Trong các bệnh hại lúa thì bệnh đạo ôn Pyricularia oryzae Cav là một bệnh nấm gây hại chủ yếu làm ảnh hởng đến năng suất và chất lợng lúa gạo.Cùng với việc đa nhiều giống lúa mới có khả
Trang 1Lời cảm ơnTrong suốt quá trình thực tập, hoàn thành đề tài tốt nghiệp tôi đã nhận đợc rấtnhiều sự giúp đỡ, chỉ bảo của các thầy cô và bạn bè trong khoa.
Cho tôi đợc bầy tỏ lòng cảm ơn sâu sắc tới:
- TS Trần Nguyễn Hà, ngời trực tiếp hớng dẫn tôi trong suốt quá trình thựctập đề tài
- Các thầy - cô trong bộ môn Bệnh cây – Nông học Trờng ĐH Nông Nghiệp –
Trang 2Sản xuất lơng thực trên thế giới với nhiều loại cây trồng khác nhau, các vùng
địa lý sinh thái và nhiều tập quán sản xuất khác nhau Với mục đích cung cấp đủnhu cầu lơng thực cho toàn bộ dân số đang ngày càng gia tăng trên thế giới
ở Việt nam lúa nớc là cây trồng chính, là cây lơng thực truyền thống gắnliền với lịch sử phát triển của dân tộc và đã hình thành nên nền văn minh lúa nớc,lúa chiếm tới 80% sản lợng lơng thực của cả nớc Ngày nay, với việc áp dụngtiến bộ của khoa học kỹ thuật nh giống, phân bón, nớc tới, các biện pháp bảo vệthực tập.v.v đã đa năng suất lúa của nớc ta từ 22,3 tạ/ha năm 1976 lên 33,3 tạ/hanăm 1992 Sản lợng lúa tăng từ 11,8 triệu tấn (1976) lên 21,8 triệu tấn (1992).Với thành tựu này, nớc ta từ một nớc nhập khẩu lơng thực đã trở thành nớc xuấtkhẩu lúa gạo thứ hai trên thế giới Tuy nhiên sản xuất lúa cũng gặp rất nhiềunhững rủi ro do điều kiện thời tiết Việc đa các giống lúa lai có khả năng sinh tr-ởng tốt, việc sử dụng phân bón hoá học, thuốc kích thích sinh trởng tạo điều kiệncho dịch hại bùng phát và có nhiều diễn biến phức tạp nh rầy nâu, sâu đục thân,sâu cuốn lá, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn, bệnh bạc lá.v.v
Trong điều kiện Miền Bắc nớc ta, theo thống kê của Bộ nông nghiệp, hàngnăm dịch hại làm thiệt hại 15 – 20% tổng sản lợng lơng thực (chủ yếu là lúa).Bệnh hại trên lúa từ lâu đã đợc rất nhiều nhà khoa học trong và ngoài nớcquan tâm Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về bệnh hại lúa đợccông bố và đã phát hiện trên cây lúa có nhiều loại vi sinh vật ký sinh gây bệnh:
58 loài nấm, 12 loài vi khuẩn, 17 loài virus và mycoplasma
Trong các bệnh hại lúa thì bệnh đạo ôn (Pyricularia oryzae Cav) là một
bệnh nấm gây hại chủ yếu làm ảnh hởng đến năng suất và chất lợng lúa gạo.Cùng với việc đa nhiều giống lúa mới có khả năng sinh trởng tốt, việc đầu t thâmcanh ngày càng tăng và đặc biệt là đIều kiện khí hậu ở đồng bằng Bắc Bộ tạo
điều kiện thuận lợi cho bệnh đạo ôn phát triển mạnh Hiện nay bệnh đạo ôn phátsinh và phát triển trên diện tích rộng Việc phòng trừ bệnh này gặp không ít khó
Trang 3khăn với nhiều biện pháp khác nhau nhng hiệu quả phòng trừ chứ cao Việc ápdụng các biện pháp canh tác để phòng trừ chỉ hạn chế đợc một phần nhất định.Cho đến nay, Nớc ta cha có giống nào chống đợc bệnh đạo ôn Chế độ bón phânkhông hợp lý, mật độ cấy dầy, thời vụ cấy sớm hoặc muộn cũng ảnh hởng rất lớn
đến bệnh đạo ôn
Xuất phát từ những yêu càu thực tiễn của địa phơng, đáp ứng những yêu cầubức xúc của sản xuất, đợc sự phân công của Bộ môn Bệnh cây, khoa Nông học– Trờng Đại học Nông nghiệp Hà Nội, dới sự hớng dẫn của thầy Trần Nguyễn
Hà, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài:
Điều tra thành phần bệnh hại, diễn biến bệnh đạo ôn hại lúa
“Điều tra thành phần bệnh hại, diễn biến bệnh đạo ôn hại lúa
(Pyricularia oryzae Cav) và biện pháp phòng trừ tại Trạm BVTV huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang vụ xuân năm 2010.”
1.2 Mục đích và yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Điều tra thành phần bệnh, mức độ phát sinh phát triển và tác hại của một sốbệnh hại lúa phổ biến vụ xuân năm 2010, diễn biến bệnh đạo ôn hại lúa và khảosát hiệu lực phòng trừ bệnh đạo ôn hại lúa ngoài đồng ruộng bằng một số thuốchoá học
- Tìm hiểu ảnh hởng của một số yếu tố sinh thái kỹ thuật nh giống lúa, giai
đoạn sinh trởng, mật độ cấy, trà lúa cấy, mức phân bón.v.v đến sự phát sinh pháttriển của bệnh đạo ôn hại lúa
- Khảo sát hiệu lực của một số thuốc hoá học trong phòng trừ bệnh đạo ônhại lúa ngoài đồng ruộng
Trang 4Phần IITổng quan Tài liệu
Bệnh đạo ôn hại lúa do loài nấm Pyricularia oryzae Cav gây ra Từ nhiều
thế kỷ trớc, bệnh đã đợc quan sát thấy ở các nớc Châu á (Nhật Bản, Trung Quốc,
ấn Độ, các nớc vùng Trung á, Tây á), ở Bắc Mỹ, Nam Mỹ, quần đảo Antin, ởBungari, Rumani, Bồ Đào Nha, ý và một số nớc thuộc Liên Xô cũ…[13].[13]
Khoảng năm 1560, bệnh đạo ôn chính thức đợc phát thức ở ý [15]; sau đó,bệnh đợc phát hiện ở Trung Quốc năm 1637, Nhật Bản năm 1760, Mỹ 1906, ấn
Độ 1913 Nh vậy, bệnh đạo ôn là một trong những bệnh có lịch sử xuất hiện rấtlâu đời và cũng là loại bệnh có phạm vi phân bố rộng Chúng xuất hiện, gây hại
ở trên 70 nớc trồng luá bao gồm Châu á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi…[13].[13]Cho đến nay đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài n-
ớc nghiên cứu về bệnh đạo ôn Các công trình nghiên cứu đó đều đã mang lạinhững kết quả nhất định Sau đây, chúng tôi xin nêu ra một số kết quả nghiêncứu điển hình
2.1 Một số nghiên cứu về nấm Pyricularia oryzae Cav và bệnh đạo ôn hại
lúa ở nớc ngoài
Kết quả nghiên cứu của S.H.Ou (1985), cho thấy trên cây lúa có nhiều loạibệnh hại, thực tế sản xuất lúa ở các nớc đã có nhận xét: một số bệnh đã gây tổnthất lớn trong điều kiện thâm canh cao Tác giả nhận xét rằng thành phần bệnhhại lúa rất phong phú, gồm trên 30 loại bệnh do nấm, 6 loại bệnh do vi khuẩn, 21bệnh do vius, 6 bệnh do tuyến trùng gây hại và 4 bệnh sinh lý ở Philippines, ng-
ời ta đã nhận thấy bệnh đạo ôn, bạc lá, khô vằn, bệnh vius, tungô.v.v là nhữngbệnh hại nguy hiểm nhất hại cây lúa
2.1.1 Đặt tên cho nấm gây bệnh
Nấm gây bệnh đạo ôn hại lúa đã đợc phát hiện từ rất lâu và đợc đặt nhữngtên gọi khác nhau Năm 1871, Garovaglio cho rằng bệnh đạo ôn do loài nấm có
Trang 5tên khoa học là Pleospora oryzae Catt Đến năm 1891, Cavara là ngời đầu tiên mô tả nấm bệnh trên cây lúa và xác định chính thức nấm Pyricularia oryzae Cav
là nguyên nhân gây ra bệnh đạo ôn trên lúa [15] Nấm Pyricularia oyzae Cav còn có tên gọi khác là Pyricularia grisea, Magnaporthe grissea [13].
