1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề về giáo dục ở mão điền (huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh trong những năm đổi mới (1986-2006)

95 208 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự nghiệp xõy dựng đất nước, Đảng xác định: Song song với việc phát triển kinh tế xã hội sự nghiệp giáo dục - đào tạo phải tiếp tục được đẩy mạnh.. Báo cáo chính trị của Đại hội Đả

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

1

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự giúp

đỡ khoa học của PGS.TS Nguyễn Đình Lê Những tư liệu mới trong luận văn này đều chính xác và có xuất xứ rõ ràng, kết quả nghiên cứu của luận văn chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào

Hà Nội, ngày 2 tháng 12 năm 2008

Tác giả luận văn

Đỗ Đăng Quý

Trang 3

XHHGD : Xó hội hoỏ giỏo dục

H ĐND : Hội đồng nhân dân

UBND : Uỷ ban nhõn dõn

Trang 4

Trong sự nghiệp xõy dựng đất nước, Đảng xác định: Song song với việc phát triển kinh tế xã hội sự nghiệp giáo dục - đào tạo phải tiếp tục được đẩy mạnh Tuy nhiên, trên thực tế nhiều khi giáo dục - đào tạo vẫn chưa được quan tâm đúng mức Thậm chí có nơi, có lúc giáo dục còn được coi là một bộ phận thuần tuý của lĩnh vực văn hoá, tư tưởng Nhiều người cho rằng kinh tế nước ta nghèo nàn, lạc hậu, nên giáo dục cũng phải phát triển chậm thôi Đó là quan điểm không đúng về vị trớ, vai trũ của giáo dục - đào tạo trong phỏt triển kinh tế - xó hội Đất nước muốn

đi lên trước hết phải đào tạo được đội ngũ lao động có trình độ kĩ thuật Phải quan tâm đầu tư cho giáo dục như đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho kinh tế, phải coi giáo dục là động lực để phát triển kinh tế - xã hội Kinh nghiệm của nhiều quốc gia phát triển trên thế giới là phải đầu tư lớn cho giáo dục - đào tạo, đưa sự nghiệp giáo dục - đào tạo thành vấn

đề chiến lược của quốc gia

Trang 5

4

Trong các Nghị quyết Hội nghị BCHTW Đảng lần thứ tư khoá VII năm

1993, lần thứ hai khoá VIII năm 1996 xác định: Cùng với khoa học và công nghệ Giáo dục & Đào tạo là quốc sách hàng đầu, "Giáo dục & Đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho Giáo dục & Đào tạo là đầu tư phát triển"[ 10; 61] Đồng thời các Nghị quyết đó cũng khẳng định việc đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục - đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cán bộ quản

lý và tăng cường cơ sở vật chất các trường học là một nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục - đào tạo

Báo cáo chính trị của Đại hội Đảng lần thứ IX ( tháng 4/2001) khẳng định quan điểm của Đảng là: "Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững" [9; 95] Đồng thời đề ra nhiệm vụ

"Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá" [ 9; 96 ]

Quỏn triệt quan điểm „„Giỏo dục – đào tạo là quốc sỏch hàng đầu” từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Bắc lần thứ VIII ( thỏng 11/1991) chủ trương tiếp tục đẩy mạnh đổi mới sự nghiệp giỏo dục - đào tạo:„„ Tiếp tục đổi mới và nõng cao chất lượng giỏo dục

- đào tạo Thực hiện cú kết quả nhiệm vụ phổ cập giỏo dục tiểu học và chống

mự chữ Sắp xếp lại trường lớp hiện cú phự hợp với yờu cầu phỏt triển giỏo dục” [15; 40]

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, sự quan tâm của chính quyền, sự nỗ lực của toàn dân, đội ngũ thầy cô giáo, hàng nghìn học sinh các cấp học, sự nghiệp giáo dục - đào tạo xó Mão Điền - huyện Thuận Thành -

Trang 6

5

Bắc Ninh có bước phát triển mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu quan trọng

