BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU VỀ LÀNG KHOA BẢNG HẠ YÊN QUYẾT1.PHẦN MỞ ĐẦU1.1. Lý do chọn đề tài1.2. Lịch sử nghiên cứu đề tài1.3. Mục đích nghiên cứu1.4. Phạm vi nghiên cứu1.5. Đóng góp mới của đề tài1.6. Phương pháp nghiên cứu2.PHẦN NỘI DUNG2.1. CHƯƠNG I: Giới thiệu chung về làng khoa bảng Hạ Yên Quyết2.1.1.Tên gọi của làng Trước cách mạng tháng 81945 (tên chữ Hán, Nôm)Sau cách mạng tháng 819452.1.2. Vị trí của làngCác con đường đi tới làng ( đường bộ, thủy) tính từ trung tâm thành phố Hà Nội.Địa dư của làng: tiếp giáp làng nào(hướng đông, nam, tây,bắc); quan hệ của làng với các làng khác trên phương diện địa lý giao thôngVị thế của làng: thế đất và nước(quan hệ của làng với các làng khác trong việc tiêu thoát nước2.1.3.Lịch sử hình thành làng2.1.4.Dân số và diện tích đất đai của làng 2.1.5.Tổ chức làng xã và các di tích văn hóa lịch sử
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
Làng khoa bảng là những làng có hơn mười người đỗ đại khoa (từ phó bảng trở lên) Bề dày truyền thống lịch sử - văn hóa gần một thiên niên kỷ cùng tinh thần hiếu học của Hà Nội đã để lại nhiều làng khoa bảng như vậy Dưới thời phong kiến, trong 21 làng khoa bảng tiêu biểu của cả nước) thhì Hà Nội có đến 6 làng Trong đó tiêu biểu là làng Hạ Yên Quyết
Hạ Yên Quyết nay thuộc phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội, là vùng cửa ngõ yết hầu của kinh thành Thăng Long xưa Đây từng là một bến thuyền bên dòng Tô Lịch, nên kinh tế khá phát đạt với nhiều nghề thủ công, buôn bán Hạ Yên Quyết là ngôi làng có truyền thống khoa bảng tiêu biểu và lâu dài nhất ở Hà Nội Cả trước và sau cách mạng tháng Tám năm 1945, làng Hạ Yên Quyết đều phát huy được truyền thống hiếu học, khoa bảng của mình một cách có hiệu quả nhất và đóng góp tích cực cho nền giáo dục của đất nước Làng có nhiều người đỗ cao,
có học hàm, học vị giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ Thời phong kiến, có các tiến
sĩ nho học như: Hoàng Quán Chi, thủ khoa Thái học sinh năm Quý Dậu (1393); thờinhà Trần, Nguyễn Quang Minh (Nguyễn Nhữ Minh), Thái học sinh năm Canh Thìn (1400, cùng năm với Nguyễn Trãi) thời nhà Hồ;Nguyễn Như Uyên, đệ nhị giáp tiến sĩ (Hoàng giáp) năm Kỷ Sửu (1469),thời nhà Hậu Lê, Sau cách mạng tháng Tám, làng vẫn tiếp tục có nhiềungười nổi danh trong cả nước bởi những đóng góp của họ đối với sự nghiệp phát triển khoa học kỹ thuật, văn hóa giáo dục như: cụ Hoa Bằng Hồng Thúc Trâm (tên của cụ đã được đặt tên phố), như Giáo sư Hoàng Xuân Sáng - chuyên gia vật lý nguyên tử, nữ tiến sĩ toán học Hoàng Xuân Sính…
Trang 2Ngày nay, tên tuổi những ngôi làng khoa bảng dần bị chìm đi theo thời gian Thực tế, chúng ta đang để mất đi vốn quý của dân tộc mà không hay Những ngôi làng khoa bảng ấy sẽ trở nên có ý nghĩa nếu nhưmỗi chúng ta hiểu đựơc lớp văn hóa trong nó, biết lựa chọn khai thác cũng như bảo tồn và phát huy những tinh hoa, truyền thống hiếu học, thuần phong mỹ tục Đồng thời, khai thác, tìm hiểu lại các ngôi làng vănhóa ấy còn nhằm phát huy giá trị du lịch văn hóa của Hà Nội Việc tìm hiểu về làng Hạ Yên Quyết như lời nhắc nhở chúng ta cần xem lại thực trạng các làng khoa bảng, tìm hướng đi để phát huy truyền thống xưa kia.
Do các lí do trên, tôi đã chọn làng khoa bảng Hạ Yên Quyết –
Phường Yên Hòa - Quận Cầu Giấy – TP Hà Nội làm đề tài khóa luận tốtnghiệp đại học Qua công trình nghiên cứu này, tôi muốn góp phần vào việc giữ gìn truyền thống hiếu học của dân tộc và bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc
1.2 Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về các làng khoa bảng nói chung
và làng Hạ Yên Quyết nói riêng Đầu tiên, chúng ta tìm hiểu về các côngtrình liên quan tới các làng khoa bảng Hiện giờ công trình được cho là đầy đủ, quy mô nhất là tập sách nghiên cứu “Các làng khoa bảng Thăng Long – Hà Nội” của Bùi Xuân Đính, xuất bản năm 2004 tại NXB Chính trị quốc gia Đây là tập sách nghiên cứu chuyên sâu về tất cả các ngôi làng mang truyền thống khoa bảng ở Hà Nội xưa Trong đó, tác giả đã làm rõ được vị trí, lịch sử phát triển của các ngôi làng, chỉ ra được
nguyên nhân làm cho các ngôi làng này có nhiều người đỗ đạt như vậy,
lí giải tại sao có sự đứt đoạn truyền thống hiện nay, đồng thời cuốn sách cũng vinh danh những người con đỗ đạt ở đó Hầu như những người được xướng danh trên bảng vàng đều đóng góp lớn cho đất nước, trở
Trang 3thành niềm tự hào của cả dòng họ và quê hương Tác giả luận văn xin lấycuốn sách trên làm tài liệu tham khảo chính khi nghiên cứu về làng khoa bảng Hạ Yên Quyết Tuy vậy, cuốn sách nghiên cứu nhiều làng nên việc dành số lượng trang cho làng Hạ Yên Quyết vẫn chưa nhiều.
Để tìm hiểu thêm về làng Hạ Yên Quyết, tôi đã tham khảo thêm nhiều tài liệu khác Tài liệu quan trọng phải kể đến là các bài báo nói về làng Hạ Yên Quyết được viết trong dịp chúng ta đón đại lễ 1000 năm Thăng Long và gần đây, ví dụ như bài: Lễ hội làng Cót (báo An ninh thủ
đô, 25/3/2013), “Kẻ Cót – làng khoa bảng ở đất Thăng Long Hà Nội” (báo Hanoi.vietnamplus.vn, 10/11/2012), “Làng Hạ Yên Quyết” (báo Hànội mới, 25/12/2003), bài viết về hoàng giáp Nguyễn Như Uyên (báo Nông nghiệp, 1/12/2014), …Trên các trang học liệu mở như Wikipedia hay Voer.edu.vn, ta cũng bắt gặp các bài viết nghiên cứu về làng với độ chính xác cao Ngoài ra, cũng có số ít luận văn, khóa luận nghiên cứu về làng, như: khóa luận “Tìm hiểu về đình làng Cót” của Thùy Liên – ĐH Văn hóa Tất cả những bài viết trên đã khẳng định làng Hạ Yên Quyết là một ngôi làng khoa bảng được quan tâm từ trước tới nay Các bài viết đều nêu được những nét nổi bật của ngôi làng, đặc biệt truyền thóng khoa cử Tuy vậy, những bài viết ấy chỉ mang tính chất giới thiệu hoặc chỉ đề cập tới một khía cạnh của làng như đình làng, lễ hội,…
Như vậy, các tài liệu nói về làng rất nhiều song mang tính chất tản mạn, chưa hệ thống Từ trước tới nay chưa có một công trình khoa học độc lập nào nghiên cứu chuyên biệt, trực tiếp và có hệ thống về làng Hạ Yên Quyết Do vậy, tôi mạnh dạn chọn đề tài nghiên cứu về làng Hạ YênQuyết với mong muốn đưa ra cái nhìn hệ thống, đầy đủ nhất về làng Từ
đó, góp phần vào việc giữ gìn truyền thống hiếu học của dân tộc và bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc
1.3 Mục đích nghiên cứu
Trang 4Từ những tư liệu lịch sử, ta xác định lịch sử ra đời và quá trình tồn tại của làng Hạ Yên Quyết, nghiên cứu sâu vào truyền thống khoa bảng của làng Từ đó, tìm hiểu thực trạng giáo dục của làng và đề xuất những giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị của di tích trong giai đoạn hiện nay.
