1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus Richardson, 1846) trong giai đoạn cá giống nuôi tại ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh

59 383 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 6,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chính xác và có những giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu thiệt hại do chúnggây ra.Được sự đồng ý của Khoa Thú y - Trường Đại Học Nông nghiệp HàNội, Trung tâm Quan trắc Cảnh báo Môi trườn

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 3

1.2 Mục đích nghiên cứu 4

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 5

2.1.Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên thế giới 5

2.2 Tình hình nghiên cứu KST ở Việt Nam 9

2.3.Tình hình nghiên cứu KST thuộc họ cá Chép trên thế giới 13

2.4 Nghiên cứu KST trên cá Chày mắt đỏ tại Việt Nam 15

PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .17

3.1 Đối tượng nghiên cứu 17

3.2 Nội dung 18

3.3 Nguyên liệu 18

3.3.1 Số mẫu thu, cỡ cá thu 18

3.3.2 Dụng cụ và hoá chất cần thiết trong nghiên cứu ký sinh trùng trên cá 18

3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.4.1 Thu mẫu cá 19

3.4.2 Thu mẫu ký sinh trùng 19

3.4.3 Cố đinh, bảo quản 22

3.4.4 Nhuộm mẫu, làm tiêu bản 22

3.4.5 Cách tính cường độ và tỉ lệ nhiễm 24

PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Mẫu nghiên cứu 26

4.2 Thành phần ký sinh trùng ký sinh trên cá chày mắt đỏ giai đoạn cá giống 26

4.2.1 Loài Chilodonella piscicola 26

4.2.2.Loài Ichthyophthyrius multifiliis 27

Trang 2

4.2.3.Loài Dactylogyrus manschuricus 29

Trang 3

4.3 Mức độ nhiễm ký sinh trùng 35

PHẦN V: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 46

5.1 Kết luận 46

5.2 Đề xuất 46

Trang 4

PHẦN I: MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề.

Nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản đã có từ lâu đời và ngày càngphát triển mạnh mẽ vào thập niên cuối của thế kỷ 20 và những năm đầu củathế kỷ 21 Hình thành một ngành kinh tế mũi nhọn, mỗi năm đóng góp hàng tỉđồng vào ngân sách nhà nước Theo chiến lược của ngành Thủy sản đến năm

2010 xuất khẩu thuỷ sản đạt 891 nghìn tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạttrên 4 tỉ USD Tuy nhiên theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản ViệtNam (VASEP) cho biết: trong năm 2008, xuất khẩu thủy sản của cả nước đạttrên 1,2 triệu tấn, trị giá đạt trên 4,5 tỷ USD, tăng 33,7% về khối lượng và19,8% về giá trị so với năm trước

Bên cạnh những kết quả tăng trưởng vượt bậc như vậy đồng thời nguồntài nguyên Thuỷ sản cũng bị khai thác quá mức làm cho nguồn lợi thuỷ sản tựnhiên nói chung và nguồn lợi thuỷ sản nước ngọt nói riêng ngày càng trở nêncạn kiệt, một số loài cá trở nên quý hiếm và có nguy cơ diệt vong như cáChiên, cá Anh vũ,…trong đó có cá Chày mắt đỏ cần được bảo tồn và pháttriển

Trong các thuỷ vực nuôi cá nước ngọt bệnh làm giảm sinh trưởng của

cá cá chậm lớn, ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm hoặc gây tử vong cho

cá, dẫn đến thiệt hại lớn cho nghề nuôi cá Nhiều loài ký sinh trùng là nguyênnhân gây ra những bệnh nguy hiểm cho cá đặc biệt ở giai đoạn cá hương và

cá giống làm cho cá chết hàng loạt như nhóm đơn bào ngoại ký sinh, sán láđơn chủ, giun và giáp xác Đồng thời, bệnh do KST còn là nguyên nhân mởđường cho các tác nhân gây bệnh khác xâm nhập gây bệnh như vi khuẩn,nấm…

Bởi vậy, trong quá trình sinh sản nhân tạo và ương nuôi muốn đạt tỉ lệsống cao, cá phát triển tốt thì việc theo dõi bệnh thường xuyên là việc làm rấtcần thiết đặc biệt là giai đoạn cá giống giúp chúng ta phát hiện bệnh kịp thời,

Trang 5

chính xác và có những giải pháp hữu hiệu nhằm giảm thiểu thiệt hại do chúnggây ra.

Được sự đồng ý của Khoa Thú y - Trường Đại Học Nông nghiệp HàNội, Trung tâm Quan trắc Cảnh báo Môi trường và phòng ngừa dịch bệnh

Thuỷ sản khu vực miền Bắc chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên

cứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (Squaliobabus Curriculus Richardson, 1846) trong giai đoạn cá giống nuôi tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh”

1.2 Mục đích nghiên cứu

Đánh giá mức độ nhiễm KST ký sinh trên cá Chày mắt đỏ trong giaiđoạn cá giống nuôi tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ sản 1

Trang 6

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1.Tình hình nghiên cứu ký sinh trùng trên thế giới

Ký sinh trùng ở cá được nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19, từ thời củaLinnea (1707- 1778) nhưng mãi đến năm 1929 Viện sỹ A.V Dogiel (C-1955)thuộc Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô cũ mới đưa ra cuốn sách: “phươngpháp nghiên cứu ký sinh trùng trên cá” đã mở ra một hướng phát triển mớicho nghiên cứu về khu hệ ký sinh trùng ký sinh trên cá và các loại bệnh cá do

ký sinh trùng gây ra Có thể nói V.A Dogiel là người đặt nền móng chonghiên cứu này và phương pháp nghiên cứu của ông hiện nay vẫn được cácnhà khoa học áp dụng rộng rãi (Đỗ Thị Hoà, 2004).Từ năm 1929-1970 hàngloạt các công trình nghiên cứu về ký sinh trùng ký sinh trên cá nước ngọt vànước lợ được công bố ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới

Tại Thái Lan, 1916- 1927 nhà ký sinh trùng học người Mỹ C.B Wilson

đã phát hiện ra hai loài rận cá mới trong khu hệ cá nước ngọt ở đây Sau mộtnăm cũng ở Thái Lan, ông lại có những mô tả về loài giận cá mới ký sinh trên

cá Trê

Theo M.A.Tubangi, 1947, tại Phillipine đã nghiên cứu phát hiện một

số loài Sán lá đơn chủ (Monogenea), sán lá song chủ (Digenea), giun tròn và

giun đầu móc, góp phần làm phong phú thêm những phát hiện về khu hệ KST

cá nước này.Theo Velasquez, 1951 đã phát hiện mô tả về một loài Giáp xác

ký sinh trên da cá đông thời ông cũng có hơn 30 công trình phân loại - nghiêncứu vòng đời của giun sán ký sinh (Lumalan và Arthus, 1992)

