1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy trình nghi lễ trong hôn nhân của người Mông ở Mường La, Sơn La

88 554 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 102,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn đề tàiTrong tác phẩm nổi tiếng Các nghi lễ chuyển đổi (Rite the passage) xuất bản đầu tiên vào năm 1909 của nhà nhân học người Pháp Arnold van Gennep, nghi lễ trong hôn nhân, cùng với các nghi lễ trong chu kỳ đời người khác là sinh đẻ, thành đinh và tang ma, được coi là một trong những loại nghi lễ quan trọng nhất trong chu kỳ một con người. Ảnh hưởng hướng tiếp cận cấu trúc chức năng của người chú, đồng thời cũng là nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp Emile Durkheim, các nghi lễ trong hôn nhân, theo tác giả, có chức năng hết sức quan trọng trong việc chuyển đổi vị thế của một cá nhân, cụ thể là cô dâu và chú rể, sang một giai đoạn khác của cuộc đời. Thông qua hàng loạt các quy trình nghi lễ khác nhau được thực hiện dưới sự chứng giám của thần linh, của ông bà tổ tiên, cùng với sự tham gia của các thành viên trong dòng họ và cộng đồng, các cá nhân được hòa nhập vào một gia đình, một nhóm xã hội mới. Không chỉ có chức năng trong việc chuyển đổi vị thế của một cá nhân, các nghi lễ trong hôn nhân cũng tạo ra các mạng lưới xã hội mới, đặc biệt là các mối quan hệ thông gia giữa nhóm xã hội này và xã hội khác trong và ngoài cộng đồng. Dân tộc Mông là một dân tộc thiểu số cứ trú chủ yếu ở vùng miền núi phía Bắc nước ta. Giống như ở các truyền thống văn hóa khác, hôn nhân của người Mông cũng gắn liền với một hệ thống các nghi lễ phức tạp như nghi lễ kéo vợ, nghi lễ dạm ngõ và các nghi lễ trong đám cưới. Do áp đặt cách nhìn từ bên ngoài, nhiều tập tục trong hôn nhân của người Mông ở Mường La, Sơn La nói riêng và người Mông ở Việt Nam nói chung thường được hiểu một cách sai lệch, bị coi là cổ hủ, lạc hậu và do đó bị cấm hoặc tuyên truyền để xóa bỏ. Cách nhìn áp đặt, mang tính định kiến này không chỉ xuất hiện trong các công trình nghiên cứu, trên báo chí truyền thông mà còn được thể chế hóa. Điển hình là Nghị định hướng dẫn thực hiện luật hôn nhân và giađình được Chính phủ ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2014. Trong Nghị định này, nhiều nguyên tắc và nghi lễ quan trọng nhất trong hôn nhân của người Mông như tục kéo vợ, thách cưới và tục kết hôn sớm (thường được gọi là tảo hôn) bị coi là hủ tục và vì vậy được khuyến khích xóa bỏ và cấm thực hành. Là một người hoạt động trong ngành văn hoá tại địa bàn, chúng tôi thấy rằng các Nghị định, chính sách dựa trên các cách hiểu sai lệch về hôn nhân của người Mông và các thực hành văn hoá khác nói chung đã có khá nhiều tác động tiêu cực đến cuộc đời sống văn hoá xã hội của tộc người. Vì vậy, việc hiểu đúng về giá trị và chức năng của nghi lễ trong hôn nhân của người Mông nói riêng và thực hành văn hoá khác nói chung, đặc biệt là từ quan điểm của người trong cuộc, là một việc làm hết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Xuất phát từ lý do này, chúng tôi chọn vấn đề Quy trình nghi lễ trong hôn nhân của người Mông ở Mường La, Sơn La làm đề tài luận văn.

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU………2

PHẦN NỘI DUNG………9

Chương 1: Tổng quan về người Mông ở Sơn La………9

1.1 Địa bàn cư trú………9

1.2 Lịch sử tộc người và đặc điểm dân cư……… 9

1.3 Văn hóa đảm bảo cuộc sống………14

1.4 Thiết chế xã hội (dòng họ, gia đình)……… 18

1.5 Các thực hành tôn giáo tín ngưỡng……… 24

Chương 2: Quy trình nghi lễ hôn nhân trong xã hội cổ truyền của người Mông……….32

2.1 Quan niệm về các nguyên tắc trong hôn nhân của người Mông………32

2.2 Quy trình nghi lễ hôn nhân……….36

Chương 3: Vai trò, chức năng văn hóa - xã hội và sự biến đổi của các nghi lễ trong hôn nhân………64

3.1 Chức năng văn hóa - xã hội của các nghi lễ trong hôn Nhân………64

3.2 Sự biến đổi trong các nghi lễ hôn nhân và các vấn đề đặt ra…… 75

PHẦN KẾT LUẬN……….84

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 87

PHỤ LỤC……… 90

Trang 2

Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trong tác phẩm nổi tiếng "Các nghi lễ chuyển đổi" (Rite thepassage) xuất bản đầu tiên vào năm 1909 của nhà nhân học người PhápArnold van Gennep, nghi lễ trong hôn nhân, cùng với các nghi lễ trongchu kỳ đời người khác là sinh đẻ, thành đinh và tang ma, được coi là mộttrong những loại nghi lễ quan trọng nhất trong chu kỳ một con người.Ảnh hưởng hướng tiếp cận cấu trúc chức năng của người chú, đồng thờicũng là nhà xã hội học nổi tiếng người Pháp Emile Durkheim, các nghi

lễ trong hôn nhân, theo tác giả, có chức năng hết sức quan trọng trongviệc chuyển đổi vị thế của một cá nhân, cụ thể là cô dâu và chú rể, sangmột giai đoạn khác của cuộc đời Thông qua hàng loạt các quy trình nghi

lễ khác nhau được thực hiện dưới sự chứng giám của thần linh, của ông

bà tổ tiên, cùng với sự tham gia của các thành viên trong dòng họ vàcộng đồng, các cá nhân được hòa nhập vào một gia đình, một nhóm xãhội mới

Không chỉ có chức năng trong việc "chuyển đổi" vị thế của một cánhân, các nghi lễ trong hôn nhân cũng tạo ra các mạng lưới xã hội mới,đặc biệt là các mối quan hệ thông gia giữa nhóm xã hội này và xã hộikhác trong và ngoài cộng đồng

Dân tộc Mông là một dân tộc thiểu số cứ trú chủ yếu ở vùng miềnnúi phía Bắc nước ta Giống như ở các truyền thống văn hóa khác, hônnhân của người Mông cũng gắn liền với một hệ thống các nghi lễ phứctạp như nghi lễ kéo vợ, nghi lễ dạm ngõ và các nghi lễ trong đám cưới

Do áp đặt cách nhìn từ bên ngoài, nhiều tập tục trong hôn nhân của

Trang 3

người Mông ở Mường La, Sơn La nói riêng và người Mông ở Việt Namnói chung thường được hiểu một cách sai lệch, bị coi là "cổ hủ", "lạchậu" và do đó bị cấm hoặc tuyên truyền để xóa bỏ Cách nhìn áp đặt,mang tính định kiến này không chỉ xuất hiện trong các công trình nghiêncứu, trên báo chí truyền thông mà còn được thể chế hóa Điển hình làNghị định hướng dẫn thực hiện luật hôn nhân và giađình được Chínhphủ ban hành ngày 31 tháng 12 năm 2014 Trong Nghị định này, nhiềunguyên tắc và nghi lễ quan trọng nhất trong hôn nhân của người Môngnhư tục "kéo vợ", "thách cưới" và tục kết hôn sớm (thường được gọi làtảo hôn) bị coi là "hủ tục" và vì vậy được khuyến khích xóa bỏ và cấmthực hành

Là một người hoạt động trong ngành văn hoá tại địa bàn, chúngtôi thấy rằng các Nghị định, chính sách dựa trên các cách hiểu sai lệch vềhôn nhân của người Mông và các thực hành văn hoá khác nói chung đã

có khá nhiều tác động tiêu cực đến cuộc đời sống văn hoá xã hội của tộcngười Vì vậy, việc hiểu đúng về giá trị và chức năng của nghi lễ tronghôn nhân của người Mông nói riêng và thực hành văn hoá khác nóichung, đặc biệt là từ quan điểm của người trong cuộc, là một việc làmhết sức cần thiết, vừa có ý nghĩa khoa học, vừa có ý nghĩa thực tiễn.Xuất phát từ lý do này, chúng tôi chọn vấn đề "Quy trình nghi lễ tronghôn nhân của người Mông ở Mường La, Sơn La" làm đề tài luận văn

2 Mục đích nghiên cứu

Luận văn hướng đến ba mục đích:

1 Thông qua tư liệu điền dã và tư liệu của các công trình nghiên cứu cóliên quan, mô tả và trình bày chi tiết các nghi lễ trong hôn nhân củangười Mông

Trang 4

2 Phân tích chức năng và giá trị của các nghi lễ này trong đời sống văn hóa - xã hội của người Mông ở Sơn La từ quan điểm người trong cuộc.

3 Tìm hiểu sự biến đổi trong nghi lễ hôn nhân và xem xét sự tác động của

sự thay đổi này đối với cuộc sống văn hóa - xã hội của các cá nhân và cộngđồng

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn là quy trình nghi lễhôn nhân của người Mông ở xã Chiềng Công, huyện Mường La, tỉnhSơn La

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng phương pháp điền dã dân tộchọc, kết hợp giữa quan sát tham gia và phỏng vấn sâu, và phương phápphân tích, tổng hợp tư liệu

- Phương pháp điền dã dân tộc học kết hợp giữa quan sát tham gia

và phỏng vấn sâu:

Với phương pháp này chúng tôi tham gia trực tiếp và đám cưới củangười Mông ở cả gia đình nhà nghèo, nhà có điều kiện và nhà theo đạovới mục đích thu thập thông tin trực tiếp từ những người trong cuộc vềquan điểm, cách đánh giá và nhìn nhận của họ về đám cưới của ngườiMông xưa và nay

Chúng tôi tiến hành các cuộc phỏng vấn Chủ tịch xã, trưởng bản, đànông và phụ nữ ở các độ tuổi khác nhau để có cái nhìn đa chiều về vấn đềnghiên cứu của luận văn đặt ra

- Phương pháp phân tích, tổng hợp tư liệu

Trang 5

Chúng tôi tiến hành tổng hợp các tài liệu trong nước và nước ngoài

để làm cơ sở lý luận cho quá trình nghiên cứu Tài liệu chủ yếu lấy từnguồn tư liệu của thư viện quốc gia Việt Nam, thư viện Sơn La, sở Vănhóa tỉnh Sơn La và bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Đây là các tài liệu

có độ xác thực, tin cậy cao, liên quan tới phong tục cưới hỏi của ngườiMông

Sau đó, chúng tôi thống kê, phân loại phân tích các tài liệu nhằmlàm sáng rõ từng luận điểm, khái quát thành đặc điểm cơ bản của tụccưới hỏi của người Mông