Từ năm 1991- 2007, xó Móo Điền cú 1114 người học xong hoặc đang học đại học, cao đẳng, chiếm 7% tổng số dõn Cứ 2 hộ ở Móo Điền một người cú trỡnh độ đại học, cao đẳng trở lờn Năm 2008, Móo Điền cú 197 học sinh đỗ đại học, cao đẳng Mão Điền trở thành điểm sáng giáo dục của huyện, của tỉnh và của cả nước

Sau hơn hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng về giáo dục và đào tạo, sự nghiệp giáo dục - đào tạo đã có những tác động to lớn đến kinh tế, xã hội địa phương Tấm gương giáo dục Mão Điền đã vang xa, được các địa phương trong cả nước biết đến Nhiều địa phương cử đoàn đại biểu đến học tập kinh nghiệm mô hình giáo dục ở đây

Chính vì vậy nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về điểm sáng giáo dục Mão Điền, trên cơ sở đó nêu lên được những kiến giải để góp phần xây dựng một nền giáo dục mới phục vụ yờu cầu xây dựng đất nước, quê hương hiện tại

Với những ý nghĩa đó tôi đã chọn:„„Một số vấn đề về giáo dục ở xã Mão Điền ( huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) trong những năm đổi mới (1986-2006)” để làm đề tài luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử của mình

2) Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Với những thành tớch giỏo dục Móo Điền đạt được, trong những năm gần đây cú một số cụng trỡnh, bài viết đề cập đến chủ đề này:

Cuốn: Lịch sử giáo dục Bắc Ninh của Sở giáo dục và đào tạo Bắc Ninh

(Nhà xuất bản văn hoá 1995) đã phân tích quá trình hình thành và phát triển của giáo dục tỉnh trong lịch sử, nêu lên những nguyên nhân và bài học của quá trình phát triển đó Viết về giai đoạn từ 1986-2005, cuốn sách dành một phần trỡnh bày về khuyến học, khuyến tài ở Móo Điền

Trang 7

6

Cuốn: Lịch sử giáo dục Thuận Thành của phòng giáo dục và đào tạo

huyện Thuận Thành ( Nxb văn hoá dân tộc, 1997 ) nờu khái quát quá trình phát triển và thành tựu giáo dục huyện trong lịch sử Viết về thành tựu giỏo dục huyện trong những năm đổi mới từ 1986 - 2006, cuốn sỏch dành một phần núi đến điểm sáng giáo dục Mão Điền

Cuốn: Lịch sử xã Mão Điền của Đảng uỷ, uỷ ban nhân dân xã ( Nxb văn

hoá dân tộc, 1997) viết về quá trình hình thành, đấu tranh, và phát triển của địa phương trong lịch sử, trong đó một phần đề cập đến giáo dục xã qua các giai đoạn phát triển

Bài: Điểm sáng khuyến học - điểm sáng giáo dục Mão Điền của nhà giáo

ưu tú Nguyễn Tiến Trấn - báo văn nghệ Bắc Ninh (4-2005) phân tích công tác khuyến học ở Mão Điền, nêu lên một số cách làm khuyến học có hiệu quả của nhân dân trong xã

Bài: Mão Điền gieo và gặt tri thức của Thuỳ Hương - báo Nhân dân số

ra ngày mười bốn tháng Giêng năm 2007 viết về những gia đình điển hình hiếu học ở Mão Điền

Đề án: Phát triển sự nghiệp giáo dục, đào tạo xã Mão Điền đến năm

2000 của Nguyễn Xuân Viên - nguyên hiệu trưởng trường THCS Mão Điền

nói về thực trạng giáo dục xã, từ đó nêu lên những bài học, phương hướng tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục xã

