1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu về tính cách người Việt Nam qua đời sống tình cảm trong so sánh với người Hàn Quốc.

123 890 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. Lý do chọn đề tài luận văn Hoạt động văn hoá là hoạt động sản xuất ra cả giá trị vật chất và giá trị tinh thần nhằm giáo dục con người hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹ trong đời sống. Một cách tổng quát có thể hiểu văn hóa là lối sống của một nhóm người ở trong một khu vực địa lý nào đó như cả một dân tộc trong một quốc gia. Có xã hội loài người là có văn hóa bởi vì có những kết quả hoạt động ý thức của con người. Tình cảm của con người cũng thuộc về văn hóa. Tình cảm là giá trị văn hóa đáp ứng nhu cầu tồn tại và các nhu cầu đặc biệt thiêng liêng, đó là tình thương, tình yêu, hạnh phúc, trách nhiệm, nghĩa vụ tinh thần mang tính người của con người. Trước hết tình cảm của con người đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của các cá nhân đặc biệt là các cá thể người vừa được sinh thành. Sức mạnh của tình cảm, thông qua tình thương của mọi người che chở cho các cá thể đó lớn lên. Tình cảm được con người nhận thức, lựa chọn tìm đến những phương thức ứng xử được xem là phù hợp và thích hợp với mỗi kiểu loại xã hội ở từng giai đoạn lịch sử, để hình thành cái hệ thống giá trị chuẩn mực. Tình cảm có vai trò chi phối, điều tiết các quan hệ của xã hội, chi phối các phương thức ứng xử của các thành viên. Tình cảm là yếu tố cần thiết để hoàn thiện nhân cách đối với tất cả mỗi con người bình thường trong xã hội. Người ta chào đời và đã được đặt trong tình cảm của gia đình, của cộng đồng, một xã hội, từ đó bản thân ta hình thành nhân cách. Một dân tộc cũng vậy. Tình cảm là thứ vô cùng quan trọng trong đời sống của các dân tộc. Nó hình thành nên đời sống tình cảm giữa người với người. Từ đó nó tác động tới nhân cách con người, đem lại một tính cách riêng cho toàn dân tộc. Như vậy, đời sống tình cảm là dạng đặc thù của văn hóa cộng đồng bao gồm tổng thể sống động các hoạt động sống của xã hội mang đặc trưng văn hóa bị chi phối bởi các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, thị hiếu của cộng đồng mà các thành viên xã hội đã lựa chọn để ứng xử với nhau trong gia đình và ngoài xã hội. Chỉ có thông qua sự hình thành và phát triển của nhân cách, loài người mới trở nên khác biệt với tất cả các loài động vật khác, chỉ có loài người mới tạo ra được văn hóa và mỗi con người, với tư cách là một thành viên của xã hội tiếp thu văn hóa để hình thành nhân cách của mình. Ngoài ra, giao tiếp, tình cảm có văn hoá, có đạo đức là cơ sở để có những mối quan hệ thân thiện trong hợp tác trong các hoạt động xã hội. Đời sống tình cảm của người Việt Nam đã được hình thành qua 4000 năm dựng nước và giữ nước. Cái đẹp trong văn hoá tình cảm được cha ông Việt Nam lưu giữ, truyền lại từ đời này sang đời khác. Trong sách “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của GS. TSKH Trần Ngọc Thêm đã khẳng định: Ở phương Đông “một bồ cái lý, không bằng một tí cái tình” cho thấy người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng thường thể hiện tính trọng tình một cách rõ rệt. Chắc rất nhiều người nước ngoài đã nghề thấy câu này tại Việt Nam. Ngoài ra, tính trọng tình của người Việt Nam thể hiện nhiều trong các câu tục ngữ, ca dao. Chẳng hạn như: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”, “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”. Nó tạo nên các mối quan hệ đẹp có văn hóa, có đạo đức trong cộng đồng dân cư, trong tình bạn trong tình yêu, trong gia đình, trong nhà trường, trong kinh doanh, đàm phán thương lượng khi có những bất công có thể dẫn đến xung đột. Trong sự phát triển mạnh mẽ phong trào hiện đại hóa cuộc sống muôn mặt, toàn đất nước, có nhiều biến đổi tích cực. Đó là một sự thật lớn ai cũng thấy rõ. Song cũng lại có một sự thật khác xuất hiện làm không ít người lo ngại; đó là một số nhân tố truyền thống vốn có trong dân tộc Việt Nam đang bị phá vỡ hoặc bào mòn nghiêm trọng. Hơn nữa, cũng phải đánh giá công bằng, lối sống trọng tình của người Việt có cả nhược điểm mà khi người nước ngoài bước vào Việt Nam làm việc đều cảm thấy khó hiểu. Tôi đã sống ở Việt Nam nhiều năm và trong cuộc sống hàng ngày phát hiện ra nhiều người nước ngoài hay gặp khó khăn do chưa hiểu về đời sống tình cảm của người Việt Nam và phê phán về văn hóa Việt Nam . Để thu hút được đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, việc xem xét và tạo dựng một môi trường đầu tư hấp dẫn trong đó, hạn chế thấp nhất những rào cản gây e ngại cho các nhà đầu tư trở thành một yêu cầu bức thiết. Bên cạnh những rào cản lớn như sự yếu kém của cơ sở hạ tầng, hệ thống luật pháp còn nhiều hạn chế, v.v., vấn đề về khác biệt văn hóa cũng được xem là một trong những thách thức đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi đến Việt Nam. Thực tế cho thấy, đã có không ít dự án đầu tư thất bại với nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ những rào cản về văn hóa. Hệ quả của nó không chỉ dừng lại ở những tổn thất cho bên nhận đầu tư là Việt Nam mà còn ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư nước ngoài, cản trở họ quay lại Việt Nam và khiến họ tìm đến những thị trường khác. Do những lý trên, tôi muốn nghiên cứu về đời sống tình cảm của người Việt để thứ nhất là tôi sẽ tìm hiểu sâu sắc hơn về người Việt và thứ hai là giúp đỡ người ta tìm hiểu về đặc tính của người Việt Nam và giúp người nước ngoài dễ thích ứng văn hóa Việt Nam. Ở luận văn, tôi sẽ so sánh đời sống tình cảm của người Việt với người Hàn Quốc vì hiện giờ số lượng người Hàn Quốc tới Việt Nam tương đối đông cả bao gồm bản thân tôi và Việt Nam và Hàn Quốc đều vẫn còn đời sống tình cảm từ xưa đến nay. Luận văn sẽ là bản đồ văn hóa hướng dẫn cho cả người Việt và người nước ngoài có một cuộc sống và môi trường làm việc tốt hơn tại đây.Từ những lý do trên, tôi quyết định thực hiện đề tài: “Tìm hiểu về tính cách người Việt Nam qua đời sống tình cảm trong so sánh với người Hàn Quốc.”

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Tìm hiểu tính cách người Việt Nam qua đời sống tình cảm

trong so sánh với người Hàn Quốc

HÀ NỘI - 2015

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Chương 1 11

CƠ SỞ LÝ LUẬN 11

1.1 Khái niệm tính cách dân tộc 11

1.2 Khái niệm của đời sống tình cảm 27

Đặc điểm đặc trưng của đời sống tình cảm: 28

1.3 Mối quan hệ giữa tính cách và đời sống tình cảm của mỗi dân tộc 40

Chương 2 48

ĐẶC ĐIỂM ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 48

TRONG SỰ SO SÁNH VỚI NGƯỜI HÀN QUỐC 48

2.1 Đời sống tình cảm trong tình yêu đôi lứa 48

2.2 Đời sống tình cảm trong gia đình 57

2.3 Đời sống tình cảm trong quan hệ với đồng nghiệp 65

2.3.2.1 Tính khoan dung, nhường nhịn 66

Chương 3 74

TÍNH CÁCH CON NGƯỜI VIỆT NAM 74

QUA ĐỜI SỐNG TÌNH CẢM VÀ NHỮNG ĐỀ XUẤT 74

3.1 Khái quát tính cách nổi bật 74

3.2 So sánh với tính cách của người Hàn Quốc 89

3.3 Những suy nghĩ, đề xuất 98

KẾT LUẬN 110

TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Phụ lục 116

MỞ ĐẦU

Trang 3

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Hoạt động văn hoá là hoạt động sản xuất ra cả giá trị vật chất và giátrị tinh thần nhằm giáo dục con người hướng tới cái chân, cái thiện, cái mỹtrong đời sống Một cách tổng quát có thể hiểu văn hóa là lối sống của mộtnhóm người ở trong một khu vực địa lý nào đó như cả một dân tộc trongmột quốc gia Có xã hội loài người là có văn hóa bởi vì có những kết quảhoạt động ý thức của con người

Tình cảm của con người cũng thuộc về văn hóa Tình cảm là giá trịvăn hóa đáp ứng nhu cầu tồn tại và các nhu cầu đặc biệt thiêng liêng, đó làtình thương, tình yêu, hạnh phúc, trách nhiệm, nghĩa vụ tinh thần mang tínhngười của con người Trước hết tình cảm của con người đáp ứng nhu cầutồn tại và phát triển của các cá nhân đặc biệt là các cá thể người vừa đượcsinh thành Sức mạnh của tình cảm, thông qua tình thương của mọi ngườiche chở cho các cá thể đó lớn lên Tình cảm được con người nhận thức, lựachọn tìm đến những phương thức ứng xử được xem là phù hợp và thíchhợp với mỗi kiểu loại xã hội ở từng giai đoạn lịch sử, để hình thành cái hệthống giá trị chuẩn mực

Tình cảm có vai trò chi phối, điều tiết các quan hệ của xã hội, chiphối các phương thức ứng xử của các thành viên Tình cảm là yếu tố cầnthiết để hoàn thiện nhân cách đối với tất cả mỗi con người bình thườngtrong xã hội Người ta chào đời và đã được đặt trong tình cảm của gia đình,của cộng đồng, một xã hội, từ đó bản thân ta hình thành nhân cách Mộtdân tộc cũng vậy Tình cảm là thứ vô cùng quan trọng trong đời sống củacác dân tộc Nó hình thành nên đời sống tình cảm giữa người với người Từ

đó nó tác động tới nhân cách con người, đem lại một tính cách riêng chotoàn dân tộc Như vậy, đời sống tình cảm là dạng đặc thù của văn hóa cộngđồng bao gồm tổng thể sống động các hoạt động sống của xã hội mang đặctrưng văn hóa bị chi phối bởi các giá trị, chuẩn mực, truyền thống, thị hiếu

Trang 4

của cộng đồng mà các thành viên xã hội đã lựa chọn để ứng xử với nhautrong gia đình và ngoài xã hội Chỉ có thông qua sự hình thành và phát triểncủa nhân cách, loài người mới trở nên khác biệt với tất cả các loài động vậtkhác, chỉ có loài người mới tạo ra được văn hóa và mỗi con người, với tưcách là một thành viên của xã hội tiếp thu văn hóa để hình thành nhân cáchcủa mình Ngoài ra, giao tiếp, tình cảm có văn hoá, có đạo đức là cơ sở để

có những mối quan hệ thân thiện trong hợp tác trong các hoạt động xã hội Đời sống tình cảm của người Việt Nam đã được hình thành qua 4000năm dựng nước và giữ nước Cái đẹp trong văn hoá tình cảm được cha ôngViệt Nam lưu giữ, truyền lại từ đời này sang đời khác Trong sách “Tìm vềbản sắc văn hóa Việt Nam” của GS TSKH Trần Ngọc Thêm đã khẳngđịnh: Ở phương Đông “một bồ cái lý, không bằng một tí cái tình” cho thấyngười phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng thường thểhiện tính trọng tình một cách rõ rệt Chắc rất nhiều người nước ngoài đãnghề thấy câu này tại Việt Nam Ngoài ra, tính trọng tình của người ViệtNam thể hiện nhiều trong các câu tục ngữ, ca dao Chẳng hạn như: “Bánanh em xa, mua láng giềng gần”, “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” Nótạo nên các mối quan hệ đẹp có văn hóa, có đạo đức trong cộng đồng dân

cư, trong tình bạn trong tình yêu, trong gia đình, trong nhà trường, trongkinh doanh, đàm phán- thương lượng khi có những bất công có thể dẫn đếnxung đột Trong sự phát triển mạnh mẽ phong trào hiện đại hóa cuộc sốngmuôn mặt, toàn đất nước, có nhiều biến đổi tích cực Đó là một sự thật lớn

ai cũng thấy rõ Song cũng lại có một sự thật khác xuất hiện làm không ítngười lo ngại; đó là một số nhân tố truyền thống vốn có trong dân tộc ViệtNam đang bị phá vỡ hoặc bào mòn nghiêm trọng Hơn nữa, cũng phải đánhgiá công bằng, lối sống trọng tình của người Việt có cả nhược điểm mà khingười nước ngoài bước vào Việt Nam làm việc đều cảm thấy khó hiểu

