Tài liệu Ngữ văn ôn thi kì thi quốc gia cung cấp đầy đủ các kiến thức của các bài học văn bản thuộc chương trình Ngữ văn 12. Kiến thức được nâng cao, phù hợp với học sinh muốn thi vào đại học, cao đẳng.Bài học trình bày logic, rõ ràng, đầy đủ, chi tiết; giúp ích cho học sinh trong quá trình học tập.
Trang 1GIÁO ÁN ễN THI ĐẠI HỌC
Bài 2: Nguyễn đình chiểu, ngôi sao sáng
trong văn nghệ của dân tộc
Phạm Văn Đồng
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Phạm Văn Đồng (1906 - 2000) quê ở xã Đức Tân, huyện Mộ Đức tỉnh Quảng Ngãi
- Là nhà chính trị, kinh tế, quản lí đồng thời cũng là nhà văn hoá lỗi lạc, nhà văn nghệ tài
ba, đã để lại nhiều tác phẩm lớn cho dân tộc
- Tham gia các hoạt động yêu nớc và cách mạng từ khi cha đầy hai mơi tuổi Từng bị thựcdân Pháp kết án tù, đày ra Côn đảo Tham gia xây dựng căn cứ địa cách mạng ở biên giới Việt Trung Đớc bầu vào ủy ban dân tộc giải phóng
- Sau cách mạng có nhiều cống hiến trong việc xây dựng quản lí nhà nớc
Từng là trởng phái đoàn chính phủ Việt Nam tham dự các hội nghị : Phông-te-nơ-blô (1946) Giơne vơ về Đông Dơng (1954)
- Đảm nhiệm các cơng vị quan trọng trong chính phủ nh : Bộ trởng Bộ tài chính, Bộ trởng
Bộ ngoại giao, Phó thủ tớng
- Luôn dành mối quan tâm đặc biệt đến mặt trận văn hoá văn nghệ
2 Bài viết: Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc
- Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nớc
- Thơ văn yêu nớc của Nguyễn Đình Chiểu tấm gơng phản chiếu phong trào kháng Pháp oanh liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ
- Lục Vân Tiên một tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu rất phổ biến trong dân
gian nhất là ở Miền Nam
+ Kết bài : “Đời sống, sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu là một tấm gơng sáng” nêu cao
địa vị và tác dụng của văn học nghệ thuật, nêu cao sứ mạng của ngời chiến sĩ trên mặt trậnvăn hoá t tởng
2 Cách nhìn mới mẻ, sâu sắc về Nguyễn Đình Chiểu
Trang 2+ Lâu nay ta có thói quen nhìn các nhà thơ ở bình diện nghệ thuật theo kiểu trau chuốt, gọt giũa, lời lẽ hoa mĩ,…Điều này không thoả đáng và không đúng với hoàn cảnh sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu (do bị mù loà), nên không thấy hết đợc những vẻ đẹp và đánh giá
- Cách nhìn nhận của tác giả mới mẻ, đúng đắn sâu sắc, khoa học
- Cách nhìn nhận này có ý nghĩa điều chỉnh định hớng cho việc nghiên cứu và tiếp cận thơvăn Nguyễn Đình Chiểu
3 Cách nhìn nhận, đánh giá về nhà thơ, nhà văn yêu nớc Nguyễn Đình Chiểu và những sáng tác của ông
a) Cuộc đời và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu :
- Điều đáng trân trọng kính phục đối với cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là tấm gơng sáng chói về tinh thần yêu nớc cháy bỏng và lòng căm thù giặc sâu sắc
- Quan điểm thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu đáng trân trọng ở chỗ: ông luôn dùng thơ văn làm vũ khí chiến đấu chống bọn xâm lợc, ngợi ca chính nghĩa đạo đức đáng quý trọng
ở đời
=> Điều này đã đợc tác giả bài viết làm sáng tỏ bằng cách nêu lên 3 luận điểm chính nhằm giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp thơ văn cao đẹp của Nguyễn Đình Chiểu
b) Thơ văn sáng tác phục vụ chiến đấu chống Pháp xâm lợc bảo vệ tổ quốc :
- Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi
- Cách đánh giá về Văn tế nghĩa sĩ Cần giuộc mới mẻ, sâu sắc và đúng đắn (Từ mạch
nguồn chung của văn thơ yêu nớc mà dẫn đến bài văn tế, tóm tắt đầy đủ nội dung tác phẩm, so sánh với Bình ngô đại cáo).
- Cách viết : Vừa có sự phân tích khoa học vừa có nghệ thuật
c) Truyện thơ Lục Vân Tiên
Tác giả đã có những kiến giải mới mẻ và sâu sắc về Lục Vân Tiên.
+ Về nội dung :
- Mối quan hệ giữa cuộc đời nhà thơ và các nhân vật trong tác phẩm
- Nguyễn Đình Chiểu suốt đời trong lòng quần chúng nhân dân nên ông đã xây dựng thành công các nhân vật chính nghĩa trong tác phẩm để tạo ra những xúc cảm thẩm mĩ trong lòng ngời đọc là nhân đạo
- Họ là những tấm gơng dũng cảm vì những lẽ đó họ gần gũi chúng ta và câu chuyện của
họ làm chúng ta cảm xúc và thích thú
+ Về nghệ thuật :
- Đây là một truyện kể, truyện nói
- Thông cảm với điều kiện hoàn cảnh sáng tác của nhà thơ để nhận ra những giá trị nghệ thuật đặc sắc của tác phẩm
- Tác giả cố viết một lối văn “nôm na dễ hiểu, dễ nhớ có thể truyền bá rộng rãi trong dân gian”, “Dẫu sao đôi chỗ sơ sót về văn chơng không hề làm giảm giá trị văn nghệ của bản trờng ca thật hấp dẫn từ đầu đến cuối”
- Từ đó mà khẳng định “Trong dân gian Miền Nam, ngời ta thích Lục Vân Tiên, ngời ta say sa kể Lục Vân Tiên không chỉ vì nội dung câu chuyện, còn vì văn hay của Lục Vân Tiên
=> Đó là những ý kiến có cơ sở khoa học nhng lại đợc trình bày một cách dung dị mà rõ ràng sáng tỏ
4 ý nghĩa của việc đánh giá đúng Nguyễn Đình Chiểu
+ Có một số ngời chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của Lục Vân Tiên và hiểu Lục Vân Tiên khá thiên lệch về nội dung và về văn, còn rất ít biết thơ văn yêu nớc của Nguyễn
Đình Chiểu
Trang 3+ Trong khi đó : với những phẩm chất đạo đức và những thành công, hiệu quả mà văn
ch-ơng yêu nớc của ông đa lại, có thể khẳng định Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là lá cờ đầu của thơ ca chống Pháp, cần đợc dơng cao hơn nữa trong thời đại của ông và ngay cả thời
đại ngày nay
5 Sức hấp dẫn, lôi cuốn của bài viết
Bài viết không khô khan mà trái lại có sức hấp dẫn lôi cuốn vì :
+ Bài viết có sự kết hợp hài hoà giữa lí lẽ xác đáng và tình cảm nồng hậu của ngời viết đốivới nhà thơ yêu nớc Nguyễn Đình Chiểu
+ Bài viết có sự kết hợp giữa cuộc đời và thơ văn Nguyễn Đình Chiểu với công việc chống
Mĩ lúc bấy giờ của nhân dân Nam Bộ
=> Nhờ vậy bài viết rõ ràng, mạch lạc dễ hiểu, vừa tác động đến lí trí lại thấm sâu vào tình cảm ngời đọc tạo nên sức thuyết phục lớn
III Tổng kết
- Bằng cách nhìn, cách nghĩ sâu rộng, mới mẻ và nhiệt tình của mình Phạm Văn Đồng đã làm sáng tỏ mối liên hệ khăng khít của những tác phẩm thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu với hoàn cảnh của tổ quốc lúc bấy giờ và với thời đại hiện nay Đồng thời tác giả hết lòng
ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu, một ngời trọn đời dùng cây bút làm vũ khí chiến đấu cho dâncho đất nớc
- Bài văn có sức lôi cuốn mạnh mẽ do cách nghị luận vừa xác đáng, chặt chẽ vừa xúc
động, thiết tha với nhiều hình ảnh ngôn từ đặc sắc
Bài 3: Tây tiến Quang Dũng
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
Quang Dũng (1921 1988) tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, quê Phợng Trì (Phùng)
-Đan Phợng - Hà Tây, học đến bậc trung học ở Hà Nội Quang Dũng là một ngời đa tàisong đợc biết nhiều với t cách nhà thơ
- Thơ Quang Dũng vừa hồn nhiên vừa tinh tế mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậmchất lãng mạn
- Tác phẩm : Rừng biển quê hơng (tập thơ, văn, in chung với Trần Lê Văn - 1957), Đờng lên châu thuận (truyện ký 1964), Rừng về xuôi (truyện ký- 1968), Nhà đồi (truyện ký -
1970), Mây đầu ô (thơ - 1986).
2 Đoàn quân Tây Tiến
- Thành phần : đa số là thanh niên Hà Nội thuộc nhiều tầng lớp khác nhau ( lao động, tríthức, học sinh, sinh viên) Đề tài về ngời lính không xa lạ Trong thơ TH, C.Hữu, HồngNguyên hình ảnh họ hiện lên chân thật, giản dị, mang rõ nét đẹp của ngời nông dân VN.Còn trong bại thơ này, QD lại muốn tái hiện vẻ đẹp vừa can trờng lại vừa lãng mạn, hòahoa của những ngời lính xuất thân từ trí thức
- Địa bàn hoạt động : miền rừng núi phía Tây của tổ quốc
- Điều kiện sinh hoạt : Thiếu thốn
- Hoàn cảnh chung : đánh trận tử vong ít, sốt rét tử vong nhiều
Trang 4- Khi mới ra đời bài thơ đợc yêu thích và lu truyền rộng rãi Nhng sau đó do quan niệm
ấu trĩ của một số ngời trong giới văn học cho rằng bài thơ có những rơi rớt của t tởng lãngmạn yêng hùng kiểu cũ nên bài thơ ít đợc nhắc đến Mãi đến thời kỳ đổi mới trong xu h-ớng nhận thức lại các giá trị văn học Tây Tiến mới đợc khôi phục lại vị trí xứng đáng của
nó trong nền văn học dân tộc
- Bố cục bài thơ Bài thơ có thể chia làm 4 đoạn :
+ Đoạn 1 : (14 dòng đầu) Trong nỗi nhớ da diết của tác giả, đoàn quân Tây Tiến hiện ratrong những cuộc hành quân gian khổ trên cái nền của thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, dữdội
+ Đoạn 2 : (từ dòng 15 đến dòng 22) Những kỷ niệm đẹp về tình quân dân trong đêmliên hoan và vẻ đẹp thơ mộng của núi rừng
+ Đoạn 3 : (từ dòng 23 đến dòng 30) khắc hoạ chân dung ngời lính Tây Tiến và sự hisinh bi tráng của
+ Đoạn 4 : (4 câu cuối) Nhà thơ đã xa đơn vị, gửi lòng mình mãi gắn bó với Tây Tiến vàmiền Tây
II Đọc - hiểu văn bản
1 Đoạn thơ thứ nhất
a) Hai câu đầu:
- Câu mở đầu giới thiệu hai hình tợng chính của bài thơ : miền Tây (mà Sông Mã làm đại diện) và Tây Tiến (ngời lính Tây Tiến) Bằng cách sử dụng câu cảm thán cùng biện pháp nhân hóa, câu thơ đẹp kì diệu Sông Mã không chỉ là con sông mà còn là chứng nhân lịch
sử 1 thời gắn với những hoạt động của ngời lính TT Câu thơ vừa nh lời tâm sự vừa nh lời gọi Bài thơ viết khi tác giả không còn ở đoàn quân TT nữa Hình ảnh Sông Mã với những ngày tháng trong chiến đấu đã xa rồi Song hồi ức đâu có chịu nằm yên trong tâm hồn tác giả Nhắc tới tên cảnh, tên ngời ấy để cả kí ức sống dậy Tiếng gọi “Tây Tiến ơi” sao gần gũi, thân thơng đến vậy! Nó kết thúc bằng dấu (!) cùng âm hởng vần “ơi” tạo nên sự da diết làm tiếng lòng của tác giả nh xoáy vào tâm hồn bạn đọc
- Câu 2: Nỗi nhớ cũng từ đó ngân lên Trong bài thơ ta bắt gặp nhiều câu có từ nhớ: nhớ
về, nhớ chơi vơi, nhớ ôi,…Nó nh nốt nhấn trong 1 bản hợp âm Những nỗi nhớ nhỏ ấy nhnhững dòng suối chảy xuôi hòa vào biển nhớ lớn khiến toàn bài mang tính chất hoài niệm.Hai từ “nhớ” trong câu 2 nh 2 nốt nhấn gợi tả nỗi nhớ chơi vơi cháy bỏng khôn nguôi Nỗinhớ thật lạ lùng: “Nhớ về…chơi vơi” Trong ca dao cũng từng có câu: “Ra về nhớ bạn chơivơi” "Nhớ chơi vơi" là nhớ không rõ nét, chỉ biết rằng đó là nỗi nhớ da diết thờng trực Nóvừa có chiều rộng vừa có chiều sâu Vần “ơi” làm cảm xúc của tác giả nh lan tỏa ra cả bàithơ Chỉ 1 ngời có tình cảm gắn bó mới có cảm giác thực ấy: cảm giác trống vắng, mất mátkhi phải xa cái gì mình yêu quý Gắn với hoàn cảnh tác phẩm ta có thể lí giải đợc cái đíchcủa nỗi nhớ ấy Bài thơ sáng tác khi tác giả phải xa đơn vị.Những kỉ niệm về ngày thángchiến đấu trong đội quân Tây Tiến lại hiện về da diết Nó phù hợp với 1 quy luật tâm lí củacon ngời: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn” (C.L.Viên) Rời xaTây Bắc, QD càng thấy nó là 1 phần máu thịt của mình Bản thân QD trong nhiều bài thơkhác cũng khắc họa nỗi nhớ có hình có cạnh này: nằm ngửa nhớ trăng, nằm nghiêng nhớ
đèo Có thể nói, toàn bài thơ là nỗi nhớ Nỗi nhớ ấy đợc diễn tả dới nhiều góc cạnh khácnhau: lúc là nhớ chặng đờng hành quân gian khổ,lúc là kỉ niệm đêm liên hoan và đậm đặc
là nhớ ngời lính Tây Tiến Nó đợc bắt đầu với hình ảnh “nhớ về rừng núi” Đó là nơi để lại
ấn tợng mạnh mẽ cho những ngời trí thức Hà thành trẻ tuổi trong buổi đầu lên đờng ratrận Quên sao đợc những địa danh, những khung cảnh rừng núi ấy
b 12 câu sau:
Nỗi “nhớ chơi vơi” đợc cụ thể hoá bằng việc miêu tả các sự vật và liệt kê các địa danh của miền Tây (Sài Khao, Mờng Lát, Pha Luông, Mờng Hịch, Mai Châu), các sự vật tiêu biểu (Dốc, mây, ma, thác, cọp), qua đó làm hiện lên hình ảnh một cuộc hành quân Giống mọi khúc quân hành, ta luôn thấy có hình tợng con đờng song đây không phải con đờng khái quát nh trong “Tiến quân ca” mà đợc cụ thể hóa bằng những địa danh Việt, Lào, bằngcảnh rừng núi hoang vu, xa lạ Tất cả địa danh ấy, cảnh vật ấy chính là cảm hứng cách mạng 1 thời “Những tên làng, tên núi, tên sông Những cái tên đọc lên nghe muốn khóc.”
- Câu 3,4: Khi miêu tả cuộc sống của ngời lính, T.Hữu nói thẳng những khó khăn: “Nămmơi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm, ma dầm, cơm vắt” Còn QD chỉ miêu tả cảnh rừngnúi âm u nhng đủ cho ta hiểu sự khó khăn, vất vả của ngời lính Những địa dah SK, MLcàng làm rừng núi trở nên hoang vu hơn Nó gắn với thiên nhiên lạnh lẽo của rừng sơngtrong đêm khuya Tác giả đã tinh tế khi đa hình ảnh sơng vào đây để khắc họa sự lạnh lẽo
Trang 5của cảnh vật.Những thanh trắc ở từ “lấp, mỏi” nh muốn nhấn chìm ngời lính trong nỗi mệtnhọc Song ngay lập tức, âm điệu bài lại vút lên với nét vẽ bình yên “ML…đêm hơi” Câuthơ đầy vần bằng nhẹ nh 1 hơi thở “Hoa” ở đây là gì? Là hoa rừng hay ngọn đuốc soisáng? Là gì đi nữa thì cũng cho thấy sự tinh tế của tác giả.
- Câu 5->8: Dốc lên khúc khuỷu/dốc thăm thẳm
.Nhà ai Pha Luông ma xa khơi.
Những câu vần bằng xen lẫn với trắc làm âm hởng đoạn thơ trở nên trùng điệp hơn+ Câu 5 : Nhịp 4/3 và 2 từ láy nh bẻ gãy dòng thơ ra làm đôi gợi hình tợng về một connúi có 2 sờn dốc vừa cao dựng đứng lại vừa sâu thăm thẳm Câu thơ nh bám sát chặng đ-ờng vợt núi đầy vất vả Hình ảnh “dốc lên khúc khuỷu” là cái nhìn hớng lên cao trong lúcngời lính phải leo lên đỉnh núi Lên tới đỉnh, cái dốc khúc khuỷu ấy lại trở thành cái dốcthăm thẳm, sâu hun hút trong việc tiếp tục hành quân xuống núi Nếu từ “khúc khuỷu” vẽ
ra những nét zíc zắc của con đờng vợt núi và cho thấy sự vất vả thì “thăm thẳm” lại tả đợccon dốc vừa sâu vừa dài, ẩn dấu sau đó là cảm giác rờn rợn với những ai yếu bóng vía.+ Câu 6 : Lên tới đỉnh núi, cái cảm giác về nơi mình đang đặt chân không còn là đá núinữa mà trở thành “cồn mây” Ai từng đặt chân tới miền núi chắc sẽ hiểu cảm giác này Tuynhiên, nó không phải cái bồng bềnh sơng khói lãng mạn mà là cái hoang vắng “heo hút”,lãnh lẽo Từ láy “heo hút” đợc đảo lên trên để nhấn mạnh cảm xúc này Tuy vậy, cái tài của
QD là luôn biết cân đối hình ảnh, cảm xúc thơ: nguy hiểm ở những câu thơ trên bao nhiêuthì câu dới lại bình yên bấy nhiêu Đối lập với sự khó khăn, lạnh lẽo của chặng đờng vợtnúi, của cồn mây lại là hình ảnh hóm hỉnh “súng ngửi trời”Hình ảnh nhân hoá, ẩn dụ
“súng ngửi trời” vừa thực vừa gợi ra chất lính Trong cái mệt nhọc, ta vẫn thấy nét tinhnghịch, hồn nhiên của họ Chỉ bằng cụm từ này, chân dung ngời lính không bị chìm lấp đitrong cảnh mà chan hòa, ung dung thậm chí oai phong lẫm liệt giữa rừng núi
+ Câu 7 : Nhịp 4/3 nh vẽ tiếp về hình ảnh một con dốc khác trên đờng hành quân Núitiếp núi, đèo tiếp đèo 2 vế tiểu đối trong câu thơ tạo nên sự cân đối hài hòa trog nét vẽ vềcảnh dốc đèo Chữ “ngàn thớc” đợc điệp lại cụ thể hóa độ cao sâu thật hùng vĩ của đốc
đèo Các thanh trắc liên tiếp trong 3 câu thơ 5->7 diễn tả sự vất vả của ngời lính Nó làm tagợi nhớ tới những câu thơ trong “Chinh phụ ngâm”: “Hình khe thế núi gần xa Đứt thôi lạinối, thấp đà lại cao” Phải là con ngời có con mắt hội họa thì tác giả mới chuyển tải điềunày vào thơ!
