1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

thực hiện thống nhất phương pháp định giá tính thuế hải quan giữa các nước ASEAN

11 181 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 157,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

• Chương trình hợp tác trong lãnh vực hải quan Thực hiện thống nhất phương pháp định giá tính thuế hải quan giữa các nước ASEAN Thực hiện hài hòa các thủ tục hải quan trong hai lãnh vự

Trang 1

1 Quá trình hình thành AFTA:

1.1 Sự hình thành

Ngày 8/8/1967 tại Bangkok, Hiệp hội các nước Đông Nam Á – ASEAN được thành lập Mục tiêu hoạt động ban đầu của ASEAN là giữ gìn sự ổn định và an ninh trong khu vực, tức là tổ chức ASEAN lúc đầu được xem là khối mang màu sắc chính trị là chủ yếu Trước năm 1992, sự hợp tác giữa các nước ASEAN đặc biệt là hợp tác về kinh tế còn ở mức độ thấp hiệu quả mang lại chưa cao Tuy nhiên các khu vực khác trên thế giới lại đẩy mạnh liên kết kinh tế bằng cách lập ra các liên kết kinh tế mới

để chống lại sự xâm nhập của thị trường khác Vì vậy vào 1/1992 tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ IV tại Singapore đã thông qua nhiều quyết định và văn kiện quan trọng để đẩy mạnh và tăng cường hợp tác kinh tế trong khu vực, trong đó quyết định thành lập khu vực mậu dịch tự do ASEAN được ưu tiên hàng đầu

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (ASEAN Free Trade Area – AFTA) là một hiệp định thương mại

tự do (FTA) đa phương giữa các nước trong khối ASEAN Theo đó, sẽ thực hiện tiến trình giảm dần thuế quan xuống 0-5%, loại bỏ dần các hàng rào phi thuế quan đối với đa phần các nhóm hàng và hài hòa hóa thủ tục hải quan giữa các nước Dự kiến AFTA sẽ được hình thành sau 15 năm thông qua việc thực hiện Chương trình ưu đãi thuế quan có Hiệu lực chung CEPT bắt đầu từ 1/1/1993 nhưng trước sự thay đổi nhanh chóng và các xu thế phát triển mới của kinh tế thế giới, các nước ASEAN đã quyết dịnh rút ngắn thời hạn hiệu lực thực hiện CEPT xuống còn 10 năm để AFTA được hình thành vào năm

2003

Để xây dựng ASEAN thành khu vực mậu dịch tự do AFTA, các nước thành viên đã thông qua 9 chương trình hợp tác kinh tế:

• Chương trình hợp tác thương mại: được thực hiện trong năm chương trình

 Chương trình xây dựng ASEAN trở thành khu vực mậu dịch tự do - AFTA bằng cách thực hiện thu thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung – CEPT

 Chương trình hợp tác hàng hóa: thành lập ngân hàng dữ liệu ADBC và dự án nghiên cứu thị trường hàng hóa

 Hội chợ thương mại ASEAN thực hiện hàng năm luân phiên với sự tham gia của nhiều nước trong và ngoài khu vực

 Chương trình tham khảo ý kiến tư nhân

 Chương trình phối hợp lập trường trong các vấn đề thương mại quốc tế có tác động đến các nước ASEAN nhằm bảo vệ các nước ASEAN trên trường quốc tế

Trang 2

• Chương trình hợp tác trong lãnh vực hải quan

 Thực hiện thống nhất phương pháp định giá tính thuế hải quan giữa các nước ASEAN

 Thực hiện hài hòa các thủ tục hải quan trong hai lãnh vực:

+ Mẫu khai báo CEPT chung + Đơn giản hóa thủ tục xuất nhập khẩu

 Thực hiện áp dụng một danh mục biểu thuế thống nhất của ASEAN

• Chương trình hợp tác trong lãnh vực công nghiệp

• Chương trình hợp tác trong lãnh vực nông lâm ngư nghiệp và lương thực, thực phẩm

• Chương trình hợp tác về đầu tư: để các nước ASEAN tăng cường đầu tư vào nhau và thu hút vốn từ các khu vực khác họ đã cùng nhau ký kết Hiệp định về khuyến khích, bảo hộ đầu tư ASEAN và Hiệp định về thành lập khu đầu tư ASEAN – AIA