1.5 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài không chỉ khái quát về chung về làng khoa bảng Hạ Yên Quyết mà còn đi sâu vào truyền thống khoa cử của làng Từ đó, nghiên cứu thực trạng giáo dục của làng khoa bảng Hạ Yên Quyết hiện nay và giải pháp bảo tồn - phát huy
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp thống kê, phân loại: chủ yếu dùng khảo sát nguồn tư liệu Sử học, Dân tộc học, liên quan tới làng Hạ Yên Quyết
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: nhằm làm sáng rõ từng luận điểm, khái quát thành đặc điểm cơ bản
- Phương pháp khảo sát tại thực tế và vận dụng các kỹ năng: quan sát, chụp ảnh, miêu tả, phỏng vấn để thu thập nguồn tài liệu của di tích
Trang 5PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: Giới thiệu chung về làng khoa bảng Hạ
Yên Quyết
1.1 Tên gọi của làng
Trước cách mạng tháng 8-1945, làng có tên là làng Cót Đây là tên cổ
từ lâu Nó được bắt nguồn từ cái tên Kẻ Cót, chỉ chung cả hai làng: Thượng Yên Quyết và Hạ Yên Quyết Tuy thế, trong phần mở đầu sách “Bạch Liên khảo ký “– một cuốn sách chép lại sử sách làng Hạ YênQuyết , tác giả cho ta biết, thuở xưa xa vùng quê này còn có tên là Bạch Liên hoa xã Đây là tên bằng chữ Hán, chưa rõ ai đặt ra, tuy thế nó thể hiện tình yêu làng và sự tự hào về vẻ đẹp làng của người dân vùng đất này
Sau cách mạng tháng 8-1945, với chính sách của nhà nước, làng đổi tên thành Hạ Yên Quyết, nay làng thuộc phường Yên Hòa, Cầu Giấy, HàNội
1.2 Vị trí của làng
Trang 6Thuở xưa, làng nằm ở vùng ngoại ô của thành Thăng Long, tuy vậy, giao thông rất thuận lợi Địa thế của làng khá đẹp, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa Cụ thể, để tới làng, ta có thể đi theo các con đường
cả đường bộ lẫn đường thủy, tính từ trung tâm thành Thăng Long
Đường thủy có con sông Tô Lịch
“Nước sông Tô vừa trong vừa mát
Em ghé thuyền đỗ sát thuyền anh” [12]
Đây là một phân lưu của sông Nhị Hà chảy dài từ Hà Khẩu (khu Hàng Buồm, chợ Gạo ngày nay) qua Bưởi, Nghĩa Đô xuống hết vùng Yên Hòa Lòng sông rộng tạo nên sự giao lưu dễ dàng, thuận tiện giữa làng Cót với các làng dọc sông Tô Lịch Khu vực chợ Cót (chợ Cầu Giấy) hiện nay là một bến đò tấp nập thuyền bè Về đường bộ, ta có thể
đi từ trung tâm thành Thăng Long, men theo hồ Tây rồi đi theo đường Bưởi sát song Tô Lịch là tới làng Ngoài con đường đó, còn nhiều con đường khác, như men theo đê sông Hồng (bây giờ gọi là Đê La Thành)
để xuống làng Từ làng, ta lại có thể đi ra lên Ngã Tư Sở, Bưởi, Sơn Tây,Đại Mỗ Đường xá dễ đi và tương đối gần Như vậy, làng ở vị trí trung tâm của các con đường giao thông vào lúc đó Nó vừa tạo điều kiện phát triển kinh tế, vừa dễ tiếp thu vang vọng chính trị từ trung tâm Thăng Long, vừa tạo nên một cảnh quan đẹp hiếm thấy của miền Bắc
Về mặt địa dư, làng tiếp giáp với nhiều làng khác, cụ thể: hướng đông bắc, làng giáp làng Thượng Yên Quyết; phía nam gần làng Mọc; phía tây, làng gần làng Vòng Từ Hạ Yên Quyết tới các làng khác rất thuận lợi về giao thông bởi đây là vùng cửa ngõ yết hầu của kinh thành Thăng Long xưa Kẻ Cót có địa thế thiên nhiên rất đẹp-nằm ngay cửa ngõ phía tây của Kinh thành cổ, là nơi giao lưu trực tiếp giữa vùng ven đô với nội thành được cách bởi con sông Tô Lịch
Về vị thế của làng trong quan hệ của làng với các làng khác, ta thấy
Trang 7làng có vai trò quan trọng trong việc tiêu thoát nước Nhờ con sông Tô Lịch chảy qua làng dẫn nước về ruộng đồng, làng có hệ thống nước để trồng trọt, cấy cày thuận lợi, đồng thời lại cung cấp cho một số làng bên trong
Nhận xét về vị trí này của làng, sách “Bạch Liên khảo kí” – cuốn sửlàng cổ của Hạ Yên Quyết đã viết: Mạch đất làng ta là nhánh gốc từ núi Tản Viên, Mạch đất nước có ba nhánh chính: Long Đỗ là một nhánh đi
từ Tây Hồ chạy xuống dải sông Tô, khi đến các gò đống, khí thiêng được
tụ lại Phía trước làng có một cái ao sen như một cái minh đường mở ra Lại có gò Ki Quy trông giống như hình cái bút, cái bảng la liệt ở phía trước Sau lưng có gò Thất tinh như cái bình phong che chắn Địa thế ấy làm làng quần cư, sinh sôi nảy nở ngày cảng đông đúc, người dân ai nấy noi gương học hành đỗ đạt [ 12,tr4]
1.3 Lịch sử hình thành làng
1.3.1 Lịch sử chung
Hạ Yên Quyết là một vùng đất cổ Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học, sử học, khảo cổ học và dân tộc học khẳng định về sự ra đời và tồn tại của làng từ trước thời Bắc thuộc Nó dựa vào sự nghiên cứu nguồn gốc cái tên Kẻ Cót và việc tìm thấy ngôi mộ cổ bằng thân cây khoét rỗngcùng nhiều di vật có niên đại cách ngày nay hơn hai nghìn năm được khai quật năm 1978 ở trong lòng sông Tô Lịch thuộc địa phận của làng Đến thế kỷ thứ VI nhà Tiền Lý cũng đã về đây xây dựng đồn luỹ trên bờ sông Tô để chống giặc Lương xâm lược (cho nên ở khu vực DịchVọng, Yên Hồ hiện nay có nhiều nơi thờ các vua Lý Nam Đế, Lý Phật
Tử cùng các tướng của hai vị như: Lý Thiên Bảo, Triệu Chí Thành…) Trong đời nhà Lí, nơi đây gắn liền với câu truyện lịch sử nhuốm màu huyền thoại, đó là cuộc thi đấu pháp thuật, ân oán giữa hai pháp sư (thiền
sư và đạo sĩ) Từ Đạo Hạnh (người làng Láng (Yên Lãng), nhưng quê mẹlàng Cót (Yên Quyết)) và Lê Đại Điên (người làng Yên Quyết), trong
Trang 8việc đầu thai làm thái tử nhà Lý Thời đó, cùng với việc du nhập nghề làm giấy, làng Cót tức làng Yên Quyết phát triển thành hai vùng với sự phân công lao động trong nghề giấy truyền thống Nửa trên của làng về phía bắc gần cầu Giấy chuyên nghề làm giấy từ nguyên liệu là vỏ cây dó,với thứ giấy dó chất lượng không cao làm từ những miếng đầu mặt của
vỏ cây dó, gọi là giấy xề Nửa làng dưới nằm ở phía Nam bắt đầu từ cầu Cót trở xuống chuyên làm một thứ sản phẩm là đầu ra của nghề giấy, đó
là nghề làm vàng mã Dần dần, từ một làng Yên Quyết-Kẻ Cót, tách thành hai làng Thượng Yên Quyết (Cót Thượng sau gọi là làng Giấy) và
Hạ Yên Quyết (Cót Hạ vẫn được giữ tên gọi là làng Cót) Và cũng chính
vì có nghề làm giấy ở làng Thượng Yên Quyết, cũng có ở làng Dịch Vọng Tiền kề bên (nằm ở phía Bắc), mà cây cầu nằm ở gần vùng giáp ranh giữa hai làng Thượng Yên Quyết và Tiền Dịch Vọng mới được gọi
là cầu Giấy
Vào cuối thời nhà Hậu Lê (Lê trung hưng) sang đầu thời nhà
Nguyễn, các làng Thượng Yên Quyết (làng Giấy) và Hạ Yên Quyết (làng Cót) đều thuộc tổng Dịch Vọng huyện Từ Liêm phủ Quốc Oai trấn Sơn Tây Đến năm 1831, khi thành lập tỉnh Hà Nội, nhà Nguyễn cho nhập huyện Từ Liêm của trấn Sơn Tây vào phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội, các làng Thượng và Hạ Yên Quyết cũng được nhập vào theo Khoảng giữa thế kỷ 19, thì làng Thượng Yên Quyết được đổi thành Yên Hòa, cònlàng Hạ thành Yên Quyết
Đến thập niên 1890, thời Pháp thuộc, các làng Thượng và Hạ Yên Quyết trực thuộc tỉnh Hà Đông Đầu thế kỷ 20, hai làng Thượng, Hạ YênQuyết trực thuộc Đại lý đặc biệt Hoàn Long
Sau năm 1945 (cách mạng Tháng 8), là hai xã thuộc huyện Từ Liêm
Trang 91982, thành lập thị trấn Cầu Giấy huyện Từ Liêm (sau là phường Quan Hoa quận Cầu Giấy), một phần đất phía Bắc làng Giấy, có cây cầu Giấy bắc qua, là xóm Quan Hoa bị tách ra và hợp với một phần phía Đông Nam Dịch Vọng (phía Nam Dịch Vọng Tiền) thành ra thị trấn Cầu Giấy, nằm hai bên đoạn phía Tây đường Cầu Giấy (từ cầu Giấy trở đi) Nay phần lớn đất Thượng và Hạ Yên Quyết cũ thuộc phường Yên Hòa quận Cầu Giấy, một phần nhỏ còn lại (xóm Quan Hoa xã Yên Hòa-Thượng Yên Quyết) là phần phía Nam của phường Quan Hoa quận Cầu Giấy (bên mặt nam đường Cầu Giấy).
