Do đó vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu tìm ra quytrình khử trùng, chất khử trùng đạt hiệu quả trong nuôi cấy mô cho hoa.Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ản
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian thực tập và nghiên cứu tại trường Cao đẳng NôngLâm cùng với sự giảng dạy nhiệt tình của các thầy cô giáo, tôi đã trang bịđược kiến thức cần thiết và cơ bản về chuyên ngành Để củng cố vững chắckiến thức cũng như làm quen với những gì đã học trong sách vở thực tập tốtnghiệp là khâu quan trọng, là thời cơ tạo cho sinh viên cơ hội thực tế nhằmcủng cố những kiến thức đã tích lũy được trong nhà trường, đồng thời đượcthực hành phương pháp nghiên cứu, ứng dụng một cách có hiệu quả nhữngtiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất
Kết thúc đề tài tốt nghiệp cũng là hoàn thành khóa học Nhân dịp nàytôi xin bày tỏ lòng biết ơn của tôi tới các thầy cô giáo trong khoa Công nghệsinh học, đã tận tình giảng dạy tôi trong suốt khóa học Tôi xin chân thành
cảm ơn cô Ths Nguyễn Thị Thúy Liên - giảng viên khoa Công nghệ Sinh
học đã quan tâm chỉ bảo nhiệt tình, chia sẻ giúp đỡ tạo mọi điều kiện để tôihoàn thành đợt thực tập này
Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng, song lần đầu tiên làm quen với côngviệc nghiên cứu khoa học nên đề tài không tránh khỏi những sai xót và hạnchế Do vậy tôi rất mong được sự đóng góp chỉ bảo của các thầy cô giáo trongkhoa Công nghệ Sinh học để đề tài của tôi được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
B¾c Giang, ngµy 04 th¸ng 06 n¨m 2010
Sinh viªn
L ThÞ Quý
Trang 2PHẦN I
MỞ ĐẦU 1.1.Tính cấp thiết của đề tài.
Hoa là loại cây trồng chủ yếu trong vùng sản xuất hoa cây cảnh đápứng cho việc nghiên cứu, buôn bán và sản xuất hoa của thế giới
Ở nước ta hiện nay có 11340 ha hoa cây cảnh, các tỉnh miền Bắc 6300
ha, ở miền Nam có 5000 ha (Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn)
Để đáp ứng mục tiêu kinh tế, giống là một khâu quan trọng nhất củatrồng hoa, thâm canh không có giống được cải thiện theo mục đích kinh tếthì không thể đưa năng suất lên cao
Trước đây đã có một số kỹ thuật nhân giống được áp dụng như: Giâmhom, Ghép cành, Chiết nhưng kết quả không như mong muốn việc tạo racác giống có năng suất cao, chất lượng tốt và có tính chống chịu với sâubệnh hại là một yêu cầu cấp bách đối với công tác trồng hoa ở các địaphương
Tiến bộ khoa học trong nhân giống invitro đã và đang được áp dụngkhá rộng vào sản xuất Đây là phương pháp nhân giống trên cơ sở của phânbào nguyên nhiễm, là lối phân bào truyền đạt chính xác đặc điểm di truyền
từ đời trước cho đời sau Vì vậy nó đem lại lợi ích rất lớn cho trồng hoa như:cây sinh trưởng nhanh, thích nghi với điều kiện sinh thái tốt, độ đồng đềucao, ít sâu bệnh, chu kỳ kinh doanh ngắn, giữ nguyên đặc tính di truyền của
bố mẹ
Tạo cây giống là nuôi cấy mô tế bào là một phương pháp nhân giống
vô tính Phương pháp này du nhập vào nước ta từ năm 1975 ngày càng pháttriển rộng rãi và thu được kết quả khả quan trên nhiều loài cây Nó được ápdụng cho nhân giống cây thanh thảo và thu được thành công đối với các loạihoa Cao hơn rất nhiều so với trồng hoa từ hạt, cành
Tuy vậy thành công của kỷ thuật nuôi cấy mô ở hoa lại phụ rất nhiềuyếu tố như: Nhiệt độ, độ ẩm, kinh nghiệm của cán bộ kỹ thuật, ảnh hưởng
Trang 3của nồng độ chất điều hòa sinh trưởng, ảnh hưởng của nồng độ chất khửtrùng, thời gian khử trùng Do đó vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu tìm ra quytrình khử trùng, chất khử trùng đạt hiệu quả trong nuôi cấy mô cho hoa.
Xuất phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu ảnh
hưởng của nồng độ khử trùng và thời gian khử trùng đến tỷ lệ sống của một số loài hoa trong nuôi cấy khởi đầu Tại trường cao Đẳng Nông Lâm”.
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài.
1.2.1 Mục đích
Nghiên cứu thành công kỹ thuật khử trùng thành công ở một số loàihoa bằng phương pháp nuôi cấy mô Góp phần phục vụ công tác duy trì vàsản xuất giống hoa chất lượng hoa cao bằng phương pháp nuôi cấy mô trênđịa bàn trường cao Đẳng Nông Lâm - Bắc Giang
1.2.2 Yêu cầu của đề tài.
Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ chất khử trùng và thời gian khửtrùng đến tỷ lệ sống của một số loài hoa trong nuôi vật vật liệu cấy khởi đầu
1.3 Ý nghĩa của đề tài.
* Ý nghĩa khoa học.
- Kết quả nghiên cứu sẽ đưa ra được nồng độ khử trùng thích hợp chomột số giống hoa bằng phương pháp Invitro Đánh giá được tác động củamột số chất khử trùng, thời gian khử trùng tới tỷ lệ sống của một số loài hoa
- Bổ sung nguồn tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảngdạy và sản xuất hoa
* Ý nghĩa thực tiến sản xuất.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc tăng tỷ lệ sống trong nuôicấy invitro đối với một số loài hoa có giá trị kinh tế cao tạo điều kiện choviệc nhân giống và đưa vào sản xuất
1.4 Giới hạn của đề tài.
- Về không gian: Phòng nuôi cấy mô tế bào trường cao Đẳng Nông Lâm
- Về thời gian: Thời gian từ ngày 29/03/2010 đến 04/06/2010
Trang 4- Về vật liệu: Nghiên cứu trên hoa ly, hoa cúc và hoa loa kèn.
PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới và ở việt nam
2.1.1 Tình hình sản xuất hoa trên thế giới.
Ngày nay sản xuất hoa trên thế giới đang phát triển một cách mạnh
mẽ và trở thành một nghành thương mại cao Sản xuất mang lại lợi ích tolớn cho nền kinh tế các nước trồng hoa cây cảnh, trong đó có các nước châu
á Sản xuất hoa ở các nước châu Á đang phát triển mạnh và cạnh tranh quyếtliệt để chiếm lĩnh thị trường hoa trên thế giới
Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày càng mở rộng và không ngừngtăng lên ba nước sản xuất hoa lớn nhất chiếm 50% sản lượng hoa trên thếgiới là Nhật Bản, Hà Lan, Mỹ
Theo Roger và Alan (1998) năm 1995 giá trị sản lượng hoa trên thếgiới đạt 20 tỷ USD đến năm 1997 đạt 27 tỷ USD và dự kiến đầu thế kỉ 21đạt 40 tỷ USD, trong đó Nhật Bản khoảng 3,731 tỷ USD; Hà Lan khoảng3,558 tỷ USD; Mỹ khoảng 3,279 tỷ USD
Giá trị xuất nhập khẩu hoa và cây cảnh trên thế giới tăng hàng năm.Năm 1996 là 7,5 tỷ USD, trong đó thị trường hoa của Hà Lan chiếm gần50%.Sau đó đến các nước Côlômbia, Italia,Đan Mạch, Mỹ,Bỉ… mỗi nướctrên 100 triệu USD, tỷ lệ tă trưởng hàng năm là 10%
Bảng 2.1 Tình hình nhập khẩu hoa của một số nước trên thế giới
(Nguồn: Nguyễn Xuân Linh, 2002)
Trang 5Đức và Mỹ là 2 quốc gia chiếm trên 50% thị trường nhập khẩu hoavới các lòa phổ biến là cảm chướng, cúc, hồng, layơn, lan…….