Trang 5

Tôi đã sống ở Việt Nam nhiều năm và trong cuộc sống hàng ngàyphát hiện ra nhiều người nước ngoài hay gặp khó khăn do chưa hiểu về đờisống tình cảm của người Việt Nam và phê phán về văn hóa Việt Nam Đểthu hút được đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, việc xem xét và tạo dựngmột môi trường đầu tư hấp dẫn trong đó, hạn chế thấp nhất những rào cảngây e ngại cho các nhà đầu tư trở thành một yêu cầu bức thiết Bên cạnhnhững rào cản lớn như sự yếu kém của cơ sở hạ tầng, hệ thống luật phápcòn nhiều hạn chế, v.v., vấn đề về khác biệt văn hóa cũng được xem là mộttrong những thách thức đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi đến ViệtNam Thực tế cho thấy, đã có không ít dự án đầu tư thất bại với nguyênnhân chủ yếu xuất phát từ những rào cản về văn hóa Hệ quả của nó khôngchỉ dừng lại ở những tổn thất cho bên nhận đầu tư là Việt Nam mà còn ảnhhưởng đến tâm lý nhà đầu tư nước ngoài, cản trở họ quay lại Việt Nam vàkhiến họ tìm đến những thị trường khác Do những lý trên, tôi muốn nghiêncứu về đời sống tình cảm của người Việt để thứ nhất là tôi sẽ tìm hiểu sâusắc hơn về người Việt và thứ hai là giúp đỡ người ta tìm hiểu về đặc tínhcủa người Việt Nam và giúp người nước ngoài dễ thích ứng văn hóa ViệtNam Ở luận văn, tôi sẽ so sánh đời sống tình cảm của người Việt vớingười Hàn Quốc vì hiện giờ số lượng người Hàn Quốc tới Việt Nam tươngđối đông cả bao gồm bản thân tôi và Việt Nam và Hàn Quốc đều vẫn cònđời sống tình cảm từ xưa đến nay Luận văn sẽ là bản đồ văn hóa hướngdẫn cho cả người Việt và người nước ngoài có một cuộc sống và môitrường làm việc tốt hơn tại đây.

Từ những lý do trên, tôi quyết định thực hiện đề tài: “Tìm hiểu vềtính cách người Việt Nam qua đời sống tình cảm trong so sánh với ngườiHàn Quốc.”

2 Tình hình nghiên cứu vấn đề

Trang 6

Nghiên cứu về đời sống tình cảm đã được một số nhà nghiên cứu, lýluận văn hóa, quản lý văn hóa quan tâm, đã có một số đề tài, công trình củacác tác giả đi trước đề cập đến những vấn đề mà luận án nghiên cứu.

Ở Liên Xô (cũ), từ những năm 70 của thế kỷ XX đã có những côngtrình nghiên cứu lớn về văn hóa tinh thần của các nhà khoa học Marxism(Mác-xít) Trong đó có công trình viết tổng hợp thành hệ thống lý luận vănhóa như: "Cơ sở lý luận văn hóa Mác-Lênin" do GS.TS A.I.Acnônđốp chủbiên, NXB Văn hóa - Trường Văn hóa tại TP Hồ Chí Minh Công trình nàychủ yếu thuyết giải về những nguyên tắc Mác-xít trong việc nhận thức và

xử lý văn hóa tinh thần của chủ nghĩa xã hội Công trình có những kết luậnkhoa học có thể kế thừa, nhưng cũng có những kết luận mà thực tiễn sốngcủa xã hội hiện đại đang đòi hỏi phải được nghiên cứu, thảo luận thêm

Ở phương Tây, từ những năm 80 của thế kỷ XX đến nay, từ sự khủnghoảng của các mô hình phát triển trên thế giới, đã xuất hiện hàng loạt cáccông trình nghiên cứu về văn hóa với khuynh hướng chung là khẳng địnhvai trò quan trọng không thể thiếu của văn hóa tinh thần trong phát triển,đối với phát triển Trong đó có các công trình như: "Phản phát triển cái giáphải trả của chủ nghĩa tự do" của Richard Bergeron, NXB CTQG, HN,1995; "Tạo dựng nền văn minh mới chính trị của làn sóng thứ ba" củaAlvin Toffler và Heidi Toffler, NXB CTQG, HN, 1996; "Cạm bẫy pháttriển: cơ hội và thách thức" của Tames Goldsmith, NXB CTQG, HN, 1997;vv…

Ở Trung Quốc, thời kỳ từ cải cách mở cửa đến nay đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về nền văn minh tinh thần xã hội chủ nghĩa Trong số đó

có công trình lớn được in thành sách: "Cải cách thể chế văn hóa" gồm 2 tập

do Khang Thức Chiêu chủ biên, NXB CTQG, HN, 1996 Những kết quảnghiên cứu về văn hóa và đời sống tình cảm ở phương Tây cũng như ở

Trang 7

Trung Quốc đều rất đáng được tham khảo trong nghiên cứu và xử lý vănhóa ở nước ta.

Ở Hy Lạp cổ đại, các bài viết của các tác giả như Aristoteles, Platon

và các tác giả cũng đã bước đầu nghiên cứu về đời sống đời sống tình cảmcủa con người nhưng phải đến cuối thế kỷ thứ 18 đầu thế kỷ 19 những vấn

đề liên quan đến đời sống tình cảm của con người mới được các nhànghiên cứu quan tâm thực sự Từ năm 1899 bắt đầu phát triển nhữngnghiên cứu về đời sống tình cảm với các công trình của Veblen, DavidPiesman,… Năm 1936, Léo Lagrange coi việc nâng cao đời sống văn hóatinh thần của con người như một thành quả cuộc đấu tranh cho phẩm giángười công nhân khi ông tuyên bố: “Chúng tôi muốn người công chức,người nông dân, kẻ thất nghiệp tìm thấy trong nhàn rỗi niềm vui sống và ýnghĩa phẩm giá của họ”[31, tr.3]

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu đời sống tình cảm được triển khai mạnh

mẽ ngay sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng sự nghiệp đổi mới

và nhà nước Việt Nam tuyên bố hưởng ứng "Thập kỷ thế giới phát triểnvăn hóa" do Tổ chức văn hóa, giáo dục và khoa học của Liên hiệp quốc(UNESCO) phát động Hàng loại các công trình nghiên cứu liên quan đếncác đề tài đó đã được công bố, trong đó có: Luận án PTS triết học đề tài:

"Đời sống tinh thần của xã hội và xây dựng đời sống tinh thần của xã hộiViệt Nam trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội" của tác giả Trần KhắcViệt ở Học viện CTQG Hồ Chí Minh, HN, 1992 và các công trình được inthành sách như: "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" của

GS Trần Văn Giàu, NXB TP Hồ Chí Minh, 1993; "Văn hóa và đổi mới"của cố vấn Phạm Văn Đồng, NXB CTQG, HN, 1994; "Một số vấn đề lýluận văn hóa thời kỳ đổi mới" do GS TS Hoàng Vinh chủ biên, NXBCTQG, HN, 1996; "Văn hóa trong quá trình đô thị hóa ở nước ta" do GSTrần Văn Bính chủ biên, NXB CTQG, HN, 1998; "Tư tưởng Hồ Chí Minh

Trang 8

về xây dựng văn hóa Việt Nam" của Nhiều tác giả, NXB CTQG, HN,1998; "Bản sắc dân tộc và hiện đại hóa trong văn hóa" của GS VS HoàngTrinh, NXB CTQG, HN, 2000; vv…

Những thuyết giải và đề xuất khoa học về văn hóa tinh thần và đờisống tinh thần trong thời kỳ này là rất quan trọng và rất cần thiết đối vớinhận thức và thực tiễn xây dựng và phát triển văn hóa trong quá trình đổimới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Trong luận văn của tôi, tácgiả đã khai thác và kế thừa những thuyết giải và đề xuất khoa học quantrọng đó

Tuy nhiên, cho đến nay, tôi chưa tìm được công trình khoa học độclập nào nghiên cứu chuyên biệt, trực tiếp và có hệ thống về tìm hiểu về tínhcách người Việt Nam qua đời sống tình cảm Việt Nam hiện đại Xuất phát

từ thực tiễn đất nước Việt Nam hiện tại, đối chiếu với tình hình nghiên cứunêu trên, tôi chọn vấn đề " Tìm hiểu về tính cách người Việt Nam qua đờisống tình cảm trong so sánh với người Hàn Quốc" làm đề tài nghiên cứu vàviết công trình luận văn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

- Mục đích: Mục đích nghiên cứu mà đề tài hướng đến là xây dựngmột cách nhìn đầy đủ hơn về tính cách người Việt Nam qua nghiên cứu đờisống tình cảm của người Việt Nam hiện đại và so sánh với đời sống tìnhcảm của người Hàn Quốc Từ đó, luận văn góp phần hoàn thiện hình ảnhmột Việt Nam thân thiện và tiến bộ, trở thành “bản đồ đời sống tình cảm”cho người nước ngoài tới Việt Nam như tôi

- Nhiệm vụ:

+ Phân tích bản chất của văn hóa tinh thần, vai trò của văn hóa tinhthần đối với tính cách con người trong xã hội Việt Nam hiện nay

Trang 9

+ Điều tra, đánh giá thực trạng đời sống tình cảm của người Việt.+ So sánh với đời sống tình cảm của người Hàn Quốc và từ đó, hiểuthêm về tính cách con người Việt Nam.