• Chương trình hợp tác trong lĩnh vực dịch vụ: đã cùng nhau ký kết Hiệp định khung về hợp tác trong lãnh vực dịch vụ

• Chương trình hợp tác trong lĩnh vực khoáng sản và năng lượng

• Chương trình hợp tác trong lĩnh vực tài chính và ngân hàng:nhằm hỗ trợ cho các hoạt động thương mại ,đầu tư và hợp tác công nghiệp trong khu vực

• Chương trình hợp tác kinh tế khác: về các lĩnh vực như: giao thông vận tải và thông tin liên lạc; sở hữu trí tuệ; phát triển cơ sở hạ tầng…

1.2 Mục tiêu của AFTA

• Tăng cường mậu dịch trong khối thông qua việc giảm đến mức tối thiểu các biểu thuế trong khu vực và xóa bỏ các hàng rào phi thuế quan

• Thu hút đầu tư nước ngoài thông qua thành lập thị trường chung thống nhất

• Tạo điều kiện để ASEAN thích nghi được với những điều kiện quốc tế thay đổi ngày một nhanh chóng, đặc biệt là tăng cường đàm phán thương mại cấp khu vực và quốc tế

• Xây dựng các cơ chế và điều kiện chung thúc đẩy phát triển kinh tế của các nước thành viên

2 Điều kiện hưởng ưu đãi CEPT:

2.1 Nội dung Hiệp định Thuế quan Ưu đãi có Hiệu lực chung CEPT

Cơ chế chính để thực hiện AFTA là Hiệp định Thuế quan Ưu đãi có Hiệu lực chung (Common Effective Preferential Tariff-CEPT) Về thực chất, CEPT là một thỏa thuận giữa các nước thành viên

Trang 3

ASEAN về việc giảm thuế quan trong nội bộ khối xuống còn 0-5% thông qua những kế hoạch giảm thuế khác nhau Trong vòng 5 năm sau khi đạt mức thuế ưu đãi cuối cùng, các nước thành viên sẽ tiến hành xóa bỏ các hạn ngạch nhập khẩu (QR) và những hàng rào phi thuế quan khác (NTB)

Là công cụ chủ yếu của AFTA, CEPT quy định các nước thành viên ASEAN cùng áp dụng một biểu thuế quan chung đối với cùng một số sản phẩm của các nước thành viên Thuế quan đánh vào các mặt hàng xuất nhập khẩu đối với các nước khác không phải thành viên sẽ do các nước thành viên tự quyết định

Để thực hiện dần dần việc cắt giảm thuế quan, mỗi nước sẽ phải phân loại tất cả hàng hóa của mình vào một trong các danh mục sau:

• Danh mục giảm thuế (Incusion List – IL)

• Danh mục loại trừ tạm thời (Temporal Exclusion List – TEL)

• Danh mục loại trừ hoàn toàn (General Exclusion List – GEL)

• Danh mục nhạy cảm (Sensitive List – SL)

Danh mục giảm thuế (IL): Bao gồm những mặt hàng sẽ được cắt giảm thuế quan để đến khi

hoàn thành CEPT sẽ có thuế suất 0-5% Ngay sau khi ký CEPT, mỗi nước ASEAN phải đưa ra IL của mình để bắt đầu giảm thuế quan từ năm 1993 Trên thực tế, không phải mặt hàng nào trong IL cũng thực sự phải giảm thuế quan, vì có những mặt hàng trước khi đưa vào IL đã có thuế suất dưới 5% thậm chí bằng 0%

• Lộ trình cắt giảm bình thường được thực hiện như sau: Đối với các sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống 20% vào thời điểm 1/1/1998 và tiếp tục giảm xuống 0-5% vào thời điểm 1/1/2003 Đối với các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm xuống mức 0-5% vào thời điểm 1/1/2000

• Lộ trình cắt giảm nhanh thực hiện như sau: Đối với các sản phẩm có thuế suất trên 20% sẽ được giảm xuống 0-5% vào thời điểm 1/1/2000 Đối với các sản phẩm có thuế suất bằng hoặc thấp hơn 20% sẽ được giảm xuống mức 0-5% vào thời điểm 1/1/1998

Danh mục loại trừ tạm thời (TEL): Bao gồm những mặt hàng chưa đưa vào giảm thuế quan

ngay, do các nước thành viên ASEAN phải dành thêm thời gian để điều chỉnh sản xuất trong nước thích nghi với môi trường cạnh tranh quốc tế gia tăng

