1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một sốyếu tố đến khả năng nhân nhanh invitro một số loại hoa tại trường cao đẳng nông lâm

47 305 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 2,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Như vậy phải nói rằng thu nhập từ trồnghoa luôn cao hơn so với trồng lúa từ 9 - 10 lần và hầu hết ở địa phương nào có diện tích trồng hoa nhiều, ở đó đời sống của nhân dân được cải thiện

Trang 1

Để hoàn thành được đề tài này tôi đã nhận đựơc sự giúp đỡ rất nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và gia đình.

Trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến ThS Nguyễn Thị Thúy Liên người đã chỉ bảo, giúp đỡ tôi rất tận tình trong suốt thời gian thực tập

Xin chân thành cảm ơn ThS Nguyễn Thị Chuyên – Cô giáo Nguyễn Thị Chung hiện là Giáo viên khoa công nghệ sinh học, Trường cao đẳng nông lâm

Cuối cùng cho tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè những người đã luôn động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài.

Bắc Giang, ngày 04 tháng 06 năm 2010

Sinh viên

Nguyễn Văn Trực

Trang 2

PHẦN I : MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài.

Việt Nam có nguồn tài nguyên di truyền cây nhiệt đới và bán nhiệtđới phong phú trong đó phải kể đến nguồn tài nguyên về giống hoa(Nguyễn Ngọc Huệ, Nguyễn Quang Minh 2000), nó vừa mang giá trị thẩm

mỹ giải quyết nhu cầu làm đẹp cho cộng đồng, ý nghĩa trong việc giảiquyết nhu cầu về giống và có ý nghĩa trong việc bảo tồn nguồn gen bản địa

Có rất nhiều kết quả nghiên cứu và nhiều tiến bộ khoa học công nghệ mới

về hoa, cây cảnh phục vụ việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng đặc biệt chovùng đồng bàng Sông Hồng và trung du vùng núi phía bắc Theo kết quảđiều tra, hiện cả nước có khoảng 11.340ha hoa, cây cảnh, trong đó các tỉnhmiền Bắc (mà tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông hồng) có 6.300 ha, miềnNam có ≈ 5.000 ha, thu nhập bình quân trồng hoa, cây cảnh ở cả nước là 72triệu đồng/ha/năm Những nơi có diện tích hoa tập trung và trồng với quy

mô lớn (Tây Tựu, Mê Linh, Hoành Bồ) thu nhập trồng hoa từ 230-250 triệuđồng/năm Cá biệt có nhiều mô hình (quy mô 2-10 ha) thu nhập đạt tới 350triệu đồng/ha/năm Còn ở những nơi trồng theo kiểu quảng canh, thu nhậpchỉ đạt 40-60 triệu đồng/ha/năm Như vậy phải nói rằng thu nhập từ trồnghoa luôn cao hơn so với trồng lúa từ 9 - 10 lần và hầu hết ở địa phương nào

có diện tích trồng hoa nhiều, ở đó đời sống của nhân dân được cải thiện rõrệt, nhiều hộ trở nên giàu có, thu nhập 60-120 triệu đồng/hộ/năm (ĐặngVăn Đông, Viện Nghiên cứu Rau quả), Thị trường tiêu thụ hoa - cây cảnhchủ yếu là ở nội địa (chiếm 80% sản lượng) một phần dành cho xuất khẩu.Hiện có 2 vùng xuất khẩu hoa lớn là Đà Lạt mỗi năm sản xuất được khoảng

7 - 10 triệu USD sang các nước Singapo, Đài Loan, Hồng Kông, Nhật Bảnvới các chủng loại hoa chính là Hồng, Cúc, Lily, Địa lan, Hồng môn vàvùng hoa quanh Hà Nội mỗi năm xuất khẩu khoảng 3 - 4 triệu USD chủyếu là hoa Hồng, hoa Cúc sang Trung Quốc (TS Đặng Văn Đông, ViệnNghiên cứu Rau quả), Giá trị kinh tế về hoa thì lớn như vậy nhưng hiện nayviệc sản xuất các giống hoa chất lượng cao và đáp ứng nhu cầu giống trênquy mô sản xuất lớn còn gặp rất nhiều khó khăn Đặc biệt ở khâu nhân

Trang 3

giống invitrro và thích ứng chúng trong điều kiện môi trường bên ngoài vớimục đích tạo sản phẩm sạch bệnh, số lượng lớn nhưng giá phải cạnh tranh.

Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài : “Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số yếu tố đến khả năng nhân nhanh invitro một số loại hoa tại trường cao đẳng nông lâm”

1.2 Mục tiêu - ý nghĩa - yêu cầu của đề tài

1.2.2 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

- Ý nghĩa thực tiễn: Khi nghiên cứu này thành công sẽ ứng dụng trongviệc nhân giống cây hoa Cúc bằng phương pháp invitro tạo được những câysạch bệnh, năng suất cao, giảm giá thành giống hoa cho người dân

- Ý nghĩa khoa học: Xác định được các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đếnkhả năng nhân nhanh cây hoa Cúc để đáp ứng cho nhu cầu của thị trường.Đồng thời nhằm đáp ứng nhu cầu về giống hoa cho vùng nghiên cứu

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

1.3.3 Địa điểm nghiên cứu

Phòng thí nghiệm nuôi cấy mô tế bào Trường Cao đẳng Nông lâm

Xã bích sơn - Huyện việt yên - Tỉnh bắc giang

1.3.4 Thời gian nghiên cứu:

Từ ngày 29/03/2010 đến ngày 04/ 06/2010

Trang 4

Phần II : TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1.Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa trên thế giới và ở Việt Nam

2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa cắt trên thế giới

* Tình hình sản xuất hoa cắt và cây cảnh trên thế giới

Đồ thị 1.1 Diện tích trồng hoa, cây cảnh của một số nước trên

thế giới (ha) (Nguồn: Jo Wijnands, 2005)