Ngành KST học của Inđônêxia thực sự phát triển là nhờ M.Sachlan,

năm 1952 ông viết cuốn “Notes on the parasites of freshwater fish in Indonesia”, đây là cuốn sách có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu

khu hệ KST cá nước ngọt tại Phillipine sau này (Arthur, 1996)

Trang 7

Ở Liên Xô, Bychowsky và ctv, 1962 đã giới thiệu bảng phân loại KST

cá nước ngọt ở Liên Xô, trong đó bổ sung 1.211 loài Bảng phân loại này sauđược tái bản và bổ sung bởi B Schulman và Gussev (1984;1985) với hơn2.000 loài.(Đỗ Thị Hoà, 2004)[4]

Tại Ấn Độ, theo I Lan Parperna, 1965 đã công bố 116 loài KST trên cánước ngọt, trong đó 20 loài Sán đơn chủ, 13 loài Sán song chủ, 43 dạng ấutrùng, 7 loài Sán dây cả ở giai đoạn non và giai đoạn trưởng thành, một loàigiun đầu móc, một loài đỉa, 1 loài móc lông và 6 loài giáp xác Theo tổng kếtcủa Thapar, 1976 thành phần loài trong khu hệ KST của Ấn Độ ngày mộtphong phú: Tính riêng loài sán lá đơn chủ, đến năm 1972 là 80 loài, nhưngđến năm 1973 thì con số này đã thay đổi lên tới 100 loài.(Hà Ký và BùiQuang Tề, 2007)[7]

Theo thống kê của Tổ chức Nông Lương hợp quốc (FAO), Trung Quốc

là một trong 7 quốc gia có ngành thuỷ sản phát triển vào bậc nhất thế giới.Theo ông Ms Cen Feng (1998) thì sản lượng thuỷ sản của nước này chiếm50% sản lượng thuỷ sản thế giới Trong những năm gần đây chính phủ TrungQuốc đã đầu tư hơn 1 tỷ USD để phục vụ công tác nghiên cứu và kiểm soátbệnh Về vấn đề nghiên cứu KST ở Trung Quốc, đến năm 1975 Chen Chinleu

và ctv đã tổng kết và cho biết Trung Quốc đã nghiên cứu 50 loài cá nướcngọt, đã phát hiện 382 loài KST, trong đó 159 loài nguyên sinh động vật, 7loài giun đầu móc, 2 loài Đỉa, 29 loài giáp xác, 10 sán dây, 21 loài giun tròn,

33 loài sán song chủ và 1 nhuyễn thể Các loài cá đã phát hiện có KST nhiềunhất là cá Mè trắng 75 loài; cá Diếc 75 loài; Trắm cỏ 71 loài; cá Chép 61 loài;Trắm đen 53 loài, tuy nhiên đây chỉ là con tổng kết của những năm trước.Công trình nghiên cứu của Wu Zhaohe và Chen Chin Leu (1987) trong khu hệ

cá nước ngọt hồ Wuhu (Hồ Vũ) đã phát hiện 9 loài mới đối với khoa học,

chúng đều thuộc Myxospordia Nghiên cứu khu KST trong hệ thống sông

Trường Giang từ tháng 12 năm 1918 đến tháng 4 năm 1984, qua thu mẫu

Trang 8

kiểm tra 766 cá của 72 loài cá nước ngọt tìm thấy 10 loài thuộc

Acanthocephala, trong đó có 3 loài mới (Yu Yi và Wu Huisheng, 1989) Bốn loài mới thuộc Myxospordia tiếp tục được tìm thấy trên cá nước ngọt ở

Danjiang (Đơn Giang) (F Shujuan và W Jianguo, 1990)

Nghiên cứu của Xie Xiengren, 1988 trên 2 loài cá (Leiocassis longirostris và Saurrogobio Dabryi) tại Trung lưu sông Trường Giang từ

tháng 7 năm 1984 đến tháng 4 năm 1985 Xie Xiengren nhận thấy rằng các

loài thuộc giống Myxospordia như Myxidium, Macrocapsulare và Chloromyxum sp, tỷ lệ nhiễm trên hai loài cá này rất khác nhau, các loài KST

này nhiễm trên hai loài cá có tính chất mùa vụ khác nhau

Theo Zhang Q và ctv, 1993, từ tháng 1 - 1987 đến 1 - 1988, 192 mẫu

cá Mystus macropterus đã được thu từ sông Fujiang (Giang Phố) phát hiện 10

loài KST đơn bào thuộc 4 lớp, 7 họ và 7 giống Trong 7 giống này có 3 giống

mới: Trypanosoma hemibagri sp, Crytobia cheni sp và Henneguya hemibagri sp Các tiêu bản hiện đang được lưu giữ tại Phòng sinh học -

Trường Đại học Sư Phạm Tây Nam Trung Quốc

Mới đây khi nghiên cứu về Centrocestus formosanus (Trematoda),

Zeng Bo-Ping và Liao Xiang - Hua (2000) cho thấy sự nhiễm của loài Sánnày trên mang cá Trắm cỏ không mang tính mùa vụ, không ảnh hưởng bởi sựthay đổi của nhiệt độ môi trường Nghiên cứu giun sán trong khu hệ cá sôngPearl, tỉnh Quảng Đông, Phan Hongle cũng đã phát hiện và mô tả 6 loài Sán

thuộc họ Bucepbedae, trong đó có 2 loài có tên mới với khoa học Còn nhiều

những nghiên cứu khác về bệnh cá nói chung và KST nói riêng tại TrungQuốc

Không chỉ ở Trung Quốc, Liên Xô, Ấn Độ, Phillipine hay Inđônêxia màcòn nhiều quốc gia khác như Nhật Bản, Malaysia, Bangladesh… cũng có nhiềutác giả nghiên cứu KST cá Yamaguti (1894 - 1976), nghiên cứu về giun sán

Trang 9

trong số những loài Ông tìm thấy trong khu hệ KST ở Nhật Bản là 90 loài và 14giống có tên mới đối với khoa học.