Bảng 2.2 Tình hình xuất khẩu hoa của một số nước trên thế giới
(Nguồn: Nguyễn Xuân Linh, 2002)
Hà Lan là nước xuất khẩu hoa lớn nhát thế giới chiếm tới 64,8% thịtrường trong đó các loài hoa nổi tiếng được xuất khẩu từ Hà Lan là: lily,hồng, layơn, đồng tiền
Sản xuất hoa thế giới tiếp tục phát triển mạnh mẽ ở các nước châu á,châu phi, châu mỹ Hướng sản xuất hoa trên thế giới là tăng năng xuất hoa,giảm chi phi lao đông, giảm giá thành hoa Mục tiêu sản xuất hoa cần hướngtới là giống hoa đẹp tươi, chất lượng cao và giá thành thấp
* Tình hình sản xuất hoa cúc trên thế giới.
Do giá trị sử dụng và giá trị kinh tế cao của cây hoa Cúc, các nhàkhoa học trên thế giới đã có không ít những công trình nghiên cứu về loàihoa này Nhiều nhất là những nghiên cứu về ứng dụng kĩ thuật nuôi cấy
invitro trong công tác nhân giống đã và đang được ứng dụng rộng rãi.
Ngay từ năm 1952, lần đầu tiên tại Pháp, Morell và Martin đã tạođược những cây hoa Cúc sạch bệnh nhờ nuôi cấy mô phân sinh đỉnh
Năm 1974 Asjes và cộng sự (Hà Lan) đã chứng minh rằng có thể sửdụng nhiều bộ phận của cây hoa Cúc để làm vật liệu nuôi cấy mô và ông đãthành công khi ứng dụng kĩ thuật nuôi cấy mô phân sinh (Meristem) cho vinhân giống cây hoa Cúc
Trang 6Năm 1989, việc sử dụng đỉnh sinh trưởng để nuôi cấy invitro đã được
thực hiện thành công bởi Susex Kết quả thí nghiệm cho thấy phương pháptối ưu để mẫu có tỷ lệ sống sót và tỷ lệ tái sinh chồi cao nhất là bảo quảnchồi đỉnh Cúc trước nuôi cấy 2 ngày trong điều kiện lạnh dần từ 400C – 20Cvới 10% Dimethl sulfoxide và 3% Glucose, có nhiều giống đã đạt tỷ lệ này100%
Ngoài ra, các nhà khoa học còn nghiên cứu, tái sinh chồi Cúc gián tiếpqua callus hình thành từ mẩu thân, lá, cánh hoa, nụ hoa Năm 1990,Kenneth và Torres đã nuôi cấy thành công từ đoạn thân và lá của giống hoaCóc màu tím trên môi trường MS Tỷ lệ hình thành chồi đạt 100% và trungbình các cây nuôi cấy mô này sau 3 - 4 tháng là ra hoa
Hiện nay, nghành sản xuất hoa cắt trên thế giới đang phát triển mạnh
và mang tính thương mại cao Sản xuất hoa đã mang lại lợi ích kinh tế to lớncho nền kinh tế các nước trồng hoa trên thế giới nhất là đối với các nướcđang phát triển Hoa cúc được trồng nhiều nhất ở các nước Nhật Bản, Pháp,
Mỹ, Trung Quốc…và được ưa chuộng bởi sự đa dạng, phong phú về màusắc, kiểu dáng, kích cỡ hoa, hương thơm kín đáo
Sản xuất hoa của thế giới sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhất là cácnước châu Á, châu Phi và Mỹ la tinh Hướng sản xuất hoa tăng năng xuấthoa, giảm chi phí lao động, giảm giá thành hoa Mục tiêu sản xuất hoahướng tới là giống hoa đẹp, tươi, chất lượng cao và giá thành thấp (ĐặngVăn Đông, 2002)
Trong các loài hoa thông dụng, cây hoa cúc thuộc loại cây lâu đời,được ưa chuộng và trồng rộng rãi trên thế giới Cách đây hàng thế kỉ ngườidân Trung Quốc, Nhật Bản đã trồng những giống cúc trong vườn của họ
Ở Nhật Bản cúc được coi là quốc hoa, thậm chí ở các nhà hàng người
ta trang trí một bữa ăn toàn bằng hoa cúc Tiếp sau Nhật Bản những nướctrồng nhiều hoa cúc Colombia, Trung Quốc, Hà Lan
Hà Lan là một trong những nước lớn nhất về xuất khẩu hoa, cây cảnhnói chung và xuất khẩu cúc nói riêng Diện tích trồng cúc của Hà Lan chiếm
Trang 730% tổng diện tích trồng hoa tươi Năng xuất hoa tươi từ năm 1990-1995tăng trung bình từ 10-15%/1ha Hàng năm Hà Lan đã sản xuất ra hàng trămtriệu cành hoa cắt và hoa chậu phục vụ cho thị trường tiêu thụ rộng lớn gồmtrên 80 nước trên thế giới Năm 1998, Hà Lan sản xuất 866 triệu cành vànăm 1999, sản xuất 1046 triệu cành hoa cúc cắt.
Một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần tạo ra sự thành côngcủa Hà Lan là sử dụng phương pháp nhân giống invitro để sản xuất cây con Sau
Hà Lan là Colobia- năm 1990 thu được 150 triệu USD từ việc xuât khẩu hoa cúc,đến năm 1992 đã lên đến 200 triệu USD ( Murray và Robyn, 1997)
Nhật Bản có nhu cầu sử dụng hoa cúc rát lớn Diện tích trồng hoa cúcchiếm 2/3 tổng diện tích trồng hoa Năm 1991 diện tích trồng hoa cúc ởNhật Bản là 614 ha ngoài trời và 1150 ha nhà kính (FAO, 1998, Mae S O,1993) Tuy vậy hàng năm Nhật Bản vẫn phải nhập một lượng lớn hoa cúc từ
Hà Lan và một số khác trên thế giới Năm 1996, Nhật Bản đã chọn ViệtNam là một trong số những nước sẽ xuất khẩu hoa cúc cho Nhật Bản
Một số khác như Thái Lan, cúc đã được trồng quanh năm với sốlượng cành cắt hàng năm là 50841500 Trung Quốc là nơi có nguồn hoaphong phú, việc xuất khẩu hoa cúc được chú trọng ở màu sắc hoa và hìnhdạng hoa Đây cũng là nước có kỹ thuật tiên tiến trong việc sản xuất hoa cúckhô
* Tình hình sản xuất hoa lily trên thế giới.