+ Câu 8 : Bên cạnh vẻ đẹp hùng vĩ ta còn thấy vẻ đẹp thơ mộng nơi núi rừng Xa xa, giữa màn ma giăng giăng nh sơng khói, nửa thực nửa mơ, ẩn hiện những căn nhà Hiếm cócảnh nào trong ma mà lại gợi đợc sự ấm áp bình yên nh cảnh này! Câu thơ toàn thanh bằng, tơng phản với 3 câu trên nh một tiếng thở phào nhẹ nhõm của ngời lính sau một chặng đờng dài hành quân vất vả X.Diệu ngày xa cũng chỉ viết đợc 2 câu thơ sử dụng thanh bằng mà ông thấy tâm đắc: “Sơng nơng theo trăng ngng lng trời Tơng t nâng lòng lên chơi vơi” Còn QD thì viết đợc rất nhiều câu nh vậy, hơn nữa nó đặt ngay trong thế đối lập với những câu vần trắc Tài hoa của tác giả là ở đó
- Câu 9,10: QD miêu tả thực những khó khăn của ngời lính Hìh ảnh “Anh bạn dãi dầu…quên đời” Câu thơ có 2 hớng suy tởng Hớng 1: đây là cách nói giảm những mất mát đau thơng trên đờng hành quân Nhiều ngời đã vĩnh viễn nằm lại trên mảnh đất hoang vu này Nhng cách nói “gục lên súng mũ bỏ quên đời” làm giảm nhẹ nỗi tang thơng đồng thời tạo dựng chân dung ngời lính đẹp nh bức tợng đài Sự hi sinh nhẹ nh lông hồng mà dáng đứng vẫn mang phí khách ra trận Cách hiểu thứ 2 đi theo logic chặng đờng hành quân Những ngời lính đã kết thúc chặng hành quân trong đêm với việc leo lên tới đỉnh cao nhất của ngọn núi Họ tự thởng cho nhau 1 giấc ngủ Cách nói “bỏ quên đời” ấy thoáng nụ cời dí dỏm đầy chất lính của họ
- Câu 11,12: thiên nhiên TB hùng vĩ, nguy hiểm đợc tái hiện trong tiếng thác, trong bớc chân của thú dữ Chặng đờng hành quân ấy lại tiếp tục với những khó khăn mới 2 câu thơ với 1 loạt thanh trắc gợi cảm giác nặng nề Hình ảnh thác “gầm thét” nh nắn gân những ngời yếu bóng vía Chữ “Hịch, cọp” nghe nặng nh bớc chân của con hổ đang rình mồi Đó không phải sự nguy hiểm trong vài phút mà là nguy hiểm bám riết “chiều chiều”, “đêm
đêm” Hai từ láy đăng đối này vẽ ra cả khoảng thời gian dài mà ở đó những nguy hiểm đã trở thành 1 thứ “đặc sản” của Tây Bắc và là điều quen thuộc với nglei lính
- Câu 13,14: Nhng đi kèm với khó khăn cũng có những giây phút ngời lính hởng trọn cái bình yên của núi rừng Đối lập với 2 câu trên, 2 câu dới tràn ngập vần bằng tạo nên 1 không gian tơi mát, êm đềm của thiên nhiên TB đang vào mùa nếp xôi Nó gợi nhớ tới câu thơ trong bài “Tiếng hát con tàu” của C.L.Viên: “Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch
Trang 6Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hơng” Từ “nhớ” đợc đi kèm với từ “ôi” Nỗi nhớ đợc xen trộn với sự xúc động, sung sớng Tác giả cũng không gọi khoảng thời gian ấy là “mùa này” hay “mùa xôi” mà là “mùa em” Phảng phất đâu đó hình ảnh con ngời TB dịu dàng,
ấm áp sau làn sơng khói, sau mùi hơng gợi nhớ của vùng đất này Nếu bảo cảnh TB mà
QD vẽ ở đây là 1 bức tranh cộng 1 bản nhạc thì cha đầy đủ Theo cái nhìn hiện đại bây giờthì nó còn là bộ phim t liệu 4D, có cả hình ảnh, âm thanh, cả mùi hơng, không khí nh thật
2 Đoạn thơ thứ hai
Giọng thơ có sự biến đổi từ hùng tráng sang nhẹ nhàng mà sâu lắng Hình ảnh thơkhông còn dữ dội mà đậm màu sắc trữ tình, thơ mộng với hai bức tranh, hai khung cảnhkhác nhau : đêm liên hoan ở doanh trại và cảnh "Ngời đi Châu Mộc chiều sơng ấy"
- Cảnh liên hoan trong doanh trại giữa bộ đội và dân địa phơng:
Cảnh rực rỡ lung linh của đêm liên hoan đợc cảm nhận với niềm say sa, ngỡ ngàng của ngời lính Nhịp điệu câu thơ có cái gì náo nức, rộn rã Cái vất vả của chặng đờng hành quân biến mất đi, chỉ để lại những niềm vui trẻ trung, lãng mạn Chữ “bừng” là nét vẽ có thần Nó mô tả ánh sáng rực rõ từ những ngọn đuốc trong đêm hội, gợi đến tiếng khèn tình
tứ, mà cũng là tái hiện sự vui sớng của con ngời Trong con mắt sung sớng của con ngời, ngọn đuốc cũng trở thành “đuốc hoa” tình tứ nh nến thắp sáng trong phòng vợ chồng đêm tân hôn Hai chữ “kìa em” cho thấy sự ngạc nhiên, thích thú của các chiến sĩ Các cô gái
đến với buổi liên hoan mà nh các cô dâu trong lễ cới (xiêm áo tự bao giờ) khi e ấp trong
điệu nhạc đặc trng của dân tộc mình Ngời lính say mê trong tiếng nhạc, tâm hồn đầy ý thơ và mơ tởng đến những ngày vui tơi ở Viên Chăn
- Cảnh tiễn đa trên sông trong chiều sơng:
Trái ngợc với cảnh rộn rã ở trên, cảnh ở 4 câu sau này trầm nhẹ lại trong không gian 1buổi chiều sơng Bức tranh QD vẽ lập tức lại trở lại với màu mực tàu thủy mặc nh ở khổ 1
“Bờ sông hoang dại nh bờ tiền sử” (N.Tuân) Trong cái không khí vừa thực vừa h ấy, cảnhvật trở nên có hồn và đầy quyến luyến, tình tứ nh cùng đa tiễn con ngời Cảnh vật trongthơ QD bao giò cũng vậy, nh 1 con ngời tràn đầy tình cảm Sự tinh tế đã giúp ông pháthiện ra những nét vẽ nhỏ nhất rồi bằng hồn thơ của mình ông thổi vào đó sự sống, cảmgiác nh con ngời Bằng biện pháp nhân hóa, rặng lau ven bờ đợc thổi hồn để rồi conthuyền đi đâu, dáng dấp và linh hồn cây lau vẫn nh đi cùng Tác giả còn phát hiện đợchình ảnh nhỏ song đầy sức gợi: “hoa đong đa” Con mắt nghệ sĩ làm QD luôn tìm đợc cái
đẹp dù nó bị lẩn khuất sau cảnh vật Trong những câu thơ trên, miêu tả đêm tối hành quân,
dù mệt vậy, ông vẫn ghi lại cảnh “hoa về trong đêm hơi” Cũng nh vậy, ở khung cảnh mờsơng này, hình ảnh hoa chợt làm cả không gian sáng lên Vẻ đẹp tình tứ từ chuyển động rấtnhẹ của những bông hoa làm ta liên tởng tới sự nữ tính của các cô gái hay 1 khoảng khắctâm hồn con ngời chậm lại ngắm nhìn ngời mình yêu thơng nhất Bức tranh vì vậy có nét
đẹp hoang dã mà nên thơ, tình tứ
Nổi bật là hình ảnh “dáng ngời trên độc mộc" đem đến nét đẹp rắn rỏi, khoẻ khoắn cho bức tranh thiên nhiên thơ mộng, mềm mại, mơ màng Tác giả đã khéo léo dùng vần trắc trong các tiếng giữa và cuối dòng thơ: Mộc, ấy, dáng, độc mộc tạo giọng điệu chắc nịnh, khỏe khoắn nh chính con ngời TB Cả đoạn thơ nh 1 câu hỏi hớng tới ngời đi nhng cũng là hỏi ai đã từng ở TB và hỏi chính bản thân Điệp từ “có thấy”, “có nhớ” đứng đầu câu để gợi nhắc con ngời về kỉ niệm sâu lắng ấy đòng thời làm lời thơ man mác nh lời nhạc trữ tình Cái làm ngời ta nhớ cha phải cái rộn rã, đông đúc mà còn có những khoảng lặng không âm thanh, không nói 1 lời mà cảm xúc vẫn lai láng Đoạn thơ đã làm đợc 1 việc là kết hợp đợc cả chất thơ và chất nhạc tạo nên cái men say lai láng trong tâm hồn con ngời
Tây Tiến dữ oai hùm.
2 câu tả thực về ngời lính: không mọc tóc gợi nét ngang tàng (sự thật là vì sốt rét rụnghết tóc), quân xanh màu lá gợi vẻ bí hiểm (thực ra là nớc da xanh tái và sốt rét) Khôngphải những hình ảnh đó là sản phẩm của trí tởng tợng hay phóng đại giật gân mà là sự thựchiển nhiên tác giả dám đa vào thơ Bệnh sốt rét ác liệt Chính Hữu đã từng miêu tả: “Sốtrun ngời vầng trán ớt mồ hôi” Không che giấu những khó khăn, bệnh tật mà còn nói tới
nó với giọng rất yêng hùng, nghịch ngợm Vất vả đấy mà sao không thấy bi lụy! Cụm từ
“đoàn binh” và “dữ oai hùm” cùng với 1 loạt thanh trắc nghe rắn rỏi, mạnh mẽ nh khíphách ngời lính vợt qua tất cả Từ “binh” là âm Hán Việt gợi sự trang trọng nh trong 1
Trang 7khúc quân hành chứ không đơn thuần là lời thơ miêu tả Thủ pháp tơng phản: quân xanhmàu lá><dữ oai hùm làm nổi bật chân dung phi thờng của ngời lính Ta bắt gặp hình ảnhnày trong thi ca cổ: “Cầm ngang ngọn giáo bảo về quê hơng Ba quân hổ báo khí mạnhnuốt trôi trâu” Phải chăng sử dụng cả thi ca cổ là 1 cách để kết nối sức mạnh truyền thống
và hiện đại ngay trong con ngời TT
ơng, có sự trăn trở vì nhiệm vụ, có cả ớc mong, khát vọng mãi thắp trong lòng ngời lính
Họ quyết tâm chiến đấu cũng vì ngời thân phơng xa nữa Trong tâm hồn những con ngờitrẻ tuổi ấy lẽ nào không có chỗ dành cho mộng mơ của tuổi đang yêu Họ lấy những mơmộng ấy làm sợi dây nối liền khoảng cách với nglei thơng nơi Hà thành Tác giả quả thựcrất am hiểu về tâm lí con ngời và dám nói ra điều đó dù 1 thời nó bị coi là t tởng tiểu t sản.Chính bởi điều này, ngời lính trong thơ QD mới khác biệt Họ là bức tợng đài bi tráng sừngsững của nghĩa khí giống nh trong “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” song lại lãng mạn, hòahoa nh vẻ đẹp của “Một ngời HN”
+ ở đó, ta vẫn thấy lời thề cống hiến quên mình của ngời lính: “Chiến trờng…xanh”.Với họ, cái chết nhẹ tựa lông hồng Vì họ biết đó là sự hi sinh có ý nghĩa Họ đổi tuổi xanhcho tự do của dân tộc
+ Họ nằm xuống nhẹ nhàng:"áo bào thay chiếu…đất" Thực tế lúc đó, ngay cả tới mảnhchiếu bọc thi hài các chiến sĩ cũng không đủ, buộc lòng ngời còn sống phải để nguyên mà
bộ quần áo lính của ngời đã mất mà chôn áo lính đợc tác giả tinh tế thay bằng từ áo bào.Hình ảnh “áo bào” làm sự ra đi ấy đẹp nh các dũng sĩ thời xa Đó là cách nói giảm nhẹ nỗi
đau thơng, làm yên lòng ngời ra đi Tác giả không muốn có bất cứ giọt nớc mắt nào rơitrên thi hài ngời lính Họ sống hào hoa thì chết cũng hào hùng Họ chiến đấu cho quê hơngthì sự hi sinh cũng nhẹ nhàng Cụm từ “anh về đất” là cách nói tránh về sự hi sinh song lại
là cách bất tử hóa hình ảnh ngời lính Đất nh bà mẹ đón những đứa con vào lòng Sông Mãcũng cất khúc hát đa tiễn họ Sự ra đi giữa đất trời bao la, co đất mẹ đón nhận, có dòngsông đa tiễn-đó là sự hi sinh trang trọng, thiêng liêng nhất Không có ngời lính, sông núi
nh cô đơn song với âm thanh dữ dội của “khúc độc hành”, ta hiểu tất cả phải gạt nỗi đau
để bớc tiếp vào cuộc chiến Nỗi buồn trong bài thơ mang kích thớc khác thờng Khúc háttang lễ thành khúc độc hành tiếp bớc
4 Đoạn thơ cuối
- Nhà thơ dứt khỏi dòng hồi tởng để trở về với hiện tại (đã xa Tây Tiến) :
Tây Tiến một chia phôi.
- Nhà thơ khẳng định tâm hồn mình luôn thuộc về Tây Tiến :
Ai lên chẳng về xuôi
“Mùa xuân” đợc dùng với nhiều nghĩa: thời điểm thành lập đoàn quân Tây Tiến (mùa xuân1947), mùa xuân của đất nớc, mùa xuân (tuổi trẻ) của các chiến sĩ Tây Tiến
Câu cuối: Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
Dù đã ngã xuống (hay đã rời xa) nhng hồn (tinh thần) vẫn đi cùng đồng đội, sống cùng
đồng đội Tứ thơ này nâng chất sử thi cho bài thơ Bài thơ khép lại song âm điệu vẫn còn vang vọng mãi trong tâm hồn chúng ta Có những thứ có thể quên đi song có những điều chỉ gặp 1 lần mà nhớ mãi Đó là Tây Tiến
III Tổng kết
- Quang Dũng thành công trong việc xây dựng hình tợng bi tráng về ngời lính với vẻ đẹphào hùng và hào hoa
Trang 8- Bài thơ ghi lại một chặng đờng anh hùng của một đơn vị anh hùng Đó cũng là tinhthần chung của quân dân ta thời kỳ đầu chống Pháp.
- Tây Tiến đợc viết với bút pháp lãng mạn hào hoa
Đề: Phõn tớch vẻ đẹp lóng mạn và chất bi trỏng của hỡnh tượng người lớnh Tõy Tiến trong bài thơ Tõy Tiến của Quang Dũng
1 Khỏi quỏt về hỡnh tượng người lớnh, vẻ đẹp lóng mạn và chất bi trỏng
- Hỡnh tượng người lớnh là nguồn cảm hứng lớn của thơ ca cỏch mạng Việt Nam Tuy nhiờn, hỡnh tượng người lớnh được cảm nhận từ nhiều phương diện với nhiều cảm xỳc khỏc nhau: cú hỡnh tượng người lớnh được viết theo cảm hứng hiện thực mang vẻ đẹp hồn nhiờn, chõn chất, giản dị;
cú hỡnh tượng người lớnh được viết theo cảm hứng lóng mạn với vẻ đẹp oai phong, sang trọng, hào hoa
- Vẻ đẹp lóng mạn thể hiện trờn những phương diện: cỏi tụi trữ tỡnh tràn đầy tỡnh cảm, cảm xỳc, phỏt huy cao độ trớ tưởng tượng, sử dụng những yếu tố cường điệu, thủ phỏp đối lập để tụ đậm cỏiphi thường, tạo nờn ấn tượng mạnh mẽ về cỏi hào hựng, tuyệt mĩ Vẻ đẹp lóng mạn thể hiện ở cảm hứng hướng tới cỏi cao cả, sẵn sàng hi sinh cho lớ tưởng chung của dõn tộc, thể hiện ở vẻ đẹptõm hồn hào hoa, thơ mộng
- Cỏi bi là sự gian khổ, hi sinh Cỏi trỏng là sự hào hựng, trỏng lệ Chất bi trỏng hũa quyện vào nhau, sự gian khổ, hi sinh được thể hiện qua màu sắc hào hựng, trỏng lệ, bi mà khụng lụy
2 Vẻ đẹp lóng mạn và chất bi trỏng của hỡnh tượng người lớnh Tõy Tiến trong bài thơ Tõy Tiến
a Vẻ đẹp lóng mạn
- Bằng bỳt phỏp lóng mạn, Quang Dũng đó dựng lờn chõn dung người lớnh được đặt trong khung cảnh miền Tõy vừa hựng vĩ, vừa hoang sơ dữ dội, lại hết sức thơ mộng Ngũi bỳt của nhà thơ chỳ trọng đến những nột độc đỏo, khỏc thường làm nổi bật vẻ đẹp hào hựng, hào hoa của người lớnh Tõy Tiến
- Vẻ đẹp hào hựng của người lớnh qua bức tượng đài tập thể Cảm hứng lóng mạn khiến cỏch nhỡnnhững người lớnh cú vẻ tiều tuỵ, tàn tạ trong hỡnh hài nhưng lại chúi ngời vẻ đẹp lớ tưởng, mang dỏng dấp của những trỏng sĩ thời xưa Đú là ý chớ, tư thế hiờn ngang vượt lờn, coi thường gian khổ, hi sinh
- Vẻ đẹp hào hoa thể hiện ở tõm hồn của người lớnh: nhạy cảm trước thiờn nhiờn Tõy Bắc hựng vĩ,hoang sơ dữ dội mà huyền ảo thơ mộng; đằm thắm tỡnh người; những khao khỏt, mộng mơ mónh liệt
3 Đỏnh giỏ
- Bài thơ cú sự kết hợp một cỏch hài hoà giữa cỏi nhỡn hiện thực với cảm hứng lóng mạn Thể thơ
7 chữ chắc khoẻ mang giọng điệu hào hựng như một khỳc quõn hành Thủ phỏp đối lập tương phản đặc trưng của chủ nghĩa lóng mạn được sử dụng triệt để, phỏt huy cao độ trớ tưởng tượng, sửdụng những yếu tố cường điệu để tụ đậm vẻ đẹp khỏc thường, phi thường của người lớnh Hỡnh ảnh thơ, ngụn ngữ thơ vừa gõn guốc, khỏe khoắn vừa mềm mại, trữ tỡnh Những vần thơ giàu chấtnhạc, chất hoạ…
Trang 9- Quang Dũng đó dựng lờn bức tượng đài người lớnh cỏch mạng vừa chõn thực vừa cú sức khỏi quỏt, tiờu biểu cho vẻ đẹp, sức mạnh của dõn tộc ta trong thời kỳ đầu chống thực dõn Phỏp Đú là bức tượng đài được kết tinh từ õm hưởng bi trỏng của cuộc khỏng chiến, được khắc tạc bằng cả tỡnh yờu của Quang Dũng đối với những người đồng đội, đối với đất nước mỡnh.
