1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo sát ngôn ngữ người dẫn chương trình truyền hình qua kênh BiBi

157 670 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 157
Dung lượng 783 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tàiDân gian ta có câu: “Trẻ lên ba, cả nhà học nói”. Câu tục ngữ này cho thấy tầm quan trọng của việc học nói đối với trẻ nhỏ. Ở tuổi lên ba, các trung khu ngôn ngữ ở vỏ não, cơ quan tiếp nhận ngôn ngữ (tai) và cơ quan phát âm (dây thanh đới, họng, môi, lưỡi) của trẻ đã đến thời kỳ tương đối hoàn thiện. Về mặt tâm lý, ở tuổi này trẻ rất ham nói. Đặc biệt từ khoảng 20 tháng trở ra, trẻ có thể nói suốt ngày, do đó sự phát triển ngôn ngữ đạt được tốc độ rất nhanh, mà sau này lớn lên, khó có giai đoạn nào sánh bằng. Trẻ có được một tốc độ phát triển ngôn ngữ nhanh như vậy là còn nhờ quá trình hoạt động với thế giới xung quanh, sự chú ý tìm hiểu của trẻ đối với các thuộc tính, công dụng của đồ vật ngày càng tăng khiến cho trẻ thấy cần có sự giúp đỡ của người lớn ngày càng nhiều hơn, và phương thức giao tiếp với người lớn cũng dần dần được thay đổi. Có một thực tế không thể phủ nhận rằng, trẻ em ngày nay chịu sự ảnh hưởng không nhỏ của truyền hình. Sự ra đời của hàng loạt chương trình, hàng loạt kênh chuyên biệt dành cho thiếu nhi giúp cho bữa ăn tinh thần của các em ngày càng phong phú. Đương nhiên, các chương trình truyền hình dành cho các em phải đảm bảo được yếu tố đầu tiên, đó là giáo dục. Các chương trình dạy kĩ năng, dạy hát, dạy múa, kể chuyện phải có những chuẩn mực nhất định trong sử dụng ngôn ngữ, nhằm truyền tải tới các em những thông điệp trong sáng, ngắn gọn, dễ hiểu nhất. Chỉ có vậy, truyền hình mới đạt được cả 2 mục đích là thông tin và giáo dục đối với đối tượng khán giả đặc biệt này. Hay nói cách khác, hiệu quả của tác phẩm truyền hình không thể tách rời khả năng sử dụng ngôn ngữ của người làm báo, mà trong chương trình thiếu nhi, chúng tôi đề cao khả năng sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình.Lý luận báo chí đã cho chúng ta biết: Mỗi loại hình báo chí khác nhau, với những đặc trưng riêng của mình có ngôn ngữ thể hiện khác nhau. Ngôn ngữ của truyền hình là hình ảnh và âm thanh (bao gồm từ ngữ, tiếng động, âm nhạc). Nói cách khác, truyền hình tác động vào công chúng cả bằng thị giác và thính giác. Và giống như các loại hình báo chí khác, ngôn ngữ truyền hình phải đảm bảo những tiêu chuẩn nhất định như tính chính xác, khách quan; tiết kiệm, ngắn gọn; tính chất phổ cập xã hội. Trong cuốn “Ngôn ngữ báo chí” (NXB Thông tấn, 2009) phần mở đầu tác giả Vũ Quang Hào có viết: “Nói đến “ngôn ngữ báo chí”, nếu hiểu “báo chí” không theo nghĩa truyền thống, nghĩa là báo chí được hiểu gồm báo in, báo phát thanh và báo hình thì có thể nói rằng, ở tập bài giảng này ngôn ngữ báo hình hoàn toàn bị bỏ ngỏ, do chỗ chúng tôi không thể tự xác định được phạm vi khảo sát. Lý do là ở chỗ, theo chúng tôi, ngôn ngữ truyền hình – với tư cách là ngôn ngữ của một loại hình truyền thông đại chúng (cho đám đông) đang “nhòe” vào miền của ngôn ngữ hàn lâm (kiểu ngôn ngữ của các chương trình khoa giáo) và vào miền của các ngôn ngữ khác, như ngôn ngữ nghệ thuật – cả nghệ thuật tạo hình lẫn nghệ thuật biểu hiện – (kiểu ngôn ngữ của các chương trình văn hóa, văn nghệ, điện ảnh…).” Chính từ nhận định này mà các công trình nghiên cứu về ngôn ngữ truyền hình những năm gần đây đã bắt đầu được quan tâm nhiều hơn nhưng riêng phạm vi khảo sát “lời nói của người dẫn chương trình trong các chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi” chưa được quan tâm nghiên cứu sâu để tìm ra các giải pháp nâng cao chất lượng, sao cho xứng với vị trí và vai trò của truyền hình, đặc biệt là truyền hình dành cho đối tượng công chúng là trẻ em từ 012 tuổi.Ra đời ngày 162006, cho đến nay kênh truyền hình thiếu nhi BiBi là kênh truyền hình duy nhất do Đài Truyền hình Việt Nam đầu tư sản xuất dành riêng cho lứa tuổi từ 012 tuổi. Trong bối cảnh một số kênh truyền hình khác cũng có những chương trình dành cho lứa tuổi thiếu nhi như KidsTV Family (VTC11), HTV3 (kênh truyền hình thiếu nhi và gia đình), VTV6 (kênh truyền hình dành cho thanh thiếu niên) thì duy nhất kênh BiBi định vị nhóm khán giả mục tiêu là trẻ em từ 012 tuổi. Đây là giai đoạn đầu đời cực kì quan trọng. Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều bậc cha mẹ đã dành nhiều thời gian tìm hiểu các kiến thức nuôi dạy, chăm sóc trẻ ở lứa tuổi này. Với mục đích đồng hành cùng các em nhỏ trong những năm đầu đời, kênh BiBi xây dựng các chương trình phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lý của các em. Các chương trình giáo dục, giải trí của kênh luôn có tiêu chí nhẹ nhàng, sinh động và gần gũi với các em, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin phong phú vừa mang tính giáo dục, nâng cao hiểu biết, nhận thức cho các em nhỏ. Với những nét đặc thù như vậy nên ngôn ngữ dẫn chương trình trên kênh truyền hình BiBi cũng có những đặc điểm riêng. Học viên nhận thấy những đặc điểm riêng đó rất cần được nghiên cứu nhưng lại chưa được quan tâm đúng mức. Việc nghiên cứu khảo sát để một mặt, thấy được sự phát triển của ngôn ngữ truyền hình nói chung, mặt khác giúp cho người sản xuất chương trình có cơ sở nâng cao hiệu quả truyền thông nói riêng, góp phần đưa ra những giải pháp nhằm chuẩn hóa lời nói của người dẫn chương trình trong chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi. Nói cách khác, công trình của chúng tôi có ý nghĩa cấp thiết về cả lý luận và thực tiễn, là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệ thống về vấn đề này. Học viên chọn một số chuyên mục phát sóng trên kênh BiBi từ tháng 32013 đến tháng 92014 như Xúc Xắc – Lúc Lắc, Trổ tài cùng bé, Vương quốc Tại sao, Nhảy cùng BiBi và Ngôi sao BiBi để khảo sát là vì: Từ khi ra đời vào năm 2006 cho đến nay, kênh BiBi đã có những thay đổi đáng kể nhằm làm phong phú, đa dạng nội dung và thể loại chương trình dành cho thiếu nhi. Các chuyên mục nói trên đều nhằm vào lứa tuổi từ 012 tuổi, đây là lứa tuổi đang hoàn thiện dần các kĩ năng sống, các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ. Từ tháng 32013, các chương trình này đã có thay đổi cơ bản về mặt nội dung và được sắp xếp vào khung giờ phát sóng hợp lý, có tính định kì hàng tuần, tạo được sự yêu mến nhất định với các em nhỏ.2.Tình hình nghiên cứu đề tài Về đề tài ngôn ngữ truyền hình, đã có một số công trình nghiên cứu và sách, tài liệu phục vụ giảng dạy đã được xuất bản, nhưng các khái niệm, định nghĩa được đưa mới mang tính khái quát chung như cuốn “Tác phẩm báo chí tập 1” do TS. Tạ Ngọc Tấn chủ biên, Giáo trình nghiệp vụ báo chí, tập 1, Hà Nội 1978 của Khoa Báo chí, Trường tuyên huấn Trung ương; Ngôn ngữ báo chí của Nguyễn Tri Niên; Ngôn ngữ báo chí của Vũ Quang Hào – NXB Thông tấn, Hà Nội 2009. Tác giả Trần Bảo Khánh có đề cập đến đặc trưng của ngôn ngữ truyền hình trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình”. Tác giả đã phân tích và chỉ ra được cấu tạo của ngôn ngữ truyền hình gồm những gì, yếu tố nào đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, đây là những khái niệm cơ bản về ngôn ngữ truyền hình. Ngoài ra còn có “Đặc điểm ngôn ngữ phóng sự ngắn truyền hình” luận văn tốt nghiệp đại học báo chí, Nguyễn Kiều Hưng, tháng 62001. Luận văn cao học của một số học viên như “Ngôn ngữ truyền hình Việt Nam: vấn đề và thảo luận” của Phan Quốc Hải, “Ngôn ngữ truyền hình trong bản tin Thời sự Đài Truyền hình Việt Nam” của Mai Thị Minh Thảo, “Khảo sát ngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên – Huế” của Hoàng Lê Thúy Nga, “Nhận diện đặc điểm ngôn ngữ trên kênh truyền hình O2TV” của Phạm Quỳnh Trang, “Ngôn ngữ phóng sự trên VTV1 – Đài Truyền hình Việt Nam” của Bùi Minh Hằng. Các công trình nói trên đều đưa ra được những khái quát cơ bản về ngôn ngữ truyền hình dành cho đối tượng công chúng là người lớn hoặc ngôn ngữ về những lĩnh vực chuyên biệt như sức khỏe, thời sự, chính trị... Có một công trình nghiên cứu mang tên “Vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ em trên kênh truyền hình BiBi” của Lê Thị Minh Huyền đã nêu được vai trò của kênh truyền hình BiBi đối với vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ em, tuy nhiên công trình không đi sâu vào nghiên cứu, phân tích lời nói của người dẫn chương trình, đặc biệt là “ngôn ngữ lời nói dẫn chương trình truyền hình thiếu nhi”.

