1. Lý do chọn đề tài 1.1. Vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam là một nước nông nghiệp, dân cư sinh sống ở nông thôn hiện nay chiếm tỉ lệ tương đối lớn (theo Tổng Cục Thống Kê, Điều tra Lao động và việc làm Việt Nam năm 2011 là 70,3%). Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng trong các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam. Đó là vì nông dân là một lực lượng quan trọng của cách mạng và hiện còn đang chiếm tỷ lệ lớn trong dân số. Đồng thời, nông nghiệp, nông dân Việt Nam luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước. Nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước. Đến nay, mặc dù sau 25 đổi mới, kinh tế nước ta đã phát triển khá toàn diện, song sản phẩm nông nghiệp vẫn là những sản phẩm chủ yếu thể hiện sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới. Quả thực, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược ổn định và phát triển lâu dài của nền kinh tế xã hội. Sự phát triển của nông nghiệp, sự biến đổi theo hướng văn minh ở nông thôn và sự trưởng thành của người dân đã, đang và sẽ tác động mạnh mẽ đến quá trình ổn định và phát triển kinh tế xã hội của nông thôn nói riêng và của đất nước nói chung.
Trang 1BBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
MAI THỊ NHUNG
ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH PHÁT THANH TRÊN SÓNG CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH
THANH HÓA ĐÁP ỨNG NHU CẦU CÔNG CHÚNG NÔNG THÔN
Ngành: Báo chí học
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn: GPS.TS NGUYỄN VĂN DỮNG
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Lời cảm ơn
Với lòng biết ơn sâu sắc của mình, em xin cảm ơn cô giáo
……….đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em trong quá trình học tập, nghiên
cứu và hoàn thành luận văn
Em xin cảm ơn các thầy cô trong tổ bộ môn…… , các thầy cô giảng dạy tại trường ……… đã giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài tôi luôn nhận được sự động viên của bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 7 - 2015
Tác giả luận văn
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan: Luận văn với đề tài “…………” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, không sao chép của bất cứ ai
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về công trình nghiên cứu của riêng mình !
Hà Nội, ngày ………….
Người cam đoan
Những từ viết tắt
Trang 5Bảng 1.1 Mức độ tiếp nhận các loại hình báo chí của công chúng nông thôn Thanh Hóa
Bảng 1.2 Mức độ xem truyền hình của công chúng nông thôn Thanh HóaBảng 1.3 Mức độ nghe đài của công chúng nông thôn Thanh Hóa
Bảng 1.4 Mức độ đọc báo của công chúng nông thôn Thanh Hóa
Bảng 1.5 Mức độ đọc báo mạng của công chúng nông thôn Thanh HóaBảng 1.6 Khảo sát nhu cầu về nội dung thông tin của công chúng nông thôn Thanh Hóa
Bảng 2.1 Thống kê một số thể loại và một số chuyên mục ở Đài Phát thanh
và Truyền hình Thanh Hóa ( từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015)
Bảng 2.2 Thống kê một số thể lọai và một số chuyên mục trên sóng Đài PTTH Thanh Hóa ( từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015 )
Bảng 2.3 Thống kê các các phẩm tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn của Đài PTTH Thanh Hóa từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015
Bảng 2.4 Thống kê các các phẩm tuyên truyền, phổ biến kiến thức về việc phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn của Đài PTTH Thanh Hóa từ tháng 5/2009 đến tháng 6/2010
Bảng 2.5 Thống kê các các phẩm tuyên truyền về đời sống, văn hóa xã hội ở nông thôn của Đài PTTH Thanh Hóa từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015
Bảng 2.6 Thống kê các các phẩm tuyên truyền những điển hình tiên tiến trong phát triển nông thôn của Đài PTTH Thanh Hóa từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015
Bảng 2.7 Thống kê các các phẩm tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới của Đài PTTH Thanh Hóa từ tháng 5/2014 đến tháng 5/2015
Bảng 2.8 Thống kê những nội dung tuyên truyền về nông thôn trên Đài PTTH Thanh Hóa từ tháng 5/2014- tháng 5/2015
Trang 6Bảng 2.9 Thống kê tần suất tiếp nhận thông tin của công chúng nông thôn Thanh Hóa đối với các chương trình phát thanh của đài PTTH Thanh Hóa Bảng 2.10 Thống kê độ dài thời gian tiếp nhận thông tin của công chúng nông thôn Thanh Hóa đối với các chương trình phát thanh của đài PTTH Thanh Hóa
Bảng 2.11 Thống kê thời gian tiếp nhận thông tin của công chúng nông thôn Thanh Hóa đối với các chương trình phát thanh của đài PTTH Thanh Hóa
Bảng 2.12 Thống kê phương thức tiếp nhận của công chúng nông thôn Thanh Hóa đối với các chương trình phát thanh của đài PTTH Thanh Hóa Bảng 2.13 Thống kê về đánh giá chất lượng chương trình phát thanh đài PTTH Thanh Hóa của công chúng nông thôn Thanh Hóa
Bảng 2.14 Thống kê các vấn đề công chúng nông thôn quan tâm nhất ở các chương trình phát thanh của Đài PT_TH Thanh Hóa
Bảng 2.15 Thống kê các chương trình phát thanh của Đài PT_TH Thanh Hóa được công chúng nông thôn quan tâm
Bảng 2.16 Thống kê đánh giá của công chúng nông thôn về lượng kiến thức, thông tin về nông nghiệp, nông thôn trên sóng Phát Thanh của Đài PT-TH Thanh Hóa
MỤC LỤC
MỤC LỤC .6
MỞ ĐẦU 7
Chương 1 19
Nhận diện nhu cầu công chúng nông thôn của 19
Thanh Hóa 19
Trang 7Chương 2 42
Thực trạng đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng nông thôn và vấn đề đổi mới chương trình phát thanh của Đài PTTH Thanh Hóa 42
Chương 3 73
Mấy vấn đề đặt ra và các giải pháp đổi mới chương trình phát thanh của Đài PTTH Thanh Hóa 73
KẾT LUẬN 102
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
PHỤ LỤC 108
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Vấn đề phát triển nông nghiệp, nông thôn
Việt Nam là một nước nông nghiệp, dân cư sinh sống ở nông thôn hiện nay chiếm tỉ lệ tương đối lớn (theo Tổng Cục Thống Kê, Điều tra Lao động và việc làm Việt Nam năm 2011 là 70,3%) Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn ở Việt Nam luôn được Đảng và Nhà nước hết sức coi trọng trong các giai đoạn phát triển của cách mạng Việt Nam Đó là vì nông dân là một lực lượng quan trọng của cách mạng và hiện còn đang chiếm tỷ lệ lớn trong dân số Đồng thời, nông nghiệp, nông dân Việt Nam luôn khẳng định vai trò đóng góp hết sức to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước Nông nghiệp đã mở đường trong quá trình đổi mới, tạo nền tảng, động lực cho tăng trưởng kinh tế và là nhân tố quan trọng bảo đảm sự ổn định kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Đến nay, mặc dù sau
25 đổi mới, kinh tế nước ta đã phát triển khá toàn diện, song sản phẩm nông nghiệp vẫn là những sản phẩm chủ yếu thể hiện sự hội nhập của nền kinh tế Việt Nam với thế giới Quả thực, vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược ổn định và phát triển lâu
Trang 8dài của nền kinh tế - xã hội Sự phát triển của nông nghiệp, sự biến đổi theo hướng văn minh ở nông thôn và sự trưởng thành của người dân đã, đang và
sẽ tác động mạnh mẽ đến quá trình ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của nông thôn nói riêng và của đất nước nói chung
Nhờ sự quan tâm của Nhà nước thể hiện bằng các chủ trương, chính sách đúng đắn, trong những năm đổi mới, nông nghiệp nước ta đã có bước phát triển vượt bậc, đạt được nhiều thành tựu Liên tục trong nhiều năm nông nghiệp đạt mức tăng trưởng khá cả về giá trị, sản lượng Đời sống nông dân đã khấm khá hơn Tuy vậy, so với mặt bằng chung, họ còn gặp nhiều khó khăn Phải nhìn vào thực tế: nông dân, nông nghiệp đã có những đóng góp rất lớn cho sự phát triển của đất nước thế nhưng, dường như ngày nay họ là những người ít được hưởng lợi nhất trong công cuộc đổi mới của đất nước Nếu như không quan tâm đến họ, coi phát triển là vì con người thì chắc chắn sự phát triển ấy sẽ không thể bền vững Để giải quyết được những thách thức trên chúng ta còn phải đối mặt với nhiều sức ép khác, như: diện tích đất sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp làm cho nông nghiệp một khi muốn tiến lên sản xuất lớn, sử dụng máy móc kỹ thuật hiện đại, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhằm đem lại năng suất, chất lượng và hiệu quả cho nông nghiệp; ở nhiều địa phương hiện nay tuy có số nông dân đông, nhưng hầu hết những người có sức khỏe đều rời quê ra các đô thị tìm việc kiếm sống, khu vực nông thôn còn thiếu hẳn lực lượng lao động có tay nghề, làm nông nghiệp giỏi; về vấn đề vốn, do sản xuất nhỏ lẻ nên nông dân rất thiếu vốn và dù được ngân hàng, hay các dự án cho vay để sản xuất thì mức tiền cũng rất thấp, thời gian hoàn trả ngắn;…
Hiện nay, người nông dân đang trong quá trình chuyển đổi phương thức lao đông, triển khai thực hiện chương trình nông thôn mới, đặc biệt là triển khai công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Người nông dân không còn lao động sản xuất đơn thuần theo kinh nghiệm mà đã