Nhìn vào đồ thị ta thấy: diện tích trồng hoa, cây cảnh tập trung chủyếu ở các nước châu Âu và châu Á, một phần ở các nước châu Phi Trong

đó, ngành sản xuất hoa cắt và cây cảnh không ngừng phát triển và mở rộng

ở nhiều nước trên thế giới trong những năm gần đây như: Trung Quốc, Ấn

Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Hà Lan, Mỹ, Pháp, Đức, Anh,Úc,Newzealand, Kenya, Ecuador, Colombia, Israel

Hiện nay, Trung Quốc là nước có diện tích trồng hoa, cây cảnh lớnnhất thế giới với diện tích là 122.600 ha, nước có diện tích trồng hoa, câycảnh lớn thứ hai là Ấn Độ : 65.000ha Mỹ là nước đứng thứ 3, với khoảng60.000 ha (AIPH, 2004) Một số nước châu Âu như : Pháp, Đức, Tây BanNha, Anh, Hà Lan, Israel có nghề trồng hoa phát triển, diện tích trồng hoacủa các nước đều ở mức trên 15.000ha Sản xuất hoa ở các nước châu Âuchiếm khoảng 15% lượng hoa trên thế giới Ở châu Phi, Kenya là nước

Trang 5

trồng nhiều hoa nhất với diện tích 2.180ha Nam Phi và Zimbabwe có diệntích trồng hoa khoảng 1.100ha.

* Tình hình tiêu thụ hoa trên thế giới

Tình hình tiêu thụ hoa trung bình/người và ước tính giá trị thị trườngcủa một số nước trên thế giới được thể hiện ở đồ thị 2.1.1b như sau:

Đồ thị 1.2 Tình hình tiêu thụ hoa cắt trên đầu người và giá trị thị trường (100 triệu Euro) của một số nước trên thế giới

là nước xuất khẩu nhiều hoa mà còn là một nước nhập khẩu hoa lớn, giá trịnhập khẩu chiếm khoảng 25% xuất khẩu (Jo Wijnands, 2005) Tiêu thụ hoabình quân trên đầu người hàng năm của các nước trên thế giới biến độngtrong phạm vi rất rộng từ vài Euro như ở Nga đến trên 90 Euro như ở Thụy

Sỹ Ước tính giá trị thị trường cao nhất là Mỹ, đạt trên 7.000 triệu Euro; sau

đó đến Nhật, đạt gần 4.000 triệu Euro; Đức trên 3.000 triệu Euro và Anh

Trang 6

trên 2.000 triệu Euro Tính theo số lượng hoa cắt năm 2006, 11 nước châu

Âu đã xuất khẩu 175,86 triệu cành hoa cắt Tiêu thụ hoa cắt ở châu Á cũngtăng nhanh từ những năm 1993 trở lại đây như : Inđonêxia năm 1993 tiêuthụ 33,93 triệu cành, năm 1999 tiêu thụ 58,99 triệu cành; Trung Quốc sảnxuất và tiêu thụ năm 1993 khoảng 400 triệu cành, đã tăng lên 1,09 tỷ cànhvào năm 1996 (Yang Xiaohan, 1996)

Như vậy, thị trường hoa cắt trên thế giới là rất lớn và đang có xu thếtăng mạnh Tính chất chuyên nghiệp ngày càng tăng thể hiện nhu cầu củangười tiêu dùng ngày một tăng tạo ra những khó khăn và thách thức về thịtrường cho các nước xuất khẩu hoa (Jo Wijnands, 2005)

2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ hoa tại Việt Nam

Việt Nam có điều kiện khí hậu phù hợp cho nhiều loài hoa và câycảnh phát triển Tính đến năm 2005, nước ta có khoảng 13.200ha diện tíchtrồng hoa cây cảnh (Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, 2007) Sảnxuất hoa cho thu nhập cao, bình quân đạt khoảng 70-130 triệu đồng/ha nênrất nhiều địa phương trong cả nước đang mở rộng diện tích trồng hoa trênnhững vùng đất có tiềm năng Tại miền Bắc, sản xuất hoa tập trung ở một

số địa phương: Thành Phố Hà Nội, Hà Tây, Hải Dương, Hải Phòng, VĩnhPhúc, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Lao Cai, Sơn La và

Hà Giang Loại hoa sản xuất nhiều nhất ở vùng này là hoa Cúc, chiếmkhoảng 35%, thứ 2 là hoa Hồng chiếm 32%; còn lại là các loại hoa khác,như: Lay ơn, Đồng tiền, Cẩm chướng, Huệ, Lan Vùng sản xuất nhiều hoa

ở phía Bắc gồm: Tây Tựu-Từ Liêm-Hà Nội: 330ha ; Vĩnh Phúc 867ha ; HảiPhòng : 755ha ; Hoành Bồ - Quảng Ninh 10ha; Lào Cai 95,7ha, Sơn La22ha, Hà Giang 18ha Các tỉnh phía Nam, Thành Phố Hồ Chí Minh là địaphương có diện tích trồng hoa cây cảnh lớn khoảng 700ha, với 1.400 hộsản xuất trên 8 quận huyện, các loại hoa trồng chính là: hồng môn, lay ơn,đồng tiền, thiên điểu Được thiên nhiên ưu đãi về điều kiện thời tiết, khíhậu thêm vào đó là truyền thống và kinh nghiệm của người trồng hoa LâmĐồng đã trở thành trung tâm sản xuất hoa cắt cành lớn nhất cả nước, vớidiện tích trồng hoa cây cảnh năm 2005 là 2027ha Hoa được sản xuất chủyếu ở Thành Phố Đà Lạt, các xã Hiệp Thành, Hiệp An, sản lượng hoakhoảng 640 triệu cành Nghề trồng hoa ở Đà Lạt đang có xu hướng phát