1.3.2 Người và dòng họ khai lập làng
Người khai lập làng đầu tiên là người của các dòng họ Hoàng,
Nguyễn, Quản, Doãn, Trần sau đó mới đến các dòng họ Phạm, Trần, Lê, Ngô, Các họ lập thành 8 giáp Đông và Đoài Hiện có bức hoành phi ghitên tuổi, công lao của 5 họ đầu tiên về làng cư trú; hiện vẫn còn treo bức hoành ấy ở gian giữa đình làng Các dòng họ trong làng có sự phát triển mạnh Họ Nguyễn và họ Hoàng là họ phát triển mạnh nhất
Đầu tiên, phải nói tới họ Hoàng Theo cuốn "Thế phả họ Hoàng" docháu đời thứ 15 là Hoàng Thúc Hội đỗ cử nhân khoa Canh Tý và Hoàng Tất Đạt cử nhân huấn đạo huyện Hiệp Hoà ghi lại thì họ Hoàng có từ trước đời cụ Hoàng Quán Chi nhưng do năm tháng mai một, không có căn cứ khảo rõ Họ Hoàng cũng đông đảo và đạt được nhiều danh vị Tính đến ngày nay dòng họ Hoàng ở làng Cót phát triển đến đời thứ hai mươi hai, có 17 đời đỗ đạt
Sau đó là họ Nguyễn Cụ tổ họ là Nguyễn Như Uyên đỗ nhị giáp khoa Kỷ Hợi niên hiệu Hồng Đức (1479) Cụ tổ đời thứ 2 là Nguyễn Xuân Nham Cụ tổ đời thứ ba là Nguyễn Khiêm Quang, tự là Dương Hối, Thuỵ là Lỗ Khê tiên sinh Cụ tổ đời thứ 5 là Nguyễn Nhật Tráng
Họ Nguyễn có cơ kết cấu tổ chức dựa trên quan hệ huyết tộc Để củng cố
Trang 10mối quan hệ này dòng họ đó xây dựng nhà thờ họ để thờ cúng tổ tiên và các vị tiên hiền khoa bảng Đây là dòng họ được ghi tên đầu bảng trong các họ của làng Cót với 5 người đỗ tiến sĩ, 31 cử nhân và nhiều tú tài 1.3.3 Các xóm ngõ đầu tiên
Các xóm ngõ đầu tiên được phân chia địa giới bằng các giáp Cụ thể làng có tám giáp là: Đông Thượng, Đông Hạ, Tiền Nhất, Tiền Nhi, ĐôngQuan Tả, Đông Quan Hữu, Đông Cầu Tả, Đông Cầu Hữu Mới đầu, có thể làng có phân địa giới chưa đủ 8 tên giáp nhưng sau đó số dân tăng buộc làng bổ sung thêm tên mới, song những điều đó chưa khảo cứu được
1.4 Dân số và diện tích đất đai của làng
Trước 1945, diện tích của làng khoảng gần 1 km2 So với các làng xung quanh làng có vị trí tương đối rộng, vả lại đường xá rộng rãi nên khả năng mở mang diên tích lớn
Sau năm 1945, diện tích của làng có chút thay đổi Hiện nay, sau nhiều lần mở mang, sát nhập, thay đổi về tên gọi hành chính, hiện khó phân biệt được diện tích của làng so với trước Nhưng tuy nhiên, ước lượng theo vị trí làng trước kia thì nó vào khoảng hơn 1 km2
Trước 1945, dân số của làng là thời xưa rõ ràng là ít so với hiện nay nhưng so với các làng khác thời đó thì đây quả là nơi quần tụ dân cư đông đúc, sinh hoạt náo nhiệt bậc nhất Thăng Long Dù đây là vùng ngoại ô song nó là trục trung chuyển giao thông chính, địa thế đẹp nên ngay từ xưa đã hút người dân về lập nghiệp Theo thời gian, số dân ngày càng tăng thêm
Sau năm 1945, dân số của làng thay đổi nhiều Hiện theo thống kê dân số năm 1999, phường Yên Hòa có đến 16670 người, dân số tập trung đông ở đường Yên Hòa – khu phố xưa kia là làng Cót Hiện nay, năm 2015, dân số còn phải tăng gấp rưỡi so với trước Như vậy, tuy
Trang 11không thống kê được chính xác số dân, song ta khẳng định làng có mật
độ dân cư đông đúc, tạo thành một khu phố thị sầm uất ngay từ thời phong kiến
1.5 Tổ chức làng xã, các di tích văn hóa lịch sử và phong tục tập quán Khái niệm “ làng khoa bảng” có liên quan đến hai yếu tố cần xác định là “làng” và “khoa bảng” Khi nghiên cứu về làng khoa bảng, ta không chỉ nói đến việc thi cử mà còn phải nói tới nhiều yếu tố văn vật khác liên quan tới hình thái làng cổ thời xưa Theo các nhà nghiên cứu,
“làng” là một từ Nôm, dung để chỉ một đơn vị tụ cư truyền thống của người nông dân Việt ở nông thôn, có địa vực riêng, cấu trúc vật chất vá
cơ sở hạ tầng riêng, cơ cấu tổ chức, lệ tục, tâm lý, tính cách riêng và cả
“tiếng làng” (được biểu hiện qua âm, giọng) riêng, hoàn chỉnh và tương đối ổn định qua quá trình lịch sử [7] Vậy làng Hạ Yên Quyết mang những nét riêng nào?