5 Lịch sử nghiên cứu

Người Mông ở Việt Nam, giống như nhiều tộc người thiểu sốkhác, đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học ViệtNam và quốc tế Bên cạnh các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chíchuyên ngành về một thực hành văn hoá, xã hội cụ thể còn có các côngtrình nghiên cứu mang tính khái quát về người Mông Điển hình trong sốnày là cuốn sách Người Mông ở Việt Nam của hai tác giả Hoàng Nam và

Cư Hoà Vần xuất bản năm 1994 và cuốn Người Hmông của tác giả ChuThái Sơn, xuất bản năm 2005 Dựa vào nguồn tư liệu lịch sử và dân tộchọc, các cuốn sách này đã giới thiệu một cách khái quát mọi mặt đờisống xã hội của các nhóm Mông ở Việt Nam, từ lịch sử di cư, điều kiệnkinh tế cho đến các thực hành văn hoá và xã hội truyền thống

Về nghi lễ hôn nhân của người Mông, ngoài các phần viết ngắntrong các cuốn sách này còn có các công trình nghiên cứu chuyên khảo

về hôn nhân của của người Mông như: "Quan hệ hôn nhân của ngườiMông ở Mường Lạn (Sốp Cộp, Sơn La)" của Giàng Bá Tủa, "Hình thứccướp vợ trong hôn nhân của người Mông ở huyện Bảo Yên, tỉnh Lào

Trang 6

Cai" hay "Thực trạng kết hôn sớm của các dân tộc thiểu số tại Hà Giang"của Hoàng Thị Tây Ninh Tuy nhiên, do có cách nhìn khá định kiến, cáccông trình nghiên cứu chuyên khảo này chưa cung cấp cho người đọcmột các mô tả và diễn giải sâu từ người trong cuộc về các thực hành nghi

lễ, mà chủ yếu phê phán các nghi thức quan trọng như "tảo hôn" và

"cướp vợ" của họ

Ngoài tìm hiểu về lễ cưới của người Mông, chúng tôi còn điểmluận về các công trình nghiên cứu về lễ cưới của nhiều dân tộc khác đểlàm nền tảng lý luận cho luận văn của mình Trong các bài viết này, cóthể nhắc đến một số công trình cũng có hướng nghiên cứu về nghi lễ hônnhân như:"Nghi lễ cưới xin của người Mơ nông Gar - truyền thống vàbiến đổi" của Lê Thị Việt Anh, hay "Biến đối trong hôn nhân của ngườiChăm Hồi giáo tỉnh An Giang" của Đoàn Việt, "Hôn nhân và cưới xincủa người Khơ Mú ở xã Nghĩa Sơn, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái" củaTrần Thị Thảo Đây đều là những công trình nghiên cứu về truyền thống

và biến đổi trong hôn nhân của những tộc người tuy nhiên trong nhữngđám cưới của những tộc người này thì các nghi lễ cưới xin của họ không

bị cấm đoán như của người Mông hiện nay Vì vậy mà lý do nghiên cứucủa họ không đi lý giải chức năng và giá trị của quy trình nghi lễ để xóa

bỏ những định kiến về những tục cưới hỏi

Như vậy, qua việc tìm hiểu các công trình, bài viết về người Mông,chúng tôi khẳng định: hiện giờ chưa có công trình nào đi sâu vào tìmhiểu về nghi lễ cưới xin của người Mông ở Sơn La Xuất phát từ đó,chúng tôi chọn vấn đề "Quy trình nghi lễ trong hôn nhân của ngườiMông ở Mường La, Sơn La" để mong đưa ra cái nhìn toàn diện về nghi

lễ đặc biệt này của người Mông Sơn La

Trang 7

5 Kết cấu của luận văn

Chương 1: Tổng quan về người Mông ở Sơn La

1.1 Địa bàn cư trú

1.2 Lịch sử tộc người và đặc điểm dân cư

1.3 Văn hóa đảm bảo cuộc sống

1.4 Thiết chế xã hội (dòng họ, gia đình)

1.5 Các thực hành tôn giáo tín ngưỡng

Chương 2: Quy trình nghi lễ hôn nhân trong xã hội cổ truyền củangười Mông

2.1 Quan niệm về các nguyên tắc trong hôn nhân của người Mông.2.2 Quy trình nghi lễ hôn nhân

2.2.1 Giai đoạn 1: Tìm hiểu, "đưa vợ" về nhà

2.2.2 Giai đoạn 2: Dạm ngõ, ăn hỏi

2.2.3 Giai đoạn 3: Lễ cưới, rước dâu

Chương 3: Vai trò, chức năng văn hóa - xã hội của các nghi lễtrong hôn nhân

Trang 8

PHỤ LỤC

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƯỜI MÔNG Ở SƠN LA

Trang 9

1.1 Địa bàn cư trú

Người Mông ở Sơn La thường cư trú trên các vùng núi cao nên giaothông đi lại khó khăn Tuy nhiên, đây là vùng giáp ranh tuyến biên giớiViệt - Lào nên vùng đất này giữ vị trí địa lý quan trọng về an ninh, quốcphòng Đồng thời do tập quán canh tác trên đất dốc ở vùng núi cao nên

vị trí cư trú này càng thích hợp với người Mông Nó làm người Mông cónhững nét đẹp riêng trong bản sắc văn hóa, phong tục tập quán mà khôngdân tộc nào có được

Huyện Mường La của Sơn La là một địa bàn cư trú tiêu biểu củangười Mông Huyện nằm ở vùng có độ cao bình quân tới 500–700 m.Thêm vào đó là nhiều dãy núi hiểm trở và cao. Huyện còn có con sông

Đà  chảy qua Ngoài ra, hệ thống sông suối lớn nhỏ chằng chịt, khácnhau như Nậm Mu, Nậm Chiến, Nậm Trai, cũng làm địa hình huyện trởnên phức tạp Trên địa bàn huyện còn có thủy điện Sơn La Đây là côngtrình nhân tạo nhưng góp phần làm thay đổi địa hình của vùng khá nhiều

Nó chiếm một phần không nhỏ diện tích toàn huyện Trong các xã củahuyện, có nhiều xã được coi là nóc nhà của Sơn La, như xã ChiềngCông Đây là một xã vùng 3, một xã cao nhất huyện Mường La với khíhậu quanh năm sương mù lạnh, khung cảnh đầy thử thách với những aimuốn khám phá những nẻo đường của Tổ quốc Xã cách trung tâmhuyện khoảng 35km về phía nam Địa bàn của xã có nhiều đồi, núi, dôngkhe chia cắt tạo thành nhiều dãy núi với nhiều đỉnh cao từ khoảng1500m so với mặt nước biển

1.2 Lịch sử tộc người và đặc điểm dân cư

Lịch sử di cư của người Mông đến Việt Nam kéo dài từ thế kỷXVII đến đầu thế kỷ XX [3,16] Trong đồng bào còn lưu truyền nhiều

Trang 10

câu chuyện rằng Việt Nam là nơi nhiều đất đai màu mỡ, dễ làm ăn, nơi

có quả bí to như cái vạc mà lợn rừng có thể khoét lỗ chui vào đó để đẻ,làm tổ và lấy đó làm thức ăn nuôi sống lợn mẹ lợn con Do vậy, ngườiMông đã tìm đến đây và xây dựng buôn làng với đời sống văn hóa phongphú, kinh tế ổn định cho con cháu mai sau tiếp tục sinh cơ lập nghiệp

Bàn về nguồn gốc dân tộc Mông, cho đến nay còn nhiều ý kiếntrái ngược nhau Một số tác giả người Phương Tây, mà đại diện tiêu biểu

là Savina trong “Lịch sử dân tộc Mèo” cho rằng "dân tộc Mông có lịch

sử hình thành từ phương Bắc, nền văn minh của dân tộc này là văn minh

di cư từ phương Bắc, không phải là văn minh bản địa" [9,4] Nhưngnhóm tác giải Cư Hòa Vần và Hoàng Nam trong “Dân tộc Mông ở ViệtNam” lại cho rằng "dân tộc Mông có nguồn gốc từ phương Đông thuộcnhân chủng Mongoloit" [7,8]

Người Mông ở Việt Nam là một trong những dân tộc sinh sốngsớm nhất ở vùng núi cao Lịch sử thiên di của người Mông vào ViệtNam gắn liền với quá trình đi tìm nơi sinh sống ổn định Theo các nhàdân tộc học, người Mông di cư vào Việt Nam có 3 đợt thiên di lớn: Đợtthiên di đầu tiên của người Mông đến Hà Giang có khoảng 80 gia đìnhvào khoảng cuối thế kỷ 18 Đợt thiên di thứ 2 và thứ 3 xảy ra vào cuốithế kỷ 19 cho đến đầu thế kỷ 20 [7,12] Trong những năm gần đây, dochính sách định canh định cư của Nhà nước cùng với sự hỗ trợ của cácban ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương thì đời sống của ngườiMông đã được tăng lên nên tình trạng di chuyển cư tự do đã có phần hạnchế, đời sống của ngừoi Mông đã ổn định hơn so với trước đây Hiệnnay, trong khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam là một quốc gia có sốngười Mông sinh sống đông nhất và tập trung chủ yếu ở miền núi phíaBắc

Trang 11

Dân tộc Mông thuộc nhóm ngôn ngữ Mông - Dao với nhiều nhánhđược gọi tên là: Mông Hoa(Mông Lềnh), Mông Đỏ (Mông Sí), MôngTrắng( Mông Đơ), Mông Đen(Mông Du), Hiện nay, người Mông là dântộc có dân số đứng thứ 3 ở Sơn La, sau dân độc Thái và dân tộc Kinh(Thái 54,76%, Kinh 18,42%, Mông 13%) Dân số người Mông có trên182.220 người có mặt ở 600 bản, trên 122 xã, 11 huyện, thành phố ở tỉnhSơn La Các bản của người Mông thường cư trú ở vùng cao (800m -1000m so với mực nước biển) quy mô bản nhỏ từ 20 - 50 hộ/ bản.