L.H.Lim và ctv, trong giai đoạn nghiên cứu từ năm 1983 - 1987 phát hiện

54 loài trong khu hệ cá nước ngọt vùng bán đảo Malaysia Khu hệ cá nhiệt đớiBangladesh cũng tìm thấy 69 loài giun sán ký sinh trong đó 1 loài thuộc lớp

(Monogenea), 24 loài thuộc lớp (Digenea), 10 loài thuộc lớp (Cestoda), 28 loài thuộc lớp (Nematoda) và 6 loài thuộc lớp (Acanthocephala)

Theo Arthus, 1992 ở Phillipine, giữa tháng 7 năm 1986 và tháng 2 năm

1990 đã kiểm tra 41 thùng hàng gồm 560 cá nước ngọt nhập khẩu vào nước

này thì 82,9% số thùng bị nhiễm từ một hoặc nhiều loài KST như Trichdina Ichthyophthyrius, Trypanosoma, Myxobolus, Dactylogyrus, Gyrodactylus ascocotyle, Bothriocephalus, Lernaea và Argulus.

Theo Subasinghe và ctv, 1992, đã nghiên cứu về sự nhạy cảm của

trùng quả dưa Ichthyophthyrius multifiliis đối với cá Rô phi (Oreochromis mossambicus) ở giai đoạn cá hương Pathiratne (1992) đã có những nghiên cứu về sự ảnh hưởng của loài Rận cá Ergasilus ceylonensis tới nồng độ oxy

của cá Từ tháng 5 - 1986 đến tháng 1 - 1988, một cuộc điều tra về KST trên

cá Hồi đã phát hiện nhiều giống loài KST (RegiDas và Arthus, 1992)

Theo Hoffman và ctv, 1998, tái bản 2 cuốn “Ký sinh trùng Bắc Mỹ”

qua đó tổng kết thành phần loài khu hệ KST này gồm 75 giống KST đơn bào,

69 giống Trematoda trưởng thành và 34 dạng ấu trùng của nó Acanthocephala có 19 giống, Crustacea là 18 giống với số lượng loài của nó

là rất lớn

Theo M Sicard và ctv, 2001, nghiên cứu đặc điểm phân tử của giống

Diplozoo ký sinh trên họ cá Chép và mối quan hệ với ký chủ Kết quả phân

tích ADN của loại ribosomal và thấy rằng thành phần loài thuộc giống

Diplozoo ký sinh trên cá nước ngọt đa rạng, phong phú Có 5 loài chỉ ký sinh

trên những loài cá nước ngọt nhất định

Trang 10

Theo N L Gunter và ctv, 2008, tại Australia nghiên cứu trên họ cá

răng cưa (Serranidae) kết quả phát hiện được loài Cretomyxa spp ký sinh

trên túi mật và 7 loài đã được định danh

Theo T Laoprasert, 2008, tại Thái Lan đã nghiên cứu loài giun tròn

Ichthyouris bursata ký sinh trên cá tại các trang trại ở Bangkok và thấy rằng loài này cũng được phát hiện ở Nam Phi Vòng đời của Ichthyouris bursata

phát triển trực tiếp không qua vật chủ trung gian

Theo S Matthee và ctv, 2009, nghiên cứu trên cá nước mặn tại vùngbiển miền Trung – Châu Phi Khết quả đã phát hiện được 2 loài giun tròn mới

là Ascarophis longiovata và Neoascarophis longispicula.

Theo L H S Lim và ctv, 2009, nghiên cứu KST trên não cá ở đảoLangkawi, Malaysia đã phát hiện được một giống, loài mới thuộc lớp sán lá

đơn chủ là Sundatrema langkawiense

2.2 Tình hình nghiên cứu KST ở Việt Nam

Người đặt nền móng nghiên cứu KST cá ở Việt Nam là Albert

Billet.Ông đã phân loại được Distonum hypselobagri Billet, 1898 (Isoparochis hypse-lobagri) ký sinh trong bóng hơi của cá trê (Bùi Quang Tề,

1999)[9]

Năm 1959-1961 có cuộc điều tra về giun sán ký sinh ở cá biển vịnhBắc Bộ do một số nhà KST học ở Liên Xô cũ thực hiện Điển hình làParukhin, P.G Oschmarin, Yu- L- Mancav, ….Các tác giả tiến hành kiểm tratrên 66 loài cá kinh tế và phân loại được hơn 200 loài giun sán ký sinh (BùiQuang Tề, 1999)[9]

Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về KST ở cá nước ngọt được bắtđầu từ năm 1960 ở miền Bắc và từ sau 1975 thì công việc đó tiếp tục đượclàm ở các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và các tỉnh Đồng Bằng Sông CửuLong

Đã có nhiều công trình nghiên cứu từ sau năm 1960 Công trình nghiêncứu đầu tiên về KST và bệnh cá của Tiến sĩ Hà Ký (1960 - 1975), đối với

Trang 11

nhiều loài cá kinh tế miền Bắc Ông đã phát hiện được 120 loài ký sinh trùng

ký sinh thuộc 48 giống, 37 họ, 26 bộ, 10 lớp ký sinh trên các loài cá nướcngọt tại miền Bắc Việt Nam Trong đó có 42 loài mới, 1 giống mới đối vớikhoa học, xác định được 2 phân họ mới

Theo Đỗ Thị Hoà và ctv, 1978-1980 nghiên cứu thành phần ký sinhtrùng trên một số loài cá biển tại Khánh Hoà Kết quả phát hiện được 80 loài

ký sinh trùng ký sinh thuộc 55 giống, 17 bộ, 6 lớp Trong 80 loài thu được thì

có 46 loài sán, 18 loài giun tròn, 7 loài giun đầu móc và 9 loài giáp xác (ĐỗThị Hoà, 2004)[4]

Với khu hệ cá nước ngọt miền Trung và Tây Nguyên, Nguyễn ThịMuội và ctv (1981 - 1985) đã có một cuộc điều tra về KST ở đây, kết quảphát hiện được 105 loài KST ký sinh trên 20 loài cá nước ngọt

Theo Bùi Quang Tề, 1984-1986 đã điều tra khu hệ cá nước ngọt đồngbằng sông Cửu Long trên 41 loài cá đã xác định được 157 loài ký sinh trùngthuộc 70 giống, 12 lớp, 8 ngành, trong đó có 121 loài lần đầu tiên phát hiện ởViệt Nam, ngoài ra có 20 chưa có điều kiện xác định được tên