Trang 1

Lời cảm ơn

Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, em xin cảm ơn côgiáo ……….đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình họctập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Em xin cảm ơn các thầy cô trong tổ bộ môn…… , cácthầy cô giảng dạy tại trường ……… đã giúp đỡ em trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu

Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi luônnhận được sự động viên của bạn bè, đồng nghiệp và người thân tronggia đình Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 7 - 2015

Tác giả luận văn

Trang 2

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan: Luận văn với đề tài “…………” là côngtrình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai

Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu củariêng mình !

Hà Nội, ngày …………

Người cam đoan

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Thống kê về cách phát âm chuẩn của người dẫn chươngtrình trên kênh BiBi từ tháng 3/2013 đến tháng 12/2014 (tính theo %chương trình)

Bảng 2 Thống kê đánh giá của công chúng về cách phát âm củangười dẫn chương trình trên kênh BiBi từ tháng 3/2013 đến tháng12/2014 (tính theo % người được hỏi)

Bảng 3: Thống kê tốc độ nói của người dẫn chương trình trên kênhBiBi từ tháng 3/2013 đến tháng 12/2014 (tính theo % chương trình)Bảng 4 Thống kê âm lượng, cao độ, trường độ của người dẫnchương trình trên kênh BiBi từ tháng 3/2013 đến tháng 12/2014 (tínhtheo % chương trình)

Bảng 5: Thống kê tỉ lệ sử dụng các từ ngữ của người dẫn chươngtrình truyền hình thiếu nhi trên kênh BiBi từ tháng 3/2013 đến tháng12/2014 (tính theo % chương trình)

Bảng 6: Thống kê tình thái từ được người dẫn chương trình sử dụngtrên chương trình truyền hình thiếu nhi trên kênh BiBi từ tháng3/2013 đến tháng 12/2014

Bảng 7: Thống kê từ ngữ khích lệ, động viên trong chương trìnhtruyền hình thiếu nhi trên kênh BiBi từ tháng 3/2013 đến tháng12/2014

Trang 5

Bảng 8: Thống kê tỉ lệ sử dụng các kiểu câu của người dẫn chươngtrình truyền hình thiếu nhi trên kênh BiBi từ tháng 3/2013 đến tháng12/2014 (tính theo % chương trình)

Bảng 9 Hình ảnh của một người dẫn chương trình hoàn hảo trênkênh BiBi (tính theo % người được hỏi)

Trang 6

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 7

NỘI DUNG 16

Chương I 16

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 16

1 Cơ sở lý luận 16

2 Truyền hình chuyên biệt và truyền hình dành cho thiếu nhi ở Việt Nam 30

Chương II 41

KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NGÔN NGỮ LỜI NÓI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRÊN KÊNH BIBI 41

2.1 Về ngữ âm 42

2.2 Về từ vựng 52

2.3 Về ngữ pháp 64

2.4 Về phong cách 73

Chương III 85

NHỮNG KINH NGHIỆM ĐỂ NÂNG CAO HƠN HIỆU QUẢ SỬ DỤNG LỜI NÓI CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH BIBI 85

3.1 Về nhận thức 85

3.2 Về nguồn nhân lực và đào tạo nguồn nhân lực 91

3.3 Về cơ chế chính sách 97

KẾT LUẬN 109

TÀI LIỆU THAM KHẢO 112

PHỤ LỤC 115

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Dân gian ta có câu: “Trẻ lên ba, cả nhà học nói” Câu tục ngữnày cho thấy tầm quan trọng của việc học nói đối với trẻ nhỏ Ở tuổilên ba, các trung khu ngôn ngữ ở vỏ não, cơ quan tiếp nhận ngôn ngữ(tai) và cơ quan phát âm (dây thanh đới, họng, môi, lưỡi) của trẻ đãđến thời kỳ tương đối hoàn thiện Về mặt tâm lý, ở tuổi này trẻ rấtham nói Đặc biệt từ khoảng 20 tháng trở ra, trẻ có thể nói suốt ngày,

do đó sự phát triển ngôn ngữ đạt được tốc độ rất nhanh, mà sau nàylớn lên, khó có giai đoạn nào sánh bằng

Trẻ có được một tốc độ phát triển ngôn ngữ nhanh như vậy làcòn nhờ quá trình hoạt động với thế giới xung quanh, sự chú ý tìmhiểu của trẻ đối với các thuộc tính, công dụng của đồ vật ngày càngtăng khiến cho trẻ thấy cần có sự giúp đỡ của người lớn ngày càngnhiều hơn, và phương thức giao tiếp với người lớn cũng dần dầnđược thay đổi

Có một thực tế không thể phủ nhận rằng, trẻ em ngày nay chịu

sự ảnh hưởng không nhỏ của truyền hình Sự ra đời của hàng loạtchương trình, hàng loạt kênh chuyên biệt dành cho thiếu nhi giúp chobữa ăn tinh thần của các em ngày càng phong phú Đương nhiên, cácchương trình truyền hình dành cho các em phải đảm bảo được yếu tốđầu tiên, đó là giáo dục Các chương trình dạy kĩ năng, dạy hát, dạy

Trang 8

múa, kể chuyện phải có những chuẩn mực nhất định trong sử dụngngôn ngữ, nhằm truyền tải tới các em những thông điệp trong sáng,ngắn gọn, dễ hiểu nhất Chỉ có vậy, truyền hình mới đạt được cả 2mục đích là thông tin và giáo dục đối với đối tượng khán giả đặc biệtnày Hay nói cách khác, hiệu quả của tác phẩm truyền hình khôngthể tách rời khả năng sử dụng ngôn ngữ của người làm báo, mà trongchương trình thiếu nhi, chúng tôi đề cao khả năng sử dụng ngôn ngữcủa người dẫn chương trình.

Lý luận báo chí đã cho chúng ta biết: Mỗi loại hình báo chíkhác nhau, với những đặc trưng riêng của mình có ngôn ngữ thể hiệnkhác nhau Ngôn ngữ của truyền hình là hình ảnh và âm thanh (baogồm từ ngữ, tiếng động, âm nhạc) Nói cách khác, truyền hình tácđộng vào công chúng cả bằng thị giác và thính giác Và giống nhưcác loại hình báo chí khác, ngôn ngữ truyền hình phải đảm bảonhững tiêu chuẩn nhất định như tính chính xác, khách quan; tiếtkiệm, ngắn gọn; tính chất phổ cập - xã hội

Trong cuốn “Ngôn ngữ báo chí” (NXB Thông tấn, 2009) phần

mở đầu tác giả Vũ Quang Hào có viết: “Nói đến “ngôn ngữ báo chí”,nếu hiểu “báo chí” không theo nghĩa truyền thống, nghĩa là báo chíđược hiểu gồm báo in, báo phát thanh và báo hình thì có thể nói rằng,

ở tập bài giảng này ngôn ngữ báo hình hoàn toàn bị bỏ ngỏ, do chỗchúng tôi không thể tự xác định được phạm vi khảo sát Lý do là ởchỗ, theo chúng tôi, ngôn ngữ truyền hình – với tư cách là ngôn ngữcủa một loại hình truyền thông đại chúng (cho đám đông) đang

“nhòe” vào miền của ngôn ngữ hàn lâm (kiểu ngôn ngữ của cácchương trình khoa giáo) và vào miền của các ngôn ngữ khác, nhưngôn ngữ nghệ thuật – cả nghệ thuật tạo hình lẫn nghệ thuật biểu

Trang 9

hiện – (kiểu ngôn ngữ của các chương trình văn hóa, văn nghệ, điệnảnh…).” Chính từ nhận định này mà các công trình nghiên cứu vềngôn ngữ truyền hình những năm gần đây đã bắt đầu được quan tâmnhiều hơn nhưng riêng phạm vi khảo sát “lời nói của người dẫnchương trình trong các chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi”chưa được quan tâm nghiên cứu sâu để tìm ra các giải pháp nâng caochất lượng, sao cho xứng với vị trí và vai trò của truyền hình, đặcbiệt là truyền hình dành cho đối tượng công chúng là trẻ em từ 0-12tuổi.

Ra đời ngày 1/6/2006, cho đến nay kênh truyền hình thiếu nhiBiBi là kênh truyền hình duy nhất do Đài Truyền hình Việt Nam đầu

tư sản xuất dành riêng cho lứa tuổi từ 0-12 tuổi Trong bối cảnh một

số kênh truyền hình khác cũng có những chương trình dành cho lứatuổi thiếu nhi như KidsTV & Family (VTC11), HTV3 (kênh truyềnhình thiếu nhi và gia đình), VTV6 (kênh truyền hình dành cho thanhthiếu niên) thì duy nhất kênh BiBi định vị nhóm khán giả mục tiêu làtrẻ em từ 0-12 tuổi Đây là giai đoạn đầu đời cực kì quan trọng.Nhiều nhà nghiên cứu, nhiều bậc cha mẹ đã dành nhiều thời gian tìmhiểu các kiến thức nuôi dạy, chăm sóc trẻ ở lứa tuổi này Với mụcđích đồng hành cùng các em nhỏ trong những năm đầu đời, kênhBiBi xây dựng các chương trình phù hợp với đặc điểm tâm, sinh lýcủa các em Các chương trình giáo dục, giải trí của kênh luôn có tiêuchí nhẹ nhàng, sinh động và gần gũi với các em, vừa đáp ứng nhucầu thông tin phong phú vừa mang tính giáo dục, nâng cao hiểu biết,nhận thức cho các em nhỏ Với những nét đặc thù như vậy nên ngônngữ dẫn chương trình trên kênh truyền hình BiBi cũng có những đặcđiểm riêng Học viên nhận thấy những đặc điểm riêng đó rất cầnđược nghiên cứu nhưng lại chưa được quan tâm đúng mức Việc

Trang 10

nghiên cứu khảo sát để một mặt, thấy được sự phát triển của ngônngữ truyền hình nói chung, mặt khác giúp cho người sản xuấtchương trình có cơ sở nâng cao hiệu quả truyền thông nói riêng, gópphần đưa ra những giải pháp nhằm chuẩn hóa lời nói của người dẫnchương trình trong chương trình truyền hình dành cho thiếu nhi Nóicách khác, công trình của chúng tôi có ý nghĩa cấp thiết về cả lý luận

và thực tiễn, là công trình đầu tiên nghiên cứu toàn diện và có hệthống về vấn đề này