Trang 7

triển mạnh, áp dụng công nghệ cao vào sản xuất, sử dụng giống mới, cảitiến quy trình canh tác, áp dụng các loại phân bón thế hệ mới với đặc tínhphân giải chậm, sử dụng các vật liệu hỗ trợ sản xuất… nhưng ứng dụngmang lại hiệu quả rõ rệt nhất là sản xuất hoa trong nhà màng, sử dụng các

hệ thống tưới cải tiến và sử dụng giống thông qua kỹ thuật nhân cấy môthực vật (Nguyễn Văn Tới, 2007) Diện tích trồng hoa, cây cảnh của nước

ta tăng trưởng ổn định trong suốt 12 năm qua; so năm 1994, diện tích hoacây cảnh năm 2006 tăng 3,8 lần (diện tích hoa cây cảnh năm 1994 :3.500ha, năm 2006: 13.400ha) giá trị tăng 6 lần, đạt 1.045 tỷ đồng (ĐỗTuấn Khiêm, 2007) Hiệu quả kinh tế từ trồng hoa gấp 10 lần so với lúa và

7 lần so với cây trồng khác; nếu đầu tư 28 triệu cho 1ha hoa thì lợi nhuậnthu được 90 triệu đồng (Nguyễn Xuân Linh, 1998)

Mặc dù diện tích trồng hoa cây cảnh ở nước ta tăng, nhưng việc sửdụng hoa cắt ở nước ta chưa nhiều, bình quân khoảng 1USD/người/năm, sosánh với các nước khác trên thế giới, như: Mỹ, Đức, Nhật, Hà Lan, Italia (bình quân 1 người 16,6USD/năm) thì nước ta sử dụng hoa cắt còn rất ít.Tiêu thụ hoa trong nước đa dạng về chủng loại, nhưng chất lượng hoa thấp,giá rẻ, hiệu quả kinh tế không cao; hoa được tiêu thụ tập trung chủ yếu vàonhững ngày lễ, tết, các ngày kỷ niệm Hiện nay, Việt Nam đã xuất khẩuđược một số loại hoa cắt cành như : hồng, phong lan, cúc, đồng tiền, cẩmchướng, Lily sang Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Singapore, Australia,

Ả rập, nhưng số lượng chưa nhiều bình quân khoảng 10 triệu USD/năm Sở

dĩ sản phẩm hoa cây cảnh của Việt Nam khó thâm nhập thị trường thế giới

là do chủng loại, chất lượng, kích cỡ không đồng đều, chưa đáp ứng đượcthị hiếu của khách hàng quốc tế

2.2.3 Những thụân lợi, khó khăn và phương hướng sản xuất hoa ở Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu đề tài “ Điều tra khả năng phát triển hoa ở khuvựcmiền Bắc Việt Nam” của PGS.TS Nguyễn Xuân Linh (viện di truyềnnông nghiệp Việt Nam) đã thực hiện trong 2 năm 1996-1997 PGS.TSNguyễn Xuân Linh đã đưa ra những đánh giá sau:

+ Những điều kiện thuận lợi của sản xuất hoa ở Việt Nam

Trang 8

- Việt Nam là một nước nông nghiệp, diện tích tự nhiên lớn, 80%dân số sống bằng nghề nông, nông dân cần cù, giàu kinh nghiệm sản xuất,nghề trồng hoa có từ lâu đời.

- Thị trường tiêu thụ hoa ngày càng được mở rộng, có tiềm năng xuấtkhẩu hoa ra các nước khác

- Một số loại hoa họ nhiệt đới có nguồn gốc ở Việt Nam thích hợpvới điều kiện tự nhiên của vùng

- Nhà nước đang khuyến khích phát triển hoa để phục vụ nhu cầutrong nước và xuất khẩu

+ Những khó khăn của sản xuất hoa Việt Nam

- Khí hậu miền Bắc nóng, ẩm về mùa hè đặc biệt trong các tháng từtháng 5 đến tháng 8, mùa đông thì có gió mùa Đông Bắc lạnh, độ chiếusáng ngắn, yếu Miền Nam quanh năm nóng ẩm, có mùa đông khô và mùanóng mưa, ẩm độ cao, điều kiện khí hậu không thuận lợi cho các cây hoa

có nguồn gốc ôn đới

- Chưa có các giống hoa chất lượng cao, thích ứng với điều kiện củavùng Tuy một số vùng có một số giống hoa đẹp, quý như trà, lan, Anthiriumnhưng ở dạng hoa dại nên không thể cạnh tranh được với các dạng hoa lai tạo

có màu sắc sặc sỡ và chưa có chỗ đứng trên thị trường thế giới

- Sản xuất hoa tản mạn, các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất bảo quảnhoa chưa được áp dụng rộng rãi

- Thiếu các phương tiện, thiết bị bảo vệ hoa trong điều kiện nắngnóng, mưa, bão như nhà kính, nhà lưới, nhà che

- Thị trường hoa chưa phát triển trong cả nước và xuất khẩu

- Những đội ngũ cán bộ khoa học về cây hoa chưa được đào tạo đầy đủ

- Việc đầu tư giống hoa của các nước vào Việt Nam còn hạn chế.+ Phương hướng phát triển sản xuất cây hoa ở Việt Nam

- Nhà nước cần đầu tư cho công tác nghiên cứu phát triển hoa ở ViệtNam, khai thác hợp lý, tận dụng tiềm năng, khắc phục những hạn chế, khókhăn, đem lại hiệu quả cao cho sản xuất hoa ở nước ta

- Trước mắt tập trung nghiên cứu, cải tiến giống, đầu tư phát triểncác loài hoa nhiệt đới quý, đẹp được thị trường chấp nhận, có khả năng

Trang 9

thích ứng điều kiện tự nhiên của vùng, phát triển các giống hoa ôn đới theomùa vụ cho các vùng có khí hậu thích hợp.