1.5.1 Tổ chức của làng trong trong thời kỳ
phong kiến
Cơ cấu tổ chức của làng trong trong thời kỳ phong kiến giống với các ngôi làng Việt cổ thời xưa, chứ không mang dáng dấp phố phường như ởnội thành Trong đó, làng phân chia địa giới bằng các giáp Cụ thể làng
có tám giáp là: Đông Thượng, Đông Hạ, Tiền Nhất, Tiền Nhi, Đông Quan Tả, Đông Quan Hữu, Đông Cầu tả, Đông Cầu Hữu Làng đã cử ra ban chuyên trông coi công việc của các giáp Hồi đó, ban này gọi là ba bàn gồm bàn trùm, bán nhất, bàn nhì Đứng đầu mỗi ban là giáp trưởng Đây là người sắp xếp công việc của giáp như tu bổ đền miếu, lo giỗ chạp, cắt lượt theo sổ đinh của giáp
Về quan hệ giai cấp, trong làng có rất nhiều người đỗ đạt Những người đó được vinh danh, đặt lên vị trí đầu của làng Những dòng họ khoa bảng thường nắm những chức vụ cao, đứng đầu trong bộ máy quản
Trang 12lí làng xã Thậm chí, còn có câu lưu truyền: “Đình họ Hoàng, làng họ Công”, nghĩa là ở đình, người họ Hoàng ngồi gần hết chỗ, còn trong làngthì người họ Nguyễn Công chiếm phần lớn Vì thế, hồi đó làng không có
hệ thống ngôi thứ xã Sau này, đến thời Pháp thuộc, những người đỗ đạt,
đi làm quan giảm dần thì làng cắt cử một số chức sắc, vai vế thay thế Song chủ yếu cũng chỉ là bán chức danh chứ không bán thành một hàng ngôi thứ Như vậy, quan hệ trong làng khá bình đẳng, không có sự phân biệt giai cấp sâu sắc như các làng khác
Quan hệ trong làng là quan hệ láng giềng đan xen với quan hệ huyết thống, hầu hết những người làng đều là bà con xa gần với nhau qua quá trình sinh cơ lập nghiệp Làng có hương ước hay lưu chiếu văn quy định cách ứng xử của các thành viên trong làng Tuy nhiên, lệ thường của gia tộc đóng vai trò có khi quan trọng cả phép nước Mỗi gia tộc đều
có trưởng họ (hay còn gọi là tộc trưởng), nhà thờ họ, gia phả, giỗ họ,
Vì gia tộc có vai trò quan trọng nên tôn ti của từng người cũng rất được coi trọng Người đàn ông lớn nhất trong gia đình chịu trách nhiệm thờ cúng tổ tiên (nếu người ở vai trên không còn sống), chỉ khi người này mất đi thì việc thờ cúng sẽ chuyển sang người con trai lớn (đích tôn)
Truyền thống hiếu học, khoa bảng của Yên Hoà luôn trường tồn và gắn kết với những di tích lịch sử văn hoá của làng như: đình, đền, nhà thờ họ- nơi lưu giữ và phát huy những truyền thống văn hoá của làng Thông qua việc phụng thờ các vị thần, các vị tổ của dòng họ thể hiện tấmlòng ngưỡng mộ tri ân của người dân Yên Hoà với những người có công với đất nước với dân và tổ tiên, truyền thống khoa bảng, hiếu học luôn được đề cao và phát huy
Làng Cót hiện còn ngôi đình dựng lại vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832) Nhờ số tiền đóng góp lớn của làng nên ngôi đình khá to và đẹp
Trang 13nằm trên gò đất cao ở xóm Đình, mặt quay về hướng Đông Nam, dựng lại vào năm Minh Mạng thứ 13 (1832), đến năm 2005-2006 làm lại hoàn toàn nhưng vẫn giữ nguyên mẫu cũ, chỉ có bên ngoài tôn tạo lại đẹp hơn trước Đình xưa ở Vườn Đống, sau vì nơi ấy trống trải nên dời tới Bãi Tre Đình có kiến trúc kiểu chữ Công, gồm bái đường năm gian và hậu cung ba gian nối với tỏa ống muống Đình làng thờ 5 vị thần trong đó có Cao Sơn Đại Vương là thần bản thổ Theo tương truyền, các thần này trợgiúp cho dân chúng, làm nhân dân làm ăn mau mắn, đi đâu cũng thuận lợi Dù tông tích các thần đều không có gì nổi bật song nó khẳng định tínngưỡng riêng của các làng xã vẫn không dễ mất, dù nhà nước phong kiến
đề ra nhiều chính sách Nho học, xóa bỏ việc thờ thần Đồng thời, nhiều người còn cho rằng làng đỗ đạt như vậy là do đình làng đặt ở vị trí đẹp
và được chăm chút cẩn thận
Làng còn có chùa Ngọc Quán, dựng năm Dương Hoà 8 (1642) docông của ông Nguyễn Quang Lâm, dòng họ Nguyễn Vân Sơn Ông đã bàn với nhân dân chuyển chùa về cạnh Tây miếu (tức miếu Chùa) Ông còn hiến cho làng 12 mẫu ruộng phân cho 8 giáp cấy cầy, do vậy dân làng biết ơn ông, dành riêng một gian trong chùa để thờ ông Hàng năm
cả làng dành ngày 26/1 để thờ ông Chùa hiện còn quả chuông đúc
năm Cảnh Thịnh 8 (1800) Theo kể lại, vì sợ Gia Long trả thù nên các cụ
đã giấu chuông dưới đáy giếng cạnh chùa Đến đời Tành Thái, chuông mới được vớt lên Giờ chuông vẫn sử dụng được Tiếng vẫn thanh và vang xa Trước đây ngôi chùa nhỏ nhắn, sau này từ khi sư Cường về trụ trì thì tôn tạo và xây dựng thêm rất bề thế và đẹp Sư Cường còn khá trẻ, chỉ trên dưới 30 tuổi và rất được lòng bà con trong làng và khách thập phương cho nên những việc làm của ông với vai trò trụ trì chùa được nhiều người ủng hộ
Trang 14Làng có 3 ngôi miếu: Miếu Chợ: thờ Cao Sơn Đại Vương; Miếu Cả thờ Hoàng Hậu Phu Nhân và Diêm La Đại Vương; Miếu Chùa thờ Hiển Linh Đại Tướng Quân và Mộc Đức Tinh Quân
Miếu Chợ ở ngay đầu làng thuộc xóm Chợ Ngôi miếu này rất
thiêng, thờ vọng Cao Sơn đại vương – thành hoàng làng gốc Kim Liên
Bờ sông phía trước miếu có một cây si cổ thụ rất to và đẹp, có tuổi thọ phải vài trăm năm Đến khoảng năm 2006-2007 thành phố thiết kế con đường chạy men theo sông Tô, ngôi miếu cổ nằm trên con đường đó nhưng không ai dám nghĩ đến chuyện giải toả
Ngôi miếu thứ hai gọi là miếu Cả thờ Hoàng Hậu Phu Nhân và Diêm La Đại Vương để cầu mong nhân dân không bị dịch bệnh Hoàng Hậu Phu Nhân hay còn gọi là Đức Bà là người họ Doãn làng Cót Mộ Đức Bà đã được xây từ lâu đời, năm 1942 được xây lại, đến những năm
90 được dòng họ và dân làng tôn tạo thêm mái và xung quanh rất uy nghiêm bề thế Cả mộ và miếu nằm ở xóm Bãi Tre, sau gọi là xóm Tre Ngôi miếu này cũng rất thiêng, rất nhiều người trong làng thường ra thắphương cầu khấn đất của miếu rất rộng Trước cửa miếu là cổng tam quan uy nghi Bên phải và bên trái là 2 sân gạch rộng và cao hơn sân ở chính giữa, phía sau cũng còn một khoảng đất Bây giờ chỉ còn mỗi sân
ở chính giữa, xung quanh không hiểu sao mọi người xây nhà hết cả rồi
Có một thời gian miếu Cả rất hoang tàn, ngôi nhà ở ngoài dột nát, trống trải, hậu cung thì lạnh lẽo không ai hương khói Đến những năm 80-90 của thế kỷ trước, những người trong họ Doãn xin phép chính quyền cho
tu sửa lại và được đồng ý Họ Doãn cùng bà con dân làng đã sửa sang như bây giờ để thờ cúng, hội họp trong họ
Ngôi miếu thứ ba được gọi là miếu Chùa Miếu thờ thần Hiển Linh Đại Tướng Quân và Mộc Đức Tinh Quân Miếu nằm ở ngã ba cuối làng,
Trang 15phía trước chùa Ngọc Quán Ngôi miếu này cũng rất linh thiêng Trước đây có một gia đình làm nghề rèn ở đâu đó về mở lò rèn ở gần miếu để phục vụ cho bà con làm nghề nông Có một năm người làng đang làm đồng thì bị sét đánh chết Bà con đồn rằng do lò rèn này suốt ngày búa
đe chí chát gây động miếu nên các Thần phạt Sau đó lò rèn chuyển đi chỗ khác
Ngoài ra, còn có nhà thờ của dòng họ các Tiến sĩ Hoàng Quán Chi, Nguyễn Như Uyên, Nguyễn Xuân Nham – là biểu tượng cho truyềnthống học hành thành đạt của người làng Nhà thờ họ Nguyễn Như Uyên gồm ba gian hai dĩ Gian giữa có bức hoành phi lớn Ngoài nhà có
ba ngôi mộ tưởng niệm, ghi tên , hiệu, học vị, chức tước của các vị có công với tổ tông: Nguyễn Như Uyên, Nguyễn Nhật Tráng, Nguyễn Vĩnh Thịnh Trong từ đường có ba tấm bia hậu, hai bức hoành phi, 10 câu đối
ca ngợi truyền thống hiếu học và đỗ đạt của dòng họ Nhà thờ họ
Nguyễn Vân Sơn ở xóm Đình Nhà thờ gồm hậu đường thờ tổ nối với tiền đường Trong nhà cũng có nhiều câu đối ca ngợi truyền thống dòng
họ Các di tích trên là nơi khởi nguồn của các lễ hội trong làng