2.1.2 Một số đặc điểm của nấm Pyricularia oryzae Cav
Nấm Pyricularia oryzae Cav gây bệnh đạo ôn có thể tấn công hầu hết các
giai đoạn sinh trởng của cây lúa Nấm có khả năng xâm nhiễm, gây hại trên các
bộ phận của cây lúa nh lá, đốt thân, trên cổ bông, trên các gié của bông lúa vàtrên hạt gây thiệt hại trực tiếp đến năng suất [26]
Cơ quan sinh trởng của nấm là sợi nấm Sợi nấm không màu đa bào, phânnhiều nhánh, sống ký sinh trong mô cây Nấm có thể hình thành “Điều tra thành phần bệnh hại, diễn biến bệnh đạo ôn hại lúabào tử hậu”song ít gặp trong điều kiện thông thờng ở điều kiện khô (kho bảo quản), bào tửhậu có thể giữ sức nẩy mầm trong 2 năm Trong quá trình sinh sản vô tính, nấmhình thành các cành bào tử phân sinh và bào tử phân sinh Đây chính là lớp mốcmịn, màu xám trên bề mặt vết bệnh ở lá, ở cổ bông và đốt thân Cành bào tửphân sinh có hình trụ thon dài, cong có thể đa bào song phần lớn là đơn bào,không đâm nhánh, phía trên cành sinh ra bào tử phân sinh theo từng đợt Mộtcành bào tử có thể sinh ra từ 3 đến 10 bào tử phân sinh, khi thành thục bào tửtách ra để lại vết hằn trên cành Cành bào tử mọc đơn lẻ hoặc thành cụm nhỏchui qua lỗ khí trên lá, lộ thiên ngoài, để bào tử dễ dàng phát tán đi xa [15].Bào tử phân sinh hình nụ sen hoặc hình quả lê, phía dới phình to, phía trênhơi nhọn, thờng có từ 2 đến 3 vách ngăn ngang, không màu, kích thớc trung bìnhcủa bào tử là (19 - 23 x 10 - 12 (m) Nhìn chung kích thớc của bào tử nấm biến
đổi tuỳ thuộc vào mẫu phân lập, điều kiện ngoại cảnh cũng nh các giống lúa bịgây hại [13]
Trong quá trình gây bệnh nấm Pyricularia oryzae Cav tiết ra một số độc tố
nh - Picolinic (C6H5N2) và Piricularin (C18H14N2O3) có tác dụng kìm hãm hôhấp và phân huỷ các enzym chứa kim loại gây ức chế quá trình sinh trởng, pháttriển của cây lúa [12]
2.1.3 Những thiệt hại do bệnh đạo ôn gây ra
Bệnh đạo ôn đợc coi là một trong những bệnh chính, gây hại nghiêm trọngtrên cây lúa Bệnh phân bố ở hầu hết các nớc trồng lúa và có thể gây thành dịchtrong những điều kiện thuận lợi Mức độ thiệt hại do bệnh đạo ôn gây ra đã đợcnhiều tổ chức và tác giả thống kê, nghiên cứu
Trang 6Theo ớc tính của tổ chức FAO, thiệt hại do bệnh đạo ôn gây ra hàng nămlàm giảm trung bình từ 0,7 - 17,5% năng suất lúa, những nơi bệnh hại nặng cóthể làm giảm tới 80% [1]
Theo Padmandhan (1965), khi lúa bị nhiễm đạo ôn cổ bông với tỷ lệ 1%thì năng suất lúa có thể giảm từ 0,7 đến 17,4% tuỳ thuộc vào các yếu tố có liênquan (dẫn theo [10])
Potkin cũng đã xác định đợc sự tơng quan giữa mức độ bị bệnh (thông quachỉ số bệnh) với năng suất lúa Khi chỉ số bệnh ở các mức 0%; 25%; 33%; 42%;63%; 75% sẽ làm giảm từ 0% - 22% năng suất đối với dạng đạo ôn lá; từ 0% -64% đối với đạo ôn đốt thân; từ 0% - 78% đối với đạo ôn cổ bông [11]
ở Nhật Bản từ năm 1953 - 1960, hàng năm thiệt hại bình quân 2,89% tổngsản lợng lúa, mặc dù đã có sự nỗ lực trong việc sử dụng thuốc hoá học để phunphòng trị bệnh Năm 1988, dịch bệnh đạo ôn gây thiệt hại nặng ở vùng duyên hảiphía Bắc Nhật Bản, tổng sản lợng lúa bị thiệt hại của quận Fukushima là 24%, cónhững nơi thiệt hại lên tới 90% [22]
Năm 1962 - 1963, theo ớc tính ở hai tỉnh Bicol và tỉnh Leyte của Philippin,bệnh đạo ôn gây thiệt hại từ 50%- 60% năng suất lúa, cá biệt một số nơi thiệt hạilên tới 90% (dẫn theo [10])
Cho tới nay, mức độ thiệt hại do bệnh đạo ôn gây ra vẫn cha thống kê đợcmột cách chính xác Đây là một vấn đề phức tạp phụ thuộc vào nhiều nhân tốkhác nhau nh giống lúa, biện pháp phòng trừ, điều kiện vùng sinh thái
2.1.4 ảnh hởng của các yếu tố đối với nấm Pyricularia oryzae Cav và bệnh
đạo ôn hại lúa
* ảnh hởng của các yếu tố khí hậu thời tiết
Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố khí hậu thời tiết (nhiệt độ, ẩm độ,
ánh sáng, gió, ma, sơng mù ) có ảnh hởng rất lớn tới sự sinh trởng, phát triển
và quá trình hình thành bào tử, quá trình xâm nhiễm, lan truyền của
nấm Pyricularia oryzae Cav Chính vì vậy, sự phát sinh phát triển của bệnh đạo
ôn trên đồng ruộng cũng phụ thuộc rất chặt chẽ vào các yếu tố này [23] ảnh ởng của các yếu tố khí hậu thời tiết bao gồm:
h-ảnh h ởng của yếu tố nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những yếu tố quan trọng có ảnh hởng nhiều đối với
nấm Pyricularia oryzae Cav và bệnh đạo ôn Các kết quả nghiên cứu đều khẳng
định, nấm Pyricularia oryzae Cav sinh trởng thích hợp ở nhiệt độ 25oC- 28oC và
ẩm độ không khí từ 93% trở lên Phạm vi nhiệt độ để nấm sản sinh bào tử từ
10oC- 30oC, nhng thích hợp nhất ở 24oC - 28oC kèm theo điều kiện ẩm độ cao
Trang 7trên 90% đến bão hoà, trời âm u ở 28oC cờng độ sinh bào tử nhanh và mạnh
nh-ng sức sinh sản giảm dần sau 9 nh-ngày, tronh-ng khi đó ở 16oC, 20oC và 24oC quátrình sinh sản bào tử tăng, thời gian sinh sản kéo dài tới 15 ngày sau đó mớigiảm xuống [13], [15]
Theo Nisikado, trên môi trờng nhân tạo nấm có thể sinh bào tử trong ngỡngnhiệt độ 8oC- 9oC đến 36oC- 37oC, nhiệt độ cao (51oC- 52oC) và nhiệt độ quá thấp(5oC) nấm có thể chết sau 3 - 4 tháng Trên môi trờng nhân tạo, ở nhiệt độ xấp xỉ
20oC nấm có thể bảo tồn sức sống trên 2 năm [15]
Nhiệt độ còn ảnh hởng trực tiếp đến thời gian ủ bệnh Thời kỳ ủ bệnh biến
động từ 4-18 ngày tuỳ theo điều kiện nhiệt độ, nếu ở 9oC- 11oC thời gian ủ bệnh
là 13-18 ngày, ở 26oC - 28oC thời gian ủ bệnh rút ngắn lại chỉ còn 4- 6 ngày Giai
đoạn ủ bệnh dài hay ngắn có liên quan trực tiếp tới sự bùng phát gây hại củabệnh Thời gian ủ bệnh ngắn kết hợp với ẩm độ cao sẽ gia tăng nguồn lây nhiễmtrên đồng ruộng nguy cơ bùng phát dịch bệnh rất cao (dẫn theo [10])
Ngoài nhiệt độ không khí, nhiệt độ đất cũng có ảnh hởng đáng kể đến
sự phát sinh phát triển của bệnh ở những vùng có nhiệt độ đất dao động khoảng
20oC là điều kiện rất thuận lợi cho bệnh phát triển, đồng thời mức độ bệnhnghiêm trọng hơn hẳn ở những nơi có nhiệt độ đất từ 24oC và 32oC Nhiệt độ đất
từ 24oC - 29oC cây lúa còn có khả năng chống chịu bệnh đạo ôn cổ bông cao hơn
so với sinh trởng trong điều kiện nhiệt độ từ 18oC- 24oC Nhiệt độ đất thấpkhoảng từ 18oC- 24oC thích hợp không chỉ cho bệnh đạo ôn lá phát triển mà còn
là điều kiện rất thuận lợi cho đạo ôn cổ bông Bệnh gây hại nhẹ nếu nhiệt độtrong đất khoảng từ 25oC - 29oC (dẫn theo [10])
ảnh h ởng của yếu tố ẩm độ
Song song với nhiệt độ, ẩm độ không khí cũng là yếu tố ảnh hởng rấtlớn đến sự phát triển của sợi nấm, đặc biệt là ảnh hởng đến quá trình nẩy mầm vàxâm nhiễm của bào tử nấm
Trong quá trình lây nhiễm nấm Pyricularia oryzae Cav cho cây lúa ở điều
kiện nhân tạo, nếu duy trì trạng thái ớt lá 20 giờ liên tục thì thời gian biểu hiệnbệnh sẽ rút ngắn tối đa (sau 5 ngày) [10]
Theo Kuribayashi & Ichikawa (1952), ẩm độ không khí trên 90% kéo dài
10 giờ hoặc dài hơn là điều kiện thích hợp cho sự phát tán của bào tử nấm (dẫntheo [10])
ở vùng trồng lúa nhiệt đới, số vết bệnh trên một nơng mạ tơng quan rất có
ý nghĩa với thời gian có sơng mù Lợng sơng mù có ảnh hởng trực tiếp đến tỷ lệxâm nhiễm của nấm bệnh (dẫn theo [10])
Trang 8Trong điều kiện nhiệt độ ẩm độ thích hợp và ổn định, thời gian có sơng
mù là yếu tố quan trọng nhất ảnh hởng đến sự phát triển của bệnh đạo ôn Sauthời gian từ 6 - 8 giờ có sơng là bắt đầu có sự xâm nhiễm của nấm bệnh vào lálúa [23]
* ảnh hởng của yếu tố dinh dỡng, phân bón
Những nghiên cứu về dinh dỡng của nấm bệnh cho thấy: Một số axit amin
nh Biotin, Thiamine rất cần thiết cho sự sinh trởng, phát triển của nấm (dẫn theo[10])
Nuôi cấy nguồn nấm, sản xuất bào tử là công việc rất cần thiết và quantrọng trong quá trình lây nhiễm bệnh nhân tạo, công việc này chịu ảnh hởng rấtlớn bởi chế độ dinh dỡng có trong môi trờng nuôi cấy Nhiều loại môi trờng đã
đợc sử dụng trong nghiên cứu để làm môi trờng kích thích quá trình sản sinh bào
tử của nấm gây bệnh đạo ôn
Theo Ou.S H (1985) [26], nấm Pyricularia oryzae Cav có thể phát sinh
phát triển tốt trên nhiều loại môi trờng dinh dỡng có chứa mô thực vật và dịchchiết của cây trồng Khi nuôi cấy, cho thêm vào môi trờng nuôi cấy dịch chiếtcủa rơm rạ sẽ kích thích sự sinh trởng và sản sinh bào tử nấm Những môi trờnggiàu dinh dỡng đạm từ nguồn Beptone, dịch chiết của nấm men, môi trờng bộtmạch Agar (OMA- Oatmeal agar) cũng là môi trờng kích thích nấm sản sinh bào
tử rất mạnh Vì vậy, những môi trờng này thờng đợc sử dụng phổ biến trong nuôicấy nấm bệnh để sản xuất bào tử phục vụ cho lây nhiễm bệnh nhân tạo
