1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt

65 159 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 10,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ yêu cầu thực tế trên, được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng Thủy sản –Trường Đại học Nha Trang, Phòng thí nghiệm sản xuất giống động vật thânmềm – Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp, ngoài sự nỗlực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tổ chức và cánhân Nhân đây tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quý báu đó

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Hoàng Thị BíchĐào (Trường Đại Học Nha Trang) và ThS Phùng Bảy (Viện Nghiên CứuNuôi Trồng Thủy Sản III) đã định hướng và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốtquá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa cùng các thầy cô giáotrong khoa Nuôi Trồng Thủy Sản – Trường Đại Học Nha Trang, những người

đã dạy dỗ và truyền đạt kiến thức cho tôi trong suốt quãng thời gian qua.Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các cán bộ công nhân viên phòngthí nghiệm sản xuất giống động vật thân mềm, phòng thư viện Viện NghiênCứu Nuôi Trồng Thủy Sản III đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chấtcho tôi trong suốt quá trình thực tập tốt nghiệp

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến bạn bè, những người luôn bên cạnh giúp

đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin dành sự biết ơn to lớn đến gia đình và người thân đãluôn động viên giúp tôi vượt qua khó khăn trong suốt những năm học vừaqua

Nha trang, tháng 06 năm 2009

Sinh viên

Lê Thị Mai Anh

Trang 2

MỤC LỤC

Mục lục ii

Danh mục các bảng iv

Danh mục các hình v

Danh mục các ký tự viết tắt vi

Mở đầu 1

Phần 1: TỔNG LUẬN 3

1.1 Một số đặc điểm sinh học của hầu 3

1.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm hình thái bên ngoài 3

1.1.2 Đặc điểm phân bố 4

1.1.3 Phương thức sống 4

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 5

1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 7

1.1.6 Đặc điểm sinh sản 8

1.1.7 Phát triển phôi và ấu trùng 9

1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất và nuôi hầu C gigas trên thế giới .11 1.2.1 Công nghệ sản xuất giống 11

1.2.2 Công nghệ nuôi thương phẩm 13

1.3 Tình hình nghiên cứu và nuôi hầu ở Việt Nam 15

Phần 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu 18

2.2 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18

2.3 phương pháp thu thập số liệu 19

2.4 Vật liệu nghiên cứu 19

2.5 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20

2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 21

2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu 21

Trang 3

2.6.2 Các công thức tính toán 22

2.6.3 xử lý số liệu 23

Phần 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống 24

3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng của ấu trùng 25

3.1.2 Ảnh hưởng của mật độ đến phát triển và tỷ lệ sống 28

3.2 Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống 30

3.2.1 Ảnh hưởng của độ mặn đến sinh trưởng 31

3.2.2 Ảnh hưởng của độ mặn đến phát triển và tỷ lệ sống 35

Phần 4: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN 38

TÀI LIỆU THAM KHẢO 40

PHỤ LỤC 42

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các dụng cụ đo yếu tố môi trường 19 Bảng 3.1 Kích thước và tốc độ sinh trưởng của ấu trùng ở các lô mật độ 24Bảng 3.2 Ảnh hưởng của mật độ đến thời gian chuyển giai đoạn và tỷ lệ sống 27Bảng 3.3 Kích thước và tốc độ sinh trưởng của ấu trùng ở các lô độ mặn 29Bảng 3.4 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình ngày về chiều dài của ấu trùng ở các thang độ mặn khác nhau 32Bảng 3.5 Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình ngày về chiều cao của ấu trùng ở các thang độ mặn khác nhau 32Bảng 3.6 Ảnh hưởng của độ mặn đến thời gian chuyển giai đoạn và tỷ lệ sống 33

Trang 5

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Hình dạng ngoài của hầu Thái Bình Dương .3Hình 2.1 Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu 18Hình 2.2 Bố trí thí nghiệm 20Hình 3.1 Sinh trưởng chiều dài của ấu trùng theo thời gian ở các mật độ nuôi khác nhau 26Hình 3.2 Sinh trưởng về chiều cao của ấu trùng theo thời gian ở các mật độ nuôi khác nhau 26Hình 3.3 Ảnh hưởng của mật độ đến tỷ lệ sống của ấu trùng hầu 28Hình 3.4 Sinh trưởng về chiều dài của ấu trùng theo thời gian ở các thang độ mặn khác nhau 33Hình 3.5 Sinh trưởng về chiều cao của ấu trùng theo thời gian ở các thang độ mặn khác nhau 33Hình 3.6 Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của ấu trùng hầu 36

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ TỰ VIẾT TẮT

TBD: Thái Bình Dương

Ctv: Cộng tác viên

TB: Tế bào

SGR: Tốc độ sinh trưởng đặc trưng

DGR: Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình ngày

L: Kích thước chiều dài của ấu trùng

H: Kích thước chiều cao của ấu trùng

n: Kích thước mẫu thí nghiệm

Trang 7

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, nghề nuôi động vật thân mềm đang phát triểnmạnh, đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển của ngành nuôi trồng thủysản Sản lượng nuôi động vật thân mềm tăng nhanh chóng trong 5 thập kỷqua, từ 3,6 triệu tấn năm 1990 lên 10,7 triệu tấn năm 2000 Năm 2000 nuôiđộng vật thân mềm chiếm 71,9% tổng sản lượng động vật thân mềm trên thếgiới [10]

Hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas Thunberg, 1793) là một trong

số các loài động vật thân mềm được phân bố rộng khắp trên thế giới và là đốitượng nuôi quan trọng có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao (chiếm 98% sảnlượng hầu nói chung) Hiện nay, chúng đã được nuôi ở 64 nước trên thế giới,đặc biệt là một số quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Pháp, Mỹ,Canada… Chưa có loài thủy sản nào có sản lượng tăng nhanh và lớn như hầuThái Bình Dương Năm 1950 tổng sản lượng hầu thế giới là 150.000 tấn, năm

1970 tăng lên 437.000 tấn, 1990 là 1,2 triệu tấn, năm 2000 là 3,9 triệu tấn vànăm 2003 đạt 4,38 triệu tấn Sản lượng hầu có xu hướng tăng mạnh trongnhững năm tới [19]

Việt Nam không có loại hầu này phân bố tự nhiên, do vậy so với các loàihầu bản địa và động vật thân mềm khác đang được nuôi ở nước ta, hầu TháiBình Dương có những ưu việt hơn như kích thước và khối lượng cơ thể lớn,tốc độ sinh trưởng nhanh, giá trị kinh tế và xuất khẩu cao, nhu cầu thị trườngtrong và ngoài nước lớn; thịt hầu tươi là thực phẩm quý, có giá trị dinh dưỡngcao, giàu chất kẽm, chất béo thấp, không chứa các cholesterol xấu, giảm nguy

cơ tim mạch, tăng khả năng miễn dịch cho cơ thể Hầu có vỏ mỏng, thịtnhiều, vị đậm đà, không có mùi tanh, đa dạng trong chế biến và có giá trị lớntrong y dược [19]

Trang 8

Theo báo cáo của FAO (2003), nghề nuôi hầu đầu tư thấp, kỹ thuật nuôiđơn giản, không phải cho ăn, quy mô đa dạng, sức sinh sản lớn là yếu tố quantrọng để sản xuất đại trà Ngoài ra, hầu có giá trị đặt biệt quan trọng trong hệsinh thái thủy vực, nó có tác dụng làm sạch môi trường nước Đến nay, hầuThái Bình Dương được xem là đối tượng lý tưởng để thay thế cho các loàihầu bản địa.