Năm 1997, Hà Lan có 356 ha lily, đứng thứ hai trong tổng diện tíchtrồng hoa cắt bằng củ ( sau Tuylíp) Sở dĩ hoa lily được phát triển mạnh trongnhững năm gần đây là do người Hà Lan đã tạo ra rất nhiều giống mới có hoađẹp, chống chịu sâu bệnh tốt, năng xuất cao Ngoài ra còn do kỹ thuật điềukhiển hoa phát triển nhanh có thể cho hoa quanh năm Một nguyên nhân nữa là
do sự đầu tư cơ giới hóa trong việc trồng và chăm sóc đã làm giảm giá thành,
vì vậy đã làm hiệu quả kinh tế từ việc trồng hoa Lily cao hơn hẳn trước đây
Trang 8Hiện nay, Hà Lan mỗi năm trồng 18.000 ha hoa lily, trong đó xuấtkhẩu 70% Nhật Bản là nước có truyền thống dùng hoa cắm và cũng là mộttrong những nước tiêu thụ và nhập khẩu hoa cắt lớn nhất châu á (mỗi nămkhoảng 500 triệu USD) Nhật cũng là nước sản xuất hoa lớn, diện tích sản xuấthoa năm 1992 của nước này là 4.600 ha với 36.000 hộ, sản lượng đạt 900 tỷYên, trong đó hoa cúc chiếm thứ nhất, tiếp đó đến hoa hồng và hoa cẩmchướng Hoa lily đứng ở vị trí thứ 4, trong đó có 2 giống lily là Star-Gager vàCasa-Blanca không những được ưa chuộng ở Nhật Bản mà còn nổi tiếng trênthế giới.
Những năm gần đây Hàn Quốc là một trong những nước phát triểnnghề trồng hoa mạnh, lượng xuất khẩu hoa của Hàn Quốc lớn nhất khu vựcĐông Bắc á Theo thống kê năm 2002, Hàn Quốc có 15.000 ha trồng hoavới 1,2 vạn người tham gia, giá trị sản lượng đạt 700 triệu USD, gấp 8 lầnnăm 1989, trong đó, lily là loại cây có hiệu quả kinh tế cao nhất trong cácloại hoa ở Hàn Quốc
Kenia là nước sản xuất hoa chủ yếu ở châu Phi và là nước xuất khẩu hoatươi lớn nhất châu lục này Hiện nay, nước này có tới 3 vạn trang trại với hơn 2triệu người trồng hoa, chủ yếu là hoa cẩm chướng, hoa lily, hoa hồng Mỗi nămnước này xuất khẩu sang châu âu 65 triệu USD trong đó hoa lily chiếm 35%.Công nghệ sản xuất hoa lily cắt cành ở Đài Loan rất tiên tiến, trình độ canh táccòn cao hơn Hàn Quốc, chỉ kém Nhật Bản; năm 2001 nước này đã có 490 hatrồng hoa lily, trong đó xuất khẩu lily cắt cành đạt 7,4 triệu USD
Hà Lan là nước có công nghệ cao tạo giống và trồng lily tiên tiến nhấthiện nay Mỗi năm Hà Lan tạo ra từ 15-20 giống mới, sản xuất 1.315 triệu
củ giống lily, trong 35 nước khác nhau trên toàn thế giới
Trang 9* Tình hình sản xuất hoa loa kèn trên thế giới
Hoa loa kèn là cây mang lại lợi nhuận lớn nhất cho các nước xuấtkhẩu hoa như Hà Lan, Nhật Bản và các nước ở châu Âu Hàng năm giá trịxuất khẩu hoa cắt trên thế giới khoảng 25 tỷ USD, đứng đầu trong nhữngnước xuất khẩu hoa trên thế giới là Hà Lan 1.590 triệu USD, Côlômbia 430triệu USD, Kenya 70 triệu USD và Israel 135 triệu USD
Hoa loa kèn mang lại lợi nhuân kinh tế rất cao cho các nước trên thếgiới và từ những năm 1987 cho đến nay, nhờ ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô
mà các giống hoa loa kèn được khắc phục tình trạng thoái hoá giống và tạo
ra các giống mới với hệ số nhân giống cao tạo ra các cây giống sạch bệnh cógiá trị kinh tế cao
2.1.2 Tình hình sản xuất hoa ở Việt Nam
Từ năm 1975 nước ta bắt đầu nghiên cứu, ứng dụng kỹ thuật nuôi cấy mô
tế bào trong chọn tạo giống cây trồng Kết quả thành công đầu tiên là nuôi cấybao phấn lúa và thuốc lá (Lê Thị Muội và cộng sự 1978; Lê Thị Xuân và cs1978)
Từ năm 1980 trở lại đây các hướng nghiên cứu ứng dụng nuôi cấy mô
tế bào được phát triển mạnh mẽ và đáng khích lệ như: Nhân giống khoai tây(viện công nghệ và sinh học, Trường ĐH Nông Nghiệp I Hà Nội) Cácgiống mía, dứa, chuối, phong lan, hồng, cúc, cẩm chướng Được áp dụngvào nhân giống theo phương pháp này Một số kết quả được ghi nhận tronglĩnh vực chọn dòng tế bào như: chọn dòng kháng bệnh (Lê Bích Thủy vàcộng sự 1994) chọn dồng chịu muối, chịu hạn (Nguyễn Tường Vân 1994)
Công nghệ sinh học hiện đại được đưa vào nước ta khá muộn (khoảngđầu thập niên 90) tuy nhiên cũng được phát triển khá nhanh và áp dung trênnhiều lĩnh vực như: Y học, nông nghiệp đã đem lại nhiều thành quả lớn đặc
là trong nhân giống Invitro cây hoa Đơn vị tiếp nhận công nghệ này đầutiên vào năm 1995, viện kỹ thuật nông nghiệp việt nam đã thành công trongviệc nhân giống hoa loa kèn bằng phương pháp nuôi cấy mô
Trang 10Năm 2005, phân viên sinh học nhiệt đới tại Đà Lạt đã thành côngtrong nhân giống lily bằng phương pháp nuôi cấy mô.