Phân bón giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát sinh, phát triển củabệnh Bón phân không hợp lý sẽ tạo điều kiện thúc đẩy bệnh phát sinh, gây hạinặng Trong các loại phân bón đối với cây lúa, phân đạm có ảnh hởng lớn và rõrệt nhất đối với bệnh đạo ôn Bón phân đạm không cân đối với bón lân và kalihợp lý sẽ làm tăng mức độ phát sinh, gây hại của bệnh Mức độ ảnh hởng của
Trang 9phân đạm đến diễn biến của bệnh tuỳ theo loại đất, điều kiện dinh dỡng trong
đất, phơng pháp bón và diễn biến khí hậu thời tiết [15]
Theo Awoderu (1983), ở Suakoko và Liberia trên 16 giống lúa khác nhau,
tỷ lệ bệnh cũng nh mức độ hại (chỉ số bệnh) đều tăng dần khi lợng phân đạm bóncho cây lúa tăng dần Ou.S H (1985) cũng đồng tình với quan điểm này (dẫntheo [10])
Mức độ ảnh hởng của lợng đạm bón cho lúa đến sự gây hại của bệnh cũngrất khác nhau, tuỳ thuộc vào từng vùng đất và từng tiểu vùng khí hậu Ngoài ra,cách bón cũng có ảnh hởng rõ rệt đến mức độ nhiễm bệnh Nếu bón đạm tậptrung, bệnh sẽ nặng hơn bón rải rác đều theo thời gian [15]
Theo Matsuyama (1975), bón đạm ở mức cao sẽ làm giảm hàm lợngHemicellulose, Lignin ở vách tế bào Đây là nguyên nhân làm giảm tính khángbệnh ở cây lúa (dẫn theo [10])
Theo Otani (1952) [25], hàm lợng đạm hoà tan trong cây cao có tơng quanchặt chẽ và tỷ lệ thuận với chỉ số bệnh đạo ôn Trên những ruộng có chế độ bónphân đạm cao, bề mặt của những lá lúa ở ruộng này có khả năng kích thích mạnhcho sự nảy mầm của các bào tử nấm, kích thích sự hình thành vòi xâm nhập vàolá lúa
ảnh hởng của liều lợng phân lân đến sự phát sinh phát triển của bệnh đạo ônkhông lớn Nhiều nhà khoa học đã chứng minh rằng nếu bón phân lân ở một mức
độ nào đó sẽ có thể làm giảm bệnh đạo ôn (đối với những chân đất thiếu lân)
Ng-ợc lại, nếu bón không hợp lý thì mức độ nhiễm bệnh đạo ôn có thể tăng
ảnh hởng của nguyên tố kali đến bệnh đạo ôn: Nếu bón kali trên nền đạmcao sẽ làm tăng bệnh đạo ôn so với bón kali trên nền đạm thấp Theo Sakomoto
và yosshi (1958), tính chống bệnh đạo ôn của cây lúa tăng khi tỷ lệ SiO2/N trongcây tăng [13]
Manandhar đã thành công trong nghiên cứu sử dụng K2HPO4 để kích thíchcây lúa chống lại bệnh cháy lá tại Nepal (dẫn theo [10])
2.1.5 Những nghiên cứu về chủng nấm Pyricularia oryzae Cav và tính chống chịu bệnh đạo ôn của các giống lúa
Khả năng gây bệnh của nấm Pyricularia oryzae Cav luôn luôn bị biến đổi
do đột biến tự nhiên, sự biến động của các yếu tố sinh thái và sự tồn tại của cácgiống lúa khác nhau Đây chính là các nguyên nhân hình thành lên các chủng
sinh lý (race) của nấm Pyricularia oryzae Cav Những chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav này không khác nhau về hình thái, mà chỉ khác nhau về
đặc điểm sinh lý gây bệnh trên từng nhóm giống lúa riêng biệt [15]
Trang 10Nghiên cứu và phát hiện các chủng sinh lý (race) nấm Pyricularia oryzae
Cav gây bệnh đạo ôn lần đầu tiên đợc tiến hành tại Nhật Bản từ năm 1922 doSasaki đảm nhận Nhng chỉ sau khi sử dụng giống Futaba có gen Pi – a vốn làgiống kháng chủng nấm A, dần dần trở thành giống nhiễm nặng thì việc nghiên
cứu về chủng nấm Pyricularia oryzae Cav mới thực sự đợc bắt đầu triển khai
(bắt đầu từ năm 1950 ở Nhật Bản, Mỹ và một số nớc khác) [15]
Đến năm 1960, ở Nhật Bản với bộ giống tiêu chuẩn xác định nòi gồm 12giống (trong đó có 2 giống lúa nhiệt đới, 4 giống lúa Trung Quốc và 6 giống lúaNhật Bản) đã xác định đợc 13 nòi thuộc 3 nhóm nòi gọi là nhóm nòi T C và N
Mỹ, ấn Độ và một số nớc khác cũng đã xác định đợc một số nòi Nh vậy, ở mỗinớc trong các vùng địa lý sinh thái khác nhau đều đã sử dụng bộ giống tiêuchuẩn để phát hiện các nòi của nớc mình Nhng chính việc sử dụng bộ giốngriêng nên các nòi nấm đợc phát hiện ở nớc này không thể so sánh với các nòi đó
ở nớc khác đợc Để khắc phục tình trạng này, từ năm 1963 trở đi, với sự hợp tácnghiên cứu quốc tế đã thống nhất sử dụng một số bộ giống chỉ thị nòi tiêu chuẩn
quốc tế để xác định nòi nấm Pyricularia oryzae Cav Nhờ đó, đến năm 1967, với
bộ giống tiêu chuẩn quốc tế (8 giống) đã xác định đợc 32 đến 68 nhóm nòi đạo
ôn ở các nớc Mặc dù nấm Pyricularia oryzae Cav gây bệnh đạo ôn đã có nhiều
nòi đợc phát hiện, nhng nấm sẽ còn luôn luôn phát sinh các nòi mới có các gen
độc tơng ứng với các giống lúa có gen kháng đợc đa vào trong sản xuất Điềuquan trọng nhất cần quan tâm không phải chỉ là số lợng các nòi nói chung màchính là thành phần quần thể nòi ở trong một vùng, một nớc Quần thể nòi nấm
đạo ôn ở mỗi vùng địa lý có thể khác nhau, biến động theo thời gian và quy mô
sử dụng cơ cấu giống ở vùng đó Trong quần thể nòi nấm cũng chỉ có một ít nòichiếm u thế gây hại trên cơ cấu giống nhất định Nói cách khác, quần thể nòi vànòi nào trong số đó chiếm u thế trong vùng chủ yếu phụ thuộc vào thời tiết khíhậu, điều kiện địa lý của vùng và kiểu gen của các giống trong cơ cấu giống
đang trồng trong vùng đó với diện tích lớn [15]
Từ năm 1976, Nhật Bản đã sử dụng bộ giống chỉ thị gồm 9 giống có đơngen kháng là các giống: Shin2 (gen Pik-S mã số 1), Aichi asahi (gen Pi-a mã số2), ishikari- Shrroke (gen Pi- i mã số 4), Kanto 51 (gen Pi- k mã số 10),Tsuyuake (gen Pik-m mã số 20), Fukunishiki (gen Pi-z mã số 40), yashiromochi(gen Pita mã số 100), PiNo.4 (gen Pita-z mã số 200), Toride1 (gen Piz-1 mã số
400) để tiến hành xác định các chủng sinh lý nấm Pyricularia oryzae Cav gây
bệnh đạo ôn trên lúa Cho tới hiện nay các nớc trồng lúa đã và đang tiếp tục dùng
bộ giống tiêu chuẩn đó để xác định các chủng sinh lý của nấm [15]
Trang 11Các giống lúa có phản ứng rất khác nhau đối với nấm gây bệnh đạo ôn, ờng các giống kháng không duy trì đợc tính kháng lâu dài mà rất dễ nhiễm bệnhtrở lại sau một thời gian gieo trồng Nguyên nhân chính là do có sự phát triển cácchủng sinh lý mới của nấm gây bệnh [26].
th-Khi đa một giống lúa mới vào sản xuất cũng đồng nghĩa là sẽ xuất hiện mộtchủng nấm bệnh mới Số chủng nấm gây bệnh cho cây lúa tuỳ thuộc vào vùng
địa lý Trong một vùng sản xuất lúa có thể có nhiều dòng nấm gây bệnh khácnhau [27]
Nguồn gen trong cây lúa quyết định tính kháng hoặc nhiễm bệnh của giốnglúa Tuy nhiên, các phản ứng đối với bệnh có các cơ chế khác nhau và phụ thuộcvào nhiều yếu tố khác nh hàm lợng silic, các hợp chất chứa đạm, ngoài ra còn có
sự tơng tác giữa các giống lúa với các chủng sinh lý nấm gây bệnh [26]
Giai đoạn sinh trởng phát triển của cây lúa cũng có ảnh hởng đáng kể đếnmức độ phát sinh, phát triển của bệnh đạo ôn Những lá non nhiễm bệnh nặnghơn những lá già Trong các giai đoạn sinh trởng của cây lúa thì giai đoạn mạ,giai đoạn đẻ nhánh tối đa và giai đoạn trớc khi trỗ bông thờng nhiễm bệnh đạo
ôn nặng hơn cả [24]
2.1.6 Một số biện pháp phòng trừ bệnh đạo ôn hại lúa
Đã có một hệ thống các biện pháp để phòng trừ bệnh đạo ôn hại lúa đợcnhiều nhà khoa học nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nớc Các biện pháp đã đợc đềcập bao gồm việc sử dụng các giống chống bệnh, dự tính dự báo chính xác vềthời gian phát sinh mức độ bệnh cũng nh quy mô phát triển của bệnh, biện phápcanh tác và biện pháp hoá học hợp lý
* Dùng giống kháng bệnh và chọn tạo giống kháng bệnh
Các giống lúa chống bệnh đạo ôn giữ một vai trò quan trọng trong hệ thốngbiện pháp phòng trừ tổng hợp Tính chống, chịu bệnh đạo ôn do hệ thống cácgen kháng quyết định tuỳ thuộc vào các loại gen kháng cao hay kháng thấp, loại
đơn gen hay đa gen của từng giống lúa mà giống lúa đó đợc coi là giống khángdọc (đơn gen) hay kháng ngang (đa gen) Giống kháng dọc có một gen kháng t-
ơng ứng với một gen độc của nòi nấm đạo ôn nhất định nào đó Các giống này cótính chống bệnh rất cao đối với một số ít nòi đặc hiệu, thể hiện bằng các “Điều tra thành phần bệnh hại, diễn biến bệnh đạo ôn hại lúaPhảnứng siêu nhậy” tạo ra vết bệnh không hoàn chỉnh sau 24 giờ xâm nhiễm, các sợinấm trong mô bệnh sẽ chết dần Các giống kháng tạo ra các phytoalexin, các hợpchất phênol để chống lại sự phát triển của nấm Chẳng hạn gen kháng Pi- a có ởcác giống Paltal (Triều Tiên), asen (Trung Quốc); Gen Pi- i có ở giống khángdọc Doazi Chall (Triều Tiên) [15]
Trang 12Mức độ chống bệnh trung bình của giống đợc thể hiện bằng các vết bệnhnhỏ có viền nâu xung quanh ở những giống chống bệnh có sự tích luỹ cácPhenon, Lignin và một số chất Phytoalexin tạo thành một chớng ngại vật hoáhọc, lý học đối với nấm gây bệnh ở vùng mô bị xâm nhiễm Các giống chốngbệnh đạo ôn sau khi bị nấm xâm nhiễm thờng ít tạo ra Ethylen hơn so với giốngnhiễm [15].