Từ năm 1986 - 1989, O.Sey và Moravec thu mẫu KST của một số loài

cá nước ngọt ở sông Hồng Kết quả đã phát hiện và phân loại được 16 loài sán

lá song chủ (Trematoda), 21 loài giun tròn (Nematoda), 7 loài giun đầu gai (Acanthocephala) trong đó đã mô tả 16 loài, 2 giống mới cho khoa học

Năm 1998, Bùi Quang Tề đã có công trình nghiên cứu KST trên cá Rô

phi vằn (Oreochromis niloticus) nuôi ở đồng bằng Bắc bộ, kết quả nghiên cứu

trên 1070 con cá, tìm thấy 22 loài KST Cũng trong năm đó Bùi Quang Tề vàctv khi nghiên cứu về khu hệ ký sinh trùng trên một số loài cá biển nuôi tạivịnh Hạ Long đã phân loại được 13 loài ký sinh trùng thuộc 12 giống, 11 họ,

7 bộ, 5 lớp, 3 ngành Trong số đó, cá Mú mỡ gặp 11 loài, cá Mú sáu sọc gặp 9loài, cá Mú chuối gặp 9 loài

Trang 12

Theo Trần Thị Hà, 1999, kết quả kiểm tra 385 cá thể ở 3 giai đoạn (cá

bột, cá hương, cá giống) của hai loài cá chép Ấn Độ (Labeo rohita và Cirrhina mrigala) trong hai trại giống khác nhau (Bắc Ninh và Hà Nội) đã phát hiện 13 loài ký sinh trùng thuộc 8 giống, 6 họ, 5 lớp Cá Rôhu (Labeo rohita) gặp 11 loài ký sinh trùng, cá Mrigal (Cirrhina mrigala) gặp 12 loài ký

sinh trùng

Theo Phan Thị Vân và ctv (2006) nghiên cứu bệnh trên cá Mú, cá Giònuôi tại Việt Nam đã phát hiện được 13 loài ký sinh trùng thuộc 11 họ, 7 bộ, 5lớp, 3 ngành Trong đó đa số ký sinh trùng ký sinh ở da và mang cá

Theo kết quả nghiên cứu của Dự án FIBOZOPA, 2006 tại Nam Định đãnghiên cứu trên 5 loài cá trong hai giai đoạn cá bột và cá hương cho thấy tỷ lệnhiễm ấu trùng sán lá ruột từ 8,1-48,5% cao nhất là cá Trắm cỏ 48,5% và thấpnhất là cá Chim trắng Ngoài ra còn thấy xuất hiện ấu trùng của sán lá gannhỏ trên cá Trắm cỏ với tỷ lệ 0,5% Cũng tại Nam Định nghiên cứu trên 7 loài

cá thịt nuôi thấy rằng tỷ lệ nhiễm sán lá ruột tương đối cao từ 41,7-83,5%.Trong đó cá Trắm cỏ nhiễm với tỷ lệ 83,5%, cá Mè trắng nhiễm 77,2% và đãthấy ấu trùng của sán lá gan nhỏ ký sinh trên cá Mè trắng

Theo Võ Thế Dũng và ctv, 2006, nghiên cứu ký sinh trùng có nguồngốc từ cá ở hai loài cá Mú nuôi và ngoài tự nhiên Kết quả nghiên cứu chothấy cá Mú nuôi có tỷ lệ nhiễm trung bình ấu trùng Metacercaria là 80% vàcường độ nhiễm là 35 ấu trùng/con cá Trong khi đó, cá Mú ngoài tự nhiên có

tỷ lệ nhiễm từ 86 – 95%, cường độ nhiễm lên tới 176 ấu trùng/con cá

Theo Trần Thị Kim Chi, 2006, nghiên cứu 8 loài cá nước ngọt ở Nghệ

An và thấy rằng cả 8 loài cá đều nhiễm sán lá ruột thuộc 2 họ là

Heterophyidae, Echinostomatide thuộc các giống loài Haplochis taichui, Haplochis pumilio, Haplorchis yokogawai, Centrocestus formosanus, Stellantchasmus falcatus, Echinochamus japonicus Không thấy nhiễm ấu

trùng của sán lá gan nhỏ trên 8 loài cá đã kiểm tra ở đây

Trang 13

Nghiên cứu về bệnh sán lá đơn chủ của một số đối tượng cá biển nuôitại Khánh Hoà, Đỗ Thị Hoà và Phan Văn Út (2007) đã phát hiện được 2 loài

sán lá đơn chủ ký sinh ở da (Benedenia epinepeli, Neobenedenia sp) và 4 loài sán lá đơn chủ ký sinh ở mang cá (Pseudorhapdosynochus epinepheli, Pseudorhapdosynochus sp, Diplectamum sp, Ancytocephalus sp )

Theo Nguyễn Thị Hà, 2007, nghiên cứu về ký sinh trùng có nguồn gốc

từ cá ảnh hưởng đến sức khoẻ con người đã tiến hành điều tra, phân tích trên

759 con cá Song và cá Bống Bớp, cá Đối Kết quả điều tra nghiên cứu cho

thấy, tỷ lệ cá Bống Bớp nuôi trong ao nhiễm Metacercaria 97,2%, ngoài tự

nhiên là 98,9%; trên cá Song nuôi 47,2%, ngoài tự nhiên cá song không bị

nhiễm Đã định được 8 loài sán lá song chủ (Trematoda) thuộc 2 bộ, 4 họ, 8

họ, 39 giống (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007)

Nghiên cứu của Trương Thị Hoà, 2008, nghiên cứu trên cá Dầy nuôi tạiThừa Thiên Huế kết quả thu được 11 loài ký sinh trùng thuộc 9 giống

(Myxobolus, Trichodina, Ichthyophthyrius, Dactylogyus, Gyrodactylus, Centrocestus, Aspidogaster, Argulus, alitropus), 9 họ, 9 bộ và 7 lớp.

Theo kết quả tổng hợp của Arthur R J và Bùi Quang Tề, 2008, từ cáccông trình nghiên cứu của các tác giả trong nước và ngoài nước, cho đến nay

ở Việt Nam đã điều tra nghiên cứu khu hệ ký sinh trùng trên 179 loài cá nướcngọt, nước lợ và nước mặn Tổng hợp có 592 loài ký sinh trùng (nước ngọt có

380 loài, nước lợ và nước mặn 212 loài) đã được phát hiện Trong số này, cáctác giả đã phân loại được 81 loài ký sinh trùng ở cá nước ngọt và 43 loài kýsinh ở cá nước mặn, 14 giống và 1 họ mới đối với khoa học

Trang 14

2.3.Tình hình nghiên cứu KST thuộc họ cá Chép trên thế giới

Theo Diesing, 1850 đã nghiên cứu và phát hiện ra 8 loài Dactylogyrus thuộc lớp sán lá đơn chủ (Monogenea) ký sinh trên cá trắm cỏ ở giai đoạn cá bột Sau đó Bychowsky cũng đã phát hiện được 4 loài khác Dogilius.