- Tõy Tiến được vớ như “một thứ quả lạ trỏi mựa” trong thơ ca khỏng chiến cũn bởi lẽ bài thơ đó gúp vào nền thi ca hiện đại Việt Nam hỡnh tượng người lớnh hào hoa, thanh lịch, lóng mạn mang đậm chất Hà Thành
- Bài thơ tiờu biểu cho thơ ca dõn tộc trong thời kỡ đầu cuộc khỏng chiến chống Phỏp và thơ ca cỏch mạng Việt Nam, là một trong những thi phẩm hay nhất viết về người lớnh Từ hỡnh ảnh người lớnh Tõy Tiến đó gửi đến người đọc thụng điệp về lũng yờu nước và lớ tưởng sống cao đẹp của con người
Việt bắc
Tố Hữu Phần một : tác giả
I Vài nét về tiểu sử
- Tố Hữu (1920- 2002) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành
- Quê : Làng Phù Lai, Xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên- Huế nơi có truyền thống văn hoá và đấu tranh cách mạng
- Gia đình : có truyền thống Nho học và rất yêu chuộng văn chơng
- Tố Hữu đợc giác ngộ cách mạng từ rất sớm (18 tuổi đợc kết nạp Đảng) và hoạt động cách mạng qua nhiều thời kỳ lịch sử
- Tố Hữu đã từng giữ nhiều chức vụ quan trọng của bộ máy Nhà nớc và của Đảng (Uỷ viên
Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trởng) - Giải thởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt 1 năm 1996
II Đờng cách mạng, đờng thơ
Đối với Tố Hữu con đờng hoạt động cách mạng và con đờng thơ của ông có sự thống nhất không thể tách rời Mỗi tập thơ của ông là một chặng đờng cách mạng
1 Tập thơ Từ ấy (1937 - 1946)
- Là một chặng đầu tiên tơng ứng với 10 năm đầu hoạt động cách mạng của Tố Hữu
- Tập thơ gồm 3 phần : Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng.
- Nội dung : Từ ấy là niềm hân hoan của tâm hồn ngời thanh niên trẻ tuổi đang “băn
khoăn đi kiếm lẽ yêu đời” đã gặp đợc lý tởng, tìm thấy lẽ sống
- Phần Xiềng xích đợc đánh giá cao hơn cả vì đã thể hiện đợc sự trởng thành của ngời
thanh niên cộng sản và bớc phát triển mới của hồn thơ Tố Hữu (Tâm t trong tù, Nhớ đồng, Trăng trối,…).
- Giá trị : thể hiện chất men say lý tởng, chất lãng mạn trong trẻo, tâm hồn nhạy cảm, sôi nổi, trẻ trung của một cái tôi trữ tình mới (cái tôi gắn với cộng đồng, dân tộc)
+ Thể hiện thành công hình ảnh và tâm t của quần chúng cách mạng
+ Kết tinh những tình cảm lớn của con ngời Việt Nam kháng chiến mà bao trùm và thống nhất mọi tình cảm là lòng yêu nớc
- Giá trị : là một trong những thành tựu xuất sắc của văn học chống Pháp
Trang 103 Tập thơ Gió lộng (1955- 1961)
Có sự kết hợp thể hiện cái tôi trữc tình công dân khi khai thác các đề tài lớn : Xây dựng chủ nghĩa xã hội, đấu tranh thống nhất đất nớc, tình cảm quốc tế vô sản
4 Tập thơ Ra trận và tập thơ Máu và hoa
- Cổ vũ, động viên, ca ngợi cuộc chiến đấu
- Mang đậm tính chính luận - thời sự, chất sử thi và âm hởng anh hùng ca
5 Các tập thơ còn lại
- Thể hiện những chiêm nghiệm, đúc kết của tác giả về những chặng đờng cách mạng của dân tộc và con đờng hoạt động của bản thân
- Giọng thơ trầm lắng, suy t và có màu sắc triết lý
III Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
1 Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình - chính trị
Đây là đặc điểm bao quát nhất trong sự nghiệp thơ Tố Hữu
- Tố Hữu là một thi sĩ - chiến sĩ, thơ là sự thống nhất giữa tuyên truyền cách mạng và cảm xúc trữ tình
- Thơ Tố Hữu chủ yếu khai thác cảm hứng từ đời sống chính trị của đất nớc, từ hoạt
động cách mạng và tình cảm chính trị của bản thân tác giả
- Lý tởng cách mạng là ngọn nguồn mọi cảm hứng nghệ thuật của Tố Hữu Lý tởng thựctiễn cách mạng ở mỗi thời kỳ là đề tài, chủ đề sáng tác của nhà thơ
Ví dụ : Việt Bắc gắn liền với cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp.
Tố Hữu là nhà thơ cách mạng, nhà thơ của lý tởng cộng sản Con đờng thơ bắt đầu cùng lúc với sự giác ngộ lý tởng cộng sản, quá trình sáng tác gắn dới sự lãnh đạo của Đảng
2 Thơ Tố Hữu thiên về khuynh hớng sử thi và cảm hứng lãng mạn
- Thơ Tố Hữu tập trung thể hiện những vấn đề cốt yếu của đời sống cách mạng và vận mệnh dân tộc Cảm hứng hớng về lịch sử, dân tộc chứ không hớng về đời t, hớng về những
lẽ sống lớn tình cảm lớn, niềm vui lớn
- Nhân vật trữ tình luôn đại diện cho những phẩm chất của giai cấp, dân tộc thậm chí là của lịch sử và thời đại
Ví dụ : Chị Trần Thị Lý trở thành Ngời con gái Việt Nam, anh Nguyễn Văn Trỗi là “Con
ngời nh chân lý sinh ra”
- Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu ngay từ đầu đã là cái tôi - chiến sĩ, cái tôi - công dân sau đó là cái tôi nhân danh dân tộc, cách mạng
- Những con ngời trong thơ Tố Hữu luôn có vẻ đẹp của lý tởng cách mạng Đó chính là sự thể hiện cảm hứng lãng mạn
3 Thơ Tố Hữu có giọng tâm tình ngọt ngào
- Cách xng hô gần gũi thân mật (bạn đời ơi, đồng bào ơi, anh chị em ơi) với đối tợng trò
chuyện
- Tố Hữu tuyên truyền, vận động cách mạng nói chuyện chính trị bằng giọng tâm tình
Ví dụ : Cuộc chia tay giữa Đảng, chính phủ với quần chúng cách mạng đợc thể hiện qualời đối đáp giữa “mình” và “ta” trong Việt Bắc.
- Giọng tâm tình ngọt ngào chính là “chất Huế” trong hồn thơ Tố Hữu
4 Thơ Tố Hữu mang tính dân tộc đậm đà
- Về nội dung : Thơ Tố Hữu phản ánh đậm nét hình ảnh con ngời Việt Nam và tình cảm Việt Nam trong thời đại mới, tiếp nối với truyền thống tinh thần, tình cảm, đạo lý của dân tộc
- Về nghệ thuật : Tố Hữu sử dụng thành công các thể thơ thuần dân tộc (thơ lục bát, thơ bảy chữ), ngôn ngữ thơ gần với lối nói quen thuộc của dân tộc, thơ giàu nhạc điệu
IV Tổng kết
- Vị trí thơ Tố Hữu : là một thành công xuất sắc của thơ cách mạng, thơ trữ tình - chính trị, kế tục truyền thống lớn của thơ ca dân tộc
- Thơ Tố Hữu là sự kết hợp của 2 yếu tố : cách mạng và dân tộc trong nghệ thuật
- Sức hấp dẫn của thơ Tố Hữu là ở niềm say mê lý tởng và tính dân tộc đậm đà
PHầN 2: TáC PHẩM
I Tìm hiểu chung
Trang 111 Hoàn cảnh sáng tác
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ về Đông Dơng đợc kí kết (tháng 7 năm 1954), hòa bình trở lại, miền Bắc đợc giải phóng, một trang sử mới của đất nớc và một giai đoạn mới của cách mạng đợc mở ra Tháng 10 năm 1954, các cơ quan trung ơng của Đảng và chính phủ rời chiến khu Việt Bắc trở về Hà Nội "Khi về Hà Nội tôi có cảm giác nh mình để lại một phần đời ở Việt Bắc Đó là lí do giản dị khiến tôi viết bài Việt Bắc" Tố Hữu đã có lần tâm sự nh vậy.
2 Vị trí của bài thơ
- Bài thơ không chỉ là tình cảm riêng của Tố Hữu mà còn tiêu biểu cho suy nghĩ tình cảm của những con đờng kháng chiến đối với Việt Bắc, đất nớc và cách mạng Bài thơ là khúc hát tâm tình của ngời đi kẻ ở song ở bề sâu của nó là truyền thống ân nghĩa và đạo lí thuỷ chung của dân tộc
- Việt Bắc là thành công xuất sắc của thơ Tố Hữu, là đỉnh cao của thơ ca Việt Nam thời kì
“Việt Bắc” đó trở thành tiếng hỏt õn tỡnh chung của những người khỏng chiến, của cả dõn tộc trong một thời điểm lịch sử đỏng ghi nhớ.
b HT:“ Mười lăm năm” “thiết tha mặn nồng” được Tố Hữu thể hiện bằng một thể thơ giàu tớnh dõn tộc Thể lục bỏt, cỏch kết cấu đối đỏp, sử dụng đại từ nhõn xưng “Mỡnh”, “Ta” quen thuộc trong thơ ca dõn gian, cú khả năng “biểu hiện một cỏch thuận tiện, phự hợp với điệu hồn chung của cộng đồng người Việt” “Rung lờn cỏi sợi tơ lũng chung của những tấm lũng Việt” Tất cả những yếu tố đú đó diễn tả thật xỳc động tỡnh cảm quyến luyến thiết tha trong một cuộc chia tay đặc biệt: chưa xa đó nhớ, để chia mà khụng xa, cỏch mà khụng biệt.
- Kết cấu : theo lối đối đáp quen thuộc của ca dao, dân ca Không đơn thuần là lời hỏi -
đáp mà lạ sự hô ứng, đồng vọng là sự độc thoại của tâm trạng Đó là cách “phân thân”
“hoá thân” để bộc lộ tâm trạng đợc đầy đủ hơn
- Thể lục bát : ngọt ngào, êm ái, giọng tâm tình
- Hai từ : "mình" và "ta":
+ "Mình" : chỉ bản thân (ngôi thứ nhất : Ai lên mình gửi cho ta với nàng) nhng còn đợc
dùng để chỉ đối tợng gần gũi, thân thiết (ngôi thứ hai)
+ "Ta" cũng đợc dùng để chỉ bản thân (ngôi thứ nhất số ít : Mình về mình lại nhớ ta)
nh-ng còn đợc dùnh-ng để chỉ chunh-ng hai hay nhiều nh-ngời (nh-ngôi thứ nhất, số nhiều : Ta cùng đánh Tây, lòng ta ơn Bác,…)
+ Chính Tố Hữu cũng đã xác nhận : "Mình và ta, ta và mình - cả hai đều là chủ thể Mình
ấy, ta ấy là một phần của đời sống thi sĩ đã trải qua bao nhiêu năm ở Việt Bắc Cái phần
đời này trò chuyện với phần đời kia Cuộc chia tay không phải diễn ra bình thờng mà nó diễn ra trong máu thịt, trong tâm hồn nhà thơ" "Ta" và "mình" có sự chuyển hóa đa nghĩa :vừa là chủ thể, vừa là đối tợng, vừa phân đôi vừa hòa nhập làm một nhiều khi rất khó phân biệt
2 Cuộc chia tay và tâm trạng của ngời đi kẻ ở
a) Tâm trạng bâng khuâng bồn chồn, bịn rịn lu luyến khi chia tay (k1->k4)
- Ngời ở lại lên tiếng trớc và gợi nhắc về những kỷ niệm gắn bó suốt 15 năm (k1):
“Mình về mình có nhớ ta….nhìn sông nhớ nguồn?”
Trang 12+ 2 c©u ®Çu:
Cũng như cả bài thơ, bốn câu thơ đầu Tố Hữu đã sử dụng thâât tài tình và linh hoạt thể thơ lục bát Đăâc biêât là căâp đại từ xưng hô “Mình-ta” khiến đoạn thơ mang âm hưởng như khúc hát giao duyên của những đôi trai gái yêu thương nhau trong ca dao, dân ca: “Mình về ta chẳng cho về
Ta nắm vạt áo ta đề câu thơ ”
Cái tôi trữ tình của Tố Hữu đã phân thân để diễn tả nỗi nhớ, niềm thương của người ở lại Bốn câu thơ láy lại liên tiếp điêâp từ, điêâp ngữ “Mình về mình có nhớ” với hai câu hỏi thiết tha măân nồng Câu hỏi về thời gian “mười lăm năm ấy” là hành trình lâu dài vĩ đại của cuôâc kháng chiến đã bồi đắp tình cảm sâu sắc của những con người kháng chiến trên quê hương Viêât Bắc Ở đây tác giả gợi lại những ngày đầu cách mạng với cuôâc khởi nghĩa Bắc Sơn 1940 và sự kiêân năm 1941 sau mấy mươi năm bôn ba khắp năm châu bốn bể tìm đường cứu nước, Bác Hồ đã trở về Tổ Quốc, Người chọn Viêât Bắc làmcăn cứ địa cách mạng:
“Ôi sáng xuân nay, xuân 41
Trắng rừng biên giới nở hoa mơ
Bác về Im lăâng Con chim hót
Thánh thót bờ lau vui ngẩn ngơ”
(Theo chân Bác)
+ 2 c©u sau: Bên cạnh câu hỏi về thời gian là câu hỏi về không gian:
“Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ, núi nhìn sông nhớ nguồn”
Hình ảnh thơ có sức gợi lớn: “Nhớ núi, nhớ nguồn” đâu chỉ là nhắc nhở tới núisông Viêât Bắc thơ môâng, hùng vĩ mà còn xoáy vào ý nghĩa: Viêât Bắc là chiến khu cách mạng, là côâi nguồn của quê mọi thắng lợi vĩ đại, là quê hương, là đất nước như ở phần sau của bài thơ tác giả khẳng định:
“Mười lăm năm ấy ai quên
Quê hương cách mạng dùng lên côâng hòa”
“Mình về mình có nhớ ta” đã là chuyện chung thuỷ, riêng tư Nhưng đến:
“Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn”
thì không còn là chuyện của tình yêu lứa đôi mà đã là chuyện ân nghĩa thủy chung của đạo lý dân tộc “Uống nước nhớ nguồn” là truyền thống thủy chung, là đạo lí tốt đẹp của dân tôâc Viêât Nam Bây giờ xa cách, Mình về thành thị, nhớ đừng thay lòngđổi dại với Ta, mà cũng đừng thay lòng đổi dạ với chính mình:
Trang 13- Ngêi ra ®i còng cïng t©m tr¹ng Êy nªn nçi nhí kh«ng chØ híng vÒ ngêi kh¸c mµ cßn lµ nhí chÝnh m×nh (k2)
“Tiếng ai tha thiết bên cồn
…Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
+ 2 c©u ®Çu: Đại từ phiếm chỉ “ai” được sử dụng trong câu thơ chỉ đồng bào chiến khu Viêât Bắc, làm câu thơ trở nên trữ tình, mềm mại và ý nhị hơn Tiếng ai như xa xôi mà thâât gần, chan chứa niềm cảm xúc thiết tha níu bước chân người ra đi Liên tiếp từ láy
“bâng khuâng”, “bồn chồn” tạo nên giai điêâu luyến láy của những câu lục bát vốn mượt
mà lại càng thêm ngân nga, thiết tha Người ra đi thấu hiểu những băn khoăn nhung nhớ của người ở lại cũng giãi bày tâm trạng bâng khuâng, bồn chồn của mình Ấy là tâm trạng ra đi mà không lỡ Sự tri ân đáp lại tấm lòng Viêât Bắc không chỉ bằng hình ảnhthơ mà còn ở cách sử dụng từ ngữ của tác giả Nếu ở trên người ở lại nhắc đến “thiết tha” thì đến đây người ra đi lại nói “tha thiết” như môât sự đối ngẫu trùng phùng Như hiểu được nơi lắng sâu trái tim của nhau
+ 2 câu cuối:
Hai câu cuối của đoạn thơ là sự hồi tưởng của người ra đi về cuôâc chia tay thắm tình dân quân:
“Áo chàm đưa buổi phân li
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Trong bài Viêât Bắc của Tố Hữu người ra đi, kẻ ở lại bịn rịn vương vấn nhưng đó không phải là sự li biêât của “thiếp” với “chàng” sầu đau chất chứa mà ta hơn môât lần bắt găâp trong thơ xưa:
“Người lên ngựa, kẻ chia bào
Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san”
(Truyêân Kiều)
hay “Càng trông lại mà càng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt môât màu
Lòng chàng ý thiếp ai sầu hơn ai” (Chinh phụ ngâm)
Ở đây là cuôâc chia tay lớn – cuôâc chia tay giữa đồng bào Viêât Bắc và cán bôâ chiến sĩ vềxuôi Bằng hình thức hoán dụ Tố Hữu mượn hình ảnh chiếc áo chàm quen thuôâc của người dân Viêât Bắc để chỉ đồng bào chiến khu thể hiêân tình cảm yêu thương, gắn bó đã
ở mức cao nhất Bởi áo chàm – là máu của quê hương dân tôâc đââm đà, là biểu tượng của văn hùng ca Viêât Bắc Măât khác diễn tả sự xa cách, tác giả không dùng từ “chia li”
mà dùng từ “phân li” Bởi chia li đơn thuần chỉ sự chia cách giữa những con người với nhau Còn phân li ấy là như môât thể thống nhất bị môât tác đôâng ngoại cảnh không hề mong muốn Sự gắn bó giữa người chiến sĩ cách mạng với đồng bào keo sơn tới mức tuy hai nhưng là môât Chẳng thế mà khi cuôâc chia tay diễn ra họ chỉ biết “cầm tay nhau
Trang 14biết núi gỡ hụm nay”.