- Tăng cường đào tạo cán bộ về hoa, áp dụng các tiến bộ về sản xuất,bảo quản, chế biến hoa của thế giới vào điều kiện sản xuất hoa của vùng

- Tạo cơ sở kỹ thuật cho sản xuất, chế biến, bảo quản hoa như nhà lưới,nhà kính, nhà che cây hoa, kho lạnh, bến bãi, bảo quản, lưu giữ phục vụxuất khẩu hoa

- Tìm kiếm thị trường tiêu thụ hoa

- Tích cực hợp tác, mời các chuyên gia hàng đầu về hoa của cácnước tiên tiến sang truyền đạt kinh nghiệm, kỹ thuật trong sản xuất hoa

- Dự kiện năm 2010 diện tích trồng hoa sẽ đạt 16.000 ha với 5 tỷcành hoa, ước tính đạt doanh thu xuất khẩu 60 triệu USD

2.2 Một số nét sơ lược về cây Hoa Cúc

2.2.1 Giới thiệu về cây hoa cúc

Cúc là học cây lưu niên dễ trồng nhất Thường thì nên trồng vào mùaxuân để tránh giá lạnh mùa đông nhưng thực ra có thể trồng cúc bất kỳ thờiđiểm nào miễn là đảm bảo cây sẽ hình thành rễ bám vào đất trước khi khíhậu trở nên quá nóng Tuy vậy, cây sẽ phát triển mạnh nhất và cho nhiềuhoa nhất khi điều kiện thời tiết có ánh nắng mặt trời cộng với cung cấp đủcác chất dinh dưỡng và nước Có tới hàng trăm loài cúc khác nhau với kíchthước cây, hoa, số lượng hoa, kích thước khóm và thời gian nở hoa khácnhau Nhưng nếu ở vùng phía Bắc người trồng nên trọn các cúc có thờigian ra bông ngắn

2.2.2 Đặc điểm thực vật học của hoa Cúc

- Rễ: Thuộc loại rễ chùm, phát triển theo chiều ngang ở tầng đất mặt

Trang 10

2.2.3 Một số giống Hoa Cúc

Ở nước ta có khoảng trên 50 giống hoa cúc nhưng trồng phổ biến có

1 số giống hoa cúc dưới đây:

Cúc đại đoá vàng: Cúc vàng Đà Lạt; Cúc Chi Đà Lạt; Cúc Chi trắng

Đà Lạt; Cúc Chi vàng Đà Lạt; Cúc Ngầm; Cúc Hoạ Mi; Cúc Kim TừNhung; Cúc tím hoa cà; Cúc đỏ; Cúc vàng Đài Loan; Cúc CN93; CúcCN97; Cúc đỏ tiết Dê…

2.2.5 Các phương pháp nhân giống hoa cúc tại Việt Nam

Hiện nay ở việt nam có một số phương pháp nhân giống cây hoa cúcnhư sau :

+ Phương pháp giâm cành: (giâm ngọn):

Vườn cây mẹ: vườn trồng những cây cúc giống tốt, sạch bệnh, đãđược chọn lọc kỹ Khoảng cách trồng 15 x 15 cm, mật độ 400.000 cây /ha.Lên luống cao và phải thoát nước Thường sau trồng khoảng 10 - 12 ngày,

ta tiến hành bấm ngọn 1 lần và sau 20 ngày nữa ta bấm ngọn lần 2 Lúc nàycần phải lưu ý điều khiển giữa lần bấm ngọn thứ nhất và thứ hai vì sau vàingày bấm ngọn lần 1 sẽ có nhiều nhánh xuất hiện Khi chúng dài từ 12 - 15

cm, ta chỉ lấy 3 nhánh phát triển tốt nhất, số còn lại thì loại bỏ hết Sau 25ngày kể từ khi bấm ngọn lần thứ 2, ta tiến hành cắt cành lần 1 Như vậymỗi cây mẹ sẽ cắt được 3 - 4 cành Sau đó tiếp tục cắt lần 2, lần 3, mỗi lầncách nhau khoảng 25 ngày Với kỹ thuật như vậy trong 1 vụ ( thời giankhoảng 4 tháng) trên 1ha có thể thu được 4.000.000 cành giâm có chất

Trang 11

lượng tốt, lượng cành giống này đủ trồng cho 10 ha trong vườn sản xuất.Sau 3 - 4 lần cắt như vậy, cây mẹ già, ta có thể thay thế hoặc chăm sóc cảitạo để làm trẻ hoá vườn cây mẹ

+ Nhân giống cúc bằng phương pháp tỉa chồi

Cây do tỉa chồi thường mọc khoẻ nên đảm bảo tính chất của cây mẹcho hoa tốt, nhưng thời gian ra hoa tương đối lâu hơn so với cây giâm cành

và có nhược điểm thời kỳ nở hoa không đồng đều Muốn có nhiều chồi nontốt cần vun gốc và chăm sóc cây mẹ đầy đủ, mầm giá phát sinh xung quanhgốc cây mẹ nhiều hay ít còn tuỳ thuộc vào giống, tuỳ điều kiện chăm bón,đất tốt hay xấu, những giống cúc mới như CN - 93, CN - 97, vàng ĐàiLoan, tím sen thường là những giống đẻ nhiều mầm giá nhất

+Nhân giống bằng nuôi cấy mô tế bào (In vitro):

Đây là phương pháp nhân giống hiện đại, phục vụ cho sản xuất vớiquy mô lớn, hệ số nhân rất cao Từ 1 bộ phận của cây cúc, sau 1 năm có thểnhân được từ 4.106 – 6.106 cây giống sạch bệnh, đồng nhất về mặt ditruyền, cây giống có chất lượng cao