Trang 9từng bước ứng dụng tiến bộ khoa học, kĩ thuật, công nghệ vào sản xuất nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao Họ đã từng bước làm quen với tác phong làm việc có tư duy, phán đoán, phản biện, nhận diện vấn đề để thích ứng với cái mới, làm việc chủ động hơn Họ cũng rất cần tiếp nhận thông tin về tình hình – chính trị - văn hóa – xã hội để nâng cao nhận thức trong
xu thế hội nhập
1.2 Vấn đề phát triển nông nghiệp ở Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh nằm ở vị trí cực Bắc miền Trung, đất rộng, người đông, có 27 đơn vị hành chính nhưng chỉ có 1 thành phố, 2 thị xã còn lại chủ yếu là nông dân sống ở nông thôn và miền núi cao Diện tích trên 11 ngàn km2, dân số 3,4 triệu người, trong đó có 90,7 % dân số sống ở nông thôn Địa hình phong phú và đa dạng bao gồm cả miền núi, trung du, đồng bằng và vùng ven biển Khu vực đồng bằng sông Mã có diện tích 1.864km2, lớn thứ 3 trong cả nước, sau đồng bằng sông Cửu Long và đồng bằng sông Hồng Mặc dù là tỉnh có nhiều tiềm năng, lợi thế nhưng Thanh Hóa vẫn là một tỉnh nghèo, phát triển chậm, hiệu quả của nền kinh tế và thu nhập tính trên đầu người đạt thấp Chính vì vậy , NQ số 26-NQ/TW tại hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành TW Đảng khóa X “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn” là thời cơ và vận hội để Thanh Hóa đẩy mạnh thực hiện sự nghiệp CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn
Tỷ lệ nông nghiệp cao nhưng lại kém phát triển, đời sống đại bộ phận nông dân chưa cao Trồng trọt vẫn chiếm khoảng 70% cơ cấu nội ngành nông nghiệp, trong đó lúa gạo vẫn chiếm tỷ trọng chính Tuy chiếm phần lớn diện tích cây trồng hàng năm nhưng hiệu quả kinh tế của cây lúa đem lại không cao, vì vậy đã xuất hiện tình trạng nông dân không thiết tha với đất lúa, không thâm canh tăng vụ Ngành thủy sản và ngành chăn nuôi phát triển nhanh, song thiếu bền vững Cùng với quá trình biến đổi khí hậu, tình trạng thiên tai trong tương lai sẽ diễn ra ngày càng tăng với nhiều diễn
Trang 10biến phức tạp hơn Tình trạng sạt lở, lũ lụt, ngập mặn, hạn hán tại một số địa phương sẽ xảy ra với mức độ nghiêm trọng ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống sinh hoạt và sản xuất của người dân Khả năng tái sản xuất mở rộng của nông dân giảm sút Cho đến nay, người nông dân vẫn lấy cây lúa
là nguồn thu nhập chính, vậy mà chi phí sản xuất tăng cao, đang đè nặng lên vai người nông dân, nhất là nông dân nghèo Thu nhập và lợi nhuận từ trồng lúa của họ giảm, khiến cuộc sống của người làm ra hạt lúa thêm phần khó khăn Đời sống nông dân cần phải được nâng cao để tạo sự công bằng trong xã hội nhưng thực tế chất lượng sống của đại bộ phận còn rất thấp Việc kêu gọi xây dựng nông thôn mới ở Thanh Hóa chưa diễn ra đồng đều
ở tất cả các nơi Vì vậy vấn đề phát triển, cơ cấu lại nông nghiệp, nông thôn
là vấn đề bức thiết của tỉnh
1.3 Báo phát thanh ở nông thôn Thanh Hóa
So với các loại hình báo chí khác thì đối với công chúng vùng nông thôn, báo phát thanh có những ưu thế riêng nổi bật Bởi chỉ cần một thiết bị thu tín hiệu nhỏ là công chúng đã có thể hưởng thụ các chương trình phát thanh ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào Nếu xét ở phương diện phủ sóng rộng thì phát thanh luôn vững vàng ở vị trí số một so với tất cả các loại hình báo chí khác như báo in, báo hình, báo mạng điện tử Chính vì đặc điểm đơn giản về kỹ thuật, rẻ tiền về phương tiện mà ở Việt Nam, từ miền núi đến hải đảo xa xôi hay nông thôn đều có sự hiện hữu của chiếc radio Và đối với một tỉnh còn nghèo như Thanh Hóa thì việc phát huy tính tích cực, lợi thế của báo phát thanh để đưa thông tin đến người dân là một việc làm cần thiết
Do đó, đổi mới chương trình phát thanh trên sóng đài PTTH Thanh Hóa nhằm đáp ứng nhu cầu công chúng nông thôn trong tỉnh có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy các chương trình phát
Trang 11triển nông nghiệp, nông thôn và nông dân, cũng như góp phần quan trọng vào quá trình phát triển của Thanh Hóa.
2 Lịch sử nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, khảo sát tài liệu để thực hiện luận văn này, tôi nhận thấy từ trước tới nay đã có một số công trình nghiên cứu ít nhiều có liên quan đến đề tài như sau:
Trong công trình “Báo Phát thanh” (2002) do tập thể tác giả của
Phân viện Báo chí và Tuyên truyền – Đài Tiếng nói Việt Nam thực hiện (Nguyễn Văn Dững, Chủ biên), tác giả Nguyễn Văn Dững đã bàn về công chúng phát thanh, có định nghĩa khái niệm công chúng, các loại công chúng báo chí, vai trò của công chúng, các nội dung và phương pháp nghiên cứu công chúng
Cuộc điều tra xã hội học (2001) do Đài Tiếng nói Việt Nam và Ban
Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (nay là Ban Tuyên giáo Trung ương) được tiên hành trên 30 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ươnng với 2.615 người trả lời, cho thấy mức độ, cách thức nghe đài của thính giả thay đổi theo giới tính, độ tuổi, mức sống, học vấn,…tại những tỉnh, thành phố tiến hành điều tra; những lý do thính giả không nghe đài; những đánh giá, nhận xét chất lượng; những nguyện vọng, đề xuất của thính giả;…
Đề tài khoa học “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác điều tra thính giả của Đài Tiếng nói Việt Nam” (2005), đã đúc kết lí luận qua
những cuộc điều tra thính giả của đài từ năm 1989 đến năm 2005, trên cơ
sở điều tra 1.468 thính giả đã cung cấp những thông tin quan trọng, giúp đài Tiếng nói Việt Nam đổi mới, cải tiến, nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, thu hút ngày càng đông đảo công chúng phát thanh
Đề tài khoa học “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác điều tra thính giả của Đài Tiếng nói Việt Nam” (2005), đã đúc kết lí luận qua
Trang 12những cuộc điều tra thính giả của đài từ năm 1989 đến năm 2005, trên cơ
sở điều tra 1.468 thính giả đã cung cấp những thông tin quan trọng, giúp đài Tiếng nói Việt Nam đổi mới, cải tiến, nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, thu hút ngày càng đông đảo công chúng phát thanh
Công trình “Truyền thông – Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” (2006) do
PGS,TS Nguyễn Văn Dững làm chủ biên, với phương pháp tiếp cận hệ thống, các tác giả của công trình này đã đề cập vấn đề nghiên cứu công chúng, nhóm đối tượng trong mối quan hệ chu trình truyền thông, phân tích nội dung của nghiên cứu ban đầu vầ công chúng gồm ba bình diện, các bước tiến hành và phương pháp nghiên cứu…
Công trình “Báo chí và dư luận xã hội” (2011) và “Cơ sở lý luận báo chí” (2012) của PGS,TS Nguyễn Văn Dững cũng đã đề cập đến công
chúng báo chí- nhóm đối tượng tác động của báo chí Tác giả cũng đã nghiên cứu một cách cơ bản và hệ thống về công chúng, nêu vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công chúng đối với báo chí và đưa ra những căn cứ vào những tiêu chí khác nhau để phân loại các nhóm công chúng khác nhau
+“Con đường CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn” năm 2004; PGS-TS
Chu Hữu Quý và PGS-TS Nguyễn Kế Tuấn đồng chủ biên, Nxb Chính Trị quốc gia Trong đó hai tác giả quan tâm nhiều đến lý luận và quan điểm của Đảng về CNH,HĐH nông nghiệp, nông thôn và con đường của quá trình này
+ “ Nông nghiệp, nông dân , nông thôn Việt Nam - Hôm nay và mai sau ” năm 2008 ; TS Đặng Kim Sơn -Viện trưởng Viện chính sách và
chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, Nxb Chính Trị quốc gia Nội dung sách nêu bật thực trạng các vấn đề về nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, những thành tựu cũng như khó khăn, vướng mắc còn tồn tại
Trang 13+ “ Nông nghiệp ,nông dân, nông thôn trong quá trình đẩy mạnh CNH,HĐH ở nước ta” ; GS, TS Hoàng Ngọc Hòa, Nxb Chính Trị quốc
gia Tác giả đã tiến hành nghiên cứu, tổng kết những quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về nông nghiệp, nông dân, nông thôn để tìm ra nguyên nhân của những thành công và hạn chế cũng
như những kiến nghị,giải pháp
Luận văn thạc sĩ “Công chúng phát thanh hiện nay” (2004) của tác
giả Phạm Thị Thanh Tịnh đã phân tích phương thức tác động, đặc trưng của loại hình và công chúng thính giả của nó Luận văn đưa ra những nét
cơ bản về đặc điểm của nhóm công chúng của Đài Tiếng nói Việt Nam Tác giả cũng chỉ một số căn cứ khoa học để những người làm báo phát thanh nâng cao chất lượng chương trình, cải tiến nội dung cho phù hợp với công chúng của cả nước nói chung và trên địa bàn Hà Nội nói riêng
Bên cạnh đó còn có một số công trình nghiên cứu cũng liên quan đến
đề tài như: Báo chí Thanh Hóa với vấn đề phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh hiện nay của học viên Nguyễn Thanh Phương, Luận văn Thạc sỹ, Học viện Báo chí và tuyên truyền (khảo sát Báo Thanh Hóa, Đài Phát thanh và Truyền hình Thanh Hóa, Báo Văn hóa và đời sống từ tháng 5 năm 2009 đến tháng 6 năm 2010)
Công chúng nông thôn Hà Nam với vấn đề tiếp nhận sản phẩm báo chí hiện nay của Bùi Thị Quyến, Luận văn Thạc sỹ, Học viện Báo chí và
tuyên truyền (Khảo sát….)