Tên của người Mông qua các thời kì và ở nhiều quốc gia khác nhau,

có nhiều tên gọi khác nhau về tộc người Mông, như: Miêu, Mèo, Mẹo,HMong, Mông Người Mông ở Việt Nam tự gọi dân tộc mình bằng tiếngMông là người Mông Không bao giờ họ tự gọi mình là dân tộc HMong.Tên dân tộc gọi theo tên mà dân tộc đó thường tự gọi và thừa nhận làđúng nhất Tại hội nghị Cốt cán dân tộc Mông năm 1978 do Ủy ban dântộc của Chính phủ chủ trì đã kiến nghị và được chấp nhận gọi là dân tộcMèo là dân tộc Mông

Dân tộc Mông được coi là một cộng đồng đặc biệt với nhiều nét đặcthù từ lịch sử tộc người cho đến nền văn hóa phát triển phong phú đạtđược nhiều dấu ấn và thành tựu Trải qua nhiều thế kỷ gắn bó với đấtnước ta, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống của người Mông đã

có một vị trí rất quan trọng trong việc giữ gìn truyền thống của dòng họ,

cố kết cộng đồng và đóng góp chung vào sự phát triển của nền văn hóaViệt Nam đậm đà bản sắc dân tộc Dân tộc Mông có nền văn hóa tinhthần rất phong phú, nhất là văn hóa nghệ thuật đặc sắc, hiện nay văn hóa

ấy lại được bổ sung thêm yếu tố mới do không ít người theo đạo TinLành Ví dụ như xã Chiềng Công, đây là xã mới xuất hiện người theođạo với 122 hộ và 658 nhân khẩu chủ yếu là đạo Tin Lành Tuy xã chỉ

Trang 12

có hai dân tộc nhưng văn hóa thì vô cùng đa dạng và phong phú, gìngiữ và lưu truyền được nhiều nét văn hóa từ xưa Thứ ba, ta phải nóitớisinh hoạt văn hóa truyền thống của người Mông, sinh hoạt này thườnggắn liền với nội dung tín ngưỡng và góp phần củng cố quan hệ cộngđồng, dòng họ dân tộc Mông Ý thức về dòng họ là thể hiện đặc trưngtính cách cộng đồng người Mông Ý thức cộng đồng ấy cùng với vai tròcủa trưởng tộc là điều kiện thuận lợi để phát huy sức mạnh cộng đồngtrong thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối vớimiền núi và dân tộc Mông.

Người Mông là một trong những dân tộc cư trú lâu đời trên đấtnước Việt Nam và trong suốt những năm tháng du nhập và tồn tại trênđất nước Việt Nam dân tộc Mông đã thực sự để lại dấu ấn không hề mờnhạt trong ấn tượng của những con người dù chỉ một lần đặt chân tớimiền đất rừng thiêng nước độc Tây Bắc này Có thể nói sự đặc biệt đến

từ ngay trang phục dân tộc, đây là những tác phẩm được se và thêu lên từnhững đôi bàn tay khéo léo của những nguời phụ nữ cần cù, chịu thươngchịu khó quanh năm gắn mình với bếp lửa và sau từ 2 - 3 năm khi sự cần

cù đó thành phẩm là những chiếc áo váy đẹp tuyệt được ví như là bản đồsống của người Mông những cánh bướm sặc sỡ trên những mỏm đá vùngcao đã để lại những ấn tượng và những ấn tượng này cũng chính là hìnhảnh gắn liền khi nhắc đến nguời dân tộc Mông Tiếp đến là âm nhạc củangười Mông được biết đến rõ nét nhất qua nhạc cụ khèn, khèn là mộtnhạc cụ không thể thiếu của những chàng trai tài năng, muốn thể hiệnmình với những cô gái hay đơn giản chỉ là góp vui với đám hội Chiếckhèn với sự đặc biệt của mình từ cấu tạo, cách sử dụng và âm thanh phát

ra hòa quyện cùng với điệu múa khèn đặc trưng của người Mông đủ chothấy sự khác biệt và nét riêng của văn hóa tộc người,

Trang 13

1.3 Văn hóa đảm bảo đời sống

1.3.1 Hoạt động kinh tế

Nhìn chung người Mông còn khó khăn, họ phổ biến đi theo kinh tế tựnhiên, tự cung, tự cấp Người mông Sơn La có câu châm ngôn: Mùa trípùa, pùa trí tùa (giàu có di cư thì nghèo, nghèo khó di cư thì chết) Họ làchủ nhân của nền văn minh trồng trọt trên đất dốc và vùng núi cao, vớikhi hậu ẩm, nhiệt đới ôn hòa Trồng lúa nương đã trở thành nghề chínhcủa đồng bào Mông, người Mông đã mang kỹ thuật làm lúa nước vùngthấp lên vùng cao, để hạn chế sự bào mòn của nước mưa, nhằm giữnước, tăng vụ, trên những sườn đồi Điều kiện địa lý tự nhiên toàn núinon hiểm trở, đất canh tác dốc, giao thông đi lại khó khăn ở đây đồngbào Mông coi nông nghiệp nương rẫy làm nền tảng kinh tế vô cùng quantrọng để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực chủ yếu nhất Kinh tếnương rẫy vừa bảo đảm nguồn cung cấp lương thực vừa đáp ứng các nhucầu về thực phẩm và vải lanh để mặc Công cụ sản xuất chủ yếu trênnương của đồng bào Mông là cái lưỡi cày và con dao phát, chiếc cuốcxới, con trâu, con bò Phương tiện vận chuyển hàng hóa chủ yếu là conngựa và cái lú cở các giống cây, giống con được đồng bào Mông lựachọn kỹ lưỡng để bảo tồn giống từ năm này qua năm khác (ví dụ nhưngô giống treo thanh gác trong nhà, thành xà ngoài hiên và trên gác bếp)bảo đảm tự cung tự cấp tại chỗ và luôn đạt chuẩn giống tốt Nền kinh tế

tự cung tự cấp này đã biến mỗi gia đình trở thành một đơn vị kinh tế độclập trừ dầu hỏa và muối ăn phải trao đổi, mua bán mỗi gia đình Mông đãnổi tiếng từ lâu với nhiều nghề thủ công như sáp ong, rèn đúc mang đậmtính nghệ thuật và bản sắc văn hóa độc đáo

Trang 14

Công đồng người Mông trong xã cũng giống như những cộng đồngngười Mông khác có kỹ thuật rèn dao, búa, cuốc, cào cỏ rất sắc bén và

kỹ thuật khoan nòng súng kíp rất khéo léo, dùng được lâu và nhiều ngườiyêu thích

Do nhu cầu của đời sống kinh tế cũng như tín ngưỡng, tôn giáo chănnuôi gia súc là ngành rất phát triển của dân tộc Mông ở đây, nhất là kinhnghiệm lựa chọn và chăn nuôi trâu, bò, lợn, gà Người Mông ăn nhiềuthịt mỡ lợn ( trong các đám tang, đám cưới thịt lợn là món ăn chủ đạo vàthường thịt mỡ nhiều hơn phần thịt nạc Do một phần không khí lạnh nên

ăn mỡ sẽ giúp họ tích ấm) Ngoài ra, họ thường dùng rượu để cưới xin,tang mà và tình cảm nhưng ít khi say (do họ thường hay uống đồng thờitửu lượng tốt)

Sự kết hợp hài hòa giữa hoạt động kinh tế và văn hóa được thể hiệnrất sinh động ở chợ phiên, nhất là ngày Tết Độc lập 2-9 hằng năm Ngàynày được cộng đồng người Mông xã Chiềng Công cũng như cộng đồngngười Mông ở Sơn La rất mong đợi và yêu thích

Nhiều năm qua Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương,chính sách, nhiều chương trình, mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa miềnnúi Nhờ vậy cuộc sống vật chất, tinh thần của đồng bào Mông đượcnâng lên rõ rệt Trong vài năm trở lại đây, nền kinh tế ở dân tộc Môngdần dần chuyển từ tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hóa và xuất hiệnnhững mô hình tốt như mô hình buôn bán váy, áo, vải bằng việc sản xuất

số lượng lớn và nhanh hơn họ đã dùng một máy chuyên dụng là máykhâu thay cho khung dệt trước đây để đáp ứng nhu cầu mua bán sốlượng lớn và nhanh hơn trước đây

1.3.2 Ẩm thực

Trang 15

Người Mông thường ăn ngày hai bữa, ngày mùa ba bữa Bữa ănvới các thực phẩm truyền thống có mèn mén (bột ngô đồ) hay cơm, rauxào mỡ và canh Mèn mén và Nậm pịa là hai món ăn đặc trưng nhất củangười Mông, tuy nhiên Mèn mén thì ăn quanh năm suốt tháng, là món

ăn dân dã, thường nhật chỉ là bằng gạo được đồ lên rồi giã nát sau đó đểlên gác bếp, khi ăn có thể đem xuống đồ lên cho nóng hoặc nướng lên,còn Nậm pịa chỉ được chế biến khi mà gia đình có khách hoặc có việc,món ăn này được nấu Phụ nữ khéo léo làm các loại bánh bằng ngô bột,gạo vào những ngày tết, ngày lễ Vì bận công việc nương rẫy, hơn nữalàm mèn mén mất nhiều thời gian nên người Mông thường đổ một chõđầy, đủ ăn cả ngày Bình thường không có khách cả nhà người Môngngồi ăn chung, nếu có khách thì đàn ông và khách ăn trước ngồi trênnhà chính, phụ nữ và trẻ em ăn sau ngồi ăn dưới bếp, vị trí này thể hiệntôn ti trật tự trong gia đình, người phụ nữ quanh năm ngồi bên bếp lửalàm những việc gia đình, còn việc lớn trong gia đình là việc của đànông vì vậy mà chỗ ngồi trong nhà chính tương đương với tầm quantrọng của người đàn ông, còn bếp là nơi gian phụ, cửa sau giành chophụ nữ làm những việc nhỏ nhặt Người Mông còn có một món ăntrong các phiên chợ, ngày hội, đó là món thắng cố, là món thịt thái to,

cả xương, lòng gia súc, thịt dê hoặc thịt bò hầm nhừ trong chảo ănnóng Người Mông quen uống rượu ngô, rượu gạo, hút thuốc bằng điếucày Đưa mời khách chiếc điếu do tự tay mình nạp thuốc là biểu hiệntình cảm quý trọng

Trang 16

khăn rộng vành; phụ nữ Mông Hoa mặc váy màu chàm có thêu hoặc inhoa văn bằng sáp ong, áo xẻ nách, trên vai và ngực đắp vải màu và thêu,

để tóc dài, vấn tóc cùng tóc giả; phụ nữ Mông Đen mặc váy bằng vảichàm, in hoa văn bằng sáp ong, áo xẻ ngực; phụ nữ Mông Xanh mặc váyống, phụ nữ Mông Xanh đã có chồng cuốn tóc lên đỉnh đầu, cài bằnglược, trang trí trên y phục chủ yếu bằng đắp ghép vải màu, hoa văn thêuchủ yếu hình con ốc, hình vuông, hình quả trám, hình chữ thập Trangphục của người phụ nữ Mông thể hiện sự điệu đà, tinh tế nhưng cũngkhông kém phần kín đáo Bộ trang phục chỉ để hở duy nhất khuôn mặt

và đôi bàn chân, cổ tay và bắp chân đều được bó chặt vừa khít do khíhậu ở vùng cao luôn khắc nghiệt với gió lạnh, sương mù cấu tạo trangphục như vậy sẽ giúp họ giữ ấm được hai bộ phận luôn đón gió đầu tiêntrên cơ thể, đồng thời là hai bộ phận phải lao động nhiều nhất, họ nóirằng "nó vất vả, phải bảo vệ và thương lấy nó, nó mà cứng mà đau thìkhông làm việc được" Nam giới cũng như nữ giới mặc gọn nhẹ, riêng yphục nữ giới có phần thêu, ghép vải cầu kì, có cả áo ngắn và áo dài, váymàn xòe rộng tôn được vẻ đẹp của người phụ nữ tạo nên thẩm mỹ độcđáo của dân tộc Mông

