ô nhiễm tiếng ồn, theo thống kê của các
tổ chức phi chính phủ cho thấy, ô nhiễm bụi ở Hà Nội và Thành phố Hồ ChíMinh đang rất trầm trọng, kết quả của nhiều cuộc điều tra của các tổ chức phichính phủ cho thấy, ô nhiễm không khí ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh rấtlớn, lượng bụi trong không khí nhiều gấp 40 lần các thành phố trong khu vựcnhư Bangkok, Singapore, vì thế nhu cầu của người dân ở các thành phố lớn làđược sống trong một môi trường trong lành, đáp ứng nhu cầu này, những nhàquản lý cần có một chương trình để giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí, đápứng nhu cầu của người dân, tạo ra một môi trường trong lành, nâng cao mứcsống cho người dân
5 Kinh nghiệm quốc tế trong cung ứng dịch vụ vệ sinh môi trường
5.1: Mô hình hợp tác công tư - Pulic Private Partership (PPP)
Trang 14Trong những năm gần đây, vấn đề ô nhiễm môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, biến đổi khí hậu đã và đang tác động đến mọi mặt lên đời sóng kinh
tế xã hội nước ta Với vai trò cung ứng các dịch vụ công nói chung, dịch vụ môi trường nói riêng, NN luôn là người chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc đảm bảotài chính cho dịch vụ nói trên Sự tham gia của khu vực ngoài NN vào dịch vụ môi trường ngày càng nhiều là một xu hướng tích cực, phù hợp với yêu cầu xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường Tuy nhiên họ còn gặp nhiều khó khăn trongtriển khai, ứng dụng vì nhiêu lí do: năng lực tài chính của nhiều DN tư nhân có hạn, NN lại chưa có những cơ chế cụ thể nhằm tạo mọi điều kiệ nhất là về
nguồn vốn
Ở nước ta, khái niệm hơp tác công tư – Pulic Private Partership (PPP) vẫn còn là khái niệm mới mẻ Tuy nhiên, ở nhiều nước trên thế giới đã áp dụng mô hình này rất thành công trong công tác bảo vệ môi trường
Hợp tác công tư (PPP) là giả pháp tăng nguồn vốn, công nghệ và quản lý từ
tư nhân Các dự án PPP có các dự án đặc trưng, ví dụ như, các mối quan hệ lâu dài, bao gồm việc hợp tác với các đối tác công cộng và đối tác tư nhân trên các khía cạnh khác nhau của một dự án đã được lập từ trước.các cơ cấu vốn lien kết các nguồn vốn của khu vực công cộng và tư nhân,trong đó cơ quan chủ quản đóng vai trò quan trọng trong mỗi giai đoạn của dư án, đối tác công cộng chú trọng vào việc xác định các mục tiêu cần đạt được Có sựu phân chia rủi ro giữa các đối tác khu vực công và đối tác thuộc khu vực tư nhân
Tại việt nam khái niệm PPP còn mới, và dường như chỉ sử dụng trong các
mô hình xây dựng, kinh doanh và chuyển giao (BOT), hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)… Tuy nhiên, khái niệm PPP rộng hơn rất nhiều có thể sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: dịch vụ cấp nc, dịch vụ vệ sinh, phát điện quy mô nhỏ,….Và kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hiện nay các nước phát triển, đang phát triển đang áp dụng mô hình hợp tác tư nhân (PPP) trong các dịch vụ công, trong đó có dịch vụ môi trường đã và đang thu được những kết quả nhất định
Trang 15Ở Việt Nam, dù có nhiều lợi thế nhưng thực tế việc khu vực tư nhân thamgia cung cấp dịch vụ cơ sở hạ tầng, trong đó có sơ sở hạ tầng về môi trường cònkhiêm tốn
Những lý do thường được đưa ra để giải thích cho việc thiếu sự tham gia của khu vực tư nhân là chính phủ có thái độ không nhất quán về đầu tư tư nhân
và những kỳ vọng không thực tế mà những gì mà khu vực tư nhân có thể đem lại Tổng hợp các ý kiến từ diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam đc Alan Johnson tổng kết trong Kỷ yếu hội thảo PPP năm 2006, với các mối quan ngại chính trong phát triển PPP ở Việt Nam như sau:
• Môi trường pháp lý chung cho PPP, thiếu một cơ quan quản lý nhà nước
về PPP, việc bảo lãnh của Chính phủ chưa rõ ràng, thời hạn chuyển giao, quyền