1.5.3 Phong tục, tập quán
Làng có phong tục tổ chức giáp để thờ cúng tổ tiên, tri ân những người có công lập làng, đặc biệt những người đỗ đạt, đưa làng lên vị trí làng khoa bảng Hàng năm có hai ngày vào giáp là ngày 12 tháng 2 và mồng 1 tháng Chạp Ngày này, các giáp phải sửa soạn lễ để thờ cúng tổ tiên Ngày 12 tháng 2 gọi là hội đình, thường lễ bằng một con lợn nặng khoảng 30 kg Ngày 1 tháng Chạp thì làm lễ to hơn, ngoài con lợn to còn
có cả xôi Lễ xong đồ được chia đều cho các làng trong giáp
Làng có tính cộng đồng rất cao Tính cộng đồng làm cho các thành viên trong làng đều hướng tới nhau, hình thành tính đoàn kết, tương trợ
Trang 16lẫn nhau, nhất là tương trợ trong học tập, thi cử Tính tập thể của làng rấtcao song đi kèm là sự dân chủ trong địa phương, ít có kiểu sống ức hiếp lẫn nhau Đình làng là nơi làm việc của làng, sinh hoạt cộng đồng, tuyên dương, vinh danh những người đỗ đạt Trong văn hóa các làng xã phổ biến tục hát hò, hát hò và nhiều sinh hoạt văn hóa dân gian khác Hầu hết các làng xã đều có đình làng như mẫu số chung của văn hóa Việt Hạ Yên quyết cũng vậy
Làng có tục tổ chức lễ hội theo giáp Nguồn gốc của lễ hội là báo ân
tổ tiên, những người có công với làng, trong đó có cả những người đỗ đạt làm rạng danh xóm làng Lễ hội chính của làng hàng năm từ ngày 10 đến 15 tháng 2 âm lịch Đây là lễ hội linh đình và tốn kém, ví dụ: lễ hội
tổ chức hát xướng tần 1 tháng Mỗi một ngày có một giáp luân phiên làm
cỗ bàn để tiếp các quan viên Xưa có tục nuôi lợn thờ của các giáp
trưởng đăng cai, đến lượt giáp nào thì giáp ấy chuẩn bị sẵn một con lợn béo và một cái vạc lớn để nấu nướng Thịt lợn được dùng làm nhân bánhchưng và làm cỗ Hội làng bị thất truyền một thời gian Thời gian những năm cuối của thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 Hội làng được khôi phục lại, năm nào cũng tổ chức Hội làng bây giờ năm nào làm nhỏ thì chỉ mời các đoàn văn nghệ, múa rối nước về biểu diễn cho bà con xem Năm nào làmlớn thì tổ chức lễ hội có rước các vị Thần rất long trọng uy nghiêm
Lễ hội thứ 2 chính là ngày giỗ Đức Bà là ngày 24 tháng 3 âm lịch Dòng họ Doãn ở làng Cót lấy ngày này là ngày giỗ Tổ họ và tổ chức việc
họ vào ngày này Trong ngày giỗ, tất cả các gia đình trong dòng họ đăng
ký số đinh Mỗi năm có một gia đình đăng cai việc họ Người đăng cai phải làm cỗ cho đủ số xuất số người đăng ký tham gia Sau khi làm cỗ xong các cụ cao niên đưa con cháu đem hoa quả, rượu thịt ra mộ Tổ và miếu thắp hương xong về nhà đăng cai để ăn uống vui vẻ Đây cũng là
Trang 17ngày để bà con trong họ gặp gỡ, nhận mặt họ hàng nhằm tăng phần thân thiết trong dòng họ Các dòng họ khác cũng đều làm như vậy “Có thể nói đây là một phong tục rất hay ở làng Cót Họ Doãn trong cả nước đã nghiên cứu và xây dựng cuốn “Hợp phả họ Doãn” Qua Hợp phả này thì tất cả các dòng họ Doãn ở Việt Nam đều có chung một gốc, bởi vậy các dòng họ Doãn ở các địa phương trong cả nước có một mối liên hệ về tìnhcảm rất khăng khít, xuất phát từ mối quan hệ huyết thống Có lẽ ở Việt Nam chưa có hoặc có rất ít dòng họ nào có được điều đó.” [15,tr4] Ngoài các lễ hội lớn, còn có những phiên chợ mang tính chất một ngày hội Hàng năm có một ngày gọi là ngày phiên chợ Cót vào 24 thángChạp âm lịch Trước đây phiên chợ này rất vui, vui nhất trong năm Ngày đó cả làng ra chợ ăn quà sáng Quà sáng gồm: Phở, miến, bánh cuốn, bánh rán, bánh dày, bánh đúc, các loại xôi, Hàng hoá để bán thì
đủ các loại, mục đích là phục vụ cho ngày Tết Người bán hàng một phần là người làng, phần đông là người ở các vùng xung quanh Trẻ con dành dụm tiền cả năm đến phiên chợ Cót để tiêu Phiên chợ Cót có nhiềutrò chơi cho trẻ con và cũng có cả trò chơi cho người lớn Trẻ con có trò ném vòng, bắn chai còn người lớn thì trò đánh cờ thế ăn tiền và xóc đĩa một cách công khai Bình thường các trò chơi ăn tiền được gọi là đánh bạc thì bị công an bắt ngay nhưng riêng ngày phiên chợ Cót thì đánh xócđĩa vô tư, chẳng ai bắt cả
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trang 18Ở chương 1, ta đi vào tìm hiểu chung về làng khoa bảng Hạ Yên Quyết Cụ thể với các mặt như: tên gọi của làng, vị trí, lịch sử của làng
Về tên gọi, trước cách mạng tháng 8-1945, làng có tên là làng Cót Sau cách mạng tháng 8-1945, với chính sách của nhà nước, làng đổi tên thành Hạ Yên Quyết, nay làng thuộc phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội Từ xưa đến nay, làng đều nằm ở vị trí thuận lợi cho phát triển kinh
tế - xã hội Diện tích và dân số của làng đều thuộc loại nhiều so với các làng khác
Về mặt lịch sử, Hạ Yên Quyết là một vùng đất cổ vì chúng ta tìm được rất nhiều chứng liệu cổ Trong thời phong kiến, làng được hình thành từ làng Yên Quyết Ngoài ra, làng Hạ Yên còn có văn hóa, lễ hội,
di tích phong phú Những mặt ấy cũng mang nét riêng cho ngôi làng và hiện nay nhiều di tích, lễ hội vẫn tồn tại như một minh chứng cho thời kì huy hoàng của làng
Về mặt cơ cấu tổ chức của làng, trong trong thời kỳ phong kiến, làng
tổ chức giống với các ngôi làng Việt cổ thời xưa, Làng có cuộc sống tương đối bình đẳng Mối quan hệ làng xã dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau,nhất là tôn trọng người đỗ đạt, chứ không có lối lề bóc lột lẫn nhau Như vậy, ta khẳng định làng Hạ Yên Quyết là ngôi làng lâu đời, có
vị trí đẹp, dân cư phồn thịnh Làng còn có truyền thống văn hóa, tâm linhđáng để giữ gìn, bảo tồn Quả thực làng Hạ Yên Quyết là một kho báu của thủ đô Đây chính là điều kiện lí tưởng để hình thành nên truyền thống khoa bảng của làng Truyền thống ấy được ghi dấu lại vẻ vang ra sao? Chúng ta cùng tìm hiểu ở chương 2
CHƯƠNG II Truyền thống khoa cử làng khoa bảng Hạ Yên Quyết
Trang 19Trong số các làng khoa bảng của Thăng Long - Hà Nội, Hạ Yên Quyết
là một làng có nhiều thành tựu về khoa cử (cả đại khoa, trung khoa và tiểu khoa) Chẳng thế mà vùng tây kinh thành có câu ca về “tứ danh hương” (Mỗ, La, Canh, Cót)
2.1 Những người đỗ đạt của làng
Nét nổi bật của số người đỗ đạt tại làng khoa bảng Hạ Yên Quyết là:
- Có một số lượng đông đảo những người đỗ đại khoa thuộc thế hệ
kế tiếp nhau
- Ở trong làng, những người này tập trung trong các gia đình khoa bảng hoặc các dòng họ khoa bảng, như họ Hoàng, họ Nguyễn, họ
Doãn,
Làng Hạ Yên Quyết có 10 tiến sĩ, 46 cử nhân và nhiều tú tài Với
số lượng đó, làng Cót đã trở thành một trong hai mươi “Làng khoa bảng”của nước Việt Nam thời phong kiến và là một trong năm “Làng khoa bảng” tiêu biểu của đất Kinh kỳ ngàn năm văn hiến
Quê hương Hạ Yên Quyết thời Trần có Hồng Quán Chi đỗ Đệ nhất giáp kỳ thi “Thái học sinh” khoa Quý Dậu, niên hiệu Quang Thái thứ 6 (năm 1393); đời vua Thuận Tông, được tham dự triều chính làm tới chứcThẩm hình viện, mở đầu cho nền khoa cử của đất Yên Quyết xưa kia và phường Yên Hòa ngày nay Cụ cũng là người đỗ đại khoa đầu tiên của huyện Từ Liêm
Đến triều nhà Hồ, mặc dù chỉ tồn tại có 7 năm với hai triều vua nhưng cũng đã kịp tổ chức hai kỳ thi tuyển Và ngay trong khoa thi đầu tiên, khoa thi “Thái học sinh” năm Canh Thìn, niên hiệu Thánh Nguyên (năm 1400) đời Hồ Quý Ly, làng Cót có cụ Nguyễn Quang Minh đỗ
Trang 20Thái học sinh, làm quan tới chức Nội thị hành khiển, cùng khoa với các danh nho nổi tiếng một thời như Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên.