Do hầu Thái Bình Dương không phân bố tự nhiên ở Việt Nam nên nghềnuôi phụ thuộc hoàn toàn vào con giống trong sản xuất giống nhân tạo Vìvậy nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi thương phẩm hầu TháiBình Dương đang rất được quan tâm nhằm đưa nghề nuôi hầu nước ta pháttriển mạnh, tạo ra sản lượng lớn để xuất khẩu, mở ra một lối đi mới đầy triểnvọng cho nghề nuôi biển Việt Nam

Từ yêu cầu thực tế trên, được sự đồng ý của Khoa Nuôi trồng Thủy sản –Trường Đại học Nha Trang, Phòng thí nghiệm sản xuất giống động vật thânmềm – Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản III, tôi đã thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinh

trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt”.

Với các nội dung sau:

- Thí nghiệm ảnh hưởng của độ mặn đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống

của ấu trùng hầu C.gigas ở giai đoạn chữ D đến ấu trùng điểm mắt.

- Thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống

của hầu C.gigas ở giai đoạn ấu trùng chữ D đến ấu trùng điểm mắt.

- Nhận xét và đánh giá kết quả

Do thời gian thực tập có hạn và kiến thức của bản thân còn nhiều hạn chếnên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được sựgóp ý của quý thầy cô và bạn đọc để luận văn được hoàn chỉnh hơn

Trang 9

PHẦN 1 TỔNG LUẬN

1.1. Một số đặc điểm sinh học của hầu

1.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm hình thái bên ngoài

Hầu Thái Bình Dương được Thunberg phân loại vào năm 1793 vàđược sắp xếp như sau:

Loài Crassostrea gigas (Thunberg, 1793)

Hình 1.1 Hình thái ngoài của hầu Thái Bình Dương

Cũng như các động vật hai mảnh vỏ khác, hầu Thái Bình Dương có hai

vỏ úp lại với nhau và khép mở nhờ cơ khép vỏ Hai vỏ này rất cứng, thô, khácnhau về hình dạng và kích thước Vỏ phải thì nhỏ, nông nằm ở trên còn vỏ

Trang 10

trái thì sâu và lớn dùng để bám chặt vào vật cứng và nằm ở dưới Hầu TháiBình Dương không có răng bản lề ở bên trong Cơ khép vỏ có màu tím haymàu nâu Hầu Thái Bình Dương có tỉ lệ chiều dài và chiều rộng vỏ tương đốilớn (thường chiều dài gấp 3 lần chiều rộng) Chính dựa vào điểm này nênngười ta thường gọi là hầu ống hay hầu dài Ngoài ra hai mép lưng bụng củahầu gần như song song với nhau cũng là một đặc điểm nhận dạng khác [14]

1.1.2 Đặc điểm phân bố

Hầu Thái Bình Dương thuộc họ Ostreidae, phân bố rộng khắp thế giới từ

hàn đới, ôn đới, nhiệt đới, đâu đâu cũng có dấu vết của chúng Do khả năngthích ứng với điều kiện sống của mỗi loài khác nhau nên phân bố của chúngcũng khác nhau Đứng về mặt yêu cầu sinh thái học chúng ta chia làm hai loạiphân bố: Phân bố địa lý và phân bố thẳng đứng

Phân bố địa lý: Diện phân bố địa lý (hay còn gọi là phân bố theo

chiều ngang) rộng hay hẹp chủ yếu được quyết định bởi nhiệt độ và nồng độmuối Hầu Thái Bình Dương thích nghi với độ dao động rộng của các yếu tốmôi trường Chúng là loài bản địa của Đông Bắc Châu Á bao gồm Nhật Bản,nhưng di chuyển và lan rộng ra nhiều quốc gia như Pháp, Trung Quốc (dunhập vào đầu và cuối những năm 1960) và Niu Zealand vì mục đích nuôi.Ngoài ra, sự phát tán của hầu Thái Bình Dương còn do nguyên nhân kháchquan đó là trường hợp hầu bám trên những chiếc tàu lớn và vận chuyển đikhắp nơi vì mục đích thương mại, cho nên loài hầu này có thể được gọi phân

bố toàn cầu [15]

Phân bố theo phương thẳng đứng: Hầu Thái Bình Dương trưởng

thành không có tơ chân và bám chặt trên những vật bám cứng như đá hay vỏđộng vật thân mềm khác trong vùng triều và vùng hạ triều đến độ sâu 3 mnước Chúng thiên về những vùng nước lợ ở cửa sông hay những vùng duyênhải gần bờ mặc dù chúng có thể thích nghi với biên độ dao động mạnh của

Trang 11

nồng độ muối và các yếu tố môi trường nước nên có thể xuất hiện ở ngoàikhơi ở độ sâu khoảng 40 m nước nhưng với mật độ ít và sinh trưởng kém[14].

1.1.3 Phương thức sống

Phương thức sống của hầu thay đổi theo giai đoạn phát triển của cơ thể.Trứng hầu sau khi đẻ một thời gian ngắn được thụ tinh và phát triểnthành ấu trùng đĩa bơi Từ ấu trùng đĩa bơi đến lúc sống bám phải trải qua giaiđoạn sống phù du Thời kỳ này dài hay ngắn phụ thuộc vào nhiệt độ nước.Theo Byung Ha Park và ctv (1988) khi nghiên cứu về hầu Thái Bình Dươngtại Hàn Quốc cho thấy: Tại nhiệt độ 19-20oC giai đoạn phù du của hầu kéo dài

3 tuần, tại nhiệt độ 27oC là 10 ngày [7]

Sau thời kỳ sống phù du, ấu trùng chuyển sang giai đoạn sống bám.Chúng thường sống bám cố định vào bất kỳ vật thể cứng nào như đáy cứng,

đá, vỏ động vật thân mềm, san hô chết…

1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng

Thức ăn của hầu thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của cơ thể

 Giai đoạn ấu trùng:

Hầu khi phát triển thành ấu trùng đĩa bơi, các chất dinh dưỡng trong cơthể đã bị tiêu hao hết, cơ quan tiêu hóa đã dần được hình thành và ấu trùngphải sử dụng thức ăn từ bên ngoài môi trường Thức ăn của ấu trùng giai đoạnnày thường là các loại thực vật phù du có kích thước nhỏ bé (2 – 8 µ) như

Nannochloropsis, Irochrysis, Chaetocerosi, Pavlova, Chlorella, Cryptomonas, Platymonas… Trong sinh sản nhân tạo, vấn đề thức ăn của ấu

trùng là một vấn đề cần được chú trọng

Trang 12

 Giai đoạn trưởng thành:

Theo kết quả nghiên cứu thức ăn của hầu người ta thấy rằng thức ăn củahầu gồm có sinh vật phù du, mùn bã hữu cơ và những chất hòa tan trong nướcnhư amino acid, muối khoáng (đặc biệt là các muối calci rất cần thiết cho sựhình thành vỏ) Thực vật phù du (phytoplankton) chủ yếu là tảo silic:

Melosira, Coscinodiscus, Navicula, Nitzschia, Chaetoceros, Biddulphia, Skeletonema, Cyclotella, Rhizosolema, Thalassiotrix… Động vật phù du

(zooplankton) bao gồm ấu trùng giun nhiều tơ, ấu trùng copepoda, copepodenhỏ, rotifer [1]

Phương thức bắt mồi:

Lebesnerais (1985), Boucaud-Camou và ctv (1985) đã nghiên cứu cơ chếlọc thức ăn và quá trình chuyển hóa thức ăn trong hệ thống tiêu hóa của hầuThái Bình Dương [10], [11] Theo Chestinnt (1946) thì phương thức bắt mồicủa hầu là bị động theo hình thức lọc nhiều lần [6] Hầu bắt mồi trong quátrình hô hấp, dựa vào cấu tạo đặc biệt của mang Khi hô hấp, nước có mangtheo thức ăn qua bề mặt mang, các hạt thức ăn sẽ đính vào các tiêm mao trên

bề mặt mang nhờ vào dịch nhờn được tiết ra từ tiêm mao Hạt thức ăn có kích

cỡ thích hợp (nhỏ) sẽ bị đính vào dịch nhờn và bị tiêm mao cuốn thành viênsau đó chuyển dần về phía miệng, còn các hạt thức ăn có kích cỡ quá lớn tiêmmao không giữ được sẽ bị dòng nước cuốn đi khỏi bề mặt mang sau đó tậptrung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài Mặc dù hầu bắt mồi bịđộng nhưng với cách bắt mồi này thì có thể chọn lọc thức ăn theo kích thước[7]