Mái tóc người phụ nữ khi đã đi lấy chồng được cuộn tròn lên cùngvới sợi lanh là loại cây mà ta có thể dễ dàng bắt gặp trên đôi tay củangười phụ nữ Mông, họ se rồi lăn, rồi vê thành những lọn nhỏ để cuốncùng với tóc Hoa tai, vòng cổ, vòng tay, đồng xu trang trí ở áo và váy là

sự thể hiện điều kiện kinh tế gia đình, gia đình càng có điều kiện thì hoatai, vòng cổ, đồng xu càng được họ trang trí lên cơ thể và trang phụcnhiều

Trong những ngày lễ tết hay đám cưới, đám vui, ngày hội nào thìtrang phục để người Mông gồm cả nam lẫn nữ diện trên người chính là

Trang 17

trang phục đẹp nhất, thậm chí là trang phục mới đến với địa điểm đó, sựthể hiện trang phục này có ý nghĩa rất lớn đối với không chỉ bản thânnhững người tham gia mà còn với cả gia chủ (trong đám cưới) hay đốivới những người cùng tham gia Ở đây, trang phục mới, tươi màu có ýnghĩa vui vẻ, màu mỡ và ấm áp cho những người tiếp nhận nó chính vìvậy mà không chỉ sự góp mặt, sự tham gia hay chúc tụng đem lại niềmvui cho những người tiếp nhận ý nghĩa này mà bản thân cả cộng đồngngười Mông cùng cộng hưởng với nhau để không khí nơi mà họ có mặtlúc nào cũng vui vẻ và ấm áp, để biết rằng cuộc sống của mọi ngườiquanh họ đang rất tốt.

"ở cữ" không đi qua gian đặt bàn thờ và cửa chính giữa Gian giữa đặtbàn thờ Nhà khá giả thì cột gỗ, kê trên đá, mái lợp ngói, sàn gác lát ván.Phổ biến nhà ở của người Mông bưng ván hay vách nứa, mái tranh.Lương thực được cất trữ trên sàn gác Một số nơi có nhà kho chứa lươngthực ở ngay cạnh nhà Nền nhà không phải bằng gỗ như nhà sàn ngườiThái hay xi măng của người Kinh mà phần lớn trên nền đất Gỗ và đá làhai nguồn tài nguyên quý đồng thời đây cũng là hai sản vật biểu trưngcho sự hùng vĩ và phồn thịnh của núi rừng vì vậy mà người Mông dùnghai biểu tượng này để đánh dấu sự phồn thịnh của gia đình mình vàkhông biết đã từ bao giờ, hình ảnh của chiếc cột gỗ và đá kê chân gỗ đãtrở thành gianh giới phân biệt giữa giàu và nghèo trong xã hội người

Trang 18

Mông Trong một ngôi nhà truyền thống Mông, người Mông tâm niệmgồm 7 vị thần thường trú trong nhà Đó là: Thần Buồng ngủ (Đaz trôngxpeiv), Thần Bếp lò ( Đaz kror txok), Thần Cột chính (Ndêx đaz), ThầnThổ địa (Xơv caz, yênhx caz), Thần Bếp phụ (Đaz kror chuz), Thần Cửatrái (Đaz kror trôngx txuôk), Thần Cửa giữa (Đaz kror trôngx tas) Nhàcửa là nơi để sinh hoạt ăn uống và hội họp gia đình, nhà của các trưởngdòng họ là nơi bàn bạc mọi vấn đề quan trọng của dòng họ và của cảbản Đại đa số gia đình dân tộc Mông phòng ngủ của ông bà, bố mẹ, concái được bố trí riêng Dân tộc Mông rất khắt khe nơi ngủ của con dâu,

em dâu Ông, bố chồng, anh chồng không được vào phòng ngủ của condâu, em dâu ngược lại con dâu, em dâu cũng không được vào phòng ngủcủa ông, bố chồng, anh chồng Đó là lời răn dạy của dân tộc Mông từ xaxưa đến nay nhằm nhắc nhở các thành viên lớn trong gia đình sống trongnguyên tắc lành mạnh, biết phân biệt ngôi thứ trong cùng một gia đìnhhoặc một dòng họ

4.1 Thiết chế xã hội

4.1.1 Dòng họ

Từ lâu đời, tâm lý cư trú theo dòng họ luôn là một đặc điểm vănhóa của người Mông và địa vực cư trú chung là một yếu tố tạo nên sự cốkết trong mối quan hệ kinh tế - xã hội của mỗi dòng họ Mông Nhữngngười đứng đầu dòng họ cùng các gia đình trong dòng họ "cùng mà nhà"

đã lựa chọn vùng đất làm ăn và sinh sống, tiến hành "khai sơn phá thạch"vùng đất đai sinh sống của mình Trong chế độ phong kiến đế quốc và ápbức dân tộc, việc cư trú theo dùng họ là nhu cầu cần thiết để nương tựavào nhau, giúp đỡ và bảo vệ nhau khi gặp hoạn nạn khó khăn Mối quan

hệ cố kết dòng họ đó trong cư trú có ý nghĩa rất quan trọng với cuộc

Trang 19

sống vật chất và tinh thần của mỗi dòng họ Mông, giúp những ngườicùng huyết thống quây quần với nhau và cùng nhau phát triển đúnghướng đã và đang là yếu tố văn hóa để đảm bảo đoàn kết chặt chẽ và ổnđịnh cộng đồng trong điều kiện phát triển mới Các dòng họ Mông cư trútheo địa vực, nhưng dòng họ không có đất đai chung, không có ruộng đấtcông, ruộng đất dành cho các chức danh như ta thấy ở nhiều dân tộckhác.Và có một quy ước rất quan trọng mà họ phải kiêng kỵ rất chặt chẽ

đó là họ Giàng thì kiêng kỵ với quả tim của các loài động vật, họ Lykiêng kỵ với lá lách của mọi con vật, họ Lầu kiêng không ăn chim ĐaLâu, họ Vàng Kiêng ăn quả xanh dùng cơm trong bữa cơm, họ Vàng quyđịnh con dâu không được ăn cơm cùng bố chồng, anh chồng và khôngđược vào buồng ngủ của bố mẹ chồng, họ Sùng quy định con dâu khôngđược trèo lên gác xép, Người Mông có quan hệ dòng họ gần và dòng họ

xa tức cùng tên họ nhưng khác ma, nhưng vẫn coi là anh em cùng một tổtiên và có trách nhiệm thực hiện các hoạt động thờ cúng tổ tiên Trongdòng họ Thào ở Long Hẹ, ai cũng kể về ông tổ của mình là "ông Lửcõng trâu" và "ông bẫy sư tử"

Trong dân tộc Mông, địa vực cư trú phổ biến chỉ có một dòng họ từban đầu và về sau địa vực đó được mở rộng bởi các gia đình khác họ cóquan hệ thông gia cũng đến cộng cư nên mỗi Jao ( chòm xóm ) khi ổnđịnh thường có vài dòng họ cùng cơ trú với sự cố kết khá chặt chẽ theongười già có uy tín và tổ chức chính trị - xã hội mà họ là thành viên Đểduy trì sinh hoạt của Jao theo địa vực cư trú và tự quản, các dòng họ cửmột người có khả năng là Trưởng Jao và xây dựng quy ước chung dựatrên các luật tục của dòng họ Từ rất lâu, ý thức về tín ngưỡng thầnquyền, kinh tế, xã hội và nguồn gốc lịch sử ở cộng đồng các dòng họMông đã được hình thành và phát triển tạo nên sự cố kết tự nhiên giữa

Trang 20

các dòng họ Mông để tồn tại Ở các Jao Mông, luôn có mối quan hệ thânthiện giữa các dòng họ và mọi thành viên đều có quyền sở hữu chungmọi tài nguyên trong địa vực cư trú Một trong những yếu tố quan trọngtạo nên mối quan hệ thân thiết giữa các gia đình và giữa các dòng họ ởdân tộc Mông là quan hệ hôn nhân Khi đã có quan hệ thông gia, con traiMông gọi họ hàng bên mẹ và bên vợ mình là NeenhxxTsa (thân thích),nếu rể tốt sẽ được NeenhxxTsa và dâu tốt sẽ được anh em dòng họ.

Cộng đồng láng giềng giữa các dòng họ Mông ở cùng một địa vực

cư trú, cùng một Jao đã góp phần quan trọng tao dựng, xây đắp khối đạiđoàn kết người Mông từ đời này qua đời khác Để duy trì sinh hoạt củajao theo địa vực cư trú và tự quản, các dòng họ cử một người có khảnăng làm Trưởng Jao (chòm xóm) và xây dựng quy ước chung dựa trêncác luật tục của dòng họ và hoạt động chủ yếu dựa trên cơ sở của các tổchức dòng họ Dòng họ thực sự là một đơn vị xã hội có tổ chức tự quảnchặt chẽ trong nội bộ dòng họ với những luật tục quy định rõ quyền lợi

và trách nhiệm của các thành viên, là yếu tố quan trọng cấu thành nên xãhội Jao ở người Mông và là một đặc điểm văn hóa hiếm thấy ở các dântộc khác, là một tín hiệu để mỗi thành viên cả dân tộc Mông nhận biếtnhau và tìm thấy những người thân thiết cùng tổ tiên trong mọi hoàncảnh sống

Quan hệ dòng họ của người Mông được phân ra bốn loại là quan

hệ của những người cùng dòng họ nhưng khác ma; quan hệ của nhữngngười cùng họ, cùng ma; quan hệ cùng chung huyết thống; quan hệ dòng

họ thông gia Quan hệ những người cùng dòng họ nhưng khác ma đó lànhững người cùng họ, khác nhau về cách bày bàn thờ, quản người chếttrong nhà, ma cửa, ma bò, cách bố trí mộ người chết nhưng vẫn đượccoi là dòng họ, coi là anh em cùng một tổ tiên