Ngôn ngữ phóng sự phát thanh của Trần Thị Lan Hương, Luận văn Thạc sỹ, Học viện Báo chí và tuyên truyền (Khảo sát trên Hệ Thời sự Chính trị Tổng hợp VOV1, Đài Tiếng nói Việt Nam, thời gian từ 1/1/2013- 30/6/2013).
Trang 14Luận văn cao học báo chí: “Vấn đề nông nghiệp, nông thôn trên sóng truyền hình Việt Nam” của Thạc sĩ Đinh Quang Hạnh, năm 2005 Tác
giả đã khảo sát các chuyên đề liên quan đến nông nghiệp, nông thôn trên kênh VTV1, trong đó làm rõ các khái niệm, đặc điểm nông nghiệp, nông thôn Việt Nam cũng như vai trò của đài Truyền hình Việt Nam trong việc tuyên truyền nội dung này
Nhìn chung, các công trình trên đã đề cập đến vai trò của báo chí nói chung và báo phát thanh nói riêng, vai trò Đài PT-TH các địa phương trong việc tuyên truyền một lĩnh vực cụ thể nào đó Nghiên cứu đối tượng công chúng, cũng như đi sâu vào phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng một thể loại, một chương trình phát thanh, truyền hình tại địa phương
Mỗi công trình có cách tiếp cận riêng, từ cơ bản và bao quát đến từng lĩnh vực cụ thể của phát thanh; nhưng chưa có công trình nào nghiên
cứu và tiếp cận như đề tài mà tác giả đang bàn tới Do đó, đề tài “Đổi mới chương trình phát thanh trên sóng của Đài PT – TH Thanh Hóa đáp ứng nhu cầu công chúng nông thôn” lần đầu tiên được thực hiện Đề tài này
nghiên cứu đổi mới chương trình phát thanh trên sóng phát thanh đài PTTH Thanh Hóa nhằm đáp ứng nhu cầu công chúng nông thôn của tỉnh
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu là trên cơ sở hình thanh khung lý thuyết
về đổi mới chương trình phát thanh đáp ững nhu cầu công chúng, luận văn khảo sát thực trạng và đề xuất giải pháp nhằm tiếp tục đổi mới chuwong trình phát thanh hướng tới đáp ững nhu cầu công chúng nông thôn của tỉnh
3.2 Nhiện vụ nghiên cứu của luận văn
- Hình thành khung lý thuyết về đổi mới chương trình phát thanh đài PTTH Thanh Hóa đáp ứng nhu cầu công chúng nông thôn;
Trang 15- Trên cơ sở đó, khảo sát thực trạng các chương trình phát thanh hiện tại cũng như nhu cầu công chúng nông thôn trong tiếp nhận chương trình phát thanh;
- Phát hiện vấn đề và tìm kiếm khuyến nghị khoa học nhằm tiếp tục đổi mới chương trình phát thanh đáp ứng nhu cầu công chúng nông thôn trong tỉnh
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề đổi mới chương trình phát thanh trên sóng đài PTTH Thanh Hóa nhằm đáp ứng nhu cầu công chúng nông thôn
Đối tượng và phạm vi khảo sát: Dựa trên kết quả khảo sát nhu cầu
tiếp nhận thông tin của công chúng nông thôn Thanh Hóa, luận văn tìm kiếm giải pháp, cách thức đổi mới chương trình phát thanh nhằm hướng tới thỏa mãn nhu cầu công chúng Thanh Hóa như trên đã nói, là tỉnh rộng và chủ yếu địa bàn rộng lớn và dân số nông thôn, tác giả dùng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống để khảo sát Tác giả chọn 2 huyện miền núi
và 2 huyện vùng trung du, đồng bằng
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Chương trình thời sự, các tin, bài, chương trình phát thanh trên sóng của Đài Phát thanh và truyền hình Thanh Hoá được thực hiện từ tháng 1 năm 2014 đến tháng 1 năm 2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở vấn đề lý luận
5.1.1 Các quan điểm, chủ trương đường lối, chính sách của Đảng,
Nhà nước Việt Nam về công tác báo chí, đặc biệt là những định hướng, chỉ đạo của Đảng và Nhà nước về việc phát huy vai trò, sức mạnh của phát
Trang 16thanh, truyền hình phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của địa phương
5.1.2 Lý luận về báo chí cách mạng Việt Nam; lý luận báo chí truyền thông chuyên ngành phát thanh
Cơ sở trực tiếp cho vấn đề nghiên cứu là công chúng phát thanh và chương trình phát thanh và sản xuất chương trình phát thanh1 cũng như vấn
đề công chúng truyền thông2
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu được dùng để khảo cứu các vấn đề lý luận liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm xây dựng khung lý thuyết cho đề tài; trọng tâm chú ý của tác giả là nghiên cứu các công trình như Báo phát thanh, Truyền thông-lý thuyết và kỹ năng cơ bản, các tài liêu văn kiện của Đảng, Nhà nước và của tỉnh Thanh Hóa liên quan vấn đề này;
- Phương pháp phân tích chương trình phát thanh được sử dụng để khảo sát các chương trình phát thanh trên sóng đài PTTH tahnh Hóa trong thời gian nghiên cứu-khapr sát Do tần suất và dung lượng các chương trình phát thanh trong thời gian khảo sát khá lớn, cho nên tác giả chỉ chọn ngẫu nhiên 3 chương trình mỗi tuần (thứ 3, thứ 5, thứ bảy; hoặc thứ 2, thứ 4, thứ 6)
- Phương pháp khảo sát tìm kiếm thông tin định lượng qua phương pháp phỏng vấn anket Tác giả lựa chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống như trên đã trình bày Với số lượng huyện miền núi và đồng bằng tương đương, cho nên tác giả chọn 2 huyện miền núi là Thường Xuân và Như Xuân (150 phiếu hỏi cho 2 huyện), 02 huyện trung du và đồng bằng là Triệu Sơn và Hậu Lộc (250 phiếu hỏi cho 2 huyện) Mỗi huyện, tương ứng với tỷ lệ dân
số, chọn 01 xã đại diện cho huyện Theo đó, huyện Thường Xuân chọn xã Xuân Thắng với 80 phiếu hỏi; huyện Như Xuân chọn xã Bãi Trành với 70
1
Trang 17phiếu hỏi Huyện Triệu Sơn chọn xã Dân Lực với 120 phiếu hỏi; huyện Hậu Lộc chọn xã Lộc Sơn với 130 phiếu hỏi Tổng cộng 400 phiếu cho 4 huyện.