Quá trình chọn lọc thức ăn được thực hiện bốn lần theo phương thứctrên: Lần thứ nhất xảy ra trên mang, lần thứ hai xảy ra trên đường vậnchuyển, lần thứ ba xảy ra trên xúc biện, lần thứ tư xảy ra tại manh nangchọn lọc thức ăn Thức ăn sau khi được chọn lọc bởi manh nang chọn lọc

Trang 13

thức ăn, được đưa trở lại dạ dày để tiêu hóa Tại đây nó được tiêu hóa mộtphần nhờ tác dụng của men tiêu hóa tiết ra từ nang tinh Sau đó thức ănđược chuyển đến manh nang tiêu hóa và tiếp tục được tiêu hóa nhờ men tiêuhóa do manh nang tiêu hóa tiết ra Cuối cùng thức ăn được tiêu hóa tại ruột,các chất dinh dưỡng sẽ được hấp thụ, còn chất cặn bã sẽ bị đưa ra ngoài cơthể qua hậu môn.

Các tác nhân ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của hầu là thủy triều,lượng thức ăn và các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng độ muối …)

 Khi triều lên cường độ bắt mồi tăng, triều xuống cường độ bắt mồigiảm

 Trong môi trường có nhiều thức ăn thì cường độ bắt mồi thấp và ítthức ăn thì cường độ bắt mồi cao

 Khi các yếu tố môi trường (nhiệt độ, nồng độ muối …) trong khoảngthích hợp thì cường độ bắt mồi cao và khi các yếu tố môi trường ngoàikhoảng thích hợp thì cường độ bắt mồi thấp Khi nhiệt độ nước 10-15oC hầubắt mồi mạnh nhất Trong mùa sinh sản nhiệt độ nước tương đối cao, hầu bắtmồi yếu Nói chung lượng nước lọc của hầu khoảng 1-25 L/h, trong thời gianngắn có thể lọc được 31-34 L/h bằng 1500 lần khối lượng của nó [6]

 Độ pH của nước biển có ảnh hưởng đến hoạt động bắt mồi của hầu.Khi pH = 7,75 cường độ lọc nước bình thường, từ 6,75 – 7,00 cường độ lọcnước tăng nhưng khi pH giảm dưới 6,5 thì cường độ lọc giảm xuống Khi pH

= 4,14 lượng nước lọc chỉ còn 10% mức bình thường (Loosanoff, 1948) [6]

1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng

Hầu là loại động vật thân mềm chỉ sinh trưởng trong một giai đoạn nhấtđịnh khi còn non, sau khi trưởng thành rồi thì hầu như không lớn lên đượcnữa Trong năm đầu tiên hầu sinh trưởng nhanh về kích thước, năm thứ 2 và 3

Trang 14

sinh trưởng nhanh về khối lượng Từ năm thứ 4 trở đi thì tốc độ tăng trưởnggiảm [4].

Hầu Thái Bình Dương có tốc độ sinh trưởng nhanh (có thể sinh trưởnghơn 75 mm trong vòng 12 tháng đầu tiên) Tuy nhiên tại vùng nước WaddenSea (Đan Mạch) hầu có thể sinh trưởng đạt 100 mm sau 12 tháng nuôi đầutiên Hầu này có thể sống tới 10 năm và đạt kích cỡ trung bình khoảng 150 –

200 mm [2]

Sự sinh trưởng của hầu phụ thuộc và điều kiện ngoại cảnh, trong đó nhiệt

độ là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tốc độ sinh trưởng của hầu Ởvùng nhiệt đới có nhiệt độ ấm, tốc độ sinh trưởng của hầu rất nhanh và quátrình sinh trưởng diễn ra quanh năm

Theo Byung Ha Park và ctv (1988) khi nghiên cứu về hầu Thái BìnhDương tại Hàn Quốc cho thấy: Nhiệt độ, thức ăn và độ mặn là các yếu tốquan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển của ấu trùng.Khi nhiệt độ thấp, hầu sinh trưởng và biến thái chậm, thời gian phù du kéodài Ở nhiệt độ 19-20oC giai đoạn phù du của hầu kéo dài khoảng 3 tuần, ởnhiệt độ 27oC là 10 ngày Độ mặn trong giai đoạn này có thể dao động từ 14-

37 ‰ nhưng thích hợp nhất là từ 15-25 ‰ [7]

Ngoài ra, nhiệt độ nước còn ảnh hưởng đến sinh trưởng của vỏ hầu Vàomùa đông, khi thời tiết giá lạnh phần vỏ không phát triển Thời gian sinhtrưởng chính là vào những tháng mùa xuân ấm áp, thức ăn đầy đủ, hầu lớn rấtnhanh.Vào mùa sinh sản hầu sinh trưởng kém vì mất nhiều năng lượng choquá trình sinh sản Sau đó là thời gian hầu bắt mồi mạnh để tích lũy nănglượng và lúc này hầu lớn rất nhanh

1.1.6 Đặc điểm sinh sản

Hầu Thái Bình Dương là loài lưỡng tính có yếu tố đực chín trước Chúngthường tham gia sinh sản đầu tiên là con đực và sau đó chuyển thành con cái

Trang 15

Các yếu tố môi trường đặc biệt là thức ăn có thể ảnh hưởng đến giới tính củahầu Trong điều kiện dồi dào thức ăn, chúng có xu hướng chuyển giới tính từcon đực sang con cái và ngược lại trong điều kiện thức ăn hạn chế hay chúngtập trung thành những quần thể với mật độ quá lớn, toàn bộ đàn hầu là conđực Một số ít cá thể lưỡng tính [2].

Hầu Thái Bình Dương tham gia sinh sản lần đầu sau khoảng một năm(kích thước khoảng 70-100 mm) Mùa vụ sinh sản thường diễn ra vào nhữngtháng mùa xuân và mùa hè Trong suốt mùa sinh sản khối lượng tuyến sinhdục của hầu có thể chiếm tới 50% khối lượng cơ thể Sức sinh sản của hầuThái Bình Dương là vô cùng lớn, một con hầu cái có thể sinh ra khoảng 50-

100 triệu trứng trong một lần đẻ Quá trình thụ tinh diễn ra trong nước và phảimất khoảng 10-15 phút sau khi đẻ [16]

Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của hầu:

Quá trình sinh sản của hầu chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện môitrường, đặc biệt là nhiệt độ

Theo Byung Ha Park và ctv (1988), nghiên cứu sự thành thục của hầuThái Bình Dương tại Hàn Quốc cho thấy, yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sựthành thục là nhiệt độ Nhiệt độ tăng cao thời gian chín của tuyến sinh dụccàng rút ngắn [7] Còn theo thí nghiệm của Loosanoff về ảnh hưởng của nhiệt

độ đến sự phát triển của tuyến sinh dục hầu C.virginica cho thấy ở nhiệt độ

10oC thì sau 35 ngày hầu mới thành thục nhưng tỷ lệ thành thục ít, ở 20oC sau

5 ngày hầu đã thành thục nhưng tỷ lệ đẻ thấp chỉ đạt 24%, ở 30oC chỉ sau 3ngày hầu đã thành thục và cho tỷ lệ sinh sản cao [4]

Việc đẻ trứng cũng bị tác động của các yếu tố môi trường như sự dồi dàocủa thức ăn và nâng lên của nhiệt độ Theo Spencer (2002) thì nhiệt độ đẻ củahầu Thái Bình Dương dao động trong khoảng 22 – 25oC, còn của hầu

C.virginica là từ 17 – 20oC [2]