Ngoài ra, các trung tâm này còn nghiên cứu các loại hoa khác như:Hoa lan, hoa cúc, hoa đồng tiền cũng được một số viện và trung tâm côngnghệ sinh học Việt Nam tiến hành nhân giống bằng phương pháp nuôi cấy
mô thành công trong những năm qua
Nghị quyết 18/CP của chính phủ đã đánh dấu một giai đoan mới tổngphát triển công nghệ sinh học ở Việt Nam Nhà nước ta coi công nghệ sinhhọc là mũi nhọn khoa học và có đầu tư đáng kể trang thiết bị , đào tạo cán
bộ ở nước ta công nghệ sinh học thực vật đặc biệt là lĩnh vực vi nhân giống
đã ở mức sẵn sàng hòa nhập với thế giới và khu vực đủ sức tham gia cạnhtranh trong lĩnh vực này
* Tình hình sản xuất hoa cúc ở Việt Nam
Hoa cúc được du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ 15, đến đầu thế kỷ 19
đã hình thành một số vùng chuyên nhỏ cung cấp chon nhân dân Một phần
để chơi, một phần phục vụ việc cúng lễ và một phần làm dược liệu Nếu xét
về cơ cấu chủng loại tất cả các loài hoa thì trước những năm 1997 diện tíchtrồng hoa nhiều nhất chiếm 31% nhưng từ những năm 1998 trở lại đây diệntích hoa cúc đã vượt lên chiếm 42%, trong đó hoa hồng chỉ còn 29,4%.Riêng ở Hà Nội tổng sản lượng hoa cúc năm 1999 đạt 41,3 tỷ đồng, xuấtkhẩu sang Trung Quốc 3,6 tỷ đồng, tốc độ hành năm khoảng 10% (NguyễnXuân Linh và cộng sự, 2002) Hiện nay hoa cúc được trồng ở khắp nước ta,
nó có mặt ở mọi nơi từ núi cao đến đồng bằng, từ nông thôn đến thành thịnhưng chủ yếu đươch tập trung ở các vùng hoa truền thống của thành phố,khu công nghiệp, khu du lịch, nghỉ mát như: Ngọc Hà, Quảng An, Nhật Tân(Hà Nội), Đằng Hải, Đằng Lâm (Hải Phòng), Hoành Bồ, Hậ Long (QuảngNinh), Triệu Sơn , Thành phố Thanh Hóa (Thanh Hóa), Hoành Bồ Hạ Môn(thành phố Hồ Chí Minh), thành phố Đà Lạt (Lâm Đồng) với diện tích trồnghoa khoảng 2000 ha Riêng Hà Nội và Đà Lạt là những nơi lý tưởng choviệc sinh trưởng và phát triển của hầu hết các giống cúc đựoc nhập từ nươcngoài vào (Đặng Văn Đông, 2000)
Trang 11Bảng 1.3 Tình hình sản xuất hoa cúc ở một số tỉnh trong cả nước
(Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2003)
Theo số liệu của tổng cục kê năm 2003 cả nước có 9430 ha hoa vàcây cảnh các loại, sản lượng 482,6 tỷ đồng, trong đó hoa cúc là 1484 ha chosản lượng 129,49 tỷ đồng và được phân bố nhiều tỉnh trong cả nước
Ở Hải Phòng, cúc là cây quang trọng thứ hai trong cơ cấu sản xuấthoa tươi cùng với layơn, cúc sẽ là mặt hàng xuất khẩu trong năm tới
Ở các tỉnh phía Nam thì Đà Lạt là nơi có diện tích trông hoa cúc lớnnhất, Đà Lạt là nơi lí tưởng cho sinh trưởng và phát triển của các giống hoacúc nên một số công ty nước ngoài đã lập công ty hoặc liên doanh sản xuất
ở đay như Chánh Đài Lâm, Hasfam, chỉ riêng công ty Hasfam (100% vốnđầu tư nước ngoài) chuyên sản xuất hoa cúc cắt, đặc biệt là hoa cúc chùm đãcung cấp 60% sản lượng hoa của thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnhphía Bắc
Trước năm 1992 việc sản xuất và tiêu thụ hoa cúc ở Việt Nam còn ít,nhưng đến năm 1993-1994 với sự xuất hiện của giống cúc nhập nội CN93
đã mở ra một giai đoạn mới trong kinh doanh và sản xuất hoa Cúc CN93 đã
bổ sung vào cơ cấu giống hoa mùa hè vốn còn rất ít ở nước ta và hiện giờgiống cúc này đã trở thành giống chiếm ưu thế trên thị trường ( NguyễnXuân Linh và cộng sự, 1995)
Trang 12Hiện nay trong sản xuất, cúc có thể trồng quanh năm thay vì trướcđây chỉ trồng được vào vụ đông đã đáp ứng nhu cầu về hoa cúc của ngườitiêu dùng Hoa cúc là loại hoa có giá trị thấp hơn các loài hoa khác (400-800đồng/cành) nên ngoài các vùng đô thị thì các vùng nông thôn miền núi hoacúc được tiêu thụ với mức khá ( chỉ đứng thứ hai sau hoa hồng) đặc biệt vàongày lễ tết truyền thống, ngày rằm…
Về thị trường tiêu thụ thì thành phố Hồ Chí Minh là thị trường tiêuthụ hoa cắt lớn nhất Việt Nam, nhu cầu tiêu dùng hàng ngày từ 40-50 ngàncành/ngày,….tiếp đó là Hà Nội có nhu cầu tiêu thụ từ 25-30 ngàncành/ngày Trong số các loài hoa cắt tiêu dùng hàng ngày thì hoa cúc chiếm
từ 25-30% về số lượng và từ 17-20% về giá trj ( Hoàng Ngọc Thuận, 2003)
Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, nhiều nhà khoa học, nhiều cơ
sở sản xuất giống đã áp dụng phương pháp nuôi cấy invitro để nhân giống
hoa Cúc, đặc biệt là nhân nhanh các giống Cúc mới chọn tạo, nhập nội phục
vụ cho sản xuất Trường Đại Học Nông Nghiệp I Hà Nội là một trong những
cơ sở chính nghiên cứu về nuôi cấy invitro các cây hoa nói chung và cây hoa
Cúc nói riêng Nguyễn Quang Thạch và các cộng sự (2002) đã đưa ra quy
trình nuôi cấy invitro cây hoa Cúc một cách hoàn chỉnh.
* Tình hình sản xuất hoa lily ở Việt Nam.
Lily là loại hoa quý hiếm ở Việt Nam, hiện nay mới được trồng ở một
số tỉnh thành phố có nghề trồng hoa phát triển như Đà Lạt, Tp.Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Hải Phòng… So với các chủng loại hoa khác thì chủng loại hoanày chiếm tỷ lệ rất nhỏ cả về diện tích và số lượng
Đà Lạt là nơi hiện đang có diện tích trồng hoa lily nhiều nhất so vớicác địa phương khác trên cả nước ( chiếm khoảng 8% tổng diện tích trồnghoa), còn ở Hà Nội, Hải Phòng chỉ mới trồng mang tính chất thử nghiệm.Tình hình phát triển trồng hoa lily ở Đà Lạt khá thuận lợi, một phần do thiênnhiên ưu đãi cho sự phát triển của các giống hoa nói chung và hoa lily nóiriêng, một phần do kỹ thuật trồng hoa lily của Đà Lạt tương đối cao nên hoa
Trang 13sinh trưởng và phỏt triển khỏ tốt Hiện nay, Lily là một tronng những loạihoa đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho một số cụng ty hoa ở Đà Lạt.
Hoa lily cắt cành mới đang phỏt triển gần đõy nhưng do cú dỏng đẹp,mựi thơm quý phỏi, màu sắc hấp dẫn, quanh nă cú hoa, được rất nhiều người
ưa chuộng do vậy nhu cầu tiờu dựng sẽ ngày càng cao
Hiện nay, ở Việt Nam lily được xếp vào loài hoa cao cấp, thường đắtgấp 10-15 lần so với cỏc loại hoa cỳc, hoa hồng, cẩm chướng, hồng mụn, chỉsau phong lan, địa lan Vỡ bỏn được giỏ cao nờn việc trồng hoa lily đang thuhỳt lớn cỏc nhà đầu tư cả trong và ngoài nước, chớnh vỡ thế nghề này rất cútriển vọng phỏt triển
* Tỡnh hỡnh sản xuất hoa loa kốn ở Việt Nam.