sở hữu dự án BOT trong nhiều lĩnh vực ko rõ ràng, mâu thuẫn giũa các văn bản pháp luật hiện hành( như Nghị định về BOT, luật Đầu tư chung, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp), sự không chắc chăn của chính phủ về bảo vệ môi trường
• Triển khai dự án: sự không chắc chắn về vai trò của chính phủ ( những cơquan phát triển dự án) và nhà đầu tư tư nhân trong việc chịu chi phí và rủi ro trong khi phát triển dự án; quyền ưu tiên thực sự của các dự án được phát triển theo mô hình PPP, thủ tục mua sắm phức tạp và lắt léo bao gồm cả việc ký kết các hợp đồng qua thương lượng với các doanh nghiệp đc ưu tiên thay vì một hệ thống đấu thầu cạnh tranh, cởi mở và minh bạch, các kỳ vọng và chi tiêu không thực tế về bù đắp chi phí và tỉ suất lợi nhuận trong các dự án PPP, đặc biệt là cách thức ấn định và điều chỉnh mức giá và lệ phí mà người sử dụng phải trả
• Tài trợ cho dự án: các quy định chặt chẽ quá mức về dự trữ quy đổi ngoại hối và chuyển ngoại tệ; không rõ ràng về đảm bảo nợ vay và quyền đc can thiệpcủa người cho vay trong trường hợp chậm trả nợ hoặc khi dự án hoạt động yếu kém
Ngoài ra, những lý do được cho là thách thức ngăn cản sự mô hình PPP ở việt Nam như chất lượng cơ sở hạ tầng về số lượng và chất lượng
Trang 16Từ những thách thức trên có thể thấy rằng để PPP đc áp dụng rộng rãi và phát huy có hiệu quả ưu thế của nó cần giả quyết một số vấn đề sau:
Một là, song song với các hoạt động triển khai thí điểm PPP theo quyết định 71/2010/ QD-TTg của Thủ tướng chính phủ cần tiến hành nghiên cứu để sươm ban hành nghị định về PPP, đảm bảo sự rõ ràng về vai trò của chính phủ, thời hạn chuyển giao, quyền sở hữu dự án tài sản, quy chế kí kết hợp đồng, đấu thầu cạnh tranh, quy chế thanh toán và quản lý phí dịch vụ,… trong các dự án PPP; giả quyết đc các mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật hiện hành như Nghịđịnh về BOT, Luật đầu tư chung, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp,…
Hai là, nghiên cứu thành lập một cơ quan quản lý nhà nước về PPP, có đủ năng lực thực hiện đàm phán kí kết các hợp đồng PPP, hỗ trợ địa phương hay giả quyết khúc mắc liên quan
5.2: Một số kinh nghiệm của các nước trên thế giới về cung ứng dịch vụ
vệ sinh môi trường
Các nước thuộc liên minh châu Âu(EU):
EU là một trong những khu vực có yêu cầu rất cao về môi trường, do vậy hệ thống các chính sách và quy định về môi trường cũng hết sức chặt chẽ và phức tạp Là liên minh các quốc gia có trình độ phát triển và ý thức xã hội trong lĩnh vực môi trường tương đối cao, EU có điều kiện phát triển ngành môi trường nhưmột ngành kinh tế độc lập, đóng góp đáng kể cho thu nhập quốc dân và việc làmcủa các nước thành viên Trong EU, các ngành công nghiệp môi trường hay công nghiệp sinh thái, bao gồm các hoạt động sản xuất hàng hóa và cung cấp các dịch vụ để xác định, ngăn ngừa, hạn chế, giảm thiểu hoặc khắc phục nhưng thiệt hại đối với nước, không khí và đất cũng như vấn đề liên quan đến chất thải,tiếng ồn và hệ sinh thái Ngành công nghiệp môi trường đc phân chia thành các phân ngành cụ thể như: Xử lý nước thải; Kiểm soát ô nhiễm không khí; Quản lýchất thải; Tối ưu hóa các quy trình; Giám sát va thực thi các mục tiêu môi
trường; Dich vụ tư vấn và thiết kế môi trường; Dịch vụ phân tích môi trường;
Trang 17Khai thác nguồn lợi của nước, Khôi phục nguồn tài nguyên; Năng lượng tái sinh,…
Nhằm phát triển ngành dịch vụ môi trường, các quốc gia thuộc EU đã đưa
ra hàng loạt các chính sách khác nhau Cộng hòa Áo ban hành một Nghị định về bao bì với mục tiêu đặt ra là khuyến khích tái chế tới 80% chất thải Bỉ cũng áp dụng hàng loạt quy định về sử dụng nguyên liệu tái chế và tái xử lý những chất thải gây hại Đan Mạch xây dựng một chương trình hành động về chất thải và táichế Phần Lan cũng đạt ra mục tiêu tăng tỷ lệ tái chế giấy thải tới mức yêu càu chung của EU Pháp đạt ra quy định là mọi chất thải phải được qua xử lý, đồng thời ban hành một nghị định yêu cầu các doanh nghiệp phải tái chế các bao gói