Thời nhà Lê - thời kỳ rực rỡ nhất của Nho học ở Việt Nam, khoa thi năm Kỷ Sửu (1469) đời vua Lê Thánh Tông, ở làng có cụ Nguyễn Như Uyên đã ứng thi và đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hồng giáp) Sau đó
cụ làm quan tới chức Lại bộ Thượng thư, Chưởng Lục Bộ, kiêm Tế Tửu (Hiệu trưởng) Quốc Tử Giám Từ đây kế tiếp nhau trong các dòng họ, các sĩ tử miền quê Yên Quyết thi nhau lều chõng để đua tài trong các khoa thi của các triều Lê sơ, triều Mạc và triều Lê Trung hưng Từ các sách “Từ Liêm đăng khoa lục”, “Bạch Lien khảo ký” và gia phả các dòng họ, chúng tôi lập được danh sách 39 người của làng Hạ đỗ Hương cống thời Lê, trong đó một số họ ở làng Hạ Yên Quyết có nhiều người
đỗ như họ của Tiến sĩ Nguyễn Khiêm Quang (có 10 người) họ Nguyễn Vân Sơn (năm người), họ Hoàng (bảy người) họ Trần ( năm người) Trong số các vị đỗ trung khoa của hai làng, có nhiều người được “Bạch Liên khảo ký” ca ngợi như Nguyễn Quốc Thụy nhiều khoa thi Hội đỗ Tam trường đã hiến cho làng tám mẫu ruộng
Sang thời Nguyễn, do nhiều nguyên nhân, sự học hành thành đạt của hai làng Thượng và Hạ Yên Quyêt suy giảm hẳn, thể hiện không chỉ
ở việc không có người đỗ đại khoa, mà số người đỗ trung khoa cũng rất
ít Thống kê từ “Quốc triều hương khoa lục” cho thấy cả hai làng
Trang 21- Nguyễn Quốc Thanh (hay Văn Than), đỗ khoa Tân Tỵ, đời Minh Mạng (năm 1821), làm Giáo thụ phủ Lâm Thao, Đốc học tỉnh Vĩnh Long Ông là thầy của Phan Thanh Giản.
- Hoàng Úc (con Hoàng Bình) đỗ khoa Mậu Tý, đời Minh Mạng ( năm 1828)
- Hoàng Tài, đỗ khoa Bính Tuất, đời Đồng Khánh (năm 1886) làm Tri huyện Tiên Du
- Hoàng Xuân Hanh, đỗ năm 36 tuổi khoa Mậu Tý, đời Đồng Khánh (năm 1888), làm Tri huyện Bất Bạt
- Nguyễn Đình Thúy, đỗ năm Mậu Tý, đời Đồng Khánh (năm 1888(
- Hoàng Tất Đạt đỗ khoa Giáp Ngọ, đời Thành Thái (năm 1894)
- Hoàng Thúc Hội, đỗ khoa Bính Ngọ, đời Thành Thái (năm 1906) không ra làm quan mà tích cực tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục rồi ở nhà dạy học và biên soạn nhiều sách có giá trị như: “Sài Sơn thực lực”, Trưng Vương lịch sử”, “Hà đê đối sách”, “An Sơn tùy bút” và cuốn gia phả họ Hoàng
Còn các vị đỗ tiểu khoa, sách “Bạch Liên khảo ký” chép “các cụ lọt vào tam trường khoa thi Hương cách ngày nay (tức thời điểm sợn sách
và khoảng đời Minh Mạng- TG) ba, bốn đời trở về trước nói chung có hơn 100 vị Trong dung lượng hạn chế của khóa luận, chúng tôi không thể kể hết
Tóm lại, có thể thấy tên tuổi của các người đỗ đạt của làng qua bảngdanh sách như sau:
Danh sách các tiến sĩ nho học làng Hạ Yên Quyết
Trang 221 Hoàng Quán Chi Thủ khoa Thái học
sinh năm Quý Dậu (1393), thờinhà Trần
Làm quan đến chức Thượng thư Thẩm hình viện
2 Nguyễn Nhữ Minh Thái học
sinh năm Canh Thìn (1400, cùng năm với Nguyễn Trãi) thời nhà Hồ
Chưa rõ
3 Nguyễn Như Uyên Đệ nhị giáp tiến sĩ
(Hoàng giáp) năm
Kỷ Sửu (1469), thời nhà Hậu Lê
Làm quan đếm Thượng thu bộ Lại, Chưởng lục bộ, kiêm Tếtửu Quốc Tử Giám, Nhập thị Kinh Diên
4 Nguyễn Khiêm Quang Đệ tam giáp đồng
tiến sĩ, thời nhà Hậu Lê
Làm quan đến Tham chính
5 Nguyễn Xuân Nham Đệ tam giáp đồng
tiến sĩ năm Kỷ Mùi (1499), thời nhà HậuLê
Làm quan đến Hình khoa Đô Cấp sự trung, Thừa chính sứNguyễn Huy Đệ tam giáp đồng
tiến sĩ năm Quý Sửu (1553), thời nhà Mạc
Thượng thư bộ Công
Trang 23Hoàng Bôi Đệ tam giáp đồng
tiến sĩ năm Mậu Thìn (1568), thời nhàMạc
Làm quan đến Lại khoa Đô Cấp sự trung
7 Nguyễn Dụng Triêm Đệ tam giáp đồng
tiến sĩ năm Nhâm Dần (1602), thời nhàHậu Lê
Làm quan đến Hiến sát sứ
8 Nguyễn Vĩnh Thịnh ,
người xã Nghĩa Đô
nhưng nguyên quán Hạ
Yên Quyết (chắt của
Nguyễn Viết Tráng)
Đệ tam đồng tiến sĩ năm Kỷ Hợi (1659), thời nhà Lê-Trịnh
Làm quan đến chức Đề hình
2.2 Các dòng họ đỗ đạt của làng
Trong suốt quá trình tạo dựng và phát triển phồn thịnh lâu dài của làng xã không thể phủ nhận vai trò của các dòng họ lớn sớm có trên mảnh đất này như: Họ Nguyễn, họ Hoàng, họ Quản, họ Doãn là một trong những dòng họ lớn với nhiều người đỗ đạt cao góp phần không nhỏ vào truyền thống một làng khoa bảng của đất Thăng Long
Trang 242.2.1 Họ Nguyễn
Trong truyền thống hiếu học của làng, tiêu biểu có dòng họ 5 đời nối tiếp nhau bảng vàng bia đá, đó là dòng họ Nguyễn
Người khai bảng cho dòng họ là cụ Hồng Giáp Nguyễn Như Uyên
Cụ tổ đời thứ 2 là Nguyễn Xuân Nham đỗ đồng tam giáp xuất thân khoa
Kỷ Mùi niên hiệu Cảnh Thống 2 (1505) làm quan tới chức hình bộ đô cấp tự trung Cụ tổ đời thứ ba là Nguyễn Khiêm Quang, tự là Dương Hối, Thuỵ là Lỗ Khê tiên sinh thi đỗ giải nguyên khoa Quý Mùi năm Thống Nguyên 2 (1523) được ban đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân làmquan chức mậu lâm lang phụng trí đại phu lang sơn sứ tán tri, thừa chánh
sứ ty thừa chánh sứ Cụ tổ đời thứ 5 là Nguyễn Nhật Tráng đỗ hội
nguyên khoa Ất Mùi năm Quang Hưng thứ 12 (1589) thi đình đỗ nhị giáp chánh tiến sĩ Thăng Lại bộ cấp sử trung hậu Ngoài ra còn có các danh nhân khoa bảng khác như: Nguyễn Vĩnh Thịnh , người xã Nghĩa
Đô nhưng nguyên quán Hạ Yên Quyết (chắt của Nguyễn Viết Tráng),