ở các giống kháng ngang (đa gen) thờng có tính chống bệnh rộng, chốngvới nhiều chủng sinh lý nấm gây bệnh đạo ôn Để có sự đánh giá về tính chốngchịu bệnh đạo ôn của các giống lúa một cách chính xác, các nhà nghiên cứu đã
đề ra những phơng pháp đánh giá ngoài đồng ruộng và đánh giá dựa vào sự lâybệnh nhân tạo đợc bố trí bằng các thí nghiệm Các thí nghiệm phải đợc bố trítheo đúng quy định và đợc tiến hành trong một thời gian dài thì mới có thể đa ranhững kết quả [15]
Tuy bệnh đạo ôn đã đợc phát hiện từ lâu (ở Trung Quốc từ năm 1637;
ở Mỹ năm 1906) nhng lịch sử chọn tạo và sử dụng giống chống bệnh đạo ôn thực
sự bắt đầu từ năm 1904, khi Nhật Bản dùng phơng pháp chọn lọc dòng thuần đầutiên đã chọn ra giống Kameli và Aikoku chống đạo ôn Đến năm 1910 bắt đầuthực hiện chọn tạo giống chống bệnh đạo ôn bằng phơng pháp lai hữu tính Giống có năng suất cao, chống chịu bệnh đạo ôn đợc sử dụng ở Nhật Bản nhgiống Norin-6 chống đạo ôn cổ bông, Norin-8 chống đạo ôn lá, Norin-22 chốngcả đạo ôn lá và cổ bông; ở ấn Độ sử dụng giống Futaba và Co-25 [15]
Nguồn gen kháng bệnh đạo ôn đã phát hiện đợc rất đa dạng và phong phú.Hiệu quả sử dụng các nguồn gen này rất khác nhau, tuỳ thuộc từng vùng sinhthái Xu hớng của các nhà khoa học chọn tạo giống hiện nay là chọn tạo giốngmới, kết hợp đợc cả tính kháng dọc và kháng ngang, chẳng hạn giống TaichungGlu Yu- 26 (Trung Quốc) mang 2 gen kháng Pi-a và Pi-i Giống Zennith (Mỹ)mang 2 gen kháng Pi-a và Pi-z; Giống BL.10.Bengawan (Indonexia) mang 2 genkháng Pi-b và Pi-t; Giống dawn (Mỹ) mang 3 gen kháng Pi-a, Pi-i và Pi-k
Một số giống có tính kháng đa gen, có tính chống bệnh phổ rộng đối vớinhiều chủng sinh lý nấm gây bệnh đạo ôn đã đợc chọn tạo ra Đó là một sốgiống lúa của ấn Độ nh CR10, R- 176, ARC- 15603, IR305- 4-20, ARC-4928,A36-3, Swon215, Chokot6o, Serirajo; ở Nhật Bản có các giống nh Sonachi, Br-1,Ishkari, Hokushin- 1 [15]
Theo Ou.S.H (1985) [26], để chọn đợc những giống có khả năng chống bệnhrộng, phải tiến hành khảo nghiệm có quy mô quốc tế và cần tiến hành thờngxuyên Đến nay theo những ghi nhận của viện lúa quốc tế (IRRI), chúng ta đã đạt
Trang 13đợc một số thành tựu đáng kể trong công tác chọn tạo giống chống bệnh Songnhững kết quả đã thu đợc nói chung vẫn cha đáp ứng đợc mong muốn Bởi lẽ cácnhà khoa học vẫn cha tìm đợc giống lúa có khả năng chống, chịu đợc với tất cảcác chủng nấm gây bệnh đạo ôn Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã
và đang cố gắng làm các thí nghiệm về tính chống chịu bền vững đối với bệnh đạo
ôn của các giống lúa Nếu thành công, những giống lúa này có ý nghĩa rất lớntrong chọn tạo giống kháng bệnh đạo ôn phục vụ cho sản xuất
* Dự tính dự báo chính xác kịp thời
Đã có nhiều phơng pháp nghiên cứu dự tính dự báo bệnh đạo ôn Kim vàctv (1975) [28] đã xây dựng một phơng trình tơng quan giữa số vết bệnh trên lávới số bào tử nấm bắt đợc trong bẫy, thời gian lá lúa bị ớt để dự báo số lợng vếtbệnh có thể xuất hiện gây hại trên lá lúa
El Rafaei (1977) [21] đa ra phơng trình tơng quan dự báo số vết bệnh trênmạ dựa vào thời gian có sơng mù và số bào tử nấm có trong một lít không khí.Koshimizu (1988) đa ra một mô hình dự báo bệnh đạo ôn có tên là Blastam.Mô hình Blastam sử dụng các yếu tố khí hậu, thời tiết Nó có thể chỉ ra khi nào
là điều kiện thuận lợi nhất cho bệnh phát triển (dẫn theo [10])
Choi và ctv (1988) [20] đã sử dụng số liệu thí nghiệm thực hiện trongphòng và các số liệu nghiên cứu trớc đây xây dựng mô hình mô phỏng cho bệnh
đạo ôn lá (Leaf Blast)
2.2 Một số nghiên cứu về nấm Pyricularia oryzae Cav và bệnh đạo ôn hại
có nhiều công trình nghiên cứu về giống, sâu bệnh hại, thuốc BVTV.v.v để từ đórút ra các biện pháp phòng trừ bệnh hại một cách hiệu quả nhất đem lại vụ mùabội thu cho ngời nông dân
Theo kết quả điều tra thành phần nấm bệnh gây hại trên hạt giống thu nhậptại một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng của Ngô Bích Thảo (Tạp chí BVTV
Trang 14số 1/2003) kết quả điều tra trên các mẫu hạt giống lúa lai thu nhập đợc tại cáctỉnh, thành phố: Hà Nội, Hà Tây, Hải Dơng, Hng Yên, Bắc Ninh cho thấy tập
đoàn nấm bệnh tồn tại trên hạt giống lúa rất phong phú và đa dạng bao gồm cácloại nấm nh: Alternaria, Fusarium moniliforme, Curvularia, Pyricularia oryzae,Rhizoctonia solani…[13] thuộc 5 họ 3 bộ
Bảng 1: Thành phần nấm gây hại trên hạt giống lúa thu nhập tại một số tỉnh thuộc
đồng bằng sông Hồng (1998 – 2000)
1 Đạo ôn Pyricularia oryzae Cav Monilia ceae Moniliales
2 Khô vằn Rhizoctonia solani Palo Monilia ceae Monilales
3 Bỏng lá Alternaria pad wivckii Dematia ceae Monilales
4 Đốm nâu Curvularia lunata Dematia ceae Monilales
5 Cháy lá Micro dochium oryzae Monilia ceae Monilales
6 Than đen Tilletia barclayana Tilletia ceae Ustilaginales
7 Lúa von Fusarium moniliforme Sheld Tubercularici cace Monilales
8 Thối hạt Pseudomonas glunae Karita Sphaerprida ceae Phaeropsidales
9 Tiêm lửa Hemilthosporium oryzae Dematia ceae Monilales
10 Hoa cúc Ustilaginodea virens Dematia ceae Monilales
do nấm, 2 bệnh do vi khuẩn, 1 bệnh do vius, 2 bệnh do tuyến trùng và một bệnh
do sinh lý gây ra Kết quả điều tra của Viện BVTV từ những năm 1979, ngời taghi nhận một số bệnh cha tong thấy hoặc rất thứ yếu ở Việt Nam nhng nay đã trởthành các loại bệnh khá phổ biến ngoài sản xuất nh bệnh vàng lùn xoắn lá, lùnsọc đen, bệnh tuyến trùng hại thân, bệnh thối đen hạt do vi khuẩn, bệnh sọcvàng, bệnh héo vàng lá, bệnh hoa cúc, tiêm hạch.v.v
Từ những năm 1996 đến nay, đã có thêm 75% diện tích trồng lúa đã đợcgieo cấy bằng giống lúa nhập nội và lai tạo có năng suất cao Cũng chính vì thế
mà nhiều loại bệnh hại phát sinh phát triển và gây hại khá nghiêm trọng ở tất cảcác thời vụ trrồng, ở các vùng sinh thái trồng trọt khác nhau Bởi vậy, việc điều
Trang 15tra nghiên cứu thành phần bệnh hại, diễn biến tình hình bệnh đạo ôn hại lúa vàbiện pháp phòng trừ bệnh hại tại một số cơ sở sản xuất là hết sức cần thiết
2.2.1 Tính phổ biến và tác hại của bệnh đạo ôn
ở Việt Nam, bệnh đạo ôn còn đợc gọi là bệnh “Điều tra thành phần bệnh hại, diễn biến bệnh đạo ôn hại lúatiêm lụi” hay bệnh “Điều tra thành phần bệnh hại, diễn biến bệnh đạo ôn hại lúacháy lálúa” Bệnh đã đợc biết đến từ lâu Năm 1921, Vincens (ngời Pháp) đã phát hiệnthấy bệnh này xuất hiện ở vùng Nam Bộ Đến năm 1951, Roger (ngời Pháp) xác
định bệnh đã xuất hiện ở các tỉnh Miền Bắc nhng thời kỳ đó bệnh ít phổ biến,gây hại nhẹ nên không đợc chú ý nghiên cứu [13]
Đến năm 1956, một trong những vùng trồng lúa cạn ở nông trờng ĐồngGiao tỉnh Hà Nam Ninh bệnh đạo ôn bột phát xuất hiện và gây hại làm chết lụi
200 ha lúa Sau đó bệnh gây hại nghiêm trọng ở các tỉnh Hải Hng, Hà Sơn Bình,Thái Bình, Hà Nội, Hải Phòng và nhiều vùng khác Có thể nói, từ năm 1956-
1962 là thời kỳ bệnh đạo ôn phát sinh thành dịch ở miền Bắc nớc ta Điều đóchứng tỏ bệnh đạo ôn là một bệnh khá phổ biến và là đối tợng gây hại nguy hiểmcho cây lúa [13]