Trang 16

Ngoài ra, hoạt động sinh sản của hầu còn chịu ảnh hưởng của các yếu tốmôi trường khác như:

- Độ mặn: có quan hệ chặt chẽ đến sinh sản của hầu Khí hậu vùng

nhiệt đới quanh năm thích hợp cho hầu Ấn Độ Ostrea cucullata sinh sản

nhưng ở Ấn Độ hầu này chỉ đẻ từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; còn tháng 7,

8 tuy tuyến sinh dục thành thục nhưng vẫn không đẻ vì lúc đó mùa mưaxuống độ mặn giảm không thích hợp cho sinh sản của nó Ở nước ta, hầu sông

có mùa sinh sản từ tháng 4 đến tháng 9, trong các tháng này hầu đẻ rộ nhấtvào thời kỳ nhiệt độ nước cao nhất trong toàn năm (trung bình 30oC) nhưng

độ mặn lại thấp nhất toàn năm (trung bình 5 – 10 ‰) [1]

- Thức ăn: trong môi trường giàu dinh dưỡng thì khả năng tích lũyglycogen tăng, do đó sự tích lũy noãn hoàng trong trứng của hầu tăng theo, vìvậy mà hầu thành thục sớm và khả năng sinh sản tốt hơn Ngược lại trong môitrường nghèo dinh dưỡng thì khả năng thành thục sinh dục và sinh sản củahầu sẽ kém đi [4]

1.1.7 Phát triển phôi và ấu trùng

Hầu Thái Bình Dương sinh sản theo kiểu hữu tính Trong quá trình pháttriển nói chung, chúng đều trải qua các giai đoạn ấu trùng bánh xe(Trochophora), ấu trùng chữ D (Veliger), ấu trùng đĩnh vỏ (umbo), ấu trùngđiểm mắt (hậu umbo) và con giống bám Ấu trùng dạng trôi nổi bơi lội tự dotrong nước, phát triển trong khoảng 3 – 4 tuần trước khi tìm một bề mặt cứngsạch thích hợp để bám lên Việc bám chắc vào một bề mặt cứng là do hầu con

có tuyến nằm ở chân tiết ra một chất kết chặt vỏ với vật bám Tuy nhiên trongmột điều kiện nào đó, chúng vẫn có thể bám lên những vùng bùn hoặc vùngcát (chúng bám lên trên những viên đá nhỏ, mảnh vỏ động vật thân mềm haynhững mảnh vụn khác) hoặc trên đỉnh của những con hầu trưởng thành khác.Hầu sống sót đến giai đoạn này gọi là ấu thể spat [16]

Trang 17

Các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình phát triển phôi và ấu trùng:

- Nhiệt độ:

Nhiệt độ ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng và phát triển của ấu trùnghầu Sự thụ tinh có thể diễn ra trong khoảng biến động nhiệt độ lớn nhưng sựphát triển của ấu trùng chữ D nằm trong khoảng hẹp

Nếu nhiệt độ lớn hơn 35oC hay nhỏ hơn 15oC thì phôi sẽ bị dị hình vàkhông phát triển được Khoảng nhiệt độ thích hợp nhất là từ 25oC - 28oC Cácloại hầu khác nhau thì chịu ảnh hưởng của nhiệt độ đến sự phát triển phôi và

ấu trùng cũng khác nhau như hầu ống C gias thích hợp với nhiệt độ 23oC

-26oC, nếu thấp hơn 15oC hay cao hơn 30oC thí số lượng phôi dị hình rất lớn và

tốc độ phát triển chậm Còn hầu Ấn Độ C cucullata thích hợp với nhiệt độ

27.5oC – 29.5oC…[4]

- Độ mặn:

Độ mặn thích hợp cho sự phát triển của phôi và ấu trùng hầu tương tự như

độ mặn của nơi hầu bố mẹ sinh sống

Các loài hầu khác nhau thì thích nghi với các mức độ mặn khác nhau Hầu

cửu sông C rivularis có độ mặn thích hợp là 10 – 25 ‰, còn độ mặn thấp hơn

5 ‰ thì trứng bị trương nước hay lớn hơn 25 ‰ thì trứng bị mất nước dẫn đến

ấu trùng bị dị hình, không phát triển được [4] Hầu C gigas có độ mặn thích

hợp từ 20 – 26 ‰ (Amemiya, 1928), 12 – 23 ‰ (Ranson, 1948) Còn đối với

hầu C angulata thì độ mặn thích hợp là từ 26 – 35 ‰ (Amemiya, 1928), 18 –

23 ‰ (Ranson, 1948) [18]

Ngoài ra thời gian chuyển từ giai đoạn chữ D sang giai đoạn sống bám

cũng phụ thuộc nhiều vào độ mặn Một nghiên cứu trên hầu Mỹ Ostrea edulis

cho thấy khoảng độ mặn thích hợp cho ấu trùng bám là từ 22,5 – 25,0 ‰, độmặn giảm thì tỷ lệ bám của ấu trùng cũng giảm trầm trọng Ngoài ra, đối với

Trang 18

hầu Mỹ O edulis, thời gian bám của ấu trùng cũng khác nhau ở các mức độ

khác nhau và tỷ lệ bám cao nhất thường xảy ra tại 15 – 20 ‰ [18]

- Muối vô cơ:

Mội số loại muối vô cơ có trong nước như: KCl, CaCl2, MgCl2… nếu thiếu

có thể làm cho tỷ lệ thụ tinh giảm thấp đến 20 – 30%, ngược lại nếu thừa thì

sẽ làm cho tỷ lệ thụ tinh của trứng giảm thấp hơn nữa

1.2 Tình hình nghiên cứu sản xuất và nuôi hầu Crassostrea gigas trên

bố mẹ và nuôi vỗ, kích thích cho đẻ hay cho thụ tinh nhân tạo, ương nuôi ấutrùng và con giống, cấy tảo làm thức ăn Quá trình nuôi vỗ dài hay ngắn tùythuộc vào từng vùng và mùa nhưng thông thường 2 -3 tuần vào mùa xuân hè,

6 – 8 tuần vào mùa đông Phương pháp kích thích cho đẻ thì đa dạng bao gồmnâng hạ nhiệt độ, độ muối, phơi khô, tạo dòng chảy, tiêm hóa chất seretonin,nhưng đối với hầu hiệu quả nhất là nâng nhiệt Ương nuôi ấu trùng thực hiệntrong bể 1 - 2 m3 với mật độ ấu trùng 5 – 8 con/ml [2]

Phương pháp sản xuất giống hầu nhân tạo dựa trên những cơ sở và kếtquả nghiên cứu đầu tiên của Loosany và Imai Điều kiện cần thiết cho sinh

Trang 19

sản là nhiệt độ, ở những thủy vực ôn đới, mùa vụ sinh sản phụ thuộc vào sựgia tăng nhiệt độ Mùa xuân là cực điểm của sự chín sinh dục khi nhiệt độnước đạt đến ngưỡng sinh sản Nhiệt độ cũng cần thiết cho sự phát triển của

ấu trùng Riêng ở những vùng có khí hậu nhiệt đới thì nhiệt độ không phải làyếu tố kích thích sinh sản nhưng sự gia tăng nhiệt độ trong ngưỡng thích hợp

sẽ làm sản phẩm sinh dục chín, chính vì thế tăng nhiệt độ là biện pháp kíchthích sinh sản trong sản xuất giống nhân tạo [7]

Trên thế giới phương pháp sản xuất giống mang tính thương mại đã có từnhững năm cuối của thế kỷ 19 Công trình nghiên cứu cho hầu đẻ thành côngvào năm 1897 của Brook, ông đã nuôi được ấu trùng bơi lội tự do từ trứng vàtinh trùng của hầu trong mùa sinh sản Cũng có nhiều nghiên cứu tiến hànhương nuôi ấu trùng hầu trong phòng thí nghiệm nhưng mãi đến năm 1920,Wells mới thành công trong kỹ thuật ương nuôi ấu thể Spat [7]