Trang 21

Quan hệ của những người cùng họ, cùng ma rất chặt chẽ Nhữngngười này coi nhau là ruột thịt (từ cách bày bàn thờ cho đến các thủ tục

ma chay, bố trí mộ người chết đều giống nhau) Khi cưới xin, machay họ luôn tận tình giúp đỡ, họ còn đại diện cho nhau trong nhữngvấn đề có thương lượng, đền bù Với họ gần của dân tộc Mông, chị emmang thai ở khác nhà trong dòng họ hoặc có anh em chẳng may bị ốmnặng không qua khỏi(chết) được phép đẻ và tổ chức đám tang trong nhàkhông kiêng kỵ, không sợ tổ tiên trách cứ Dân tộc Mông luôn coi trọngdòng họ, trưởng dòng họ Vì vậy, nếu muốn thay đổi trong các thủ tục

ma chay, cưới xin (bỏ cái này, thêm cái kia) thì phải chờ có thay đổi lớntrong gia tộc chứ không tùy tiện thay đổi Tóm lại đối với dân tộc Môngnhững người cùng họ nhưng khác ma và dòng họ cùng họ, cùng ma, dântộc Mông quan niệm đã là dòng họ (kể cả họ xa, họ gần) dù ở bất cứ đâu,

xa mấy đời thì đều coi là anh em, nhưng không được thông gia với nhau,

đó là điều cấm kỵ được truyền từ xưa tới nay

Quan hệ cùng chung huyết thống: là quan hệ giữa ông bà, bố mẹ,chú bác, anh em ruột thịt trong gia đình cùng một cặp ông bà sinh ra.Dân tộc Mông đã từ lâu có tập quán sống chung một gia đình có nhiềucác thế hệ theo kiểu "chế độ phụ quyền" Vì phụ nữ người Mông đã số làhiền lành, ít nói, ít tiếp xúc xã hội và ít hiểu biết về mọi mặt (đặc biệt làviệc thờ cúng, quyết sách những vấn đề lớn trong gia đình) có phần hạnchế nhất định so với nam giới nhưng cuộc sống vợ chồng lại rất tình cảmgắn bó bên nhau, ít khi ly hôn

Quan hệ dòng họ thông gia: là một quan hệ luôn được ngườiMông duy trì, trân trọng và đề cao trong cuộc sống hàng ngày, ngườiMông quan niệm dù khác họ, khác ma (tức là khác tổ tiên) nhưng nóđóng vai trò hết sức quan trọng không thể thiếu được nhằm thúc đẩy tình

Trang 22

cảm giữ hai bên nội, ngoại ngày càng khăng khít, gắn bó hơn Quan hệthông gia không những chỉ lợi trước mắt mà còn duy trì sự sống còn vềgiống nòi mãi mãi cho con cháu các thế hệ sau Quan hệ này còn thể hiện

tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến những người đã thân sinh ra ông bà, bố mẹ,

vợ hoặc các chú thím, chị dâu, em dâu và cháu dâu.Khi họ nhà gái đếnthăm nhà trai (bất cứ là ai trong nhà trai) phải chào đón niềm nở và tiếpđón đàng hoàng, tử tế hơn hẳn những người bên nội

4.1.2 Gia đình

Theo luật tục của người Mông, đất đai sản xuất lương thực, thựcphẩm luôn thuộc quyền sở hữu của từng gia đình Đất sản xuất sẽ đượcchia đều cho bố mẹ và từng người con trai khi các con trai trưởng thành

và được bố mẹ chấp nhận ra ở riêng Trong thời gian các con còn nhỏ vàchưa có vợ, bố mẹ là người gánh vác mọi công việc và quản lý mọi giasản, còn con trai trưởng sau khi lấy vợ sẽ ở với bố mẹ đến khi các emtrưởng thành và có vợ Người con trai út sẽ thừa hưởng toàn bộ gia sảncủa bố mẹ và có trách nhiệm lớn nhất trong việc chăm sóc bố mẹ lúc tuổigià Trong quan hệ gia đình Mông và dòng họ Mông, mối quan hệ anh

em cùng cha mẹ cũng như anh em cùng một thế hệ chiếm một vị trí quantrọng đặc biệt và ai nhìn thấy mặt trời trước thì người đó là anh, không ai

có thể quên cái gốc "cùng ma" của gia đình và dòng họ, tất cả đều phảinghe lời anh cả và yêu thương người em út Quan hệ đó được ngườiMông đúc kết thành một câu châm ngôn nổi tiếng "anh chị như bố mẹ,

bố mẹ như trời đất" và "sống là người cùng dòng họ, chết là ma của dòng

họ, sống phải bảo vệ nhau, chết phải chôn cất cho nhau" Trong gia đìnhmặc dù cùng sống chung nhiều thế hệ nhưng luôn đoàn kết, tôn trọng lẫnnhau, ít tị nạnh trong công việc chung của gia đình Mọi quyết định lớntrong gia đình thuộc về ông ( nếu còn minh mẫn ), hoặc thuộc về bố

Trang 23

nhưng bình đẳng và được thông qua các thành viên trong gia đình Giađình của nguyên tắc có tôn tri trật tự rất chặt chẽ trên, dưới rõ ràng

Gia đình theo quan niệm của người Mông là những người thângắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và huyết thống cùng sống chungdưới một nóc nhà Và dưới mỗi nóc nhà của người Mông có thể có từmột, hai, ba hoặc bốn thế hệ cùng chung cùng chung sống với nhau.Trong xã hội Mông, con trai luôn là niềm tự hào, niềm tin của cha mẹ,luôn là nguồn lao động chính đảm đương những công việc sản xuất nặngnhọc nhất, còn phụ nữ và người già cao tuổi, trẻ em thì đảm nhận nhữngviệc nhẹ nhàng hơn về sản xuất và nội trợ

Người Mông có luật tục nghiêm khắc về hôn nhân, ốm đau vàchết, cụ thể là những người có quan hệ họ hàng gần và họ hàng xa thìkhông được kết hôn, người khác dòng họ kể cả các chị em gái đã đi lấychồng không bao giờ được đẻ con và chết ở nhà mình Đối với ngườiMông, dòng họ cư trú tới đâu luật tục dòng họ quản đến đó, thể hiện sựràng buộc rất chặt chẽ của những người "cùng mà nhà" Sự cố kết đó ởdòng họ người Mông vượt qua sự phân tán về địa bàn cư trú, sự chia cắtbởi ranh giới về hành chính và lãnh thổ Gia đình, dòng họ và quan hệdòng họ trong dân tộc Mông là một đơn vị xã hội thể hiện đầy đủ quyềnlợi và nghĩa vụ một cách tự nhiên của các thành viên kể cả khi vui, buồn.5.1 Tín ngưỡng, tôn giáo

5.1.1 Một số thực hành tín ngưỡng tiêu biểu

Ở nước ta, hơn 90% dân số dân tộc Mông theo tín ngưỡng nguyênthủy,đa thần, chịu ảnh hưởng của đạo giáo ngành phù thủy, trong đó đặcbiệt coi trọng tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, những người thân đã khuất,những vị thần bản mệnh của cá nhân,của dòng họ và dân tộc Mông Tín

Trang 24

ngưỡng, tôn giáo truyền thống có vai trò rất quan trọng trong sự cố kếtcộng đồng dòng họ nói riêng và cả dân tộc Mông nói chung Thờ cúng tổtiên và một số vị thần (thần núi, thần mưa, thần hoả, thần cây, thần thủy,v.v.) có ý nghĩa rất thiêng liêng, đặc biệt quan trọng để bảo tồn và pháthuy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Mông Tết Nguyên Đán củangười Mông được tổ chức sau 360 ngày là ngày lễ tết tổ tiên lớn nhất, làdịp báo đáp công ơn đối với thần tổ tiên và sùng bái tổ tiên, là tập quán

đã trở thành giá trị văn hóa bền vững của dân tộc Mông Người Mông cónhững quan niệm triết học rất đặc biệt về thế giới và con người, về tổtiên và các ông tổ của mình Người Mông có truyền thuyết về những vịthần tạo nên thế giới, tổ tiên của loài người và tổ tiên của dân tộc Mông,những vị thần đã dạy cách "làm ăn, làm uống" và "đường lý đường lẽ"dẫn dắt dân tộc Mông Tín ngưỡng, tôn giáo truyền thống đó phản ánhrất đậm nét mối quan hệ đồng tộc, dòng họ trong dân tộc Mông

Trong các thực hành tín ngưỡng của người Mông nổi bật là thựchành tín ngưỡng trong tang ma.Người Mông cho rằng, có hai thế giớitrong vũ trụ là thế giới trên mặt đất nơi con người sinh sống và thế giớinơi ông Trời cùng các vị thần, trong đó có tổ tiên của Mông Theo quanniệm của người Mông, ông Chầy và bà Chầy đã tạo nên bầu trời và tráiđất, còn người Mông và loài người được sinh ra từ lòng đất NgườiMông vốn là một dân tộc sống hạnh phúc vĩnh viễn ở trên đời, biết làm

ăn làm uống, có ruộng có nương, có người đứng đầu rất anh minh và tàigiỏi lãnh đạo đất nước Cuộc sống hạnh phúc, vĩnh hằng đó đã làm choông trời tức giận và quyết định đem đến người Mông và loại người bệnhtật, ốm đau, già yếu, chết, khi chết xác về lòng đất, hồn vía về thần tiên,người hiền tài thì được đầu thai sống tiếp kiếp mới Trong quan niệm củangười Mông, người chết là do linh hồn đã rời bỏ thể xác và phần hồn là

Trang 25

quan trọng nhất nên lễ tang ma của người Mông luôn được tiến hành rấtnghiêm trang Sự sống và cái chết tét thì theo quan niệm của ngườiMông là một huyền thoại đã lý giải một phần cuộc đấu tranh của ngườiMông đối với một thế lực siêu nhiên vô cùng mạnh mẽ và vì sao ngườiMông không thờ cúng ông Trời Cũng như quan niệm của nhiều dân tộckhác, người Mông cho rằng khi chết có nghĩa người đó đã hoàn thànhphận sự ở thế giới mặt đất và được trở về với thế giới của tổ tiên Tùytuổi tác, người hiền tài, người có công lao, khi chết sẽ được hội đồngdòng họ quyết định thời gian để tang và số lượng trâu, bò, lợn được traotặng để dắt về với tổ tiên Khi có người chết thì phải tổ chức lễ thức tang

ma, đánh trống thổi kèn suốt ngày đêm tỏ lòng thương tiếc và để người

đã chết được siêu độ Theo luật tục người Mông, trong lễ tang ma củangười Mông thì "lễ chỉ đường" đưa người chết đi theo một con đườngvới những địa danh cụ thể để từ đó lên với tổ tiên đang ở nơi thần tiêntrên trời là nghi lễ quan trọng nhất, mà giá trị của nó đã vượt qua cả yếu

tố tín ngưỡng, tôn giáo, trở thành câu chuyện thể hiện nhân sinh quan và

vũ trụ quan trong tang ma của dân tộc này Sau khi thổi ba hồi tù hoặc baphát sung báo hiệu có người đã tắt thở, gia chủ của người chết phải thắpngay một nén hương lên bàn thờ tổ tiên biết là gia đình có một người vớitên họ cụ thể sẽ nhập về nơi tổ tiên và xin tổ tiên hãy đón người đó

Người thầy khèn được hội đồng dòng họ lựa chọn sẽ tiến hànhthổi kèn làm "lễ chỉ đường" với 36 bài cúng để đưa hồn người chết vềvới tổ tiên "Lễ chỉ đường" là nghi thức rất quan trọng, rất đau buồn vàxúc động đối với gia đình người mất và dòng họ, cộng đồng Bài cúng