Trên thế giới cũng đã có những nghiên cứu bước đầu trên cá Chày mắt

đỏ là loài cá bản địa của Việt Nam, đầu tiên là năm 1955 nhà ký sinh trùng

học người Mỹ Gussev đã phân lập được một loài Monogenea ký sinh trên

mang của cá Chày mắt đỏ tại Trung Quốc Năm 1975 cũng ở đây Gussev A.V

và Ling thu mẫu cá Chày mắt đỏ tại Yangtie (Chang Jiang) và phát hiện ra 3

loài sán lá thuộc lớp Monogenea đó là Dactylogyrus sprostonea và Dactylogyrus changi, Dactylogyrus Juikhimenko.

Theo Jean – Francois, 1981 cho biết các loài cá nước ngọt ở nước này

chủ yếu thuộc họ cá chép (Cyprinidae) Đồng thời cũng ở đây nhà khoa học

Danjiang Kon Reservoir đã kiểm tra 53 mẫu cá thì thấy 26 mẫu trong 53 mẫu

nhiễm Nematoda Camallanus cotti Fujita (1927) chiếm tỉ lệ 49,06%.

Theo Li Liam Xiang và Wang Jiangua, 1993 phát hiện một loài mới

Myxidium octospinum thuộc lớp trùng bào tử có sợi tơ kí sinh trong túi nước

tiểu của cá Trắm cỏ ở hồ Bảo An – Trung Quốc Các tác giả cho biết bào tử

có hình ovan và trên bề mặt có 8 khía Nhìn bề ngoài trùng tương tự như M acanthobramas (Wu & Chen, 1997) và M hemiculteri (Fen & Wang), 1990

nhưng trùng có kích thước của bào tử nhỏ hơn

Cùng nghiên cứu về sán lá đơn chủ Bauer O N., 1969, 1977 cho biếtmột con cá mè 2 tuổi có 10,647 trùng kí sinh, cá Chép cỡ 3 - 4,4 cm cóDactylogyrus kí sinh với cường độ cảm nhiễm 20 - 30 trùng có thể làm chết

cá Cũng vào thời gian đó ông cho biết ở cá khoẻ mạnh, trọng lượng cơ thể

1,2g, trong khi đó cá bị nhiễm Gyrodactylus chỉ nặng 0,5g đồng thời hàm

lượng bạch cầu tăng và lượng hồng cầu giảm (Bùi Quang Tề, 1997)

Trang 15

Theo Rolbiecki L là nhà KST học người Ba Lan đã nghiên cứu tính đadạng phong phú của khu hệ KST ký sinh trên phân họ cá Chép và phân họ cáVược ở Vistula Lagoon từ tháng 12 – 1994 đến tháng 3 – 1997 Ông nghiêncứu trên 2398 mẫu cá (1091 mẫu cá thuộc phân họ cá Vược và 1307 mẫu cáthuộc phân họ cá Chép) Kết quả thu được 61 loài KST thuộc các lớp

Monogenea, Microsphorea, Protozoa, Myxozoa, Digenea, Cestoda, Nematoda, Canthicephala, Hidininea, Mollusca, Copepoda và Branchiura

S Stojannovski và ctv, 2008 đã nghiên cứu sự phân bố của lớp sán láđơn chủ và lớp giun tròn ký sinh trên một số loài cá trong họ cá chép từ hồPrespa, Macedonia Trong quá trình nghiên cứu, Ông và cộng sự đã phát hiện

ra 6 loài sán lá đơn chủ kí sinh trên mang của 3 loài cá thuộc họ cá chép là

Dactylogyrus prostate, Dactylogyrus sphyrna, Dactylogyrus erhardovae, Dactylogyrus elegantis, Dactylogyrus vistulae, Paradiplozoon zeller Tỉ lệ

nhiễm sán trong họ cá Chép nhìn chung khoảng 53,65% và loài được tìm thấy

nhiều nhất là Dactylogyrus sphyrna với tỉ lệ nhiễm 25,08%.

Ở Trung Quốc Xia Xiao-Qin và ctv, 2008 thuộc khoa thú y trường Đại

học Nanjing đã nghiên cứu KST thuộc lớp Monogenae kí sinh trên cá ở Trung Quốc và được kết quả như sau 570 loài trong tổng số 581 loài Monogenae hầu hết là các loài Dactylogyrus sp và Diplozoon sp kí sinh trên cá thuộc họ cá Chép Ngoài ra có cả Ancyrocephalidae ký sinh trên họ cá Chép Trong 12 giống thuộc họ cá Chép thì chỉ có Gobiobotinae là không nhiễm Monogenae.

Theo Custodio Boane và ctv, 2008, Mozambique nghiên cứu ký sinh

trùng trên cá chép đã phát hiện được 9 loài metazoan gồm: Clinostomum tilabiae, Parvitaenia samfia, Cyslustera sp, Acanthogyrus tilapiae, Contracaecum sp, Procamallanus sp, Lamproglena monodi, Lernaea cyprinacea, Dolops ranarum.

Tại Bulgaria, 2008 S.A Shukerova và ctv, 2008 nghiên cứu trên họ cáchép Kết quả thu được 168 mẫu cá nhiễm ký sinh trùng trên 180 mẫu cá kiểm

Trang 16

tra chiếm tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng là 92,2% 10 loài ký sinh trùng đã đượctìm thấy trong đó có ấu trùng sán dây.