Từ năm 1972, nhất là từ năm 1976 đến nay, bệnh đạo ôn đã gây thành dịch,phá hại ở nhiều vùng trồng lúa trọng điểm thuộc khu vực đồng bằng sông Hồng,
đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh Duyên Hải miền Trung, vùng Tây Nguyên
và cả một số vùng trung du miền núi phía Bắc trên các giống lúa nh NN8;IR1561-1-2; CR203; nếp cái hoa vàng.v.v.[24]
Trong thời gian từ năm 1970 đến 1990, trong vụ lúa xuân ở miền Bắc,giống lúa NN8 chiếm cơ cấu chủ yếu của trà lúa xuân chính vụ Vụ xuân muộnchủ yếu là giống CR203; IR1561-1-2; T1; TH2 Cùng với việc áp dụng các biệnpháp kỹ thuật thâm canh cao, chủ yếu là tăng lợng đạm vô cơ đã làm thay đổi vàtích luỹ các chủng sinh lý trong quần thể nấm gây bệnh đạo ôn, làm cho bệnh
đạo ôn phát triển ngày càng mạnh [13]
Nhìn chung, toàn miền Bắc từ năm 1979 đến những năm 1990, diện tích lúa
bị nhiễm bệnh đạo ôn có xu hớng ngày một tăng: Vụ đông xuân năm 1979 đã
có trên 15.000 ha lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn; vụ đông xuân năm 1981 là trên40.000 ha lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn; vụ chiêm xuân năm 1982 có trên 80.000 halúa bị nhiễm bệnh đạo ôn; vụ chiêm xuân năm 1985 có trên 160.000 ha lúa bịnhiễm bệnh đạo ôn; vụ đông xuân năm 1986 có 119.977 ha lúa bị bệnh đạo ôn(trong đó nhiều vùng bị nhiễm nặng là Nghệ Tĩnh, Thái Bình, Hà Nam Ninh, HảiPhòng…[13].) Năm 1997 có trên 150.000 ha lúa bị nhiễm đạo ôn, trong đó có trên10% diện tích nhiễm nặng, trên 20.000 ha nhiễm đạo ôn ở mức trung bình Cábiệt, có nơi bị nhiễm đạo ôn cổ bông nặng, tỷ lệ bệnh lên tới 60%-70% [13]
Trang 16Theo Phạm Văn D (1997) [9], ở Việt Nam trong những năm 1980, 1981,
1982 dịch bệnh đạo ôn gây hại nặng ở các tỉnh Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp
và An Giang trên một số giống nh NN3A, NN7A, MTL32, MTL36, bệnh gâythiệt hại khoảng 40% năng suất Bệnh đạo ôn tái phát hàng năm và gây hại trêndiện rộng Năm 1995 các giống lúa nh IR50404, OM269- 65 và một số giống lúakhác ở hầu hết các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long đều bị nhiễm bệnh,khoảng trên 200.000 ha lúa bị đạo ôn phá hại, gây mức thiệt hại chung từ 10 -15% năng suất lúa
Vụ đông xuân năm 1991-1992, ở miền Bắc có tới 292.000 ha diện tích lúa
bị nhiễm đạo ôn lá, 214.000 ha bị nhiễm đạo ôn cổ bông [13]
Năm 2001, diện tích lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn lá là 336.370 ha, chiếmkhoảng 4,56% diện tích gieo cấy, trong đó diện tích nhiễm nặng là 5.790 ha,diện tích bị lụi là 62,4 ha Trong vụ đông xuân, bệnh gây hại nặng, cục bộ trêngiống lúa nhiễm nh Nếp, DT13, IR17494, IR38, IR1820, Q5…[13] ở một số tỉnhThừa Thiên Huế, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thái Bình và một vài tỉnh khác thuộc đồngbằng Bắc Bộ Bệnh đạo ôn lá ở các tỉnh miền Trung khoảng 7.780 ha Tại cáctỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, bệnh phát sinh trên diện rộng, diện tíchnhiễm là 199.480 ha Diện tích nhiễm đạo ôn cổ bông khoảng 91.760 ha, trong
đó diện tích nhiễm nặng là 4.930 ha, diện tích bị giảm trên 70% năng suất không
đáng kể ở các tỉnh phía Bắc, bệnh hại chủ yếu trên các giống Q5, DT10, KhâmDục ở các tỉnh thuộc khu 4 và miền Trung, bệnh hại chủ yếu ở Thừa Thiên Huế,Quảng Nam, Đà Nẵng ở các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long vụ đông xuân có46.000 ha nhiễm bệnh đạo ôn cổ bông [2]
Năm 2002, có khoảng 208.399 ha lúa bị nhiễm đạo ôn lá, trong đó diện tíchnhiễm nặng là 3.915 ha, diện tích bị lụi không đáng kể Bệnh gây hại nặnghơn ở các tỉnh thuộc đồng bằng Sông Cửu long ở các tỉnh phía Bắc, bệnh phát sinhcục bộ và gây hại chủ yếu trên lúa xuân trên các giống lúa IR17494 (13/2), IR38,IR1820, Q5…[13].Tại các tỉnh miền nam, diện tích nhiễm bệnh toàn vùng là 169.138
ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 1.084 ha Diện tích nhiễm bệnh đạo ôn cổbông của cả nớc là 42.684 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 1.067 ha [3]
Năm 2003, cả nớc có khoảng 265.216 ha lúa bị nhiễm đạo ôn lá, trong đódiện tích nhiễm nặng là 1.532 ha, diện tích bị lụi không đáng kể Bệnh gây hạichủ yếu ở các tỉnh thuộc đồng bằng Sông Cửu Long Tại các tỉnh đồng bằng SôngCửu Long diện phân bố của bệnh tơng đối rộng Diện tích nhiễm bệnh đạo ôn cổbông của cả nớc là 25.715 ha, trong đó diện tích nhiễm nặng là 166 ha [4]
Trang 17Năm 2004, cả nớc có khoảng 225.870 ha lúa nhiễm bị đạo ôn lá, trong đódiện tích nhiễm nặng là 5.716 ha, diện tích bị lụi không đáng kể Diện tíchnhiễm bệnh đạo ôn cổ bông là 40.470 ha, diện tích nhiễm nặng là 1.866 ha [5].Năm 2006, diện tích nhiễm đạo ôn lá của cả nớc là 196.947 ha, trong đódiện tích nhiễm nặng là 10.374 ha Bệnh gây hại nặng hơn ở các tỉnh thuộc đồngbằng sông Cửu Long Diện tích nhiễm đạo ôn cổ bông là 24.455 ha, trong đódiện tích nhiễm nặng là 1.270 ha [6].
Năm 2007, cả nớc có 188.711 ha lúa bị nhiễm đạo lá trong đó có 10.312 ha
bị nhiễm nặng, tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long.Diện tích nhiễm đạo ôn cổ bông của cả nớc là 39.552 ha, trong đó, diện tíchnhiễm nặng là 1.350 ha, có 33 ha lúa bị giảm trên 70% năng suất [7]
2.2.2 Triệu chứng của bệnh đạo ôn
Bệnh đạo ôn có thể tấn công, gây hại trên các bộ phận khác nhau của câylúa nh cổ lá, phiến lá, đốt thân, cổ bông, cổ gié và hạt Dựa vào bị hại của câylúa, ngời ta phân thành bệnh đạo ôn lá và đạo ôn cổ bông
Tuỳ từng bộ phận của cây bị bệnh mà vết bệnh trên các bộ phận đó cónhững biểu hiện triệu chứng riêng
* Vết bệnh trên lá mạ, lá lúa
Vết bệnh ban đầu là những chấm nhỏ, mờ, màu hơi vàng, sau vài ngày vếtbệnh kéo dài về hai phía, phình to ở giữa tạo thành dạng hình thoi, giữa vết bệnhmàu xám tro, có một viền nâu, xung quanh vết bệnh có thể có quầng vàng (tuỳtheo loại giống) Đây là vết bệnh đặc trng Trên một số giống lúa nhiễm, trong
điều kiện thời tiết phù hợp cho bệnh phát triển, ruộng bón đạm quá nhiều thìtriệu chứng vết bệnh có sự khác biệt Ban đầu vết bệnh là những chấm nhỏ, saulan rộng và có màu xanh tái, kéo dài nhiều ngày, đó là dạng vết bệnh cấp tính,mãi sau vết bệnh mới chuyển thành dạng hình thoi đặc trng (dạng vết bệnh mãntính), kích thớc vết bệnh dao động trong khoảng 0,5 mm - 4mm x 1mm - 25 mm.Trong trờng hợp bệnh phát triển mạnh, các vết bệnh nhỏ thờng liên kết nối liềnvới nhau tạo thành một dải vết bệnh, làm cho lá cháy khô lụi đi nhanh chóng[13]
* Vết bệnh trên cổ lá
Vết bệnh đầu là chấm nâu sau phát triển thành vết nâu hình khum theochiều cong giữa cổ lá và phiến lá Khi cổ lá bị bệnh toàn lá tái xanh, xám, khôlụi, gẫy gục [13]
* Vết bệnh trên thân
Trang 18Vết bệnh ban đầu là những đốm nhỏ màu nâu sau lớn rộng ra thành mộtvành tròn bao quanh đốt thân làm cho thân lõm tóp lại và có màu nâu đen Khitrời ẩm hoặc có ma nhiều ngày, đốt thân bị bệnh thờng mềm nhũn, dễ bị gãy gậpkhi gặp gió [13].