"lễ chỉ đường" là lời diễn giải cho người đang sống và người đã chếthiểu rõ vì sao có trái đất và có mặt trời, vì sao có loài người và có ngườiMông sinh ra rồi lại chết đi, xác về lòng đất và linh hồn về với tổ tiên

Trang 26

Sau lễ chỉ đường là các lễ treo trống tang, lễ đuổi giặc, lễ viếng, lễ đưangười chết đi chôn cất Thầy cúng sẽ mổ một con gà trống để "dẫnđường" cho hồn người chết, dặn người chết cách trả lời khi gặp thần nhàtrời và nhờ thần nhà trời chỉ giúp đường về nơi tổ tiên đang cư trú là nơi

có cuộc sống vĩnh hằng Trong một ngày, ban tổ chức tang lễ cúng ba lầnmời người chết dùng cơm và mỗi lần cúng như thế đều tổ chức đi tuầnvòng quanh nhà gồm có mấy thầy khèn, người vác nỏ, người cầm súng,bắn súng thị uy gọi là "khởi nghĩa" hòng ngăn ngừa giặc đến cướp.Trong "lễ hạ nguyệt" thầy cũng dặn người chết luôn nhớ là nếu ngườigiặc hỏi mượn quần áo, mũ, nón, giày dép, đồ dùng thì trả lời là đã cũrách Mọi thứ tư trang của người chết đều bị cắt thủng một chỗ và mọithứ kim loại đều được lấy khỏi người chết trước khi hạ huyệt để ngườichết được về với tổ tiên

Một thực hành tín ngưỡng nữa cũng quan trọng trong việc thờcúng của người Mông, đó là nghi lễ cúng thần nhà Trong các nghi lễcúng thần nhà, thần cửa của người Mông, việc lập bàn thờ và dựng cửachính Trung Ta luôn là việc làm đầu tiên sau khi xây dựng xong mộtngôi nhà gia đình Khi lập bàn thờ hay nơi thờ tự, chủ nhà đem một con

gà trống đem cắt tiết rồi lấy máu quệt lên bàn thờ và nhổ vài túm lông ở

cổ gà dính vào tập giấy bạc trên bàn thờ Còn khi dựng cửa chính Trung

Ta, chủ nhà mời con gà trống đầu đàn già nhất về chứng giám và chủnhà cắn nhẹ lên mào gà để ứa máu đem quệt vào một mảnh vải đã gắntrên dầm cửa Con gà cúng thần cửa được thả trở lại đàn và được coi làhiện thân của thần cửa Người Mông cho rằng, gà trống có sức mạnh phithường, quản lý cả Mặt trời và Mặt trăng, trông coi cả thế giới âm dươngtrong vũ trụ và có sứ mệnh phù hộ con người Theo truyền thuyết, ôngSâu đầy quyền uy và tài giỏi đã giao nhiệm vụ cho gà trống làm trọng tài

Trang 27

trong việc dàn xếp nguyện vọng giữa 11 Mặt trời, 11 Mặt trăng và conngười do anh em Giàng Dủa - Giàng Di đại diện Người Mông kể rằng,khi vũ trụ có hỗn loạn, trong bầu trời xuất hiện 11 Mặt trăng, 11 Mặt trờithi nhau chiếu sáng làm cho mặt đất khô cằn và con người vô cùng khổcực, nên hai anh em Giàng Dủa và Giàng Di đã giương cung bắn Mặttrời và Mặt trăng để trừ họa cho con người Mặt trời, mặt trăng sợ quá đã

bỏ trốn biệt tăm, làm bầu trời lại tối tăm và con người lại khổ cực Đểcứu loài người, ông Sâu được người Mông cầu cứu đến để giảng hòa vàtuyên bố là từ nay chỉ nên xuất hiện một mặt trời, mặt trăng là đủ Đượcông Sâu trao nhiệm vụ làm trọng tài, gà trống quy định khi gà trống đingủ thì mặt trời cũng đi ngủ, khi gà trống gáy gọi thì mặt trời mới được

ra Điều này đã chứng tỏ sự hiểu biết về vũ trụ, nhất là sự vận động cưamặt trời và mặt trăng gắn liền với tiếng gáy của con gà trống đã giúp chongười Mông định ra lịch thời vụ sản xuất và đời sống sinh hoạt tườn ứngvới 12 con vật Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu,Tuất, Hợi theo một quy luật nhất định và được thống nhất trong cả cộngđồng dân tộc Mông

5.1.2 Tôn giáo mới

Sự thâm nhập của đạo Công giáo và đạo Tin Lành đã và đang tạo

ra những thay đổi sâu rộng về văn hóa, phong tục tập quán và các mốiquan hệ cộng đồng trong xã hội người Mông Trong lịch sử, các dân tộc

ở Việt Nam đã từng giao lưu, tiếp nhận Phật giáo, Nho giáo, Khổng giáo,Hồi giáo những vẫn giữ được bản sắc tộc người và nay khi Công giáo vàTin lành thực tế cũng đã trở thành một bộ phận trong đời sống tínngưỡng, tôn giáo của xã hội Việt nam và đời sống tinh thần của một bộphận dân cư trong cộng đồng các dân tộc nước ta Các tôn giáo này đãgóp phần không nhỏ trong giao lưu văn hóa và có ít nhiều thay đổi, chịu

Trang 28

ảnh hưởng, tác động của văn hóa Việt nam Tín đồ, chức sắc của Cônggiáo và Tin Lành đã có những đóng góp trong lịch sử dựng nước và giữnước của dân tộc ta Phải nói rằng tín ngưỡng, tôn giáo ở các dân tộcthiểu số nói chung và ở dân tộc Mông nói riêng là một vấn đề xã hội cótính lâu dài và phức tạp nhưng cũng là một sự hòa quyện rất phong phú

và đa dạng về văn hóa trong giai đoạn mới, thế kỷ mới của loài người.Hiện tượng "Xưng vua" ở người Mông vừa xuất phát từ yếu tố tâm linh,vừa bắt nguồn từ chiều sâu lịch sử và tâm lý tín ngưỡng đặc thù của dântộc Mông Trong ngôn ngữ Mông, khái niệm "Xưng vua" được dân tộcMông gọi là "Sớ Vá" (khởi nghĩa), đôi khi được gọi là "Sớ Hua Tai"(dựng cờ tụ nghĩa, dựng vị cứu tinh) Có thể nói, sự mặc cảm trước hoàncảnh đan xem với niềm luyến tiếc quá khứ huy hoàng, ước mong có mộtcuộc sống tốt đẹp, trong khi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của đạo giáo phùthủy, đã làm nảy sinh hoang tưởng ở dân tộc Mông Họ hy vọng và tintưởng rằng nếu có một vị vua hay một thủ lĩnh tài giỏi thì người Mông sẽ

có cuộc sống sung sướng, sẽ thoát khỏi thế yếu, cô đơn, lép vế, thiếu nơinương tựa, bị chèn ép Đó chính là cơ sở của hàng loạt hiện tượng "Xưngvua" đã diễn ra tại nhiều làng Mông ở Trung Quốc, Việt Nam, Làov.v Có thể nói hiện tượng "Xưng vua" là hiện tượng nhằm tập hợp sứcmạnh đoàn kết từ mọi dòng họ dân tộc Mông Đó là hiện tượng đan xengiữa những hành động đời thường, con người cụ thể với những điều ảotưởng, phi thực tế,thể hiện sự mong mỏi của con người Bởi vậy "Xưngvua" là một hiện tượng đời thường trong đời sống xã hội của ngườiMông vào một hoàn cảnh cụ thể, vừa mang tính thế tục, vừa mang tínhtôn giáo với những đặc điểm rất riêng biệt Hiện tượng "Xưng vua" ởngười Mông đã xuất hiện từ lâu, như môt hiện tượng tín ngưỡng, tôngiáo thần tiên đã diễn ra ở hầu hết các vùng Mông Dù có hiện tượng

Trang 29

"xưng vua" bằng những tính từ khác nhau và thậm chí gắn cho nó nhữngkhái niệm "mạnh mẽ" thì bản chất nguyên sơ của nó vẫn luôn tồn tại.Hiện tượng này sẽ mất hẳn khi những nguyên nhân sinh ra nó khôngcòn Có thể khẳng định rằng, chỉ có thể biến sức mạnh tiềm ẩn và hyvọng chính đáng của đồng bào Mông thành hiện thực khi sức mạnh đótrở thành một nhân tố tích cực trong sự nghiệp cách mạng theo tư tưởng

Hồ Chí Minh, lợi ích của dân tộc Mông thống nhất với lợi ích của đấtnước Việt Nam trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Hiện nay, sự cư trú xen kẽ giữa người Mông theo đạo Công giáo,đạo Tin lành và người Mông theo tín ngưỡng, tôn Mông truyền thốngđang tăng lên Qua các cuộc thăm dò ý kiến, hơn 90% người Mông ởViệt Nam đều cho rằng, người Mông không thể bỏ tín ngưỡng, tôn giáoMông truyền thống mà chỉ có thể cải biến tín ngưỡng, tôn giáo Môngtruyền thống theo cơ sở từng bước những yếu tố lỗ thời và có hại về kinhtế

Tiểu kết chương 1Bản sắc văn hóa là những biểu hiện giá trị vật chất và tinh thầnđặc thù, là sắc thái riêng biệt trong đời sống sinh hoạt xã hội của mỗicộng đồng dân tộc, từ cách ăn mặc, đi lại cho đến chiều sâu tâm hồn,cách tư duy và lối ứng xử Hiểu đúng nghĩa ở đây bản săc văn hóa dântộc Mông, được hun đúc theo chiều dài lịch sử của dân tộc Mông trong

Trang 30

cộng đồng các dân tộc Việt Nam, được tạo nên trong quá trình lao độngsáng tạo của họ, từ đó hình thành nên trong quá trình lao động sáng tạocủa dân tộc Mông, từ đó hình thành các truyền thống và chuẩn mực, lốisống, tính cách, tâm lý, nếp nghĩ mang tính đặc thù của dân tộc Mông.