Để làm cơ sở cho việc sử dụng vật bám trong sản xuất giống nhân tạocũng như cải tiến phương pháp thu giống ngoài tự nhiên, Latama (1996) đã sửdụng những vật liệu sẵn có, rẻ tiền như thanh tre và tấm xi măng để thu giống

hầu C cucullata tại Indonesia Kết quả cho thấy hầu bám nhiều hơn trên

những tấm xi măng so với thanh tre Năm 2000, Yulianda và Atmadipura đãkết luận rằng độ ghồ ghề và loại của vật bám có ảnh hưởng đến mật độ bám

của con giống hầu Crassostrea sp Thí nghiệm của họ cho kết quả là hầu

giống bám nhiều hơn trên những vật bám là những viên đá có bề mặt gồ ghềhơn vật bám là những vỏ sò [2]

Theo Jones và Jones (1988), một chi tiết rất quan trọng liên quan đếnviệc vận chuyển ấu trùng để cho bám ở những vùng không có khả năng xâydựng trại giống là ấu trùng điểm mắt của hầu Thái Bình Dương có thể giữtrong điều kiện độ ẩm và nhiệt độ 5oC trong thời gian hàng tuần, hầu vẫn cóthể bám tốt Nhưng trong nghiên cứu của Tan và Wong (1995) tại Hong Kong

Trang 20

cũng đã kết luận rằng ấu trùng điểm mắt của hầu C belcheri có thể giữ tốt

nhất trong vòng 12 giờ ở nhiệt độ 15 oC [17] Ứng dụng những thành tựu đó,

Mỹ và Malaysia đã xây dựng những trại giống có công suất lớn tạo ra ấutrùng hầu điểm mắt cung cấp cho các cơ sở cho bám và nuôi thương phẩmtrong nước hay xuất ra nước ngoài

Đỉnh cao của phương pháp sản xuất giống nhân tạo là thu giống hầu đơn(remote – setting) Ấu trùng được nuôi đến giai đoạn hậu ấu trùng đỉnh vỏ lồi,dùng LHG kích thích hầu xuống đáy mà không cần bám, hoặc dùng bột vỏhầu, bột vỏ điệp, các hạt có kích thước 300 – 500 µm, ấu trùng Spat bám vàocác hạt đó và thu được con giống dạng bám đơn Hai phương pháp này được

sử dụng nhiều ở các nước tiên tiến như Mỹ, Pháp, Úc (FAO, 2003) [7]

Vào những năm 1982, các nhà khoa học của trường đại học Washington

và trường Maire đã nghiên cứu thành công việc dùng các tác nhân vật lý vàhóa học tạo thể tam bội ở hầu với kết quả đạt được 80% thể tam bội trong 1triệu trứng sinh ra Theo kết quả của Chaiton và Allen (1985), 57% thể tambội của hầu Thái Bình Dương được tạo ra khi trứng đã thụ tinh được đặt ở ápsuất 6000 – 8000 atmosphere trong 10 phút Ngoài ra, với việc dùng các tácnhân hóa học 6 – DMAP gây đột biến đa bội trên hầu ống cho ra kết quả là

90% cá thể hầu tam bội Guo el al (1996) đã so sánh tỷ lệ tạo tam bội (3N)

khi sử dụng hóa chất CB và 100% thể tam bội khi cho lai giữa dạng tứ bội(4N) và lưỡng bội (2N) Khi cho hầu đực tứ bội lai với hầu cái lưỡng bội, Nell(2002) cũng đã cho ra kết quả là 100% hầu tam bội Và từ đó trở đi vệc nuôithương mại hầu tam bội tại bờ biển phía tây của Bắc Mỹ tăng đáng kể [2]

1.2.2 Nuôi hầu thương phẩm

Từ thực tế hầu là đối tượng rất có giá trị về mặt dinh dưỡng, từ lâu conngười đã nghĩ đến việc nuôi đối tượng này để thỏa mãn nhu cầu của mình.Trung Quốc là nước đầu tiên nuôi hầu vì những giá trị về thực phẩm và y học

Trang 21

của nó Tại Pháp nuôi hầu đã bắt đầu vào những năm giữa của thế kỷ 17 với

loài hầu bản địa Ostrea edulis Nguồn giống cho nuôi được thu từ tự nhiên sử

dụng những sạp gỗ hay bằng nhựa PVC đặt dưới đáy và được nuôi trongnhững ao vùng duyên hải Mãi đến năm 1960, nguồn giống hầu này bị cạn

kiệt do khai thác quá mức nên người ta mới nhập khẩu loài hầu Crassostrea angulata từ Bồ Đào Nha để nuôi Trong những năm 1973, 1974 dịch bệnh đã gây chết hàng loạt nên hầu Thái Bình Dương được thay thế cho hầu C angulata và vào năm 2002 sản lượng hầu này chiếm khoảng 98% trong tổng

sản lượng hầu nuôi Với nguồn giống tự nhiên hay nhân tạo, nuôi thươngphẩm hầu ở Pháp và các nước Châu Âu đều dựa vào 3 phương pháp nuôichính Đó là nuôi đáy, nuôi trong những khung cố định dưới nước và nuôitreo [14, 15]

Tại Úc, nuôi hầu có lịch sử lâu đời với đối tượng là hầu đá Sydney

(Crassostrea commercialis) với phương pháp nuôi truyền thống cho hầu bám

vào viền đá hay vỏ sò trưởng thành rồi đặt xuống đáy vùng triều để nuôi Đếnnhững năm 50 của thập niên 90, từ nhận thức rằng nuôi hầu theo kiểu trên dễ

bị bùn lấp hay địch hại khác, nên hình thức nuôi được tập trung vào nuôi nổibằng rổ, lồng hay trên những cọc cắm xuống đất Nuôi hầu Thái Bình Dươngđược bắt đầu từ những năm 70 của thập niên 90, chủ yếu từ con giống sinhsản nhân tạo Hầu này đang là đối tượng nuôi chính của Úc [2]

Hiện nay nuôi hầu đã phát triển mạnh trên phạm vi toàn thế giới ở quy

mô công nghiệp với con giống chủ yếu từ sinh sản nhân tạo Song hành cùngvới sự phát triển nuôi hầu, nhiều công trình nghiên cứu đã được tiến hành

Năm 1993, Pripanapong tại Thái Lan đã thử nghiệm nuôi hầu C belcheri

bằng 2 phương pháp: dây thừng treo trên giàn lung lay và những cọc xi măngcắm xuống đất trong cùng vùng nước Kết quả hầu nuôi ở dây thừng có sinhtrưởng và tỷ lệ sống tốt hơn

Trang 22

Pripanapong (1996) kết luận rằng dòng chảy và địch hại ảnh hưởng rất

lớn đến sinh trưởng và tỷ lệ sống của hầu C belcheri nuôi tại Thái Lan Bằng

phương pháp nuôi đặt những khay lưới tự do và những khay lưới xen kẽ giữalồng nuôi cá, kết quả là hầu nuôi trong lồng lưới tự do lớn nhanh hơn rấtnhiều Địch hại của hầu nuôi chủ yếu là các loại cua Tác giả đề nghị rằng khithiết kế khay nuôi nên tính đến phương án lưới bao bọc vừa đảm bảo thôngthoáng nhưng vừa bảo vệ để tránh địch hại

Sau thập niên 90 vừa qua, sản lượng nuôi hầu của thế giới tăng lên gấp 3lần (trong khi đó cá nước ngọt tăng 2,8 lần, tôm tăng không đáng kể) Sảnlượng hầu hiện nay chiếm 42% tổng sản lượng động vật thân mềm hai mảnh

vỏ do nuôi nhân tạo Rõ ràng nuôi hầu là lĩnh vực quan trọng nhất của nghềnuôi động vật thân mềm hai mảnh vỏ của thế giới ở giai đoạn hiện nay