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu: đời sống tình cảm Việt Nam thể hiện trongcuộc sống hàng ngày và phản ảnh tính cách người Việt như thế nào

- Phạm vi nghiên cứu: tìm hiểu về tính cách người Việt Nam liênquan về đời sống tình cảm, trong sự so sánh với Hàn Quốc Ở đây, tôi chỉnghiên cứu đời sống tình cảm của người Việt trong thời kì hiện tại và giớihạn ở tình cảm đôi lứa, gia đình và tình cảm đồng nghiệp Về mặt tài liệu,

vì đề tài luận văn khá rộng nên tôi nghiên cứu cả tài liệu khoa học thànhvăn và cả tư liệu góp nhặt được trong đời sống sinh hoạt

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Để giải quyết các vấn đề đặt ra, tôi vận dụng các phương phápnghiên cứu như phân tích, tổng hợp, so sánh, kết hợp với kiến thức nềntảng rút ra từ những tài liệu nghiên cứu về đời sống tình cảm và nghiên cứu

về tính chất người Việt trong những năm qua Ngoài ra, quá trình nghiêncứu còn được hỗ trợ bởi việc tiến hành phỏng vấn với chính những ngườingười nước ngoài sống tại Việt Nam trên miền Bắc và miền Nam Kết quảthu được từ phương pháp này là cơ sở cho những đánh giá được rút ra trongluận văn này

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Theo nghiên cứu đề tài này, người ta tìm hiểu sâu sắc hơn về tínhcách người Việt qua đời sống tình cảm và các người có bối cảnh văn hóakhác cũng dễ hiểu và thích ứng được đặc tính của người Việt Nam

Trang 10

7 Kết cấu của luận văn

Để hoàn thành các nhiệm vụ nghiên cứu trên, ngoài Mở đầu, Kếtluận, Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn giống các chươngsau:

Chương I: Cơ sở lý luận

Chương II: Đặc điểm đời sống tình cảm người Việt Nam hiện đại trong sự

so sánh với người Hàn Quốc

Chương III: Tính cách con người Việt Nam qua đời sống tình cảm vànhững đề xuất

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Khái niệm tính cách dân tộc

1.1.1 Tính cách là gì?

Trang 11

1.1.1.1 Định nghĩa tính cách

Tính cách hay tính là tính chất, đặc điểm về nội tâm của mỗi conngười, mà có ảnh hưởng trực tiếp đến suy nghĩ, lời nói và hành động củangười đó Trong cuộc sống thường ngày ta thường dùng các từ “tính tình”,

“tính nết”, “tư cách” để chỉ tính cách “Tính cách là một thuộc tính tâm lýphức hợp của cá nhân, bao gồm một hệ thống thái độ của nó đối với hiệnthực, và thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng”[21,69] Tính cách là yếu tố quan trọng nhất của con người Người tathường đánh giá hành động, lời nói, và đôi khi là suy nghĩ của một người

để suy ra tính cách người đó, và cuối cùng là kết luận về bản chất người đó Thường thì tính cách được chia làm hai loại: tính tốt và tính xấu.Những nét tính cách tốt thường được gọi là “đặc tính”, “tấm lòng”, “tinhthần”, Những nét tính cách xấu thường được gọi là “thói”, “tật”, Mộtngười có thể có nhiều tính cách và nhiều người có thể có cùng một tínhcách Tốt và xấu là theo quan niệm của đa số người dân Tuy nhiên đối vớinhững tính cách mà số người cho là xấu bằng số người cho là tốt hay không

ai cho tốt xấu gì cả thì chúng ta nên xem xét lại trong từng trường hợp cụthể hoặc gắn cho nó quan niệm trung lập

Tính cách mang tính ổn định và bền vững, tính thống nhất và đồngthời cũng mang tính độc đáo, riêng biệt, điển hình cho mỗi cá nhân Vì thế,tính cách của cá nhân là sự thống nhất giữa cái chung và cái riêng, cái điểnhình và cái cá biệt Tính cách của cá nhân chịu sự chế ước của xã hội

Tính cá biệt, điển hình của tính cách được thể hiện ở chỗ :

- Tính cách thuộc về bản chất cá nhân, mang nặng dấu ấn của chủ thể

Vì vậy, khi hiểu tính cách con người có thể đoán được cách cư xử củangười ấy trong một tình huống cụ thể nào đó

Trang 12

- Tính cách không phải là bẩm sinh, di truyền, mà nó được hình thànhtrong quá trình sống và hoạt động, giao tiếp của con người với tư cách làmột thành viên của xã hội.

- Tính cách cá nhân phụ thuộc rất nhiều và thế giới quan, niềm tin, lýtưởng và vị trí xã hội của người ấy

1.1.1.2 Cấu trúc của tính cách

Tính cách có cấu trúc rất phức tạp, bao gồm hệ thống thái độ và hệthống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng :

a Hệ thống thái độ của tính cách

Bao gồm 4 mặt sau đây :

- Thái độ đối với tập thể và xã hội, thể hiện qua nhiều nét tích cách như: lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, thái độ chính trị, tinh thần đổi mới,tinh thần hợp tác cộng đồng,

- Thái độ đối với lao động, thể hiện ở những nét tính cách cụ thể như :lòng yêu lao động, cần cù, sáng tạo, lao động có kỷ luật, tiết kiệm, đem lạinăng suất lao động cao,

- Thái độ đối với mọi người, thể hiện ở những nét tính cách như : lòngyêu thương con người theo tinh thần nhân đạo, quá trọng con người, có tinhthần đoàn kết, tương trợ, tính cởi mở, tính chân thành, thẳng thắn, côngbằng,

- Thái độ đối với bản thân, thể hiện ở những nét tính cách như : tínhkhiêm tốn, lòng tự trọng, tinh thần tự phê bình,

b Hệ thống hành vi, cử chỉ và cách nói năng tương ứng của cá nhân Đây là sự thể hiện cụ thể ra bên ngoài của hệ thống thái độ của tínhcách Hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng của tính cách rất đa dạng,chịu sự chi phối của hệ thống thái độ

Trang 13

Người có tính cách tốt, nhất quán thì hệ thống thái độ sẽ tương ứngvới hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng Trong đó thái độ là mặt nộidung, mặt chỉ đạo, còn hành vi, cử chỉ, cách nói năng là hình thức biểu hiệncủa tính cách, chúng không tách rời nhau, thống nhất hữu cơ với nhau Trong cấu trúc của tính cách, ta cần chú ý cả những thành phần tâm lýtham gia vào tính cách như sau:

- Xu hướng là mặt chủ đạo của tính cách, các thuộc tính của xu hướngquyết định phương hướng, động cơ của tính cách

- Tình cảm là nội dung chủ yếu của tính cách, hệ thống thái độ của conngười là do sự căm ghét, yêu thích thực sự của người đó quy định, tình cảmcũng góp phần thể hiện mặt cường độ của hệ thống hành vi

- Ý chí là sức mạnh là trụ cột của tính cách, những nét ý chí có ý nghĩađặc biệt đối với hành vi của con người, chúng biểu hiện kỹ năng điều khiểnmột cách có ý thức hoạt động của bản thân, năng lực quyết định và thựchiện quyết định đó, thực hiện được mục tiêu đã chọn

- Khí chất ảnh hưởng đến hình thức biểu hiện của tính cách

- Hệ thống kĩ năng, kĩ xảo, thói quen

1.1.1.3 Sự hình thành tính cách

Những cơ sở của tính cách, những nét tính cách đầu tiên đã đượcphác thảo ngay từ trước tuổi học, nó được hình thành trong hoạt động vuichơi, trong giao tiếp của trẻ (ví dụ như tính bạo dạn, kiên trì, tự kiềm chế,sáng kiến,…)

Khi đến trường, trẻ bắt đầu một giai đoạn mới trong việc hình thànhtính cách

+ Học tập là hoạt động mà xã hội yêu cầu và đánh giá, chính hoạtđộng học đã đề ra cho trẻ những yêu cầu mới, nó đòi hỏi và làm phát triển

ở trẻ tính tổ chức, tính mục đích, tính kiên trì, cẩn thận, ý thức kỷ luật

Trang 14

+ Quan hệ với bạn bè, với thầy cô giáo làm phát triển ở trẻ ý thứcnghĩa vụ, ý thức trách nhiệm.

+ Tình bạn và cuộc sống ở trường làm hình thành ở trẻ kĩ năng và nhucầu coi trọng ý kiến của người khác, của tập thể

+ Việc đánh giá của giáo viên ở trường về học sinh giúp cho các em cóthể đối chiếu hành vi của mình với hành vi của bạn và tập đánh giá đúnghành vi của bản thân

Có thể thấy, nếu tổ chức các hoạt động giáo dục phong phú, đa dạngmang tính giáo dục cao thì môi trường học tập có ảnh hưởng rất lớn đếntính cách của trẻ

- Đến tuổi thiếu niên, những nét tính cách của trẻ đặc biệt phát triểnnhanh :

+ Người lớn tôn trọng trẻ hơn, đề ra những yêu cầu cao hơn cho trẻ,mặt khác chính các em cũng muốn trải nghiệm làm người lớn

+ Trong quan hệ với mọi người, thiếu niên cố gắng tham gia ngàycàng tích cực hơn vào các hoạt động cuộc sống, thái độ tự giác của các emngày càng phát triển khi được tham gia vào các hoạt động tập thể lớn, hoạtđộng của các em dần dần tuân theo những động cơ có tính chất xã hội (nhưđộng cơ tinh thần trách nhiệm, tình cảm, nghĩa vụ đối với tập thể, vớinhóm)

- Đến tuổi thanh niên, hoạt động học tập và lao động có ý nghĩa lớnđối với sự hoàn thiện tính cách Tự ý thức phát triển mạnh ở tuổi thiếu niên,sang đến tuổi thanh niên nó trở nên mạnh mẽ, sôi nổi hơn và sâu sắc hơn.Chính vì thế mà nó tạo điều kiện to lớn cho sự phát triển nhân cách, tạođiều kiện cho hoạt động tự giáo dục, tự hoàn thiện ở bản thân những phẩmchất xã hội

1.1.2 Tính cách dân tộc

Trang 15

1.1.2.1 Khái niệm dân tộc

Khái niệm dân tộc được rất nhiều nhà nghiên cứu định nghĩa Đây làkhái niệm mà từ ngành triết học, tâm lí học cho tới văn hóa học đều quantâm Từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa: dân tộc là một tộc ngườitrong một quốc gia được liên kết bằng những đặc điểm ngôn ngữ, văn hóa,

ý thức tự giác Nhà nghiên cứu L.N.Gumilev cũng định nghĩa: dân tộc làmột cộng đồng người, khác với cộng đồng khác, có cấu trúc đặc biệt bêntrong [17,20] Stalin lại định nghĩa như sau: "Dân tộc là một cộngđồng người ổn định, hình thành trong lịch sử, dựa trên cơ sở cộng đồng vềtiếng nói, về lãnh thổ, về đời sống kinh tế và trạng thái tâm lí biểu hiệntrong một cộng đồng về văn hóa" [17,21] Như vậy, tiêu biểu cho "dân tộc"

là tính cộng đồng về những điều kiện sinh hoạt vật chất, lãnh thổ, đời sốngkinh tế, cộng đồng về ngôn ngữ, cấu tạo tâm lí Phái tâm lí học coi dân tộc

là một nhóm lớn người trong xã hội có sự bền vững với đặc trưng tâm líchung nhất, tiêu biểu nhất Một đại diện tiêu biểu của phái này là Lazarusđưa ra định nghĩa đáng chú ý: dân tộc là tập hợp những người mà họ tự xếpmình vào tập hợp đó [17,21] Ở Việt Nam, tiếp nối những nghiên cứu trênthế giới, nhà nghiên cứu tâm lí học Vũ Dũng trong cuốn “Tâm lí học dântộc” (2009) đã đưa ra định nghĩa toàn diện về dân tộc: “Dân tộc là cộngđồng người ổn định, mà những người đó ý thức rõ mình là thành viên củacộng đồng trên cơ sở những dấu hiệu chung được tiếp nhận như là nhữngđặc trưng phân biệt dân tộc một cách hiển nhiên, bền vững” [17,22] Trongluận văn này, chúng tôi thóng nhất dùng định nghĩa của nhà nghiên cứu VũDũng để làm cơ sở lí luận của luận văn

Ở khái niệm dân tộc, ta cần lưu ý thêm sự phân biệt dân tộc với chủngtộc Chủng tộc là tập đoàn người mang tính sinh vật, có những đặc điểmsinh vật bên ngoài: màu da, nét mặt, hình thể, màu tóc… Còn dân tộc làmột phạm trù xã hội Cũng cần phân biệt dân tộc với bộ lạc, bộ lạc là một

Trang 16

phạm trù nhân chủng chỉ có trong chế độ cộng sản nguyên thủy, còn dântộc là một phạm trù lịch sử do những người thuộc nhiều chủng tộc, bộ lạchọp nhau lại mà thành