Do đó, bản sắc văn hóa dân tộc Mông đi sâu vào mọi mặt của đời sống

xã hội, góp phần nuôi dưỡng, chi phối các lề thói, phong tục, tập quán tínngưỡng của dân tộc Mông Tuy nhiên nếu bản sắc văn hóa dân tộc Môngkhông được bổ sung, hội nhập, giao lưu để phát triển thì dù có chứađựng những giá trị cao đẹp đến mấy thì cũng không thể trở thành sứcmạnh dân tộc, nó chỉ thực sự sống động, trở thành động lực của dân tộckhi trong quá trình vận động của nó vừa phát huy được những giá trị nộitại, vừa kế thừa, vừa điều chỉnh, tiếp thu có chọn lọc những yếu tố vănhóa của các dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Dân tộcMông là một dân tộc có những nét đặc thù lịch sử về địa vực cư trú, quan

hệ kinh tế - xã hội, văn hóa, tín ngưỡng, tính cố kết cộng đồng, trong đótín ngưỡng tôn giáo truyền thống là một bộ phận rất quan trọng tạo nênbản sắc văn hóa độc đáo của người Mông Công cuộc đổi mới đất nước

và xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế đã tác động đến đời sống kinh

tế, văn hóa xã hội của người Mông ở Việt Nam nói chung và tỉnh Sơn Lanói riêng tác động không nhỏ tới văn hóa, phong tục tập quán và các mốiquan hệ cộng đồng trong xã hội người Mông ở Sơn La và trong số đó nổibật và đáng chú ý là sự thay đổi một số nghi lễ trong tín ngưỡng truyềnthống của người Mông Chúng tôi đặc biệt quan tâm và thấy sự thay đổi

đó thông qua nghi lễ hôn nhân của người Mông nơi đây, sự tiếp thu của

họ là sự tiếp thu có chọn lọc và sự chọn lọc đó thông qua thời gian đãchứng minh và làm thay đổi thực sự những nghi lễ trong hôn nhân củangười Mông, tuy sự thay đổi đó đã có phần "Kinh hóa", "Tây hóa"

Trang 31

nhưng nó đã được tộc người này chấp nhận và duy trì trong nhiều nămtrở lại đây.

Trang 32

CHƯƠNG II: NGHI THỨC, NGHI LỄ TRONG HÔN NHÂN

2.1 Quan niệm về hôn nhân của người Mông

2.1.1 Quan niệm về hôn nhân

Khi một người đàn ông và một người đàn bà cam kết sống chung vớinhững quyền và nghĩa vụ đối với nhau cũng như đối với con cái, thì đó làhôn nhân Do đó, người ta coi hôn nhân là một thể chế xã hội và giống nhưcác thể chế xã hội khác hôn nhân cũng trải qua những thay đổi trong lịch

sử Trong quan niệm của người Mông cũng như các dân tộc khác, hôn nhânđánh dấu sự trưởng thành của con người, do đó hôn nhân có vị trí quantrọng trong chu kỳ của đời người Hôn nhân cũng trở thành một trongnhững tiêu chí để khẳng định vị trí của mỗi con người thành viên trongcộng đồng

Trong hôn nhân, người Mông thường quan niệm việc lấy vợ là để

bổ sung thêm lao động cho gia đình Mặt khác, người Mông theo chế độphụ hệ với đặc trưng vai trò dòng họ rất rõ nét, do đó người con traiMông thường chủ động đi tìm vợ, ngược lại người con gái thường bịđộng trong việc lựa chọn Trước đây, người Mông thường cho việc contrai đi tìm vợ là điều hết sức cần thiết, vì vậy trong tục ngữ của ngườiMông đã có câu :"Trai mười sáu tuổi ước có đàn bà, gái ba mươi tuổiước có con trai đỡ đần" Từ quan niệm này, người Mông thường tìm vợsớm cho con trai, thậm chí khi con trai mới lên mười

Đối với tiêu chí để lựa chọn con dâu thì người Mông cho rằng lấy

vợ ở người Mông không phải là chọn hình thức, dáng người hay tuổi tác

mà điều quan trọng là sức khỏe và sự khéo léo, đảm đang để biết thêu áo

Trang 33

váy đẹp, biết làm nương giỏi và biết đẻ nhiều con Bởi vậy nên những kỹnăng mà một người con dâu cần có được họ chú ý và quan tâm nhiềuhơn, những kỹ năng đó sẽ giúp cho năng suất lao động cũng như nhữngvật phẩm gia đình làm được phục vụ nhu cầu ăn, mặc, ở tối thiểu nhưngthường nhật của mỗi gia đình Khi được hỏi về tục "bắt vợ" của ngườiMông trước đây, Ông Mùa A Giàng( Nguyên Chủ tịch xã Chiềng Công)

cho biết :"Người Mông lấy nhau về là vì chúng nó yêu cái khéo léo, cái chăm chỉ của người phụ nữ, cũng như yêu cái khỏe mạnh, biết xốc vác của người đàn ông Lấy nhau về rồi tìm hiểu dần tìm hiểu kỹ nhau hơn

là được vì còn nhiều thời gian, không cần phải yêu nhau lâu rồi mới lấy"

Còn về tiêu chí chọn chồng, ta có thể biết qua ý kiến của nhữngngười dân bản địa Khi được hỏi, ông Giàng A Dính ( bảo vệ thủy điện

Nặm Pia, bản Nặm Hồng, xã Chiềng Công) cho ý kiến:" Đàn ông, con trai đi "bắt vợ" về, đi ăn hỏi, đi cưới con gái người ta mà không biết hát đối, không uống được nhiều rượu trắng thì không được và không nên lấy

vợ vì còn không khỏe bằng con trâu trong nhà thì làm sao mà làm, mà

ăn được, làm sao mà lấy vợ đẻ con được Đàn ông là phải uống được cả gùi sừng trâu, cả chục ống nứa to và dài chưa say thì mới là đàn ông, mới được lấy vợ chứ" Như vậy, người vợ tốt được đánh giá qua kỹ năng

còn người chồng tốt được đánh giá qua cách giao tiếp Đàn ông là bộmặt của gia đình, là những người đại diện chính cho những việc quan hệ,ngoại giao nên bắt buộc phải biết ca hát và uống được nhiều rượu

Trước đây, đối với người Mông thì việc chọn vợ, tìm vợ là công việccủa bố mẹ, sau khi lấy vợ rồi thì mới biết yêu Đây là một đặc điểm hônnhân mà người Mông và người Kinh có sự trùng hợp, người Kinh trongnhững năm phong kiến thì hôn nhân có tìm hiểu trước hôn nhân gần như là

Trang 34

không có và cũng giống như người Mông bố mẹ sẽ là người lựa chọn ngườichồng, người vợ tương lai của mình và cho đến ngày cưới mới biết mặtcũng như sau ngày hôm đó đôi vợ chồng mới bắt đầu tìm hiểu và yêu nhau.Trong những năm gần đây, thanh niên người Mông đã có nhiều thay đổitrong nhận thức, đặc biệt là đối với những người đã được đi học, họ thường

đi tìm bạn tình, sau đó mới về thuyết phục bố mẹ đồng ý cho cưới

Ở người Mông cũng có tình trạng môn đăng hộ đối tuy nhiên thìvẫn còn một sự cứu vãn tình trạng đó là sự thương lượng, trả giá, trả góp

và bàn bạc giữa hai gia đình khi mà nhà trai trong thời điểm đó chưa đủđiều kiện trả đủ lễ

2.1.2 Độ tuổi kết hôn

Từ trước những năm 1954 cho đến trước khi có Luật Hôn nhânviệc kết hôn trước độ tuổi hạn chế trong cộng đồng này không phảikhông có song không phổ biến Khi Luật Hôn nhân và gia đình năm

1959 ra đời thì việc kết hôn trước độ tuổi trong cộng đồng dân tộc Môngdiễn ra không phổ biến, Sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, điềukiện kinh tế xã hội, đời sống văn hóa tinh thần được nâng lên thì tìnhtrạng kết hôn trước độ tuổi quy định ở đồng bào dân tộc thiểu số nóichung và dân tộc Mông lại gia tăng hơn so với thời kỳ trước Số lượngngười Mông kết hôn ở tuổi dưới quy định của luật Hôn nhân và gia đình

có tỷ lệ khá cao, vẫn còn kết hôn ở độ tuổi dưới 13 hoặc từ 14 đến 17tuổi Tuổi kết hôn trung bình của người Mông đối với nam là 16 và của

nữ là 14 đến 16 Số lượng kết hôn đúng độ tuổi quy định vẫn còn rất thấp

so với mức trung bình cả nước Lí do là người dân muốn có thêm lựclượng lao động trong nhà Quan niệm: gái 30 tuổi đã phải có con trai lớn

có thể giúp việc đồng áng làm nhiều người đẻ con sớm Đồng thời nó

Trang 35

còn bắt nguồn từ tâm lí sợ ế của gái Mông Đã sợ ế lại gặp được anhchàng tán tỉnh, kéo về nhà thì cô nào chẳng lấy chồng sớm Dần dần, nó

là một tập tục khó bỏ của người Mông Vì vậy, muốn thay đổi tuổi kếthôn của người Mông, ta phải thay đổi ba vấn đề kia trước Còn hiện giờ,nhiều địa bàn của dân tộc Mông, giáo dục, kinh tế đều kém phát triển thìđiều này khó thực hiện

Ngoài ra, ta còn thấy, trong cộng đồng dân tộc Mông không có sựphân biệt chênh lệch độ tuổi, tức là không nhất thiết cứ phải nam hơntuổi nữ mà cá biệt có những trường hợp nữ lại hơn tuổi nam rất nhiều, cótrường hợp hơn 5 đến 10 tuổi

2.1.3 Các nguyên tắc và kiêng kỵ trong hôn nhân

Người Mông có luật tục nghiêm khắc về hôn nhân, những người

có quan hệ họ hàng gần và họ hàng xa thì không được kết hôn Đối vớingười Mông cùng họ nhưng khác ma và dòng họ cùng họ, cùng ma dùcách xa mấy đời hay khác nhau về địa lý thì cũng không được thông giavới nhau, đó là điều cấm kỵ, xấu hổ được truyền từ xưa tới nay "Hônnhân bị cấm đoán với một loại họ hàng (con chú con bác) chứ khôngcấm với loại con cô con cậu" trong Bức khảm văn hóa Châu Á của GrantEvans [23,54]

Việc chọn ngày, xem tuổi kết hôn của người Mông được nhữngngười lớn tuổi trong gia đình quyết định Nếu người Thái chọn ngày đẹptheo kiểu là ngày đẹp để cưới chính là ngày mà nhiều người trong họhàng, trong bản rảnh rỗi nhất, vì có như vậy mới đông đủ và nhiều ngườiđến chúc phúc cho đội vợ chồng trẻ; người Kinh thì thuận theo lịch âm,xem âm dương ngũ hành, "lấy vợ xem tuổi đàn bà, xây nhà xem tuổi đànông", hay nhờ thầy bói xem cho ngày lành tháng tốt; thì ở người Mông,

Trang 36

họ không có quan niệm xem tuổi đàn ông hay đàn bà, ngày lành haytháng tốt, ngày đông hay ngày rảnh mà họ quan niệm rằng "đi ngày lẻ,

về ngày chẵn" có nghĩa là khi đi rước dâu, hay là ngày cưới thì đều đivào ngày lẻ, còn ngày rước dâu sẽ là ngày chẵn, đi ngày lẻ đồng nghĩavới việc là đi một mình, ngày chẵn tức là có đôi, có cặp Và dựa vào đó