đỗ đệ tam đồng tiến sĩ năm Kỷ Hợi (1659), thời nhà Lê-Trịnh; Nguyễn Dụng Triêm, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ năm Nhâm Dần (1602), thời nhà Hậu Lê; Nguyễn Huy, đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ năm Quý Sửu (1553), thời nhà Mạc;
Đây là dòng họ được ghi tên đầu bảng trong các họ của làng Cót với
5 người đỗ tiến sĩ, 31 cử nhân và nhiều tú tài Truyền thống hiếu học, khoa bảng của họ Nguyễn luôn được các thế hệ sau kế tục phát huy Chỉ riêng hai thời Lê Trung Hưng và Nguyễn dòng họ có 31 người đỗ cử nhân, tú tài Người thì xuất thân làm quan, người thì mở lớp dạy học Ở cương vị nào con cháu dòng họ Nguyễn cũng nêu cao tài, đức tận tuỵ vớicông việc giữ vững truyền thống văn hoá và đạo nghĩa của tổ tiên
Trang 25Hiện nay ở làng Cót còn có nhà thờ họ Nguyễn Như Uyên được xâydựng trên một khu đất đẹp có lũy tre xanh bao bọc và một ao nước tạo cảnh quan tĩnh mịch và thiêng liêng cho nơi thờ cúng, gian giữa nhà thờ
có bốn chữ Liêm quận công từ Trong nhà thờ còn có một số hoành phi
và câu đối nhắc đến truyền thống của quê hương, công lao và sự nghiệp của vị khai khoa làm rạng danh cho dòng họ
Ngoài ra, còn có một họ Nguyễn khác là họ của Tiến sĩ Nguyễn Dụng Triêm Tìm hiểu về họ của Nguyễn Dụng Triêm có chỗ cũng thiếu nhất quán
Có sách chép: Nguyễn Dụng Triêm là hậu duệ của Nguyễn Quang Minh Theo lưu truyền dân gian, họ Nguyễn này có mặt tại làng Cót từ rất sớm; vào đời Hồ, dòng họ đã có Nguyễn Quang Minh đỗ Thái học sinh Con cháu về sau có nhiều người đỗ Hương cống Sách “Bạch Liên khảo ký lại ghi: Nguyễn Dụng Triêm là một “biệt phái của họ Nguyễn” Các tài liệu vẫn ghép họ này với họ Nguyễn Như Uyên
2.2.2 Họ Hoàng
Dòng họ được xếp thứ hai là họ Hoàng Từ năm Lê Cảnh Hưng 9 (1748) đến mùa thu năm Quý Mão niên hiệu Thành Thái thứ 15 (1903) bắt đầu từ đời Thượng thư công trở xuống tất cả gồm 17 đời Đời thứ nhất cụ thuỷ tổ Hoàng Quán Chi được bốn người con trai, cho ở bốn giápbên Đoài Theo gia phả, bố mẹ ông nhà nghèo, phải đi gánh nước thuê kiếm sống và nuôi ông ăn học Về sau Ông đỗ Thái học sinh vào cuối thời Trần Đời thứ hai cụ Hoàng Thanh Phong giữ chức đồng chi lực sĩ triều Lê Đời thứ ba cụ Đoan Trung, huý công Thanh làm chỉ huy sứ triều Lê, đỗ tam trường từng làm tri huyện Duy Tiên, sau lại trúng tuyển làm cẩm y vệ chỉ huy sứ Đời thứ tư cụ Bình Trực, huý là Công Đạo làm quan chức Đề Khống ở sở doanh tạo Trúc mộc triều Lê Đời thứ năm cụ
Trang 26Trực Tín huý là Văn Tiến được phong tặng tham chánh thời Mạc Đời thứ sáu cụ An Nghĩa huý Bồi tự Hoằng nghị Thị lang triều Mạc đỗ đệ tam giáp tiến sĩ đồng xuất thân khoa Mậu Thìn năm Sùng Khang thứ ba đời Mạc Mậu Hợp, làm chức thần võ tư lục sự, làm Hiến sát sứ đạo Hưng Hoá sáu năm rồi lại làm Công khoa đô cấp sự trung, sau làm Thừa tuyên sứ đạo Hưng Hoá Lại thăng Lễ bộ hữu thị lang làm triều liệt đại phu lâm cục thuộc Chiêu văn quán Đời thứ bẩy cụ Phúc Miên huý Miễn Thiều tự Nhân Thọ làm tri huyện thời Lê Đời thứ tám cụ Phúc Thực huý
là Nhân Đổng làm tự thừa thời Lê Đời thứ chín cụ Phúc Ân huý Lộc tự
là Nhân Hậu thi hương đỗ tam trường thời Lê Đời thứ mười cụ Hương cống triều Lê huý là Phan thi hương đỗ tam trường, năm 30 tuổi đỗ tứ trường Đời thứ mười một cụ Thái Lãnh huý Thời Chính, làm tri huyện thời Lê, năm 26 tuổi đỗ tam trường, năm 41 tuổi đỗ tứ trường làm chức Giảng dụ cẩn sự tá lang tri huyện huyện Hội Ninh (phủ Tương Dương, Nghệ An) Đời thứ mười hai cụ Thông Trí huý Quảng làm quan viên tư trí lâm cục thời Lê Đời thứ mười ba cụ Cương Mẫn huý Thời Định làm
xã trưởng xã nhà Đời thứ mười bốn cụ Bật Trai huý Như Cẩn đỗ Tú tài sáu khoa hoàng triều Đời thứ mười lăm cụ Tĩnh Hiên huý Bá Thận đỗ
cử nhân khoa Kỷ Mão đời Tự Đức, có tri thứ đứng đầu là cử nhân HoàngThúc Hội là người có công ghi lại gia phả họ Hoàng và có tài đức đặc biệt là lĩnh vực thơ văn với nhiều tác phẩm nổi tiếng như: An sơn tuỳ búttập - Sài sơn thực lục: Hà đê đối sách; Đàm phật lục…Đời thứ mười sáu
cụ Hoàng Muội Thu huý Sảng Có một ngành khác đời này là cụ Hoàng Tài hiệu là Nga Viên, tự Thiên Thực Đỗ cử nhân khoa Bính Tuất niên hiệu Đồng Khánh (1886), làm tri huyện Bát Bạt tỉnh Sơn Tây và huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh Đời thứ mười bẩy Hoàng Mạnh Lãng được du
Trang 27học tại Pháp làm phủ phán thống sứ Bắc kỳ, được Nam triều ban văn giaibát phẩm
Tính đến ngày nay dòng họ Hoàng ở làng Cót phát triển đến đời thứ hai mươi hai nối tiếp truyền thống ông cha vẫn tiếp tục phát triển phồn thịnh và thành đạt góp phần làm rạng danh tên tuổi của một dòng họ lớn.2.2.3 Một số họ khác: họ Quản, họ Đỗ
Họ Quản được xếp thứ ba Đây là dòng họ có nhiều đóng góp xây dựng làng xóm Đi đầu là cụ Quản Huy Cảnh đỗ hương khoa, làm quan thanh liêm có công với dân Họ Doãn xếp thứ tư trong bốn họ lớn của làng Họ có 3 người đỗ đạt làm quan là Doãn Tuấn Tài thi hội trúng tam trường làm quan tri huyện, Doãn Trung Lương, Doãn Cư Vị đỗ Hồng lô
2.3 Hành trạng, đóng góp của các danh nhân khoa bảng
Sau khi thành đạt trên con đường khoa bảng, các cụ đều đem tài đức của mình để giúp đời, giúp nước trên từng lĩnh vực cụ thể Các cụ đều được bổ làm quan Từ đây, một cuộc đời mới đến với các cụ Họ được đem tài năng ra thi thố với đời Đây là cơ hội, là điều kiện để nhiều người “thành danh, lập công, lập ngôn và lập đức” theo lý tưởng sống của những kẻ sĩ mà họ được học tập từ thuở thời thơ ấu Ở làng, ngoài các cụ tham chính nơi triều đình còn có hàng chục cụ làm quan ở các