1.2. Tình hình nghiên cứu và nuôi hầu ở Việt Nam

Ở Việt Nam, hầu Thái Bình Dương phân bố ở những vùng triều thấp tới

độ sâu 10 mét nước ở những vùng nước thuộc tỉnh Quảng Ninh, Hải Phòng[5] Nguyễn Văn Chung (2001) khi điều tra đánh giá tình hình phân bố củađộng vật thân mềm hai mảnh vỏ trong đầm phá Nam Trung Bộ đã tìm thấyhầu Thái Bình Dương phân bố ở đầm Cù Mông, đầm Ô Loan nhưng với tần

số bắt gặp rất ít [3]

Việc nghiên cứu các đặc điểm sinh học, sinh sản hay sinh thái của hầudường như ít được đề cập đến trong các tài liệu, có chăng đó chỉ là những tàiliệu tiếng Việt được dịch từ các thứ tiếng khác như tiếng Trung, tiếng Anh,tiếng Nhật… Điều đó chứng tỏ rằng việc nghiên cứu sản xuất giống hay nuôihầu thương phẩm ở nước ta chưa thực sự phổ biến Việc nuôi hầu chỉ là tựphát, xuất phát từ giá trị kinh tế và người nuôi chỉ dựa vào kinh nghiệm

Đến năm 2001 – 2004, Bộ Khoa Học & Công Nghệ đã cấp kinh phí cho

Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I nghiên cứu đề tài “nghiên cứu công

Trang 23

nghệ sản xuất hầu giống và nuôi hầu (Crassostrea) thương phẩm” do kỹ sư

Hà Đức Thắng làm chủ nhiệm, bao gồm 3 chi nhánh: miền Bắc do kỹ sư HàĐức Thắng đảm nhiệm, miền Trung do tiến sỹ Lê Trọng Phấn phụ trách vàmiền Nam do tiến sỹ Lê Minh Viễn đảm nhiệm (Lê Trọng Phấn và Cao VănNguyện, 2003; Lê Minh Viễn, 2007) [2]

Từ đó đến nay, đề tài đã có những thành công nhất định trong việc phát

triển nghề nuôi hầu ở cả ba vùng Bắc, Trung, Nam với các loài C belcheri và

C rivularis

Đa số các hộ ở miền Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng) nhập con giống hầu

C gigas từ Trung Quốc và Đài Loan về nuôi, còn ở miền Nam có công ty

nuôi trồng thủy sản và thương mại Viễn Thành tiếp tục sản xuất giống các

loại hầu C belcheri, C rivularis và C iredalei để cung cấp cho hoạt động

nuôi hầu của công ty, đồng thời cung cấp giống cho người dân

Lê Minh Viễn (2004) đã tiến hành nghiên cứu và sản xuất thành công

hầu giống bám đơn (C belcheri) bằng phương pháp sinh sản nhân tạo Hình

thức này đã mang lại hiệu quả kinh tế cao gấp nhiều lần so với hình thức nuôihầu bằng phương pháp lấy giống tự nhiên

Từ những năm đầu thập niên 60 của thế kỷ 20, hầu cửa sông (C rivularis) là đối tượng được nuôi đầu tiên ở Việt Nam dưới sự giúp đỡ của các

chuyên gia Nhật Bản, Trung Quốc Chúng ta đã nghiên cứu nuôi thử nghiệmhầu cửa sông trên hệ thống sông Bạch Đằng – Quảng Ninh và đạt sản lượng

10 tấn/năm [7]

Theo Hà Lê Thị Lộc và ctv (2001), nghề nuôi hầu C lugubris thương

phẩm ở đầm Lăng Cô đã phát triển tự phát từ năm 1997 và đến năm 2001 thì

số hộ dân nuôi là 130 Dựa vào đặc điểm bám của hầu, các hình thức nuôi chủyếu là nuôi hầu bằng các trụ xi măng, các lồng hay lốp xe cao su treo trêngiàn, hay sử dụng những viên đá đặt nơi có hầu giống xuất hiện Diện tích và

Trang 24

sản lượng hầu nuôi ở đây tăng theo thời gian từ 100 m2 và 160 kg (1997) đến129.749 m2 và 171.285 kg (2001) [8]

Theo thông tin cá nhân từ tiến sỹ Lê Minh Viễn (2007) thì Việt Namđược xếp vào hàng thứ tư về sản lượng hầu nuôi ở khu vực Đông Nam Á,khoảng 2000 tấn (2006), sau Đài Loan – 29.042 tấn (1984), Philippine –19.000 tấn (1982) và Thái Lan – 10.500 tấn (1984)… Đặc biệt sản lượng hầunuôi trong những năm gần đây tăng nhanh (từ 200 tấn năm 2001 tăng lên

khoảng 2000 tấn năm 2006) với ba loại hầu chính: C rivularis, C iredalei, C belcheri [2]

Riêng ở miền Nam Việt Nam, nghề nuôi hầu phát triển nhất ở vùng LongSơn thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Từ năm 1994 – 1995 ngư dân đã tiếnhành nuôi hầu bằng dàn tre ở vùng cửa sông Rạng thuộc xã Long Sơn Từnăm 1997 đã chuyển sang nuôi hầu bằng lồng khung sắt Đến năm 2000 đã cónhiều hộ nuôi hầu, mỗi hộ thường nuôi từ 4 – 10 lồng, cá biệt có hộ nuôi đến

20 lồng

Hiện nay Trung tâm khuyến ngư tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu kết hợp vớiTrường Đại học Nha Trang đang thực hiện đề tài “Điều tra hiện trạng và xâydựng quy trình kỹ thuật nuôi hầu tại khu vực cửa sông tỉnh Bà Rịa – VũngTàu” với mục đích quy hoạch vùng nuôi và xây dựng quy trình kỹ thuật nuôihầu thương phẩm [7]

Theo thông tin từ các báo cáo hội thảo quốc gia về động vật thân mềmbiển được tổ chức tại Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III vào ngày 17 –18/9/2007, nghề nuôi hầu đã và đang phát triển mạnh và rộng khắp tại cáctỉnh ven biển Việt Nam như Vũng Tàu, Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa,Nghệ An, Trà Vinh Điều đó cho thấy được tiềm năng cũng như nhu cầu đểphát triển nghề nuôi hầu là rất lớn

Trang 25

PHẦN 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Địa điểm, thời gian và đối tượng nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3 đến tháng 6 năm 2009

- Địa điểm thực hiện: Viện nghiên cứu nuôi trồng thủy sản III

- Đối tượng nghiên cứu: Hầu Thái Bình Dương (Crassostrea gigas

Thí nghiệm ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinh

trưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Crassostrea gigas ở giai

Trang 26

- Tiếp cận trực tiếp: Thông qua thực tế sản xuất và bố trí thí nghiệm, thuthập, xử lý số liệu, đánh giá kết quả.

- Tiếp cận gián tiếp: Thông qua các tài liệu tham khảo, các báo cáo khoahọc và các tài liệu khác có liên quan đến đối tượng nghiên cứu

- Thu số liệu của các yếu tố môi trường: Trực tiếp đo đạc các yếu tố môitrường như toC, S ‰, pH, kiểm tra lượng Chlor dư trong xử lý nước

Bảng 2.1 Các dụng cụ đo yếu tố môi trường

stt Chỉ số Đơn vị Thiết bị

đo đạc

Độ chínhxác Thời gian đo

1 Nhiệt độ oC Nhiệt kế thủyngân 1oC 7-8h và 14-15h

2.4 Vật liệu nghiên cứu

- Hầu bố mẹ: được mua từ Vũng Tàu và Hải Phòng.