2.4 Nghiên cứu KST trên cá Chày mắt đỏ tại Việt Nam

Người đầu tiên nghiên cứu về ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ tạiViệt Nam là tiến sĩ Hà Ký (1968) Dưới đây là thành phần loài ký sinh trùng

ký sinh trên cá Chày mắt đỏ được nghiên cứu tại Việt Nam

Các loài KST ký sinh trên cá Chày mắt đỏ

Nhóm KST Loài KST Nơi

KS

TLN (%) CĐN Tác giả

Plagioporus myxocephalus

Metacercaria haplorchis Vây, 53.85 1-11

Trang 17

pumilio looss 1896

Nematoda

Rhapdochona squaliobarbus Moravec et

Sokolivskaya 1962

(1988)

Pseudorhadinollynches vietnamesis Mora et sey

1989

(1988)

Crustacea Larvea lernaea sp Mang 7.06 2 Hà Ký (1968)

Argylus japonicus Thiele

Trang 18

PHẦN III: ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Cá chày mắt đỏ (Squalobarbus curriculus) giai đoạn cá giống nuôi tại

Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1

Cá Chày mắt đỏ thuộc :

Bộ cá chép Cyprinifomes

Họ cá Chép Cyprinida Loài cá Chày mắt đỏ Squaliobarbus curriculus

Hình 3.1 Cá Chày mắt đỏ (Squaliobarbus curriculus)

3.2 Thời gian nghiên cứu

- Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 01/01/2008 – 15/05/2009

3.3 Địa điểm nghiên cứu

- Mẫu cá được thu và phân tích tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủysản 1 Đình Bảng- Từ Sơn- Bắc Ninh

Trang 19

Hình 3.2 Ao thu mẫu cá Chày mắt đỏ

3.5 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu, phân tích, xác định thành phần giồng loài KST ký sinhtrên cá Chày mắt đỏ giai đoạn cá giống nuôi tại Viện Nghiên cứu Nuôi trồngThuỷ sản 1

- Đánh giá mức độ nhiễm KST ký sinh trên cơ thể cá Chày mắt đỏ

3.3 Nguyên liệu

3.3.1 Số mẫu thu, cỡ cá thu

- Thu trong một ao cá giống

Trang 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu

Áp dụng phương pháp nghiên cứu kí sinh trùng toàn diện trên cá củaDogiel( 1929) và có bổ sung cho phù hợp với điều kiện Việt nam của tác giả

Hà Ký và Bùi Quang Tề (2007)

3.4.1 Thu mẫu cá

Một số nguyên tắc cần lưu ý trong thu mẫu cá

Cá sử dụng trong nghiên cứu ký sinh trùng phải là cá còn sống hoặcmới bị chết chưa bị mất nhớt, ít bị tổn thương do đánh bắt

Trường hợp phải nghiên cứu ký sinh trùng ở những mẫu đông lạnhhoặc đã được cố định cần ngâm nước rửa chất cố định và làm mềm mẫu

Nghiên cứu ký sinh trùng cần tuân theo những thứ tự nhất định, nghiêncứu từ ngoại hình rồi lần lượt tới các cơ quan nội tạng bên trong

Trước lúc bắt đầu nghiên cứu phải xác định rõ tên cá, phải tiến hànhcân đo nhanh để cá không bị khô

Đo chiều dài cá gồm: chiều dài toàn bộ là chiều dài tính từ đầu mõ đếncuối vây đuôi và chiều dài chiều dài đến cuối hàng vảy gốc vây đuôi

Cân xác định trọng lượng

3.4.2 Thu mẫu ký sinh trùng

Quan sát kỹ các biểu hiện triệu chứng bên ngoài, lần lượt cạo nhớt da,mang, xem đến vây, gốc đuôi, xoang miệng, xoang mũi

Khi thu mẫu ký sinh trùng để kết quả được chính xác cần làm sạch cácsau mỗi thao tác ở các cơ quan khác nhau tránh không để ký sinh trung lẫn từ

Trang 21

cơ quan này tới các cơ quan khác Tách riêng các cơ quan, bộ phận cầnnghiên cứu ra các hộp lồng riêng biệt có gi nhãn đầy đủ tránh nhầm lẫn, giữ

ẩm cho ký sinh trùng để chúng không bị chết khi chờ làm mẫu bằng cáchkhông để các bộ phận cơ quan nghiên cứu sau khi tách riêng bị khô, lấy mộtlớp vải mỏng ướt hoặc giấy sạch bọc kín chúng lại

Khi thu ký sinh trùng cần theo dõi chúng nhằm mục đích không làmmất ký sinh trùng, không để KST dính vào ống hút tránh nhầm lẫn KST giữa

các cơ quan Thu KST là sán lá đơn chủ (Monogenea) ký sinh trên mang dùng

xilank tách từng tơ mang dưới kính giải phẫu sau đó dùng ống hút hút KSTvào đĩa lồng nhỏ.Thu KST là giun đầu móc, sán dây vì giác bám của chúngbám sâu vào thành ruột rất khó lấy ra và dễ dứt khi lấy nên phải dùng dùi giảiphẫu khoét sung quanh nơi KST bám, dùng ống hút hút KST ra

Đối với ký sinh trùng ngoại ký sinh

Ký sinh trùng đơn bào ngoại ký sinh

Cạo nhớt da, vây, mang, xoang mũi chú ý khi cạo nhớt trên thân cácần nhẹ nhàng nếu không vảy cá sẽ bong ra rất nhiều và khi đưa lên soi kínhkhó tìm KST

Nhớt thu được cho lên lam kính, nhỏ một giọt nước cất lên vị trí cómẫu sau đó đậy lamen lên trên và xem dưới kính hiển vi Ban đầu xem kính ở

độ phóng đại nhỏ để phát hiện nhũng loài ký sinh trùng có kích thước lớn, sauxem ở độ phóng đại lớn tìm ký sinh trùng có kích thước nhỏ hơn

Ký sinh trùng đa bào ngoại ký sinh

Các loài ký sinh trùng có kích thước lớn như trùng mỏ neo, các loài rậncá có thể quan sát được bằng mắt thường và có thể dùng pank thu trục tiếp.Còn các loài ký sinh trùng khác như các loài sán lá đơn chủ có kích thước nhỏhơn thi thu bằng cách cạo nhớt sau đó quan sát dưới kính hiển vi và cần thiết

có thể dùng cả kính giải phẫu

Trang 22

Nghiên cứu ký sinh trùng ở mang: Dùng kéo cắt nắp mang, cắt hai đầucuối cung mang để trên đĩa petri, cho thêm nước, xem lần lượt các cungmang, dùng xilank nhọn cẩn thận vạch xem các tia mang dưới kính giải phẫu,tiếp theo cạo nhớt mang ép trên lam kính xem dưới kính hiển vi ở độ phóngđại từ nhỏ đến lớn để không bỏ sót ký sinh trùng có kích thước nhỏ.