* Vết bệnh trên cổ bông, gié lúa
Trên cổ bông, gié lúa vết bệnh lúc đầu là đốm nhỏ, sau lan ra theo chiều dàilàm cả đoạn cổ bông có màu nâu xám, khô tóp Nếu nhiễm bệnh sớm (ngay sautrỗ) làm cho toàn bộ bông bị lép trắng; nhiễm bệnh muộn (vào thời kỳ làm hạt-chín) gây ra hiện tợng bông lúa nhỏ, có nhiều hạt lép lửng, dễ gãy, gié lúa dễ bịrụng dẫn đến làm giảm năng suất lúa [13]
* Vết bệnh trên hạt
Vết bệnh trên hạt không đồng nhất về hình dạng nh trên lá lúa mà có dạng
đốm tròn hoặc không định hình, màu nâu đen hoặc xám Nấm ký sinh ở vỏ trấu
và có thể ở bên trong hạt Vì vậy, hạt giống bị nhiễm bệnh chính là nguồn bệnhtruyền từ vụ này qua vụ khác [13]
2.2.3 ảnh hởng của yếu tố đến sự phát sinh và gây hại của bệnh đạo ôn
* ảnh hởng của yếu tố khí hậu, thời tiết
Nấm gây bệnh đạo ôn a nhiệt độ tơng đối thấp Vì vậy bệnh thờng phátsinh, gây hại nặng vào những tháng có nhiệt độ 18 - 25oC, ẩm độ không khí cao,trên 90%, trời âm u hoặc thờng xuyên có ma trong nhiều ngày liên tiếp ở cáctỉnh miền Bắc bệnh phát sinh, gây hại ở cả hai vụ lúa Tuy nhiên mức độ phátsinh, gây hại của bệnh ở vụ chiêm xuân thờng lớn hơn rất nhiều so với vụ lúamùa Trong vụ chiêm xuân, bệnh thờng xuất hiện vào tháng 1, 2 trên nhữngruộng mạ, sang đầu tháng 3 bệnh xuất hiện cục bộ trên lúa xuân khi lúa ở thời kỳ
đẻ nhánh, từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 5 bệnh thờng phát sinh gây hại mạnhtrên diện rộng Trên các trà lúa mùa, bệnh phát sinh vào khoảng từ tháng 10 đếntháng11 khi lúa đang ở thời kỳ lúa trỗ đến chín [13]
Độ ẩm không khí và độ ẩm đất có ảnh hởng rất lớn đối với tính mẫn cảmcủa cây, sự lây lan và phát triển của nấm bệnh Trong điều kiện khô hạn, ẩm độ
đất thấp hoặc trong điều kiện ngập úng kéo dài cây lúa dễ bị nhiễm bệnh hơn
ẩm độ không khí cao là điều kiện rất thuận lợi cho vết bệnh phát triển [13]
* ảnh hởng của yếu tố đât đai, phân bón và chế độ bón phân
Những chân ruộng nhiều mùn, trũng, khó thoát nớc, những vùng đất mới
vỡ hoang, đất nhẹ, giữ nớc kém, khô hạn và những chân ruộng có lớp đất sétnông là điều kiện rất thuận lợi cho nấm bệnh đạo ôn phát triển [13]
Trang 19Phân bón cũng ảnh hởng rất lớn đến sự phát sinh, phát triển của bệnh Nếubón phân không hợp lý bệnh vẫn phát sinh gây hại mạnh ngay cả trong nhữngnăm điều kiện thời tiết không thuận lợi cho nấm bệnh phát triển [13]
Trong các loại phân bón, đạm là loại phân có ảnh hởng nhiều nhất đến mức
độ phát sinh, gây hại của bệnh Mức độ ảnh hởng của đạm tới sự biến động củabệnh còn tuỳ thuộc vào từng loại đất, phơng pháp bón và diễn biến của khí hậuthời tiết khi bón Bón quá nhiều đạm, bón quá muộn, bón khi nhiệt độ không khíthấp, bón lúc cây còn non sẽ làm tăng tỷ lệ bệnh và mức độ gây hại của bệnh.Bón quá nhiều đạm tính chống chịu bệnh của cây lúa sẽ giảm, do quá trình silichoá vách tế bào bị hạn chế, hàm lợng axit amin tự do trong cây tăng lên [13].Bón nhiều kali trên chân ruộng đợc bón nhiều đạm bệnh cũng có thể tăng.Phân lân ít có ảnh hởng đối với mức độ nhiễm bệnh của cây Tuy nhiên nếu
sử dụng phân lân không hợp lý, bệnh vẫn có thể tăng [13]
* ảnh hởng của của chế độ nớc, mật độ, thời vụ
Chế độ nớc và mật độ có ảnh hởng trực tiếp đến chế độ dinh dỡng của cây.Nớc là môi trờng hoà tan các chất dễ tiêu cho cây hấp thu Nhờ nớc, các hợp chấtsilic có thể hoà tan để cây dễ hấp thụ, đẩy nhanh quá trình silic hoá vách tế bào,biểu bì, tăng sức chống chịu bệnh đạo ôn, hạn chế ảnh hởng của đạm đối vớibệnh [13]
Bệnh đạo ôn phát triển mạnh hơn ở những ruộng có mật độ cấy quá cao.Trên các trà lúa xuân cấy sớm và mùa muộn bệnh đạo ôn thờng phá hạisớm và kéo dài [13]
2.2.4 Những nghiên cứu về chủng nấm Pyricularia oryzae Cav và tính chống chịu bệnh đạo ôn của các giống lúa
Nấm Pyricularia oryzae Cav gây bệnh đạo ôn là loại nấm ký sinh chuyên
tính, quần thể nấm không đồng nhất về tính độc, tính gây bệnh Trong tự nhiên,
do đột biến, lai tạo, sự biến động của các yếu tố sinh thái và sự xuất hiện của cácgiống lúa khác nhau nên tính độc, tính gây bệnh của nấm đạo ôn luôn luôn biến
đổi, từ đó hình thành nên các chủng sinh mới [13]
ở Việt Nam, từ 1976 những khảo sát về sự phổ biến các nhóm nòi đạo ôn
b-ớc đầu đã đợc Viện bảo vệ thực vật và Trờng đại học Nông nghiệp I - Hà Nội thựchiện, kết quả cho thấy: Toàn bộ 8 giống lúa trong bộ giống lúa quốc tế chỉ thị nòi
đều nhiễm bệnh nhng mức độ nhiễm bệnh rất khác nhau ở vùng Bắc Hà, toàn bộgiống chỉ thị nhóm nòi A, B, C, D, IE, IF, H đều bị nhiễm bệnh đạo ôn nặng (cấpbệnh từ cấp 5 đến cấp 9), ở vùng Điện Biên, 3 trong 8 giống chỉ thị nòi lại nhiễm
đạo ôn rất nhẹ (cấp bệnh từ cấp 1 đến cấp 2) Đó là giống Raminad St- 3 chỉ thị
Trang 20nhóm nòi A, giống Zenith chỉ thị nòi B và giống Usen chỉ thị nhóm nòi D ở vùngTiền Giang chỉ có giống Usen chỉ thị nhóm nòi D nhiễm đạo ôn nặng (cấp bệnh ởcấp 6), còn các giống Zenith chỉ thị nòi B và giống Kanto- 51 chỉ thị nhóm nòi IFchống bệnh cao (chỉ nhiễm ở cấp 1) Các giống còn lại nh Giống NP- 125 chỉ thịnhóm nòi C, giống Dular chỉ thị nhóm nòi IE và giống Caloro chỉ thị nhóm nòi Hnhiễm đạo ôn trung bình (cấp bệnh từ cấp 3- 4) [13]
Đến năm 1985 - 1987 đã có những kết quả nghiên cứu bổ sung về các nhómnòi của nấm gây bệnh đạo ôn ở các vùng ở vùng Quảng Nam- Đà Nẵng chủ yếu
có 3 trong 5 nhóm nòi đạo ôn là nhóm nòi IB, IC, IF, trong đó nhóm nòi IB phổbiến hơn chiếm u thế trong vụ đông xuân, nhóm nòi IC và IF chiếm u thế trong
vụ lúa xuân hè và nhóm nòi IC chiếm u thế trong vụ lúa hè thu [13]
Trong thí nghiệm với 12 nguồn mẫu nấm phân lập từ 12 tỉnh ở các vùng địa
lý khác nhau của nớc ta, có thể sơ bộ phân định ra 5 nhóm nòi chủ yếu nh sau:Nhóm nòi IA có mặt ở vùng Tiền Giang, Sơn La
Nhóm nòi IB có mặt ở Quảng Nam- Đà Nẵng, Nghệ Tĩnh, Hà Nam Ninh,
Hà Nội, Hải Phòng, Hải Hng, Hà Bắc
Nhóm nòi IC có mặt ở vùng Quảng Nam- Đà Nẵng, Vĩnh Phúc
Nhóm nòi ID có mặt ở Thái Bình, Hà Bắc
Nhóm nòi IF có mặt ở Quảng Nam- Đà Nẵng
Kết quả nghiên cứu phối hợp giữa Trờng đại học Nông nghiệp I và ViệnKhoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam cho thấy: Các nòi nấm có tính độckhác nhau Mẫu phân lập nấm đạo ôn ở vùng Nghệ Tĩnh có tính độc cao hơn sovới mẫu nấm đạo ôn ở vùng Điện Biên [13]
Khi nghiên cứu cấu trúc quần thể nấm Pyricularia oryzae Cav gây bệnh
đạo ôn ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu của Lê Đình Đôn (1999) đã thu thập đợc
78 mẫu phân lập ở đồng bằng Sông Hồng (Hà Tây, Thái Bình) và đồng bằngSông Cửu Long (Long An, Tiền Giang, Hậu Giang) Kết quả có 4 dòng nấm đợctìm thấy ở miền Bắc là VL1, VL2, VL3, VL4, trong đó dòng VL2 chiếm u thế
ở đồng bằng sông Cửu long chỉ tìm thấy duy nhất 1 dòng đó là VL5 Trong sốcác mẫu phân lập tham gia thí nghiệm có 15 nòi đợc tìm ra (gồm các nòi 000,
002, 200, 122, 232, 102, 103, 105, 106, 107, 112, 132, 502, 505, 507) Sự phân
bố các nòi này cũng khác nhau ở miền Bắc và miền Nam, nòi 000 chiếm u thế ởvùng đồng bằng Sông Hồng, ở vùng đồng bằng Sông Cửu Long nòi 102 lạichiếm u thế (dẫn theo [10])
Khi nghiên cứu về các chủng sinh lý của nấm Pyricularia oryzae Cav gây
bệnh đạo ôn, nhóm nghiên cứu của Nado Takahito (1999) đã thu đợc 129 mẫu ở
Trang 21miền Bắc Việt Nam và sắp xếp vào 12 chủng sinh lý dựa trên phản ứng của 12giống lúa chỉ thị, trong đó chủng 002.4 chiếm 31% của các mẫu phân lập, chủng106.4 chiếm 19,4%, chủng 006.4 chiếm 17,1%, chủng 102.4 chiếm 14,7% vàchủng 002.0 chiếm 7% còn 7 chủng khác là các chủng thứ yếu ở Việt Nam (dẫntheo [10]).
Việc nghiên cứu và sử dụng các giống chống bệnh đạo ôn ở nớc ta đang
đ-ợc tiến hành rộng rãi Kết quả bớc đầu đã phát hiện đđ-ợc trong tập đoàn giống cổtruyền Việt Nam có nhiều giống chống bệnh cao nh Tẻ Tép, Chiêm Chanh PhúThọ, Chiêm Bầu Thanh Hoá, Gié, Tép Sài Gòn, Nàng Thơm, Nàng Chét…[13] Nhiềugiống nhập nội đợc chọn lọc lai tạo cũng có tính chống bệnh đạo ôn cao ở nhiềuvùng nh NN 75-2, NN-3B, NN-3A, IR1820, IR56, IR64…[13].[13]
Chọn tạo giống kháng bệnh đạo ôn theo phơng pháp phả hệ là một phơngpháp có khả năng định hớng trớc từ giai đoạn chọn bố mẹ để truyền lại cho concháu ở các thế hệ sau trong quá trình tái tổ hợp các gen kháng Phơng pháp nuôicấy túi phấn từ cây F1 cũng có thể có nhiều khả năng cho kết quả tốt nhờ cố định
đợc tính trội kháng bệnh đạo ôn ở thế hệ con F1 [14]
Khi đánh giá về khả năng di truyền tính trạng kháng bệnh đạo ôn của giốngCH3, giống CH133 do Viện Cây lơng thực và cây thực phẩm chọn tạo từ cặp laiDCH1/424 và lúa khô Nghệ An/ Xuân số 2, tác giả Lê Xuân Cuộc, Vũ TuyênHoàng, Hà Minh Trung (1993) [8] đã kết luận: Mỗi giống có ít nhất 1 gen trộiriêng kháng bệnh đạo ôn Đây là cơ sở cho công tác lai tạo giống kháng bệnh
đạo ôn có hiệu quả trong sản xuất
Ngô Vĩnh Viễn, Hà Minh Trung và ctv (1991-1995) [19] sau khi nghiêncứu về thời gian duy trì tính kháng bệnh của một số giống lúa kháng bệnh đạo
ôn ở các vùng sinh thái khác nhau đã kết luận: Sự thay đổi khả năng ký sinh củanấm gây bệnh đạo ôn đợc biểu hiện rõ nhất là sự đổ vỡ tính kháng bệnh của cácgiống kháng bệnh sau một thời gian gieo cấy trên đồng ruộng ở các vùng sinhthái khác nhau tốc độ thay đổi khả năng ký sinh của nấm gây bệnh đạo ôn cũngkhác nhau Ngoài ra, nguyên nhân gây nên sự đổ vỡ tính kháng còn phụ thuộcvào gen kháng Nh vậy, vấn đề tuyển chọn gen kháng bệnh là vấn đề đợc quantâm trong công tác lai tạo và tuyển chọn giống kháng bệnh
2.2.5 Một số biện pháp phòng trừ bệnh đạo ôn
Nấm gây bệnh đạo ôn tồn tại trên hạt giống, rơm rạ, cỏ dại, đất trồng, lúachét bằng sợi nấm, bào tử và truyền lan bệnh bằng nhiều con đờng khác nhau
Để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn sự phát triển bệnh nhằm đảm bảo ổn định
và tăng năng suất lúa, cần thiết phải áp dụng đồng bộ hệ thống các biện pháp
Trang 22phòng trừ tổng hợp bao gồm các biện pháp kỹ thuật canh tác, sử dụng giốngkháng bệnh, bố trí cơ cấu giống theo mùa vụ thích hợp và biện pháp hoá học[13].