Học viên chọn một số chuyên mục phát sóng trên kênh BiBi từtháng 3/2013 đến tháng 9/2014 như Xúc Xắc – Lúc Lắc, Trổ tài cùng

bé, Vương quốc Tại sao, Nhảy cùng BiBi và Ngôi sao BiBi để khảosát là vì: Từ khi ra đời vào năm 2006 cho đến nay, kênh BiBi đã cónhững thay đổi đáng kể nhằm làm phong phú, đa dạng nội dung vàthể loại chương trình dành cho thiếu nhi Các chuyên mục nói trênđều nhằm vào lứa tuổi từ 0-12 tuổi, đây là lứa tuổi đang hoàn thiệndần các kĩ năng sống, các kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Từ tháng3/2013, các chương trình này đã có thay đổi cơ bản về mặt nội dung

và được sắp xếp vào khung giờ phát sóng hợp lý, có tính định kìhàng tuần, tạo được sự yêu mến nhất định với các em nhỏ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Về đề tài ngôn ngữ truyền hình, đã có một số công trình nghiêncứu và sách, tài liệu phục vụ giảng dạy đã được xuất bản, nhưng cáckhái niệm, định nghĩa được đưa mới mang tính khái quát chung nhưcuốn “Tác phẩm báo chí tập 1” do TS Tạ Ngọc Tấn chủ biên, Giáotrình nghiệp vụ báo chí, tập 1, Hà Nội 1978 của Khoa Báo chí, Trườngtuyên huấn Trung ương; Ngôn ngữ báo chí của Nguyễn Tri Niên;Ngôn ngữ báo chí của Vũ Quang Hào – NXB Thông tấn, Hà Nội

Trang 11

2009 Tác giả Trần Bảo Khánh có đề cập đến đặc trưng của ngôn ngữtruyền hình trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình” Tác giả

đã phân tích và chỉ ra được cấu tạo của ngôn ngữ truyền hình gồmnhững gì, yếu tố nào đóng vai trò quan trọng Tuy nhiên, đây là nhữngkhái niệm cơ bản về ngôn ngữ truyền hình Ngoài ra còn có “Đặcđiểm ngôn ngữ phóng sự ngắn truyền hình”- luận văn tốt nghiệp đạihọc báo chí, Nguyễn Kiều Hưng, tháng 6/2001 Luận văn cao học củamột số học viên như “Ngôn ngữ truyền hình Việt Nam: vấn đề và thảoluận” của Phan Quốc Hải, “Ngôn ngữ truyền hình trong bản tin Thời

sự - Đài Truyền hình Việt Nam” của Mai Thị Minh Thảo, “Khảo sátngôn ngữ phỏng vấn trên truyền hình ở Thừa Thiên – Huế” của Hoàng

Lê Thúy Nga, “Nhận diện đặc điểm ngôn ngữ trên kênh truyền hìnhO2TV” của Phạm Quỳnh Trang, “Ngôn ngữ phóng sự trên VTV1 –Đài Truyền hình Việt Nam” của Bùi Minh Hằng Các công trình nóitrên đều đưa ra được những khái quát cơ bản về ngôn ngữ truyền hìnhdành cho đối tượng công chúng là người lớn hoặc ngôn ngữ về nhữnglĩnh vực chuyên biệt như sức khỏe, thời sự, chính trị Có một côngtrình nghiên cứu mang tên “Vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ em trênkênh truyền hình BiBi” của Lê Thị Minh Huyền đã nêu được vai tròcủa kênh truyền hình BiBi đối với vấn đề giáo dục đạo đức cho trẻ

em, tuy nhiên công trình không đi sâu vào nghiên cứu, phân tích lờinói của người dẫn chương trình, đặc biệt là “ngôn ngữ lời nói dẫnchương trình truyền hình thiếu nhi”

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là trình bày một cách toàn diện và hệthống thực trạng ngôn ngữ lời nói dẫn chương trình trong các chươngtrình thiếu nhi trên kênh BiBi, trên cơ sở đó đề xuất các kiến nghị,

Trang 12

giải pháp nâng cao hiệu quả và chuẩn hóa trong việc sử dụng ngônngữ của người dẫn chương trình.

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm

- Khảo sát phần lời nói của người dẫn chương trình trongcác chương trình thiếu nhi trên kênh BiBi – Đài Truyền hình ViệtNam từ tháng 3/2013-12/2013, từ đó phân tích, rút ra được nhữngđặc điểm nổi bật về phần lời nói của người dẫn chương trình trongtác phẩm trên kênh truyền hình chuyên biệt cho đối tượng trẻ em từ0-12 tuổi

- Lập bảng điều tra về mức độ nhận thức của công chúng đốivới những kiến thức mà chương trình đưa ra

- Kết hợp với kết quả khảo sát và kết quả điều tra bằng bảnghỏi đưa ra một số kinh nghiệm về việc sử dụng lời nói của người dẫnchương trình trên kênh truyền hình chuyên biệt dành cho thiếu nhi

4 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Ngôn ngữ sử dụng trong một tác phẩm truyền hình bao gồmnhiều yếu tố cấu thành như hình ảnh, lời và tiếng động Luận văn chỉ

Trang 13

nghiên cứu về đặc điểm lời nói của người dẫn chương trình truyềnhình dành cho thiếu nhi

4.2 Giới hạn nghiên cứu:

Khảo sát “lời nói của người dẫn chương trình truyền hình thiếunhi” trong chương trình Xúc Xắc- Lúc Lắc, Trổ tài cùng bé, Nhảycùng BiBi, Vương quốc Tại sao, Ngôi sao BiBi trên kênh BiBi – ĐàiTruyền hình Việt Nam từ tháng 3/2013-9/2014

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Việc nghiên cứu, khảo sát về đặc điểm lời nói của người dẫnchương trình trên kênh truyền hình BiBi dựa trên cơ sở lý luận củaTriết học duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quanđiểm lịch sử - cụ thể, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác tư tưởng,văn hoá, xã hội học và các môn khoa học khác

Luận văn sẽ sử dụng những quan điểm của chủ nghĩa Lênin và Hồ Chí Minh về báo chí và truyền hình, dựa trên nhữngkhái niệm, nguyên tắc hoạt động, chuẩn mực của báo chí và ngônngữ để nghiên cứu

Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ chú trọng sử dụngcác phương pháp nghiên cứu tài liệu, khảo sát, thống kê, so sánh,phân loại các tư liệu về ngôn ngữ

- Phương pháp nghiên cứu được thực hiện trong việc khảo sátcác công trình nghiên cứu, sách lý luận, các văn bản, chỉ thị, nghịquyết… có liên quan đến báo chí nói chung và truyền hình nói riêng,đặc biệt liên quan đến vấn đề ngôn ngữ, lời nói sử dụng trongchương trình truyền hình

Trang 14

- Phương pháp khảo sát thực tế được vận dụng để làm sáng tỏthực trạng sử dụng ngôn ngữ lời nói dẫn chương trình trên kênh BiBihiện nay.

- Phương pháp phỏng vấn: phỏng vấn các em nhỏ, phỏng vấnphụ huynh, giáo viên của các em về mức độ tiếp nhận thông tin củachương trình

- Phương pháp thống kê, so sánh: so sánh với một số chuyênmục cho trẻ em cùng lứa tuổi từ 0-12 trên kênh VTV3, VTV6

- Ngoài ra còn sử dụng phương pháp điều tra bảng hỏi vàphương pháp phỏng vấn nhằm tìm hiểu mức độ tiếp nhận của côngchúng với thông tin trong các chuyên mục trên

- Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng để đánh giácác cứ liệu, các kết quả điều tra từ đó đánh giá,rút ra những luậnđiểm khoa học, đề xuất các giải pháp cần thiết nhằm nâng cao chấtlượng, hiệu quả cho chương trình

6 Đóng góp mới của đề tài

6.1 Về mặt lý luận

Đề tài cố gắng nghiên cứu tương đối có hệ thống các khái niệm

về ngôn ngữ, ngôn ngữ trên truyền hình, đồng thời đưa ra lý luậnbước đầu về đặc trưng “lời nói của người dẫn chương trình truyềnhình thiếu nhi” (từ 0-12 tuổi)

6.2 Về mặt thực tiễn

Những nghiên cứu, đánh giá, nhận xét trong luận văn sẽ đónggóp kinh nghiệm cho những người trực tiếp thực hiện sản xuấtchương trình trên kênh truyền hình BiBi để nâng cao hơn nữa hiệuquả của chương trình

7 Kết cấu luận văn

Trang 15

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục và tài liệu tham khảo,luận văn gồm có 3 chương như sau:

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀIChương II: KHẢO SÁT THỰC TRẠNG NGÔN NGỮ LỜINÓI DẪN CHƯƠNG TRÌNH TRÊN KÊNH BIBI

Chương III: NHỮNG KINH NGHIỆM ĐỂ NÂNG CAO HƠNHIỆU QUẢ SỬ DỤNG LỜI NÓI CỦA NGƯỜI DẪN CHƯƠNGTRÌNH TRÊN KÊNH TRUYỀN HÌNH BIBI

Trang 16

NỘI DUNG

Chương I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1 Lời nói

Muốn hiểu về lời nói, đầu tiên chúng ta cần hiểu ngôn ngữ là

gì Theo Ferdinand de Saussure – nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ, trongGiáo trình ngôn ngữ học đại cương đã chỉ ra: “Ngôn ngữ là một hệthống dấu hiệu biểu hiện những ý niệm Nó vừa là một sản phẩm xãhội của năng lực ngôn ngữ, vừa là một hợp thể gồm những quy ướctất yếu được tập thể xã hội chấp nhận, để cho phép các cá nhân vậndụng năng lực này” [2,2] Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất,ngôn ngữ là một hệ thống những âm, những từ được kết hợp vớinhau theo những quy tắc nhất định, được cộng đồng xã hội thừanhận, dùng làm phương tiện thể hiện tư duy và giao tiếp giữa cácthành viên trong cộng đồng người đó Ngoài ra, nó còn là phươngtiện để truyền đạt các giá trị văn hoá - lịch sử từ thế hệ này sang thế

hệ khác

Từ đó, chúng ta đưa ra định nghĩa lời nói Lời nói là “chuỗi liêntục các tín hiệu ngôn ngữ được xây dựng nên theo các quy luật và

Trang 17

chất liệu của ngôn ngữ, ứng với nhu cầu biểu hiện những nội dung(tư tưởng, tình cảm, cảm xúc, ý chí ) cụ thể” [2,2] Như vậy, lời nói

là sản phẩm của hoạt động nói năng của con người, nhằm mục đíchbiểu hiện tư duy, giao tiếp, định hướng hành động Chất liệu để tạonên lời nói là ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp ở dạngkhả năng tiềm tàng, còn lời nói là phương tiện giao tiếp ở dạng hiệnthực hoá, tức là ở dạng hoạt động, gắn liền với những nội dung cụthể… Trong giao tiếp, người ta chỉ tiếp xúc trực tiếp với các lời nói.Ngôn ngữ chính là hệ thống những yếu tố và nguyên tắc có giá trịchung, làm cơ sở để cấu tạo lời nói Ngôn ngữ được hiện thực hoátrong lời nói Ngôn ngữ và lời nói thống nhất nhưng không đồngnhất Lời nói lấy ngôn ngữ làm chất liệu Không có ngôn ngữ thìkhông có lời nói, nhưng ngược lại, lời nói lại cần thiết cho ngôn ngữđược xác lập và phát triển Không có lời nói, ngôn ngữ sẽ bị diệtvong