Đối với Ký sinh trùng nội ký sinh

Để tiến hành nghiên cứu ký sinh trùng nội ký sinh trước tiên cần tiếnhành giải phẫu cá

Thao tác giải phẫu cá

Tay trái cầm cá hơi ngửa bụng lên trên, dùng kéo nhọn chọc nhẹ vào dabụng mềm ở gần lỗ hậu môn Đầu tiên cắt một đường ngang vừa phải về phíavây lưng, cắt tiếp đường dọc theo đường bên tới phần dưới mang, sau đó dùngkéo cắt dọc bụng cho tận tới xoang mang và cắt rời vách xoang thân trái Cácthao tác phải cẩn thận tránh làm thủng các cơ quan nội tạng ở bên trong.Trước hết lấy ruột ra cùng với các cơ quan gan, túi mật, lách Dùng kéo cắtrời ruột ở chỗ xoang miệng và phần cuối ở lỗ hậu môn, sau đó thận trọng lôicác cơ quan bên trong ra cùng với ruột, để tất cả vào đĩa petri hoặc khay vàtiến hành giải phẫu tiếp Thận trọng lấy túi mật ra tránh làm vỡ mật, tiếp tụclấy các cơ quan còn lại ra khỏi cơ thể Sau khi lấy các cơ quan ra đĩa, tiếnhành quan sát, xem xét xoang bụng vì có thể có ấu trùng sán dây, giun tròn,sán lá và các ký sinh trùng khác

Kiểm tra ký sinh trùng ở các cơ quan nội tạng

Đối với các cơ quan nội tạng có xoang rỗng

Ruột, dạ dày, bóng hơi Dùng kéo hoặc dao rạch theo dường dọc các

cơ quan, cạo nhớt soi dưới kính hiển vi, lần lượt soi ở vật kính có độ phóngđại từ nhỏ đến lớn, với ruột cắt thành từng đoạn, gắp bỏ thức ăn thừa bêntrong ra, rồi làm tương tự như trên, nếu có những loài ký sinh trùng có kíchthước lớn có thể quan sát bằng mắt thường thì dùng pinxet hoặc rùi nhọn lấy

Trang 23

chúng ra sau đó cho vào nước lạnh hoặc nước muối sinh lý, nếu ruột cá quánhỏ không thể rạch được thi có thể cạo trục tiếp đoạn ruột đó, sau khi đã cạosạch nhỏ một giọt nước cất mục đích làm loãng nhớt và đảm bảo ký sinhtrùng không bị chết

3.4.3 Cố đinh, bảo quản

Ký sinh trùng đơn bào

Cố định mẫu bằng cách phết kính: Dùng lammen đặt lên trên lam kính

ở vị trí có mẫu, kéo ngược lammen về phía sau sao cho nhớt cơ thể dàn đềumột lớp mỏng trên lammen, sau đó để khô tự nhiên trong không khí, xếp mẫutrong các hộp có lót lớp giấy để bảo quản, với những mẫu cố định bằng cáchnày cần nhuộm càng sớm càng tốt (Có thể sau khi các kính phết để khô trongkhông khí nhúng vào dung dịch shaudin ấm từ 10-15 phút, sau đó rửa cồn 700

cho qua dung dịch iốt loãng trong vòng 15- 20 phút để rửa sạch thuỷ ngân,rửa lại bằng cồn iốt, bảo quản trong cồn 700)

Ký sinh trùng thuộc lớp sán lá: Định hình bằng cách đè ép giữa haiphiến kính rót cồn 700 vào giữa 2 phiến kính giữ sán ở trạng thái đó trong thờigian từ 5-10 phút tuỳ vào kích thước và độ dày của sán, có thể sử dụng nướcnóng để làm cho sán không hoạt động sau dó mới dùng cồn để cố định Ngoài

ra cũng có thể dùng Formol 4% hoặc 10% để cố định Bảo quản trong cồnhoặc formol

Sán lá đơn chủ có thể dùng ammoniac 1% để định hình và làm rõ các mócbám

3.4.4 Nhuộm mẫu, làm tiêu bản

Mẫu là các loài ký sinh trùng đơn bào:

Trùng lông (Ciliophora), trùng bào tử sợi (Myxosporea), trùng amip (Rhizopoda), vi bào tử (Microsporidia): có thể nhuộm theo hai cách nhuộm

bạc nitơrat 2% (AgNO3 2%) hoặc hematoxylin

Trang 24

Dùng bạc nitơrat 2% (AgNO3 2%): Các lammen có mẫu đã giữ khô,xếp vào đĩa petri mặt có trùng ngửa lên trên Dùng pipet nhỏ dung dichAgNO3 2% lên chỗ phết mẫu, đậy nắp đĩa petri để tất cả vào buồng tối trongthời gian 10- 15 phút, lấy ra rửa qua nước cất 3-4 lần tất cả các kính sau khirửa chuyển sang đĩa nước cất khác để mặt có trùng hướng lên trên, đem phơidưới ánh sáng mạnh của mặt trời trong thời gian từ 1- 1,5 tiếng, sau đó phơitiếp trong ánh sáng đèn thạch anh thuỷ ngân trong vòng 20- 30 phút Trongquá trình phơi cần kiểm tra các mẫu phết kính khoảng 1/2 thời gian quy định,nếu thấy trùng đã rõ các cơ quan thi ngừng phơi Rửa lại mẫu trong nước cất,

để khô tự nhiên trong không khí, gắn tiêu bản bằng nhựa canada, ghi etyket

Nhuộm mẫu dùng Hematoxylin: Lấy những mẫu đã cố định trong cồn

700 ra và rửa nước cất từ 2-3 phút, sau đó cho mẫu vào dung dịch fericsulfatamonium 3% từ 12- 24 tiếng cho mẫu gắn chặt vào kính, tiếp theo rửa nước3-5 phút rồi cho vào thuốc nhuộm hematoxylin trong khoảng 12 tiếng đểnhuộm màu, sau đó rửa qua vòi nước chảy Kính phết nhuộm màu tốt sẽ cómàu xanh lơ thẫm hoặc màu gần như đen, cho kính phết nhuộm màu vào phânbiệt trong dung dịch fericsulfat amonium 1,5%, kiểm tra dưới kính hiển vi chođến khi thấy rõ các cơ quan của trùng, rửa trong nước cất 1-2 lần Lần lượtcho qua các nồng độ cồn 500, 700, 900, 960, 1000, xylen trong thời gian từ 3-5phút Gắn tiêu bản bàng nhựa canada

Mẫu thuộc nhóm ký sinh trùng đa bào:

Sán lá đơn chủ: Có thể làm tiêu bản tươi bằng cách, để trùng trên lam,

nhỏ dung dịch amoniac 1% để định hình, rút nước bằng giấy thấm, gắn tiêubản bằng Gelatin- glycerin, hoặc nhựa canada Với những sán có kích thướclớn nhuộm màu giống như với sán lá song chủ