Ngoài ra còn nhiều những bài báo: Mão Điền làm khuyến học của

Nguyễn Thị Trâm số báo đặc biệt tháng Giêng năm 2006 báo giáo dục và thời

đại, bài: Vùng quê nghèo nuôi con vào đại học trang đời sống - xã hội, báo

công an Nhân dân

Tuy nhiên những bài viết, những công trình đó mới chủ yếu tìm hiểu giáo dục Mão Điền ở một số khía cạnh, chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này như một chuyên khảo khoa học có hệ thống và chưa nờu hết cỏc

Trang 8

7

mối tương tác giữa giáo dục với sự phát triển kinh tế - xó hội Từ thực tế đó, luận văn này đi nghiên cứu, tìm hiểu có hệ thống về giáo dục Mão Điền thời đổi mới (1986-2006)

3) Đối tượng, phạm vi nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài:

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung tìm hiểu giáo dục Mão Điền thời đổi mới (1986-2006) bao gồm: Hệ thống giỏo dục, kết quả, và mối tương tác giữa giỏo dục với kinh tế - xó hội Móo Điền

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Giới hạn về thời gian: Từ 1986 - 2006

Giới hạn về không gian: Đề tài nghiên cứu ở xã Mão Điền, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh

3.3 Nhiệm vụ của đề tài:

Một là, tái hiện bức tranh giáo dục Mão Điền trong thời đổi mới 2006)

Hai là, làm rõ những thành tựu đã đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại của giáo dục xã

Ba là, từ kết quả nghiên cứu, rút ra những bài học về phát triển giáo dục của xã trong hai mươi năm đầu đổi mới để tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục Mão Điền

4) Nguồn tư liệu, phương pháp nghiên cứu:

4.1 Nguồn tư liệu:

Để nghiên cứu vấn đề này, tôi đã sử dụng những nguồn tư liệu sau đây: + Những tác phẩm của Mác, Ăngghen, Hồ Chí Minh liên quan đến giáo dục

+ Những văn kiện của Đảng Cộng Sản Việt Nam, văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII,VIII, IX, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và nhà nước về phát triển giáo dục đào tạo

Trang 9

8

+ Các sách chuyên khảo, những bài nghiên cứu, bài báo được xuất bản trong thời gian qua, những luận văn viết về giáo dục của một số địa phương

+ Những tài liệu lưu trữ của tỉnh, huyện, xã, văn kiện của Đảng bộ,

uỷ ban nhân dân cỏc cấp, những báo cáo của Đại hội giáo dục xã, tài liệu trường mầm non, trung học cơ sở, tiểu học trên địa bàn xã, tài liệu của các trường trung học phổ thông trong huyện, liên quan đến giáo dục

+ Tư liệu điền dã

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Đây là một đề tài lịch sử địa phương nên phương pháp nghiên cứu chủ yếu là sử dụng phương pháp lịch sử nhằm khôi phục lại bức tranh chân thực của quá trình phát triển giáo dục Mão Điền trong thời kỳ đổi mới, kết hợp với phương pháp logic, so sánh, thống kê, phân tích, điều tra điền dã

5) Đóng góp của luận văn:

Luận văn trình bày tình hình giáo dục xó Mão Điền trong thời kỳ đổi mới (1986-2006), làm rõ những chuyển biến tích cực cũng như những hạn chế, nguyên nhân và những giải pháp nhằm tiếp tục phát triển sự nghiệp giáo dục của Mão Điền trong thời gian tới

Luận văn còn cung cấp tài liệu để hoàn thiện cuốn lịch sử giáo dục Mão Điền, làm tài liệu cho công tác giáo dục truyền thống ở địa phương

6) Bố cục luận văn:

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần phụ lục

là ba chương nội dung:

Chương 1: Khái quát về giáo dục xã Mão Điền trước đổi mới

Chương 2: Giáo dục xã Mão Điền trong những năm 1986 - 2006

Chương 3: Giáo dục với sự phát triển kinh tế, xã hội ở xã Mão Điền

Trang 10

9

Chương 1 Khái quát về giáo dục Mão Điền trước đổi mới

1.1 Tình hình chung

„„Làng tôi ven con sông Đuống Bốn mùa nước chảy nên thơ Phù sa quanh năm tươi tốt Cho lúa quê mình thêm bông”