để hai bên xem được khoảng thời gian nào hai bên nhà thấy hợp lí thì tổchức ngày cưới và rước dâu

"Hôn nhân trong người Mông phải là ngoại hôn về dòng họ và lối

cư trú ưa chuộng là ở bên nhà chồng Song, để người phụ nữ và con cáicủa họ chuyển từ gia đình sinh thành của họ sang gia đình hôn nhân của

họ thì nhà trai phải trả một số tiền có giá trị thực sự, gọi là giá cô dâu.Giá cô dâu là khoản tiền hôn nhân mà gia đình chú rể phải trả cho giađình cô dâu (chứ không phải cho bản thân cô dâu) Trong trường hợpngười Mông, khoản tiền đó được thu từ họ hàng của cha chú rể và đượcphân phối cho họ hàng của cha cô dâu Người đàn ông Mông nói là "đimua vợ", song giá cô dâu thực sự không phải là việc mua bán thươngmại vì người phụ nữ vẫn giữ quan hệ với gia đình sinh thành của mình,

họ có thể bỏ chồng để trở về nhà mình hoặc để tái giá và nếu anh chồngngược đãi họ thì giá cô dâu không phải hoàn lại" [23, 57]

2.2 Các nghi lễ trong hôn nhân

Như đã nói ở phần lý do chọn đề tài, hôn nhân là một việc hệtrọng trong cuộc đời mỗi con người Chính vì vậy, giống như nhiều tộcngười khác, hôn nhân của người Mông ở Mường La, Sơn La cũng phảitrải qua nhiều nghi lễ mang tính bắt buộc Nghi lễ là tổng thể nhữnghoạt động văn hóa nghiêm túc của con người dưới dạng hành lễ dophong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo quy định Nghi lễ là những

Trang 37

trình tự hoạt động được chính thức công nhận, là một quy trình các lễtiết được tôn trọng như một thể lệ ấn định nó tạo lên khuôn mẫu hành vicho những người trong cuộc và cả những người tham dự.

Nhìn một cách khái quát, quy trình nghi lễ hôn nhân của ngườiMông có thể được chia thành ba phần : "kéo vợ", ăn hỏi (dạm ngõ), vàcưới

2.2.1 Tìm hiểu, "kéo vợ" về nhà ( Mung zúa tô pụ)

Tìm hiểu và kéo vợ là một nghi lễ rất quan trọng trong hôn nhâncủa người Mông nói chung và người Mông ở Sơn La nói riêng

Đầu tiên là ở cách nhà trai tìm hiểu nhà gái Qua vài lần hội ýthống nhất, nhà trai cử người thân thiết như bà cô, hay bà dì, hay chị gái,

em gái của chàng trai, có khi là người mẹ chàng trai lấy cớ tới chơi thămthú họ hàng người thân ở làng nhà gái chơi với mục đích ngầm theo dõinhững hành động, cử chỉ, lời ăn tiếng nói, lối ứng xử giao tiếp của ngườicon gái mà con trai nhà mình đã yêu Ngoài ra còn thăm dò tin tức nhậnxét đánh giá về nhân phẩm đạo đức, lối sống, tính tình của người con gáibên nhà gái qua hàng xóm láng giềng ở bản làng nhà gái Khi đã có đầy

đủ thông tin về nhà trai cung cấp lại toàn bộ thông tin mà tai nghe, mắtthấy cho chủ nhà trai, qua đó người chủ nhà bố của con trai mời bác chúđến cùng nhận xét đánh giá, cùng đưa ra nhận định chung: nếu như mọingười cùng chấp nhận thì bước tiếp theo được tiến hành, không chấpnhận thì buộc con trai từ bỏ ý định của mình Tiếp đó, họ thực hiện việcbói số vợ chồng

Trong phong tục cưới hỏi của người Mông Sơn La tục bói số hợp

vợ, hợp chồng là một khâu hết sức quan trọng, việc này quyết định cho

sự thành hôn hay không của đôi trai gái trẻ Qua khâu nắm bắt thông tin

Trang 38

người con gái được người nhà trai chấp nhận thì nhà trai tiến hành làmthủ tục bói số để đoán biết số mệnh của cô dâu tương lai và con trai nhàmình có hợp số mệnh không? Có sống được cả đời tới khi già không?Tục bói số vợ chồng của vùng người Mông Sa Pa có hai hình thức khác

nhau.Hình thức thứ nhất bói bằng hương: Khi bói người cha hay mẹ của

con trai lấy ba nén hương đốt cháy sẵn ra đứng chính giữa ngoài cửachính đọc lời cầu khấn với ma trời, ma đất, đọc ngày tháng năm sinh,con gái thứ mấy của nhà gái với con trai nhà mình sau đó quay vào trongnhà đứng tại cột ma chính đọc lời cầu khấn một lần nữa, đọc xong họcắm cả ba nén hương xuống gốc cột ma chính, họ theo dõi và đoán biếtkết quả tốt xấu qua quá trình cháy của ba nén hương đó nếu ba nénhương cháy đều nhau đến hết là được Nếu có một nén hương cháy ở độcao hơn, hai nén cháy thấp hơn đều nhau là rất tốt nó biểu hiện nénhương cháy cao hơn là cha mẹ trụ cột gia đình, còn hai nén cháy thấpđều nhau là cô dâu, chú rể tâm đầu ý hợp sau này hai vợ chồng sẽ có lốisống kỷ cương, kính trên nhường dưới, sống lâu tới đầu bạc răng long…

Cả ba nén hương cháy không đều nhau là xấu. Hình thức thứ hai bói bằng con gà: khi bói người ta bắt một con gà con tầm bẩy tám lạng hay

một cân cùng với ba nén hương người cha hay mẹ bói đều được, ngườibói cầm con gà và hương đốt cháy sẵn ra đứng chính giữa ngoài cửachính đọc lời cầu khấn như đã nêu trên sau đó vào trong nhà đứng trướccột ma chính đọc lời cầu khấn như trên xong, người bói cắm ba nénhương xuống chân cột ma chính Họ đem con gà bói đó cắt tiết tại trungtâm gian nhà chính thường thờ cúng tổ tiên khi con gà gần chết họ thảcon gà xuống đất con gà dẫy nảy tứ tung, khi chết hẳn đầu quay về phíanào cũng được Qua việc tìm hiểu nắm bắt thông tin trên đi đôi với mộttrong hai tục bói số hợp vợ, chồng trên đây nhà trai cảm thấy hợp số

Trang 39

mệnh giữa con trai nhà mình với người yêu thì các bước tổ chức sẽ đượctriển khai tiếp theo.

Việc triển khai tiếp theo là kéo vợ Trên báo, đài viết và đăng nhiềutitle, nhiều mục về đặc điểm "bắt vợ" của người Mông nhưng cụ thể vàchi tiết như thế nào những sự việc và diễn biến trong và sau cuộc bắt vợ

đó của nguời Mông thì chưa có sách vở hay công trình nào nghiên cứumột cách cụ thể, chi tiết về nó cả Thực tế của việc bắt vợ này là trai gáibiết và tìm hiểu ngầm trước về nhau Người con trai phải biết về sáoMông, Khèn Mông, vào các đêm thổi trước cửa nhà cô gái Nếu điệu sáohay điệu khèn thu hút được lòng cô gái thì cô gái sẽ đi ra trò chuyện.Nếu người bạn gái đồng ý thì hẹn bạn trai làm một thủ tục kéo vợ Hoặctrong dịp đi chợ, hội hè trong những ngày Tết hay đơn giản chỉ là nhữngbuổi đi lấy củi, địu nước chuẩn bị cho một năm mới nhất là dịp tết củangười Mông, con trai, con gái độ tuổi 13-15 lại rìu rặt rủ nhau đi để tìmhiểu nhau Đây là dịp để thanh niên nam nữ Mông có cơ hội hiếm có để

họ tìm được bạn đời Dọc đường trai gái cứ thế liếc mắt tìm hiểu nhau.Ngắm được cô nào ưng ý, chàng trai chạy lại vỗ mấy cái vào mông côgái và nói: "Cu nhỉa co" (Tao thích mày) Cô gái nếu đồng ý cũng giả vờ

bỏ chạy một tí cho có lệ Vừa chạy vừa ngoái cổ lại, chờ đợi chàng traiđuổi theo Trước sự chứng kiến của nhiều người, chàng trai sẽ phải cầm

cổ tay cô gái và kéo cô về phía mình, nghĩa là đã thành đôi, thành lứa rồiđấy Nếu cô gái không thích chàng trai đó, cũng không sao, cứ đứng lại,điềm nhiên chờ những cú vỗ mông khác đến khi gặp người hợp mắt.Ngoài ra, trong cuộc sống mặc dù đôi trai gái yêu nhau đắm đuối, từngthề thốt cùng chung sống với nhau cả đời, lúc lấy nhau thật cũng phải tổchức kéo thì cô gái mới chịu về nhà chồng, không có cô gái nào tự bước

Trang 40

chân về nhà chồng cả, ý nghĩa chính của việc kéo vợ thể hiện sự danhgiá của người con gái qua ba nghĩa chính:

- Thứ nhất: Cô gái không bị xã hội đánh giá thấp hèn cam chịu chay theocon trai một cách mù quáng hạ thấp mình để hầu hạ nhà trai

- Thứ hai: Người con trai thực sự cần lấy cô gái làm vợ thật với thiênchức của người mẹ mới tổ chức kéo vợ, thể hiện thái độ rõ ràng cụ thể

- Thứ ba: Tránh sự đồn thổi tai tiếng xấu của xã hội và sự ngược đãi saunày của người chồng và người nhà trai

  Trên cơ sở đôi trai gái đã có một quá trình tìm hiểu, đã thực sự yêunhau, nguyện thành vợ chồng, người con trai về nhà cho bố mẹ biết mìnhđịnh lấy cô gái Khi đã được nhà trai cho phép con trai được lấy vợ, cảnhà tập trung cùng lo, cho người đi mời phù dâu, phù rể, cô chú cùng đigiúp kéo vợ, đoàn người kéo vợ thường có ít nhất 5 người chính thức vàmột số người khác phụ giúp Một cô gái trẻ chưa có chồng khác họ nhàtrai làm phù dâu, một chàng trai khác họ với nhà trai chưa có vợ làm phù

rể, một người anh hoặc bác ruột có hiểu biết cầm trịch, và chú rể chồngcủa cô dâu, một người thường là bà cô hay bà dì đại diện mẹ chú rể vớimột số bạn trai trẻ biết cách kéo vợ đi giúp chàng trai kéo vợ Tiêu chínhững người được chọn tham gia đoàn người kéo vợ gồm 03 tiêu chíchính:

- Thứ nhất: Phù dâu, phù rể phải là người chưa có chồng, chưa có vợ, cólối sống đạo đức tốt, kính trên, nhường dưới, nói năng nhẹ nhàng có hiểubiết

Ngày đăng: 16/01/2016, 22:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w