Ở nhiều nước Âu - Mĩ , dân tộc sinh ra trong thời kỳ tư bản chủnghĩa Cơ sở kinh tế để xuất hiện dân tộc ở các nước này là việc thủ tiêutình trạng phân tán phong kiến chủ nghĩa, củng cố những mối liên hệ kinh

tế giữa các khu vực riêng lẽ trong nước, thống nhất các thị trường địaphương thành thị trường toàn quốc Ở những nước như nước ta, không phảiquan con đường tư bản chủ nghĩa, nhưng như thế không có nghĩa là nước takhông hình thành dân tộc, mà trái lại, thậm chí ở nước ta, dân tộc hìnhthành rất sớm "Ở Việt Nam, dân tộc hình thành từ khi lập nước, chứ khôngphải khi chủ nghĩa tư bản nước ngoài xâm nhập vào Việt Nam" [22,43].Ðiều kiện để dân tộc Việt Nam hình thành sớm là do các bộ lạc cần liên kếtnhau lại để chống thiên tai, làm thủy lợi, để sản xuất lúa nước và để chốnggiặc ngoại xâm

1.1.2.2 Khái niệm tính cách dân tộc

Tính cách dân tộc là một khái niệm cũng được nghiên cứu từ lâu vớinhiều quan điểm khác nhau Cùng nói về khái niệm này nhưng các nhànghiên cứu dùng nhiều các gọi khác nhau: tâm lí dân tộc, cá tính dân tộc, tinhthần dân tộc, tâm hồn dân tộc,…Tuy nhiên, có thể chia hệ thống quan điểm

về tính cách dân tộc như sau:

Ở nước ngoài, ta bắt gặp 5 quan điểm về tính cách dân tộc Quan điểm

1 coi tính cách dân tộc tương ứng với cách ứng xử của các thành viên trong

xã hội Đại diện là nhà nghiên cứu Ginsbirg người Anh, tác giả đã chỉ ra: tínhcách dân tộc chỉ toàn bộ cách ứng xử riêng của mỗi nhóm dân tộc trong tổngthể của nó Đó là tính cách ổn định của một nhóm dân cư trưởng thành

Trang 17

Nghiên cứu này có ưu điểm lớn là gắn tính cách dân tộc với tính bền vững,

ổn định Tuy nhiên, định nghĩa này chưa đưa ra cấu trúc tổng thể [17,24] Quan điểm 2 đồng nhất tính cách dân tộc với đặc trưng văn hóa dân tộc

đó Nó coi tính cách dân tộc là cấu trúc tổng thể các nét tính cách, kiểu khuônmẫu chung của dân tộc Tiêu biểu cho quan điểm này là các nhà nghiên cứuM.Mead, Gorer, G.Batason,…Các ông coi tính cách dân tộc là tập hợp những

cá tính tập thể, giá trị văn hóa tập thể Trong từ điển của dân tộc Nga, ta thấy:

“Tính cách dân tộc là một cấu trúc trọn vẹn, phản ánh đặc thù các thuộc tínhtâm lí được hình thành trong lịch sử mà những thuộc tính này phân biệt dântộc này với dân tộc kia.” [17,24]

Quan điểm thứ 3, tính cách dân tộc được tiếp cận ở mặt xã hội Các nhànghiên cứu đã đồng nhất khái niệm này với tính cách xã hội Đồng thời, tiếpcận nó ở phương diện chức năng Theo đó, tính cách dân tộc có chức nănglàm mong muốn cá nhân thích nghi với nhu cầu xã hội, tạo ra một tập hợpnhững cá tính và văn hóa được thành viên trong nhóm nhập tâm

Quan điểm thứ 4 coi tính cách dân tộc là những phẩm chất tâm lí ổnđịnh của đại diện dân tộc [17,25] Quan điểm này coi trọng sự ổn định củatính cách dân tộc song lại chỉ nhìn thấy tính cách ấy qua những người tiêubiểu như lãnh tụ, anh hùng, doanh nhân thành đạt,…

Quan điểm thứ 5 coi tính cách dân tộc là sự kết hợp của các đặc điểmtâm lí thể hiện qua phản ứng và hành vi Theo A.Dashdamiror, khái niệm trênthể hiện đặc thù tính cách con người trong sự kết hợp các hành vi, tâm líkhông lặp lại Còn D.V.Olxanxki thì cho rằng tính cách là tiếp thu cảm tín,phi lí tính về các sự kiện diễn ra có ảnh hưởng môi trường và giao tiếp chung[17,25]

Các khái niệm trên đều nêu ra: tính cách dân tộc là đặc điểm tâm lí xãhội đặc trưng cho cộng đồng dân tộc đó Như vậy nghiên cứu tính cách dân

Trang 18

tộc phải gắn với nghiên cứu các điều kiện ngôn ngữ - lịch sử - xã hội của dântộc.

Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về tính cách dân tộc chưa nhiều Tuy thếcũng có một số công trình nhất định Nhà nghiên cứu sử học Nguyễn HồngPhong cho rằng tính cách dân tộc là toàn bộ đặc điểm tâm lí có tính chất bềnvững hình thành trong con người ta Các đặc điểm ấy nói lên thái độ - hành vivới xã hội, bản thân, nghề nghiệp, ý chí, phẩm chất con người Nhà tâm lí họcTrần Hiệp lại chỉ ra tính cách dân tộc là bản tính dân tộc Nó không đơnthuần là tổng số bản tính mà là những hành động, ứng xử lặp đi lặp lại, nhấtquán của dân tộc Nhà nghiên cứu Vũ Dũng trong cuốn “Tâm lí học dân tộc”chỉ ra: Tính cách dân tộc là đặc điểm tâm lí bền vững của một dân tộc, đượchình thành biểu hiện trong hoạt động thực tiễn, trong giao tiếp [17,28].Chúng tôi thống nhất sử dụng khái niệm, định nghĩa về tính cách dân tộc củanhà nghiên cứu Vũ Dũng trong luận văn này

Tóm lại, ta thấy: tính cách dân tộc là những nét sâu đậm của tư tưởng,tâm lí, lối sống của dân tộc được cụ thể hoá trong những con người khácnhau, trong những hoàn cảnh khác nhau Nó cũng đồng thời là một phạm trùlịch sử, gắn liền với những điều kiện lịch sử xã hội cụ thể và biến đổi, pháttriển không ngừng Do đó, những yếu tố tạo thành tính cách dân tộc luônmang tính kế thừa, cải tạo và phát huy để cuối cùng thành tính cách dân tộchiện đại Nó cũng đồng thời phản ánh một phần cụ thể của tính nhân loại,tính quốc tế Những yếu tố tạo thành nó cũng thể hiện những giá trị tinh thầnchung của nhân dân các nước trong sự gặp gỡ và bổ sung cho nhau ở mộtthời điểm lịch sử nhất định

1.1.2.2 Biểu hiện của tính cách dân tộc

Trang 19

Tính cách dân tộc có những biểu hiện đa dạng Để hình dung rõ hơn

về điều này, chúng tôi xin nêu các biểu hiện ấy qua nhiều phương diện:hoạt động, các loại tính cách, đặc điểm chung của tính cách dân tộc

a Biểu hiện qua các hoạt động

Tính cách dân tộc hình thành trong hoạt động Đồng thời, hoạt độnglại thể hiện tính cách Thông qua đánh giá các hoạt động mà dân tộc đó yêuthích và cách họ thực hiện, ta có thể biết được tính cách của họ Các hoạtđộng được nhắc tới là:

- Hoạt động thực tiễn như lao động,…: hoạt động lao động là cái tiênquyết tạo ra con người với sự phát triển như hiện nay Bằng lao động, conngười xác lập vị trí của mình trong tự nhiên, xã hội Mỗi dân tộc cũng tựxác lập vị trí của mình với các dân tộc khác bằng các phương thức sản xuấtđặc trưng, hiệu quả Qua phương thức ấy ta hiểu đặc trưng tính cách của

họ Ví dụ: người Nhật sản xuất đồ có chất lượng cao nổi tiếng thế giới Nóthể hiện sự kĩ lưỡng, cẩn thận cũng như sự nghiêm khắc vốn có của ngườinhật

- Hoạt động giao tiếp trong nội bộ và ngoại nhóm: Tính cách conngười cũng như dân tộc không thể thể hiện khi ta ở trong hoàn cảnh đơnđộc Nó chỉ thể hiện rõ khi ta có giao tiếp với mọi người xung quanh Quagiao tiếp ta có thể biết được dân tộc đó nghĩ gì về các thành viên khác Quacách đối xử của họ với nhau, ta khẳng định được một số tính cách đặctrưng: khéo léo, chan hòa, cởi mở hay ích kỉ, tính toán,…

- Hoạt động ứng xử với thiên nhiên: Ứng xử với môi trường thiênnhiên cũng cho thấy tính cách dân tộc Có dân tộc thích sống giữa thiênnhiên, có tinh thần trân trọng, bảo vệ, ví dụ: Nhật, Việt Nam, TrungQuốc, Có dân tộc lại mang tư tưởng đứng trên thiên nhiên, muốn khuấtphục nó, ví dụ: dân tộc Mĩ Ngay điều đó đã phần nào nói lên tính cách

Trang 20

chung nhất: dân tộc hòa đồng với thiên nhiên có tính cách khoan hòa, dântộc muốn chế ngự thiên nhiên lại mạnh mẽ.

- Hoạt động văn hóa như phong tục, tập quán, truyền thống: Đây làhoạt động thể hiện rõ nhất tính cách dân tộc vì thế có người đã đồng nhấttính cách với văn hóa Văn hóa ấy không phải hình thành ngay mà trongquá trình sinh sống, theo năm tháng, những nếp sinh hoạt đã in sâu, địnhhình dần tập hợp lại thành văn hóa chung của dân tộc đó Cách sinh hoạtđịnh hình ấy biểu hiện rõ tính cách Ví dụ: qua việc nhân dân Việt Nam thờcúng tổ tiên, ta có thể thấy được tình cảm gia đình, tổ tiên của người Việtrất bền chặt

b Biểu hiện qua các loại tính cách dân tộc

Nếu phân loại tính cách dân tộc, ta sẽ có rất nhiều cách Tuy nhiên, ởđây, chúng tôi đi theo quan điểm của GS-TS Trần Ngọc Thêm, tức chiatheo quan điểm Âm – Dương [18] GS cho rằng tính cách của dân tộc luôn

là một hệ thống, nó bị chi phối bởi những yếu tố khách quan và chủ quanthuộc môi trường tự nhiên và môi trường xã hội mà dân tộc đó tồn tại vàtrải qua Các nước ở vùng nhiệt đối (xứ nóng), ở gần xích đạo thì kémdương khí, có thể nói là âm hơn các nước ở ôn đới (xứ lạnh) luôn có nhiềudương khí hơn Tính âm – dương này chia tính cách dân tộc làm hai loại:

- Âm: thường xuất hiện ở phương Đông với yếu đuối, hiền hòa, chấtphác, thụ động, thiên về tư tưởng, những gì vô hình hơn là hữu hình Chenên chuộng khoa học tâm linh, chuộng triết học Ví dụ: Nước Việt Nam ởgần xích đạo nên so với Trung quốc và Hàn quốc, Nhật Bản thì kém Dươnghơn, do đó vóc người và xương cốt nhỏ nhắn hơn cá tính cũng ôn hòa hơn,không quá khích như hai dân tộc trên

- Dương: thường xuất hiện ở phương Tây với mạnh mẽ, dữ tợn, năngđộng, thiên về vật chất, những gì hữu hình hơn là vô hình Cho nên chuộng

Trang 21

khoa học kỹ thuật hơn là khoa học tâm linh Ví dụ: Các nước Châu Âu, từ

xa xưa đã ưa khai phá thiên nhiên, coi trọng phát triển khoa học kĩ thuật.Ngay cả triết học sơ khai, họ cũng đề cao phần duy vật hơn duy tâm