Hoa Huệ tõy, hay cũn được gọi là hoa Lys, thuộc họ liliaceae bao gồmnhiều loài với màu sắc khỏc nhau nhưng loài hoa Huệ Trắng Liliumlongiflorum Ranel được ưa chuộng nhất và do đú được trồng phổ biến nhấttại Đà Lạt và nhiều địa phương ở miền Bắc Hoa cú mỏu trắng trinh tiết, lõutàn và cú mựi thơm mỏt dịu được xem là một loài hoa cao cấp và cú nhu cầurất lớn trờn thị trường trong và ngoài nước Riờng Đà Lạt sản xuất hang triệucành hoa lys mỗi năm để xuất khẩu và tiờu dung trong nước, cho phộp ngườitrồng thu nhập hàng trăm triệu đồng trờn mỗi ha Nếu giải quyết tốt khõunhõn giống , diện tớch canh tỏc cú thể được mở rộng gấp nhiều lần so vớidiện tớch hiện nay
Với phương phỏp nuụi cấy mụ từ vảy củ cú thể tạo ra trong một thờigian ngắn một số lượng lớn cõy giống sạch bệnh để từ đú sản xuất đượcnhiều củ giống Từ những năm 70 phương phỏp này đó được sử dụng rộngrói trong cụng tỏc nhõn giống và phục trỏng giống hoa Lys ở Nhật, Mỹ, Nga
và nhiều nước trờn thế giới
Vùng canh tác nhiều hoa lys của Đà Lạt là Xuân Trờng, Sào phờng 11, Chi Lăng- phờng 9, Thái Phiên- phờg12, Đa Thiện- phờng 8 Hiệnnay vùng nhiều hoa lys nhất là Trạm Hành- Xuân Trờng Hoa lys do khócanh tac nên không phổ biến đến cắt cành mà chủ yếu làm hoa chậu
Trang 14Nam-2.3 Đặc điểm thực vật và nguồn gốc của một số loài hoa.
2.3.1 Nguồn gốc đặc điểm thực vật học của cây hoa cúc.
* Nguồn gốc
Tuy cây cúc có nguồn gốc từ lâu đời nhưng đến năm 1688 Jacoblaynngười Hà Lan mới trồng phát triển mang tính thương mại trên đất nước củaông Đến tận đầu thế kỷ XVIII , cây hoa cúc mới được trồng rất nhiều và làcây hoa quan trọng nhất đối với Trung Quốc, Nhật Bản ở Hà Lan, cúc làcây hoa quan trọng thứ hai sau hoa hồng
* Đặc điểm thực vật học.
Cây hoa cúc thuộc loại cây thân thảo
+ Rễ: Rễ của cây hoa cúc là loại rễ chùm, phần lớn phát triển theochiều ngang, phân bố ở tầng đất mặt từ 5 – 20cm Kích thước các rễ trong
bộ rễ cúc chênh lệch nhau không nhiều, số lượng rễ rất lớn do vậy khả nănghút nước và dinh dưỡng rất mạnh Cúc chủ yếu trồng bằng nhân giống vôtính nên các rễ không phát sinh từ mầm rễ của hạt mà từ rễ mọc ở mẫu củathân( gọi là mắt) ở những phần ngay sát mặt đất
+ Thân: cây thuộc thân thảo nhờ có nhiều đốt giòn, dễ gãy càng lớncàng cứng, cây dạng đứng hoặc bò Kích thước thân cao hay thấp, to haynhỏ, cứng hay mềm phụ thuộc vào từng giống và thời vụ trồng Nhữnggiống nhập nội thân thường to, mập, thẳng và giòn, ngược lại những giốngcúc dại hay giống cổ truyền Việt Nam thân nhỏ mảnh và cong, thân có ốngtiết nhựa mủ trắng mạch có bản ngắn hơn
+ Lá: thường là lá đơn không có lá kèm, mọc so le nhau, bản lá xẻthùy lông chim, phiến lá mềm mỏng có thể to hay nhỏ, màu sắc xanh đậmhay nhạt phụ thuộc vào từng giống Mặt dưới phiến lá bao phủ một lớp lông
tơ, mặt trên nhẵn gân hình mạng Trong một chu kỳ sinh trưởng cây có từ30-50 lá trên thân
+ Hoa, quả: Hoa cúc chủ yếu có hai dạng:
Dạng lưỡng tính: trong hoa có cả nhị đực và nhụy cái
Trang 15Dạng đơn tính: trong hoa chỉ có nhị đực và nhụy cái, đôi khi có loại
vô tính( không có cả nhụy, nhị hoa này thường ở phía ngoài đầu) Mỗi hoagồm rất nhiều hoa nhỏ gộp lại trên một cuống hoa, hình thành hoa từ đầutrạng mà mỗi đầu trạng là một bông hoa Trong thực tế tùy theo mục đích sửdụng mà người ta để một bông trên một cành hay nhiều bông trên một cành Tùy theo cách sắp xếp của cánh hoa mà người ta phân ra thành nhómhoa kép (có nhiều vòng hoa sắp xếp trên bông) Và nhóm hoa đơn ( chỉ cómột vòng hoa trên bông) Những cánh hoa nằm ở phía ngoài có màu sắcđậm hơn, xếp nhiều tầng, xít nhau, chặt hay lỏng tùy từng giống, cánh hoa
có nhiều hình dạng khác nhau : cong hoặc thẳng, có loại cánh ngắn, có loạicánh dài, cuốn ra ngoài hay cuốn vào trong
Đường kính của bông hoa phụ thuộc vào giống, giống hoa to cóđường kính 10 - 12cm, loại trung bình 5 - 7 cm và loại nhỏ 1 - 2 cm
Hoa có 4 - 5 nhị đực dính vào nhau làm thành một ống bao xungquanh vòi nhụy, bao phấn nở phía trong theo khe nứt dọc khi phấn nhị đựcchín, bao phấn nở tung hạt phấn ra ngoài nhưng lúc này nhụy chưa đến tuổitrưởng thành, chưa có khả năng tiếp nhận hạt phấn vì vậy sự thụ phấn thụtinh không thành, dãn đến quả không hạt, muốn có hạt giống phải thụ phấnnhờ sâu bọ hoặc thụ phấn nhân tạo cho hoa
Quả bé, đóng, chúa hạt, quả có chùm lông do đài tồn tại đẻ phát tánhạt, có phôi thẳng mà không có nội nhũ
Trang 162.3.2 Nguồn gốc, đặc điểm thực vật học của cây hoa Lily.
* Nguồn gốc.