Cấu tạo của lời nói gồm 3 thành tố: ngữ âm, từ vựng và ngữpháp Ngữ âm là hệ thống các tín hiệu âm thanh được phát ra khi conngười thực hiện quá trình giao tiếp, vừa nhằm biểu đạt nội dungthông tin, vừa nhằm tạo sự biểu cảm của lời nói Từ vựng là toàn bộcác từ, cụm từ cố định của một ngôn ngữ, là vật liệu xây dựng nênngôn ngữ và lời nói Ngữ pháp là toàn bộ các quy tắc biến đổi và kếthợp từ thành cụm từ, câu

Trong giao tiếp bằng lời nói trên truyền hình (hay trong đờisống nói chung), câu còn được gọi bằng thuật ngữ khác là phát ngôn.Phát ngôn thì được nói lên còn câu thì được viết ra Tất nhiên, phátngôn khác với câu ở chỗ, nhờ ngữ điệu, âm sắc giọng nói, hoàn cảnhphát ngôn, mà một câu cấu tạo theo kiểu nghi vấn có thể được sử

Trang 18

dụng như một mệnh lệnh (ví dụ, chị dọa em: Mày có nín không?),như một lời cảm thán (ví dụ: Có chồng con nhà ai như thế nàykhông? Trời ơi là trời!)… Nhiều khi hình thức phủ định lại diễn đạt ýkhẳng định, và ngược lại, hình thức khẳng định cũng có thể diễn đạt

ý phủ định

Lời nói là một trong ba yếu tố cấu thành ngôn ngữ truyền hình.Lời nói truyền hình là sản phẩm ngôn ngữ tồn tại dưới dạng âmthanh của những đối tượng tham gia vào hoạt động trao đổi thông tintrên sóng đài truyền hình với tư cách là cơ quan báo chí Trên truyềnhình, có lời nói của nhà báo và của nhân chứng - công chúng Lời nóicủa nhà báo là dạng lời nói chính yếu nhất Có thể hiểu, lời nói củanhà báo truyền hình là sản phẩm ngôn ngữ tồn tại dưới dạng âmthanh của nhà báo, được phát trên sóng, nhằm mục đích trao đổithông tin giữa nhà báo –đại diện cho đài truyền hình, với công chúngkhán giả

Nếu xét theo chủ thể phát ngôn, có thể chia thành lời nói củabiên tập viên, phát thanh viên, phóng viên

Lời nói của phóng viên: Phóng viên là những người làm côngtác thu thập thông tin, sáng tạo tác phẩm Trong các chương trìnhthời sự truyền hình hiện nay, lời nói phóng viên xuất hiện khá dày

Họ thường nói tin, bài phản ánh, phóng sự tại hiện trường hoặctham gia đọc lời bình cho các tác phẩm có hậu kỳ Phóng viênthường sử dụng ngay cách đọc, nói tự nhiên vốn có để trình bày tácphẩm Cách nói, cách đọc thường do học tập nhau, do kinh nghiệm

mà nên Chính vậy, nhiều giọng có thể còn hơi thô ráp, kỹ thuật vậndụng cao độ, cường độ, trường độ, nhịp độ, âm sắc chưa nhuầnnhuyễn Nhưng, do thật sự hiểu và có tình cảm với sự kiện, con

Trang 19

người thực tế, phóng viên có thể trình bày một cách giàu cảm xúc,khiến tác phẩm trở nên thân mật, gần gũi với khán giả hơn.

Lời nói của biên tập viên: So với lời nói của phóng viên, lờicủa biên tập viên thường có chất giọng đẹp, phong cách nói mềmmại, ấm áp, truyền cảm do họ được lựa chọn từ đội ngũ nhà báo cónhiều kinh nghiệm trong công tác biên tập, đọc, nói Hiện nay, trongchương trình thời sự, người dẫn chương trình là biên tập viên, hoặcphóng viên kiêm biên tập viên Họ thường xuất hiện trong các trườngquay nhỏ có cách bài trí đơn giản, sử dụng phong cách đơn thoại, vớilối trình bày theo hình thức ”giả nói”, tức là đọc mà như nói Nộidung lời dẫn đã được chuẩn bị trước giúp họ tự tin, điềm đạm hơntrong trình bày thông tin

Lời nói của phát thanh viên: Khác với nhiều nước trên thế giớixem phát thanh viên là tất cả những người đọc, nói trên sóng, baogồm cả phóng viên, biên tập viên, ở Việt Nam hiện nay, phát thanhviên là chức danh dành riêng cho những người làm công tác đọc.Yêu cầu chung đối với lời nói của phát thanh viên là chất giọng đẹp,

có nghệ thuật đọc, nói diễn cảm Nhờ chất giọng chuẩn, cách phát

âm chuẩn, lời nói của họ đã góp phần nâng đỡ tích cực cho nội dungcủa hàng triệu tác phẩm, trở thành mẫu mực cho cách phát âm củangười dân trên khắp mọi miền đất nước Tuy nhiên, hiện nay, dongôn ngữ của truyền hình hiện đại trong chương trình thời sự là ngônngữ sinh động của đời sống, nên người thể hiện nó hầu như khôngphải là phát thanh viên, mà chủ yếu là phóng viên, biên tập viên,người dẫn chương trình Điều này cho thấy, truyền hình hiện đại tiếngần tới lối nói dung dị đời thường, đề cao sự chân tình, gần gũi, thân

Trang 20

mật hơn là đề cao những “chất giọng vàng” đẹp thì rất đẹp nhưng cóphần xa cách với công chúng.

Nếu xét theo vài trò, tính chất, lời nói được chia thành: Lờidẫn, lời bình, hội thoại

Lời dẫn và lời bình là lời của phóng viên, biên tập viên Trongnhiều trường hợp hình ảnh không thể lý giải được toàn bộ thông tin

mà nó đang hàm chứa, hoặc khi hình ảnh là những hình ảnh trừutượng gây khó hiểu cho khán giả thì lời bình là cách giải quyết cáckhó khăn này Lời bình có vai trò hết sức quan trọng Nó giúp tạonên mối quan hệ giữa hình ảnh và công chúng, hướng dẫn và giảithích hình ảnh cho công chúng hiểu một cách chính xác thông tin.Ngoài ra, thái độ, giọng điệu của người đọc cũng có ảnh hướng rấtlớn trong công việc thuyến phục người xem với những hình ảnhđang diễn ra trên màn hình

Nhờ có lời bình mà tư tưởng của tác giả dễ dàng truyền đạt tớicông chúng Lời bình trong truyền hình là những thông báo, nhữngphân tích, lý giải, là sự tổng hợp, bình luận, đánh giá những vấn đề

mà tác phẩn đề cập đến Lời bình chỉ nói cái mà hình không có, hìnhkhông thể diễn đạt được hết nội dung thông tin và nó luôn cần tớingôn ngữ để trợ giúp, hoàn thiện mình

Cùng với lời bình, lời dẫn là yếu tố quan trọng của truyềnhình Phần lời dẫn trên truyền hình được xem là phần quan trọngkhông kém phần lời bình trong phần nội dung chính của tác phẩmtruyền hình

1.1.2 Chương trình truyền hình

Chương trình truyền hình được hiểu là sản phẩm cuối cùng củatruyền hình, là những nội dung được phát sóng theo kế hoạch định kỳ

Trang 21

của một ngày, một tuần hay một tháng Như vậy, chương trình truyềnhình gần như bao hàm cả quá trình sáng tạo ra một sản phẩm chung.Những tác phẩm riêng lẻ sẽ được tổ chức thành các chuyên mụchoặc được sắp xếp theo một mẫu nào đó của đài để tạo nên cácchương trình Trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình”, tácgiả Trần Bảo Khánh cho rằng, chương trình là “kết quả cuối cùngcủa quá trình giao tiếp với công chúng” [20,15] Như vậy, ở đây,chương trình truyền hình còn có thể hiểu là một tác phẩm truyền hìnhhoàn chỉnh Các chương trình khi tồn tại đều có một sự định hìnhnhư: tên gọi, thời lượng, thời gian phát sóng… Tên gọi của chươngtrình thể hiện chủ đề, mục đích chính của chương trình như: chươngtrình thời sự, chương trình ca nhạc, chương trình thể thao, chươngtrình giao lưu trò chuyện, chương trình trò chơi…

Thuật ngữ “chương trình” là sự bao hàm nhiều vấn đề: vềnội dung, hình thức thể hiện, đối tượng hướng đến, mục đích…Mỗimột chương trình đều được xây dựng dựa trên các tiêu chí sau: Cáigì? (Chủ đề chương trình), Như thế nào? (Thể loại, hình thức thểhiện), Cho ai? (Đối tượng công chúng của chương trình), Khi nào?(Thời gian phát sóng định kỳ), Mục đích? (Chương trình mang đếnđiều gì cho công chúng)

Chính vì vậy, chương trình truyền hình là một thuật ngữ được

sử dụng phổ biến trong lĩnh vực truyền hình hiện nay Ra đời từ thế

kỷ thứ XX, chỉ trong một thời gian ngắn chương trình truyền hình đãnhanh chóng phát triển và khẳng định được vị ví, vai trò của mình.Tuy ra đời sau nhưng lại nhờ vào những thành tựu khoa học kỹ thuật,truyền hình đã trở nên lấn át các loại hình báo chí đã ra đời trước đó.Truyền hình có khả năng đến với tất cả các tầng lớp dân chúng rộng