- Xô nhựa: Sử dụng loại xô có thể tích đổ đầy là 8 lít Xô nhựa đượcngâm bằng Chlorine, sau đó rửa lại bằng xà phòng và nước ngọt nhiều lầntrước khi sử dụng

- Nước mặn: Nước biển được lấy vào bể lọc thô, sau đó được xử lý bằngtia cực tím và được lọc qua túi vải trước khi sử dụng

- Nước ngọt: Sử dụng nước máy và được xử lý lại bằng túi vải lọc

- Thức ăn: Các loại tảo đơn bào như Nannochloropsis oculata, Isochrysis galbana, Chaetoceros gracilis, , Ch muelleri.

- Những vật liệu khác bao gồm: Kính hiển vi quang học, cân tiểu ly,thước đo, nhiệt kế thủy ngân, tỷ trọng kế, vợt, chậu, hệ thống sục khí …

2.5 Phương pháp bố trí thí nghiệm

Trang 27

- Thí nghiệm được bố trí thành 2 đợt Thời gian bố trí thí nghiệm đượcbắt đầu khi ấu trùng chuyển sang giai đoạn chữ D và kết thúc khi ấu trùngxuất hiện điểm mắt.

- Tất cả các thí nghiệm được bố trí trong các xô nhựa 8 lít, sử dụng nướcbiển lọc sạch, trong điều kiện nhiệt độ từ 26 – 30oC, pH từ 7,8 – 8,2 và sụckhí 24/24 giờ Chế độ chăm sóc ấu trùng trong các lô thí nghiệm như nhau.Mỗi thí nghiệm bố trí đồng thời 4 nghiệm thức với 3 lần lặp, sau đó lấy giá trịtrung bình Trong quá trình thí nghiệm, lô thích hợp nhất của yếu tố này sẽtiếp tục được sử dụng để làm thí nghiệm ảnh hưởng cho yếu tố sau

- Thức ăn cho ấu trùng bao gồm các loại tảo đơn bào: Nannochloropsis oculata, Chaetaceros gracilis, Ch muelleri, Isochrysis galbana Mật độ thức

ăn tùy thuộc vào khả năng tiêu thụ của ấu trùng

Hình 2.2 Các xô bố trí thí nghiệm

Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của

ấu trùng hầu Thái Bình Dương

Thí nghiệm được bố trí với các nghiệm thức mật độ: 3 con/ml, 5 con/ml,

7 con/ml, 9 con/ml trong điều kiện độ mặn 29 – 32 ‰

Trang 28

Ảnh hưởng của độ mặn đến tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của

ấu trùng hầu Thái Bình Dương.

Thí nghiệm được bố trí với các nghiệm thức độ mặn: 15 ‰, 20 ‰, 25 ‰,

30 ‰ trong điều kiện mật độ nuôi thích hợp được rút ra từ thí nghiệm trên.Các mức độ mặn được pha theo dựa theo công thức đường chéo và ấu trùngđược luyên ép cho thích nghi với các mức độ mặn thí nghiệm

- Xác định mật độ tảo theo công thức

Dùng buồng đếm hồng cầu, xác định mật độ tảo theo công thức:

Volume (ml) = Mật độ tảo cần cho ăn × V (ml)/Mật độ tảo in dụng cụ cấy tảo

- Theo dõi các yếu tố môi trường, hàng ngày tiến hành đo nhiệt độ nước,

độ mặn, pH vào lúc 7 – 8 giờ và 14 – 15 giờ

- Kiểm tra tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ sống của ấu trùng bằng cách đo kíchthước ấu trùng 2 ngày/lần bằng thước đo trên trắc vi thị kính, theo dõi thờigian chuyển giai đoạn và xác định mật độ theo từng giai đoạn phát triển của

ấu trùng bằng buồng đếm động vật

Trang 29

2.6 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu

2.6.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Chiều dài được đo từ mép mặt sau đến mép vỏ mặt trước

Xác định mật độ ấu trùng trong xô thí nghiệm:

Lấy ngẫu nhiên 1 ml mỗi mẫu, nhỏ 1 – 2 giọt Formalin vào đĩa lồng sau 15phút xoay nhẹ đĩa ấu trùng lắng tụ lại giữa đĩa, dùng ống hút nhựa hút bỏphần nước, hút hết ấu trùng đưa vào buồng đếm (dùng buông đếm động vậtphù du), đếm toàn bộ ấu trùng/ml, kiểm tra từ 3 -5 mẫu/xô/lần/2 ngày

Xác định thời gian chuyển giai đoạn:

Thời gian chuyển giai đoạn được quy ước tính từ lúc 50% số cá thể bắtđầu chuyển từ giai đoạn này sang giai đoạn khác

2.6.2 Các công thức tính toán

- Tốc độ sinh trưởng đặc trưng (%/ngày):

- Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối bình quân ngày (µm/ngày)

Trong đó: L1 là kích thước của ấu trùng (µm) tại thời điểm t1

L2 là kích thước của ấu trùng(µm) tại thời điểm t2

Trang 30

- Tính tỷ lệ sống (Ts) của ấu trùng:

Trong đó: A là số lượng cá thể thu được khi thí nghiệm kết thúc

B là số lượng cá thể tại thời điểm thí nghiệm

- Công thức pha loãng nồng độ muối: Dựa theo quy tắc đường chéo

Trong đó:

V1 – thể tích nước biểnV2 – thể tích nước ngọt C1 – nồng độ muối nước biểnC2 – nồng độ muối nước ngọt

C – nồng độ muối của nước cần pha

2.6.3 Xử lý số liệu:

Toàn bộ số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh họcbằng phần mềm Microsoft Excel 2003 và SPSS Version 15.0 So sánh tốc độtăng trưởng giữa các nghiệm thức bằng phương pháp ANOVA Giá trị trungbình của các lô thí nghiệm được so sánh và đánh giá ở độ tin cậy 95% Cácgiá trị được trình bày bởi giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn

PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

A B

V2

V1

C1C

C2

Trang 31

3.1 Ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng, phát triển và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu thái bình dương từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt

Mật độ ương có quan hệ chặt chẽ với kỹ thuật ương nuôi, thể tích bể vàchất lượng ấu trùng Mật độ ương quá cao hoặc quá thấp đều không tốt Mật

độ thấp sẽ lãng phí thức ăn và công chăm sóc Mật độ ương cao thì ấu trùngchậm phát triển, khó quản lý môi trường do thức ăn và chất thải, thời giannuôi kéo dài

Vì vậy việc nghiên cứu tìm ra mật độ ương nuôi phù hợp sẽ là một yếu tốquan trọng, cần được quan tâm trong quá trình sản xuất để ấu trùng sinhtrưởng, phát triển tốt và có tỷ lệ sống cao, đồng thời rút ngắn thời gian nuôi vàđạt được hiệu quả cao nhất

Để xác định mật độ phù hợp cho ương nuôi ấu trùng hầu Thái BìnhDương, chúng tôi tiến hành bố trí thí nghiệm với các lô mật độ: 3 con/ml, 5con/ml, 7 con/ml, 9 con/ml và ấu trùng được nuôi trong điều kiện độ mặn 30

‰ Thức ăn được sử dụng là hỗn hợp tảo tươi bao gồm: Nannochloropsis sp,Isochlorysis sp, Chaetoceros sp; duy trì mật độ tảo ban đầu là 3000 tế bào/ml

ở giai đoạn đầu Ngày cho ăn 2 lần, vào buổi sáng (7 – 8 giờ) sau khi thaynước và vào buổi chiều (15 – 17 giờ) Mật độ tảo được kiểm tra và điều chỉnhtrước mỗi lần cho ăn Hàng ngày các xô thí nghiệm được siphon và thaynước

Một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm như sau: độ mặn: 30

‰; nhiệt độ: 26 – 29oC; pH: 7,8 – 8,2 Kết quả theo dõi trên cho thấy các yếu

tố môi trường dao động không lớn, tương đối thích hợp cho quá trình ươngnuôi hầu Thái Bình Dương

3.1.1 Ảnh hưởng của mật độ đến tốc độ sinh trưởng của ấu trùng

Trang 32

Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng về chiều dài

và chiều cao của ấu trùng hầu Thái Bình Dương ở giai đoạn từ chữ D đến giaiđoạn điểm mắt được thể hiện qua Bảng 3.1, Hình 3.1 và Hình 3.2

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng chiều dài (L) và chiều cao (H) của

ấu trùng ở các lô mật độ khác nhau (n = 30).