Theo dọc đường văn học ta đó từng bắt găõp những cỏi cầm tay
“Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
Những cõu thơ lục bỏt của Tố Hữu cú những biến tấu mới mẻ Nhịp thơ 3/3 (ỏo chàm đưa/buổi phõn li) và 3/3/2 (cầm tay nhau/biết núi gỡ/hụm nay) cựng với dấu “…” ở cuối cõu diễn tả rất tài tỡnh trạng thỏi ngõõp ngừng quyến luyến của kẻ ở lại, người đi
- Lời hỏi đã khơi gợi cả một quá khứ đầy ắp kỷ niệm, khơi nguồn cho mạch cảm xúc nhớ thơng tuôn chảy (k3)
Nhỡn thoỏng qua, tổ chức cỏc cõu thơ đều lặp lại ở phộp lỏy đầu 6 cõu: Mỡnh đi, mỡnh về
“Đi”, “Về” vốn ngợc chiều trỏi hướng, song ở đõy lại đồng nhất một phương Ra đi để hẹn
về Việt Bắc đó trở thành quờ hương thứ hai của ngời cỏn bộ khỏng chiến Nghệ thuật đối được sử dụng với tần số cao trong cỏc cõu thơ Những hỡnh ảnh thơ đó thực sự cất lờn chất thơ nhờ những cõu thơ đối xứng mang vẻ đẹp cổ điển uyờn bỏc Hơn nữa, mười hai cõu lục bỏt cấu tạo bằng sỏu cõu hỏi như khơi sõu vào kỷ niệm Những kỷ niệm được gợi nhớ đều
là những kỷ niệm về thiờn nhiờn về cuộc sống chung, tỡnh cỏn bộ với nhõn dõn chia ngọt sẻ bựi, chung gian lao, chung mối thự.
+ Kỉ niệm về thiên nhiên (câu 1,2,5,6): đó là những hỡnh ảnh chọn lọc gợi cảm: Mưa nguồn, suối lũ, mõy mự,… Nghệ thuật nhõn hoỏ cũng tạo nờn sự sống động cho hỡnh ảnh thơ:
“Mỡnh về rừng nỳi nhớ ai
Trỏm bựi để rụng, măng mai để già”
Tỡnh cảm của ngời ở đối với ngời đi xem ra đợc thể hiện sõu kớn hơn cả trong cõu thơ này, chỉ 14 chữ mà chứa đựng biết bao quyến luyến nhớ thương: Người đi rồi cả một miền rừng trở nờn hoang vắng, trỏm khụng người nhặt, măng khụng ai hỏi, cả nỳi rừng cũng mong nhớ đến thẫn thờ Biện phỏp tu từ nhõn hoỏ “rừng nỳi nhớ ai” núi lờn tỡnh cảm thắm thiết của Việt Bắc với những người khỏng chiến Mỡnh về thỡ nỳi rừng Việt Bắc trống vắng “Trỏm bựi để rụng, măng mai để già” Quả trỏm (trỏm xanh và trỏm đen) và măng mai là hai mún ăn thường nhật của bộ đội và cỏn bộ khỏng chiến Mượn cỏi thừa
để núi cỏi thiếu, thật hay!
+ Kỉ niệm về con ngời (câu 3,4,7->12): ngời đi gợi lại những kỉ niệm về những ngày tháng chiến đấu khó khăn “miếng cơm chấm muối” song tất cả vẫn không quên “mối thù nặng vai” của dân tộc Trong đó, tình cảm con ngời VB làm tất cả đều cảm động Hỡnh thức đối lập giữa cỏi bờn ngoài (hắt hiu lau xỏm) và bờn trong (đậm đà lũng son) biểu hiện chõn thật cuộc sống lam lũ, nghốo đúi của người dõn Việt Bắc, nhưng trong lũng thỡ thuỷ chung son sắt với cỏch mạng Như một thụng lệ trong cuộc chia tay giữa những người thõn thiết, người ta thường đõ̉y thời gian về quỏ khứ để chưa xa đó nhớ, chưa biệt đó thương Để trờn nền xỳc cảm này, dũng hồi t Ư ởng những kỉ niệm thõn thương ựa về mónh liệt.
“Mỡnh về còn nhớ núi non…
…Tõn Trào, Hồng Thỏi, mỏi đỡnh, cõy đa”
Trang 15Những kỉ niệm về một thời kháng chiến hiện về Nếu 2 câu 9,10 gợi tới kỉ niệm trên mặt thời gian thì 2 câu 11,12 lại gợi kỉ niệm trên mặt không gian Một loạt đia danh đ-
ợc nhắc tới nh muốn ghi dấu lại những sự kiện lịch sử hòa hùng: “Tõn Trào, Hồng Thỏi, mỏi đỡnh, cõy đa” Địa danh thì giản dị song sự kiện thì lớn lao: nơi làm lễ xuất quân của
đội quân đầu tiên trong lịch sử quân đội nhân dân VN, nơi tổ chức cuộc họp quan trọngphát động cuộc khởi nghĩa thỏng 8 Đại từ “mỡnh”, “ta” vốn được sử dụng trong đối đỏp thơ
ca dõn gian nay được Tố Hữu sử dụng đầy biến ảo: Khi mỡnh là ta, khi “ta” là “mỡnh”, cỏi ngầm ý hai ta là một đó rừ Cõu hỏi đầy ý nhị mà sõu kớn: Mỡnh quờn “ta” cũng là quờn chớnh
“mỡnh” đú Cũng như ở phần sau, Tố Hữu khẳng định:
“Mỡnh đi mỡnh lại nhớ mỡnh
Nguồn bao nhiờu nước nghĩa tỡnh bấy nhiờu”
Nhà thơ đó khai thỏc rất đắt chữ “mỡnh” trong tiếng Việt “Mỡnh” vừa là bản thõn vừa là ta,
“mỡnh” cũng là ngời thõn thiết cú thể xem như chớnh mỡnh vậy Đại từ nhõn xưng được sử dụng vừa thống nhất vừa biến hoỏ khiến “Việt Bắc” cất lờn như tiếng lũng đồng vọng bản hoà õm tõm hồn của kẻ ở người đi.
Sự đổi chụ̃ trong tổ chức cõu thơ: “Mỏi đỡnh Hồng Thỏi, cõy đa Tõn Trào” được viết thành: “Tõn Trào Hồng Thỏi mỏi đỡnh cõy đa” chứng tỏ tờn riờng và danh từ chung đều đó đồng nhất hoàn toàn về ý nghĩa Nụ̃i nhớ về chiến khu Việt Bắc “Tõn Trào, Hồng Thỏi”, đó chuyển hoỏ thành nụ̃i nhớ quờ hương “Mỏi đỡnh cõy đa” những hỡnh ảnh đó đi vào tõm thức người Việt từ ngàn đời “Trong thơ Tố Hữu, cỏi riờng, cỏi chung như khụng cũn ranh giới, cỏi cũ cỏi mới lồng vào nhau, (Nguyễn Văn Hạnh) mà đõy là một trờng hợp điển hỡnh.
- Lời khẳng định tỡnh cảm của người ra đi (K4)
+ 2 cõu đầu: Đún hết những lời õn tỡnh õn nghĩa của Việt Bắc, bõy giờ người về mới
mở lời Lời người về cũng chớ tỡnh chớ nghĩa:
“Ta với mỡnh, mỡnh với ta
Nguồn bao nhiờu nước, nghĩa tỡnh bấy nhiờu…”
Hai đại từ ta – mỡnh cứ xoắn xuýt, quấn quýt “Ta với mỡnh, mỡnh với ta” thật là nồng nàn,ý nghĩa lại khụng rạch rũi để rồi nhập lại làm một
+2 cõu sau:
“Mỡnh đi, mỡnh lại nhớ mỡnh”
(Trả lời cho cõu hỏi: “Mỡnh về mỡnh cú nhớ ta”)
Diễn xuụi ra ngụn ngữ của tỡnh yờu là “Anh đi anh lại nhớ em” Nhưng ở đõy cũn cúnghĩa: anh đi, anh lại nhớ chớnh anh Bởi một phần mỏu thịt của anh đó gắn với VB rồi.Nụ̃i nhớ của người đi thật là dào dạt, nghĩa tỡnh của người đi đối với Việt Bắc thật là bấttận “Nguồn bao nhiờu nước, nghĩa tỡnh bấy nhiờu” T.Hữu đó mượn cỏch núi đậm màusắc ca dao để diễn tả tỡnh cảm Người đi trả lời như vậy hẳn làm yờn lũng người ở lại -Việt Bắc
b) Nỗi nhớ da diết, mênh mang với nhiều sắc thái và cung bậc khác nhau (k5->k11)
Trong niềm hoài niệm, nỗi nhớ có 3 phơng diện gắn bó, không tách rời : nhớ cảnh, nhớ ngời và nhớ về những kỷ niệm kháng chiến
- Nỗi nhớ về thiên nhiên Việt Bắc (k5->k6):
Thiên nhiên Việt Bắc hiện lên với vẻ đẹp đa dạng theo thời gian, không gian khác nhau (sơng sớm nắng chiều, trăng khuya, các mùa trong năm) (k5)
Thiên nhiên trở nên đẹp hơn, hữu tình hơn khi có sự gắn bó với con ngời (ngời mẹ địu con lên rẫy, ngời đan nón, em gái hái măng) (k6)
- Đoạn thơ từ câu “Rừng xanh hoa chuối đỏ tơi” đến câu “Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung” là đọan thơ tả cảnh đặc sắc của Tố Hữu (k7)
Đoạn thơ đợc sắp xếp xen kẽ cứ 1 câu tả cảnh lại 1 câu tả ngời vừa thể hiện sự gắn bó giữa cảnh và ngời vừa làm giảm bớt ấn tợng về sự hoang vu, hiu quạnh vốn có của núi rừng Việt Bắc Cảnh vật hiện lên nh một bức tranh tứ bình với 4 mùa (xuân, hạ, thu, đông) mỗi mùa có nét đẹp riêng
- Nỗi nhớ về cuộc sống và con ngời Việt Bắc (k6->k7)
Trang 16Đó là cảnh sinh hoạt bình dị của ngời dân Việt Bắc Nét đẹp nhất chính là nghĩa tình và lòng quyết tâm đùm bọc, che chở cho cách mạng hi sinh tất cả vì kháng chiến dù cuộc sống còn rất khó khăn.
- Nỗi nhớ về những kỷ niệm kháng chiến (k8->k11)
B1 Khổ 5
- 6 cõu đầu: Cảnh VB qua nụ̃i nhớ
Để xua tan những hoài nghi của người ở lại, người về phải núi những lời thật nồng thắm, phải so sỏnh với những tỡnh cảm cao quý nhất của con người:
“Nhớ gỡ như nhớ người yờu
Trăng lờn đầu nỳi, nắng chiều lưng nương”
Từ “nhớ” được điệp lại trựng trựng và mụ̃i từ lại gợi lờn khụng biết bao nhiờu kỉ niệm thõn thương giữa ta với mỡnh Những chi tiết nhỏ nhặt đó được hồi tưởng (mà cỏi nhỏ trong tỡnh yờu chớnh là cỏi lớn)
Qua hồi tưởng của chủ thể trữ tỡnh, cảnh Việt Bắc hiện lờn thật đẹp Nụ̃i nhớ thiết tha của người cỏn bộ sắp về xuụi đó khắc sõu thiờn nhiờn nỳi rừng Việt Bắc vời vẻ đẹp vừa hiện thực, vừa thơ mộng, thi vi, gợi rừ những nột riờng biệt, độc đỏo, khỏc hẳn những miền quờ khỏc của đất nước Chỉ những người đó từng sống Việt Bắc, coi Việt Bắc cũng là quờ hương thõn thiết của mỡnh mới cú nụ̃i nhớ thật da diết, những cảm nhận thật sõu sắc, thấm thớa về ỏnh nắng ban chiều, ỏnh trăng buổi tối, những bản làng mờ trong sương sớm, những bếp lửa hồng trong đờm khuya, những nỳi rừng sụng suối mang những cỏi tờn thõn thuộc – tất cả là khoảng thời gian và khụng gian lúng lỏnh kỷ niệm
- 12 cõu sau: Đoạn thơ là những hồi tưởng của tỏc giả về những ngày khú khăn gian khổnhưng chứa đầy tỡnh người nồng ấm, là những kỷ niệm với những con người nơi đõy
+ Ta đi ta nhớ những ngày
Mỡnh đõy ta đú, đắng cay ngọt bựi”
Dự bản thõn cú đi xa, dự cú ở nơi chốn nào thỡ vẫn sẽ luụn nhớ về “mỡnh” Ngụn từ xưng hụ thật giản dị mà thõn thương “Mỡnh” cựng “ta” nào cú thể quờn được những
“đắng cay ngọt bựi” đó trải qua Hỡnh ảnh ẩn dụ “đắng cay” chớnh là những khú nhọc, giannan mà nhõn dõn cựng cỏn bộ đó phải trải qua trong suốt thời kỳ khỏng chiến, cũn niềm vui chiến thắng khụng gỡ khỏc chớnh là “ngọt bựi” Từng nỗi nhớ như tràn ngập trong tõm hồn Tố Hữu biểu hiện cho một tỡnh cảm sõu nặng tựa như nỗi tương tư đến “người
thương” Điệp từ “nhớ” được lặp đi lặp lại càng khắc sõu hơn sự nhớ nhung nghỡn trựng tha thiết của tỏc giả đối với Việt Bắc
+ Thương nhau chia củ sắn lựi
Bỏt cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cựng
Tuy thiếu thốn, gian khổ nhưng cảnh và người Việt Bắc đẹp và tỡnh nghĩa chan hũa Hỡnh ảnh tượng trưng: "Chia củ sắn lựi, bỏt cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cựng" kết hợp với cỏch dựng từ cựng nghĩa "chia, sẻ, cựng" diễn tả được mối tỡnh cảm "chia ngọt sẻ bựi" giữa nhõn dõn Việt Bắc và cỏn bộ cỏch mạng Biết bao tỡnh nghĩa sõu nặng trong "củ sắn", "bỏtcơm", "chăn sui" mà người cỏn bộ cỏch mạng đó chịu ơn Việt Bắc Đõy là một hỡnh ảnh đậm đà tỡnh giai cấp
Trang 17+ Nhớ tình cảm của những người mẹ Việt Bắc:
Nhớ người mẹ nắng cháy lưng.
Địu con lên rẫy, bẻ từng bắp ngô
Hình ảnh chọn lọc: Người mẹ nắng cháy lưng gợi người đọc liên tưởng đến sự tần tảo chắt chiu, cần cù lao động của bà mẹ chiến sĩ trong kháng chiến đã đùm bọc, cưu mang chiến sĩ, cán bộ cách mạng Đó là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, cái ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong kí ức của người về xuôi
+ Nhớ cảnh sinh hoạt cơ quan và âm thanh của cuộc sống sinh hoạt:
Nhớ sao lớp học i tờ
…Chày đêm nện cối đều đều suối xa
Đoạn thơ còn dựng lại những khung cảnh quen thuộc với những hình ảnh và âm thanh hết sức tiêu biểu cho sinh hoạt trong kháng chiến Việt Bắc Câu thơ đối ý mà nêu bật tinh thần lạc quan yêu đời của cán bộ, chiến sĩ cách mạng dù cuộc sống còn rất gian khổ, khó khăn :
"Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo"
Âm thanh "tiếng mõ rừng chiều" và "chày đêm nện cối đều đều suối xa" là âm thanh đặc trưng của Việt Bắc, phản ánh sinh hoạt yên ả, bình dị nơi núi rừng, gợi nhớ một thời
đã qua
B2 Khổ 6
1 Hai câu đầu:
- Mở đầu đoạn thơ, người cán bộ kháng chiến hỏi Việt Bắc có nhớ “ta” không và diễn tảnỗi nhớ của mình với Việt Bắc một cách khái quát:
+ Người ra về nhớ cả hình ảnh bốn mùa của Việt Bắc Màu sắc, đường nét, âm thanhcủa rừng núi Việt Bắc được miêu tả trong sự vận động của thời gian, không gian Mùanào, cảnh rừng Việt Bắc cũng đẹp, cũng nên thơ đáng yêu, đáng nhớ Có thể coi đấy là
bộ tranh tứ bình đặc sắc của cảnh rừng Việt Bắc kháng chiến in đậm trong tâm trí củangười về Nhà phê bình H.Thanh đã nhận xét: “Những câu thơ của T.Hữu viết về thiênnhiên trong VB có thể sánh với bất kì đoạn thơ miêu tả thiên nhiên nào trong văn học cổ
Trang 18điển” Nó làm ta gợi nhớ tới câu thơ trong “Truyện Kiều của N.Du: “Sen tàn, cúc lại nởhoa Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân.”
+ Đó còn là hình ảnh con người Con người làm thiên nhiên không buồn mà đày sứcsống con người toát ra vẻ đẹp trong lao động, trong sự hòa hợp với thiên nhiên
2 Hai câu 3,4:
- Cảnh: Đây là mùa đông với màu xanh tha thiết lại đột ngột bùng lên màu “hoa chuối đỏ
tươi” như ngọn lửa của rừng, ấm áp tìn yêu: “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Vẻ đẹp của
màu sắc, của hoa lá, của ánh sáng, của hương hoa hòa quyện với vẻ đẹp của conngười
- Người: Giữa “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi” đã nổi bật lên hình ảnh người lao động miền núi:“Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng” Tố Hữu quan sát rất tinh Người đi rừng
bao giờ cũng có một con dao trần dắt lưng lấp lánh ánh sáng mặt trời Hình ảnh “đèocao ánh nắng”… ấy làm sao mà quên được? Chỉ 1 câu thơ mà giúp ta cảm nhận được
tư thế mạnh mẽ, khỏe khoắn của những con người làm chủ thiên nhiên Trong cuộckháng chiến của dân tộc, dù là người chiến đấu hay lao động đều có vẻ đẹp hào hùngnhư vậy: “Núi khoog đè nổi vai vươn tới Lá ngụy trang reo với gió đèo” (Lên Tây Bắc)
3 Hai câu 5,6:
- Cảnh: “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”
Bức tranh mùa xuân lại được chuyển sang gam màu lạnh Ngày xuân rừng núi phủmột màu trắng tinh khiết của hoa mơ Động từ “nở” khiến cho màu sắc như đang vậnđộng, màu trắng càng có sức ám ảnh đối với người đọc
- Người: Dưới ánh sáng của rừng mơ mùa xuân, hình ảnh cô gái lao động Việt Bắc hiện
lên thanh mảnh, dịu dàng:“Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang” Từ “chuốt”, “từng” gợi sự tỉ mỉ, cần mẫn, khéo léo của các cô gaisVB Con người tài hoa ấy cũng đã đi vào thơ N.Đ.Thi: “Tay người như có phép tiên Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ”.