(Nguyễn Thế Hiển)

Những câu hát trong bài„„Mão Điền quê hương tôi” của nhạc sĩ Thế

Hiển miêu tả vùng đất trù phú, tươi đẹp - xã Mão Điền Vùng đất không chỉ

ẩn chứa trong mình vẻ đẹp thiên nhiên mà còn gợi cho chúng ta chiều sâu và

độ dày lịch sử

1.1.1 Địa Lý

Mão Điền nằm ở phía đông bắc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, phía đông và đông nam giáp xã Lãng Ngâm ( huyện Gia Lương ), phía nam, tây nam giáp xã An Bình, phía tây - tây bắc giáp xã Song Hồ, bắc - đông bắc giáp

đê sông Đuống và xã Hoài Thượng Luy Lâu - Thuận Thành được coi là trung tâm kinh tế - xã hội đầu tiên của người Việt ở Đồng Bằng Sông Hồng Thuận Thành vùng đất có truyền thống hiếu học và trọng nhân tài Nhiều tài liệu lịch sử khẳng định: Nho giáo cùng với chữ viết và nền Hán học đã được đưa vào truyền dạy đầu tiên ở nước ta tại Luy Lâu - Thuận Thành và được phát triển mạnh từ

thời Sĩ Nhiếp (186-226) Tại đây có đền Lũng Khê thờ “Nam giao học tổ” (Sĩ

Nhiếp được tôn thờ là vị tổ nghề học của nước Nam) Trong lịch sử gần một nghìn năm Hán học, tổng số các khoa thi của nước Đại Việt có 2889 vị đỗ Tiến sỹ, Bảng nhãn, Thám hoa và Trạng nguyên thì Trấn Kinh Bắc có gần

700 vị, trong đó Thuận Thành có hơn 50 vị đỗ đại khoa, xếp thứ 4 trong gần

Trang 11

10

20 huyện của Trấn Kinh Bắc Tính riêng Trạng nguyên, Kinh Bắc có 15 vị thì Thuận Thành có 4 vị đứng thứ hai sau Đông Ngàn ( huyện Từ Sơn) [ 21; 19 ] Thời Hán, vùng đất Thụy Mão, Mão Điền thuộc huyện Luy Lâu (nay là huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) Đời Lý Thánh Tông, hương được thành lập - Thuỵ Mão, Mão Điền thuộc hương Siêu Loại Năm 1447, nhà Minh chia nước ta làm mười bẩy phủ, Mão Điền, Thuỵ Mão thuộc huyện Siêu Loại, phủ Bắc Giang Thời Lê, Nguyễn cấp tổng được thành lập, Mão Điền, Thuỵ Mão thuộc tổng Thượng Mão, huyện Siêu Loại, phủ Thuận An Năm 1862 huyện Siêu Loại đổi là huyện Thuận Thành Cách mạng tháng tám 1945 thành công, cấp tổng bị bãi bỏ, Mão Điền và Thuỵ Mão thuộc huyện Thuận Thành Năm

1946, Mão Điền và Thuỵ Mão sáp nhập thành xã Mão Điền [ 24; 12 ]

Mão Điền có 14 thôn, xóm: Xóm Nội ( Đông Phú ), xóm Công ( Đông Công ), xóm Táo ( Đông Yên ), xóm Ba ( Thịnh Phủ ), xóm Đình ( Đại Đình ), xóm Mận ( Hưng Thịnh ), xóm Hồ ( An Lãng ), xóm Tủng ( Thái Lạc), xóm Hậu ( Đức Hậu ), xóm Ngòi ( Đa Phú ), xóm Bàng ( Bàng Đức ), xóm Cả ( Cao Đại ), xóm Luỹ ( Cổng Luỹ ), và thôn Thuỵ Mão