Trang 4

Sau ba năm kể từ khi tham gia CEPT, các nước ASEAN phải bắt đầu chuyển dần các mặt hàng từ TEL sang IL, tức là bắt đầu giảm thuế quan đối với những mặt hàng này Quá trình chuyển từ TEL sang IL được phép kéo dài trong 5 năm, mỗi năm phải chuyển được 20% số mặt hàng Điều đó có nghĩa là đến hết năm thứ tám thì IL đã mở rộng bao trùm toàn bộ TEL, và TEL không còn tồn tại Khi đưa mỗi mặt hàng vào IL, các nước đồng thời phải chỉ ra lịch trình giảm thuế quan của mặt hàng đó cho đến khi hoàn thành CEPT

Danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL): Bao gồm những mặt hàng không có nghĩa vụ phải giảm

thuế quan Các nước thành viên ASEAN có quyền đưa ra danh mục các mặt hàng này nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, bảo vệ sức khỏe con người, động thực vật; bảo tồn các giá trị văn hóa, lịch sử, khảo cổ

GEL không phải là Danh mục các mặt hàng Chính phủ cấm nhập khẩu Một số mặt hàng có trong GEL vẫn được nhập khẩu bình thường, nhưng không hưởng thuế suất ưu đãi như các mặt hàng trong danh mục giảm thuế

Danh mục nhạy cảm (SL):

Theo Hiệp định CEPT – 1992, sản phẩm nông sản chưa chế biến không được đưa vào thực hiện kế hoạch CEPT Tuy nhiên, theo Hiệp định CEPT sửa đổi, các sản phẩm nông sản chưa chế biến này sẽ tùy vào điều kiện kinh tế từng quốc gia được đưa ba loại danh mục khác nhau là: danh mục giảm thuế, danh mục loại trừ tạm thời và danh mục các sản phẩm chưa chế biến nhạy cảm

Nông sản chế biến được đưa vào CEPT bao gồm các sản phẩm: thịt, cá, sữa, súc sản, cà phê, chè, ngũ cốc, hạt có dầu, dầu mỡ động vật, thịt chín, đường, coca, đồ uống, thuốc lá,…

Sản phẩm nông sản chưa chế biến trong danh mục cắt giảm thuế ngay được chuyển vào chương trình cắt giảm thuế nhanh hoặc chương trình cắt giảm thuế bình thường vào 1/1/1996 và sẽ được giảm xuống còn 0 – 5% vào ngày 1/1/2003 Các sản phẩm trong danh mục tạm thời loại trừ của hàng nông sản chưa chế biến sẽ được chuyển sang danh mục cắt giảm thuế trong vòng 5 năm, từ 1/1/1998 đến 1/1/2003, mỗi năm chuyển 20%

Các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm sau đó lại được phân vào hai danh mục tùy theo mức độ nhạy cảm là danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm và danh mục các sản phẩm nông sản chưa chế biến nhạy cảm cao Quá trình thỏa thuận để xác định các quy định về cơ chế cắt giảm thuế quan cho các sản phẩm nhạy cảm cho đến nay vẫn đang được tiếp tục Tuy nhiên, đối

Trang 5

với các sản phẩm trong danh mục nhạy cảm, thời điểm bắt đầu thực hiện cắt giảm đã được xác định là 1/1/2001 và kết thúc vào năm 2010 với múc thuế suất phải đạt 0-5% Đối với các sản phẩm trong Danh mục nhạy cảm cao, thời hạn kết thúc đã được xác định là năm 2010, tuy nhiên sẽ có một số linh hoạt nhất định sẽ được áp dụng liên quan đến mức thuế suất kết thúc, các biện pháp tự vệ phòng ngừa bất trắc

CEPT, khi hoàn tất vào 2003, về cơ bản sẽ bao gồm 98% dòng thuế của ASEAN vào năm 2003; còn lại chỉ khoảng 1% thuộc diện loại trừ và một số sản phẩm nông nghiệp nhạy cảm được gia hạn đến

2010

Ngoài cơ chế này, để thực hiện hóa AFTA, các nước ASEAN còn ký kết hàng loạt các thỏa thuận

về thống nhất và công nhận tiêu chuẩn hàng hóa giữa các nước thành viên, công nhận việc cấp giấy xác nhận xuất xứ hàng hóa của nhau, tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hải quan, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, phát triển công nghiệp và xây dựng Khu vực đầu tư ASEAN (ASEAN Investment Area-AIA)