Trang 22

rãi nhất, thậm chí đến tận các tầng lớp nằm bên ngoài ảnh hưởng củacác phương tiện thông tin đại chúng khác.[17] Ngoài ra, tính chấtnghe-nhìn, chương trình truyền hình làm tăng khả năng tiếp xúc cánhân của công chúng với người thông tin, qua đó người tiếp nhậnthông tin có thể có được sự phán xét về người thông tin ấy và về giátrị thông tin của người ấy Chính điều đó làm tăng tính hấp dẫn củachương trình truyền hình đối với công chúng John Hohenberg chorằng: “Truyền hình có nhiều điểm lợi- sự tức khắc của phát thanh tintức, sự trình chiếu nhanh chóng những hình ảnh và phát thanh nhữngbiến cố hàng ngày vào hàng triệu gia đình, sự tham dự của hàng triệudân chúng vào tin tức, sự rực rỡ của phim màu và sự trình chiếu hìnhthức độc đáo nhất của báo chí trong phạm vi phóng sự đích thân nhìnthận mắt.” [17] Sự ra đời của chương trình truyền hình đã tạo ra mộtbước đột phá trong truyền tải thông tin Nhờ truyền hình, thông tinđến với khán giả không còn là sự hình dung tưởng tượng về sự kiện

mà đó mà những thông tin được thể hiện bằng hình ảnh chuyển động

- Loại thuyết trình (Lecture): Đây là loại sử dụng phát thanhviên hoặc biên tập viên để trình bày các vấn đề

- Loại phỏng vấn (interview): Sử dụng các dạng câu hỏi đểphỏng vấn tìm kiếm thông tin

Trang 23

- Loại thảo luận (Panel Discusion): Là loại tác phẩm sử dụngphương thức thảo luận giữa nhà báo và các chuyên gia Mục tiêu củacuộc thảo luận là đưa ra các thông tin về quan điểm, ý kiến về mộtvấn đề, nhưng đưa bằng hình thức tranh luận, trao đổi các ý kiến vềvấn đề đó

- Loại kịch bản (Dramatization): Đây là loại tác phẩm truyềnhình có qui trình sản xuất luôn đòi hỏi được thực hiện một cáchchuyên nghiệp

- Loại sản xuất trực tiếp: Là loại tác phẩm truyền hình giúpcho khán

giả chứng kiến trực tiếp các sự kiện, sự việc đang diễn ra đồng thờivới thời

gian phát hành (3 cùng: cùng diễn ra, cùng phản ánh, cùng tiếpnhận)

Theo tác giả Trần Đăng Tuấn trong Hội thảo về ngành truyềnhình

năm 2003 [17] đã chia các dạng chương trình truyền hình dựatrên tiêu chí phương thức sản xuất như sau:

- Loại sản xuất theo phương thức trường quay (sẽ thực hiệnghi hình trong trường quay) Hình thức này có thể thực hiện chocác dạng tác phẩm như: Phỏng vấn, Đàm luận, Phát biểu

- Loại sản xuất theo phương thức điện ảnh (ghi hình ở ngoài trời

là chủ yếu): Hình thức này có thể sản xuất các thể loại tác phẩm nhưtin tức, phóng sự, phim tài liệu…

Cách phân chia này rõ ràng chỉ đáp ứng theo tiêu chí là theophương thức sản xuất chương trình, chính vì vậy mà nó chưa làmthỏa mãn người làm truyền hình để giúp họ có thể tác nghiệp hiệu

Trang 24

quả hơn

Như vậy, phân chia thể loại truyền hình thế nào, căn cứ vàotiêu chí nào để phân chia vẫn đang cần có sự thống nhất Tuy có sựphân chia như vậy, nhưng trên thực tế vẫn có sự đan xen với nhau

Và đây cũng là xu thế trội trong tương lai, khi mà các ranh giới vềthể loại bị mờ đi, nhường chỗ cho cách thể hiện nhiều chiều tạo nênhiệu quả ưu việt nhất trong cách thể hiện 1.1.3 Người dẫn chương trình truyền hình

Ngoài biên tập viên - dẫn chương trình trong chương trình thời

sự hay chương trình chuyên đề báo chí, trên truyền hình hiện nay còn

có đội ngũ dẫn chương trình trong các game shows hay ca nhạc giảitrí Có những người trực tiếp biên tập chương trình; có những ngườibiên tập một phần; có người chỉ làm công tác dẫn đơn thuần Do mức

độ am hiểu nội dung và năng khiếu khác nhau, có giọng dẫn tự tin,nhạy bén, đối đáp lưu loát, linh hoạt, sống động; có giọng lại nonyếu, thiếu chiều sâu, kém duyên dáng

Người dẫn chương trình là thuật ngữ dịch ra từ cụm từ Master

of Ceremonies Thuật ngữ Master of Ceremonies xuất phát đầu tiên

từ nhà thờ công giáo Lebanese Ở một nhà thờ công giáo lớn hoặcmột thánh đường thì người dẫn chương trình là người tổ chức và sắpxếp quá trình diễn biến của buổi lễ Đây cũng là người chịu tráchnhiệm điều phối an ninh trong khi buổi cầu nguyện diễn ra Ởnhững cuộc lễ lớn như lễ giáng sinh hay lễ phục sinh với thời giandiễn ra dài và phức tạp, người này đóng vai trò quan trọng trong việcđảm bảo mọi thứ để các buổi lễ diễn ra suôn sẻ Vào thập niên 70, 80của thế kỷ 20, thuật ngữ này gắn liền với dòng nhạc hip - hop Cáchgọi này dành cho người mà ngày nay được gọi là người điều chỉnh

Trang 25

nhịp điệu bài nhạc (DJ) Trong cách gọi này, thuật ngữ này còn cónghĩa là người kiểm soát mic, người cầm mic để nói chuyện, có thểhiểu là người điều phối cho bản nhạc đó Sau này, thuật ngữ MC(người dẫn chương trình) hiếm dùng trong dòng nhạc hip-hop ngàynay Thuật ngữ này lúc này được hiểu là “người tổ chức sự kiện”.

Có nhiều định nghĩa khác nhau về MC Theo Từ điểnWikipedia - Bách khoa toàn thư mở [16,24] định nghĩa người dẫnchương trình là: “Người hướng dẫn tổ chức một sự kiện hoặc mộtbuổi họp nào đó Trách nhiệm chủ yếu của người dẫn chương tình làngười dẫn, là người chủ của buổi họp, hội nghị Người dẫn chươngtrình lý tưởng là người biết cách cổ vũ, truyền tải và làm cho khángiả quan tâm đến cuộc họp, hội nghị đó” Đây là người chịu tráchnhiệm để bảo đảm chắc chắn sự kiện, chương trình đó sẽ xảy ra suôn

sẻ, đúng giờ và tất cả những người tham gia cuộc họp đều được giớithiệu Là một người dẫn thành công thì yêu cầu phải có sự chuẩn bị,phải có tính cách thân thiện, có khả năng điều chỉnh ngôn ngữ vàđiệu bộ cần thiết để bảo đảm cho một sự kiện thành công

Gần đây nhất, một thuật ngữ mới nhất khi nói về vị trí, vai tròcủa người dẫn dắt các chương trình Gameshow giải trí trêntruyền hình là thuật ngữ Host - Chủ nhà Thuật ngữ này không chỉnhấn mạnh đến tầm quan trọng của người dẫn chương trình mà còncho thấy vị trí công việc này cùng lúc phải thực hiện nhiều chứcnăng khác nhau Host : Chủ nhà, nghĩa là người dẫn chương trìnhđược giao quyền làm chủ chương trình, anh ta sẽ phải chủ động dẫndắt, điều khiển chương trình để đảm bảo về nội dung theo yêu cầucủa kịch bản lại vừa làm chủ diễn biến của chương trình đảm bảodiễn biến đó đi đúng và không vượt quá thời gian cho phép

Trang 26

Người đảm nhiệm vai trò là Host phải là người đã từng ở trong nhà(tức là đã từng tham gia vào cuộc thi trước đó), người này phảithực sự hiểu chương trình mà mình dẫn dắt, những tình huống cóthể gặp phải, những đối tượng mà mình sẽ phải tiếp xúc để hoàn toànlàm chủ chương trình Người dẫn chương trình Gameshow trêncương vị là Host gần đây nhất là ca sỹ Nguyên Vũ trong chươngtrình Bước nhảy hoàn vũ Sự làm chủ chương trình của người dẫnchương trình này khiến nhiều nguwời không hiểu cho là anh này quátùy tiện khi dám ngắt lời ban giám khảo hay ngắt lời thí sinh dự thi.Thực ra, với vai trò là chủ, anh ta có toàn quyền quyết định trongchương trình đó Đây là điểm rất mới khi bàn về vị trí, vai trò củangười dẫn chương trình truyền hình hiện nay

1.2 Đặc điểm lời nói của người dẫn chương trình

Lời nói của người dẫn chương trình là ngôn ngữ nói tồn tại dướidạng thức âm thanh và ngữ điệu Vì thế, muốn đạt hiệu quả giao tiếpcao, trước hết người dẫn chương trình trò chơi truyền hình phải cómột chất giọng tốt, phát âm rõ ràng, chuẩn xác, sử dụng ngữ điệutinh tế, hợp lý Bên cạnh đó, ngôn ngữ nói lại luôn được đi kèm theodáng vẻ, cử chỉ, nét mặt Điều này giúp cho lời nói của người dẫnchương trình trò chơi truyền hình vừa giàu tính biểu cảm lại vừachuyển tải được lượng thông tin lớn hơn nhiều so với những gì nằmtrong ý nghĩa của ngôn từ, và do vậy, có khả năng tác động đặc biệtmạnh mẽ Tuy nhiên dáng vẻ, cử chỉ đi kèm lời nói cần hết sức tựnhiên và có “liều lượng” để không gây phản cảm cho khán giả hoặckhiến họ bị phân tán tư tưởng (chỉ tập trung sự chú ý vào người dẫn

mà sao nhãng việc theo dõi trò chơi)

Lời nói của người dẫn chương trình là sự kết hợp giữa ngôn ngữ

Trang 27

được chuẩn bị trước và ngôn ngữ không được chuẩn bị trước (ứngkhẩu) Ngôn ngữ được chuẩn bị trước phải rõ ràng, dễ hiểu vàchặt chẽ, mạch lạc (thường thuộc về văn phong viết) Có nhưvậy, nó mới bảo đảm được tính chính xác và tính thuyết phục của cáccâu hỏi cũng như các đáp án trả lời được sử dụng trong mỗi chươngtrình Còn ngôn ngữ không chuẩn bị trước (ngôn ngữ ứng khẩu) làngôn ngữ phát sinh trong những tình huống ngoài kịch bản Songcho dù có không được chuẩn bị trước thì kiểu ngôn ngữ này cũngkhông được phép là một thứ khẩu ngữ tự nhiên mang trong mình cácyếu tố có tính chất suồng sã, tùy tiện (thậm chí thông tục), mà là mộtthứ ngôn ngữ văn hóa được dùng trong những hoàn cảnh giao tiếptheo nghi thức, tức là nó phải có tính chất đứng đắn, nghiêm túc,hoàn chỉnh, đáp ứng được các chuẩn mực xã hội về giao tiếp, ứng

xử

Người dẫn chương trình trò chơi truyền hình thường xuyênphải khởi xướng và tham gia vào các cuộc đối thoại (đối thoại vớingười chơi, đối thoại với khán giả) Những cuộc đối thoại này, mộtmặt, làm cho ngôn ngữ của chương trình trở nên đa tầng, đa thanh;mặt khác, kích thích tính chủ động tích cực của những người có liênquan Và nhờ thế, trò chơi sẽ sinh động, hấp dẫn hơn Khi tồn tạidưới hình thức đối thoại, ngôn ngữ của người dẫn chương trìnhtruyền hình có những nét dễ nhận thấy sau đây:

+ Sử dụng nhiều tình thái từ với nhiều chức năng khác nhau.Chẳng hạn để thực hiện mục đích phát ngôn: à, chứ, chăng, không,nhỉ… (trong câu hỏi, ví dụ: Như vậy đội có nơ có xứng đáng đượcnhận quà không các em nhỉ?); đi, với, nhé, nào, nhỉ, thôi… (trongcầu khiến, ví dụ: Các con hãy trở về chỗ bố mẹ đi nào !) Hoặc để

Trang 28

biểu thị cảm xúc: a, ôi, ồ… Để gọi đáp: ơi, ạ, này, vâng, dạ, ừ… + Có nhiều yếu tố dư lược hoặc tỉnh lược Những lời đối thoạicủa người dẫn trên truyền hình xuất hiện trong một bối cảnh giao tiếpđặc biệt, ở đó chủ thể phát ngôn luôn phải chịu sức ép từ nhiều phía:bầu không khí trong trường quay, thái độ và phản ứng của người đốithoại, sự bị thẩm định ngay lập tức của mỗi sản phẩm ngôn từ… Dovậy, chúng dù có được chuẩn bị trước cũng không tránh khỏi mangtrong mình những yếu tố dư (lặp thừa) Còn nếu lời đối thoại củangười dẫn có tính ngẫu phát (vừa nói vừa nghĩ) thì hiện tượng lặpthừa lại càng phổ biến

Ngoài ra, trong ngôn ngữ đối thoại, xuất phát từ nguyên tắckiệm lời, người ta cũng hay sử dụng thủ pháp lược bớt một số yếu tốđược xem là đã xác định và việc nhắc chúng lại là không cần thiết.Bên cạnh đó, để tránh hiện tượng lặp đi lặp lại cùng một câu hỏitrong những thời điểm gần nhau, người ta cũng có thể dùng thủ pháplượt bớt Ví dụ: Và bây giờ thì…? (Câu đầy đủ là: Và bây giờ thìchị đoán hay là chị quay tiếp?)

Khi ứng khẩu, người dẫn chương trình trò chơi không thể nóitrôi chảy như trong hoàn cảnh được chuẩn bị trước Anh ta vừa nói,vừa tư duy, vì thế sự vấp váp, ngắt quãng là rất khó tránh khỏi Biếtvậy, khán giả sẵn sàng chấp nhận chuyện đó (thậm chí có người còncho rằng nó làm cho ngôn ngữ của anh ta trở nên tự nhiên hơn, mangdấu ấn cá nhân rõ nét hơn) Tuy nhiên, mọi thứ đều có giới hạn;nếu sự ngắt quãng diễn ra thường xuyên và với độ lớn vượt quámức cho phép về thời gian, chắc chắn nó sẽ làm gián đoạn quátrình tiếp nhận thông tin gây khó chịu cho người nghe

Ngoài ra, lời nói của người dẫn phải giàu các yếu tố gợi cảm

Trang 29

Các yếu tố gợi cảm ở đây được hiểu là những từ ngữ, lối nói giàuhình ảnh hoặc mới lạ, in đậm dấu ấn cá nhân Đó có thể là thành ngữ

- tục ngữ, chất liệu văn học, hình ảnh so sánh, ví von… và thậm chí

là cả từ ngữ được vay mượn từ tiếng nước ngoài Việc dùng chúngmột cách chính xác và đúng thời điểm luôn mang lại hiệu quả tolớn: vừa gia tăng giá trị thẩm mĩ cho lời nói (khiến cho người nghethấy sinh động hấp dẫn hơn), vừa thể hiện được tầm vóc văn hóa củangười dẫn

Hơn thế, lời nói của người dẫn phải mang sắc thái trẻ trung, sôinổi Các chương trình truyền hình thường diễn ra trong một bầukhông khí sôi động, náo nhiệt; đòi hỏi người dẫn phải có chất giọngkhỏe khoắn, trẻ trung, sôi nổi, có khả năng “truyền lửa” không chỉcho người chơi mà cho tất cả những ai đang theo dõi trò chơi - kể cảnhững người ở trường quay cũng như những người ngồi trước vôtuyến truyền hình Thực tế cho thấy, những người có chất giọngyếu, lại nói với âm điệu đều đều, khó có thể dẫn thành công mộtchương trình truyền hình

Lời nói của người dẫn chương trình truyền hình gồm các yếu

tố cấu thành sau: ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Ngữ âm là cách phát

âm Dù có thể nó mang yếu tố vùng miền và đặc trưng giọng của cánhân mỗi người song yêu cầu chung với người dẫn là không được saiquy tắc phát âm chung của toàn dân Phát âm cũng được quy địnhbởi âm lượng, sự biểu cảm Âm lượng thường đủ nghe, biểu cảm thìphải phù hợp với nội dung dẫn, đa số trong các chường trình mộtchất giọng trầm bổng, vui vẻ sẽ gây được cảm tình hơn Từ là nhữngđơn vị hai mặt, có hình thức và âm thanh, có ý nghĩa và khả năngtrực tiếp kết hợp với nhau để tạo thành các câu cụ thể Muốn hình

Trang 30

thành lời nói không thể không có từ Từ là đơn vị hiển nhiên, sẵn cócủa ngôn ngữ Từ kết hợp với nhau theo những nguyên tắc nhất định

để cấu tạo nên các ngữ Xét theo cấu tạo có thể chia ra từ đơn âm tiết

và từ đa âm tiết Từ đa âm tiết lại có thể chia tiếp là từ ghép và láy.Tiếp theo là câu Câu là một phần của đoạn hội thoại, ghép bởi các

từ, tạo nên cấu trúc ngữ pháp hoàn chỉnh (chủ ngữ, vị ngữ); thườngđược viết kết thúc bởi dấu chấm, dấu chấm hỏi hay dấu chấm than

Có thể phân chia thành các kiểu câu: Câu đơn, câu ghép, câu kể, câuhỏi, câu cảm thán,…Ngoài ra, yếu tố cấu thành còn gồm cả dáng vẻ,

cử chỉ, ánh mắt, trang phục,…

1.3 Vai trò của lời nói của người dẫn chương trình truyền hình

Người dẫn chương trình đóng một vai trò quan trọng Đây làngười quan trọng nhất trong quá trình chương trình diễn ra Họthường là người tổ chức mọi diễn biến trong hội nghị đó cũng nhưnói chuyện với khán giả Do vậy, lời dẫn của người dẫn chương trình

là yếu tố quan trọng của truyền hình Nó quan trọng đầu tiên bởingôn ngữ nói là ngôn ngữ hướng tới thính giác- một hệ tri giác hoànhảo nhất của con người Qua thính giác, lượng thông tin tiếp nhậnđược sẽ lớn gấp nhiều lần so với lượng thông tin tiếp nhận bằng conđường thị giác Ngôn ngữ nói, ngoài thông tin nằm trong nghĩa củangôn từ, nó còn mang trong mình thông tin bổ trợ khác biệt thể hiệnqua chất giọng, ngữ điệu, âm lượng Lượng thông tin bổ trợ này cóvai trò quan trọng, quyết định mức độ hiệu quả của việc tiếp nhậnthông tin.Theo W Hofman “Nội dung thông tin làm người ta xúcđộng tới mức nào, thì âm thanh của tiếng nói cũng có thể làm người

ta rung cảm tới chừng ấy” Còn theo tác giả Nguyễn Đức Dân "Biên

Trang 31

tập viên kể cho khán giả nghe một câu chuyện chứ không phải đọc cho khán giả nghe một bài viết sẵn"

Thứ hai, phần lời dẫn của người dẫn chương trình trên truyềnhình được xem là phần quan trọng không kém phần lời bình trongphần nội dung chính của tác phẩm truyền hình Neil Everton đã từngkhẳng định: “Lời dẫn là món khai vị công phu, một bữa tiệc thôngtin thịnh soạn có ngon hay không là nhờ món khai vị”[28, 53] Lờidẫn có tác dụng giới thiệu, chuyển cảnh nhằm tăng tính logic, kếtnối nội dung, giúp khán giả không bị đột ngột khi tiếp nhận thôngtin chính, đồng thời nó cũng là lời kết nối giúp nội dung mạch lạc,

dễ hiểu hơn Nó xuất hiện ở những điểm kết nối của chương trình,đôi khi nó lại xuất hiện ở trước một đoạn phỏng vấn, tọa đàm Vìthế, nó có thể mang tính độc thoại hoặc đối thoại Các thể loại nhưbình luận, phóng sự, phản ánh, điểm tin…đều mang tính độc thoại.Tuy nhiên, trong quá trình độc thoại như dẫn chương trình, ngườidẫn phải thường xuyên sử dụng từ ngữ, cách diễn đạt đặc trưng chongôn ngữ đối thoại để người nghe thấy gần gũi, có cảm giác phóngviên đang nói chuyện với mình để đạt được hiệu quả truyền thôngcao hơn còn các thể loại sử dụng ngôn ngữ độc thoại gồm: phỏngvấn, tọa đàm cũng thường xuyên được sử dụng

1.4 Các yếu tố tác động lên lời nói của người dẫn chương trình

- Phương thức sản xuất chương trình truyền hình trực tiếp

Trên Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay, các chương trình Thời

sự nói chung, Thời sự 7h tối nói riêng đều sử dụng phương thức sảnxuất trực tiếp Thời gian sự kiện xảy ra hoặc thời gian sản xuấtchương trình đồng thời với phát sóng và tiếp nhận Dòng tin tức nónghổi cần được truyền đi nhanh chóng, tức thì, tạo cho người xem cảm