- Người: Giữa cảnh rừng hè, bất chợt gặp một cô gái “hái măng một mình”, phong cảnhthật là hữu tình Cô gái tuy một mình mà chẳng thấy cô đơn, ngược lại khung cảnh càngtôn thêm sự trẻ trung của cô Con người ấy đang làm chủ thiên nhiên, làm chủ cuộc đời
5 Hai câu cuối
- Cảnh: Cảnh thu Việt Bắc lại được miêu tả về đêm với bầu trời cao rộng và mảnh trăng
thu thanh bình:“Rừng thu trăng rọi hòa bình” Chữ “hòa bình” làm không gian trở nên êm
đềm đồng thời cũng là niềm ao ước của tất cả người dân bấy giờ
- Người: Những đêm trăng thu nổi lên “tiếng hát ân tình thủy chung” như tạc vào trong
dạ của người ra đi Trong trí nhớ của họ, phong cảnh Việt Bắc đầy màu sắc như một cáinền để làm nổi bật hình ảnh người Việt Bắc đảm đang,tình nghĩa, thủy chung
-> Đây là đoạn thơ đặc sắc trong bài thơ “Việt Bắc” Đoạn thơ đã diễn tả được tình cảmnhớ thương Việt Bắc sâu nặng của người cán bộ kháng chiến khi rời Việt Bắc để trở vềthủ đô Hà Nội Đặc biệt hơn cả là trong tâm tưởng của người ra về in sâu hình ảnh sắcmàu của bức tranh tứ bình tươi sáng rực rỡ thơ mộng Đoạn thơ đã diễn tả được mộtkhía cạnh sâu sắc của chủ đề bài thơ “Việt Bắc” là tình cảm thủy chung – thủy chung vớicách mạng
B3 Khổ 7
Trang 191 Cõu 1-6: Thiờn nhiờn Việt Bắc như cú linh hồn là nhờ tỏc giả sử dụng phộp nhõnhúa Nỳi rừng Việt Bắc tươi đẹp đó trở thành lũy sắt bảo vệ và che chở cho bộ đội “võy”,
“đỏnh” quõn thự Mụ̃i một tờn nỳi, tờn sụng, tờn phố, tờn bản là một chiến cụng lừng lẫy của quõn dõn Việt Bắc
2 Cõu 7-10: Những cảnh rộng lớn, những hoạt động tấp nập sôi động của cuộc kháng chiến đợc tái hiện với bút pháp đậm nét tráng ca Hồi tởng về cuộc kháng chiến anh hùng, giọng thơ bỗng trở nên sôi nổi, cuồn cuộn hào hùng Đến đây, điệp
từ " nhớ" dờng nh cũng trở nên dồn dập hơn bởi cùng với nó là hàng loạt những địa danh đợc liệt kê: Phủ Thông, Đèo Giàng, Sông Lô, Phố Ràng, Cao- Lạng, Nhị Hà
Đây là những địa danh gắn với những chiến công buổi đầu, những chiến thắng mở màn vang dội
1 2 cõu đầu: Trước hết đú là ấn tượng chung về sức mạnh của dõn tộc ta trong khỏng chiến với “những đường VB của ta đất rung” Đọc cõu thơ ta đó thấy ngay õm hưởng hết sức hựng trỏng của bài ca khỏng chiến vang lờn từ những điệp từ “đờm đờm”, từ lỏy “rầm rập” Và từ gợi tả hỡnh ảnh “đất rung” Những từ ấy đều là những từ được cấu tạo bởi phụ õm nổ (đ - “đờm đờm”), những phụ õm rung (r - “rầm rập”) Ấn tượng ở những cõu thơ này cũn được nổi bật lờn bởi ý nghĩa khỏi quỏt, ý nghĩa biểu trưng của hỡnh ảnh con đường Khi tỏc giả núi “những đường Việt Bắc” đú là những conđường vừa rất thực như tỏc giả từng viết “đường ta rộng thờnh thang tỏm thước”
Đường Bắc Sơn, Đỡnh Cả, Thỏi Nguyờn, đường qua Tõy Bắc, đường lờn Điện Biờn… những con đường mở ra cựng với chiến thắng của quõn dõn ta, nhưng cũng là con đường đầy ý nghĩa tượng trưng khỏi quỏt cả một quỏ trỡnh đi lờn của khỏng chiến và cỏch mạng Con đường đang dẫn tới thành cụng
2 2 cõu 3,4: Hỡnh ảnh một đất nước trong khỏng chiến, của Việt Bắc trong thỏng năm hào hựng bụ̃ng trở nờn rực sỏng và hựng vĩ bởi hỡnh ảnh những đoàn quõn ra trận:
“Quõn đi điệp điệp trựng trựng
Ánh sao đầu sỳng, bạn cựng mũ nan”
Hỡnh ảnh đoàn quõn ra trận đó được cảm hứng lóng mạn tạo nờn tầm vúc vũ trụ bởi hỡnh ảnh ỏnh sao đầu sỳng, một hỡnh ảnh rất thực nhưng đó vụt lớn lờn bởi cảm hứng lóng mạn Ba hỡnh ảnh: sỳng – sao – mũ như đi cựng nhau Khõ̉u sỳng tượng trưng cho ý chớ đỏnh giặc của người lớnh, chiếc mũ là cỏch núi hoỏn dụ để núi về người lớnh nhưng đồng thời lại để chỉ tầm vúc vươn tới sao trời của người lớnh Ánh sao là hỡnhảnh chỉ ngụi sao trờn mũ người chiến sĩ Sao cũng là biểu tượng của tổ quốc Người lớnh ra chiến trận mang theo cả tổ quốc bờn mỡnh:
Anh vào bộ đội sao trờn mũ
Vẫn mói là sao sỏng dẫn đường
Em mói là hoa thơm trờn đỉnh nỳi
Bốn mựa thơm mói cỏnh hoa thơm
(Vũ Cao)
Nhà thơ đó dựng thước đo vũ trụ để đo tầm vúc của người chiến sĩ cỏch mạng Những người chiến sĩ đang hành quõn ra trận Đú là õm hưởng của những chữ “đi”, “điệp điệp”,
Trang 20“trùng trùng” Từ hình ảnh ấy Tố Hữu như dựng lên trước mắt người đọc vẻ đẹp của những đoàn binh ra trận mà như một dải ngân hà lấp lánh đang cuồn cuộn đổ về phía tiền phương.
3 2 câu 5,6: Trong bức tranh tổng hợp về sức mạnh của dân tộc ta trong kháng chiến, Tố Hữu còn dùng một màu sáng, một màu sáng chói loà để làm bừng lên vẻ đẹp hùng vĩ của cuộc chiến tranh nhân dân, dù chỉ qua một chi tiết về đoàn dân công Đó là hình ảnh:
“Dân công đỏ đuốc từng đoàn
Bước chân nát đã muôn tàn lửa bay”
Câu thơ không hề có một chữ “điệp điệp”, “trùng trùng” nào mà ta vẫn thấy sự điệp trùng
ấy Đó là cảm giác có được bởi cấu trúc hết sức độc đáo của câu thơ Tác giả không viết “từng đoàn dân công đỏ đuốc”, mà mở đầu câu thơ là hai chữ “dân công”, cuối câu thơ là hai chữ “từng đoàn” Cấu trúc ấy gợi ra sự điệp trùng vô tận của những đoàn dân công Ở đây là hình ảnh “bước chân nát đá muôn tàn lửa bay” Hình tượng bàn chân là hình tượng biểu trưng cho sức mạnh của con người gắn liền với những chặng đường đấu tranh cách mạng Ở đây hình ảnh bàn chân đã được thủ pháp phóng đại, cường điệu làm bừng sáng lên ánh sáng lãng mạn nhưng đầy khí thế oai hùng lẫm liệt tựa như
“tam quân tì hổ khí thôn ngưu” (thế mạnh ba quân như hổ báo nuốt trôi trâu)
4 2 câu 7,8: Với hai dòng thơ tiếp theo, bức tranh kháng chiến hiện lên với những hình ảnh mới Đó là hình ảnh của những đoàn xe cơ giới ra trận Sự hùng vĩ của nó được đo bằng thước đo của nghìn đêm lịch sử, “Nghìn đêm thăm thẳm sương dày” đã
bị xua đi bởi “Đèn pha bật sáng như ngày mai lên” Chữ “bật sáng” nhằm nhấn mạnh cáikhoảnh khắc chói loà, kháng chiến chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ chiến thắng
5 Bốn câu thơ cuối khép lại bằng niềm vui chiến thắng :
“Tin vui chiến thắng trăm miền
…Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
Tố Hữu sử dụng bốn câu thơ để miêu tả không khí chiến thắng đang dồn dập trên khắp đất nước Cũng là một thủ pháp liệt kê nhưng những địa danh ở đây không gắn với chữ
“nhớ” như ở những dòng thơ mở đầu của đoạn mà gắn với những chữ “vui” để thấy tin vui đang như bay lên từ khắp trăm miền Kết cấu của bốn câu thơ này cũng là một kết cấu khá chặt chẽ Câu một là cảm xúc bao quát: “Tin vui chiến thắng trăm miền”, còn ở câu sau nhằm thể hiện sự lan toả của những tin vui khắp trăm miền ấy Vì thế những địadanh liên tiếp xuất hiện gắn liền với các tin vui chiến thắng Sự liệt kê các địa danh chiến thắng cũng chứa đựng những giá trị tư tưởng-nghệ thuật Đó là sự sắp xếp nhằm làm nổi bật tin vui như bay đi trong một tốc độ “siêu tốc” Vừa mới đó là Hòa Bình - Tây Bắc – Điện Biên, tiếp sau đã là Đồng Tháp (Nam Bộ), An Khê (Tây Nguyên), lại đã là Việt Bắc, đèo De núi Hồng
B5 Khổ 9-10
Tác giả lại chuyển sang giọng điệu thơ trang trọng, thiêng liêng để diễn tả nỗi nhớ của người về đối với Trung ương Chính phủ - Cụ Hồ Và hình ảnh của Việt Bắc trong trí nhớ của người về là quê hương cách mạng, là căn cứ địa kháng chiến, niềm tin là hi vọng của cả dân tộc
1 Qua 4 câu thơ đầu của khổ thơ 10 ta thấy được nỗi nhớ của cán bộ về xuôi cũng như nhân dân Việt Bắc về vị cha già kính yêu của dân tộc một cách thật tha thiết -
Người đã mở cho Cách mạng Việt Nam một con đường mới Lối điệp cấu trúc qua hai câu thơ 6 chữ bắt đầu bằng chữ ''ở đâu'' đều xuất hiện hình ảnh của hiện thực đau đớn của quê hương đất nước ta: "u ám quân thù'', '' đau đớn giống nòi'' Đó là những hình ảnh hiện thực đau đớn của một dân tộc bị mất nước, bị giặc ngoại xâm: chúng bóc lột nhân dân ta một cách vô cùng tàn nhẫn, chúng gây ra nạn đói khủng khiếp khiến hơn 2 triệu đồng bào ta bị chất đói, một hiện thực khó mà phai mờ được Để làm nhẹ dịu hình ảnh đau đớn ấy, nhà thơ đã lồng vào 2 hình ảnh đối lập: '' Cụ Hồ sáng soi'', ''mà
Trang 21nuụi chớ bền'' ở cõu thơ 8 chữ Điệp từ ''nhỡn'' và ''trụng'' ở hai cõu thơ 8 chữ đểu hướng
về Việt Bắc - trung tõm đầu nóo của cuộc khỏng chiến ''Cụ Hồ sỏng soi'' gợi đến ỏnh sỏng của lớ tường soi đường cho dõn tộc, ỏnh sỏng của những chỉ đạo sỏng suốt , ỏng sỏng của niềm tin và hy vọng Cụm từ '' mà nuụi chớ bền '' diễn tả dự hiện thực cú gian khổ đến đõu thỡ, phải đối diện với những khú khăn thử thỏch nhiều thế nào thỡ chỉ cần nhỡn về VB nhõn dõn sẽ cảm thấy cú lũng tin và ý chớ chiến đấu, nuụi chớ bền, trường kỡ khỏng chiến chắc chắn sẽ thành cụng
2 Bốn cõu thơ cuối trong khổ 10 là lời khằng định của người cỏn bộ về xuụi, cỏn bộ sẽ khụng quờn 15 năm ấy - 15 năm chỳng ta đó từng gắn bú thiết tha mặn nồng, đấu tranh dành độc lập tự do cho dõn tộc; cỏn bộ sẽ khụng quờn Việt Bắc là quờ hương của Cỏnh mạng bởi chớnh nơi này mỡnh và ta đó cựng nhau đấu để cú được nền Cộng hũa cho ngày hụm nay Một lần nữa Tố Hữu lại nhắc đến 2 địa danh nổi tiếng và 2 sự kiện nổi bật đó từng diễn ra ở Việt Bắc '' Mỏi đỡnh Hồng Thỏi, cõy đa Tõn Trào'' chỉ để nhấn mạnh rằng mỡnh sẽ luụn nhớ về Việt Bắc - cỏi nụi của Cỏch mạng Ẩn trong nụ̃i nhớ ấy chỡnh là lũng biết ơn sõu sắc và lời hứa sẽ luụn thủy chung của người cỏn bộ miền xuụi với cỏn bộ miền ngược
Người về khụng quờn trả lời cõu hỏi gay cấn của Việt Bắc:
“Mỡnh về mỡnh lại nhớ ta
Mỏi đỡnh Hồng Thỏi, cõy đa Tõn Trào” (2)
(Trả lời cho cõu hỏi “Mỡnh đi mỡnh cú nhớ mỡnh”)
Nghĩa là người về muốn nhắn nhủ với Việt Bắc là dự xa cỏch dự về thành thị xa xụi thỡ người cỏc bộ khỏng chiến năm xưa vẫn giữ gỡn và phỏt huy phõ̉m chất tốt đẹp của người cỏn bộ cỏch mạng
3 Những đặc sắc về nghệ thuật của đoạn thơ
Việt Bắc tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu :
- Tính trữ tình - chính trị : Việt Bắc là khúc hát ân tình thuỷ chung của những ngời cách
mạng với lãnh tụ, với Đảng và cuộc kháng chiến
- Giọng thơ tâm tình ngọt ngào tha thiết
- Nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc : thể hiện thơ lục bát, kết cấu đối đáp, nghệ thuật
sử dụng hình ảnh và hiện pháp so sánh ẩn dụ quen thuộc của ca dao
Tố Hữu đã thành công khi kết hợp nhuần nhuyễn nội dung chính trị và cảm xúc trữtình với hình thức nghệ thuật đậm đà tính dân tộc
Đề: Làm rõ tớnh dõn tộc trong nội dung và nghệ thuật Việt Bắc
1 Tớnh dõn tộc trong nội dung của bài thơ Việt Bắc:
- Về nội dung biểu hiện, tớnh dõn tộc của tỏc phẩm văn học bao giờ cũng được bộc lộ trước hết ở việc tỏc phẩm ấy đề cập tới và thể hiện rừ tớnh cỏch của dõn tộc, đặc điểm linh hồn, cốt cỏch của dõn tộc Với bài thơ Việt Bắc, nhất là trong đoạn mở đầu và phần một, qua nhiều dũng thơ tinh tế,hồn thơ Tố Hữu đó tập trung thể hiện nhiều vẻ đẹp đặc trưng cho tõm hồn, cốt cỏch của dõn tộc, của người Việt:
+ Tỡnh cảm thiết tha gắn bú với cội nguồn, với quỏ khứ, khụng bao giờ quờn một thời gian khổ:
"Mỡnh về mỡnh cú nhớ ta nhỡn sụng nhớ nguồn", "Mỡnh đi mỡnh cú nhớ mỏi đỡnh cõy đa", "Ta với mỡnh, mỡnh với ta Nguồn bao nhiờu nước, nghĩa tỡnh bấy nhiờu", "Mười lăm năm ấy ai quờn dựng nờn Cộng hũa"
Trang 22+Tình cảm gắn bó, chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ: "Trám bùi để rụng ", "Ta đi ta nhớ những ngày chăn sui đắp cùng"
+Tinh thần lạc quan cách mạng, niềm vui sống, yêu đời: "Gian nan đời vẫn núi đèo", "Nghìn đêm như ngày mai lên"
+Tinh thần đoàn kết đồng lòng chung sức kháng chiến: "Nhớ khi giặc đến cả chiến khu một lòng"
+Niềm tự hào dân tộc, niềm hãnh diện trước sự trưởng thành mạnh mẽ của Cách mạng: "Những đường Việt Bắc mũ nan", trước những chiến thắng vang dội lây lan từ miền này sang miền khác: "Tin vui chiến thắng núi Hồng"
+Hiện thân tiêu biểu nhất, đầy đủ nhất cho tính cách Việt Nam, con người Việt Nam trong kháng chiến chính là hình ảnh Bác Hồ Chính vì vậy hình ảnh Bác Hồ cũng như chiến khu Việt Bắc đã trở thành những chuẩn mực, những phẩm chất cao quý thiêng liêng nhất để con người ở mọi nơi hướng về noi theo: "Ở đâu u ám quân thù nuôi chí bền"
2 Tính dân tộc trong nghÖ thuËt
- Tính dân tộc thể hiện ở thể thơ lục bát (thể thơ truyền thống của dân tộc) Giọng thơ mềm mại, uyển chuyển, giàu tính nhạc, dễ đi vào lòng người:
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi năng chiều lưng nương
Nhớ từng bản khói cùng sương
Sớm khuya bếp lửa người thương đi về
- Tính dân tộc thể hiện qua hình thức hát đối đáp trong ca dao trữ tình truyền thống Thường là hát đối đáp giữa nam và nữ qua đó bộc lộ tình yêu quê hương đất nước con người Ở đây, người
về xuôi và người VB đối đáp với nhau
- Tính dân tộc thể hiện ở cách xưng hô: ta – mình mộc mạc, dân dã, thấm đượm nghĩa tình quân dân VB và người cán bộ giống như một đôi bạn tình
- Tính dân tộc mang đậm hồn ca dao và truyện Kiều, thể hiện qua so sánh ví von:
Trang 23Trong VB Tố Hữu viết:
Mỡnh đi mỡnh lại nhớ mỡnh
Nguồn bao nhiờu nước nghĩa tỡnh bấy nhiờu
+ Truyện Kiều:
Những là rày ước mai ao
Mười lăm năm ấy biết bao nhiờu tỡnh
Tố Hữu viết:
Mỡnh về mỡnh cú nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng
- Tớnh dõn tộc thể hiện qua ngụn ngữ thuần Việt, giản dị, dễ thuộc, dễ nhớ Hỡnh ảnh thơ gần gũi đời thường nhiều sức gợi
đất nớc
(Trích: Mặt đờng khát vọng)
Nguyễn Khoa Điềm
I Tìm hiểu chung
1 Nguyễn Khoa Điềm là một trong những nhà thơ tiêu biểu cho thế hệ các nhà thơ trẻ
thời kỳ chống Mỹ Thơ ông hấp dẫn bởi sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc nồng nàn
và t duy sâu lắng về đất nớc và con ngời Việt Nam
2 Trờng ca Mặt đờng khát vọng đợc hoàn thành ở chiến khu Trị- Thiên năm 1971 Tác
phẩm thể hiện sự thức tỉnh của thế hệ thanh niên thời chống Mỹ với ý thức trách nhiệm sâu sắc với quê hơng đất nớc
3 Đoạn trích Đất nớc thuộc phần đầu của chơng V trong tác phẩm đợc xem nh một bài
thơ trọn vẹn Đối với một đất nước, một dõn tộc liờn tục chống ngoại xõm như chỳng ta để bảo vệ nền độc lập thỡ tỡnh yờu quờ hương đất nước bao giờ cũng trở thành chủ đề lớn lớn trong văn học nghệ thuật Chủ đề này vừa mang tớnh khỏi quỏt, vừa mang tớnh cụ thể, bởi lẽ quờ hương đất nước
là một cỏi gỡ đú rất lớn lao, trừu tượng nhưng “Đất Nước” đối với mụ̃i con người lại rất cụ thể Đối với người này thỡ quờ hương đất nước là chựm khế ngọt, là chiếc cầu tre vắt vẻo, là cỏnh diều biếc của tuổi thơ, cũn đối với người kia thỡ quờ hương đất nước lại là ngọn nỳi đồi chất chứa bao kỉ niệm.