- Cũng trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi còn sử dụng
phương pháp phỏng vấn sâu nhằm tìm kiếm thông tin định tính Đối tượng
phỏng vấn sâu được chia ra các nhóm trên địa bàn như sau
+ Nhóm liên quan đến công chúng, bao gồm lãnh đạo sở nông nghiệp và phát triển nông thôn (2 người), lãnh đạo các phòng nông nghiệp các huyện khảo sát (mỗi huyện 2 người, bao gồm phó chủ tịch huyện phụ trách nông nghiệp, trưởng phóng nông nghiệp) Nhóm này sẽ xin ý kiến tổng cộng 10 người
+ Nhóm công chúng, phỏng vấn sâu mỗi huyện trong diện khảo sát 2 người nông dân (một già và một trẻ) Như vậy nhóm này sẽ hỏi 8 người
+ Nhóm các nhà báo, bao gồm 3 phóng viên, biên tập viên và 2 lãnh đạo phòng phát thanh và ban giám đốc đài PTTH tỉnh Nhóm này phỏng vấn 5 người
6 Ý nghĩa của đề tài
- Đề tài sẽ góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận báo chí và lý luận về báo phát thanh, về nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng trên báo phát thanh
- Luận văn là công trình nghiên cứu đề cập một cách cụ thể đến thực trạng của báo phát thanh hiện nay và công tác tuyên truyền, đưa thông tin đến với công chúng vùng nông thôn, đồng thời lý giải nguyên nhân của những thành công và hạn chế, đề ra những giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các chương trình phát thanh trên sóng của Đài Phát thanh và truyền hình Thanh Hóa
Trang 18- Luận văn cũng sẽ đưa ra một số đề xuất về các giải pháp đổi mới trong chương trình phát thanh gồm:
- Nội dung phát thanh (tin, bài)
- Cách thức phát thanh
- Phương tiện phát thanh
- Luận văn cũng sẽ góp một tiếng nói mạnh mẽ dựa trên những kết quả nghiên cứu một cách khoa học về tầm quan trọng và những giá trị thiết thực của hoạt động phát thanh trên sóng phát thanh của Đài PT – TH Thanh Hóa; cũng như sự cần thiết phải phối hợp giữa hoạt động phát thanh trên sóng phát thanh của Đài PT – TH Thanh Hóa với hệ thống các Đài Truyền thanh cơ sở tại các huyện ở địa phương
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, đề xuất giải pháp, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn sẽ được kết cấu 3 chương
Kết cấu cơ bản của luận văn như sau:
Chương 1: Nhận diện nhu cầu công chúng nông thôn của đài phát thanh truyền hình Thanh Hóa
Chương 2: Thực trạng đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng nông thôn và vấn đề đổi mới chương trình phát thanh của Đài PTTH Thanh Hóa
Chương 3: Mấy vấn đề đặt ra và các giải pháp đổi mới chương trình phát thanh của Đài PTTH Thanh Hóa
Trang 19Chương 1 Nhận diện nhu cầu công chúng nông thôn của
Thanh Hóa
1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Báo phát thanh
Báo phát thanh là loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và
hệ thống truyền thanh truyền đi âm thanh, trực tiếp tác động vào thính giác của người tiếp nhận Như vậy, có thể hiểu đây là loại hình báo chí hiện đại
mà đặc trưng cơ bản của nó là “dùng thế giới âm thanh phong phú, sinh động để chuyển tải thông điệp nhờ sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, tác động vào thính giác của người nghe”[1,21]
Báo phát thanh hiện đại có sự phát triển đa dạng và phong phú như phát thanh có hình, phát thanh trên mạng internet, phát thanh trên điện thoại di động Hiện nay, công chúng có thể nghe, xem phát thanh trên truyền hình, mạng internet, nghe đọc tin tức trên điện thoại di động với cách xây dựng nội dung phù hợp
Sự bùng nổ về khoa học kỹ thuật thế kỷ XIX đã thúc đẩy ngành kỹ thuật phát triển tạo cơ sở cho sự đổi mới kỹ thuật truyền thông đại chúng Những phát minh vật lý sau tên tuổi của tác giả bộ truyền tin Ambrose Fleming – cố vấn khoa học của nhà bác học Halia Marconi mở ra những khả năng mới về lý thuyết cho sóng điện từ Báo phát thanh ra đời xuất hiện manh mún khi có sự ra đời của ăng ten vô tuyến điện và sự ra đời của
Trang 20radio Ở Việt Nam, trước Cách mạng tháng 8 năm 1945 chưa có đài phát thanh với tính chất là cơ quan truyền thông đại chúng của một quốc gia có chủ quyền mà chỉ có đài phát thanh tư nhân với công suất nhỏ để quảng cáo thương mại hoặc của đài của thực dân Pháp thực hiện chính sách cai trị Vào tháng 9 năm 1945, chương trình phát thanh đầu tiên của Đài tiếng nói Việt Nam được phát sóng và radio trở thành phương tiện truyền tin phổ biến ngay sau đó.
Nhìn chung, phát thanh được hiểu như sau: “Phát thanh là một loại hình truyền thông đại chúng trong đó nội dung thông tin được truyền tải qua âm thanh”[1,20] Âm thanh đó bao gồm ba yếu tố: lời nói, âm nhạc và tiếng động Có hai loại hình phát thanh chính là: phát thanh qua sóng điện
từ và phát thanh qua hệ thống dây dẫn Báo phát thanh được hiểu là loại hình báo chí mà các tin bài, thông tin được chuyển tải qua thiết bị đầu cuối
là Radio bằng ngôn ngữ Báo phát thanh ra đời từ thế kỷ 19, có ưu điểm thông tin nhanh nhưng cũng có nhược điểm là không trình bày được các hình ảnh minh họa Sự xuất hiện của vệ tinh vào thế kỷ XX đã tạo ra cuộc cách mạng lớn trong thông tin đại chúng giúp cho tín hiệu phát thanh và truyền hình được truyền đi khắp thế giới một cách mạnh mẽ và nhanh chóng Báo phát thanh được đánh giá dựa trên những ưu thế như tính tiện lợi, kỹ thuật đơn giản, thiết bị gọn nhẹ và phương thức tiếp nhận thông tin linh hoạt vì báo mạng và báo truyền hình cần những thiết bị phức tạp hơn
Báo phát thanh thường được phân chia thành các loại: đài phát thanh thương mại, đài phát thanh quảng cáo, đài phát thanh giáo dục, đài phát thanh chính trị xã hội Mỗi nước đều có hệ thống phát thanh của nhà nước
để thực hiện nhiệm vụ công cộng hoặc các mục đích chính trị, xã hội của chính phủ và có quy mô và phạm vi ảnh hưởng tùy thuộc vào điều kiện chính trị của từng quốc gia cụ thể Báo phát thanh không dùng hình ảnh nhưng thông qua những phương tiện âm thanh để diễn đạt, truyền tải ý nghĩa của thông điệp một cách chính xác, hình tượng Hơn nữa, báo phát
Trang 21thanh vô cùng gần gũi vì những phát thanh viên và kỹ thuật viên sẽ dùng những âm thanh hết sức trung thực, gần gũi và đời thường.
Là một loại hình truyền thông độc đáo, hấp dẫn, có khả năng tạo được sức hút và thiện cảm đối với đông đảo công chúng, báo phát thanh có tầm quan trọng rất lớn trong công tác tuyên truyền, cổ động, nhất là trong các lĩnh vực giáo dục, y tế Báo phát thanh có khả năng tác động đến công chúng và mọi tầng lớp dân cư tuy vậy mỗi nhóm lại chịu tác động của báo chí với phạm vi, tính chất, mức độ và hiệu quả khác nhau và thường bị tác động bởi xu hướng báo chí Báo phát thanh là cầu nối để công chúng cập nhật và tiếp xúc thông tin với thế giới xung quanh Không phủ nhận rằng các sản phẩm báo phát thanh thường hướng vào nhóm công chúng báo chí
để tác động, nhằm lôi kéo, thu phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình Đồng thời, công chúng còn tương tác trở lại, tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm – phát tán thông tin, giám sát, quyết định vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm báo chí Vai trò của báo phát thanh trước hết là để thỏa mãn nhu cầu thông tin của xã hội Xã hội càng hiện đại, việc phổ biến thông tin trên quy mô đại chúng càng trở nên quan trọng và vì vậy, sự phụ thuộc, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các phương tiện thông tin đại chúng và xã hội càng trở nên chặt chẽ Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, vai trò tích cực của báo phát thanh càng thúc đẩy nhanh hơn quá trình xã hội hóa các hoạt động giám sát và phản biện xã hội Bằng tính chân thật, khách quan, báo phát thanh thực hiện vai trò quản lý xã hội thông qua hoạt động phản biện
và giám sát xã hội Tính công khai, công cộng là một xu thế tất yếu, là biểu hiện quan trọng của nền dân chủ, trong đó có quyền được thông tin và tự do ngôn luận Hơn thế, báo phát thanh còn mang tính đại chúng, do vậy, nó tác động tới xã hội rộng rãi, bao gồm các tầng lớp, các nhóm xã hội khác nhau
Ưu điểm của báo chí nói chung và báo phát thanh nói riêng là diễn đàn của nhân dân và phù hợp với nhu cầu tiếp nhận của công chúng Bởi vậy, báo
Trang 22phát thanh là nhân tố, phương tiện có sức mạnh đặc biệt to lớn trong việc định hướng nhận thức, hình thành dư luận xã hội Trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, mỗi thông tin trên báo phát thanh đều có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến vị thế, diện mạo của quốc gia, dân tộc.