2.3 Một số nét sơ lược về cây hoa Lyly

Hoa Lily mới được đưa vào trồng ở nước ta từ mấy năm gần đây ở

Đà Lạt, Sơn La Từ năm 2003 một số công ty TNHH kinh doanh hoa ở một

số địa phương ở miền Bắc đã bắt đầu nhập nội giống của các công ty của

Hà Lan, gián tiếp qua các công ty ở Côn Minh Trung Quốc Đà Lạt là nơithử nghiệm trồng hoa Lily đầu tiên ở nước ta, và đã có hoa Lily xuất khẩusang Nhật, Indonesia, Malaisia và Campuchia ước tính hiện nay Đà Lạt cókhoảng gần 5 ha canh tác trồng hoa Lily cả bên ngoài trời và trong nhàPolifilm Riêng Mộc Châu năm 2009 trồng trên 6 ha trong nhà mái che.PGS.TS Hoàng Ngọc Thuận, Trường ĐHNN Hà Nội đã nghiên cứu chế tạo

và sản xuất thành công chế phẩm phân bón lá phức hữu cơ Pomior P399dùng cho hoa, cây cảnh Tại Sơn La, một số doanh nghiệp tư nhân đã nhậpgiống từ Côn Minh Trung quốc trồng thử nghiệm hoa Lily tại Mộc Châu,

xã Ngọc Chiến huyện Mường La, cho thấy tỉnh Sơn La có nhiều vùng cóthể phát triển tốt cây hoa Lily để phục vụ tiêu dùng trong nước và xuấtkhẩu Kết quả trồng thử nghiệm ở một số địa phương cho thấy muốn trồng

Trang 12

hoa Lily có hiệu quả còn rất nhiều vấn đề cần giải quyết trong các khâu kỹthuật, cũng như cơ sở vật chất, trang thiết bị Cao nguyên Mộc Châu ở độcao trên 1050 mét so với mặt biển, đất đai phì nhiêu và tương đối bằngphẳng, có chế độ chiếu sáng tốt, nhiệt độ bình quân năm khoảng 18,50C, rấtphù hợp với phát triển nhiều loại hoa cao cấp có nguồn gốc ôn đới và ánhiệt đới Đây là một lợi thế mà ít vùng trong nước có được Hiện nay ởMộc châu đã có nhiều doanh nghiệp và tư nhân đang đầu tư trồng hoa Lilynhư: Công ty cổ phần hoa Nhiệt đới - Hà Nội, Công ty rau quả - Hà Nội.

2.3.1 Nguồn gốc

• Cây hoa ly được du nhập vào nước ta từ lâu khoảng vào năm 1980.Đến nay đã được trồng ở khắp nơi và nó đã trở thành thứ hàng hoá thươngphẩm ngày càng phát triển

2.3.2 Một số phương pháp nhân giống hoa lyly như sau:

* Giâm bằng vảy

• Nhân giống bằng củ

• Nhân giống bằng hạt

• Nhân giống bằng mầm hạt

• Nhân giống bằng nuôi cấy mô

* Nhân giống bằng vảy

- Giâm vảy, phun xử lý NAA 1000ppm, tưới phun nước giữ ẩm (40 – 60%/ngày) thì vảy sẽ ra củ, củ lớn làm giống cho cây mới

* Nhân giống bằng cách tách củ

- Chọn củ giống tốt trồng thành cây chuyên nhân giống, hoặc chọncây hoa đẹp từ vườn sản xuất, trồng và chăm sóc tốt

Trang 13

- Vào tháng 3 đào lấy củ hong khô, tách và phân loại củ Củ mẹ cóđường kính 8- 10 cm dùng làm giống

- Củ con có chu vi 5cm trở lên thì trồng 1 vụ trở thành cây có củ nhỡ(chu vi 10cm trở lên), củ nhỡ làm giống trồng mọc cho cây lấy hoa

- Củ con nhỏ chu vi từ 1-3cm thì trồng 1 vụ thành củ 5cm, lấy củ nàytrồng tiếp 1 vụ nữa mới cho củ giống

Lyly nhân bằng củ có hệ số nhân giống thấp, mặt khác nếu nhân liêntục nhiều năm, virut tích luỹ lại và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác,làm cho cây sinh trưởng yếu

Bên cạnh đó bởi rất nhạy cảm nên Lyly dễ mắc các bệnh gây rabởi nấm, vi khuẩn…, đặc biệt là LSV (Lyly Symtomless Vi rút) Từ thập

kỷ 70 của thế kỷ XX, hầu hết các khu trồng Lyly thương mại trên thếgiới đều bị nhiễm LSV làm giảm đáng kể năng suất cây trồng GiốngLyly ở Đà Lạt – nơi trồng Lyly nhiều nhất Việt Nam còn bị thoái hóatrầm trọng bởi đã được nhập về trồng nhiều năm (từ thời Pháp thuộc) lạikhông được định kỳ phục tráng Để tạo cây giống có khả năng khángvirus và các nguồn bệnh khác, một số nước đã nghiên cứu, ứng dụng kỹthuật công nghệ tế bào thực vật nhằm nhân giống nhanh và chọn tạogiống mới Tiêu biểu, Hà Lan có những phòng thí nghiệm mỗi năm sảnxuất cả chục triệu củ giống Lily để xuất khẩu Trong khi đó, Đà Lạt làmột trong những vùng đất thích hợp nhất cho sự phát triển của loài hoanày lại chỉ sản xuất cầm chừng bởi hầu hết các công ty và nhà vườn đềuphải nhập củ giống từ Hà Lan với giá từ 7 – 13 ngàn đồng/ củ Củ giốngquá đắt khiến giá hoa Lyly sản xuất ở Việt Nam bị đẩy lên khá cao, khótiêu thụ nội địa và hội nhập thị trường thế giới