Cú lẽ vỡ điều này mà đề tài quờ hương đất nước được viết rất nhiều và đó trở thành cảm hứng chủ đạo Hỡnh tượng đất nước trong mụ̃i bài thơ bờn cạnh những nột chung vẫn cú những sắc thỏi riờng rất độc độc đỏo
Bài thơ “ Đất nước” của Nguyễn Khoa Điềm là một trong những bài thơ như thế Bài thơ thuộc chương V trong bản trường ca “ Mặt đường khỏt vọng” Nguyễn Khoa Điềm viết bài thơ này khi cuộc khỏng chiến chống Mỹ của chỳng ta đang ở thời kỡ cuối, rất gian khổ khốc liệt nhưng chiến thắng đó cận kề Ở thời điểm như vậy, tỏc giả đó phúng tầm mắt của mỡnh suốt chiều dài lịch sử, chiều rộng khụng gian địa lý để suy ngẫm về đất nước, về dõn tộc Qua bài thơ này, ụng muốn khẳng định chõn lý dẫu khụng cú gỡ là mới mẻ nhưng cú thể núi, với dõn tộc ta thỡ đú là một chõn lý bất biến “ Đất Nước này là Đất Nước của nhõn dõn”
Trang 24lÝ gi¶i cho cÆn kÏ Bốn chữ cuối của câu thơ vang lên đầy tự hào “Đất Nước đã có rồi”
Đó là lời khẳng định chắc nịch về sự trường tồn của đất nước qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước
- C©u 2->8: Lịch sử sâu thẳm của đất nước ta được tác giả cắt nghĩa không phải bằng sự nối tiếp của các vương triều hay các sự kiện lịch sử trọng đại như Nguyễn Trãi đã từng viết trong
“Bình Ngô Đại Cáo”:
“Như nước Đại Việt ta từ thuở trước
Vốn xưng nền văn hiến đã lâu
Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc – Nam cũng khác
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần gây nền độc lập
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương”
mà bằng những hình ảnh gần gũi, thân quen, bằng những câu thơ gợi nhớ đến truyền thuyết
xa xưa, đến nền văn minh lúa nước sông Hồng, cùng những phong tục tập quán độc đáo có
từ lâu đời.Đất nước trước hết không phải là một khái niệm trừu tượng mà là những gì rất gần gũi, thân thiết ở ngay trong cuộc sống bình dị của mỗi con người Việc tác giả sử dụng những chất liệu dân gian lµ để thể hiện suy tưởng của mình về đất nước với quan niệm “Đất nước của nhân dân” Trong đoạn thơ trên, tác giả sử dụng khéo léo các kiểu cấu
trúc thơ “Đất nước đã có”, “Đất nước bắt đầu”, “Đất nước lớn lên”, “Đất nước có từ” đã giúp
cho ta hình dung được cả quá trình hình thành và phát triển của đất nước trong trường kì lịch sử nằm sâu trong tâm thức của con người Việt Nam qua bao thế hệ
+ C 2-4: Đất Nước hiện hình trong câu chuyện cổ tích ngày xửa ngày xưa mẹ kể, trong miếng trầu của bà, cây tre trước ngõ … gợi lên một Đất nước Việt Nam bao dung hiền hậu, thủy chung và sắt son tình nghĩa anh em, nhưng cũng vô cùng quyết liệt khi chống quân xâm lược Mỗi quả cau, miếng trầu, cây tre đều gợi về một vẻ đẹp tinh thần Đất nước, đều thấm đẫm ngọn nguồn lịch sử dân tộc
C 2: Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm bắt nguồn từ những huyền thoại :
“Ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể”giờ còn đọng lại trong tiềm thức với cô Tấm ngoan hiền, với sự tích bánh chưng bánh dày, bà tiên nhân hậu hay mụ dì ghẻ độc ác,…Hình ảnh Đất Nước vừa hiện lên vừa giản dị gần gũi ,vừa thiêng liêng sâu lắng bởi nó gắn
Trang 25với thế giới tâm hồn con người ,được nuôi dưỡng từ thưở thơ bé và truyền lại cho muôn đời sau”ngày xưa” chỉ với hai từ mà bao kỉ niệm tuổi ấu thơ lại lùa về Về ý nghĩa của truyện cổ với đời sống tinh thần con người, nhà thơ Lâm Thị Mỹ Dạ đã xúc động mà viết nên:
Tôi yêu truyện cổ nước tôi
Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa
Thương người rồi mới thương ta
Yêu nhau dù mấy cách xa cũng gần
(Truyện cổ nước mình)
C 3: Trong kho tàng văn học dân gian ,nhà thơ đã chọn ra hai câu chuyện để khắc hoạ hình ảnh đất nước bằng chính những cảm nhận sâu sắc của mình “Đất Nước bắt đầu” một câu thơ lí giải sự hình thành đất nước gắn liền với câu chuyện cổ tích cầu trau Đó là câu chuyện cổ tích ngợi ca nghĩa anh em và tình vợ chồng gắn bó keo sơn “Đất Nước bắtđầu với miếng trầu có nghĩa là Đất Nước được hình thành trong lối sống tình nghĩa
“Miếng trầu bây giờ bà ăn” bắt nguồn từ thưở xa xưa _đó là truyền thống tốt đẹp “Miếng trầu bắt đầu câu chuyện” Đất Nước được sinh ra và nuôi dưỡng trong truyền thống đạo lí
tố đẹp của dân tộc đó là lối sống nghĩa tình
C 4: Đất Nước được hình thành trong tình yêu nhưng lại lớn mạnh và trưởng thành nhờnhữmg cuộc đấu tranh bảo vệ dân tộc “Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” Câu thơ gợi nhắc truyền thuyết “Thánh Gióng” Làm ta nhớ đến một cậu bé lớnnhanh như thổi để lên đường đanh giặc Ân cứu nước.Một câu chuyện ngợi ca sức mạnh của tình yêu dân tộc và hình ảnh kì vĩ thánh gióng.Và đất nước ta cũng trưởng thành khi mọi người cùng nhau đồng lòng chống giặc ngoại xâm, mở mang bờ cõi.Với Nguyễn Khoa Điềm, ông đã nhìn thấy sự trưởng thành của Đất Nước trong đau thương , thử thách nhờ công cuộc đấu tranh và lòng yêu nước của dân tộc Qua lịch sử, truyền thống ấy đã trở thành truyền thống yêu nước thiêng liêng
+ C 5-6: Đất nước còn là hiện thân của những phong tục tập quán ngàn đời, minh chứng của một dân tộc giầu truyền thống văn hóa , giầu tình yêu thương gắn bó với mái
ấm gia đình
C 5: “Tóc mẹ thì búi sau đầu” Trong muôn vàn truyền thống đẹp ,nhà thơ chọn ra một hình ảnh thật giản dị nhưng rất tinh tế đặc sắc :hình ảnh người phụ nữ Việt với mái tóc bớisau đầu _hình ảnh thật gần gũi ,thân quen in sâu trong nếp nghĩ ,gợi suy ngẫm về con người trong cuộc sống lam lũ vất vơ nhưng vẫn duyên dáng, tần tảo ,đảm đang Hình ảnh
ấy qua bao năm tháng vẫn không thay đổi ,vẫn gợi suy ngẫm về cái đẹp giản dị mà thiêng liêng “Tóc ngang lưng vừa chừng em búi
Để chi dài bối rối lòng anh” (ca dao cổ)
C 6: Và hình ảnh Đất Nước hiện lên qua chính mĩ tục ấy Đất Nước còn hiện lên trong
sự gắn liền với một lối sống đẹp“Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn” Ý thơ
Trang 26được toát lên từ những câu ca dao đẹp:
“Tay bưng đĩa muối chén gừng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
Hay:
“Muối ba năm muối đang còn mặn
Gừng chín tháng gừng hãy còn cay
Đôi ta tình nặng nghĩa đầy
Dù ba vạn sáu ngàn ngày cũng chẳng xa”
Ý thơ giản dị mà ý nghĩa vô cùng sâu sắc Tình yêu được sinh ra và nuôi dưỡng từ trong khó nghèo, từ trong những hoàn cảnh đầy thử thách thật đáng trân trọng, đáng quý Đó là lối sống trọn nghĩa ,trọn tình,thuỷ chung đã trở thành một truyền thống thiêng liêng được lưu truyền qua bao đời Và sự sinh thành, phát triển của Đất Nước song hàmh cùng với sựlưu truyền và phát triển của truyền thống tốt đẹp ấy
+ C 7-8: Đất nước còn là thành quả của công cuộc lao động vất vả để sinh tồn, để dựng xây nhà cửa : “Cái kèo cái cột thành tên…giã, giần, sàng”
c 7: Đất Nước được gắn liền với những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc”cái kèo, cái
cột”nhưng chính những thứ đơn sơ, mộc mạc ấy đã tạo nên một mái ẫm gia đình,làng xóm, quê hương, đất nước Nói cách khác, nã chính là tế bào của đất nước
c 8: ĐN hiện lên qua cuộc sống lao động sinh hoạt : ”Hạt gạo phải một nắng hai sươngxay,giã,giần,sàng” Hình ảnh thơ của Nguyễn Khoa điềm làm ta gợi nhớ tới câu ca dao mẹ
ru thuở nào:
“Cày đồng đang buổi ban trưa
Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần”
Sự hình thành và phát triển của Đất Nước là một quá trình lâu dài ,nhờ bàn tay lao động xây dựng của con người từ thưở sơ khai ,khi con người tạo dựng những cái đơn giản nhất với nỗ lực một nắng hai sương Con người lao dộng đã biết “xay ,giã ,giần,sàng” để tạo nên hạt gạo ,tạo nên những giá trị vật chất để xây dựng Đất Nước no ấm Cách sử dụng từ ngữ “một nắng hai sương” và chon lọc hình ảnh “xay ,giã ,giần , sàng”cùng nhịp điệu lan toả gợi sự suy ngẫm liên tưởng ,hình ảnh Đất Nước hiện dần nhờ bàn tay lao động cần
cù ,sáng tạo của con người ,hình ảnh ấy hiẹn dần trong nhịp điệu gạo rơi trên sân ,trong tiếng chày ,trong máy xay với cuộc sống lao động bền bĩ dù vất vả ,lam lũ Qua đó ta nhận
ra nét đặc trưng riêng của nền văn học Việt_văn hoá lúa nước Hình ảnh Đất Nước hiện lên trong cuộc sống sinh hoạt là một Đất Nước cần cù, sáng tạo trong lao động
Cũng chính trong cuộc sống lao động sinh hoạt, nhà thơ còn khám ra sự hình thành, phát tiển ngôn ngữ dân tộc gắn liền với nguồn gốchình thành và phát triển của ĐN : Khi con người biết lao động tạo dựng cuộc sống chính là khi họ biết đặt tên cho những sự vật
Trang 27hình tượng gần gũi nhất “cái kèo ,cái cột”,và trong quá trình lao động ,trong sự tìm tòi khám phá ,sáng tạo nên những giá trị vật chất như hạt gạo ,họ đã sáng tạo nên những ngôn
từ ghi lại quá trình lao động ấy “xay ,giã ,giần ,sàng”.Đây là kết tinh tinh tuý linh hồn của dân tộc ĐN hình thành và phát triển cùng với sự hình thành tiếng mẹ thiêng liêng ấy Khám phá Đất Nước ở phương diện văn hóa sinh hoạt ,Nguyễn Khoa Điềm đã phát biểu nhận thức của mình như lối định nghĩa độc đáo ,một cách lí giải không hề mang tính áp đặt mà đầy sức gợi , sức thuyết phục bằng những câu chuyện ,chọn lọc chi tiết giàu ý nghĩa giúp ta nhận ra Đất Nước bắt nguồn từ những điều giản dị nhất ,gần gũi nhất, nhưngbền vững đến muôn đời
- C©u cuèi bµi mang ý tæng kÕt: “Đất Nước có từ ngày đó” Câu thơ khép lại một câu khẳng định với niềm tự hào: “Đất Nước có từ ngày đó” “Ngày đó” là ngày nào ta không
rõ nhưng chắc chắn “ngày đó” là ngày ta có truyền thống, có phong tục tập quán, có văn hóa mà có văn hóa nghĩa là có đất nước Đúng như lời Bác dặn trước lúc đi xa “Rằng muốn yêu tổ quốc mình, phải yêu những câu hát dân ca” Dân ca, ca dao là đặc trưng văn hóa của Việt Nam, muốn yêu Đất Nước trước hết phải yêu và quý trọng văn hóa nước nhà Bởi văn hóa chính là Đất Nước Thật đáng yêu đáng quý, đáng tự hào biết bao lời thơdung dị, ngọt ngào của Nguyễn Khoa Điềm
sử (19-22), trong bề dày của văn hóa – phong tục, lối sống tâm hồn và tính cách dân tộc (23-29) Ba phương diện ấy được thể hiện gắn bó thống nhất và ở bất cứ phương diện nào thì tư tưởng đất nước của nhân dân vẫn là tư tưởng cốt lõi , nó như một hệ qui chiếu mọi cảm xúc và suy tưởng của nhà thơ
Ý nịêm về đất nước được gợi ra từ việc chia tách hai yếu tố hợp thành là đất và nước với những liên tưởng gợi ra từ đó Sử dụng lỗi chiết tự mà vẫn không ngô nghê, mà vẫn thật duyên dáng và ý nhị, có thể gợi ra cho thấy một quan niệm mang những đặc điểm riêng của dân tộc ta về khái niệm đất nước, mà tư duy thơ có thể tách ra, nhấn mạnh + C 10-13: Đất nước không chỉ được cảm nhận bởi không gian địa lí mênh mông từrừng đến bể mà còn được cảm nhận bởi không gian sinh hoạt bình thường của mỗi người,không gian của tình yêu đôi lứa, không gian của nỗi nhớ thương Đất mở ra cho anh mộtchân trời kiến thức, nước gột rửa tâm hồn em trong sáng dịu hiền Cùng với thời gian lớnlên đất nước trở thành nơi anh và em hò hẹn Không những thế, đất nước còn người bạnchia sẻ những tình cảm nhớ mong của những người đang yêu Đất và nước tách rời khianh và em đang là hai cá thể, còn hòa hợp khi anh và em kết lại thành ta Chiếc khăn –biểu tượng của nỗi nhớ thương – đã từng làm bao trái tim tuổi trẻ bâng khuâng : “Khăn
Trang 28thương nhớ ai, Khăn rơi xuống đất …”, một lần nữa lại khiến lũng người xỳc động, bồihồi trước tỡnh cảm chõn thành của những tõm hồn yờu thương say đắm Đất nước là củanhõn dõn” nờn việc đưa chất trữ tỡnh của dõn gian tạo được hiệu quả cao trong việc xõydựng hỡnh tượng đất nước,qua đú ta thấy được sự sỏng tạo cũng như độc đỏo trong thơ củaNguyễn Khoa Điềm Cõu thơ :” Đất Nước là nơi em đỏnh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớthầm” là một vớ dụ Hẳn ta chưa quờn cõu ca dao rất đỗi ngọt ngào:
Khăn chựi nước mắt…”
Vận dụng ý từ cõu ca dao trờn,tỏc giả đó viết nờn dũng thơ đậm chất dõn gian nhưngkhụng kộm phần độc đỏo, tạo nờn một phong cỏch rất riờng của nhà thơ
+ Câu 14-18: Đất Nước cũn là nơi trở về của những tõm hồn thiết tha với quờ hương Hỡnh ảnh con chim phượng hoàng bay về hũn nỳi bạc, con cỏ ngư ụng múng nước biển khơi mang phong cỏch dõn ca miền Trung, thẫm đẫm lũng yờu quờ hương cả tỏc giả Conchim phượng hoàng và cỏ ngư ụng là hai con vật linh thiờng được nhõn dõn ta thờ phụng, nay đưa vào trong văn thơ của Nguyễn Khoa Điềm rất gần gũi Giữa người và thần dườngnhư khụng hề cú sự ngăn cỏch, tất cả như hoà vào nhau bỡnh đẳng Một lần nữa, nhà thơ
đó đưa Đất Nước từ của thần linh trở thành Đất Nước của nhõn dõn Đất Nước mỡnh bỡnh
dị, quen thuộc nhưng đụi khi cũng lớn rộng, trỏng lệ và kỡ vĩ vụ cựng, nhất là đối với những người đi xa Dự chim ham trỏi chớn ăn xa, thỡ cũng giật mỡnh nhớ gốc cõy đa lại
về Gia đỡnh Việt Nam là như thế, lỳc nào cũng hướng về quờ hương, hướng về cội nguồn.Đất Nước trường tồn trong khụng gian và thời gian : Thời gian đằng đẵng, khụng gian mờnh mụng để mói mói là nơi dõn mỡnh đoàn tụ, là khụng gian sinh tồn của cộng đồng Việt Nam qua bao thế hệ
+ Câu 19-29: Song song với quỏ trỡnh tỏch - hợp, là sự hài hũa trong mối quan hệ:
“anh” - “em” và “Chim về”, “Rồng ở” tạo nờn mối tỡnh Lạc Long Quõn - Âu Cơ Qua cỏc cõu thơ, tỏc giả cho ta thấy: đất nước bắt đầu hỡnh thành, “lớn lờn” như những mối tỡnh thõn thiết, yờu thương Nguyễn Khoa Điềm gợi lại truyền thuyết Lạc Long Quõn và Âu
Cơ , về truyền thuyết Hựng Vương và ngày giỗ tổ Nhắc lại Lạc Long Quõn và Âu Cơ, nhắc đến ngày giỗ tổ, Nguyễn Khoa Điềm muốn nhắc nhở mọi người nhớ về cội nguồn của dõn tộc Dự bụn ba chốn nào, người dõn Việt Nam cũng đều hướng về đất tổ, nhớ đếndũng giống Rồng Tiờn của mỡnh Nhắc đến chuyện xưa ấy như để khẳng định, cũng là để nhắc nhở: “Những ai đó khuất….mai sau”
c Mối quan hệ ĐN với mỗi con ngời (c 30-42)
+ Từ quan niệm đất nớc là những gì gần gũi thân thiết của mỗi con ngời, Nguyễn Khoa
Điềm đã phát hiện ra mối quan hệ biện chứng giữa con ngời và đất nớc (30-38)
Hai câu đầu (30-31): “Trong anh và em hụm nay
Đều cú một phần Đất Nước”
Trang 29Chỉ “một phần” nhỏ bé thôi, nhưng xiết bao gần gũi, gắn bó, yêu thương và tự hào Từ khái niệm, ý niệm “mỗi công dân là một phần tử của cộng đồng, của Đất Nước” được diễnđạt một cách “mềm hóa” qua tiếng nói tâm tình của lứa đôi, của “anh và em”.