Tuy nhiên, thế giới ngày nay đang nối kết lại làm một Hai khối ĐôngTây đều ảnh hưởng lẫn nhau cho nên không còn bản chất nguyên thủy nhưvừa trình bày Tính cách âm – dương cũng có sự hòa hợp, pha trộn chứkhông đơn thuần như trước Phương Đông cũng chuộng và áp dụng khoahọc kỹ thuật của phương Tây mà trước đó mình chưa có, chưa biết vàphương Tây cũng đã học tinh thần triết học của Đông phương như Phậtgiáo, Thiền,…mà trước đó họ không có

c Biểu hiện qua các đặc điểm của tính cách dân tộc

- Tính bền vững, ổn định: vì tính cách dân tộc được hình thành trongthời kì lịch sử lâu dài, có thể hàng ngàn, hàng vạn năm nên tính cách ấykhông dễ một sớm một chiều thay đổi Tính cách ấy nối tiếp qua từng thếhệ

- Tính thống nhất: tính cách dân tộc là tổ hợp các nét tính cách dân tộctrong một chỉnh thể thống nhất với cấu trúc nhất định Mỗi biểu hiện lại có

sự thống nhất về thành phần cấu thành, gồm: nhận thức, xúc cảm, hoạtđộng cùng nhau Đồng thời nó cũng được phát huy thống nhất trong từng

cá thể của dân tộc ấy Bất kì thành viên nào cũng đều mang những nét đặctrưng về tính cách của dân tộc mình

- Tính định hình: tính cách dân tộc gắn với một dân tộc riêng biệt.Không dân tộc nào giống dân tộc nào Nhiều dân tộc có tính cách như yêunước, yêu thiên nhiên, yêu tự do, song khi gắn các tính cách đó với nhauthì tính cách tổng thể ấy không lặp lại giữa các dân tộc

- Tính lịch sử - xã hội: tính cách dân tộc mang đặc điểm của hoàncảnh lịch sử dân tộc đó, do yếu tố xã hội của đất nước, dân tộc đó tạo nên

Trang 22

Nó gắn với lịch sử dân tộc, mỗi thế hệ lại bồi đắp thêm tính cách Vì vậy,đương nhiên, khi xã hội thay đổi, tính cách dân tộc cũng có sự thay đổitheo cho phù hợp

1.1.2.3 Tính cách đặc trưng của một số dân tộc

a Hàn Quốc

Hàn Quốc là quốc gia ở Châu Á với một nền văn hóa độc đáo Kèmtheo đó là đặc trưng tính cách không hề trộn lẫn với các dân tộc đồngchủng Dựa theo nghiên cứu của GS – TS , ta có thể hình dung tính cách ấynhư sau [18]:

Nguồn gốc VH Korea ĐẶC TRƯNG TÍNH CÁCH KOREA

Nghềnôngnghiệplúa nước

1 Lối sống trọng tình

2 Khả năng linh cảm cao

3 Tính trọng thể diệnMôi

trườngsốngkhắcnghiệt

4 Chủ nghĩa gia đình và tính tôn ti

7 Lối làm việc cần cù và khẩn trương

Nguồn gốc của văn hoá Hàn chủ yếu được quy định bởi ba yếu tố.Thứ nhất, Hàn Quốc là môi trường sống khắc nghiệt với khí hậu lạnhgiá, với địa hình tới 70% là núi đá, đất đai trồng trọt được rất ít và manhmún

Thứ hai, tổ tiên người Hàn hiện đại là cư dân thuộc ngữ hệ Altai (cùng

họ với các cư dân nói tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Mông Cổ, Tungus)

Thứ ba, nghề nông nghiệp lúa nước đã thâm nhập vào Hàn Quốc và trởthành loại hình kinh tế chủ yếu trong suốt trường kỳ lịch sử Hàn Quốc

Trang 23

Từ các yếu tố trên, ngay từ xa xưa, tính cách người Hàn Quốc đãmang nét riêng biệt Môi trường khắc nghiệt cùng chất du mục của dân sănbắn và chăn nuôi Siberia làm tính cách người Hàn mang nhiều chất dương.Song nghề nông nghiệp lúa nước thiên về âm tính lại có ảnh hưởng rấtmạnh, do vậy cấu trúc của tính cách dân tộc Hàn Quốc là có âm có dươngkhá hài hoà Nó thể hiện cụ thể với 7 đặc điểm như ở bảng trên:

1 Lối sống trọng tình: họ trọng tình cảm trong gia đình, trongquan hệ xã hội Thường có ơn huệ với họ, họ sẽ ghi nhớ mãi và tìm cáchtrả ơn Quan hệ xã hội thường được đánh giá qua tình cảm với nhau

2 Khả năng linh cảm cao: họ có thể đoán trước những điều sắp xảy

ra Từ đó, sớm đưa ra giải pháp để giải quyết ngay khi điều đó chưa diễnra

3 Tính trọng thể diện: thể diện ở trong xã hội được gìn giữ như mộtcủa báu Danh dự ấy khi đã bị tổn thương sẽ làm họ có những hành độngphản kháng mạnh

4 Chủ nghĩa gia đình và tính tôn ti: họ coi trọng gia đình, trong giađình thì coi trọng bậc bề trên Thường người lớn tuổi trong gia đình sẽ cótiếng nói ảnh hưởng lớn tới con cháu Tất cả phải nghe theo như một quytắc tất yếu

5 Tính nuốt "hận": họ không quên mối hận nhưng thay vì bộc lộngay, họ giữ trong lòng Điều đó tạo nên tính kìm chế cao cho người Hàn,đợi có dịp thuận lợi, họ phải thể hiện rõ suy nghĩ thực của mình

6 Tính nước đôi vừa âm tính vừa dương tính: bản thân người Hàncũng mang những tính cách đối lập nhau, như vừa trầm lắng vừa sôi nổi.Tính cách ấy vừa ảnh hưởng của tính cách âm vừa mang nét dương, tạonên nét riêng biệt cho người Hàn

7 Lối làm việc cần cù và khẩn trương: tính cách này mới được thể

Trang 24

hiện rõ trong thời kì người Hàn tiến hành công nghiệp hóa đất nước Chotới nay, nó trở thành đặc trưng với việc giải quyết bất cứ việc gì cũng đềunhanh chóng, thậm chí vội vàng Nhất là công việc Họ hi sih hết mình vìkết quả cuối cùng của công việc trước mắt

b Mỹ

Mỹ hiện giờ vẫn là cường quốc trên thế giới với sự phát triển mạnh

mẽ bậc nhất Đây là vùng đất được khai phá muộn song lại tận dụng đượckhoảng thời gian trong chiến tranh thế giới để vươn lên làm giàu nhanhchóng Đây cũng là môi trường đa chủng tộc rất phức tạp, tập hợp nhiềudân tộc trà trộn, nhuần nhuyễn thành hợp chủng quốc Hoa Kỳ Nhữngngười đầu tiên lập nên nước Mỹ có nguồn gốc từ dân cao bồi, ưa gây hấn

và rất mạnh mẽ Sau người Phi, người Á và người lai tiếp tục bổ sung lựclượng làm đa dạng hóa chủng tộc nơi đây Vậy với môi trường xã hội nhưvậy, tính cách họ ra sao?

Người Mỹ không kiểu cách trong bất kì hoạt động nào Dường như

họ sinh ra để tự do Nếu người Anh lãnh đạm, thờng không để ý đến nhữngnguười xung quanh, giữa những người dân tộc của họ thì người Mỹ lại cởi

mở, phóng khoáng, thực dụng, ồn ào, đôi khi mang dáng vẻ phô trương bềngoài Có một số bộ phận dân cư ở Mỹ còn ảnh hưởng lối sống nghiêmngặt, quy tắc của nước Anh song đại bộ phận là lối sống tự do theo kiểucao bồi Vì thế họ đề cao tính cá nhân, lối sống ăn mặc đa dạng, thoải máikhông theo kiểu gì, khi ngồi trên ghế đợi, hay tựa vai vào tường, có khighếch cả chân lên bàn làm việc Họ nghĩ gì nói đấy, thích gì làm đấy Với

xã hội đa chủng tộc, mọi lối sống đều được hoan nghênh, không có quychuẩn bắt con người phải sống thế này hay thế kia Cứ người 18 tuổi trởnên được quyền tự định đoạt tương lai của mình, không phụ thuộc vào bố

mẹ Họ khá thoải mái trong quan hệ nam nữ Giữa hai phái có sự bìnhđẳng và có thể tự tiến đến tình yêu, tình dục với nhau, ít khi bị ngăn cản

Trang 25

Họ cũng là những người mạnh mẽ trong cả suy nghĩ và hành động.Bất cứ việc gì, nếu không giải quyết được bằng con đường hòa bình thìngay lập tức sẽ dẫn đến bạo lực, xô xát Nhiều cuộc biểu tình dẫn tới vũtrang diễn ra cũng vì tính cách mạnh mẽ này Tương ứng với điều đó,người Mỹ ưa xem phim hành động nhất thế giới, đồng thời cũng là nướcnghiên cứu nhiều về vũ khí và có việc sử dụng, buôn bán vũ khí hàng đầuthế giới hiện nay.

Họ cũng là người thực dụng và tham công tiếc việc với phong tháilàm việc nhanh chóng, nghiêm túc, chuyên nghiệp Trong giao dịch họ ítdành thời giờ nói chuyện thân mật, quan niệm “Thời gian là tiền bạc” Vìvậy khi trao đổi họ đi thẳng vào công việc Họ thích đúng giờ Đến ănuống, họ cũng thích ăn nhanh, không thích cầu kì Vì khoa học kĩ thuật ở

Mĩ rất phát triển nên người Mĩ thích các hoạt động, vật dụng liên quan tớiđiện tử, máy móc hơn là các hoạt động tự nhiên Hầu như ở đâu, ta cũngthấy có sự tác động của con người Sản xuất lẫn đời sống của họ phát triểncũng bởi sự tận dụng áy móc này

c Nhật Bản

Nhật Bản là quốc gia duy nhất ở phương Đông có sự đồng nhất gầnnhư tuyệt đối về dân tộc và ngôn ngữ: một dân tộc, một ngôn ngữ Nó làmột trong những nhân tố quan trọng bậc nhất tạo ra sức mạnh đoàn kết vàtinh thần dân tộc cao cả Văn hóa Nhật Bản là nền văn hóa tự bản thânmang tính thống nhất cao Đó là văn hóa mang sức mạnh của một dân tộcthống nhất Nó thể hiện tính cách dân tộc Nhật Bản với một số điểm chínhnhư sau:

- Người Nhật có tính kỉ luật rất cao Đặc điểm này có căn nguyên từmôi trường sống không lấy gì làm thuận lợi của họ Hoàn cảnh ấy tạo cho

họ sự lạnh lùng, khắc khổ, sẵn sàng đón nhận tất cả những gì khó khăn màthiên nhiên đưa lại

Trang 26

- Người Nhật rất linh hoạt, nhanh nhạy Do sớm mở cửa, quan hệ vớiphương Tây, tiếp thu truyền thống văn hóa mang tính thành thị và thươngmại, tiếp thu khoa học kĩ thuật của phương Tây, dựa vào tính linh hoạt,nhanh nhạy của mình, người Nhật nhanh chóng tiếp thu các sáng kiến hay,tìm tòi, nghiên cứu, cải tiến nó rồi đưa vào sản xuất, tung các sản phẩm rachiếm lĩnh thị trường thế giới

- Người Nhật (cũng như người Hàn Quốc) đối xử với nhau theo mộttôn ti, trật tự khá nghiêm ngặt: Trật tự trên dưới Trật tự này được thể hiện

ở mọi hệ thống: chính trị (lãnh đạo - nhân viên; lãnh đạo cấp trên - lãnh đạocấp dưới), công ty (chủ - thợ), gia đình (ông bà - bố mẹ - con cái), v.v