1.1.2 Khái niệm chương trình phát thanh
Chương trình phát thanh là sự tổ chức các tin tức, bài, tài liệu cùng các chất liệu khác trong phát thanh theo thời lượng nhất định, mục đích nhất quán và nhằm vào đối tượng công chúng cụ thể Trong thực tế, tùy theo mỗi loại, mỗi chương trình phát thanh có đối tượng tác động riêng và nội dung phản ánh cũng như phương thức thực hiện riêng Thính giả có thể phân biệt được các chương trình phát thanh phụ nữ với chương trình thiếu nhi, chương trình vì an ninh tổ quốc với chương trình thời sự Mỗi chương trình đều có sự phân công và chuyên môn hóa trong quá trình lao động tạo
ra cho các chương trình phát thanh và có sự phân định rõ ràng Quá trình tiếp nhận của công chúng gắn liền với các chương trình phát thanh
Một chương trình phát thanh được xác định là “mở đầu bằng nhạc hiệu và kết thúc bằng lời chào tạm biệt Ngay sau nhạc hiệu là lời xướng của phát thanh viên, chỉ ra tên hoặc đặc trưng của chương trình” Nhạc hiệu hoặc nhạc chương trình là một thông báo chính thức giúp người nghe phân biệt được đài phát thanh quốc gia này, tỉnh này, huyện này so với các đơn
vị khác Nhạc chương trình để phân biệt các chương trình khác nhau của đài và người nghe có khả năng nhận diện đó là chương trình nào ngay từ những phút đầu nghe nhạc hiệu hoặc nhạc chương trình Lời xướng của phát thanh viên được dùng như lời thông báo ngắn gọn cho tên chương trình phát thanh bao gồm tên chương trình, địa chỉ, tần số sóng và thường
đi kèm với nhạc hiệu của chương trình Cấu trúc của chương trình phát thanh đều được quy định cụ thể và thường có ba phần: tin – bài – tiết mục
và được chia thành những đoạn nhạc cắt Các chương trình chuyên đề thường có hai phần trở lên và được phân bằng nhạc cắt và có thể tăng lên
Trang 23về số lượng nếu như chương trình có thời lượng lớn Khi kết thúc một chương trình, phát thanh viên sử dụng lời kết hoặc lời chào hẹn gặp lại tạo
sự thân thiện và duy trì sự chú ý của người nghe đối với vấn đề họ quan tâm
Dựa vào đặc điểm, nội dung, mục đích thông tin và đối tượng người
ta chia chương trình phát thanh thành 4 loại chính là chương trình tin tức, thời sự tổng hợp, chương trình chuyên đề, chương trình giải trí và chương trình giáo dục Việc phân loại này cũng có thể dựa trên tiêu chí đặc điểm nội dung, mục đích thông tin và đối tượng Cách phân loại này không chính xác hoàn toàn vì người ta có thể phân loại các chương trình phát thanh theo phương pháp và kỹ thuật sản xuất (chương trình sản xuất tại studio, chương trình sản xuất trực tiếp tại hiện trường; chương trình kết hợp giữa studio và hiện trường) hoặc phân loại theo lĩnh vực phản ánh
1.1.3 Công chúng và công chúng nông thôn
Theo từ điển tiếng Việt (2006), công chúng được hiểu là toàn bộ những người đọc, người xem, người nghe trong quan hệ với tác giả, diễn viên [20,48] Nhưng để hiểu một cách sâu sắc hơn về “công chúng” cần đặt vào bối cảnh lý thuyết về marketing Theo nghĩa rộng thì công chúng là tất
cả mọi người trong xã hội Tuy nhiên đối với một tổ chức cụ thể thì công chúng lại không phải như vậy và công chúng trong mối quan hệ của bộ môn Quan hệ cộng đồng cũng không hướng đến một “công chúng nói chung chung” Khái niệm công chúng của Quan hệ cộng đồng là: “Công chúng của một cá nhân hay tổ chức là tất cả các cá nhân, các nhóm người hay các tổ chức có những mối liên hệ nhất định với cá nhân hay tổ chức đó”[17,66] Công chúng không chỉ là nhóm người ảnh hưởng đến các chính sách, quyết định của một tổ chức, công chúng còn nhìn nhận những vấn đề của cơ quan tổ chức một cách khách quan Xét trong mối liên quan với tổ chức, có hai loại công chúng là công chúng ngoại vi và công chúng nội vi Công chúng ngoại vi là đối tượng công chúng bên ngoài tổ chức, bao gồm
Trang 24khách hàng, cộng đồng, giới truyền thông… Đối tượng công chúng này chiếm giữ số lượng lớn so với đối tượng công chúng nội vi Tuy rằng đối tượng này không hẳn quan tâm sâu sắc đối với tổ chức cho lắm, họ vẫn quan tâm tới những vấn đề của tổ chức Có thể nói, thông qua nhóm công chúng ngoại vi, tiếng tăm hoặc sự tai tiếng của tổ chức được biết đến rộng rãi hơn Công chúng nội vi bao gồm những đối tượng liên quan trực tiếp đến sự phát triển của tổ chức, ví dụ nhân viên, giám đốc quản lý… Họ rất quan tâm đến sự phát triển của tổ chức bởi điều đó đi liền với lợi ích của bản thân họ Nhóm công chúng đóng góp rất nhiều cho sự phát triển của tổ chức.
Công chúng báo chí là những người đọc, người nghe, người xem các sản phẩm của báo in, báo phát thanh, báo truyền hình và và báo internet Đây có thể là toàn thể xã hội hay một nhóm đối tượng và cũng có thể là một người nhất định trong một thời điểm nào đó khi họ tiếp cận và tiếp nhận thông tin từ các loại hình báo chí nói trên Xã hội có nhiều người thuộc nhiều thành phần khác nhau, họ là nguồn sáng, tạo vô bờ bến của các nhà báo Con người trong xã hội nói chung và cả các nhà báo nói riêng đều
là đối tượng tác dộng của báo chí Khi tác động hoặc hướng tới để tác động thì bao giờ cũng có mục đích cụ thể hoặc cung cấp thông tin làm thay đổi nhận thức, quan niệm hoặc thay đổi khơi nguồn cảm hứng…
Công chúng báo chí chính là đối tượng mà báo chí trực tiếp hoặc gián tiếp tác động, hướng tới nhằm gây ảnh hưởng trong quá trình thông tin Công chúng báo chí cũng chinnhs là mục tiêu, là đích hướng tới của mọi loại hình báo chí: báo in, phát thanh, truyền hình và bso internet Như vậy, trong đó bao gồm cả công chúng trực tiếp, công chúng gián tiếp, công chúng đích, công chúng tiềm năng,…
Theo cuốn Cơ sở lí luận báo chí (2012) của tác giả Nguyễn Văn
Dững, khái niệm công chúng báo chí được hiểu là quần thể dân cư hay
Trang 25nhóm đối tượng mà báo chí gây ảnh hưởng Như vậy, công chúng báo chí được xem xét trong mối quan hệ với sản phẩm báo chí, với cơ quan báo chí
và với nhà báo [16,tr.139]
Tùy theo đặc điểm của mỗi loại hình báo chí mà có thể xác định những khác biệt của từng loại công chúng Chẳng hạn như : với báo in, công chúng là bạn đọc; với báo phát thanh, công chúng là người nghe; với truyền hình, công chúng là người xem; báo internet được coi là loại hình đa phương tiện
Báo chí là loại hình thông tin mang tính phổ biến, nhanh nhạy Khi được công chúng đón nhận hay tham gia vào hoạt động báo chí, cũng chính
là khi báo chí hoàn thành một công đoạn rất quan trọng của mình; đó là làm cho hoạt động báo chí gây ảnh hưởng, hướng tới hiệu quả nhất định
Công chúng báo chí đa dạng phản ánh sự khác biệt của các loại hình báo chí, cũng như sự phong phú của các ấn phẩm báo chí Có thể dựa vào tính chất của mỗi tờ báo để xác định được các nhóm công chúng khác nhau Ví dụ như : công chhúng của báo chí chuyên ngành, công chúng của báo chí chính trị- xã hội, văn hóa xã hội, công chúng của báo chí địa phương…
Mỗi tờ báo thực hiện tôn chỉ, mục đích của mình bằng việc đáp ứng
nhu cầu của một nhóm công chúng nhất định Ví dụ : báo Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có công chúng chủ yếu là cán bộ, chiến sĩ phục vụ trong quân đội, công an; báo Hoa học trò có công chúng chunhs là lứa tuổi học sinh, báo người cao tuổi có công chúng chủ yếu là người cao tuổi; báo
Hà Nội mới có công chúng chính là cán bộ, đảng viên và nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội, báo Sài Gòn giải phóng có công chúng chính là cán
bộ, chiến sĩ phục vụ trong quân đội, công an, học sinh phổ thông, người cao tuổi,… mà đối tượng chính thường là những người hoạt động trong lĩnh vực kinh tế, thương mại, có trình độ tương đối và tuổi đời cũng không phải
Trang 26còn trẻ,… Song vẫn có một lượng công chungs ngoài công chúng chunhs cũng quan tâm tiếp nhận thông tin từ những cơ quan báo chí đó.