2.2.Điều kiện được hưởng thuế nhập khẩu ưu đãi theo chương trình CEPT

Một sản phẩm khi xuất khẩu sang các nước trong nội bộ ASEAN, muốn được hưởng chế độ thuế quan ưu đãi theo chương trình CEPT, thì phải đồng thời thỏa mãn 4 điều kiện sau:

• Sản phẩm đó phải nằm trong Danh mục cắt giảm thuế của các nước xuất khẩu và nhập khẩu

• Sản phẩm đó phải có chương trình giảm thuế được Hội đồng AFTA thông qua

• Sản phẩm đó phải là một sản phẩm của khối ASEAN, tức là phải thỏa mãn yêu cầu hàm lượng xuất xứ từ các nước thành viên ASEAN (hàm lượng nội địa) ít nhất là 40%

Công thức 40% hàm lượng ASEAN được tính như sau:

Giá trị nguyên vật liệu, bộ

phận, các sản phẩm là đầu

vào nhập khẩu tù nước

không phải là thành viên

ASEAN

+

Giá trị nguyên vật liệu, bộ phận, các sản phẩm là đầu vào không xác định được xuất xứ

X 100 < 60%

Giá FOB

Trang 6

• Hàng hóa phải được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu tới nước nhập khẩu:

- Hàng hóa được coi là vận chuyển thẳng hay còn gọi là “giao thẳng” từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu trong ASEAN khi đáp ứng 1 trong 3 trường hợp sau:

+ Hàng hóa được vận tải thẳng từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu không đi qua 1 lãnh thổ của 1 nước thứ 3

+ Hàng hóa quá cảnh qua các nước thành viên ASEAN

+ Hàng hóa quá cảnh qua các nước láng giềng của ASEAN do yêu cầu của vận tải hoặc bảo quản hàng hóa thuận lợi

3 Tiến trình thực hiện CEPT của Việt Nam:

3.1 Khung thời gian thực hiện CEPT của Việt Nam

Theo quy định của Hiệp định CEPT và Nghị định thư về việc tham gia của Việt Nam vào Hiệp định CEPT, Việt Nam có nghĩa vụ thực hiện chương trình CEPT như sau:

• Bắt đầu thực hiện chương trình CEPT từ 1/1/1996 và hoàn thành vào 1/1/2006

• Trước khi bắt đầu thực hiện Hiệp định CEPT, Việt Nam phải công bố các danh mục thực hiện CEPT, bao gồm danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL), danh mục loại trừ tạm thời (TEL) và danh mục cắt giảm thuế ngay (IL) Ngoài ra, từ năm 1995 phải công bố danh mục nông sản chưa chế biến nhạy cảm và nhạy cảm cao (SEL)

• Để đảm bảo hiệu lực thi hành, các nước thành viên ASEAN phải ban hành văn bản pháp lý công bố lịch trình cắt giảm thuế thực hiện Hiệp định CEPT cho toàn bộ giai đoạn 10 năm (đối với Việt Nam là 1/1/1996 đến 1/1/2006)

3.2 Nguyên tắc xây dựng chương trình CEPT của Việt Nam:

Việt Nam gia nhập Hiệp hội các nước ASEAN từ tháng 7/1995 và bắt đầu thực hiện Chương trình

ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung (CEPT) từ 1/1/1996, chương trình này kết thúc vào 1/1/2006 Do trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam còn thấp so với một số nước trong khu vực, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, của nhiều ngành sản xuất và dịch vụ còn yếu và thuế nhập khẩu vẫn còn

Trang 7

là một trong những nguồn thu cho ngân sách, nên chương trình cắt giảm thuế quan của Việt Nam được xây dựng dựa trên những nguyên tắc chính sau:

• Không gây ảnh hưởng lớn đền nguồn thu ngân sách

• Bảo hộ hợp lý cho nền sản xuất trong nước

• Tạo điều kiện khuyến khích việc chuyển giao kỹ thuật, đổi mới công nghệ cho nền sản xuất trong nước

• Hợp tác với các nước ASEAN trên cơ sở các quy định của Hiệp định CEPT để tranh thủ ưu đãi, mở rộng thị trường cho xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài

3 3 Tiến trình triển khai thực hiện CEPT của Việt Nam:

(A) Xây dựng chương trình cắt giảm thuế quan

Dựa theo 4 nguyên tắc nêu trên, tại thời điểm gia nhập, Việt Nam đã đệ trình 4 danh mục hàng hóa theo quy định của Hiệp định CEPT như sau:

• Danh mục loại trừ hoàn toàn: bao gồm 139 dòng thuế không tham gia AFTA, đây là những mặt hàng có ảnh hưởng đến: an ninh quốc gia, sức khỏe con người, giá trị đạo đức, lịch sử, nghệ thuật, khảo cổ theo như quy định của Hội đồng AFTA Ngoài ra Việt Nam còn đưa vào danh mục loại trừ hoàn toàn một số mặt hàng mà hiện Việt Nam đang phải nhập từ các nước ASEAN song lại không có khả năng xuất khẩu, hoặc một số mặt hàng hiện đang có thuế suất cao trong biểu thuế nhập khẩu như: ô tô dưới 16 chỗ ngồi, ô tô tay lái nghịch, chất phế thải, các loại xăng dầu (trừ dầu thô Việt Nam đang xuất khẩu), đồ dùng đã qua sử dụng

• Danh mục loại trừ tạm thời: Danh mục này bao gồm 755 dòng thuế, được xây dựng theo quy định của CEPT và quy hoạch phát triển đến năm 2010 của các ngành kinh tế trong nước, nhằm bảo hộ một số ngành đang có tiềm năng phát triển, đồng thời không gây ảnh hưởng lớn đến nguồn thu ngân sách Danh mục này chủ yếu gồm các mặt hàng có thuế suất trên 20% và một

số mặt hàng có thuế suất thấp hơn 20% song được bảo hộ bằng các biện pháp phi thuế quan như: các loại xe máy, ô tô (trừ loại ô tô dưới 16 chỗ ngồi đã năm trong danh mục loại trừ hoàn toàn), các loại sắt thép, sản phẩm cơ khí thông dụng, các loại mỹ phẩm và đồ dùng không thiết yếu

Trang 8

Theo quy định của Hội đồng AFTA thì những mặt hàng nào đưa vào chương trình cắt giảm thuế và được hưởng thuế suất ưu đãi từ các nước thành viên khác thì đồng thời phải loại bỏ hàng rào phi thế quan trong vòng 5 năm sau đó Do vậy, nếu mặt hàng nào được đưa vào danh mục loại trừ tạm thời thì

sẽ có thêm thời gian để bảo hộ thông qua việc kéo dài thời hạn thực hiện các biện pháp phi thuế quan

Cũng theo quy định của CEPT thì các mặt hàng thuộc danh mục TEL này cần phải được chuyển sang danh mục cắt giảm thuế (IL) trong vòng 5 năm, sao cho đến thời hạn năm 2006 chúng cũng phải đạt mức thuế quan ưu đãi chung từ 0-5%

• Danh mục cắt giảm thuế: danh mục này chủ yếu bao gồm các mặt hàng hiện đang có thuế suất dưới 20%, tức là các mặt hàng thuộc diện có thể áp dụng ưu đãi ngay theo Hiệp định CEPT Ngoài ra trong danh mục này còn bao gồm một số mặt hàng hiện có thuế suất cao nhưng Việt Nam đang có thế mạnh xuất khẩu, do vậy việc đưa các mặt hàng này vào danh mục giảm thuế

sẽ không gây ảnh hưởng nhiều đến nguồn thu ngân sách, ngược lại nó sẽ kích thích đẩy mạnh xuất khẩu thông qua việc được hưởng thuế ưu đãi theo CEPT, khi hàng Việt Nam xuất qua các nước thành viên

• Danh mục nông sản nhạy cảm: bao gồm 51 dòng thuế, là các mặt hàng nông sản chưa chế biến

có yêu cầu bảo hộ cao như: các loại thịt, trứng, gia cầm, động vật sống, thóc, gạo lức, đường mía các mặt hàng này hiện đang được áp dụng các biện pháp phi thuế quan như quản lý theo hạn ngạch, quản lý của Bộ chuyên ngành

Để làm căn cứ điều chỉnh cơ cấu trong nước và định hướng cho các doanh nghiệp xây dựng kế hoạch kinh doanh phù hợp, năm 1997, Chính phủ Việt Nam phê duyệt Lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể thực hiện AFTA/CEPT 1996-2006 Tiếp đó, theo công văn số 5408/VPCP-TCQT ngày 11/12/2000, Chính phủ thông qua Lịch trình cắt giảm thuế quan tổng thể giai đoạn