Bảy câu thơ (32-35) tiếp theo mở rộng ý thơ trên từ “hai đứa” đến “mọi người”, từ
“hôm nay” đến “ngày mai” và muôn đời mai sau
“Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”
Ở phần trước, nhà thơ cảm nhận: “Đất Nước là nơi anh đến trường - Nước là nơi em tắm - Đất Nước là nơi ta hò hẹn - Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm” Và “khi hai đứa cầm tay” thì một mái ấm, tổ ấm gia đình đã được xây dựng Gia đình là “một phần” của Đất Nước Chỉ có tình yêu và hạnh phúc gia đình mới tạo nên sự
“hài hòa, nồng thắm” với tình yêu quê hương Đất Nước Đó là bản chất thống nhất trong tình cảm của thời đại mới Ý tưởng ấy đã được Nguyễn Đình Thi thể hiện trong một tứ thơsâu và đằm về nỗi nhớ:
“Anh yêu em như anh yêu đất nước
Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần…”
Từ tình yêu và hạnh phúc lứa đôi mà biết yêu gia đình, yêu quê hương, yêu đất nước, mới có thể có tình nghĩa sâu nặng “Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm”, mới tìm thấy đất nước quê hương cả trong niềm vui và nỗi đau của anh, của em, của bao lứa đôi khác:
“Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những lần trốn học bị đòn roi
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi” (Giang Nam)
Nói về cội nguồn của giòng giống, của dân tộc, Nguyễn Khoa Điềm nhắc lại sự tích
“Trăm trứng”: “Đất là nơi Chim về - Nước là nơi Rồng ở - Lạc Long Quân và Âu Cơ - Đẻ
ra đồng bào ta trong bọc trứng - Những ai đã khuất - Những ai bây giờ…” Từ huyền thoạithiêng liêng ấy mới có ý thơ này:
“Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tròn, to lớn”
Hai chữ “cầm tay” trong câu thơ “Khi hai đứa cầm tay” có nghĩa là giao duyên, là yêu thương “Khi hai chúng ta cầm tay mọi người” là đoàn kết, là yêu thương đồng bào,… Mọi người có cầm tay nhau, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau mới có hình ảnh “Đất Nước vẹntròn, to lớn”, mới có đại đoàn kết dân tộc và sức mạnh Việt Nam Từ “hài hòa, nồng thắm” đến “vẹn tròn, to lớn” là cả một bước phát triển và đi lên của lịch sử dân tộc và đất nước Đất Nước được cảm nhận là sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc Chỉ khi nào
“ba cây chụm lại nên hòn núi cao”, và chỉ khi nào “lá lành đùm lá rách”, “Người trong một nước phải thương nhau cùng” thì mới có hình ảnh đẹp đẽ, thiêng liêng “Đất Nước vẹntròn, to lớn”
Bốn câu thơ trên đây cấu tạo theo phép đối xứng về ngôn từ: “Khi hai đứa cầm tay”…
“Khi chúng ta cầm tay mọi người”, “Đất Nước hài hoà nồng thắm…” “Đất Nước vẹn tròn, to lớn” Cách diễn đạt uyển chuyển, sinh động ấy có ý nghĩa thẩm mĩ sâu sắc: hình thức này thể hiện nội dung ấy, nội dung ấy được diễn đạt bằng hình thức này Phép đối xứng làm cho thơ liền mạch, hài hòa, gắn bó, thể hiện rõ ý thơ: tình yêu lứa đôi, tổ ấm hạnh phúc, gia đình, tình yêu quê hương đất nước, tinh thần đại đoàn kết dân tộc là những tình cảm đẹp, làm nên truyền thống “yêu nước, yêu nhà, yêu người” và đó là sức mạnh Việt Nam.
Trang 30Ba câu cuối (36-38)
“Mai này con ta lớn lờn
Con sẽ mang Đất Nước đi xa
Đến những thỏng ngày mơ mộng”
Thế hệ con chỏu mai sau sẽ tiếp bước cha ụng “Gỏnh vỏc phần người đi trước để lại” xõy dựng đất nước ta “Vạn cổ thử giang sơn” (Trần Quang Khải), “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” (Hồ Chớ Minh) Hai chữ “lớn lờn” biểu lộ một niềm tin về trớ tuệ và bản lĩnh nhõn dõn trờn hành trỡnh lịch sử đi tới ngày mai tươi sỏng “Mơ mộng” nghĩa là rất đẹp, ngoài trớ tưởng tượng về một Việt Nam cường thịnh, một cường quốc văn minh Điều mà
“anh và em”, mỗi người chỳng ta mơ mộng hụm nay, sẽ biến thành hiện thực “mai này” gần
+ Nguyễn Khoa Điềm đã nói lên đợc sự gắn bó máu thịt giữa số phận cá nhân với vận mệnh cộng đồng, vận mệnh đất nớc Trách nhiệm, bổn phận đối với đất nớc cũng chính là trách nhiệm đối với bản thân:
“Em ơi em đất nớc là máu xơng của mình
…Làm nên đất nớc muôn đời”
“Em ơi em” - một tiếng gọi yờu thương, giói bày và san sẻ bao niềm vui sướng đang dõng lờn trong lũng khi nhà thơ cảm nhận và định nghĩa về Đất Nước: “Đất Nước là mỏu xương của mỡnh” Đất nước là huyết hệ, là thõn thể ruột thịt thõn yờu của mỡnh, và mồ hụixương mỏu của tổ tiờn, ụng cha của dõn tộc ngàn đời Vỡ “Đất Nước là mỏu xương của mỡnh” nờn Trần Vàng Sao đó viết:
“Nuụi lớn người từ ngày mở đất,
Bốn ngàn năm nằm gai nếm mật
Một tấc lũng cũng đẫy hồn Thỏnh Giúng” (“Bài thơ của một người yờu nước mỡnh”) Với Nguyễn Khoa Điềm thỡ “gắn bú”, “san sẻ”, “húa thõn” là những biểu hiện của tỡnh yờu nước, là ý thức, là nghĩa vụ cao cả và thiờng liờng “Phải biết gắn bú và san sẻ… phải biết húa thõn…” thỡ mới cú thể “Làm nờn Đất Nước muụn đời” Điệp ngữ “phải biết” như một mệnh lệnh phỏt ra từ con tim, làm cho giọng thơ mạnh mẽ, chấn động Cú biết trường
ca “Mặt đường khỏt vọng” ra đời tại một nơi núng bỏng, ỏc liệt nhất của thời chiến tranh chống Mỹ thỡ mới cảm nhận được cỏc từ ngữ: “gắn bú”, “san sẻ”, “húa thõn” là tiếng núi tõm huyết “mang sức mạnh ý chớ và khỏt vọng vượt ra ngoài giới hạn thụng tin của ngụn từ” như một nhà ngụn ngữ học lừng danh đó núi
Trong thơ ca Việt Nam thời khỏng chiến, đề tài quờ hương đất nước được tụ đậm bằng nhiều bài thơ kiệt tỏc, những đoạn thơ hay, những cõu thơ tuyệt cỳ Cảm hứng về đất nướcđược diễn tả bằng nhiều tứ thơ độc đỏo, mang phong cỏch sỏng tạo riờng của mỗi nhà thơ Chất trữ tỡnh thấm đẫm dư ba Đất nước trong mỏu lửa mới mang cảm xỳc sõu nặng thế Đõy là tiếng núi ở hai đầu đất nước:
“Tụi yờu đất nước này chõn thật
Như yờu căn nhà nhỏ cú mẹ của tụi
Như yờu em nụ hụn ngọt trờn mụi
Và yờu tụi đó biết làm người
Cứ trụng đất nước mỡnh thống nhất” (Trần Vàng Sao)
2 Phần 2 : Cảm nhận về đất nớc từ phơng diện địa lí, lịch sử, văn hóa,…của nhân dân
a) Từ bình diện đất nớc trong muôn mặt đời thờng, nhà thơ đi sâu triển khai t tởng "đất
nớc của nhân dân" theo bình diện không gian Khi nói về địa lí, về núi, sông, ruộng đồng,
gò bãi,… nhà thơ đã rọi cái nhìn khám phá lên bản đồ địa lí của đất nớc "Con mắt thơ" đã nhìn non sông đất nớc trong vẻ đẹp của đời sống tâm hồn nhân dân (c 43-54):
Những ngời vợ nhớ chồng còn góp cho đất nớc những núi Vọng Phu
Trang 31…Những ngời dân nào đã góp nên Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm
- Cú thể nhận thấy ở đoạn thơ này, sự xuất hiện dày đặc những địa danh của quờ hương
là một điều hết sức đặc biệt Nguyễn Khoa Điềm khụng chỉ muốn giới thiệu về vẻ đẹp củaĐất Nước mỡnh mà ụng cũn muốn núi một điều, chớnh những người dõn bỡnh dị đó tạo nờnbiết bao vẻ đẹp ấy Từ người vợ nhớ chồng, cặp vợ chồng yờu nhau, đú đều là những điển tớch được trớch dẫn ra, là điển tớch lớ giải cho sự tạo thành của những cảnh đẹp bõy giờ Nguyễn Khoa Điềm luụn coi Đất Nước và Nhõn Dõn là một Nhõn dõn, chớnh nhõn dõn mới là những người làm nờn đất nước Hỡnh ảnh trong thơ Nguyễn Khoa Điềm tuy là được liệt kờ nhưng hoàn toàn khụng phải là liệt kờ một cỏch tràn lan mà nú rất cú chọn lọc "Chớn mươi chớn con voi gúp mỡnh dựng đất Tổ Hựng Vương" nhắc nhớ ta về truyền thuyết nơi đất tổ vua Hựng cú chớn mươi chớn con voi quõy quần thần phục Nú nhưng một truyền thống yờu nước và hướng về cội nguồn quý bỏu mà nhõn dõn ta từ bao đời nayvẫn gỡn giữ Cội nguồn, quờ hương vẫn là một cỏi gốc mà người dõn Việt khụng bao giờ quờn trong mỗi cuộc đời Rồi nỳi Bỳt, non Nghiờn được tạo nờn bởi "người học trũ
nghốo" Cõu thơ làm người ta nghĩ tới sự hiểu húc, chăm chỉ cần cự trong học tập rốn luyện của người Việt ễng cha ta từ bao đời nay đó vượt qua cỏi nghốo, cỏi khổ nhưng vẫn dành tõm sức cho việc rốn luyện bản thõn Những người tài ắt hẳn cũng lớn lờn, thành cụng và đúng gúp cho nước nhà từ đức tớnh siờng năng ấy Rồi chỉ những người dõn bỡnh thường thụi, cũng gúp phần tạo nờn danh thắng ễng Đốc, ễng Trang, Bà Đen, Bà Điểm ở Nam Bộ Điều đặc biệt là nhà thơ đó liờn tưởng rất độc đỏo những tờn của địa danh này đểrồi gắn vào đằng sau đú là sự đúng gúp của người dõn
- Trải dài qua khổ thơ, từ "gúp" liờn tục được xuất hiện Khụng phải là một từ nào khỏc
mà là "gúp" Đụi khi chỉ một cỏch dựng từ, một từ ngữ làm điểm nhấn cũng tạo được cho tỏc phẩm giỏ trị riờng và thành cụng đến bất ngờ Từ "gúp" thể hiện khụng chỉ một người,
mà là nhiều người cựng chung tay, cựng tạo nờn một Đất Nước Việt Nam với nhiều cảnh đẹp như thế Động từ "gúp" nú thể hiện sự thõn tỡnh, như một cỏch núi của khẩu ngữ dõn gian vụ cựng quen thuộc, nú lại thể hiện được cỏi tõm thế, sao mà bỡnh dị, sao mà cần mẫncủa mỗi người dõn khi đúng gúp cho Đất Nước đến thế
-> Nguyễn Khoa Điềm đó khụng bỏ đi một chi tiết nào, mà đều lựa chọn cẩn thận, từ hỡnh ảnh đến từ ngữ để đoạn thơ hiện lờn hay và tập hợp được những gỡ tinh tỳy nhất Tư tưởng Đất Nước của Nhõn Dõn ở đoạn này khụng chỉ dừng lại ở lời kờu gọi, mà nú cũn nõng lờn tầm cao hơn, bởi nú nhắc nhở chỳng ta rằng Đất Nước được tạo nờn từ người dõnbỡnh thường mà thụi Nh vậy, về phơng diện lịch sử, địa lí của đất nớc, nhà thơ đã quan sátdới góc độ văn hóa, văn hóa - lịch sử, văn hóa- địa lí Cảnh vật thiên nhiên của đất nớc quacái nhìn của Nguyễn Khoa Điềm hiện lên nh một phần tâm hồn máu thịt của nhân dân Chính nhân dân đã dựng lên đất nớc này, đã đặt tên, đã ghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông
- Từ đó, nhà thơ đi đến những câu thơ có tầm khái quát cao và tràn đầy cảm xúc :
Và ở đâu trên khắp ruộng đồng, gò bãi
Chẳng mang một dáng hình, một ao ớc, một lối sống ông cha
Ôi đất nớc sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đã hóa núi sông ta
Hồi đú đất nước cũn đang bị kẻ thự chia cắt, nhà thơ viết trường ca "Mặt đường khỏt
vọng" ở chiến trường, nhưng trong tư duy của nhà thơ là một đất nước thống nhất Lời
khẳng định này đó thực sự đem tư tưởng Đất Nước của Nhõn Dõn thấm vào lũng người đọc Cỏch diễn đạt của Nguyễn Khoa Điềm luụn luụn mang đến sự mới mẻ cho độc giả
"Trờn khắp ruộng đồng gũ bói" đó là một sự khỏi quỏt khụng cú gỡ cú thể khước từ Nú khụng cũn chỉ là ở những địa danh đó nờu ở trờn, khụng phải chỉ tồn tại ở một nơi nào đú,
mà nú là ở khắp Đỏt Nước ta, khắp sụng nỳi ta Cũng tương tự như vậy với cõu thơ "ễi
Trang 32Đất Nước sau bốn nghỡn năm đi đõu ta cũng thấy - những cuộc đời đó húa nỳi sụng ta " Cõu thơ trước nõng tầm khỏi quỏt về khụng gian thỡ cõu thơ sau lại nõng tầm khỏi quỏt về thời gian Nú hũa quyện vào nhau, tổng hợp cựng nhau để cựng tụ đậm cho tư tưởng Đất Nước - Nhõn Dõn xuyờn suốt mạch bài thơ
b) T tởng ĐN của nhân dân qua cái nhìn về lịch sử và nhân dân (c 55-79)
- Lại một lần nữa, Nguyễn Khoa Điềm cất tiếng gọi tha thiết
"Em ơi em
…Nhiều ngời anh hùng cả anh và em đều nhớ”
Thờm một lần nữa Nguyễn Khoa Điềm đó làm thức tỉnh trong ta ý thức về trỏch nhiệm của mỡnh với Đất Nước Để độc giả nhận thấy được những lời mỡnh muốn căn dặn,
Nguyễn Khoa Điềm khụng đi nặng vào giỏo điều triết lớ ễng dựng chớnh những con người để thức tỉnh và mời gọi con người Như một quy luật, một điều tất yếu khụng thể nào khỏc, bốn nghỡn năm lịch sử của chỳng ta đó đi qua để lại dấu ấn bằng những cuộc đỏnh đuổi quõn xõm lược Mà những chiến thắng ấy vỡ đõu mà cú? Những trang sử ấy do
ai viết nờn? Ai là người đó cầm sỳng chiến đấu? Ai là người đó xụng pha ra mặt trận? Ai
là người đó kiờn quyết giữ cho Đất Nước khụng rơi vào tay của quõn giặc hung tàn? Đú chớnh là NHÂN DÂN! Cái nhìn về lịch sử của Nguyễn Khoa Điềm cũng vừa quen, vừa lạ
- Khi nghĩ về nghìn năm đất nớc, nhà thơ không ca ngợi các triều đại cũng không nói tới các anh hùng đã ghi danh trong sử sách mà nói tới một "nhân dân vô danh" đã làm nên đấtnớc:
Trong bốn nghìn lớp ngời giống ta lứa tuổi
hệ ghi nhận lại Sự đúng gúp ấy đó đỳc kết nờn dải đất hỡnh chữ S vẫn vẹn nguyờn qua năm thỏng, đập tan biết bao ỏch xõm lược và thống trị dó man đó từng đàn ỏp nhõn dõn ta
- Và để bản trường ca thật sự cú chiều sõu, Nguyễn Khoa Điềm cũn làm sỏng tỏ tư tưởng Đất Nước - Nhõn Dõn của mỡnh qua việc khắc họa Đất Nước ở chiều sõu văn húa Nền văn húa ấy cũng bắt nguồn từ nhõn dõn, nền văn húa ấy lại được lưu giữ và truyền cho ngàn đời sau bởi nhõn dõn Truyền thống ấy kết tinh ở nhõn dõn Vậy nờn, chớnh việc núi tới chiều sõu văn húa dõn tộc mỡnh đó giỳp Nguyễn Khoa Điềm làm cho tư tưởngĐất Nước - Nhõn Dõn thờm trọn vẹn
"Họ giữ và truyền cho ta hạt lỳa ta trồng
Họ truyền lửa qua mỗi nhà, từ hũn than qua con cỳi
Họ gỏnh theo tờn xó, tờn làng trong mỗi chuyến di dõn
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cõy hỏi trỏi
Cú ngoại xõm thỡ chống ngoại xõm
Cú nội thự thỡ vựng lờn đỏnh bại"
Tập tục của một nền nụng nghiệp lỳa nước được nhà thơ tỏi hiện qua những cõu văn Từ những điều tưởng chừng như tầm thường, bộ nhỏ như hũn than, con cỳi cũng cho thấy
Trang 33một phần nào đú bản sắc riờng của dõn tộc Người dõn Việt Nam là thế, trải qua bao đời
họ vẫn giữ trong mỡnh những phẩm chất riờng khụng thể lẫn vào đõu Những cụng việc lao động đó từ ngàn đời nay vẫn cũn tồn tại Rồi truyền thống yờu nước, căm thự giặc Tất cả đó làm nờn một bản sắc riờng cho dõn tộc Việt "Nhân dân vô danh" đã lao động, chiến đấu chống ngoại xâm, họ đã gìn giữ và truyền lại cho các thế hệ con cháu mai sau những giá trị văn hóa, văn minh tinh thần và vật chất của đất nớc từ hạt lúa, ngọn lửa, tiếngnói, tên xã, tên làng đến những truyện thần thoại, những ca dao, tục ngữ
c) Mạch suy nghĩ của bài thơ dẫn đến tư tưởng cốt lừi Điểm hội tụ và cũng là cao
điểm của cảm xỳc trữ tỡnh ở cuối đoạn trớch này “Đất nước này là Đất nước của Nhõn dõn” (c 80-85)
khi núi đến Đất nước của Nhõn dõn, một cỏch tự nhiờn, tỏc giả trở về với nguồn phong phỳ đẹp đẽ của văn húa, văn học dõn gian mà tiờu biểu là trong ca dao Vẻ đẹp tinh thần của nhõn dõn, hơn đõu hết, cú thể tỡm thấy ở đú trong ca dao, dõn ca, truyện cổ tớch
“Đất nước của Nhõn dõn, Đất nước của ca dao thần thoại” Cõu thơ ở hai vế song song, đồng đẳng là một cỏch định nghĩa về Đất nước… thật giản dị mà cũng thật độc đỏo Trong
cả kho tàng ca dao, dõn ca, ở đõy tỏc giả chỉ chọn lọc ba cõu để núi về ba phương diện quan trọng nhất của truyền thống nhõn dõn, dõn tộc:
thật say đắm trong tỡnh yờu (yờu em từ thuở trong nụi)
"Yờu em từ thuở trong nụi
Em nằm em khúc anh ngồi anh ru"
quý trọng tỡnh nghĩa (quý cụng cầm vàng những ngày lặn lội)
"Cẩm vàng mà lội qua sụng
Vàng rơi khụng tiếc, tiếc cụng cầm vàng"
nhưng cũng thật quyết liệt trong căm thự và chiến đấu
"Thự này ắt hẳn cũn lõu
Trồng tre thành gậy, gặp đõu đỏnh quố"
Chỳng ta gặp lại cỏch vận dụng vốn ca dao dõn ca một cỏch sỏng tạo, khụng lặp lại nguyờn văn mà chỉ sử dụng ý và hỡnh ảnh của cõu ca dao, vẫn gợi nhớ đến cõu ca dao nhưng lại trở thành một cõu, một ý thơ gắn bú trong mạch thơ của bài
Tư tưởng Đất nước của Nhõn dõn thật ra đó cú manh nha từ trong lịch sử xa xưa Những nhà tư tưởng lớn, những nhà văn lớn dõn tộc đó từng núi lờn nhận thức về vai trũ của nhõndõn trong lịch sử (Nguyễn Trói, Nguyễn Đỡnh Chiểu, Phan Bội Chõu) hoặc cảm thụng sõu sắc với số phận của nhõn dõn, của mọi lớp người trong nhõn dõn (Nguyễn Du với văn Chiờu hồn, Truyện Kiều) Đến nền văn học hiện đại, được soi sỏng bằng tư tưởng xó hội chủ nghĩa, bằng quan điểm Mỏc-xớt về nhõn dõn và nảy nở từ trong thực tiễn vĩ đại của cuộc cỏch mạng mang tớnh nhõn dõn sõu sắc, văn học từ sau Cỏch mạng Thỏng Tỏm đó đạt đến một nhận thức sõu sắc về nhõn dõn và cảm hứng về đất nước mang tớnh dõn chủ cao (Thơ ca khỏng chiến chống Phỏp là một vớ dụ tiờu biểu Cú thể nhớ đến cỏc bài: Tỡnh sụng nỳi của Trần Mai Ninh, Đất nước của Nguyễn Đỡnh Thi, Bờn kia sụng Đuống của Hoàng Cầm…) Đến giai đoạn chống Mỹ, tư tưởng Đất nước của Nhõn dõn một lần nữa được nhận thức sõu sắc thờm bởi vai trũ và những đúng gúp to lớn, những hi sinh vụ vàn của nhõn dõn trong cuộc chiến tranh dài lõu và cực kỳ ỏc liệt này
Tư tưởng ấy được cỏc nhà thơ trẻ chống Mỹ phỏt biểu một cỏch thấm thớa qua sự trải nghiệm của chớnh mỡnh như những thành viờn của nhõn dõn, cựng chia sẻ mọi gian lao, hi sinh và được che chở, đựm bọc, nuụi dưỡng của nhõn dõn (Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy, cỏc trường ca Những người đi tới biển của Thanh Thảo và Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh đều tập trung núi về những gương mặt của cỏc con người bỡnh thường, vụ
Trang 34danh trong nhõn dõn và khụng phải ngẫu nhiờn mà đều bắt đầu bằng hỡnh ảnh người mẹ) Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm gúp thờm một thành cụng trong dũng thơ về Đất nước thời chống Mỹ, làm sõu sắc thờm nhận thức về Nhõn dõn và Đất nước.