Tuy nhiên, sự khác biệt đó chỉ là tương đối, bởi sự giao thoa của các nhóm công chúng là một thực tế sinh động Cũng như các loại hình truyền thông khác, công chúng báo chí cũng có thể là công chúng âm nhạc hay công chúng hội họa,… Xét ở từng góc độ, sự thích ứng của mỗi nhóm công chugs cũng như mỗi loại hình truyền thông, đều có thể đưa lại những xem xét, đánh giá về đặc điểm, vai trò một cách khác nhau,…
Công chúng phát thanh còn gọi là thính giả hoặc bạn nghe đài Nó có thể chỉ một nhóm hoặc chỉ cụ thể một người trong xã hội Công chúng phát thanh có thể được hiểu là nhóm lớn xã hội được chương trình phát thanh tác động hoặc nhóm lớn mà chương trình phát thanh hướng tới để tác động Công chúng có tiềm năng và công chúng thực tế, công chúng trực tiếp và công chúng gián tiếp là 4 loại công chúng thường được nhắc đến Công chúng tiềm năng là nhóm lớn xã hội mà chương trình hướng đến ví dụ như công chúng nông thôn, công chúng thành thị Tuy nhiên không phải tất cả mọi thành viên trong nhóm lớn xã hội mà chương trình nhắm vào để tiếp nhận các chương trình phát thanh Mà thực tế những bộ phận tiếp nhận sản phẩm phát thanh được gọi là công chúng thực tế Công chúng gián tiếp là những người được công chúng trực tiếp nghe kể lại thông điệp mà họ nghe
từ các chương trình phát thanh vì vậy các chương trình trên radio vừa hướng đến nhóm đối tượng cụ thể và vừa hướng đến nhóm đối tượng quần chúng Một chương trình không chỉ giành riêng cho một nhóm đối tượng riêng biệt Việc tìm hiểu công chúng nói chung và từng nhóm đối tượng nói riêng để đáp ứng nhu cầu cụ thể nâng cao hiệu quả tác động của báo chí là điều cần thiết đối với báo chí hiện đại Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn
để nâng cao chất lượng chương trình và các ấn phẩm báo chí, nâng cao năng lực nghiên cứu, dự báo, giám sát xã hội của báo chí
Trang 27Công chúng nông thôn là thuật ngữ chỉ nhóm đối tượng quan trọng cần tìm hiểu về nhu cầu và điều kiện tiếp nhận thông tin báo chí nói chung
và phát thanh nói riêng Công chúng nông thôn được hiểu là những người tiếp nhận thông tin báo chí nói chung sống ở vùng nông thôn và sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp Công chúng nông thôn là một trong các nhóm công chúng báo chí, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên sự thành công hoặc thất bại của một sản phẩm báo chí
1.1.4 Nhu cầu và nhu cầu thông tin
Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu mà con người cảm thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Thuyết nhu cầu nổi tiếng nhất là thanh nhu cầu của Maslow, dựa trên nhu cầu của cá nhân, ông phân chia thành 5 cấp bậc từ thấp đến cao theo hình kim tự tháp Mức thấp là nhu cầu về sinh
lý là nền tảng của hệ thống phân cấp nhu cầu, và được ưu tiên hàng đầu bao gồm ăn uống, nghỉ ngơi, bài tiết, vận động và nhu cầu an toàn bao hàm cả
an toàn về tính mạng và an toàn về tinh thần Ở mức cao, con người có nhu cầu xã hội: nhu cầu tình cảm quan hệ bạn bè, hàng xóm, gia đình và xã hội Nhu cầu tự trọng: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả lao động của mình Nhu cầu tự khẳng định: là mức cao nhất trong hệ thống phân cấp nhu cầu của Maslow
Nhà triết học Aristot cho rằng con người có hai loại nhu cầu chính: thể xác và linh hồn, sự phân loại này mang tính ước lệ lớn nhưng ảnh hưởng đến tận ngày nay
Boris M.Gkin chia nhu cầu ra 2 nhóm: nhu cầu tồn tại và nhu cầu đạt mục đích sống Nhu cầu tồn tại gồm nhu cầu sinh lý, nhu cầu an toàn và nhu cầu tham dự Trong nhu cầu đạt mục đích có bốn nhóm:
1 Giàu có về vật chất
2 Quyền lực và danh vọng
3 Kiến thức và sáng tạo
Trang 284 Hoàn thiện tinh thần
Tùy vào xu hướng của mỗi cá nhân mà một trong bốn nhu cầu trên thể hiện mức độ Có thể một người hiện diện cả bốn dạng nhu cầu đó nhưng ở các giai đoạn khác nhau trong đời
Nhìn chung, nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng Trong tâm lý con người, nhu cầu được nhận thức dần dần Khi đối tượng của nhu cầu được nhận thức đầy đủ, tất yếu phải thực hiện thì lúc đó nhu cầu trở thành động
cơ thúc đẩy con người nhằm hướng tới đối tượng Nội dung của nhu cầu do những phương thức và điều kiện thỏa mãn nó quy định
Lặp đi lặp lại của một sự việc hay thời gian để kết thúc một vòng quay, một chu trình Như vậy, nhu cầu có tính chu kỳ và nó thường xuyên xuất hiện trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta Nhu cầu của con người khác
xa về chất so với nhu cầu của con vật, nhu cầu của con người mang bản chất xã hội
Nhu cầu của con người rất phong phú và đa dạng, có thể phân thành 4 nhóm: nhu cầu vật chất, nhu cầu tinh thần, nhu cầu lao động và nhu cầu giao tiếp
Các loại nhu cầu chủ yếu của con người bao gồm nhu cầu vật chất gắn liền với sự tồn tại cơ thể, đây là những nhu cầu cơ sở và sơ đẳng nhất của con người như ăn uống, mặc…Chính nó thúc đẩy hoạt động lao động và sáng tạo của con người, làm ra của cải vật chất Nhu cầu vật chất là nhu cầu
cơ bản nhất của con người, nếu nhu cầu này không đươc đáp ứng thì các nhu cầu khác thì khó có thể đạt được
Nhu cầu tinh thần bao gồm nhu cầu hiểu biết và nhu cầu thẩm mỹ Nhu
cầu vật chất thường gắn liền với nhu cầu tinh thần, con người thường thích
ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn, ở tốt hơn,… đó là nhu cầu thẩm mỹ
Trang 29- Nhu cầu thẩm mỹ có thể nói là một động lực quan trọng giúp ta sáng
tạo ra cấc tác phẩm nghệ thuật, giúp cuộc sống của con người trở nên hoàn thiên, thú vị hơn
- Nhu cầu hiểu biết là nhu cầu mà con người cần có kiến thức về cuộc sống xung quanh mình như tự nhiên, kinh tế, xã hội… Nhu cầu hiểu biết là nhu cầu quan trọng không thể thiếu để duy trì cuộc sống hàng ngày Vì nếu bạn không có chút kiến thức nào về cuộc sống thì chúng ta không thể nào tồn tại được
Nhu cầu lao động là đòi hỏi khách quan phải được thỏa mãn về hoạt động chân tay và hoạt động trí óc nhằm cải tạo thiên nhiên, cải tạo xã hội
và cải tạo con người Nhờ quá trình lao động và thông qua lao động mà tư duy con người ngày càng hoàn thiện và phát triển từ người nguyên thủy cho đến người hiện đại Tuy cùng chung sống trong một xã hội nhưng nhu cầu lao động của mỗi người rất khác nhau, đó là kết quả của giáo dục và tự giáo dục
Nhu cầu giao tiếp là nhu cầu quan hệ giữa người này và người khác: giữa cá nhân và nhóm, giữa nhóm này với nhóm khác Thông qua đó mà nhân cách, các mối quan hệ liên quan nhân cách hình thành và phát triển Người lãnh đạo cần hiểu rõ nhu cầu này và vận dụng chúng vào quá trình quản lý, cần lựa chọn hình thức giao tiếp rộng rãi và lựa chọn trong giao tiếp Trong giao tiếp sẽ biểu lộ ra cả chỗ mạnh và yếu của con người Nếu nhu cầu lao động giúp con người ngày càng tiến hóa hơn, phát triển hơn, thì nhu cầu giao tiếp giúp con người mở rộng thêm được kiến thức, phát triển các mối quan hệ xã hội – thứ không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày
Trong nghiên cứu này, khái niệm nhu cầu được xem xét như là đối tượng nghiên cứu liên ngành của các lĩnh vực báo chí học, xã hội học, nhu cầu xã hội, nhu cầu tâm lý Nghiên cứu nhấn mạnh vào mục đích nhu cầu,
Trang 30nhu cầu được đáp ứng, nhu cầu chưa được đáp ứng, nhu cầu tiếp nhận để phát thông tin.
Nhu cầu thông tin: Trong thời đại kinh tế tri thức và thời đại công nghệ,
khiến cho thông tin ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng và ảnh hưởng sâu sắc tới mọi hoạt động của con người, đặc biệt là công tác quản lý và điều hành cũng như các hoạt động sản xuất Nhu cầu thông tin là những đòi hỏi về mặt thông tin có tác dụng thúc đẩy các hoạt động nghiên cứu, học hỏi Hoạt động khai thác thông tin trước hết là hoạt động cá nhân và chịu ảnh hưởng bởi những đặc tính riêng của cá nhân đó là chủ thể của nhu cầu thông tin Việc nghiên cứu nhu cầu thông tin thường thực hiện cũng khó khăn phức tạp vì nhu cầu của người dùng tin thường biến đổi theo thời gian
và chịu ảnh hưởng bới các yếu tố văn hóa, xã hội, lứa tuổi, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, tâm lí, sức khỏe, lối sống Trong đó nghề nghiệp có ảnh hưởng lớn nhất đến nhu cầu người dùng tin, ở góc độ quan trọng nhất là nội dung thông tin Bên cạnh đó, những thói quen, sở thích cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu thông tin Nghiên cứu người dùng tin cũng chính là nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cung cấp thông tin và bên có nhu cầu thông tin và mức độ thỏa mãn và các nhân tố ảnh hưởng đến nhu cầu tin.Căn cứ vào tiêu chí nghề nghiệp, công chúng có thể có nhu cầu đón nghe một số chương trình phát thanh, nông nghiệp nông thôn, môi trường
và phát triển, đầu tư tài chính, khoa học công nghệ, vì an ninh tổ quốc, quân đội nhân dân Căn cứ vào sở thích, công chúng có nhu cầu nghe một
số chương trình như: tạp chí nông nghiệp, tạp chí giáo dục, sức khỏe và đời sống, phổ biến kiến thức, góc nhìn thể thao, văn hóa giải trí Căn cứ vào
độ tuổi, giới tính, công chúng có nhu cầu tiếp nhận các dạng chương trình như chương trình phát thanh giành cho thiếu nhi, chương trình phát thanh thanh niên, chương trình phát thanh phụ nữ, câu lạc bộ người cao tuổi, cựu chiến binh và các chương trình khác
Trang 311.2 Thực trạng nhu cầu thông tin của công chúng nông thôn ở Thanh Hóa
Sản phẩm báo chí là sản phẩm hoàn chỉnh về nội dung cũng như hình thức chuyển tải như tờ báo in, tờ báo mạng, chương trình phát thanh, truyền hình, báo chí trên điện thoại di dộng
Đến với các sản phẩm báo chí, công chúng luôn có nhu cầu tiếp nhận thông tin Sự tiếp nhận ấy thường theo một xu hướng nhất định, như: ưa thích một loại hình báo chí hoặc một loại hình thông tin nhất định Sự tiếp nhận này có thể là bị động hay chủ động song nó mang tính tương tác rất cao giữa sản phẩm báo chí – cơ quan báo chí – công chúng trong nền báo chí hiện đại Từ đó, báo chí ngày càng phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu công chúng
Cũng như công chúng cả nước, công chúng nông thôn tỉnh Thanh Hóa cũng không có nhiều những sự khác biệt so với những nhóm độc giả và thính giả tại các tỉnh thành khác Công chúng Thanh Hóa cũng có nhu cầu lớn trong tiếp nhận sản phẩm báo chí Đặc biệt, đối với công chúng nông thôn ở Thanh Hóa, các sản phẩm báo chí đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày Tuy nhiên, sự tiếp nhận sản phẩm báo chí của công chúng nông thôn Thanh Hóa đi theo xu hướng nào? Công chúng ưa thích sản phẩm của báo in, báo phát thanh, báo truyền hình hay báo mạng điện tử?