Sán lá song chủ: Sán được lấy ra khỏi chất cố định, rửa trong nước cất

cho đến khi hết chất cố định, để trong nước từ 30 phút đến 2 giờ, sau đó chosán đã rửa vào dung dịch Carmin, thời gian nhuộm từ 10- 60 phút tuỳ thuộc

Trang 25

vào kích thước của sán và độ dày của lớp vỏ Sán đã nhuộm tốt sẽ được rửanước và rót cồn axit HCL vào, kiểm tra mức độ phân li rõ của các cơ quandưới kinh hiển vi Làm sạch cồn và lần lượt cho các mẫu đã nhuộm qua cồn ởcác nồng độ 700, 800, 900, 960 Để làm trong mẫu dùng xylen, gắn tiêu bảnbằng nhựa canada

Đối với ký sinh trùng thộc lớp đơn bào

Tổng số trùng của 15 thị trường kiểm traCường độ nhiễm trung bình =

Trang 26

Đối với ký sinh trùng lớn: giun, giáp xác…đếm toàn bộ ký sinh trùng

Trang 27

PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1 Mẫu nghiên cứu

Bảng 4.1 : Số lượng, khối lượng và kích thước cá nghiên cứu

Số

lượng

(con)

ký sinh thuộc 03 giống và 03 họ bao gồm 1 loài trùng miệng lệch

Chilodonella piscicola 1 trùng quả dưa Ichthyophthyrius multifiliis, 2 loài sán lá đơn chủ Dactylogyrus manschuricus, Dactylogyrus hypophthamichthys.

4.2.1 Loài Chilodonella piscicola.

Trang 28

Hình 4.1 Loài Chilodonella piscola

Zancharias, 1894 Nguồn (Hà Ký và

Bùi Quang Tề, 2007)

Hình 4.2 Loài Chilodonella piscola,

(ảnh ở độ phóng đại 40x10)

Cơ thể có dạng hình trứng, phần sau của cơ thể hơi lõm, mặt lưng hơi

gù, mặt bụng phía bên phải và bên trái có có 10 hàng lông tơ Miệng từ mặtbụng có các que kitin bao quanh tạo thành miệng hình ống trên to, dưới nhỏdần như sợi chỉ rồi cong lại giống như cái kèn, phần cuối là bào hầu, miệngnằm hơi lệch về một bên nên gọi là trùng miệng lệch Trùng miệng lệch gồm

có hai nhân, nhân lớn hình tròn hoặc hình bầu dục, nhân nhỏ hình cầu Có haikhông bào co bóp ở phía trước và phía sau nhân lớn

4.2.2 Loài Ichthyophthyrius multifiliis

Ngành Ciliophora Doflein, 1901

Lớp Oligohymenophora de Puytorec et al.,1974

Phân lớp Hypostomata Delage et Herouard, 1896

Bộ Hypostomatida Delage et Herouard, 1896

Trang 29

Phân bộ Tetrahymenida Faure- Fremiet, 1956

Họ Ophryoglenidea Kent, 1881 Giống Ichthyophthyrius Fouquet, 1876 Loài Ichthyophthyrius multifiliis Fouquet,

1876

Vị trí ký sinh : Mang, da

Hình 4.3 Ichthyophthyrius multifiliis độ phóng đại 40x10

S

Ngày đăng: 16/01/2016, 10:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 3.2. Ao thu mẫu cá Chày mắt đỏ - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 3.2. Ao thu mẫu cá Chày mắt đỏ (Trang 19)
Hình 4.1. Loài Chilodonella piscola - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.1. Loài Chilodonella piscola (Trang 28)
Hình 4.3. Ichthyophthyrius multifiliis độ phóng đại 40x10 - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.3. Ichthyophthyrius multifiliis độ phóng đại 40x10 (Trang 29)
Hình 4.4. Hình dạng của Ichthyophthyrius multifiliis (theo Fouquet, - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.4. Hình dạng của Ichthyophthyrius multifiliis (theo Fouquet, (Trang 30)
Hình 4.6. Loài Dactylogyrus manschuricus (độ phóng đại 10x10) - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.6. Loài Dactylogyrus manschuricus (độ phóng đại 10x10) (Trang 31)
Hình 4.7. Giác bám của loài Dactylogyrus manschuricus (100x10) - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.7. Giác bám của loài Dactylogyrus manschuricus (100x10) (Trang 32)
Hình 4.10. Loài Dactylogyrus hypophthamichthys - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.10. Loài Dactylogyrus hypophthamichthys (Trang 33)
Hình 4.11. Đĩa bám của : Loài Dactylogyrus hypophthamichthys - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.11. Đĩa bám của : Loài Dactylogyrus hypophthamichthys (Trang 34)
Hình 4.12. Gai giao cấu của loài - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.12. Gai giao cấu của loài (Trang 35)
Hình 4.13. Gai giao cấu của loài Dactylogyrus hypophthamichthys (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007) - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.13. Gai giao cấu của loài Dactylogyrus hypophthamichthys (Hà Ký và Bùi Quang Tề, 2007) (Trang 35)
Hình 4.14. Tỷ lệ nhiễm KST trên cá Chày mắt đỏ - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.14. Tỷ lệ nhiễm KST trên cá Chày mắt đỏ (Trang 36)
Hình 4.15 : Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên da cá Chày mắt đỏ - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.15 Tỷ lệ nhiễm ký sinh trùng trên da cá Chày mắt đỏ (Trang 39)
Hình 4.16. Tỷ lệ nhiễm ký sing trùng trên mang cá Chày mắt đỏ - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 4.16. Tỷ lệ nhiễm ký sing trùng trên mang cá Chày mắt đỏ (Trang 40)
Hình 2: Chilodonella piscola Zancharias, 1894 (ảnh ở độ phóng đại 40x10) - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 2 Chilodonella piscola Zancharias, 1894 (ảnh ở độ phóng đại 40x10) (Trang 51)
Hình 3: Dactylogyrus manschuricus Gussev, 1962 độ phóng đại 100x10 - Nghiêncứu mức độ nhiễm ký sinh trùng trên cá Chày mắt đỏ (SqualiobabusCurriculus   Richardson,   1846)   trong   giai   đoạn   cá   giống   nuôi   tại   ViệnNghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản 1 Đình Bảng - Từ Sơn - Bắc Ninh
Hình 3 Dactylogyrus manschuricus Gussev, 1962 độ phóng đại 100x10 (Trang 52)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w