- Một đặc tính quí báu nữa của người Nhật là sự trung thành Ở nhiềucông ty, ông chủ đối xử với thợ của mình như là với con cái trong nhà:dựng vợ gả chồng, lo chỗ ăn chỗ ở Cách ứng xử của người thợ với ôngchủ cũng giống như cách ứng xử của người con đối với người cha, của bậcdưới đối với bậc trên Người thợ có thể gắn cả cuộc đời mình với chủ vàcông ty Chính lực lượng công nhân to lớn giỏi về tay nghề và trung thànhtuyệt đối là nhân tố quan trọng đưa các công ty Nhật Bản lên tầm cỡ thếgiới

- Người Nhật có đầu óc thực tế Điều này được thể hiện ở việc khôngquan tâm nhiều lắm đến những vấn đề lí thuyết quá xa vời mà tập trung vàosản xuất những gì thiết yếu nhất của cuộc sống Hàng hóa của Nhật Bản

"gõ cửa" đến từng gia đình trên khắp hành tinh này Tuy nhiên đầu óc thực

tế của người Nhật rất khác óc thực dụng của người Mĩ

- Người Nhật kiên trì, nhẫn nại, không "đại khái", đã làm là làm đếnnơi đến chốn Người Nhật đã học cái gì là học đến cùng, thậm chí học hếtkiến thức của thầy

Trang 27

- Trong cách ứng xử của mình, người Nhật rất khiêm tốn, khéo léo,không tỏ ra sắc sảo hơn, giàu có hơn, ăn diện hơn, Cách ứng xử như vậy

đã làm giảm những căng thẳng không cần thiết và góp phần hạn chế sựghen ghét và tính đố kị của con người Người Nhật thường dè dặt, khépkín Khi tiếp xúc với người Nhật, người đối thoại khó biết được người Nhậtnghĩ gì, đánh giá, khen chê thế nào, Người Nhật biết ghìm mình, tránhmọi va chạm và tranh cãi

1.2 Khái ni m c a đ i s ng tình c m ệm của đời sống tình cảm ủa đời sống tình cảm ời sống tình cảm ống tình cảm ảm

1.2.1 Đời sống tình cảm là gì?

Đời sống tình cảm là những thái độ thể hiện sự rung cảm ổn định củacon người đối với sự vật hiện tượng có liên quan đến nhu cầu và động cơcủa họ Tình cảm là thuộc tính tâm lý, mà thuộc tính tâm lý là những biểuhiện tâm lý tương đối ổn định, khó hình thành và khó mất đi, tạo thànhnhững nét riêng của nhân cách Do đó tình cảm là thuộc tính ổn định củanhân cách, cần được bồi dưỡng lâu dài và thường xuyên F.Ăngghen đãviết “Những tác động của thế giới khách quan lên con người và được phảnánh vào đó dưới dạng những tình cảm, ý nghĩ, động cơ và biểu thị ý chí”[13,131] Ví dụ: Tình yêu thương con người, tình bạn bè hữu nghị, hạnhphúc khi bắt gặp tình yêu, buồn bã, thất vọng gặp thất bại…

Đặc điểm đặc trưng của đời sống tình cảm:

 Tính nhận thức: nhận thức được đối tượng và nguyên nhân gây ratâm lý, biểu hiện tình cảm qua các yếu tố: nhận thức, rung động, xúccảm,…

 Tính xã hội: thực hiện chức năng xã hội

 Khái quát, tổng hợp, động hình hóa xúc cảm

 Ổn định bền vững khó hình thành và khó mất đi

Trang 28

 Chân thực chính xác nội tâm con người.

 Đối cực, tính chất 2 mặt đối lập của tình cảm

Để hiểu rõ về khái niệm đời sống tình cảm, ta sẽ so sánh tình cảm và cảm xúc trong bảng dưới đây [21,49]:

Chỉ có ở con người

Vd: cha mẹ nuôi con bằng tình yêu thương,

lo lắng, che chở cho con suốt cuộc đời

Có ở con người và động vật.Vd: động vật nuôi con bằng bảnnăng đến 1 thời gian nhất định

sự xấu hổ,…

Có tính chất ổn định và xác định, khó hình

thành và khó mất đi

Vd: tình cảm giữa cha mẹ và con cái Đâu

phải mới sinh ra đứa con đã biết yêu cha

mẹ, phải trải qua thời gian dài được cha mẹ

chăm sóc thì đứa con mới hình thành tình

cảm với cha mẹ, tình cảm này khó mất đi

Có tính chất tạm thời, đa dạng,phụ thuộc vào tình huống.Vd: khi ta thấy 1 cô gái đẹp,ban đầu ta cảm thấy thíchnhưng sau 1 thời gian thì xúccảm đó sẽ mất đi hoặc chuyểnthành xúc cảm khác

Thường ở trạng thái tiềm tàng

Vd: cha mẹ yêu thương con cái nhưng

không nói ra, mặc dù có lúc đánh mắng lúc

con hư, nhưng đối với cha mẹ thì luôn tiềm

Thường ở trạng thái hiện thực.Vd: buồn, vui,…

Trang 29

tàng tình yêu thương dành cho con.

Thực hiện chức năng xã hội: hình thành

mối quan hệ tình cảm giữa người vời

Vd: con chuột sợ con mèo, nómuốn tồn tại thì khi thấy conmèo phải bỏ chạy

Gắn liền với phản xạ có điều kiện: có được

tình cảm phải trải qua quá trình tiếp xúc,

hình thành tình cảm

Vd: Nếu một người mẹ mà không ở bên

cạnh, không chăm sóc con mình thì tình

cảm giữa hai mẹ con sẽ không được sâu

nặng hoặc có thể không được hình thành

Gắn liền với phản xạ không đềukiện

Vd: sinh ra thì con chuột đã cótính sợ con mèo, vì bản năngtrong khi con chuột sinh ra đãnhư vậy

1.2.2 Các mức độ của đời sống tình cảm

Con người không ai giống ai, mỗi một cá nhân có những đặc điểmriêng biệt về tâm sinh lý cũng như tính cách Chính vì vậy mà đời sống tìnhcảm của con người rất đa dạng và phong phú trong cả nội dung và hìnhthức thể hiện Xét từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ nhất thờiđến ổn định, từ cụ thể đến khái quát, đời sống tình cảm của con người cónhững mức độ khác nhau như sau:

- Màu sắc xúc cảm của cảm giác:

Khái niệm: Màu sắc xúc cảm của cảm giác là một sắc thái của cảmxúc đi kèm theo quá trình cảm giác Là mức độ thấp nhất của đời sốngtình cảm

Trang 30

Đặc điểm: Màu sắc xúc cảm của cảm giác mang tính chất cụ thể,nhất thời, không mạnh mẽ, gắn liền với một cảm giác nhất định và khôngđược chủ thể ý thức một cách rõ ràng, đầy đủ.

- Xúc cảm

Khái niệm: Xúc cảm là một mức độ của đời sống tình cảm Mức độnày cao hơn màu sắc xúc cảm của cảm giác Nó là sự thể nghiệm trực tiếpcủa một tình cảm nào đó

Đặc điểm: Xúc cảm do các sự vật, hiện tượng trọn vẹn gây nên Nóxảy ra nhanh, cường độ tương đối mạnh, có tính khái quát và được chủ thể

ý thức rõ rệt nhiều hơn so với màu sắc xúc cảm của cảm giác Xúc cảmphản ánh hiện thực khách quan qua các “rung động”, chứ không phản ánhdưới các dạng cảm giác, hình tượng, biểu tượng, khái niệm, ý nghĩ TheoE.I.Zard, con người có 10 cảm xúc nền tảng đó là: hứng thú, hồi hộp, vuisướng, ngạc nhiên, đau khổ, căm giận, ghê tởm, khinh bỉ, khiếp sợ, xâu hổ

và tội lỗi

Phân loại: Tùy thuộc vào cường độ, tính ổn định và tính ý thức caohay thấp mà xúc cảm có hai mức độ biểu hiện khác nhau:

Xúc động: Xúc động là một dạng của xúc cảm có cường độ rấtmạnh nhưng xảy ra trong một thời gian ngắn

Tâm trạng: Tâm trạng là một dạng khác của xúc cảm Nó là mộttrạng thái xúc cảm bao trùm lên toàn bộ hoạt động của cá nhân, có ảnhhưởng rõ rệt đến toàn bộ hành vi của cá nhân trong một thời gian dài.Tâm trạng có cường độ trung bình và yếu tồn tại một thời gian tương đốilâu dài Người mang tâm trạng thường không ý thức được nguyên nhângây ra tâm trạng ấy

Stress: Stress là một dạng của cảm xúc Là một trạng thái căngthẳng về cảm xúc và trí tuệ Stress nảy sinh trong những tình huống khó

Trang 31

khăn, sống cách biệt, hoạt động căng thẳng, hoặc khi bị tác động mạnhcủa các yếu tố gây stress ( hay còn gọi là stressor)

- Tình cảm

Khái niệm: Tình cảm là thái độ ổn định của con người đối với hiệnthực xung quanh cũng như đối với bản thân Là thuộc tính ổn định củanhân cách

Đặc điểm: Tình cảm mang tính chất ổn định, do một loại sự vật,hiện tượng gây nên,thời gian tồn tại khá lâu dài và được ý thức một cách

rõ ràng Chủ thề nhận thức được mình đang có tình cảm với ai ? Với cái

gì ? Tính đối tượng rất nổi bật Tình cảm của con người có nhiều loạiphụ thuộc vào đặc điểm từng cá nhân, từng hoàn cảnh cụ thể… Trong đó

có một loại đặc biệt, có cường độ rất mạnh, thời gian tồn tại lâu dài vàđược ý thức rõ ràng đó là sự say mê Đây là loại tình cảm có cường độmạnh, nó tồn tại lâu dài và ổn định ở mỗi cá nhân Những say mê như :say mê học tập, lao động, nghiên cứu là say mê tích cực có tác dụngthúc đẩy con người vươn lên để đạt được mục đích của cuộc sống Loạisay mê này, người ta gọi là hăng say, nhiệt tình Ngược lại, những say mênhư : rượu, chè, cờ, bạc, ma túy là say mê tiêu cực, nó làm cho conngười suy yếu cả tinh thần và thể chất Nó ngăn cản con người vươn lêntrong hoạt động Say mê kiểu này người ta gọi là đam mê

Phân loại: Căn cứ vào đối tượng thỏa mãn nhu cầu, người ta chia rathành 2 nhóm: tình cảm cấp thấp và tình cảm cấp cao

Tình cảm cấp thấp: là sự thỏa mãn hay không thỏa mãn những nhucầu sinh học của cơ thể Ví dụ như: Sự thỏa mãn khi được ăn một món ănngon, hạnh phúc khi được sống trong môi trường đầy đủ, mặc quần áođẹp Hay là sự chán nản với việc cơm không đủ no, áo không đủ mặc…Tình cảm cấp cao: khác với con vật, ngoài những nhu cầu vật chất,con người còn có nhu cầu tinh thần, nhu cầu tinh thần của con người cũng

Trang 32

có nhiều loại: nhu cầu thuộc về quan hệ giữa người và người (nhu cầugiao tiếp), nhu cầu thuộc về mối quan hệ giữa người với xã hội như đạođức, nhu cầu về cái đẹp, nhu cầu nhận thức v v Những nhu cầu đóđược thỏa mãn hay không được thỏa mãn mà ta có các loại tình cảm đạođức, tình cảm trí tuệ, tình cảm thầm mỹ

Tình cảm đạo đức: trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường đemnhững lời nói, cử chỉ, hành vi, việc làm của bản thân hay của người khác đểđối chiếu với quy tắc, tiêu chuẩn đạo đức xã hội xem nó phù hợp haykhông phù hợp Nếu phù hợp thì ta phấn khởi, vui mừng, sung sướng ….Ngược lại nếu không phù hợp thì ta cảm thấy bức rứt, bực tức, hổ thẹn,căm phẫn…Đó là biểu hiện tình cảm đạo đức của con người Vậy, tình cảmđạo đức là loại tình cảm có liên quan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãnnhu cầu đạo đức của con người Tình cảm đạo đức biểu hiện thái độ củacon người đối với những người khác, đối với tập thể và đối với trách nhiệm

xã hội của bản thân mình.Ví dụ: Những tình cảm đạo đức cơ bản là: lươngtâm, nghĩa vụ, tinh thần tập thể, tình bạn bè, đồng chí, sự kính trọng củacon cháu đối với ông bà, cha mẹ, thầy cô Sự tôn trọng của người trẻ tuổivới người lớn tuổi…