Điều chỉnh hợp lý các biện pháp canh tác, bố trí thời vụ hợp lý, sử dụnggiống kháng bệnh có tác dụng phòng ngừa, hạn chế bệnh lây lan trên đồngruộng Đồng thời, điều chỉnh hợp lý các biện pháp canh tác còn có tác dụng điềuhoà môi trờng sống và sự sinh trởng, phát triển của cây, nâng cao tính chốngchịu bệnh cho cây Tuy nhiên, khi bệnh đạo ôn đã phát sinh thành dịch thì biệnpháp hoá học là biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn dịch bệnh trên đồng ruộng mộtcách nhanh nhất Việc sử dụng thuốc có hiệu quả, kinh tế và an toàn là vấn đềtrọng tâm đợc u tiên trong các nghiên cứu
Quá trình sử dụng thuốc trừ bệnh đạo ôn ở nớc ta thực sự đợc bắt đầu
từ việc dùng Falidan xử lý giống, phun nớc thuốc Falidan nồng độ 0,1% hoặc rắchỗn hợp thuốc Falidan với vôi bột theo tỷ lệ 1: 20 đến 1:10 khi bệnh phát sinhtrên đồng ruộng Tuy nhiên, thuốc Falidan có hiệu lực thấp, ít có tác dụng diệttrừ khi bệnh đã phát sinh thành dịch Hơn nữa Falidan là hợp chất chứa thuỷngân nên rất độc cho ngời, gia súc, dễ gây cháy lá lúa Vì thế thuốc này từ lâu đã
bị cấm sử dụng và đợc thay thế bằng nhiều loại thuốc khác [13]
Hiện nay trên thị trờng thuốc BVTV, thuốc trừ bệnh đạo ôn rất đa dạng
và phong phú Tuy nhiên, hiệu lực của từng loại thuốc cũng rất khác nhau
Mai Thị Liên, Hà Minh Trung và ctv (1994) [12]; Ngô Vĩnh Viễn, Hà MinhTrung và ctv (1991- 1995) [19] sau khi khảo sát hiệu lực của 4 loại thuốctrừ bệnh đạo ôn (gồm Kitazin, Hinosan, Fujione, Kasai) ở trong phòng thínghiệm và trên đồng ruộng đã đa ra nhận xét: Thuốc Hinosan và Fujione có thểdiệt đợc nấm bệnh trên môi trờng nhân tạo, Kitazin chỉ ức chế đợc nấm khôngphát triển chứ không thể diệt đợc nấm Trên đồng ruộng, hiệu lực của Kitazincũng tỏ ra kém hơn Trong 4 loại thuốc trên, Fujione có hiệu lực trừ bệnh caohơn hẳn Đối với bệnh đạo ôn cổ bông, biện pháp phun kép (phun thuốc 2 lần:Lần 1 vào thời điểm trớc trỗ 7 ngày; lần 2 sau lần 1 là 7 ngày) là biện pháp hữuhiệu nhất
Khi nghiên cứu các biện pháp phòng trừ bệnh đạo ôn hại lúa ở các tỉnhmiền Trung, Hà Minh Trung (1996) [17] đã tiến hành khảo sát hiệu lực trừ đạo
ôn của 3 loại thuốc Fujione 40EC, NewHinosan 30EC, Beam 75WP Kếtquả khảo sát cho thấy: Thuốc Beam 75WP có hiệu lực trừ bệnh cao nhất
Theo Lê Lơng Tề (2002) [16], để phòng trừ bệnh đạo ôn cổ bông nên
sử dụng sử dụng thuốc Kasai 21,2WP với lợng 1-1,5 kg/ha
Trang 23Theo Phạm Thị Minh Hà (2007) [10], thuốc Beam 75WP với liều lợng0,22kg/ha có hiệu lực cao và kéo dài đối với đạo ôn lá và đạo ôn cổ bông
Để góp phần hạn chế việc sử dụng thuốc hoá học trong phòng chống bệnh
đạo ôn, một số tác giả đã nghiên cứu theo hớng “Điều tra thành phần bệnh hại, diễn biến bệnh đạo ôn hại lúaứng dụng nguyên lý kích thíchtính kháng bệnh lu dẫn”, coi đây nh là biện pháp sinh học đối phó với bệnh đạo
ôn trên lúa [11]
Tóm lại, một số kết quả nghiên cứu điển hình về bệnh đạo ôn mà chúngtôi đã thu thập đợc và nêu ra trên đây đều mang tầm ý nghĩa rất quan trọng Nócho ta biết đợc đặc điểm phát sinh, gây hại của bệnh, các biện pháp phòng trừbệnh trong từng thời kỳ nhất định Khi nghiên cứu về bệnh, việc tìm hiểu các kếtquả nghiên cứu này là việc làm cần thiết và có nghĩa Đó là những cơ sở lý luậnmang tính định hớng trong nghi mới đối với bệnh đạo ôn lá
Trang 24Phần III Vật liệu và phơng pháp nghiên cứu
31 Đối tợng , vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tợng nghiên cứu
Điều tra tình hình hại lúa, diễn biến tình hình bệnh đạo ôn hại lúa vụ xuânnăm 2010 và biện pháp phòng trừ bệnh đạo ôn hại lúa bằng thuốc hoá học tạihuyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
+ Các giống lúa đang gieo cấy trong vụ xuân tại huyện Lục Ngạn tỉnh BắcGiang nh giống KD1 8, Q5, ĐB 5, ĐB 6, Khang dân đột biến và các lúa lai: Qu 1,Thục hng 6, Syn 6, TH3-3, Phú u 1.v.v
+ Một số loại thuốc hoá học phòng trừ bệnh đạo ôn hại lúa nh: Kasumin2L, Filia 525 SE, FuJione 40 WP.v.v
3.1.3 Thời gian và địa điểm nghiên cứu
+ Điều tra thành phần bệnh hại, mức độ phổ biến và tác hại của một sốbệnh hại chính hại lúa vụ xuân năm 2010
+ Điều tra ảnh hởng của các yếu tố sinh thái kỹ thuật đến sự phát sinh pháttriển của bệnh đạo ôn hại lúa vụ xuân năm 2010 tại một số hợp tác xã
+ Bớc đầu khảo sát hiệu lực của một số thuốc hoá học phòng trừ bệnh đạo
ôn hại lúa ngoài đồng ruộng
3.2 Phơng pháp nghiên cứu
* Phơng pháp điều tra xác định thành phần và mức độ phổ biến của bệnh
đạo ôn hại lúa vụ xuân năm 2010
- Chọn cánh đồng cấy đại diện cho các chân đất (cao, vàn, trũng) để điềutra
- Chọn các ruộng lúa điều tra đại diện cho các giống lúa gieo cấy tại địaphơng Mỗi giống lúa cần chọn 3 ruộng đại diện cho các trà lúa (cấy sớm, chính
vụ, muộn hoặc cùng một trà lúa cấy.v.v.)
- Mỗi ruộng (coi là điểm lớn), điều tra theo phơng pháp 5 điểm chéo góc,mỗi đIểm lấy 10 dảnh ngẫu nhiên trong 10 khóm lúa Cây đầu tiên điều tra phảicách bờ ruộng ít nhất 2m, đếm tổng số lá trên các dảnh điều tra, đếm tổng sốdảnh và số lá bị bệnh Điều tra theo giai đoạn sinh trởng của cây lúa, điều tra
định kỳ 7 ngày 1 lần, ghi chép vào phiều điều tra theo dõi Từ đó phân tích xác
định thành phần bệnh hại, mức độ phổ biến, thời gian phát sinh và bộ phân bị hạicủa các bệnh hại lúa ngoài đồng ruộng
Sơ đồ xác định điểm điều tra:
Trang 25Chỉ tiêu theodõi: Tỷ lệ bệnh (TLB%) và chỉ số bệnh (CSB%).