Trang 32

giác họ đang được trực tiếp chứng kiến sự kiện Trong hoàn cảnh đó,người nói – cả biên tập viên phòng thu cũng như phóng viên hiệntrường, không thể sử dụng phong cách đọc chậm rãi, khoan thai, dìudặt, mà phải đặt mình trong tư thế của người truyền tin, đối thoại vớikhán giả Vì thế, họ thường sử dụng lối giả nói – tức nhờ sự hỗ trợcủa màn hình chạy chữ máy tính, họ đọc mà như nói (tại trườngquay), hoặc nói ứng khẩu trực tiếp (tại hiện trường) Khi trình bày tạihiện trường, câu từ thường dễ vấp váp hơn, nhiều từ thừa, từ thiếu;lối nói nhịu, nói vấp hay xuất hiện Dòng lời nói cũng có thể khinhanh, khi chậm, khi to, khi bé tùy tình huống Dạng ngôn ngữ nói tỏ

Cùng với nhu cầu tiếp nhận phương thức nói, khán giả hiện đạicòn có nhu cầu tiếp nhận thông tin ngắn gọn Điều đó có nghĩa, lờinói truyền hình không chỉ phải đúng mà còn phải trúng, không chỉ

Trang 33

phải dễ hiểu, dễ tiếp nhận mà còn phải hấp dẫn, không chỉ phải đầy

đủ mà còn phải ngắn gọn, súc tích Nhà báo không còn là người ápđặt thông tin một chiều mà phải là người tương tác, chia sẻ, khôngcòn là người thuyết giảng mà phải là người bạn đồng hành với thínhgiả Bên cạnh đó, hiện nay, còn tồn tại khoảng cách ngày càng lớngiữa một bên là nhóm khán giả “bác học”, có trình độ học vấn cao,với một bên là nhóm thính giả “bình dân”, trình độ học vấn thấp.Điều này tất yếu dẫn tới sự ra đời của của các sản phẩm ngôn ngữmang tính bác học bên cạnh các sản phẩm ngôn ngữ mang tính bìnhdân

Tất cả những sự thay đổi đó đang đặt ra yêu cầu truyền hình nóichung, lời nói truyền hình nói riêng phải thay đổi, thích ứng

- Sự vận động không ngừng của ngôn ngữ hiện đại trong xu thếtiếp biến văn hóa ngôn ngữ

Ngôn ngữ tiếng Việt- cũng như hầu hết các thứ tiếng trên thếgiới, là một sinh ngữ, đang vận động cùng với sự vận động, pháttriển hàng ngày của con người, xã hội Trong bối cảnh tiếp biến vănhóa ngôn ngữ (được hiểu đơn giản là sự giao lưu, trao đổi, hội nhập

về ngôn ngữ giữa các nền văn hóa khác nhau) diễn ra mạnh mẽ,trong công cuộc Việt Nam hội nhập sâu rộng với thế giới về mọimặt, các khái niệm mới, quan điểm mới, sự vật mới xuất hiện, dẫnđến các thuật ngữ mới, tên gọi mới du nhập vào Việt Nam Hơn nữa,toàn cầu hóa truyền thông đại chúng cũng tạo cơ hội cho nhà báotruyền hình tiếp cận thường xuyên tin tức nước ngoài, qua đó, sựgiao lưu, du nhập ngôn ngữ là xu hướng tất yếu Có những yếu tốngôn ngữ tỏ ra lạc hậu, bị thải loại; có những yếu tố hợp thời, đắcdụng; cũng có nhiều yếu tố ngôn ngữ mới xuất hiện do nhu cầu giao

Trang 34

tiếp Điều đó yêu cầu nhà báo truyền hình phải nắm bắt những xuhướng ngôn ngữ mới, vận dụng một cách phù hợp để nâng cao hiệuquả của lời nói truyền hình hiện nay.

- Năng lực cá nhân của người dẫn

Đây là yếu tố mang tính chủ quan của người dẫn chương trình.Năng lực cá nhân là yếu tố được thể hiện qua các nội dung sau: + Khả năng sử dụng ngôn ngữ

Muốn sử dụng tốt ngôn ngữ, trước hết, người dẫn chươngtrình phải là người có vốn ngôn ngữ phong phú Đây là cơ sởquan trọng, là cái chất liệu quan trọng để người dẫn chươngtrình sử dụng trong công việc của mình Yếu tố này có thể quyếtđịnh sự thành công hay không trong công việc của một người dẫnchương trình

Khả năng sử dụng ngôn ngữ còn thể hiện ở khả năng vận dụngngôn ngữ trong việc giải quyết những tình huống bất ngờ Đó

là tài ăn nói hay khiếu nói, yếu tố này mang tính năng khiếu, bẩmsinh Từ năng khiếu sẵn có, sự học tập, rèn giũa sẽ giúp cho họ biếnnhững yếu tố năng khiếu trở thành điểm mạnh của mình

+ Kiến thức xã hội

Yếu tố mang tính chủ quan này cũng ảnh hưởng khá lớn đếnviệc sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình Kiến thức xã hộichính là phông nền kiến thức văn hóa của người dẫn chươngtrình Khi người dẫn chương trình có một phông kiến thức rộng, cóvốn tri thức vững chắc thì người dẫn chương trình này hẳn sẽ có mộtphong thái tự tin, điều này giúp họ có thể bình tĩnh sử dụng ngôn ngữtrong mọi tình huống

+ Khả năng giao tiếp

Trang 35

Khả năng giao tiếp là một yếu tố quan trọng trong năng lực cánhân của người dẫn chương trình Khả năng giao tiếp tốt sẽ là điềukiện quan trọng để người dẫn chương trình thành công với vai tròcủa mình Dẫn dắt một chương trình truyền hình, người dẫn chươngtrình thường xuyên thực hiện các hoạt động giao tiếp với cácvai giao tiếp khác nhau Khả năng giao tiếp tốt sẽ giúp họ có được

sự chủ động, tự tin trên sân khấu Khả năng giao tiếp cũng thể hiện ởkhả năng ứng khẩu một cách thông minh của người dẫn chươngtrình Ngược lại, người dẫn chương trình mà giao tiếp khôngtốt, khả năng giao tiếp bị hạn chế cũng là một yếu tố ảnh hưởngđến việc sử dụng ngôn ngữ của người dẫn chương trình như: lúngtúng trong xử lý tình huống, nói vấp hay có thể gây ra những lỗitrong ứng xử khi dẫn dắt một chương trình…

1.5 Giới thiệu về truyền hình thiếu nhi, kênh thiếu nhi BiBi

Những năm gần đây, các kênh truyền hình của Việt Nam dànhcho lứa tuổi thiếu niên nhi đồng đã bắt đầu xuất hiện Có thể kể đếnnhững cái tên như VTV6 và BiBi của Đài Truyền hình Việt Nam,HTV3 của Đài Truyền hình TP Hồ Chí Minh, Kid & Family TV(VTC11) của Đài Truyền hình Kỹ thuật số, SaoTV của Truyền hìnhCáp SCTV… Mỗi kênh có một tiêu chí nhất định, đề cập đến đề tài

mà một nhóm đối tượng xã hội quan tâm

HTV3 và VTC11 đều chung đối tượng xem là trẻ em và giađình nên các chương trình phát sóng rất đa dạng, khung giờ phục vụcho trẻ em chỉ giới hạn từ 1 đến 2 giờ/ngày, trong đó phần lớn làchiếu phim hoạt hình Kênh SaoTV là kênh xã hội hóa của SCTVphục vụ cho thiếu nhi dưới 15 tuổi, thời lượng dành cho phim hoạt

Trang 36

hình cũng chiếm đa số và diện phủ sóng ít do chỉ phục vụ khán giảcủa thành phố Hồ Chí Minh

Đài Truyền hình Việt Nam có 2 kênh phục vụ cho lứa tuổithiếu niên là VTV6 và BiBi Kênh VTV6 nói cho chính xác hơn làphục vụ cho lứa tuổi thanh thiếu niên, nên đối tượng trẻ em dưới 6tuổi không được quan tâm Bù vào đó, kênh truyền hình BiBi –VTVcab 8 là kênh dành riêng cho lứa tuổi dưới 12 tuổi Đây là kênhtruyền hình chuyên biệt dành riêng cho thiếu nhi được VTV giao choTruyền hình Cáp quản lý, phát triển trên hệ thống truyền hình trảtiền

Ngày 1/6/2006, kênh truyền hình BiBi (lúc đó là VCTV8) rađời – là kênh truyền hình chuyên biệt đầu tiên, kênh dành cho thiếunhi đầu tiên và là kênh có tên gọi riêng đầu tiên Bộ nhận diện kênhBiBi được xây dựng trên ý tưởng những viên bi ngộ nghĩnh, nhiềumàu sắc – một thứ đồ chơi quen thuộc của trẻ em Việt Nam

Logo kênh thiếu nhi BiBiĐiểm mạnh của kênh BiBi là thời lượng phát sóng lớn, từ 6hđến 24h hàng ngày, trong đó thời gian dành cho phát mới là từ 17h-20h Nội dung chương trình khá phong phú, bao gồm các chươngtrình nước ngoài mua bản quyền và nhiều chương trình sản xuấttrong nước với nội dung đa dạng, phù hợp với lứa tuổi Ngoài ra, hạtầng phát sóng trên hệ thống truyền hình Cáp và Truyền hình số vệtinh giúp cho kênh BiBi có thể đến với đông đảo khán giả trên toànlãnh thổ Việt Nam một cách thuận lợi hơn

Trang 37

Kênh BiBi cũng nghiên cứu khá kĩ đặc điểm tâm lý lứa tuổi đểxây dựng chương trình phù hợp đồng thời sắp xếp lịch phát sóng phùhợp với giờ giấc sinh hoạt của các em nhỏ Các yếu tố mang tính thờigian, thời điểm như dịp Quốc tế thiếu nhi 1/6, Trung thu, Khai giảng,20/11 hay Tết cổ truyền đều có những chương trình có nội dung phùhợp, mang tính giáo dục và giải trí đặc sắc

Hậu trường một buổi ghi hình chương trình “Trổ tài cùng bé” của kênh BiBi.

Cho đến nay, kênh truyền hình BiBi đã có hơn 8 năm đồnghành cùng các em thiếu nhi trên lãnh thổ Việt Nam Hoạt động sảnxuất các chương trình trên kênh BiBi được giao cho phòng Nội dung

2 thuộc Ban Biên tập Truyền hình Cáp – Đài Truyền hình Việt Namđảm nhận Tuy nhiên, do đặc thù kênh BiBi cũng như các kênhVTVcab khác được sản xuất dựa trên sự quyết định tài chính củaTổng Công ty Truyền hình Cáp Việt Nam nên hiện nay trên sóng củaBiBi có những khung giờ xã hội hóa, dành để phát sóng các chương

Trang 38

trình do đối tác sản xuất thông qua sự kiểm duyệt nội dung củaVTVpcd.