Tình cảm trí tuệ: Đứng trước vấn đề nào đó, khi chưa hiểu được vấn

đề ta băn khoăn, tò mò muốn hiểu biết Khi hiểu còn lơ mơ, ta thắc mắchoài nghi Khi đã nắm vững ta sung sướng tin tưởng Đó chính là biểu hiệncủa xúc cảm trí tuệ Tính hiếu học, lòng yêu cái mới, niềm khát khao sángtạo chính là tình cảm trí tuệ Vậy, tình cảm trí tuệ là loại tình cảm có liênquan đến sự thoa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu nhận thức của conngười Tình cảm trí tuệ nảy sinh trong quá trình hoạt động trí óc, liên quanđến quá trình nhận thức và sáng tạo Nó biểu hiện thái độ của con người đốivới các ý nghĩ, tư tưởng, đối với kết quả của hoạt động trí tuệ

Trang 33

Ví dụ: Sự ham hiểu biết, sự ngạc nhiên, óc hoài nghi khoa học, sự tintưởng… Hoặc cụ thể hơn khi thừa nhận một định lý nào đó ta đều tìm cáchchứng minh để thừa nhận trước khi sử dụng tránh sự mập mờ, hoài nghi Tình cảm thẩm mỹ: là một hình thái tình cảm xã hội của con người,nhưng nó khác với tình cảm đạo đức, trí tuệ, tôn giáo Đó là sự rung động-cảm xúc bởi cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả trong cuộc sống và trongnghệ thuật Khi xem bức tranh đẹp, nghe bài hát hay, ta cảm thấy khoái chí,phấn khởi, ngược lại khi xem bộ phim, vở kịch kiểu mì ăn liền ta thấy buồnchán đó là những xúc cảm về thẩm mỹ, hiện tượng yêu cái đẹp, ghét cáixấu là tình cảm thẩm mỹ Vậy, tình cảm thẩm mỹ là loại tình cảm có liênquan đến sự thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu về cái đẹp Tình cảmthẩm mỹ biểu hiện thái độ thẩm mỹ của con người đối với hiện thực, trongnhững thị hiếu thẩm mỹ của con người Ví dụ: Trước cái đẹp thì vui sướng,hân hoan, thỏa mãn Đó là sự cảm thụ những giá trị thẩm mỹ mang lại chocon người những khoái cảm tinh thần - khoái cảm thẩm mỹ; Trước cái xấu

- khó chịu, bực tức, cảm ghét; Trước cái bi - đau đớn, thương tiếc, đồngcảm và khao khát muốn trả thù vì lý tưởng cao đẹp của cuộc sống… Cụ thểhơn là những rung cảm trước những người đẹp, những loài hoa đẹp hoặcrung cảm, tự hào, xúc động với những vẻ đẹp của non sông, đất nước… Tình cảm mang tính chất thế giới quan: đây lả mức độ cao nhất củatình cảm con người Tình cảm này bền vững, ổn định hơn tất cả các mức độtrên, do một loại sự vật hay phạm trù nào đó gây nên, có tính chất khái quátrất cao và có tinh thần tự giác, ý thức cao Trong tiếng Việt, loại tình cảmnày được diễn đạt bằng những từ " tính ", "lòng", "tinh thần" ở đầu danh

từ : "tính giai cấp", "tính kỷ luật", "lòng yêu nước", "tinh thần tráchnhiệm", "tinh thằn giai cấp" Ví dụ: Tinh thần yêu nước của công dân ViệtNam, tinh thần hữu nghị, hòa bình, hợp tác đối với bạn bè thế giới, như cácchuyến giao lưu tàu thanh niên các nước Đông Nam Á, sự giúp đỡ về mặt

Trang 34

vật chất và tình thần của nhân dân Việt Nam đối với Nhật Bản trong trậnđộng đất, sóng thần.

1.2.2 Vai trò của đời sống tình cảm

1.2.2.1 Vai trò của đời sống tình cảm đối với cá nhân

Một con người bình thường từ lúc sinh ra, lớn lên và cho đến khi chết

đi đều không thể thiếu tình cảm Lúc nhỏ là tình cảm của cha mẹ và nhữngngười thân trong gia đình Khi bắt đầu đi học, đứa trẻ đó sẽ có tình bạn.Lớn lên nữa, nó sẽ biết tình yêu là gì Rõ ràng, tình cảm luôn song hànhtrong cuộc sống của con người và không thể thiếu trong đời sống của conngười Vì vậy, nó có vai trò rất quan trọng trong đời sống

Tình cảm là nguồn động lực mạnh mẽ kích thích con người tìm tòichân lí Ngược lại, nhận thức là cơ sở, là cái lí của tình cảm, chỉ đạo tìnhcảm, lí và tình là hai mặt của một vấn đề nhân sinh quan thống nhất trongmột con người Tình cảm chiếm vị trí dặc biệt quan trọng trong số nhữngđộng lực và nhân tố điều chỉnh hành vi của con người Tình cảm nảy sinh

và biểu hiện trong hoạt động; đồng thời tình cảm thúc đẩy con người hoạtđộng giúp con người vượt qua nhũng khó khăn trở ngại gặp phải

Ví dụ: Edixơn chính vì niềm đam mê phát minh mà ông đã trải quahơn 2000 lần thử nghiệm để phát minh ra bóng đèn Hay Bác Hồ, chính vìlòng yêu nước là động lực mạnh mẽ thôi thúc Bác ra đi tìm đường cứunước, giải phóng dân tộc ta

Xúc cảm, tình cảm có vai trò to lớn trong đời sống con người, conngười không có cảm xúc thì không thể tồn tại được Khi con người bị đóitình cảm thì đời sống con người bị rơi vào tình trạng rối loạn và con ngườikhông thể phát triển bình thường về mặt tâm lí

Trong các loại tình cảm, tình cảm gia đình đóng vai trò cơ bản nhất.Khi một đứa bé vừa sinh ra, gia đình là môi trường đầu tiên mà chúng tiếp

Trang 35

xúc Nơi đó, có những con người luôn gần gũi và yêu thương chúng mộtcách vô điều kiện Đây là nơi rất quan trong để đứa trẻ hình thành nhâncách nền tảng do cách giáo dục và sự yêu thương của gia đình dành cho nó.Nhưng giữa giáo dục và tình cảm thì có thể thấy tình cảm của những ngườitrong gia đình dành cho đứa bé sẽ chiếm vai trò quan trọng hơn giáo dụcmột chút

Ví dụ: Một đứa bé sinh ra trong gia đình nghèo, bố mẹ ít ăn học nênkhông biết cách giáo dục con cái đúng đắn nhưng lại có thời gian để quantâm chăm sóc, dành sự yêu thương trìu mến cho nó Một đứa bé khác sinh

ra trong gia đình giàu có, cha mẹ đều là những người trí thức cao trong xãhội nhưng lại quá bận rộn, không có thời gian để gần gũi và chăm sóc nó

So sánh giữa hai đứa trẻ, ta có thể thấy, đứa trẻ trong gia đình giàu có chắcchắn sẽ nhận được một sự giáo dục tốt hơn đứa trẻ trong gia đình nghèonhưng nếu xét về mặt nhân cách tạo nên do tình cảm thì chưa chắc nó đãbằng đứa trẻ kia Vì sự giáo dục tốt thì có thể tìm được ở trường học nhưngmột gia đình thực sự đầm ấm, hạnh phúc về mặt tình cảm thì không phảilúc nào cũng có được Tâm lí cô đơn ngay trong chính ngôi nhà của mình

sẽ làm cho những đứa trẻ sinh ra trong gia đình giàu có cảm giác muốn nổiloạn Nổi loạn để thoát khỏi sự cô đơn trống trải đó Nổi loạn để gây được

sự chú ý của cha mẹ, để họ yêu thương mình Chính vì những suy nghĩ đó

mà ta có thể thấy rất nhiều trường hợp những cậu ấm, cô chiêu ăn chơi sađọa quên ngày đêm đến khi thức tỉnh là chỉ còn bằng nước mắt Gia đình lànơi đầu tiên và quan trọng nhất giúp đứa trẻ thực hành những kĩ năng cơbản để sau này thích nghi tốt với môi trường xã hội rộng lớn hơn Nhưng

để làm được điều đó phải cần sự yêu thương rất lớn của cha mẹ dành chocon cái

Trang 36

Tiếp theo là tới tình bạn Đây là tình cảm đầu tiên một đứa trẻ có đượckhi tiếp xúc với xã hội bên ngoài Tình bạn cũng là thước đo sự hòa nhậpgiữa con người và xã hội Một người càng có nhiều bạn thuộc nhiều tầnglớp khác nhau chứng tỏ người đó có khả năng sống thích nghi rất tốt trongmôi trường xã hội phong phú, đa dạng.

Một người cho dù sống trong một gia đình hạnh phúc nhưng khi rabên ngoài xã hội, người đó không thể kết bạn với bất kì ai thì cũng không

có hạnh phúc thật sự Vào những dịp lễ đặc biệt,những người bạn dành sựquan tâm cho nhau, khi ấy sẽ làm người hạnh phúc càng hạnh phúc hơn,người cô đơn sẽ càng cô đơn hơn Khi không có bạn, ban đầu sẽ là chútcảm giác lạc lõng, lạc lõng lâu ngày ngày tích tụ thành cô đơn, nỗi cô đơnkhi đã luôn luôn thường trực thì sẽ chuyển hóa thành cảm giác cô độc,trống trải Đó là thứ cảm giác rất đáng sợ

Bạn bè cũng góp phần không kém quan trọng trong việc tạo nên nhâncách của một con người Nếu gia đình là bước khởi đầu để hình thành nhâncách thì bạn bè chính là bước phát triển tiếp tục nhân cách của một conngười Một người dù trước đó được sự giáo dục rất tốt từ gia đình nhưngnếu sau đó không may chơi với một nhóm bạn xấu tính thì người đó cũng

sẽ nhiễm dần những thói hư tật xấu từ bạn mình Một tình bạn đẹp là mộttình bạn giúp mọi người cùng tiến lên chứ không phải thụt lùi

Cuối cùng là tình yêu Đây là tình cảm nền tảng để xây dựng nên hạnhphúc gia đình Nếu hai người kết hôn với nhau mà trước đó không có tìnhyêu thì gia đình sẽ khó bền vững, hạnh phúc Tình yêu là tình cảm ảnhhưởng và chi phối rất nhiều đến đời sống con người Nó có thể khiến người

ta làm việc hưng phấn hơn mà không hề thấy mệt mỏi nhưng nó cũng cóthể kéo tuột tâm trạng của người ta xuống một cách nhanh nhất Nhà thơXuân Diệu đã từng viết: “Yêu là chết ở trong lòng một ít” Nhưng đó chỉ là

Trang 37

những cảm xúc thăng hoa của tình yêu ở buổi ban đầu nên nó mới không

ổn định Nếu tình yêu qua một thời gian lâu dài và phát triển thành tìnhcảm gia đình thì nó sẽ giúp cho người ta có được hài hòa,cân đối về mặttình cảm Cảm xúc và niềm tin dành cho nhau cũng sẽ chắc chắn, ổn địnhhơn

Cũng như tình cảm gia đình, tình bạn, tình yêu là một trong nhữngtình cảm khiến người ta có được động và chỗ dựa vững chắc nhất để vượtqua những lúc khó khăn gian khổ trong cuộc sống