2001-2006 Dựa trên các Lộ trình này, hàng năm chính phủ đưa ra Danh mục hàng hóa và thuế suất của Việt Nam thực hiện CEPT (gọi tắt là danh mục CEPT hoặc Nghị định CEPT)

(B) Thực hiện giảm thuế

Dựa theo sự phân loại danh mục hàng hóa như trên, tiến trình cắt giảm thuế của Việt Nam đã được tiến hành như sau: trong hai năm đầu 1996,1997 Việt Nam chưa thực hiện việc cắt giảm thuế mà

Trang 9

chỉ đưa 875 danh mục các mặt hàng đã có thuế nhập khẩu từ 0-5% vào danh sách giảm thuế, đáp ứng một cách tự nhiên yêu cầu giảm thuế nhanh của Hiệp định CEPT, còn chương trình giảm thuế bình thường chỉ được bắt đầu thực hiện kể từ 1/1/1998 các bước đi thận trọng này giúp cho Việt Nam có thêm thời gian cải tiến hệ thống thuế nội địa nhằm đảm bảo nguồn thu ngân sách và góp phần bảo hộ các nền kinh tế còn non trẻ của chúng ta

Như vậy, từ năm 1998 Việt Nam mới thực hiện những bước cắt giảm thuế đầu tiên theo Nghị định 15/1998/NĐ-CP ngày 12/3/1998 Theo Nghị định này trong năm 1998 chúng ta đã đưa thêm 1.161 mặt hàng vào danh mục giảm thuế Sang năm 1999 theo Nghị định 14/1999/NĐ-CP ngày 23/3/1999 Việt Nam đã nâng danh mục các mặt hàng giảm thuế lên đến 3590 mặt hàng Và trong năm

2000, Chính phủ đã ban hành Nghị định 09/2000/NĐ-CP 4/2000 về danh mục các mặt hàng giảm thuế theo chương trình CEPT

Theo Nghị định này, trong năm 2000, Nhà nước Việt Nam đưa thêm 640 dòng thuế từ danh mục các mặt hàng loại trừ tạm thời sang danh mục giảm thuế, như vậy sẽ có 4.230/6.200 dòng thuế trong biểu thuế nhập khẩu được đưa vào danh mục cắt giảm thuế Trong tổng 4.230 dòng thuế thực hiện theo chương trình CEPT của năm 2000, có khoảng 2.960 dòng thuế có mức thuế suất từ 0-5% (trong đó có khoảng 1690 dòng thuế có thuế suất 0%), còn lại 1.270 dòng thuế có mức thuế suất 5-50% Như vậy,

đa số các mặt hàng trong danh mục giảm thuế năm 2000 là các mặt hàng có thuế suất dưới 20%, chỉ có một số ít là có thuế suất trên 20% Những mặt hàng có thuế suất dưới 20% là những mặt hàng hoặc không có nhiều trong quan hệ ngoại thương của Việt Nam hoặc là các mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh xuất kẩu Các mặt hàng cần bảo hộ như sắt thép, phân bón, giấy, kính xây dựng, ô tô, xe gắn máy, đường vẫn còn được để trong danh mục TEL, GEL

Đến năm 2002, Việt Nam đã chuyển 5.550 dòng thuế vào IL (ban hành theo Nghị định số 21/2002/NĐ-CP ngày 28/2/2002 và Nghị định số 53/2002/NĐ-CP ngày 13/5/2002) (gọi tắt là Danh mục CEPT 2002), chiếm 85% trên tổng số 6.523 dòng thuế của biểu thuế nhập khẩu (Danh mục Thuế quan hài hòa Chung ASEAN-AHTN là 8.770 dòng) Toàn bộ các nặt hàng này đã ở thuế suất dưới 20% và có lộ trình cắt giảm trong thời kỳ 2002-2006; trong số đó, 65% đã ở mức thuế 0-5%, với mức thuế suất từ 0-20%, trong đó có khoảng 2/3 có mức thuế suất từ 0 đến 5% Nhóm này đến năm 2006 sẽ giảm mức thuế xuống 0-5% Nhóm thứ hai, là danh mục loại trừ tạm thời gồm 755 dòng thuế (theo AHTN là 1.415 dòng thuế) sẽ chuyển sang danh mục cắt giảm IL từ 01/7/2003, các dòng thuế có mức thuế cao sẽ đưa xuống 20% và giảm dần xuống 0-5% vào năm 2006 Danh mục này bao gồm các nhóm hàng dầu thực vật, bánh kẹo, rau quả chế biến, clinker, xi măng, thiết bị vệ sinh, giấy báo, giấy