Cây hoa Lily có tên khoa học là Lilium spp Có nguồn gốc từ các nước
ở châu âu ở Việt Nam, hoa lily được trồng ở Đà Lạt từ thời pháp thuộc
ở Việt nam một số giống hoa lily ưa thích gồm:
Giống Tiber: hoa mà nâu hồng, lá to đầu tròn, số hoa trên cành 3-5 hoa,hoa to, cây cao vừa phải(80-90 cm)
Giống Acapulco: hoa màu hồng sẫm, lá to nhọn, số hoa trên cành 3-5hoa hoa vừa, cây cao 90-120 cm
Giống Siberia: hoa màu trắng, lá to nhọn, số hoa trên cành 4-5 hoa, hoato,cây thấp 60-70 cm
Giống Sorponne: hoa màu hồng nhạt, lá nhỏ, hoa nhỏ số hoa trên cành6-7 hoa, cây cao 90-120 cm
6 cm nặng 7-8 gam, loại to chu vi 24-25cm, nặng trên 100 gam, laoij đặcbiệt chu vi 34-35 cm, nặng 350 gam
Độ lớn của thân vảy tương quan chặt chẽ với số nụ hoa Ví dụ giốngLily thơm chu vi thân vảy là 12-14 cm có 2-4 nụ, chu vi thân vảy là 14-16
cm có trên 4 nụ Các giống lai phương đông và lai châu á số nụ cũng tỷ lệthuân với chu vi thân vảy
Vảy có hình elip, hình kim xòe ra, có đốt hoặc không có đốt Mầm vảy
to ở ngoài, nhỏ ở trong, là nơi dự trữ nước và dinh dưỡng cử thân vảy, trong
Trang 17đó nước chiếm 70%, chất bột 23%, một lượng nhỏ protein, chất khoáng,chất béo Theo Linline (1970) số lượng vảy cũng tỷ lệ thuận với số lá và sốhoa, số vảy càng nhiều thì số lá và số hoa càng nhiều Nếu bóc bỏ lớp vảyngoài thí tố độ nảy mầm của củ nhanh hơn, nhưng tốc độ hình thành của các
cơ quan sinh sản giảm, hoa ra muộn hơn
Thân vảy là thể kết hợp vủa nhiều thế hệ, vì vậy khả năng phát dục của
nó chịu ảnh hưởng của nhiều thế hệ cảu môi trường và các điều kiện chămsóc khác nhau Độ lớn của thân vảy thường được đo bằng chu vi và trọnglượng của nó Vảy nhiều và mập thì chất lượng giốngtốt Củ giống để trồnghoa thương phẩm nhất thiết phải là thân vảy đã được bồi dục thường nămđầu chưa ra hoa, sang năm thứ 2 củ có chu vi từ 9cm trở lên mới ra hoa
Rễ lily gồm 2 phần: Rễ thân và rễ gốc Rễ thân còn gọi là rễ trên, dophần thân mọc dưới đất sinh ra, có nhiệm vụ nâng đỡ thân, hút nước và dinhdưỡng, tuổi thọ của rễ này là 1 năm Rễ gốc gọi là rễ dưới, sinh ra từ gốcthân vảy, có nhiều nhánh, sinh trưởng khỏe, là cơ quan chủ yếu hút nước vàdinh dưỡng của lily, tuổi thọ của rễ này là 2 năm
Lá lily mọc rải rác thành vòng thưa, hình kim, xòe hoặc hình thuôn,hình dải, đầu lá hơi nhọn, không có cuống hoặc cuống ngắn Lá to hay nhỏtùy thuộc vào giống điều kiện trồng trọt và thời gian xử lý Trên lá có từ 1 -
7 gân, gân giữa rõ ràng hơn, lá mềm có màu xanh bóng
* Củ con và mầm hạt.
Đại bộ phận của lily có nhiều củ con ở gần thân rễ, chu vi mỗi củ từ 0.5
- 3cm, số lượng củ con tùy thuộc vào giống và điều kiện trồng trọt
Một số giống địa phương và các giống lai tạo nách lá có mầm hạt hìnhcầu hoặc hình trứng, khi chín có màu tím, tối, chu vi mâm hạt từ 0,5-1,5 cm
* Hoa.
Hoa lily mọc đơn lẻ, hoặc xếp đặt trên trục hoa, bao hoa hình lá, nhỏ.Hoa chúc xuống, vươn ngang hoặc hướng lên Hình dáng hoa là căn cứ chủyếu để phân loại lily Đối với các giống thuộc loại hình loa kèn, 1/3 phía
Trang 18trước cong ngược lên; loại hình cầu cánh hoa 6 cái, hai vòng nối nhau do bavòng đài và ba cánh tạo thành, màu sắc như nhau nhưng đài hoa đẹp hơn,cánh đều có hình elip, gốc có tuyến mật Rất nhiều giống lily ở gốc cánh cóchấm màu tím, hồng nhị đủ 6 cái, giữa có cuống màu xanh nhạt, gắn vớinhau hình chữ T Trục hoa nhỏ, dài, đầu trục phình to, có ba khía, tử phòng
ở phía trên
Màu sắc hoa lily rất phong phú: Trắng, phấn hồng, đỏ, vàng, vàng cam,
đỏ tím, tạp sắc màu sắc lốm đốm có đen, đỏ thắm, đỏ tím, đen nâu phấnhoa có màu vàng hoặc đỏ cam, đỏ nâu, nâu tím
Các giống hoa lily phương đông thường có hương thơm và đây là đặcđiểm nâng cao giá trị của hoa
* Quả
Quả hình trứng dài, mỗi quả có vài trăm hạt, bên trong có ba ngăn Hạthình dẹt, xung quanh có cánh mỏng, hình bán cầu hoặc ba góc, vuông dài
Độ lớn của hạt, trọng lượng hạt, số lượng hạt tùy theo giống
2.3.3 Nguồn gốc đặc điểm học của hoa loa kèn.
* Nguồn gốc.
Hoa Loa kèn có tên khoa học Liliumlongiflorumthumb (họ liliaceae)còn gọi là hoa lys Có nguồn gốc từ Nhật Bản và các nước ở châu Âu Hoalys được trồng tại Đà Lạt từ năm 1945 với các giống ở Hà Nội Từ năm
1970 Đà Lạt đã nhập giống lys từ Hàn Quốc, Nhật Bản
* Đặc điểm.
Hoa Loa kèn có màu trắng pha thêm chút xanh và mùi hương dễ chịu.Một cành hoa thường có từ 1-3 hoa Lá hoa dày màu xanh hơi vàng, thânhoa là củ nằm dưới đất, cành lá ở phần trên mặt đất, cạnh hoa tương đốicứng nên ít đổ gãy
Trang 19PHẦN III VẬT LIỆU - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Vật liệu nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu.