d Bốn cõu thơ kết đoạn
ễi những dũng sụng bắt nước từ đõu
Mà khi về Đất Nước mỡnh thỡ bắt lờn cõu hỏt
Người đến hỏt thi chốo đũ, kộo thuyền vượt thỏc
Gợi trăm màu trờn trăm dỏng sụng xuụi.
Đất Nước gắn liền với dũng sụng Đất Nước gắn với những con người theo dũng chốo
đũ, kộo thuyền vượt thỏc Họ phải trải qua những gian nan vất vả Họ phải chốo, kộo và vượt qua tất cả thỏc ghềnh để gieo trồng và giữ gỡn sự sống Lạ thay, họ cất lờn tiểng hỏt Tiếng hỏt để động viờn nhau Tiếng hỏt thể hiện lũng yờu đời, thiết tha với đời
3 Những đặc sắc nghệ thuật
- Tác giả sử dụng một cách nhuần nhị và đầy sáng tạo chất liệu văn hoá, văn học dân gian : những câu chuyện thần thoại, cổ tích, những câu tục ngữ, ca dao, những phong tục, tập quán lâu đời,…
- Cái hay của đoạn thơ là sự hòa quyện giữa lí luận và rung cảm Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện những suy tởng về đất nớc dới dạng trò chuyện tâm tình Bởi vậy mà không hề khô khan "Đất nớc của nhân dân" là hệ quy chiếu mọi cảm xúc, suy tởng khiến cho nhận thức nghệ thuật của nhà thơ vừa quen vừa lạ vừa mới mẻ ở chiều sâu của những hình ảnh quen thuộc, gần gũi mà huyền diệu, nên thơ
III Tổng kết
Đoạn thơ thể hiện những cảm nhân mới mẻ và phát hiện sâu sắc của nhà thơ về Đất nớc
T tởng trọng tâm bao trùm là t tởng “Đất nớc của nhân dân”
Tác giả sử dụng nhuần nhị và sáng tạo chất liệu văn hoá, văn học dân gian cùng với sự kết hợp giọng trữ tình- chính luận, hình thức tâm tình đôi lứa đã tạo nên đặc sắc nghệ thuật cho đoạn thơ
Đề Trong bài thơ Đất nước (trớch Trường ca Mặt đường khỏt vọng) Nguyễn Khoa Điềm đó sử dụng nhiều chất liệu văn húa dõn gian Anh (chị) hóy chỉ ra những chất liệu ấy và phõn tớch ý nghĩa của những chất liệu ấy trong việc thể hiện tư tưởng Đất nước nhõn dõn.
Bài làm
Đất nước luụn là tiếng gọi thiờng liờng muụn thuở, muụn nơi của bao triệu trỏi tim con người Đất nước đi vào đời chỳng ta qua những lời ru ngọt ngào ờm dịu, qua những làn điệu dõn ca mượt mà và những vần thơ sõu lắng, thiết tha và rất đỗi tự hào của bao lớpthi nhõn Ta bắt gặp một hỡnh tượng đất nước đau thương nhưng vẫn ngời lờn ý chớ đấu tranh trong thơ Nguyễn Đỡnh Thi Đồng thời cũng rất dịu dàng, ý tứ trong thơ Hoàng
Trang 35Cầm Nhưng với Nguyễn Khoa Điềm, ta bắt gặp một cái nhìn tổng hợp từ nhiều bình diện khác nhau về một Đất nước của nhân dân.
Trong bài thơ Đất nước, Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng đậm chất Văn hóa dângian Từ các truyền thuyết vào loại cổ xưa nhất của dân tộc ta đến truyện cổ tích, Ca dao -dân ca; từ những phong tục tập quán, truyền thống của dân tộc ta đến những hoạt độngsinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày Đặc biệt, cảm hứng của tác giả về Đất nước đượcthể hiện trên ba bình diện: chiều dài thời gian – lịch sử, chiều rộng không gian – địa lí vàchiều sâu của văn hóa phong tục, của lối sống thể hiện tâm hồn và tính cách dân tộc Trênmỗi bình diện, tác giả đã thể hiện một cách sâu sắc tư tưởng cốt lõi: “Đất nước nhân dân”
Cảm hứng về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm bắt nguồn từ những huyền thoại:
“Ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể” Đúng là khi mỗi chúng ta lớn lên đất nước đã có
rồi Dù chưa đủ trí tuệ để hiểu đất nước với những khái niệm trừu tượng như cương vựclãnh thổ, chủ quyền nhưng mỗi chúng ta cũng đã cảm nhận được Đất nước là một cái gì
đó gần gũi, qua những câu chuyện truyền thuyết, cổ tích mẹ thường kể thuở nằm trongnôi
Không chỉ vậy, Đất nước còn bắt đầu với “miếng trầu bây giờ bà ăn” Miếng trầu
là biểu tượng đặc trưng nhất của văn hóa trọng nghĩa, trọng tình của người Việt Và đặcbiệt hơn hết còn gợi nhắc ta nhớ đến câu chuyện cổ tích trầu cau
Mỗi một hình ảnh đểu gợi một vẻ đẹp tinh thần Đất nước, đều thấm đẫm ngọn
nguồn lịch sử dân tộc: “ Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” –
Gợi ta nhớ đếntruyền thuyết Thánh Gióng nhổ tre đánh giặc Ân thuở xa xưa Truyềnthống yêu nước, bền bỉ, kiên cường giữ nước luôn được khơi dậy qua những lời kể đậm đàcủa mẹ trở thành hồn thiêng dân tộc
Nguyễn Khoa Điềm đã lấy chất liệu từ nguồn văn hóa dân gian, từ ca dao, tục ngữ,
từ đời sống quen thuộc hàng ngày Bởi vậy, không gian nghệ thuật được mở rộng ra nhiềuchiều và hình tượng trong thơ trở nên trữ tình, bay bổng:
Tóc mẹ thì búi sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng
Đất nước có từ ngày đó…
Trang 36Nhà thơ đã dành một lời ngợi ca, một sự trân trọng đối với tình nghĩa vợ chồng khi
nói đến “cha mẹ” Sự thủy chung son sắt trải qua bao gian khó nhọc nhằn được nhà thơ đề cao Hình ảnh “gừng cay muối mặn” gợi nhắc ta nhớ đến câu ca dao:
“Tay nâng chén muối đĩa gừng.
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau”
Thể hiện tình nghĩa vợ chồng gắn bó keo sơn
Mỗi một hình ảnh đều mang một ý nghĩa nhất định gắn với cuộc sống của người
dân: “Cái kèo cái cột”: Sự vật thân thuộc với đất nước đi lên từ nông nghiệp “Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, dần, sàng…” gắn với cuộc sống lam lũ nhọc nhằn của
người nông dân Đó là thành quả của sự lao động vất vả để sinh tồn Ở đây, Đất nướckhông còn là một khái niệm trừu tượng nữa mà cụ thể, quen thuộc và giản dị biết bao.Việc tác giả sử dụng những chất liệu văn hóa dân gian thể hiện tư tưởng của mình về đất
nước với quan niệm Đất nước nhân dân
Đất nước trở thành gần gũi, thân thương, gắn bó với mỗi người Thân thương nhưmái trường ta học, như dòng sông em tắm, như góc phố, đình làng, ao sen, lũy tre, cây đa,bến nước, nơi lứa đôi hò hẹn… một không bgian nhỏ, chỉ hai người biết, một không gianrất riêng tư nhưng cũng đậm đà hồn quê hương xứ sở Đất nước còn thân thương như câu
ca dao tình yêu quen thuộc cất lên từ mỗi xóm làng:
Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt lên vai Khăn thương nhớ ai Khăn chùi nước mắt…
Vẫn mạch cảm xúc thiết tha, nhà thơ say xưa lí giải:
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
Thời gian đằng đẵng Không gian mênh mông Đất nước là nơi dân mình đoàn tụ
Trang 37Lấy ý từ những câu dân ca Huế mượt mà, câu thơ đưa người đọc về với không gian
thân thương Những từ “núi bạc, biển khơi” mang âm hưởng thành ngữ dân gian, gợi ra
một Đất nước mênh mông giàu đẹp Sự mênh mông, giàu đẹp đó không tự nhiên mà cóđược, nó gắn với thời gian đằng đẳng, dài lâu, liên tục, bền bỉ mà nhân dân ta đã đổ bao
mồ hôi, nước mắt và cả xương máu để xây dựng bờ cõi đất nước thành dải đất hình chữ S
thân thương cho “dân mình đoàn tụ” Quá khứ, hiện tại, tương lai đã gắn kết trong một ý
thức cộng đồng bền chặt, là nguồn sức mạnh và cũng là phẩm chất tâm hồn dân tộc đãđược nhà thơ lí giải qua những hình tượng thơ giàu tính thẩm mỹ và hàm chứa mối quan
hệ đất nước- con người Nhân dân không thể tách rời:
Đất là nơi Chim về Nước là nơi Rồng ở Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng Những hình tượng quen thuộc trong thuần thoại, truyền thuyết như “Chim, Rồng, Lạc Long Quân, Âu Cơ, bọc trăm trứng” cùng tụ về trong trường liên tưởng của nhà thơ.
Sự hội tụ ấy làm nổi bật lên ý thơ có tầm khái quát cao: Dân tộc ta là “con Rồng cháu Tiên”, Đất nước ta là “Đất lành Chim về, đất thiêng Rồng ở”, dân tộc Việt là anh em một nhà, cùng được sinh ra từ “bọc trăm trứng” của cha Lạc Long Quân và mẹ Âu Cơ.
Một đất nước có nguồn gốc văn hóa và truyền thống lâu đời, rất đổi thân thương và
tự hào như thế, chính là “Đất nước của nhân dân” Trong mỗi con người đều có một phầnĐất nước Sự thống nhất của Đất nước bắt nguồn từ sự gắn bó các thế hệ và được tiếp nối
từ thế hệ này sang thế hệ khác Đất nước không chỉ là ở quá khứ mà còn Đất nước hiện tại
và tương lai Mối quan hệ hình hài - sự sống của mỗi cá nhân vô danh góp phần làm nênbất tử Từ những quan niệm như vậy về Đất nước, tác giả đã tập trung làm nổi bật tưtưởng: Đất nước Nhân dân, chính nhân dân là người sáng tạo ra Đất nước Tư tưởng đó đãdẫn đến một cái nhìn mới mẻ, có chiều sâu địa lí về những danh lam thắng cảnh trên khắpmọi miền Đất nước Những núi Vọng Phu, hòn Trống Mái, những núi Bút, non Nghiênkhông còn là những cảnh thú thiên nhiên nữa mà được cảm nhận thông qua những cảnhngộ, số phận của Nhân dân, được nhìn nhận như là những đóng góp của Nhân dân, sự hóathân của những con người không tên, không tuổi:
Từ những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất nước những núi Vọng Phu
Trang 38Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái Gót ngựa Thánh Gióng đi qua trăm ao đầm để lại…
Cảnh thiên nhiên qua cách nhìn của Nguyễn Khoa Điềm hiện lên như một phẩntâm hồn máu thịt của nhân dân Chính nhân dân đã tạo dựng nên Đất nước, đã đặt tên, đãghi dấu vết cuộc đời mình lên mỗi ngọn núi, dòng sông Nếu không có những người vợViệt Nam chung thủy đợi chồng, mòn mỏi qua bao cuộc chiến tranh và li tán thì không thể
có cảm nhận núi Vọng Phu, hòn Trống Mái Phải chăng truyền thuyết Thánh Gióng cưỡingựa sắt, nhổ tre làng đánh giặc Ân đã khiến ao đầm làng Gióng lấp lánh vẻ đẹp tinh thầnyêu nước? Một truyền thuyết Hùng Vương nên địa hình núi sông hùng vĩ quanh đền Hùng
mới được gọi là “Chín mươi chín….đất tổ Hùng Vương” Niềm tự hào về mảnh đất
thiêng, về xứ sở thanh bình dạt dào sông nước đã hóa tên thành Cửu Long Truyền thống
hiếu học của những người học trò nghèo Việt Nam bao đời đã tạc ghi trong tên gọi “Núi Bút, non Nghiên” Cuộc sống bình dị và sự đóng góp thầm lặng, kkha khẩn đất hoang của những người dân đã đặt tên cho non núi “Ông Đốc, ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm” Đến
cả “Con Cóc, con gà quê hương” cũng góp cho Hạ Long thành thắng cảnh, thành Đất
nước bình dị mà tươi đẹp
Hình ảnh núi sông hội tụ lấp lánh qua những vần thơ, soi bóng tâm hồn của nhữngcuộc đời vô danh, càng thấm thía một điều bình dị: Đất nước của Nhân dân, đất nướcmang màu sắc dân gian, dân dã, thiêng liêng, gần gũi…
Nhưng em biết không
Có biết bao người con gái, con trai Trong bốn nghìn lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đã sống và đã chết Giản dị và bình thản Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm ra Đất Nước
Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng
Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi
Họ truyền giọng điệu mình cho con tập nói
Họ gánh theo tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân
Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái
Trang 39Có ngoại xâm thì đánh ngoại xâm
Có nội thù thì vùng lên đánh bại
Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện sâu đậm tâm hồn nhân dân không ở đâu khác ngoàivăn hóa dân gian Nên “Đất nước của Nhân dân” cũng chính là Đất nước của ca dao, cổtích Tác giả đã sử dụng sâu rộng chất liệu của văn hóa dân gian, từ ca dao dân ca, tục ngữđến truyền thuyết, cổ tích, các phong tục tạp quán sinh nhoạt… Vì lẽ đó bài thơ đã đưangười đọc phiêu diêu về thế giới nghệ thuật của nhân dân với những nét tâm hồn và tínhcách của dân tộc vốn gắn bó máu thịt với mọi người Việc sử dụng chất liệu văn hóa dângian ở đây không chỉ là một thủ pháp nghệ thuật mà đã là sự thấm nhuần quan niệm đấtnước cảu nhân dân trong cảm hứng sáng tạo trong tâm hồn nhà thơ Đó chính là thể hiện
tư tưởng cốt lõi của bài thơ trong việc lựa chọn chất liệu, thi tứ, xây dựng hình ảnh vàngôn ngữ nghệ thuật, khi nói đến tâm hồn nhân dân trong ca dao, dân ca… Nói chung làvăn hóa dân gian nhà thơ đã dâng trào một cảm xúc dạt dào:
Đất nước của nhân dân Đất nước của ca dao thần thoại Dạy anh biết yêu em từ thuở trong nôi Biết quý công cầm vàng trong những ngày lặn lội Biết trồng tre mà đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu…
Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các chất liệu vănhóa dân gian Không lặp lại hoàn toàn các câu ca dao, dân ca, nhà thơ thường chỉ dùngmột hình ảnh hoặc một phần của các câu ca dao đó để đưa vào thơ của mình Các truyềnthuyết và cổ tích cũng được sử dụng theo cách gợi nhắc tới bằng một hình ảnh hoặc têngọi Tác giả đưa người đọc nhập cả vào môi trường văn hóa, văn học dân gian đồng thờilại thể hiện được sự đánh giá, cảm nhận được phát hiện của tác giả về kho tàng văn hóatinh thần ấy của dân tộc
Như vậy, đề cao vai trò nhân dân với Đất nước là cả một truyền thống lâu dài tronglịch sử văn học dân tộc Tuy nhiên, để tư tưởng đó trở thành chủ đạo, xuyên thấm mọibiểu hiện tinh tế nhất của hình tượng đất nước, lại được cảm nhận một cách toàn diện, sâusắc trên nhiều bình diện thì đó là một đóng góp đặc sắc của Nguyễn Khoa Điềm ở trang
Trang 40thơ này Tỏc phẩm đó tạo nờn những rung động õm vang trong lũng người đọcchớnh nhờnhững cảm xỳc chõn thành, sự vận dụng những chất liệu văn húa dõn gian Điều đú cũnggúp thờm một thành cụng cho dũng thi ca về đất nước, làm sõu sắc thờm những nhận thức
về đất nước và nhõn dõn bằng tiếng núi nghệ thuật đậm chất văn húa dõn gian
sóng Xuân Quỳnh
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Tên đầy đủ là : Nguyễn Thị Xuân Quỳnh (1942 - 1988)
- Quê quán : Làng La Khê, huyện Hoài Đức, Hà Tây
- Từng là diễn viên múa, biên tập báo văn nghệ, uỷ viên ban chấp hành Hội nhà văn Việt Nam khóa III