họ thải ra hoặc tự chuyển cho các đơn vị có chức năng tái chế Vương quốc Anh cũng đặt ra mục tiêu tái chế và giảm thiểu ¾ lượng chất thải sinh hoạt hoặc cao hơn một số chất thải cụ thể
Ngoài ra, một số quốc gia nhấn manh việc sử dụng công cụ kinh tế nhằm đảm bảo sự tuân thủ thay cho các quy định khác như: Thổ nhĩ Kỳ đánh thuế chấtthải, Na Uy đánh thuế đối với lượng CO thải ra để khuyến khích tái chế hoặc thải ra đối với 26 loại chất thải và giảm lượng chất thải nói chung Một số nước còn áp dụng hình thức thỏa thuận tự nguyện của ngành đối với chính phủ như ở
Áo, Hà Lan…
Trung Quốc:
Từ những năm 90 của thế kỷ 20 mức tăng trưởng hàng năm của ngành bảo vệmôi trường đạt 15% cao hon rất nhiều so với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân Trung Quốc cùng thời kỳ Ủy ban bảo vệ môi trường Trung Quốc đã
áp dụng một số biện pháp để thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp môi trường, bao gồm: yêu cầu chính quyền và phòng ban các cấp dành sự quan tâm chiến lược đến phát triển ngành môi trường bằng các xác định ngành môi trường
Trang 18là một lĩnh vực ưu tiên ttrong quá trình tái cơ cấu các ngành kinh tế , áp dụng cơ chế thị trường đối với các ngành sản xuất hàng hóa môi trường và cung cấp dịch
vụ môi trường, tạo cho họ môi trường cạnh tranh bình đẳng Đặc biệt, Trung Quốc còn ban hành một số chính sách quản lý liên quan đến dịch vụ môi
trường , như các quy định về công tác đánh giá tác động môi trường, quy định quản lý dịch vụ quan trắc môi trường, quy định về cấp phép hoạt động thiết kế
cơ khí môi trường; các quy tắc quản lý liên quan đến vận hành các thiết bị môi trường; các chính sách tài chính và thuế liên quan đến dịch vụ môi trường; các chính sách cho vay vốn ưu đãi phát triển dịch vụ môi trường và chính sách ưu đãi về thuế thu nhập đối với daonh nghiệp môi trường
Trước đây,các trạm xử lý nước thải cấp nước sạch và xử lý rác thải đều do chính quyền địa phương quản lý các dịch vụ môi trường khác thì do các đơn vị nhà nước như Viện, Trường đảm nhận Gần đây, đã có các đơn vị kinh doanh thu được tỷ suất lợi nhuận ở mức trung bình khi tham gia vào ngành Trung Quốc cũng đã xác định nguyên tắc chuyển đổi các đơn vị nghiên cứu về môi trường của nhà nước thành các doanh nghiệp hoặc các tổ chức phi chính phủ về môi trường Trong lĩnh vực dịch vụ công ích như xử lý nước thải, một số tỉnh như Quảng Đông đã khuyến khích đầu tư tư nhân và đầu tư nước ngoài vào xây dựng các công trình xử lý nước thải theo phương thức BOT Hoặc các tổ chức cánhân trả một khoản phí nào đó cho Nhà Nước để sử dụng hạ tầng cơ sở mà nhà nước đã xây dựng và thực hiện các dịch vụ môi trường thu phí Các hình thức đadạng này đã góp phần đáng kể trong việc tạo ra cơ hội cho phát triển dịch vụ môi trường của Trung Quốc
Thái Lan:
Chính Phủ đã có nhiều cải cách trong việc xây dựng và thực thi các chính sách về môi trường Giải quyết vấn đề ô nhiễm không khí, Thái Lan đã thực hiệnnhiều biện pháp và chính sách như đóng cửa các nhà máy không thực thi các quy định về môi trường, chuyển từ xăng lẫn chì sang xăng không chì, nâng cao chất lượng diesel thông qua ưu đãi về thuế diesel có hàm lượng sulphur ít hơn,
Trang 19sử dụng công nghệ sạch, khuyến khích đầu tư mới để xây dựng lại các cơ sở công nghiệp đảm bảo cải thiện môi trường và xây dựng hệ thống xe điện trên không