+ Hoa Huệ (Loa kèn)
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 29/03/2010 đến ngày 04/06/2010
3.2.Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian khử trùng và nồng độ chất khửtrùng Ca( OCl)2 đến tỷ lệ sống của mẫu cấy ở một số loài hoa
- Nghiên cứu ảnh hưởng của thời gian khử trùng và nồng độ chất khửtrùng NaOCl đến tỷ lệ sống của mẫu cấy ở một số loài hoa
3.3 Phương pháp nghiên cứu
Trang 203.3.2 Xử lý vật liệu nuôi cấy
Chọn cây có chất lượng tốt đang ở giai đoạn sinh trưởng phát triểnmạnh, mang các đặc trưng của giống để làm cây gốc, nguồn cung cấp mẫunuôi cấy không có nguồn sâu bệnh hại
Mẫu lấy từ cây mẹ trước tiên cần phải xử lý sơ bộ như: loại bỏ lá, cácphần rờm rà không cần thiết và rửa sạch bụi bám dưới vòi nước chảy
Mẫu lấy rửa bằng nước sạch (4-6 lần) rồi rửa bằng nước xà phòng rồisau đó rửa bằng nước cất (4-6 lần), rửa bằng nước cất vô trùng (4-6 lần)
3.3.3 Khử trùng mẫu cấy (trong phòng vô trùng)
Bước 1: Mẫu vật được rửa sạch, ngâm trong cồn 75°(từ 1- 3 giây đểloại bỏ hết các bọt khí trong mẫu vật ra ngoài) tiếp đó rửa bằng nước cất vôtrùng( 4 - 6 lần)
Bước 2: Rót 300ml dung dịch Hypoclorit canxi , Natrihypocorit nồng
độ 5%, 7% và 10% vào bình trụ vô trùng Dùng panh vô trùng gắp đoạnchồi, vảy củ vào bình đựng dung dịch hóa chất khử trùng trong thời gian 10phút, 15 phút và 20 phút
Bước 3: Dùng panh vô trùng gắp đoạn chồi, vảy củ từ bình hóa chấtkhử trùng sang bình nước cất (nước vô trùng)
Bước 4: Rửa chồi thân chồi ngọn, vảy củ bằng nước vôi trùng để loại
bỏ hóa chất khử trùng ra khỏi mô
Trình tự loại bỏ hóa chất khử trùng ra khỏi mô nuôi cấy như sau:
- Rót 300ml nước vôi trùng vào các bình trụ có thể tích 0,5lít
- Dùng panh vô trùng gắp chồi, vảy củ cho vào bình chứa nước vôtrùng rồi đậy nắp bình lại, lắc nhẹ trong 5 phút chuyển sang bình được đựngnước vô trùng thứ 2 lặp lại 3-5 lần như trên
- Cuối cùng dùng panh vô trùng gắp lấy mẫu đã khử trùng chuyển vàobình vô trùng đậy nắp để trong tủ cấy
Chú ý: Các thao tác này phải được diễn ra trong bàn cấy, tránh tiếpxúc ra ngoài bàn cấy
Trang 213.3.4 Cấy mẫu khởi đầu(trong phòng vô trùng)
Bước 1: Chuẩn bị dụng cụ cấy
Bước 2: Mở nắp ống nghiệm chứa mẫu cấy
Bước 3: Lấy mẫu ra khỏi bình
Bước 4: Cắt mẫu cấy (loại bỏ cuống lá, cắt phần gốc mẫu, mỗi mẫuchiều dài 10-12cm mang 3-5 chồi ngủ
Bước 5: Đặt mẫu vào ống nghiệm chữa môi trường mỗi ống nghiệmcần năm mẫu Dùng panh dí nhẹ mẫu sao cho gốc mẫu cắm vào môi trườngdinh dưỡng Sau đó cắm panh kéo vào bình chứa cồn 75°
Bước 6: Đậy nắp bình
3.3.5 Cách bố trí thí nghiệm.
Mỗi nồng độ chất khử trùng, thời gian khử trùng là một cấp nhân tố
và mỗi thí nghiệm được lặp lại ba lần
- Môi trường nền (MT nền) tạo callus là mẫu sống bổ sung 30gramsaccarose/ lít, 6.5gram agar/ lít, pH = 5.8 Chất điều tiết sinh trưởng là 2.4D(axid 2.4 dichlorophenoxy axetic), BA được bổ sung vào nồng độ khác nhautuỳ từng công thức thí nghiệm
- Các công thức được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn, với 3 lần nhắclại
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất khử trùng bằng Ca(OCl)2
(Canxihypoclorit) đến tỷ lệ sống của mẫu cấy Các công thức như sau:
CT(a)
Thời gian và nồng độ xử lý canxihypoclorit
CT(b)
Thời gian và nồng độ xử lý canxihypoclorit
(a), (b): Công thức thí nghiệm
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất khử trùng bằng(Javen)NaOCl đến tỷ lệ sống của mẫu cấy Các công thức như sau:
Trang 22CT(a) Thời gian và
nồng độ xử lý NaOCl
nồng độ xử lý NaOCl
(a), (b): Công thức thí nghiệm
3.3.6 Các chỉ tiêu theo dõi và cách sử lý số liệu
3.3.6.1.Các chỉ tiêu theo dõi
Trang 23Mỗi loại hoa chất khử trùng có tác dụng tiêu diệt đối với những loại
vi sinh vật( Nấm, khuẩn) khác nhau Tác dụng của mỗi loại hoá chất đối vơí
vi sinh vật tuỳ thuộc vào nồng độ và thời gian khử trùng bằng hoá chất đócũng là rất quan trọng Nó quyết định đến sự thành công hay thất bại trongcông tác khử trùng Việc tiến hành nghiên cứu hiệu quả khử trùng của một
số hoá chất thường sử dụng để khử trùng(Caxihypoclorit, Clorox(NaOCl))
sẽ cho ta có một quyết định đúng đắn về loại hoá chất, nồng độ và thời giankhử trùng thích hợp nhất
4.1.1 Kết quả nghiên cứu của chất khử trùng Caxihypoclorit tới tỷ lệ sống của mẫu cấy.
4.1.1.1 Ảnh hưởng của chất khử trùng canxihypoclorit tới tỷ lệ sống của vảy hoa lily(sau 7 ngày nuôi cấy)
Bảng 4.1: Ảnh hưởng của chất khử trùng Ca(OCl) 2 tới tỷ lệ sống
của vảy hoa lily(sau 7 ngày nuôi cấy)
Trang 24(a, b, c, d, e, f, g… nhóm phân mức trong so sánh duncan)
Đồ thị 4.1: Ảnh hưởng của chất khử trùng Ca(OCl) 2 tới tỷ lệ sống
của vảy hoa lily(sau 7 ngày nuôi cấy)
Kết quả nghiên cứu thể hiện ở bảng 4.1 và đồ thị 4.1
tỷ lệ sống của các công thức dao động từ 0,00 đến 11,11% kết quả thínghiệm được làm thành 7 nhóm kết quả theo so sánh duncan sắp xếp, theothứ tự từ cao xuống thấp là a,b,c,d,e,f,g Trong đó, công thức 9, 8 và côngthức 5 có số mẫu sống đạt giá trị cao nhất là 11,11% ở nhóm "a",công thức 1thu được số mẫu có tỷ lệ sống là 0,00% giá trị thấp nhất ở nhóm "f",tỷ lệmẫu sống ở công thức 6 là 8,89% ở nhóm "b", tỷ lệ mẫu sống ở công thức 7
là 6,67% ở nhóm "c", tỷ lệ mẫu sống ở công thức 2 là 4,45% ở nhóm "d", tỷ
lệ mẫu sống ở công thức 3 và công thức 4 là 4,44% ở nhóm "e" Kết quả củathí nghiệm cho thấy: Ca(OCl)2 khử trùng vảy hoa lily tốt nhất ở nồng độ 7%