Một số chương trình trên kênh BiBi

1 Vương quốc Tại sao 10 1 tuần 2 số 18h thứ ba, thứ sáu

2 Xúc Xắc – Lúc Lắc 30 1 tuần 1 số 18h10 thứ sáu

3 Nhảy cùng BiBi 10 1 tuần 1 số 18g00 thứ tư

4 Trổ tài cùng bé 30 1 tuần 1 số 18g00 thứ bảy

5 Ngôi sao BiBi 30 1 tuần 1 số 18g00 thứ bảy

6 Triệu phú thiếu nhi 15 1 tuần 5 số 11g15 thứ hai, ba,

tư, sáu, bảy

7 Đậu Lém phiêu lưu kí 15 1 tuần 2 số 11h15 thứ năm, chủ

nhật

Chương trình “Vương quốc Tại sao” là chương trình kể

chuyện cho thiếu nhi dưới dạng tiểu phẩm Chương trình có sự xuấthiện của 3 người dẫn chương trình là chị Sơn Ca, anh Líu Lo, chị Líu

Lô kể những câu chuyện vui nhộn, hấp dẫn cho các em nhỏ Đan xengiữa câu chuyện là những tình huống hài hước, ngộ nghĩnh khiến các

em nhỏ rất thích thú Một điểm đáng yêu của chương trình khiến các

em nhỏ say mê và bị cuốn hút đó là đến với chương trình, các emđều được nhận quà của 3 người dẫn chương trình là chị Sơn Ca, anhLíu Lo, chị Líu Lô

Chương trình Xúc Xắc – Lúc Lắc là chương trình sân khấuthiếu nhi có thời lượng 30 phút Câu chuyện xoay quanh hai nhân vậtchính của chương trình là anh Xúc Xắc và chị Lúc Lắc với bối cảnh

là hành tinh BiBi và hành tinh Kẹo Mút Các bạn nhỏ đến chơi vớianh Xúc Xắc, chị Lúc Lắc sẽ được xem hoặc tham gia biểu diễnnhững tiết mục văn nghệ rất độc đáo, hấp dẫn với nhiều chủ đề khác

Trang 39

nhau Anh Xúc Xắc biết tuốt, cái gì cũng giỏi còn chị Lúc Lắc tuyhọc giỏi nhưng ngây thơ, tốt tính Tuy vậy chị Lúc Lắc lại rất khéotay, chị nghĩ ra được nhiều trò chơi vui nhộn và hướng dẫn các bạnnhỏ làm được rất nhiều món đồ thủ công tuyệt đẹp

Xuất hiện trên kênh BiBi từ năm 2012, chương trình “Nhảycùng BiBi” lập tức tạo nên cơn sốt trên truyền hình và trên youtube.Với một kết cấu đơn giản và thời lượng ngắn (10 phút), chương trìnhkhông chỉ dạy các em nhỏ những động tác múa đơn giản, ngộnghĩnh, dễ thương mà còn tạo nên sức hấp dẫn bởi hình ảnh chắt lọc,bắt mắt và nền những giai điệu tươi vui, nhẹ nhàng Người dẫnchương trình Ninh Quang Trường cũng tạo dấu ấn với các em nhỏbởi phong cách dẫn giản dị, gần gũi và bởi những bộ trang phục cómàu sắc sặc sỡ rất độc đáo

Chương trình “Trổ tài cùng bé” bắt đầu lên sóng từ năm 2011,

là một sân chơi dành cho học sinh tiểu học Chương trình gồm 3phần chơi: phần câu hỏi tình huống (người chơi được xem một đoạnphim và trả lời câu hỏi liên quan đến nội dung đoạn phim), phần chơivận động và phần chơi tung xúc xắc (mô phỏng trò chơi cá ngựa,người chơi tung vào ô nào sẽ trả lời câu hỏi thuộc lĩnh vực đó, ngườichơi nào về đích trước sẽ giành chiến thắng) Điểm đặc biệt củachương trình là tạo được câu chuyện xuyên suốt của 2 người dẫnchương trình là chị Thanh Hòa và anh Ong Bi Ong Bi là một chúong ham học hỏi và thích làm bạn với các bạn nhỏ Nhờ có chịThanh Hòa học ở trường Phép thuật đã giúp cậu có những cơ hội đếnsân chơi Trổ tài cùng bé để làm bạn với các bạn nhỏ, qua đó cậu họcđược rất nhiều điều lí thú của thế giới loài người Sau này, chị ThanhHòa đã giúp cậu trở thành người thực sự sau khi cậu phải làm đủ 12việc tốt

Trang 40

Đây cũng là một chương trình trò chơi truyền hình dành chohọc sinh tiểu học Khác với Trổ tài cùng bé, Ngôi sao BiBi mang tínhgiải trí nhiều hơn vì độ tuổi người chơi từ 6-8 là độ tuổi chưa thể đòihỏi các em những kiến thức sâu Với các em học là chơi và chơi làhọc Kết cấu chương trình gồm 3 phần, phần chơi “Hiểu biết chung”(mỗi người chơi phải trả lời 5 câu hỏi thuộc 5 lĩnh vực khác nhau),phần chơi vận động và phần thi “Tài năng” Tổng điểm của ngườichơi được tính qua 3 phần, người chơi nào giành điểm cao nhất sẽgiành chiến thắng và được vào vòng trong Hai người dẫn chươngtrình là Tùng Anh và Huyền Thu với phong cách dẫn nhí nhảnh, tươivui luôn đem đến trường quay một không khí sôi động, hào hứng

Tiểu kết chương 1

Trong xu hướng phát triển chung của nền báo chí thế giới, đểtồn tại và phát triển, mỗi loại hình báo chí đã tìm cho mình nhữnghướng đi riêng Báo in truyền thống đã dần bị báo mạng, truyền hình

và phát thanh lấn sân Trong số này, truyền hình đang hướng theo xuhướng phát triển những kênh chuyên sâu về một lĩnh vực trong đờisống xã hội đồng thời không ngừng cải tiến và nâng cao chất lượng,đẩy mạnh sư tương tác giữa người nghe/người xem với chương trình

Ngày đăng: 16/01/2016, 23:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. TS Hoàng Anh, đề tài cấp bộ “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên Đài Tiếng nói Việt Nam”Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ gìn sự trong sáng củatiếng Việt trên Đài Tiếng nói Việt Nam
1. A.La. Luropxki, Báo chí truyền hình (sách tham khảo nghiệp vụ)- NXB Thông tấn- Hà Nội, 2004 Khác
2. Hoàng Anh- Những kỹ năng về sử dụng ngôn ngữ trong truyền thông đại chúng / Hoàng Anh . - H. : ĐHQGHN, 2008 Khác
3. Hoàng Anh, Một số vấn đề sử dụng ngôn từ trên báo chí, Nxb Lao động, Hà Nội, 2003 Khác
5. Trương Cung, Tu từ học tiếng Hán hiện đại, NXB Thiên Tân, 1963 (bản tiếng Hán- dẫn theo Hoàng Văn hành) Khác
6. Didier Desormeaux- Phóng sự truyền hình (sách tham khảo nghiệp vụ)- NXB Thông tấn- Hà Nội, 2004 Khác
7. Đỗ Võ Tuấn Dũng, Truyền thông giáo dục sức khỏe cho cộng đồng trên báo chí- Luận văn Thạc sỹ báo chí, 2004 Khác
8. Đức Dũng- Viết báo như thế nào? – NXB Văn hóa- thông tin 2000 Khác
9. Hữu Đạt, Phong cách và phong cách chức năng Tiếng Việt, NXB Văn Hóa- Thông tin, 2000 Khác
10. Dương Kỳ Đức- Quan niệm về thuật ngữ- lịch sử thuật ngữ trong tiếng Việt, Bài giảng Đại học Ngoại ngữ quân sự, 1983 Khác
11. Phan Quốc Hải, Ngôn ngữ truyền hình Việt Nam: vấn đề và thảo luận- Luận văn Thạc sỹ báo chí, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, 2010 Khác
12. Hoàng Văn Hành, Về sự hình thành và phát trển của thuật ngữ Tiếng Việt, trong tập chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ, NXB GD, 1984 Khác
13. Vũ Quang Hào, Ngôn ngữ báo chí- NXB Thông Tấn- Hà Nội 2009 Khác
14. Đinh Thị Thúy Hằng, Báo chí thế giới- xu hướng phát triển- NXB Thông tấn- Hà Nội 2008 Khác
15. Nguyễn Kiều Hưng, Đặc điểm ngôn ngữ phóng sự ngắn truyền hình- luận văn tốt nghiệp đại học báo chí, Tháng 6/2001 Khác
16. Vương Thị Huyền, Ngôn ngữ của người dẫn chương trình trò chơi truyền hình, ĐH KHXHNV Hà Nội, 2012 Khác
17. Nguyễn Thế Kỷ, Vài nhận xét về dạng thức nói trên đài truyền hình từ vai trò giao tiếp tới công chúng, tạp chí ngôn ngữ số 4/1999 Khác
18. Phân Viện Báo chí và Tuyên truyền, Biên tập ngôn ngữ sách và báo chí tập 2 - NXB Quân đội nhân dân- Hà Nội, 1995 Khác
19. John Henberg, Ký giả chuyên nghiệp NXB hiện đại, Sài gòn 1974) Khác
20. Trần Bảo Khánh- Sản xuất chương trình truyền hình, NXB Văn hóa- thông tin Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình hiệu chính NGÔI SAO BIBI - Khảo sát ngôn ngữ người dẫn chương trình truyền hình qua kênh BiBi
Hình hi ệu chính NGÔI SAO BIBI (Trang 125)
Hình cắt 2 Vận động - Khảo sát ngôn ngữ người dẫn chương trình truyền hình qua kênh BiBi
Hình c ắt 2 Vận động (Trang 135)
Hình cắt 3 Tài năng - Khảo sát ngôn ngữ người dẫn chương trình truyền hình qua kênh BiBi
Hình c ắt 3 Tài năng (Trang 137)
22. Bảng chữ cuối Những người thực hiện Đồ họa đẹp - Khảo sát ngôn ngữ người dẫn chương trình truyền hình qua kênh BiBi
22. Bảng chữ cuối Những người thực hiện Đồ họa đẹp (Trang 141)
HÌNH HIỆU  20” - Khảo sát ngôn ngữ người dẫn chương trình truyền hình qua kênh BiBi
20 ” (Trang 142)
Bảng chữ cuối (đồ họa đẹp) - Khảo sát ngôn ngữ người dẫn chương trình truyền hình qua kênh BiBi
Bảng ch ữ cuối (đồ họa đẹp) (Trang 155)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w