Do đó chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm tìm ra được các điều kiệntối ưu nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của hoa lyly trong nuôi cấyinvitro Nhằm tạo ra củ giống có chất lượng cao, giá thành hạ, đảm bảocung cấp đủ nguồn giống cho sản xuất trong nước và xuất khẩu

Trang 15

PHẦN III: VẬT LIỆU - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

3.1.Vật liệu nghiên cứu

Vật liệu nghiên cứu được lấy từ đỉnh sinh trưởng, chồi nách của hoacây hoa Cúc

3.2 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ đường đến khả năng nhânnhanh invitro một số loại hoa

- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ vitamin đến khả năng nhânnhanh invitro một số loại hoa

- Nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ BA đến khả năng nhân nhanhinvitro một số loại hoa

- Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp BA + đường đến hệ số nhânnhanh invitro một số loại hoa

- Nghiên cứu ảnh hưởng của tổ hợp vitamin và đường đến hệ số nhânnhanh invitro một số loại hoa

3.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm

3.3.1 Các thí nghiệm tham gia

Các thí nghiệm được bố trí một cách ngẫu nhiên với 3 lần nhắc lại,mỗi lần nhắc 5 bình, mỗi bình 5 mẫu

Các thí nghiệm được tiến hành theo các bước sau:

- Thí nghiệm 1: Ảnh hưởng của nồng độ đường Saccarozo đến khảnăng nhân nhanh invitro một số loại hoa:

Trang 16

- Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của nồng độ vitamin đến khả năng nhânnhanh invitro một số loại hoa:

G2 : MS + BA ( tối ưu ) + 20 g đường

G3 : MS + BA ( tối ưu ) + 30 g đường

G4 : MS + BA ( tối ưu ) + 40 g đường

G5 : MS + BA ( tối ưu ) + 50 g đường

- Thí nghiệm 5: Ảnh hưởng của tổ hợp BA + vitamin đến hệ số nhânnhanh invitro một số loại hoa

H1 : MS ( đối chứng )

H2 : MS + BA ( tối ưu ) + 50% vitamin MS

Trang 17

H3 : MS + BA ( tối ưu ) + 75% vitamin MS

H4 : MS + BA ( tối ưu ) + 150% vitamin MS

H5 : MS + BA ( tối ưu ) + 200% vitamin MS

3.3.2 Điều kiện thí nghiệm

- Thí nghiệm được tiến hành trong phòng nuôi cấy mô thực vật

- Môi trường nuôi cấy: môi trường cơ bản MS bổ sung các chất khácnhau tùy theo từng thí nghiệm, pH 5,7 Sau 2 tuần cấy chuyền một lần

- Môi trường được hấp khử trùng ở 1210C trong thời gian 15 phút

- Nhiệt độ phòng nuôi: 25 ±10C

- Thời gian chiếu sáng: 16h sáng + 8h tối/ngày

- Cường độ chiếu sáng 3000 lux

- Thể tích môi trường trong bình nuôi cấy là 60 ml

3.3.3 Cách tính các chỉ tiêu

3.3.3.1 Phương pháp theo dõi

- Tiến hành 7 ngày theo dõi thí nghiệm 1 lần

- Đo chiều cao cụm chồi: Từ gốc đến ngọn của chồi cao nhất

- Đếm số chồi: Đếm tổng số chồi và nhánh tạo ra trên một mẫu nuôicấy ban đầu

- Số lá trung bình trên chồi

- Số củ mới phát sinh từ cây mẹ

3.3.3.2 Các chỉ tiêu theo dõi

* Một số chỉ tiêu đánh giá khả năng nhân nhanh của chồi

- Hệ số nhân chồi

Hệ số nhân chồi (chồi/cây mẹ) = ∑ số chồi thu được sau cấy

∑ số cây mẹ ban đầu

- Chiều cao chồi

Trang 18

Chiều cao chồi (cm) = ∑ chiều cao các cây theo dõi

∑ số cây thí nghiệm

- Số lá trung bình/chồi

Số lá trung bình/chồi (lá) = ∑ số lá các cây theo dõi

∑ cây thí nghiệm

* Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng (đánh giá bằng cảm quan)

- Chất lượng chồi ở mức xấu (+): có chồi dị dạng, số lượng chồi bấtđịnh nhiều, chồi phát triển chậm

- Chất lượng chồi ở mức trung bình(++): Số lượng chồi nhỏ và trung bìnhnhiều, phát triển chậm

- Chất lượng chồi ở mức tốt (+++): Số lượng chồi có kích thước lớn nhiều,phát triển tốt

3.3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm

Số liệu thí nghiệm thu được xử lí bằng chương trình thống kê sinhhọc IRRISTAT 4.0 và EXCEL

Trang 19

PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Ảnh hưởng của nồng độ đường Saccarozo đến hệ số nhân chồi một

sô loại hoa.