và nồng độ 10% trong thời gian 15 phút và 20 phút
4.1.1.2 Ảnh hưởng của chất khử trùng Ca(OCl) 2 đến tỷ lệ sống của hoa kèn( sau 7 ngày nuôi cấy)
Bảng 4.2: Ảnh hưởng của chất khử trùng Ca(OCl) 2 đến tỷ lệ sống của
vảy hoa loa kèn (sau 7 ngày ngày nuôi cấy)
CTTN
Tỷ lệ mẫu nhiễm (%)
Tỷ lệ sống (%)
Tỷ lệ chết (%)
Trang 25(a, b, c, d, e, f, g… nhóm phân mức trong so sánh duncan)
Đồ thị 4.2: Ảnh hưởng của chất khử trùng Ca(OCl) 2 đến tỷ lệ sống của vảy hoa loa kèn (sau 7 ngày ngày nuôi cấy)
Kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 4.2 và đồ thị 4.2
Tỷ lệ sống của các công thức dao động từ 0,00-17,78% kết quả thínghiệm được phân làm 7 nhóm kết quả theo so sánh duncan Trong đó côngthức 1, 5 và công thức 9 đạt giá trị cao nhất là 17,78% ở nhóm "a", côngthức 4 thu được mẫu sống có tỷ lệ sống là 0,00% đạt giá trị thấp nhất ởnhóm "g", tỷ lệ mẫu sống ở công thức 6 là 11,11% ở nhóm "b", tỷ lệ mẫusống ở công thức 8 là 8,89% ở nhóm "c", tỷ lệ mẫu sống ở công thức 7 là
Trang 266,67% ở nhóm "d", tỷ lệ mẫu sống ở công thức 3 là 4,45% ở nhóm "e", tỷ lệmẫu sống ở công thức 2 là 4,44% ở nhóm "f"
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Ca(OCl)2 khử trùng vảy hoa loa kèn tốtnhất ở nồng độ 10% trong thời gian 20 phút
4.1.1.3 Ảnh hưởng của chất khử trùng Ca(OCl) 2 đến tỷ lệ sống của chồi hoa cúc (sau 7 ngày nuôi cấy)
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của chất khử trùng Ca(OCl) 2 đến tỷ lệ sống
của chồi hoa cúc (sau 7 ngày nuôi cấy)
Trang 27(a, b, c, d, e, f, g… nhóm phân mức trong so sánh duncan)
Đồ thị 4.3: Ảnh hưởng của chất khử trùng Ca(OCl) 2 đến tỷ lệ sống của chồi hoa cúc (sau 7 ngày nuôi cấy)
Kết quả nghiên cứu được thể hiện ở bảng 4.3 và đồ thị 4.3
Theo so sánh của duncan: công thức 2 thu được tỷ lệ mẫu sống đạt giátrị cao nhất là 20,00% ở mức "a", công thức 5, 6 thu được số mẫu có tỷ lệsống thấp nhất là 6,67% ở mức "f", công thức 3,4,8 có tỷ lệ ,mẫu sống đạtgiá trị 15,56 % ở các mức "b”, công thức 1 thu được tỷ lệ sống là 13,33% ởmức “c”, công thức 7 thu được tỷ lệ mẫu sống là 11,11% ở mức “d”, côngthức 9 thu được tỷ lệ sống là 8,89% ở mức “e”
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Ca(OCl)2 khử trùng chồi hoa cúc tốtnhất ở nồng độ 5% trong thời gian 15 phút
4.1.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chất khử trùng bằng Natrihypoclorit (Clorox(NaOCl) đến tỷ lệ sống của mẫu cấy
4.1.2.1 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chất khử trùng bằng Natrihypoclorit đến tỷ lệ sống của vảy hoa lily (sau 7 ngày nuôi cấy)
Clorox là chất khử trùng được sử dụng trong nhiều phòng thí nghiệm.Clorox được sử dụng trong nuôi cấy mô tế bào với mục đích chủ yếu là tiêudiệt nấm khuẩn Đây là chất khử trùng đã được sử dụng và đạt hiệu quả trênnhiều loại vật liệu: như khử trùng phôi lúa, khử trùng hoa lúa trong nuôi cấybao phấn, khử trùng hoa ngô trong nuôi cấy noãn ngô,
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của chất khử trùng NaOCl đến tỷ lệ sống
của vảy hoa lily( sau 7 ngày nuôi cấy)
Trang 28(a, b, c, d, e, f, g… nhóm phân mức trong so sánh duncan)
Đồ thị 4.4: Ảnh hưởng của chất khử trùng NaOCl đến tỷ lệ sống
của vảy hoa lily( sau 7 ngày nuôi cấy)
Kết quả thu được ở bảng 4.4 và đồ thị 4.4
Theo so sánh duncan: Công thức 9 và công thức 5 thu được tỷ lệ mẫusống đạt giá trị cao nhất là 26,67% ở mức "a", công thức 2 thu được số mẫu có
tỷ lệ sống thấp nhất là 6,67% ở mức "g", công thức 6 có tỷ lệ mẫu sống24,44%, ở mức "b" Công thức 4 có tỷ lệ mẫu sống là 17,78% ở mức "c", côngthức 1 thu được tỷ lệ mẫu sống là 11,11%, ở mức “d”, công thức 7 thu được tỷ
lệ sống là 15,56% ở mức “e”, công thức 3 và công thức 8 thu được tỷ lệ sống là8,89% ở mức “f” Đa phần các mẫu không sử dụng được do bị nhiễm
Kết quả nghiên cứu cho thấy: NaOCl khử trùng mẫu vảy hoa lilytrong nuôi cấy tốt nhất nồng độ 7% trong thời gian 15 phút
Trang 294.1.2.2 Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chất khử trùng NaOCl đến tỷ lệ sống của vảy hoa loa kèn (sau 7 ngày nuôi cấy )
Bảng 4.5 ảnh hưởng của chất khử trùng NaOCl đến tỷ lệ sống
của vảy hoa lao kèn (sau 7 ngày nuôi cấy)
Trang 30(a, b, c, d, e, f, g… nhóm phân mức trong so sánh duncan)
Đồ thị 4.5: ảnh hưởng của chất khử trùng NaOCl đến tỷ lệ sống
của vảy hoa lao kèn (sau 7 ngày nuôi cấy)
Kết quả thu được ở bảng 4.5 và đô thị 4.5
Theo so sánh duncan: Công thức 9 thu được tỷ lệ mẫu sống đạt giá tricao nhất là 35,56% ở mức "a", công thức 5 thu được số mẫu có tỷ lệ sốngthấp nhất là 0,00% ở mức "g", công thức 3 thu được số mẫu có tỷ lệ sống là31,11% ở mức "b", công thức 7 có tỷ lệ mẫu sống đạt giá trị 28,89 % ở mức
"c", công thức 2, 6, 8 có tỷ lệ mẫu sống đạt lần lượt là 20,00% ở mức "d",công thức 4 thu được tỷ lệ sống là 15,56% ở mức “e”, công thức 1 thu được
tỷ lệ mẫu sống là 8,89% ở mức “f” Đa số các mẫu không sử dụng được donhiễm bệnh
Kết quả nghiên cứu cho thấy: NaOCl khử trùng mẫu vảy hoa loa kèntôt nhất ở nồng độ 10% trong thời gian 10 phút và 20 phút
4.1.2.3 Kết quả ảnh hưởng của chất khử trùng NaOCl đến tỷ lệ sống của mẫu cấy chồi hoa cúc(sau 7 ngày nuôi cấy)
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của chất khử trùng NaOCl đến tỷ lệ sống
của vảy hoa hoa cúc (sau 7 ngày nuôi cấy)