Chỉ tiêu

Kíchthước(µm)

(%/ngày)

L 6,41 ± 0,191a 6,32 ± 0,053a 5,96 ± 0,098b 5,58 ± 0,287c

H 7,92 ± 0,122a 7,72 ± 0,111a 7,10 ± 0,249b 6,52 ± 0,135cDGR

(µm/ngày)

L 9,19 ± 0,452a 8,98 ± 0,119a 8,17 ± 0,202b 7,37 ± 0,589c

H 11,87 ± 0,325a 11,33 ± 0,295a 9,79 ± 0,592b 8,48 ± 0,295c

Các chữ cái khác nhau trong cùng 1 hàng thể hiện sự sai khác có ý nghĩa ở P < 0,05 Số liệu được

trình bày dưới dạng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn

Từ kết quả Bảng 3.1 cho thấy mật độ nuôi đã ảnh hưởng đến kích thướccủa ấu trùng hầu Trong các lô mật độ thí nghiệm, kích cỡ ấu trùng chữ D thảnuôi ban đầu như nhau, chiều dài trung bình là 79,1 ± 2,00 µm, chiều caotrung bình 70,9 ± 7,00 µm

Trong 4 lô mật độ thí nghiệm, mật độ 7 con/ml và 9 con/ml ở giai đoạn

ấu trùng điểm mắt có kích thước nhỏ hơn hai lô còn lại (chiều dài đạt 218,0

µm và 204,3 µm; chiều cao đạt 237,3 µm và 215,0 µm) Ở hai lô mật độ 3con/ml và 5 con/ml kích thước ấu trùng hầu lớn hơn (đạt 235,3 µm và 228,3

µm về chiều dài; 272,7 µm và 263,5 µm về chiều cao)

Ngày đăng: 16/01/2016, 10:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Nguyễn Thị Xuân Thu, 1998, nghiên cứu đặc điểm sinh sản, sinh trưởng và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo Điệp Quạt (Chlamys nobilis Reeve, 1852), luận án tiến sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu đặc điểm sinh sản, sinhtrưởng và kỹ thuật sản xuất giống nhân tạo Điệp Quạt (Chlamys nobilisReeve, 1852)
10.Nguyễn Thị Xuân Thu, 2001, Tổng quan tình hình nuôi động vật nhuyễn thể trên thế giới và vấn đề thị trường xuất nhập khẩu , tuyển tập báo cáo khoa học hội thảo động vật thân mềm toàn quốc lần thứ hai, tr. 27 – 37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan tình hình nuôi động vậtnhuyễn thể trên thế giới và vấn đề thị trường xuất nhập khẩu
11. Nguyễn Thị Xuân Thu, 2004, kỹ thuật sản xuất giống và nuôi động vật thân mềm giáo trình cao học Sách, tạp chí
Tiêu đề: ỹ thuật sản xuất giống và nuôi động vậtthân mềm
12.Ngô Anh Tuấn, 2005, nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thử nghiệm sản xuất giống nhân tạo Điệp seo Comptopallium radula (Linnaeus, 1758), luận án tiến sỹ khoa học nông nghiệp. Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản và thửnghiệm sản xuất giống nhân tạo Điệp seo Comptopallium radula (Linnaeus,1758)
15.Grizel, H.,Heral, M., 1991. Introduction into France of the Japanese oyster (Crassostrea giagas). J. Cons. Int. Explor. Mer. 47, 399 – 403 16.NIMPIS, 2002, Crassostrea gigas species summary, NationalIntroducced Marine Pest Information System Sách, tạp chí
Tiêu đề: Crassostrea giagas
13.Salinity, temperature and nutritional effests on the setting rate of larvae the tropical oyster, Crassostrea iredalei (Faustino). Aquaculture, Apr, 2000. v. 184 (1/2) Devakie, M.N. p. 105 – 114 Khác
14.Gosling, E., 2003, bivalve Molluscs: Biology, Ecology and Culture, Blackwell Publishing. 442pp Khác
17. Wong, T.M., 1993. Hatchery production of bivalve seeds in Southeast Asia: state of the art and future reseach directions. Proceedings of the fourth workshop of the Tropical Marine Mollusk programe at Thai Lan Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.1. Hình thái ngoài của hầu Thái Bình Dương - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Hình 1.1. Hình thái ngoài của hầu Thái Bình Dương (Trang 9)
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
2.2. Sơ đồ khối nội dung nghiên cứu (Trang 25)
Bảng 2.1. Các dụng cụ đo yếu tố môi trường - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Bảng 2.1. Các dụng cụ đo yếu tố môi trường (Trang 26)
Hình 2.2. Các xô bố trí thí nghiệm - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Hình 2.2. Các xô bố trí thí nghiệm (Trang 27)
Bảng 3.1. Các chỉ tiêu về sinh trưởng chiều dài (L) và chiều cao (H) - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Bảng 3.1. Các chỉ tiêu về sinh trưởng chiều dài (L) và chiều cao (H) (Trang 32)
Hình 3.1. Sinh trưởng chiều dài của ấu trùng theo thời gian nuôi ở - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Hình 3.1. Sinh trưởng chiều dài của ấu trùng theo thời gian nuôi ở (Trang 34)
Hình 3.2.  Sinh trưởng về chiều cao của ấu trùng theo thời gian ở các - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Hình 3.2. Sinh trưởng về chiều cao của ấu trùng theo thời gian ở các (Trang 34)
Hình 3.1 và 3.2 cho thấy: Sinh trưởng về chiều dài và chiều cao của ấu trùng diễn ra chậm ở những ngày đầu thí nghiệm, kích thước ấu trùng tăng lên không đáng kể - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Hình 3.1 và 3.2 cho thấy: Sinh trưởng về chiều dài và chiều cao của ấu trùng diễn ra chậm ở những ngày đầu thí nghiệm, kích thước ấu trùng tăng lên không đáng kể (Trang 35)
Hình 3.3. Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tỷ lệ sống của ấu trùng - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Hình 3.3. Ảnh hưởng của mật độ nuôi lên tỷ lệ sống của ấu trùng (Trang 36)
Hình 3.4.  Sinh trưởng chiều dài của ấu trùng theo thời gian nuôi ở - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Hình 3.4. Sinh trưởng chiều dài của ấu trùng theo thời gian nuôi ở (Trang 41)
Bảng 3.4.  Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình ngày về chiều dài của ấu trùng hầu ở các thang độ mặn khác nhau (n = 30). - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Bảng 3.4. Tốc độ sinh trưởng tuyệt đối trung bình ngày về chiều dài của ấu trùng hầu ở các thang độ mặn khác nhau (n = 30) (Trang 42)
Bảng 3.5.  Tốc độ sinh trưởng tuyệt độ trung bình ngày về chiều cao của ấu trùng hầu ở các thang độ mặn khác nhau (n = 30). - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Bảng 3.5. Tốc độ sinh trưởng tuyệt độ trung bình ngày về chiều cao của ấu trùng hầu ở các thang độ mặn khác nhau (n = 30) (Trang 43)
Hình 3.6. Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của ấu trùng hầu - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Hình 3.6. Ảnh hưởng của độ mặn đến tỷ lệ sống của ấu trùng hầu (Trang 44)
Bảng 3.6.  Ảnh hưởng của độ mặn đến thời gian chuyển giai đoạn và - Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và độ mặn đến tốc độ sinhtrưởng và tỷ lệ sống của ấu trùng hầu Thái Bình Dương (Crassostreagigas Thunberg, 1793) từ giai đoạn chữ D đến điểm mắt
Bảng 3.6. Ảnh hưởng của độ mặn đến thời gian chuyển giai đoạn và (Trang 44)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w