Trong điều kiện invitro việc cung cấp nguồn hydrat cacbon cho câyngoài lượng chất hữu cơ do cây quang hợp được,người ta cần bổ sung mộtlượng hydrat cacbon ngoại sinh dưới dạng chất hữu cơ là thành phần bắtbuộc của môi trường nuôi cấy Thông thường dạng đường được sử dụngtrong nuôi cấy invitro là saccarose với nồng độ thay đổi từ 2 - 8% tùy theo đốitượng và bộ phận nuôi cấy Nhìn chung tác dụng của đường theo quy luật: Trongkhoảng nồng độ thích hợp, hàm lượng đường tăng thì sự sinh trưởng phát triển

và hệ số nhân chồi cũng tăng Nếu tiếp tục tăng quá cao thì sẽ làm giảm sự sinhtrưởng phát triển và hệ số nhân chồi do làm tăng cao áp suất thẩm thấu của môitrường

Để xác định hàm lượng đường saccarose thích hợp cho sự sinh trưởngphát triển và hệ số nhân chồi, chúng tôi tiến hành thí nghiệm trên nền môitrường MS 0,6% agar + 3ml BAP bổ sung vào môi trường hàm lượng đườngsaccarose thay đổi từ 2,0% - 5,0%

Kết quả thí nghiệm được biểu diễn dưới bảng sau 2.2 sau :

Bảng 2.2 Ảnh hưởng của hàm lượng đường succarose tới hệ số nhân vàchất lượng chồi cây hoa Cúc invitro (sau 1 tuần nuôi cấy)

Công

thức

Số mẫu cấy/5 bình

Chỉ tiêu theo dõi

Chất lượng chồi

Hệ số nhân (lần)

Chiều cao chồi(cm) Số lá/chồi

Trang 20

(++):Chồi phát triển không hoàn chỉnh, lá rất nhỏ,số chồi hữu hiệu ít

(+++)Chồi phát triển bình thường, lá to, cây khỏe

Bảng 2.3 Ảnh hưởng của hàm lượng đường succarose tới hệ số nhân

và chất lượng chồi cây hoa Lyly (sau 1 tuần nuôi cấy)

Công

thức

Số mẫu cấy/5 bình

Chỉ tiêu theo dõi Chất lượng

chồi

Hệ số nhân (lần)

Chiều cao chồi(cm)

Trang 21

Ảnh 1: Ảnh chụp toàn bộ mẫu thí nghiệm

Công thức Đối chứng và D1 Công thức D2, D3

Công thức D4, D5

Kết quả bảng 2.2 cho thấy ở công thức đối chứng sự sinh trưởng pháttriển và khả năng tái sinh chồi rất kém,sau 1 tuần nuôi cấy chiều cao chồi

Trang 22

chỉ đạt 0,86, số lá trung bình của các lần nhắc đạt 6,20, hệ số nhân là 1,01lần Đồng thời chồi phát triển xấu, cây úa vàng, một số mẫu bị chết Trongkhi đó ở các công thức có bổ sung đường cho thấy hàm lượng đường cóảnh hưởng quyết định đến sự sinh trưởng phát triển và hệ số nhân chồi Thểhiện cụ thể tại các công thức D2, D3, D4, D5 Khi hàm lượng đường tănglên thì hệ số nhân chồi cũng như tốc độ phát triển của chồi cũng tăng lên.Biểu hiện ở chỗ : khi hàm lượng đường tăng từ 2 – 5% thì hệ số nhân chồicũng tăng lên từ 1,21 – 1,80, chiều cao của chồi tăng từ 0,86 – 0,92 Đồngthời mẫu cấy phát triển rất mạnh, xanh tốt, cụm chồi to, khỏe Nhưng khităng hàm lượng đường lên 5% thì hệ số nhân chồi có xu hướng giảm, chồi

vô hiệu nhiều

Như vậy công thức được đánh giá tốt nhất là công thức 4 Vì ở nồng

độ này cho ta hệ số nhân chồi cao, chồi sinh trưởng phát triển tốt, khôngxuất hiện chồi dị dạng

Đối với cây hoa Lyly ở công thức D1 khi môi trường không có bổsung đường thì hệ số nhân chồi thấp, chỉ đạt 0,51 và chiều cao chồi đạt 0,31

cm Bên cạnh đó chồi xấu, thân còi cọc, lá kém phát triển Khi hàm lượngđường được bổ sung vào môi trường tăng dần từ 10 – 30 g/lít thì hệ số nhâncũng như động thái tăng trưởng của cây cũng tăng lên, hệ số nhân tăng từ0,73 – 1,08 và chiều cao chồi tăng từ 0,40 – 0,55cm.chồi xanh đậm, chấtlượng chồi ở mức tốt Tuy nhiên khi hàm lượng đường tăng cao, hệ số nhânchồi cũng như tốc độ tăng trưởng của chồi giảm, hệ số nhân giảm từ 1,08 –0,84 và chiều cao chồi giảm từ 0,55 – 0,49 cm

Do đó trong thí nghiệm này công thức cho chất lượng chồi tốt nhất làcông thức 4, là công thức có bổ sung 30g đường/lít

4.2 Thí nghiệm nghiên cứu ảnh hưởng của nồng độ Vitamin đến hệ số nhân chồi một số loại hoa.

Các vitamin rất cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của thực vật Cácvitamin thường dùng trong nuôi cấy mô thực vật là Thiamin (B1), acidnicotinic, pyridoxin, glycine, B5, B12… Trong môi trường MS các vitaminđược sử dụng với lượng khác nhau

Trang 23

Tên hóa chất Nồng độ ( g/lít ) Lượng dùng ( ml )

Bảng 2.4 Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin tới chất lượng

chồi cây hoa Cúc Công

thức thí

nghiệm

Số mẫu cấy/5 bình

lượng chồi

Hệ số nhân (lần)