1.2.2.2 Vai trò của đời sống tình cảm đối với một dân tộc

Đối với một dân tộc, đời sống tình cảm càng có vai trò quan trọng Nóảnh hưởng tới mọi mặt đời sống, từ văn hóa, giáo dục, nghệ thuật tới kinh

tế, an ninh, chính trị, quốc phòng,…Ở đây, chúng tôi xin phép đi một sốmặt chính:

Về công tác giáo dục con người: Xúc cảm, tình cảm giữ một vị trí vôcùng quan trọng vừa là điều kiện, vừa là phương tiện giáo dục, đồng thờicũng là nội dung và mục đích của giáo dục Một nền giáo dục muốn pháttriển thì phải bắt nguồn từ lòng yêu nghề và tình thương yêu tuổi trẻ củacác thầy cô giáo Thiếu lòng yêu nghề, yêu học sinh thì người thầy khó trởthành người thầy tốt Đồng thời, giáo dục trí tuệ phải song hành cùng giáodục đạo đức, tình cảm Nếu lãng quên việc dạy học sinh tình cảm với mọingười xung quanh thì học sinh không phát triển toàn diện Từ đó, nền giáodục của đất nước cũng không thể sản sinh ra nhân tài, khó có thể xây dựngđược thế hệ tương lai có tình yêu thương và trách nhiệm Sự thực, nhữngđứa trẻ trong thời kì phát triển mà thiếu sự chăm sóc, giúp đỡ của thày cô ,

xã hội sẽ rất dễ bị trầm cảm và cũng rất dễ sa vào các tệ nạn xã hội

Về văn hóa, lối sống, nghệ thuật: một đất nước không thể phát triểnvăn hóa đầy đủ nếu thiếu mảng tình cảm Chính tình cảm mới là căn

Trang 38

nguyên tạo ra mối liên hệ giữa các cá thể trong xã hội Nếu xã hội ấy không

có gắn kết bằng tình cảm thì môi trường sống sẽ rơi vào nhàm chán, đơnđiệu Không ai cần chia sẻ với ai Ngoài ra, theo các nhà dân số học nghiêncứu: hiện nay, một số nước không quan tâm tới tình yêu đôi lứa và việc lậpgia đình nên kéo theo dân số nước đó bị già hóa nhanh chóng Quả thực,nếu không có tình yêu thì sẽ không có gia đình, không có gia đình thì xãhội sẽ bị chững lại trên đà phát triển của nó vì không có thêm những côngdân mới để đóng góp Ví dụ: Phụ nữ Nhật Bản hiện đại luôn bận rộn vớicông việc đến nỗi họ không có thời gian để tìm tình yêu và hạnh phúc giađình cho chính bản thân mình “Giữa năm 1994 và 2004, con số phụ nữ đấtnước mặt trời mọc thuộc lứa tuổi 25-29 chưa lấy chồng đã nhảy vọt từ 40-54%, tương tự - lứa tuổi 30-34 tăng từ 4 lên 27% Nhật Bản hiện là mộttrong những quốc gia có dân số già nhất thế giới Theo tính toán của giớichuyên gia, ngay trong thập kỷ tới, một phần ba dân số Nhật Bản sẽ thuộclứa tuổi trên sáu mươi” [23] Hơn nữa, các truyền thống dân tộc thường bắtnguồn từ một tư tưởng, tình cảm dân tộc cũng sẽ không còn Ví dụ: truyềnthống yêu nước bắt nguồn từ tinh thần, tình cảm của mỗi con người với đấtnước, dân tộc mình Tình cảm ấy nếu không đủ mạnh thì không xây dựngđược truyền thống yêu nước Về mặt nghệ thuật, tình cảm là cái gốc sảnsinh nghệ thuật Các tác phẩm để đời thường bắt nguồn từ một cảm xúc rấtmạnh trước sự vật Ví dụ: các bài thơ tình nổi tiếng của Xuân Diệu phải lấycảm hứng từ tình yêu muôn màu vừa mê đắm vừa lo lắng, các tiểu thuyếtkinh điển về chiến tranh “Chiến tranh và hòa bình” của Lép-Tônxtoi, “Nỗibuồn chiến tranh” của Bảo Ninh phải bắt nguồn từ cảm hứng phê phánchiến tranh, thương xót con người,…Chúng ta khẳng định chắc chắn, nếumột đất nước thiếu cảm xúc thì nghệ thuật sẽ tàn lụi

Về mặt an ninh, chính trị, quốc phòng: quốc gia có tình cảm yêu

Trang 39

sử chứng minh, những đất nước có tinh thần đoàn kết và tình yêu nước sâusắc thì thường chiến thắng trong các cuộc kháng chiến chống lại ngoạixâm Ví dụ: ở đất nước ta, trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại dân tộc tachống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mỗi thế hệ con người Việt đều cókhát vọng cống hiến cho đất nước Tình yêu Tổ Quốc tạo nên sức mạnh đểchiến đấu giúp dân tộc ta đi đến chiến thắng cuối cùng Còn nước có mâuthuẫn sắc tộc, tôn giáo, phe phái thì thường xảy ta chiến tranh kèm nhiềubất ổn Nhiều nước hiện nay, tình cảm yêu thương giữa người với ngườisuy giảm, lập tức kéo theo nhiều hệ quả xấu Ví dụ: Nước Nhật là nước có

tỉ lệ học sinh tự tử rất cao Điều này là do vấn nạn bạo hành học đường.Một học sinh Nhật bình thường vốn đã có ít bạn Thường học sinh Nhật chỉchơi trong một nhóm số ít với nhau Nhưng những học sinh bị bắt nạt cònthường không có người bạn nào cả và rất nhút nhát, rụt rè Cho dù nhữnghọc sinh đó có gia đình êm ấm, hạnh phúc nhưng đôi lúc cũng không thểnào thoát nổi áp lực quá lớn khi vào trường học và chính vì thế đã dẫn đếnhành động tự sát

1.3 M i quan h gi a tính cách và đ i s ng tình c m c a ống tình cảm ệm của đời sống tình cảm ữa tính cách và đời sống tình cảm của ời sống tình cảm ống tình cảm ảm ủa đời sống tình cảm

m i dân t c ỗi dân tộc ộc

1.3.1 Tác động của tính cách tới đời sống tình cảm dân tộc

Tính cách có sự tác động tới tình cảm Tính cách không đứng riêng

lẻ, tách rời các biểu hiện tâm lí, tình cảm của con người Mỗi trạng thái tâm

lí, tình cảm của con người luôn luôn do toàn bộ nhân cách cá nhân quyđịnh Tính cách ra sao thì cách biểu hiện tình cảm với mọi người, mọi vậtxung quanh cũng như vậy Mỗi nét tính cách lại có sự tác động riêng tớitình cảm

VD:

- Tính mạnh dạn sẽ tác động làm con người dễ biểu lộ tình cảm, tìnhcảm thường mãnh liệt, bộc trực, ít che giấu

Trang 40

- Tính dễ xung động làm tình cảm có sự thay đổi bất ổn, thường thiên

ấy theo các con đường:

- Tính cách dân tộc tạo nên các quy chuẩn đạo đức, truyền thống,phong tục quy định cách ứng xử của các thành viên trong xã hội Nếu thànhviên làm đúng theo quy chuẩn đó thì nhận được tình cảm đồng tình Nếukhông sẽ bị phê phán Bản thân thành viên cũng có thái độ hài lòng khi làmtheo quy chuẩn của dân tộc mình Như vậy, tính cách dân tộc tạo nên tìnhcảm, sự đánh giá tích cực hoặc tiêu cực ở các thành viên

- Tính cách được biểu hiện qua các hành động cụ thể, trong đó cóhành động giao tiếp Trong giao tiếp, con người phải thể hiện cụ thể tìnhcảm với nhau, không có giao tiếp chung chung vô cảm Như vậy, tính cáchmột dân tộc sẽ quyết định thái độ, tình cảm trong giao tiếp của dân tộc đó

- Tính cách còn ảnh hưởng tới cả văn hóa, nghệ thuật Văn hóa, nghệthuật là cách biểu lộ rõ tâm tư, tình cảm của con người Để điều chỉnh thái

độ, tình cảm của công chúng, người sáng tác nghệ thuật sẽ dùng cá tínhsáng tạo để chuyển tải những nội dung tư tưởng vào tác phẩm, từ đó thuyếtphục công chúng Bản thân các sự kiện văn hóa cũng vậy, từ hệ thống

Ngày đăng: 16/01/2016, 22:55

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1938). Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Đồng Tháp, 2000 (tái bản) Khác
2. Toan Ánh (1966), Nếp cũ - Tín ngưỡng Việt Nam, Quyển thượng, NXB Văn nghệ TP Hồ Chí Minh, (tái bản) Khác
3. Toan Ánh (2005), Nếp cũ – Hội hè, đình đám, Quyển hạ, NXB Trẻ, TP Hồ Chí Minh (tái bản) Khác
4. Andrew C.Nahm (2005), Lịch sử và văn hóa bán đảo Triều Tiên, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội Khác
5. Huỳnh Công Bá (2007), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, 2007 Khác
6. Ban biên soạn giáo trình Hàn Quốc học (2008), Xã hội Hàn Quốc hiện đại, Nxb Đaih học Quốc gia Hà Nội – Việt Nam Khác
7. Ban biên soạn giáo trình Hàn Quốc học của Đaih học Quốc gia Seoul và Đai học Quốc gia Hà Nội (2005), Lịch sử Hàn Quốc, Nxb Đai học Quốc gia Seoul Khác
8. Phan Kế Bính (1995), Việt Nam Phong tục, NXB TP Hoà Chí Minh (tái bản) Khác
9. Trần Mạnh Cát (2008). Nghi lễ cưới truyền thống ở người Hàn Quốc, TC Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 10 (92) 2008 Khác
10. Nguyễn Long Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa Hàn Quốc, NXB Giáo dục, TP Hoà Chí Minh Khác
11. Nguyễn Đổng Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, I, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
12. Nguyễn Chi (2000), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, II, Nxb Giáo dục, Hà Nội Khác
13. Nguyễn Từ Chi (1996), Góp phần nghiền cứu văn hóa tộc người, Nxb Văn hóa Thông tin, Tạp chí Văn hóa Nghệ Thuật, Hà Nội, tr. 131-140 Khác
14. Phạm Văn Chiến (2003), Lịch sử kinh tế Việt Nam, Nxb Đai học Quoác gia Hà Nội Khác
15. Lý Xuân Chung (1979), Đôi nét về sự tương đồng văn hóa Việt Nam – Hàn Quốc, Tạp chí Nghiền cứu Đông Bắc Á, số 9 (79), tr. 51 – 58 Khác
16. Đặng Thúy Diệu (2014), Nhận thức của học sinh khối 12 trường THPT Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà Nội; ĐHSP Hà Nội Khác
17. Nhiều tác giả (2002). Những vấn đề văn hóa, xã hội và ngôn ngữ Hàn Quốc, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, 2002 Khác
18. Trần Lệ Thanh (2012), Tính cách dân tộc Hmông ở phía Bắc Việt Nam, Học viện Khoa học xã hội Khác
19. GS.TSKH.Trần Ngọc Thêm (2004), Vai trò của tính cách dân tộc trong tiến trình phát triển ở Hàn Quốc, T/c Nghiên cứu con người, số 6, 2004 Khác
20. Trần Ngọc Thêm (2001): Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam. - NXB Tp. Hồ Chí Minh Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ mâm cỗ cúng gia tiên ở người Hàn  (do GS,TS. Oh Jong Ho cung cấp) - Tìm hiểu về tính cách người Việt Nam qua đời sống tình cảm trong so sánh với người Hàn Quốc.
Sơ đồ m âm cỗ cúng gia tiên ở người Hàn (do GS,TS. Oh Jong Ho cung cấp) (Trang 123)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w