Diện tích đất tự nhiên xã Mão Điền khoảng 608,60 ha trong đó đất nông nghiệp là: 431,51 ha Dân số xã tính đến năm 2006 là 13 000 người.[ 29; 4] Bình quân đất tự nhiên theo đầu người ở Móo Điền khoảng 250 mét vuông bằng 1/17 bình quân của cả nước Như vậy, Mão Điền là vùng đất chật, người đông

Mão Điền xưa có con sông Gáo chảy qua theo hướng Tây - Đông Trải qua năm tháng, đến nay sông Gáo đã bị lấp đầy, chỉ còn một số dấu tích, tên gọi khác nhau như: ao Ngăm, ao Cam, ao Dạng Phía Bắc, Mão Điền tiếp giáp với sông Đuống: Con sông thi ca nhạc hoạ, khơi nguồn cảm hứng sáng tác vô tận cho các nghệ sĩ, con sông mang đến nguồn phù sa mầu mỡ, nguồn nước cho sản xuất nông nghiệp

Trang 12

11

1.1.2 Lịch sử

1.1.2.1 Lịch sử hình thành

Năm 1010 có những sự kiện trọng đại: Đối với quốc gia, đó là năm dời

đô từ Hoa Lư ra Thăng Long:„„ Nơi tụ hội của bốn phương đất nước, nơi

tượng trưng của muôn đời đế vương”.[33; 247] Đối với Mão Điền đó là năm

lập làng

Tháng hai, mùa xuân năm 1010, xa giá nhà vua đến Châu Cổ Pháp yết lăng Thái Hậu, vua sai các quan đo đất vài mươi dặm đặt làm Cấm địa sơn lăng„„ Đình Bảng là đất thang mộc của các vua nhà Lý, ruộng sơn lăng được đặt ra nhằm lấy thu hoạch chi phí vào việc thờ cúng tổ tiên các họ vua Căn cứ vào nguồn sử liệu thực địa, có thể thấy ruộng sơn lăng gồm hai phần: Một khu ruộng mộ và một khu ruộng thờ Các vua nhà Lý đều được chôn cất ở địa phận lăng cổ pháp này, do đó ở đây có 32 mẫu ruộng mộ ( mỗi lăng bốn mẫu

) và một số ruộng thờ khá lớn Theo các bia cổ Pháp điện tạo bi khắc năm

Hoàng Định thứ tư (1604) và Đình Bảng điện bi khắc năm Hoàng Định thứ năm (1605) dựng ở giữa khu cấm địa Đền Đô thì „„do bọn cường hào xâm lấn, ngăn cản nên từ lâu khu lăng miếu bị bỏ hoang rậm” Nay chúa Trịnh Tùng cho phép lấy 284 mẫu của xã làm ruộng thờ Đền Đô như cũ Làm một phép cộng đơn giản số ruộng mộ với số ruộng thờ, ta được tổng diện tích khu Cấm địa sơn lăng là 316 mẫu Bắc bộ Đây là số ruộng thực có theo văn bia ở thế kỷ XVII, nghĩa là sau gần 600 năm kể từ khi Lý Công Uẩn cắm đất làm Cấm địa sơn lăng, chắc chắn số ruộng đất buổi đầu nhà Lý trực tiếp quản lý này nếu không nhiều hơn thì cũng không ít hơn số ruộng mà Trịnh Tùng lấy ra trả lại cho việc thờ cúng đền Đô sau này”.[ 19; 231 ] Với số ruộng đất lớn như vậy

bị chính quyền nhà Lý trưng dụng, buộc một số dân ở Đình Bảng phải dời bỏ

Trang 13

là tên gọi làng mới do những người di cư từ Đình Bảng tới lập nên Mão là Thuỵ Mão, điền là ruộng Mão Điền nằm trên ruộng làng Thuỵ Mão Đây là vùng đất trũng, chưa khai phá, đất đai thuận lợi cho trồng cây lúa nước Dân

cư không đến nỗi thưa thớt vắng vẻ, vị trí không quá hẻo lánh, là vùng đất lý tưởng cho việc định canh, định cư thủa ấy Người Đình Bảng họ tin rằng mình