Dịch vụ xử lý nước thải được tiến hành bởi chính quyềnđịa phương Tuy nhiên, các cơ quan địa phương lại gặp phải vấn đề trong việc đưa chi phí xử lý vào phí dịch vụ nước sạch Gần đây, khu vực tư nhân ngày càng tham gia nhiều hơn vào lĩnh vực này nhằm giảm bớt nhu cầu về vốn đầu tư, mua công nghệ mớicủa khu vực nhà nước và hợp lý hóa giá dịch vụ này Khu vực tư nhân được tham gia dưới hình thức liên doanh, với tỷ lệ góp vốn của cơ quan quản lý nước thải không quá 30%
Về chất thải công nghiệp đặc biệt là chất thải độc hại, việc xử lý được thực hiện bởi cơ chế độc quyền Cụ thể là, chỉ một công ty tư nhân GENCO được cấpgiấy phép xử lý chất thải công nghiệp Ngay từ khi bắt đầu hoạt động GENCO
có trách nhiệm xử lý chất thải công nghiệp và hộ gia đình trên khắp cả nước Hoạt động của công ty này hiệu quả, vì thế chính phủ chỉ tập trung đầu tư rất ít vào lĩnh vực này
Thứ nhất, phát triển dịch vụ môi trường cần gắn liền với mở của kêu gọi đầu
tư của khu vực tư nhân và nước ngoài Trong trương hợp thấy cần thiết phải có
sự tham gia của khu vực tư nhân để cung cấp các dịch vụ môi trường nhằm giảmbớt gánh nặng ngân sách thì nhà nước cũng cần có chính sách thu hồi, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia trên tinh thần khu vực này vừa đạt được lọi ích riêng, mà vẫn đảm bảo hiệu quả về môi trường Nhà Nước cần phải có nhưng biện pháp quản lý tốt khu vực tư nhân trong suốt qua trình tham gia của họ vào dịch vụ môi trường Đặc biệt là khu vực tư nhân được khuyến khích tham gia thì
ở một mức độ hợp lý như trường hợp công ty GENCO của Thái Lan
Thứ hai nâng cao ý thức cho các tầng lớp xã hội đặc biệt là các doanh nghiệp
Sự thành công của ngành công nghiệp môi trường EU cũng bắt nguồntừ sự thay đâỏi nhận thức của giới doanh nghiệp.Để có được sự thay đổi căn bản này trước
Trang 20hết phải xuất phát từ định hướng chính sách hợp lý của các nhà lãnh đạo cũng như việc ban hành các chính sách trợ cấp trong những ngành có thế mạnh, trợ cấp cho nghiên cứu phát triển dịch vụ môi trường, và thậm chí còn tận dụng cả ngoại tệ của tổ chức thương mại thế giới WTO để trợ cấp nâng cao cơ sở hạ tầng
về môi trường Chính sách này đã góp phần khuyến khích, đẩy mạnh sự phát triển của khu vực doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này Đặc biệt, việc mở cửa cho các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thành lập hiện diện thương mại thực chất là khuyến khích đầu tư nước ngoài
Thứ ba hình thành chính sách tài chính và thuế liên quan để phát triển ngành dịch vụ môi trường Sử dụng các công cụ kinh tế để khuyến khích đầu tư của tư nhân và nước ngoài vào lĩnh vực môi trường, theo cơ chế thị trường như vay vốn ưu đãi và giảm thuế thu nhập hình thức này giống như Chính Phủ Trung Quốc đã ban hành chính sách cho vay vốn ưu đãi phát triển dịch vụ môi trường
và chính sách ưu đãi về thuế thu nhập đối với doanh nghiệp môi trường Hay như liên minh châu âu thực hiện hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khi gặp khó khăn trong thực hiện chính sách môi trường, khoảng 20% tổng chi phí cần thiết
Thứ tư, cần xây dựng một hệ thống văn bản pháp luât đầy đủ, về các lĩnh vựckhoa học công nghệ, môi trường Luôn cân nhắc đến yếu tố môi trường trong bất
kỳ quyết định hay chính sách kinh tế nào nhằm tránh trường hợp phải trả giá như Thái Lan trong những năm đầu phát triển Bên cạnh đó, lập các chiến lược,
kế hoạch dài hạn cho phát triển dịch vụ môi trường nhằm tăng khả năng cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước trước khi mở cửa thị trường dịch vụ môi trường
Thứ năm, thiết lập các hình thức kinh doanh phù hợp, đa dạng nhằm thu hút
sự tham gia của tư nhân và nước ngoài vào lĩnh vực dịch vụ môi trường như chothuê cơ sở hạ tầng của nhà nước, hình thức BOT Dần chuyển đổi các đơn vị nghiên cứu ( viện, trường, trung tâm )của nhà nước sang các hình thức kinh doanh phù hợp dựa trên thế mạnh vốn có để tăng tính cạnh tranh của các đơn vị