Chiều cao chồi(cm) Số lá/chồi

Ngày đăng: 16/01/2016, 10:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Đức Thành (2000). Nuôi cấy mô tế bào thực vật – nghiên cứu và ứng dụng. NXB Nông nghiệp - Hà Nội, trang 28 – 29, trang 133 – 135 Sách, tạp chí
Tiêu đề: thực vật –nghiên cứu và ứng dụng. NXB Nông nghiệp - Hà
Tác giả: Nguyễn Đức Thành
Nhà XB: NXB Nông nghiệp - Hà" Nội
Năm: 2000
14. Vũ Văn Vụ - Nguyễn Mộng Hùng - Lê Hồng Điệp, Công nghệ sinh học, NXB Giáo dục, tập II, 2006Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghệsinh học, NXB Giáo dục, tập II, 2006
Nhà XB: NXB Giáo dục
1. Nguyễn Thị Lý Anh (2005), Sự tạo củ Lily in vitro và sự sinh trưởng củacây Lily trồng từ củ in vitro, Tạp chí khoa học kỹ thuật nông nghiệp TậpIII số 5 Khác
2. Ngô Xuân Bình, Nguyễn Thị Thuý Hà, 2000. Giáo trình công nghệ sinh học Khác
3. Đỗ Tuấn Khiêm (2007), Báo cáo tổng kết đề tài Nghiên cứu khả năngthích ứng và xây dựng mô hình sản xuất một số loài hoa giá trị cao tại Khác
5. Nguyễn Hồng Minh, 2002- Giáo trình di truyền học. Đại học nông nghiệpI-Hà Nội Khác
6. Nguyễn Quang Thạch và CS,2003 – Bài giảng công nghệ sinh học thựcvật. Đại học NN I - Hà Nội Khác
7. Nguyễn Văn Tới (2007), Ứng dụng Khoa học công nghệ trong sản xuấthoa tại Đà Lạt, Thông tin khoa học công nghệ số 3/2007, Sở khoa học Khác
8. PGS.TS Đào Thanh Vân(CB), Th.s Đặng Thị Tố Nga, 2006- GT cây hoa. Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên.9 Đỗ Năng Vịnh, 2005. Công nghệ tế bào thực vật ứng dụng. NXB NôngNghiệp Khác
11. Vũ Văn Vụ- Nguyễn Mộng Hùng- Lê Hồng Điệp, 2006- Công nghệ sinh học. NXB Giáo dục Khác
13. Nguyễn Đức Thành, Nuôi cấy mô tế bào thực vật - Nghiên cứu và ứng dụng, NXB Nông nghiệp - Hà Nội, 2000 Khác
15. AIPH. (2004), International statistics flower and plants. Institut fỹrGartenbauửkonomie der Universitọt Hannover.Volume 52 Khác
16. Buschman.J.C.M., Okubo.H., Miller.W.B., Chastagner.G.A.(2005),Globalisation-flower-flower bulds-buld flowers. Acta Horticulture, 673,pp. 27-33 Khác
17. Ha Tieu De, Trieu Thong Nhat, Lo Kim Vu, 2000, gerbera flower. NXBKHKT Giang To, Trung Quoc Khác
18. Jo Wijnands., 2005. Sustainable International Networks in the flowerIndustry Bridging Empirical Findings and Theoretical Approaches Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.1. Diện tích trồng hoa, cây cảnh của một số nước trên - Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một sốyếu tố đến khả năng nhân nhanh invitro một số loại hoa tại trường cao đẳng nông lâm
th ị 1.1. Diện tích trồng hoa, cây cảnh của một số nước trên (Trang 4)
Đồ thị 1.2. Tình hình tiêu thụ hoa cắt trên đầu người và giá trị thị trường (100 triệu Euro) của một số nước trên thế giới - Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một sốyếu tố đến khả năng nhân nhanh invitro một số loại hoa tại trường cao đẳng nông lâm
th ị 1.2. Tình hình tiêu thụ hoa cắt trên đầu người và giá trị thị trường (100 triệu Euro) của một số nước trên thế giới (Trang 5)
Bảng 2.1: Thời vụ trồng đối với 1 số giống hoa cúc như sau: - Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một sốyếu tố đến khả năng nhân nhanh invitro một số loại hoa tại trường cao đẳng nông lâm
Bảng 2.1 Thời vụ trồng đối với 1 số giống hoa cúc như sau: (Trang 10)
Bảng 2.3. Ảnh hưởng của hàm lượng đường succarose tới hệ số nhân - Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một sốyếu tố đến khả năng nhân nhanh invitro một số loại hoa tại trường cao đẳng nông lâm
Bảng 2.3. Ảnh hưởng của hàm lượng đường succarose tới hệ số nhân (Trang 20)
Bảng 2.5. Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin tới chất lượng - Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một sốyếu tố đến khả năng nhân nhanh invitro một số loại hoa tại trường cao đẳng nông lâm
Bảng 2.5. Ảnh hưởng của hàm lượng vitamin tới chất lượng (Trang 24)
Bảng 2.8. Ảnh hưởng của tổ hợp BA + Đường đến hệ số nhân nhanh - Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một sốyếu tố đến khả năng nhân nhanh invitro một số loại hoa tại trường cao đẳng nông lâm
Bảng 2.8. Ảnh hưởng của tổ hợp BA + Đường đến hệ số nhân nhanh (Trang 29)
Bảng 2.9. Ảnh hưởng của tổ hợp BA + Đường đến hệ số nhân nhanh - Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một sốyếu tố đến khả năng nhân nhanh invitro một số loại hoa tại trường cao đẳng nông lâm
Bảng 2.9. Ảnh hưởng của tổ hợp BA + Đường đến hệ số nhân nhanh (Trang 30)
Bảng 2.10. Ảnh hưởng của tổ hợp vitamin tối ưu và đường đến hệ số - Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một sốyếu tố đến khả năng nhân nhanh invitro một số loại hoa tại trường cao đẳng nông lâm
Bảng 2.10. Ảnh hưởng của tổ hợp vitamin tối ưu và đường đến hệ số (Trang 32)
Bảng 2.11. Ảnh hưởng của tổ hợp vitamin tối ưu và đường đến hệ số - Nghiên cứu sự ảnh hưởng của một sốyếu tố đến khả năng nhân nhanh invitro một số loại hoa tại trường cao đẳng nông lâm
Bảng 2.11. Ảnh hưởng của tổ hợp vitamin tối ưu và đường đến hệ số (Trang 33)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w