Trang 28Hương cống Hồng Thời Bình, cụ Phó bảng Nguyễn Văn Thanh) và nhiều cụ giữ chức Huấn đạo các phủ, các huyện Do vậy, các cụ đóng góp cả cho đất nước cả cho làng xã
2.3.1 Đóng góp của các danh nhân khoa bảng với triều chính
2.3.1.1 Nguyễn Như Uyên
Tiêu biểu như cụ Nguyễn Như Uyên, đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ (Hoàng giáp) khoa thi Kỷ Sửu, năm Quang Thuận thứ 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông Khoa thi này không có hàng Tam khôi (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) Đỗ đầu là Phạm Bá (người thôn Phác Xuyên, xã Bạch Đằng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng) Thứ hai là Nguyễn Như Uyên Từ đây, hậu duệ Nguyễn Như Uyên đời nối đời tiếp dòng khoa bảng, đầy nhà một sân quế hòe, vinh danh gia tộc
Lại có những lưu truyền dân gian về Nguyên Như Uyên Thuở nhỏ, nhà ông rất nghèo, phải đi làm thuê cho một nhà giàu ở xã Nghĩa Đô Trong xã ấy có một thầy đồ dạy học Hàng ngày đi làm về, thấy lũ trẻ cùng lứa tuổi với mình được học, Nguyễn Như Uyên thèm lắm nhưng vì nhà nghèo nên cậu bé Uyên không thể vào lớp Cậu bèn học lỏm bằng cách đứng ngoài lớp dám mắt qua liếp xem thầy dạy lũ trẻ viết và cậu lẩm nhẩm đọc theo, tay cầm que viết chữ trên nền đất, Việc học lỏm của cậu bị đám học trò phát hiện và mách thầy, Thầy đồ thấy cậu mặt mũi khôi ngô, tuấn tú bèn cho vào học Nhờ trí thông minh, cậu bé Uyên học hành ngày càng tiến bộ, sau đỗ Hoàng giáp khoa Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Thuận, đời Vua Lê Thánh Tông (năm 1469), làm quan đếm Thượng thu bộ Lại, Chưởng lục bộ, kiêm Tế tửu Quốc Tử Giám, Nhập thị Kinh Diên
Trang 29Không chỉ là người khai khoa một dòng họ tiến sỹ, với tài kinh bang tế thế, Nguyễn Như Uyên còn là đại thần trụ cột triều đình, có nhiều công lao giúp vua trị nước Lê Thánh Tông nổi danh sử sách là đấng minh quân, với 38 năm trị quốc, xung quanh nhà vua nhiều bề tôi giỏi, hàng nguyên lão đại thần có Nguyễn Xí, những trí thức trẻ có Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Lương Thế Vinh, Nguyễn Như Uyên là một trong số đó Trong những thành tựu vẻ vang mà vua Lê Thánh Tông xây dựng như giữ yên biên thùy, mở mang bờ cõi, xây dựng luật Hồng Đức,
vẽ bản đồ Hồng Đức, đào tạo các bậc hiền tài - “nguyên khí quốc gia” Nguyễn Như Uyên đều có công lao
Mười năm sau khi thi đỗ, năm 1479, tù trưởng xứ Bồn Man là Cầm Công làm phản, xui người Lão Qua sang đánh nước ta Vua Lê Thánh Tông điều động quân sĩ chinh phạt Vua Lí Thánh Tông đó ban sắc dụ
"Lại sắc cho quan Ký lục là bon Nguyễn Như Uyên, Nguyễn Căng rằng trên từ trướng súng, dưới đến quân lính người nào chăm chỉ được việc, hay lười biếng ngu đần, kẻ dám nhút nhát hết thảy phải ghi chép để tâu lên" Nguyễn Như Uyên được vua phong chức Ký lục có nhiệm vụ theo dõi ghi chép: “Trên từ tướng soái, dưới xuống quân lính, người nào chăm chỉ được việc hay lười biếng Kẻ nào nhút nhát, hết thảy phải ghi cho rõ để tâu lên” 5 đạo quân ra trận đã toàn thắng trở về
Về sau, Nguyễn Như Uyên được phong tới chức Tham tụng Lại Bộ thượng thư trưởng lục bộ sự, kiêm Quốc tử giám tế tửu Nhập thị kinh diên, hàm chánh nhất phẩm Điều đó cho thấy ông là người có tài đức, công danh và sự nghiệp của ông đó đạt tới tột đỉnh vinh hoa
Hiện chưa rõ Nguyễn Như Uyên mất năm nào, chỉ biết cuối đời, khi
về trí sĩ (nghỉ hưu), ông được phong tước Thái Bảo, Liêm Quận Công
Trang 302.3.1.2 Cụ Hoàng Quán Chi
Cụ thuỷ tổ của họ Hoàng là Hoàng Quán Chi làm quan Thượng thư thời Trần Sách "Đại Việt sử ký toàn thư" dịch theo bản khắc năm Chính Hoà 18 (1697) Nhà xuất bản khoa học xã hội xuất bản năm 1998 có ghi:
"Quý Dậu Quang Thái thứ 6 (1393) - Minh Hồng Vũ năm thứ 26
….tháng 2, thi Thái học sinh cho đỗ 30 người là bọn Hoàng Quán Chi,
Lê Vị Tẩu, Mai Tú Phu, Đồng Thức…" Căn cứ nguồn tư liệu khác đều cho biết: Cụ Hoàng Quán Chi người xã Yên Quyết, huyện Từ Liêm, nay thuộc phường Yên Hoà, quận Cầu Giấy Cụ đỗ Thái học sinh (đỗ đầu) khoa thi năm Quý Dậu, đời vua Trần Thuận Tông niên hiệu Quang Thái thứ 6 (1398) Sách "Bạch Liên Khảo ký " chép: " Cụ sinh ra ứng với điềm sao trên trời, tương truyền thân mẫu cụ Hoàng Quán Chi sáng sớm
đi gánh nước thấy có ngôi sao sa vào thùng nước bèn lấy vạt áo đậy lại đem về để uống riêng một mình Sau có mang sinh ra ông" Lớn lên Hoàng Quán Chi rất thông minh, văn chương của ông "trội hơn cả
nước" Sách "Từ Liêm đăng khoa lục" có ghi tiến sĩ của huyện Từ Liêm xưa bắt đầu từ cụ và là người đỗ đại khoa mở đầu của huyện
Cụ làm quan đến chức Thượng thư Thẩm hình viện Đây là chức vị đứng đầu của bộ Hình Với sự công tâm trong xét xử các vụ án và trí tuệ sắc bén, linh hoạt, cụ đã xử phân minh nhiều vụ án lớn ảnh hưởng tới cả quốc gia Nhờ đó mà việc thi hành luật pháp dưới đời vua Trần Thuận Tông được thực thi nghiêm minh Triều chính và người dân đều thấy an tâm Cụ cũng có công giữ gìn, phát triển bộ luật của đất nước ta khi đó Khi mất được tặng Lễ bộ Thượng thư
2.3.1.3 Nguyễn Xuân Nham