Để hiểu rõ điều này, chúng tôi đã thực hiện một cuộc khảo sát với bà con nông dân ở 4 huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa phân chia theo địa hình cư trú: địa hình miền núi: huyện Thường Xuân và Như Xuân; địa hình trung du, đồng bằng: Huyện Triệu Sơn; địa hình biển: huyện Hậu Lộc Nội dung khảo sát nằm ở xoay quanh nhu cầu thông tin của công chúng nông thôn ở Thanh Hóa (xem phần I trong phiếu khảo sát công chúng ở Phụ lục)
1.2.1 Nhu cầu tiếp nhận loại hình báo chí
1.2.1.1 Nhu cầu tiếp nhận các loại hình báo chí
Trang 32Qua câu hỏi 1: “Ông (bà) thường tiếp nhận thông tin báo chí trên kênh
nào?”, ta có bảng sau:
Bảng 1.1 Mức độ tiếp nhận các loại hình báo chí của công chúng nông thôn Thanh Hóa
người được hỏi)
Nhìn vào bảng, ta thấy được công chúng nông thôn ở Thanh Hóa cũng
tiếp nhận các loại hình báo chí khá đa dạng: có cả báo hình, báo in, báo phát thanh và báo mạng Có được điều đó là vì tại Thanh Hóa hiện nay, các loại hình báo chí đều phát triển đa dạng Về báo hình, ngoài những chương trình quốc gia như truyền hình quốc gia, kênh truyền hình cab, các chương trình của Đài Phát thanh – truyền hình Thanh Hóa, mỗi huyện sẽ có một đài Truyền Thanh riêng Ngoài việc phổ biến sách báo in, internet mang tính phổ cập chung cho cả nước, Thanh Hóa còn xây dựng cả nguồn báo chí riêng, như: Báo Thanh Hóa (gồm có báo in và báo điện tử), Báo Văn Hóa
và đời sống (bản báo in và báo điện tử), các tạp chí, tập san của ban ngành như: tạp chí Giáo dục, Văn nghệ xứ Thanh… Nhờ sự phong phú đó từ báo chí, không gian sống của công chúng nông thôn được mở rộng Người dân nắm bắt được nhịp sống của địa phương, quốc gia và của nhân loại đặt trong mối quan hệ toàn cầu Thật vậy, các thông tin kinh tế nóng về chính trị, kinh tế, xã hội diễn ra trên khắp hành tinh đều có thể đến được với người đọc, người nghe một cách nhanh chóng Nhìn chung các sản phẩm báo chí ở Thanh Hóa hiện nay đem đến cho công chúng nông thôn cái nhìn khá toàn diện và sâu sắc về tình hình cuộc sống, những đấu tranh trên mọi lĩnh vực từ xã hội cho đến công chúng nông thôn về nếp sống, cách sống,
Trang 33kiến thức làm việc, học tập, vui chơi, giải trí và những khó khăn trong cuộc sống, những sự kiện chính trị, kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của
họ ra sao, những thuận lợi gì mà họ có được
Trong đó, nhu cầu tiếp nhận từng loại hình báo chí của bà con nông thôn Thanh Hóa lại có sự khác nhau Dựa vào câu hỏi về thời gian theo dõi các chương trình, sản phẩm của từng loại hình báo chí trong phiếu khảo sát (câu 1 phần I ở Phụ lục), ta có thể hình dung cụ thể sự tiếp nhận của công chúng với từng loại hình như sau:
Mức độ xem truyền hình hằng ngày của công chúng Thanh Hóa cao nhất trong các loại hình báo chí 89% số người được hỏi trả lời rằng họ thường xuyên xem tivi hàng ngày Thời lượng xem trung bình trong ngày cũng cao (phần lớn công chúng xem từ 3 giờ tới 6 giờ)
Lí do rất dễ hiểu: đó là vì hiện nay tivi rất phổ biến, việc phủ sóng truyền hình cũng rộng khắp Cơ sở vật chất ấy tạo điều kiện lớn để người dân xem được các chương trình truyền hình Hơn nữa, truyền hình kết hợp được cả hình ảnh, âm thanh với hiệu ứng tác động lớn hơn, nhanh hơn, giúp người dân vừa dễ theo dõi vừa thích thú Các chương trình ti vi lại được đều đặn phát hàng ngày với số lượng kênh đa dạng, đặc biệt với sự
Trang 34xuất hiện của truyền hình Cab, các thiết bị vô tuyến truyền hình có thể bắt sóng được nhiều kênh hơn ngoài những kênh quốc gia, đa dạng loại hình chương trình thông tin Tỷ lệ thuận với việc được công chúng lựa chọn sử dụng nhiều nhất, truyền hình cũng được đánh giá có chất lượng nội dung và
độ tin cậy của thông tin cao nhất và vượt trội so với các loài hình báo chí còn lại Lý do chủ yếu là bởi nội dung đăng tải trên truyền hình được kiểm duyệt chặt chẽ, ê kíp làm việc chuyên nghiệp, hình ảnh được quay tại hiện trường cũng sinh động
Tuy nhiên, xét trong khoảng từ 2006 trở lại đây, trong cả nước tỷ lệ người theo dõi truyền hình có sự sụt giảm khá rõ rệt qua khảo sát của các công ty truyền thông Sự suy giảm này là một xu thế chuyển dịch tất yếu công chúng suy giảm về số lượng tổng cũng như mức độ xem hàng ngày, tuy nhiên công chúng của các kênh, các chương trình, đặc biệt các chương trình hấp dẫn sẽ gia tăng do sự bùng nổ, cạnh tranh mạnh mẽ của các kênh, các Đài trung ương cũng như địa phương Ví dụ như công chúng sẽ theo dõi ti vi thời lượng khoảng dưới 3 tiếng một ngày nhưng số lượng công chúng tập trung vào các bộ phim dài tập lại tăng lên
- Phát thanh (nghe đài)
Bảng 1.3: Mức độ nghe đài của công chúng nông thôn Thanh Hóa
Thời gian nghe Số công chúng nghe (tính theo % số người
Trang 35Mức độ nghe đài hằng ngày của công chúng Thanh Hóa khá cao (chỉ sau truyền hình) 60% số người được hỏi trả lời rằng họ thường xuyên nghe đài hàng ngày Sở dĩ hình thức nghe đài phát triển là vì nó phù hợp với điều kiện vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa ở Thanh Hóa (trong mẫu điều tra ở 100% số người được hỏi thuộc khu vực nông thôn) Thanh Hóa là tỉnh có lãnh thổ nông thôn rộng, đặc biệt có phần nông thôn ở miền núi với đại bộ phận người dân tộc Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú sinh sống Trước đây có một bộ phận những người dân tộc có tục quán du canh du cư, dựa vào nương rẫy, sau những cuộc vận động định canh định cư, nhiều người Dao, Mông, Khơ Mú đã xuống núi tập trung sản xuất đa canh, thâm canh Theo Niên giám thống kê 2011, tỉnh Thanh Hóa có diện tích đất nông nghiệp 861.911 ha, chiếm 77,42% tổng diện tích Hầu hết dân cư sinh sống
ở vùng nông thôn và miền núi Năm 2012, dân số nông thôn chiếm 85,6% dân số toàn tỉnh Với địa hình, dân cư như vậy là điều kiện để loại hình báo phát thanh trở nên phù hợp với đại bộ phận nhân dân Không cần đầu tư nhiều, chỉ với một chiếc đài nhỏ, người dân có thể lắng nghe nhiều chương trình phong phú, cập nhật tin tức hàng ngày Đa phần các gia đình nông thôn ở Thanh Hóa đều trang bị radio (hơn 50%) bao gồm cả radio trong điện thoại di động Tuy nhiên, thời lượng nghe trung bình trong ngày chủ yếu dưới 1 giờ Điều này phản ánh người dân chưa chọn báo phát thanh làm phương tiên giải trí mà chủ yếu mới tìm hiểu tin tức nhanh chóng
- Báo in (đọc báo)
Bảng 1.4: Mức độ đọc báo của công chúng nông thôn Thanh Hóa
Thời gian đọc Số công chúng đọc (tính theo % số người
Trang 363 – 6h/ngày
Trên 6h/ngày
00
Tỉ lệ tiếp nhận thông tin trên báo in của công chúng nông thôn Thanh Hóa ở mức thấp Thời lượng đọc báo của công chúng phần lớn ở mức dưới 1h/ngày (mức độ thấp) Nguyên nhân chính là do sự hạn chế về điều kiện kinh tế Người dân ngại bỏ ra một khoản tiền để mua báo đều đặn hàng tháng Thư viện ở nông thôn chưa phát triền, đặc biệt vùng miền núi Tủ sách ở các điểm bưu điện xã còn nghèo nàn, đa số là sách báo cũ Thường đọc báo chỉ là thói quen với bộ phận trí thức, học sinh, sinh viên Với đại
bộ phận là nông dân, công chúng nông thôn Thanh Hóa vẫn ngại tiếp cận với loại hình báo chí này Hiện nay, tỷ lệ sử dụng báo in của người nông dân đang có xu hướng giảm do sự phát triển của công nghệ cũng như khoản chi phí chi thêm để mua báo in cũng khá lớn Hoàn toàn có thể hiểu được