Trang 10

in, giấy vệ sinh, hóa chất, mỹ phẩm, kính xây dựng, điện tử điện lạnh, quần áo, giày dép Nhóm thứ

ba, là danh mục nhạy cảm gồm hàng nông sản chưa chế biến, chủ yếu cần bảo hộ cao như thịt, trứng gia cầm, động vật sống, thóc gạo lức, đường mía, Nhóm này có 53 dòng thuế (theo AHTN là 89 dòng thuế) bắt đầu giảm thuế từ 01/01/2004 và kết thúc vào 01/01/2013 với mức thuế cuối cùng là 0-5% Riêng mặt hàng đường sẽ kết thúc vào 01/01/2010 Nhóm thứ tư, là danh mục loại trừ hoàn toàn (GEL) gồm các sản phẩm không cam kết trong AFTA vì lý do an ninh quốc gia, đạo đức xã hội, bảo

vệ cuộc sống con người và động thực vật, bảo vệ các tác phẩm có giá trị nghệ thuật, lịch sử, khảo cổ học Việt Nam cũng đưa vào một số mặt hàng cần bảo hộ cao hơn như ô tô, xe máy nguyên chiếc có dung tích dưới 250 cc Nhóm này có 158 dòng thuế (AHTN là 415 dòng)

Theo Danh mục hàng hoá và mức thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp định CEPT/AFTA giai đoạn 2006-2013 (gọi tắt là Danh mục CEPT/AFTA), có tổng số 10.342 mặt hàng đã được đưa vào danh mục cắt giảm thuế, trong đó có 5.478 mặt hàng có thuế suất 0%; 10.283 mặt hàng có thuế suất 0-5% Thuế suất CEPT bình quân 2006 là 2,48%

Lộ trình xoá bỏ hoàn toàn thuế suất đối với toàn bộ các sản phẩm nhập khẩu từ ASEAN theo CEPT kể từ năm 2015, mức thuế suất bắt đầu giảm để từ đó giảm xuống 0% (xoá bỏ thuế quan) là mức thuế suất CEPT vốn dĩ đã ở mức 0-5% ngay từ năm 2006 Theo lộ trình hiện tại thì 97% số mặt hàng đã có thuế suất 0-5%, trong đó trên 50% số mặt hàng đã có thuế suất 0% Đối với một số mặt hàng của các ngành nông nghiệp, thuỷ sản, ôtô, công nghệ thông tin, điện tử, y tế, sản phẩm cao su, may mặc và sản phẩm gỗ sẽ được xoá bỏ thuế quan vào năm 2012 Tuy nhiên do Việt Nam là một trong số những nước thành viên mới của ASEAN nên được linh hoạt xoá bỏ thuế quan một số mặt hàng, nhóm mặt hàng đến 2018, thay vì 2015

(C) Áp dụng các biện pháp phi thuế quan

Bên cạnh việc cắt giảm hàng rào thuế quan Việt Nam cũng đã chuẩn bị tiến tới việc cắt giảm hàng rào phi thuế quan theo quy định của CEPT, vì việc mở cửa thị trường sẽ không có ý nghĩa nếu như hàng rào thuế quan được cắt giảm xong hệ thống phi thuế quan vẫn được duy trì Cụ thể một mặt hàng dù được cam kết giảm thuế từ 100% xuống 0% vẫn không thể kinh doanh được nếu như nó bị áp đặt cấm nhập khẩu

Hiện Việt Nam đang áp dụng các biện pháp phi thuế như: hạn ngạch, giấy phép, phụ thu đến bảo hộ thị trường nội địa Các biện pháp này không đạt hiệu quả cao như một số các biện pháp khác

mà các nước thường sử dụng như: sử dụng các quy định về về tiêu chuẩn vệ sinh, bao bì, về mức độ gây ô nhiễm môi trường cho phép Do vậy, việc dỡ bỏ hàng rào phi thuế quan là rất phức tạp và chỉ

Ngày đăng: 16/01/2016, 11:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w