ở trên mảnh đất hình con nhện Đó là huyệt đất quý, phát tích đế vương Phải dời làng ra đi, họ cũng muốn có hình đồ phong thuỷ tương đương như vậy hoặc chí ít cũng được an cư lạc nghiệp Vùng đất Mão Điền đáp ứng phần nào đòi hỏi đó Theo các bậc cố lão, Mão Điền có thế rồng nằm: Con rồng nằm dài từ đầu làng ( xóm Bàng) đến cuối làng ( xóm Nội ), đầu rồng hướng về phía Bắc, mắt rồng là giếng Cả, miệng rồng là giếng Ngòi, rốn rồng là giếng Chùa, đuôi rồng là giếng Nội Giếng mắt rồng nước trong leo lẻo Giếng miệng rồng và rốn rồng quanh năm không bao giờ cạn nước Còn giếng đuôi rồng lúc nào cũng vùng vẫy nên lúc nào cũng đục ngàu Ngoài dải đất kể trên, phía trong làng không được đào giếng, hoặc giả có đào thì chỉ được nước vàng khè và tanh lợm Người ta bảo đó là máu thân rồng chảy ra Theo con mắt của người xưa, thế đất của Mão Điền đủ tiêu chuẩn để gọi:„„sơn thuỷ hữu tình” Dĩ nhiên địa linh thì vế đối phải là nhân kiệt [ 25; 5 ]

1.1.2.2 Lịch sử đấu tranh

Từ khi lập làng tới nay, nhân dân Mão Điền không ngừng tham gia đấu tranh chống các thế lực nhằm giữ làng, giữ nước

Trang 14

13

Năm 1285, giặc Nguyên do Thoát Hoan chỉ huy tiến hành xâm lược nước ta lần hai Trước tình hình đó, nhà Trần đã hiệu triệu toàn thể nhân dân đứng lên kháng chiến chống quân Nguyên:„„Tất cả các quận, huyện trong cả nước nếu có giặc ngoài đến phải liều chết mà đánh Nếu sức không địch nổi, cho phép lẩn tránh vào rừng núi không được đầu hàng” [33; 202 ] Thi hành mệnh lệnh triều đình, nhân dân cả nước trong đó có nhân dân Mão Điền đã tích cực luyện tập võ nghệ, ngày đêm sẵn sàng đánh giặc bảo vệ xóm làng Thời Lê - Trịnh, chiến tranh Trịnh - Nguyễn xảy ra liên miên, đời sống của nhân dân trong vùng đói khổ, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân khắp vùng Kinh Bắc nổ ra Đầu năm 1740, Nguyễn Tuyền từ Hinh Xá, Chí Linh, Hải Dương tập hợp nghĩa quân nổi dậy chống lại triều đình Phong trào lan rộng khắp vùng Gia Định, Siêu Loại Một số người dân ở Mão Điền đi theo nghĩa quân, giao chiến với quân Chúa Trịnh tại cánh đồng xã Bình Ngô ( nay là xã

An Bình) [ 23; 40 ]

Những năm cuối thế kỷ XIX, người anh hùng nông dân áo vải Hoàng Hoa Thám lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống thực dân Pháp, địa bàn cuộc khởi nghĩa ngày càng mở rộng, nhân dân Mão Điền tham gia khởi nghĩa ngày một nhiều Tiêu biểu cho tấm gương đó là cụ Nguyễn Duy Thứ, làm chánh tổng, tổng Thượng Mão Cụ đã bí mật thư từ với Hoàng Hoa Thám, chuyển cá giống lên Yên Thế để nuôi nhằm tăng thêm lương thực, thực phẩm cho nghĩa quân Cụ bị thực dân Pháp bắt và đầy đi Sơn La, cụ đã mất ở đó [ 23; 42 ] Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam, nhân dân Mão Điền anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp, phát xít Nhật Đầu năm 1945, tại Mão Điền, đồng chí Vương Văn Trà, Đặng Trần Huy, Xuyên Quảng đã về tuyên truyền, giác ngộ cho một số thanh niên yêu nước như ông: Vũ Đăng Hương ( tức tổng Hương ), Vũ Đăng Bảng ( phó bảng )…Sau khi được giác ngộ, những cá nhân đó đã tuyên truyền, lãnh đạo nhân dân chống bắt phu, bắt