*Điều tra diễn biến bệnh đạo ôn hại lúa ngoài đồng ruộng
Phơng pháp chọn ruộng điều tra đợc tiến hành nh phơng pháp điều tra xác
định thành phần bệnh hại lúa, số liệu điều tra cần phản ánh đợc hiện trạng bệnh
đạo ôn ngoài đồng ruộng có liên quan đến các yếu tố sinh thái nh:
+ ảnh hởng của các giống lúa đến bệnh đạo ôn
+ ảnh hởng của các giai đoạn sinh trởng đến mức độ nhiễm bệnh đạo ôn.+ ảnh hởng của các trà lúa cấy (sớm, chính vụ, muộn) đến bệnh đạo ôn.+ ảnh hởng của địa thế đát đai đến bệnh đạo ôn (40 khóm; 45 khóm; 50khóm/m2)
+ ảnh hởng của lợng phân đạm bón (3kg; 5kg; 7 kg urê/ sào bắc bộ) đếnbệnh đạo ôn
+ ảnh hởng của lợng phân lân bón (0kg; 5kg; 10 kg lân/ sào bắc bộ) đếnbệnh đạo ôn
+ ảnh hởng của lợng phân kali bón (0kg; 2kg; 4 kg kali/ sào bắc bộ) đếnbệnh đạo ôn
Tuỳ theo diện tích lúa cấy trên cánh đồng ở mỗi giống mà có thể chọn từ 3– 5 ruộng điều tra Trên mỗi ruộng, tiến hành điều tra theo phơng pháp 5 điểmchéo góc, mỗi điểm điều tra 10 dảnh ngẫu nhiên trong 10 khóm (cần cố địnhkhóm lúa điều tra), đếm tổng số lá trong 10 dảnh, lá và tính tổng số dảnh, lá bịbệnh và mức độ nhiễm bệnh ở từng cấp Điều tra định kỳ 7 ngày 1 lần, chỉ tiêutheo dõi qua TLB (%) và CSB (%)
Trang 26Cấp 1: <1% diện tích lá bị hại
Cấp 3: 1% đến 5% diện tích lá bị hại
Cấp 5: >5%đến 25% diện tích lá bị hại
Cấp 7: >25% đến 50% diện tích lá bị hại
Cấp 9: >50% diện tích lá bị hại
Phân cấp bệnh đạo ôn trên bông lúa
Công thức I: Đối chứng (không phun thuốc)
Công thức II: Kasumin 2L (nồng độ thuốc dùng theo kheo khuyến cáo)Công thức III: Filya 525 SE hoặc Fuji one 40 WP (nồng độ thuốc dùngtheo kheo khuyến cáo)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm khảo sát hiệu lực của thuốc nh sau:
Trang 27Chỉ tiêu theo dõi:
Điều tra mức độ nhiễm bệnh đạo ôn hại lúa trớc khi phun, sau khi phun 7 ngày, 14 ngày và 21 ngày, tính độ hữu hiệu của thuốc theo công thức Henderson – Tilton:
Hiệu lực thuốc (%) = ( 1- Ta x CbTb x Ca ) x 100Trong đó:
Ta: Mức độ bệnh (%) ở công thức thí nghiệm sau xử lý
Tb: Mức độ bệnh (%)ở công thức thí nghiệm trớc xử lý
Ca: Mức độ bệnh (%) ở công thức đối chứng sau xử lý
Cb: Mức độ bệnh (%) ở công thức đối chứng trớc xử lý
Trang 28Phần IV Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Điều kiện tự nhiên – kinh tế x hội của huyện Lục Ngạnã hội của huyện Lục Ngạn
4.1.1 Điều kiện tự nhiên:
+ Phía Bắc tiếp giáp với Chi Lăng và Hữu Lũng - Lạng Sơn
+ Phía Đông giáp với Sơn Động - Bắc Giang và huyện Lộc Bình - Lạng Sơn.+ Phía Tây và phía Nam giáp với huyện Lục Nam của tỉnh Bắc Giang
Qua thống kê cho chúng ta biết huyện Lục Ngạn có tổng diện tích tự nhiênlà: 101.223,72 ha, với 30 đơn vị hành chính, đợc chia thành 2 vùng rõ rệt: Vùngcao gồm 12 xã, vùng thấp gồm có 17 xã và một thị trấn (Thị trấn Chũ)
Chũ là một trung tâm kinh tế của huyện nằm dài trên quốc lộ 31 Ngoài ratrên địa bàn huyện còn có nhiều tuyến giao thông quan trọng khác chạy qua nhquốc lộ 29, tỉnh lộ 258 và 290.v.v nhìn chung Lục Ngạn là một huyện miền núi,nhng lại có vị trí địa lí tơng đối thuận lợi để giao lu, phát triển kinh tế, tạo nhiềucơ hội để hội nhập kinh tế các huyện trong tỉnh, đặc biệt là thành phố Bắc Giang.Qua đó nhanh chóng tiếp cận với thị trờng trong khu vực và trên cả nớc
4.1.1.2 Đặc điểm về điều kiện đất đai
Lục Ngạn có tổng diện tích đất tự nhiên là 101.223,72 ha, trừ diện tích mặtnớc (ao, hồ, sông, suối.v.v.) diện tích núi đá và một số diện tích khu dân c, cònlại diện tích điều tra thổ nhỡng là 96.511,93 ha chiếm 95,3% diện tích tự nhiên.Trong đó diện tích nông nghiệp là 12984,31 ha chiếm 12,82 % diện tích tựnhiên Phần lớn đất nông nghiệp của huyện đã đợc sử dụng vào canh tác trồngcác loại cây trồng khác nhau Ngoài trồng lúa còn có nhiều loại cây khác nh:
đậu, lạc, ngô, rau.v.v đều mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngời dân Kết quả
điều tra thổ nhờng và điều tra bổ sung cho thấy Lục Ngạn có 6 nhóm đất chính
và 14 nhóm đất phụ nh sau:
Bảng 2: Cơ cấu các nhóm đất
Chỉ tiêu
đất tự nhiên
Trang 29+ Đất phù sa cũ, có loang lổ vàng, không bạc mầu 135,28 0,13+ Đất phù sa cũ có nhiều loang lổ bạc mầu
5 Nhóm đất Feralit ở độ cao 25-300m: có 4 nhóm 56878,42 56,18
+ Đất Feralit vàng nhạt trên đá cát, cuội kết 8626 8,52
+ Đất Feralit nâu vàng trên đất phù sa cổ 1681,14 1,66
+ Đất lúa trên sản phẩm dốc tụ không bạc màu 2245,22 2,22
+ Đất Feralit trồng lúa nớc do biến đổi không bạc màu 7504,40 7,41
Từ kết quả bảng trên cho thấy
Điều kiện đất đai của huyện Lục Ngạn rất đa dạng và phong phú, đáp ứng
đợc nhu cầu sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp cho ngời dân nơi đây Trong đódiện tích đất Feralit điển hình nhiệt đới ấm chiếm diện tích lớn nhất (56.18%)phù hợp cho Lục Ngạn phát triển vùng cây ăn quả, đặc biệt là cây vải Bên cạnh
đó diện tích đất lúa cũng chiếm một diện tích đáng kể (12,52%) đáp ứng nhu cầulơng thực cho nhân dân, Lục Ngạn đã và đang phát triển một ngành nông nghiệphàng hoá
4.1.2 Điều kiện kinh tế
4.1.2.1 Tăng trởng kinh tế:
Cùng với sự đổi mới của đất nớc, trong những năm qua tốc độ tăng trởngkinh tế của các ngành kinh tế trên địa bàn huyện Lục Ngạn đã có sự chuyển biến
rõ rệt, đặc biệt trong mấy năm gần đây lại chú trọng đẩy mạnh thơng mại và dịch
vụ Nhng không thế mà quên đi những lợi thế của ngành nông nghiệp vốn có củavùng Đi đôi với ngành thơng mại - dịch vụ thì ngành nông nghiệp cũng chuyểnhớng sang sản xuất hàng hoá đáp ứng cung cầu hợp lý nhằm tạo điều kiện giảiquyết việc làm cho ngời dân trong vùng Trớc sự phát triển đi lên của huyện là
động lực thu hút vốn đầu t của nhiều thành phần kinh tế khác Đặc biệt đángquan tâm hơn là trên địa bàn huyện ở nhiều địa phơng xuất hiện nhiều mô hìnhsản xuất giỏi trên các lĩnh vực nông lâm nghiệp, dịch vụ đó là những mô hình đã
và đang đợc áp dụng trên khắp mọi miền tổ quốc nói chung và trên địa bàn LụcNgạn nói riêng
4.1.2.2 Thực trạng phát triển kinh tế:
Lục Ngạn là một huyện miền núi, có nhiều anh em dân tộc khác nhau chungsống Điều kiện địa hình phức tạp, đi lại gặp nhiều khó khăn trong quá trình giao
Trang 30lu kinh tế trình độ dân trí cha cao, nên trong quá trình phát triển kinh tế còn gặpnhiều khó khăn dẫn đến thu nhập bình quân hàng năm còn thấp, nguồn thu chủyếu vẫn dựa vào ngành nông nghiệp Lục Ngạn đã và đang mở ra cánh cửa thơngnghiệp và dịch vụ và trong khoảng thời gian không xa Lục Ngạn sẽ là một điểmnóng thu hút vốn đầu t của các thành phần kinh tế trong cả nớc:
Trang 31Bảng 3: Cơ cấu kinh tế của huyện Lục Ngạn (%)
Điều này cho thấy Lục Ngạn đang có sự chuyển đổi cơ cấu ngành dần dần đi vàophát triển, công nghiệp, xây dựng và thơng nghiệp dịch vụ, đó là một sự chuyểnhớng hợp lý theo hớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc và của thế giới
Bảng 4: Tổng giá trị sản xuất của huyện Lục Ngạn qua các năm.
Đơn vị: Tỷ đồng
Năm
Nông Lâm - ng nghiệp 1021,288 1051,972 1167,220 1221,700Công nghiệp - xây dựng 174,800 203,773 209,280 232,940Thơng mại - dịch vụ 229,457 260,000 312,000 366,280Tổng giá trị sản xuất 1427,547 1515,700 1688,500 1820,920
Từ kết quả bảng 4 cho thấy: Các ngành nghề sản xuất đều có sự gia tăng,kết quả năm sau luôn tăng hơn năm trớc, đó là kết qủa của sự chỉ đạo sản xuấtcủa các cơ quan, hữu quan trên địa bàn huyện Nhng do là một huyện miền núi, códiện tích đất nông nghiệp rộng lớn, nên ngành nông nghiệp vẫn đóng vai trò chủ
đạo Tuy nhiên qua mấy năm gần đây, các ngành công nghiệp, xây dựng, thơngmại - dịch vụ đã có nhiều bớc tiến đáng kể Mang lại giá trị trong tỷ trọng pháttriển kinh tế của huyện và đã từng bớc làm thay đổi bộ mặt của huyện
4 1.2.3 Nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành kinh tế có vai trò quan trọng chủ đạo của vùng.Diện tích đất nông nghiệp trong những năm gần đây có xu hớng giảm, doquá trình đô thị hoá, do chiến lợc thay đổi cơ cấu cây trồng của huyện để phùhợp với lợi thế vốn của của vùng
Trang 32Từ kết quả bảng 5 cho thấy cây lơng thực vẫn là cây chủ đạo Sau đó làcây thực phẩm, đó là những cây trồng có ý nghĩa thực tế nhằm cung cấp lơngthực thực phẩm cho nhân dân Nó là tiền đề để phát triển các ngành kinh tế khác.
Bảng 6: Diện tích và sản lợng một số cây trồng chính qua 2 năm (2008-2009)
Diện tích lúa năm 2009 là 7736ha giảm 390ha so với năm 2008 nhng năngsuất tăng lên 46,3tạ/ha
+ Diện tích cây ngô năm 2009 là 1898 đạt 111,6% kế hoạch, bằng 115,4%năm 2008, năng suất 32,4tạ/ha cao hơn 7,5tạ/ha so với năm 2008 Sản lợng đạt6.151 tấn
+ Diện tích sắn có giảm một ít, nhng sản lợng lại tăng, năm 2009 đạt15.370 tấn
- Cây ăn quả cũng có sự gia tăng kể cả về diện tích và sản lợng Trong đó
có cây vải là cây mũi nhọn của vùng, năm 2009 đã cho một vụ mùa bội thu, đãnâng sản lợng lên 13.110 tấn
Bên cạnh đó một số sản phẩm của cây lơng thực, cây thực phẩm kháccũng có sự gia tăng Năm 2009 cây rau các loại đạt 1.295ha, sản lợng cũng đạt13.120 tấn
Từ những kết quả trên chúng ta phải nói rằng Lục Ngạn đang phát triểnmột ngành nông nghiệp đa thành phần, nhiều chủng loại Để đáp ứng nhu cầutiêu dùng, cũng nh xuất khẩu mang lại hiệu quả kinh tế không nhỏ cho ngời dânnơi đây Lục Ngạn đang mở ra một cánh cửa kinh tế, thu hút sự chú ý của các
"tỉnh bạn"
4.1.3 Điều kiện khí hậu