sự suy giảm của báo in mặc dù những ưu việt của nó trong khi tiếp nhận như vận chuyển dễ dàng, chi phí đặt báo từ phía cơ quan trả tiền Nhưng trên thực tế, ngoài các đơn vị sự nghiệp và công ty, cán bộ công chức như hội thanh niên, phụ nữ, người cao tuổi, ủy ban nhân dân, các phòng ban cơ quan có đặt báo hàng ngày thì số lượng người dân vùng nông thôn tự đặt báo in khá ít
- Báo mạng (Sử dụng internet/máy tính)
Bảng 1.5: Mức độ đọc báo mạng của công chúng nông thôn Thanh Hóa
Thời gian đọc Số công chúng đọc (tính theo % số người
Trang 37Trên 6h/ngày 0
Tỉ lệ công chúng ở nông thôn Thanh Hóa đọc báo mạng thấp hơn nhiều so với việc tiếp nhận các loại hình báo chí khác Tuy nhiên, tỉ lệ này cũng là đáng mừng ở một vùng nông thôn Nó chứng tỏ sự bùng nổ của internet, loại hình báo mạng và các trang thông tin điện tử đã có sự phát triển không ngừng trong cả nước thời gian qua và nhanh chóng trở nên phổ biến và có lượng độc giả chỉ sau truyền hình Hiện nay, các mạng viễn thông đã có mặt ở hầu hết các khu vực ở Thanh Hóa nên việc tiếp cận thông tin từ Internet không phải là khó khăn với người nông dân Báo mạng, báo điện tử đã không còn xa lạ Nhóm tiếp cận tập trung chủ yếu là nhóm học sinh và các cán bộ công chức tại địa phương, có cơ hội sử dụng với máy tính nhiều hơn.Việc đọc báo mạng tập trung phần lớn ở gia đình
có điều kiện kinh tế, những người làm công việc liên quan tới internet Một khi đã đọc báo mạng, người đọc thường xem rất lâu và ham thích, do vậy thời lượng xem một ngày tương đối cao.Như vậy, dù hiện nay số người đọc chưa cao song theo xu thế chung của cả nước, từ 2008 – 2010, báo mạng và các trang thông tin điện tử đã bắt đầu có sự dịch chuyển, soán ngôi phát thanh Vì thế, việc phát triển loại hình báo mạng ở nông thôn Thanh Hóa vẫn là một sự kì vọng hứa hẹn thành hiện thực
Kết luận chung:
Như vậy, nghe radio và xem truyền hình đối với công chúng nông thôn ở Thanh Hóa vẫn là hai lựa chọn tối ưu trong giai đoạn hiện nay Không phủ nhận được những nhóm thanh niên và nhóm cán bộ có trình độ cao thường lựa chọn phương thức tiếp nhận thông tin là đọc thì công chúng nông dân lại chọn cách nghe, nhìn là chủ yếu Truyền hình với lợi thế là hình ảnh, cộng hưởng của màu sắc, âm thanh, âm nhạc đã tạo nên sức hấp dẫn cho người nông dân Thanh Hóa Sở dĩ do thói quen thích tiếp nhận thông tin từ trực quan sinh động, không cần tư duy nhiều, điều này cũng
Trang 38phù hợp với trình độ, thói quen, văn hóa của người nông dân và họ coi đây
là phương tiện được lựa chọn số một trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin của họ
1.2.2 Nhu cầu về nội dung thông tin
Công chúng vùng nông thôn Thanh Hóa nhìn chung có nhu cầu về nội dung thông tin khác biệt so với những nhóm công chúng ở vùng khác Chúng tôi đã tiến hành điều tra những nội dung thông tin công chúng nông thôn Thanh Hóa quan tâm qua câu hỏi số 2 (phần I thuộc phiếu điều tra) Kết quả thể hiện qua bảng sau:
Bảng 1.6: Khảo sát nhu cầu về nội dung thông tin của công chúng nông thôn Thanh Hóa
Lĩnh vực thông tin Số người quan tâm (tính theo % số
người được hỏi)Lĩnh vực văn hóa, giải trí 56.3
Lĩnh vực thông tin thời sự trong
nước
47.1
Lĩnh vực thông tin thuộc về sản
xuất nông nghiệp
52.8
Lĩnh vực thông tin giáo dục 25.3
Lĩnh vực thông tin quốc tế 32.5
Lĩnh vực thông tin về chủ trương,
tế (32,5%); thông tin về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước (26,8%) Thấp nhất là thông tin giáo dục (25.3%)
Trang 39Từ các số liệu trên cho thấy rằng công chúng vùng nông thôn coi những thông tin vì mục đích giải trí nhiều hơn vì mục đích nâng cao dân trí
và nâng cao kiến thức, cải thiện cuộc sống Khoảng thời gian người nông dân ở Thanh Hóa tiếp nhận thông tin báo chí không hẳn là khoảng thời gian dành cho cho việc mở mang kiến thức mà thường là những những lúc nghỉ ngơi, sau bữa ăn tối, sau bữa ăn trưa, những lúc kết thúc hoạt động lao động chân tay Công việc nông nghiệp thường được kéo dài hơn và chiếm tương đối nhiều trong quỹ thời gian của người làm nông nghiệp vì vậy các phương tiện truyền thông đại chúng chủ yếu nhằm mục đích thư giãn, giải trí nhiều hơn
Thông tin thuộc về lĩnh vực sản xuất nông nghiệp cũng được bà con quan tâm Vì đây là các thông tin ảnh hưởng trực tiếp tới việc sản xuất của
bà con Hơn nữa, với tình hình thời tiết, nông vụ có nhiều biến chuyển bất ngờ, việc theo dõi các bản tin và cách thức sản xuất gần như thành yêu cầu bắt buộc với bà con Ví dụ: như các bản tin bệnh dịch, thiên tai, mùa vụ, bản tin chăn nuôi là lĩnh vực quan tâm của người dân ở nông thôn đồng bằng, miền núi Với người dân vùng biển; những bản tin thời tiết, cảnh báo thiên tai, những bài báo về hướng dẫn cách nuôi trồng và chế biến thủy hải sản… để có thể nâng cao kinh tế từ hải sản hơn là những được quan tâm Tuy nhiên, với 75% dân số làm nông nghiệp mà chỉ có 52,8% người quan tâm tới thông tin về sản xuất nông nghiệp, chứng tỏ số người xem chương trình này vẫn chưa được như mong đợi Điều đó cho thấy rằng, việc tăng cường các kênh thông tin với nội dung, hình thức đa dạng, phong phú và hướng trực tiếp vào công chúng nông thôn cần được các cơ quan thông tin đại chúng quan tâm nhiều hơn nữa Từ đó, tạo được sức hấp dẫn lôi cuốn công chúng nông thôn vào dòng thông tin báo chí, cập nhật và nắm bắt những vốn kiến thức mới, bổ ích về mọi mặt nhằm phục vụ cho lao động, sản xuất, dịch vụ và cuộc sống
Trang 40Thông tin thời sự trong nước là lĩnh vực được quan tâm nhiều thứ ba
Nó chứng tỏ công chúng nông thôn ở Thanh Hoá đã có ý thức cập nhật tin tức mới trong nước để làm phong phú thêm hiểu biết về tình hình kinh tế-
xã hội-chính trị của đất nước Họ theo dõi để biết thêm về những vấn đề phức tạp đặt ra trong xã hội nông thôn hiện đại và cơ chế thị trường, đặc biệt là cơ chế thị trường Từ đó, đưa ra nhìn nhận chính xác, đúng đắn trước mỗi tình huống, nguy cơ; tìm cách để phát triển đời sống kinh tế và
có những lo xa cho công việc, tương lai của mình Nó cho thấy sự năng động của công chúng nông thôn Thanh Hoá hiện nay
Thông tin về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ít được quan tâm nhất Chỉ những bản tin có trực tiếp ảnh hưởng liên quan đến bản thân thì mới thu hút được công chúng Thanh Hóa Còn những tin tức khác thì ít được người nông dân quan tâm hơn mà thay vào đó là các chương trình giải trí, ca nhạc, phim truyện Những vấn đề xảy ra mà có ảnh hưởng đến cuộc sống lợi ích của họ thì mới được chủ động tìm hiểu Ví dụ như: Trường hợp những người dân tại huyện Bá Thước khá quan tâm đến những chương trình làm nước sạch và trồng trọt vì có sự kiện được sự hỗ trợ về phát triển nước sạch và vệ sinh môi trường của tổ chức Phi chính phủ
Vì vậy, người làm báo phải xác định được nhu cầu thật sự của người nông dân, thị hiếu của họ; những lợi ích chi phối họ Từ đó làm căn cứ xây dựng nội dung trong các sản phẩm báo chí Nếu làm được điều này, người nông dân sẽ tiếp nhận thông tin một cách chủ động hơn, tự giác hơn và hiệu quả truyền thông sẽ cao hơn