Trang 15

14

lính, chống chính sách nhổ lúa trồng đay của Nhật Khi Nhật đầu hàng đồng minh, mặt trận Việt Minh chỉ đạo các đội tự vệ các xã đứng lên giành chính quyền Nhân dân Mão Điền cùng nhân dân trong toàn huyện tạo thành đội ngũ trùng trùng điệp điệp tiến về giải phóng tỉnh lỵ Ngày 20 tháng 8 năm

1945, Bắc Ninh được giải phóng [ 23; 44 ]

Sau cách mạng tháng Tám, đất nước nói chung và Mão Điền nói riêng gặp muôn vàn khó khăn Dưới sự lãnh đạo của Uỷ ban hành chính xã, nhân dân Mão Điền tích cực thi đua sản xuất, củng cố lực lượng tự vệ, tích cực đấu tranh chống bọn phản cách mạng, thi đua diệt giặc đói, giặc dốt Thực hiện kế hoạch đánh chiếm và bình định vùng đồng bằng Bắc Bộ, tháng 3.1947 thực dân Pháp huy động thuỷ, lục, không quân đánh chiếm khu vực nam sông Đuống Từ năm 1947 - 1949, xã Mão Điền bị thực dân Pháp đóng bốt càn quét Dưới sự lãnh đạo của chi bộ Đảng Mão Điền, nhân dân hăng hái đứng lên diệt bốt, phá đồn Trong cuộc kháng chiến bảo vệ quê hương, nhân dân Mão Điền đã tiễn đưa 41 người con lên đường tham gia giải phóng quân, đội cảm tử quân, cùng hàng trăm thanh niên du kích chiến đấu và phục vụ chiến đấu bảo vệ quê hương, đã phá và san bằng 8 đồn bốt Qua 9 năm kháng chiến, Mão Điền đã được nhà nước tặng thưởng 8 Huân chương, 60 huy chương các loại, 29 bằng khen Sự hy sinh và những đóng góp của nhân dân Mão Điền đã góp phần vào thắng lợi chung của cả nước trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp [ 23; 46 ]

Hiệp định Giơnevơ ký kết, miền Bắc nước ta giải phóng, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến tới thống nhất đất nước Trong hoàn cảnh đó chi bộ Đảng Mão Điền xác định nhiệm vụ của địa phương là:„„ Trong bất kỳ tình huống nào cũng quyết tâm giữ vững sản xuất, tăng cường củng cố lực lượng dân quân, công an cả về số lượng, chất lượng sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tích cực chi viện sức người, sức của

Trang 16

15

cho cỏch mạng miền Nam, quyết tõm đỏnh thắng giặc Mỹ xõm lược” [ 23; 48] Từ năm 1965 - 1975, nhõn dõn Móo Điền đó tiễn đưa 571 thanh niờn tham gia nhập ngũ, 73 thanh niờn tham gia thanh niờn xung phong phục vụ chiến đấu Tớnh trong hai cuộc khỏng chiến chống Phỏp và chống Mỹ, cú 121 liệt sỹ là con em Móo Điền vĩnh viễn ngó xuống, cựng với hàng trăm thương binh, bệnh binh bỏ một phần thõn thể của mỡnh nơi chiến trường Sự chiến đấu và hy sinh anh dũng của nhừn dừn xú Múo Điền đó gúp phần thờu dệt nờn những bản anh hựng ca bất hủ của dõn tộc

1.1.3 Kinh Tế

Cũng như cỏc địa phương khỏc, kinh tế Móo Điền chủ yếu là sản xuất nụng nghiệp Do đất sản xuất nụng nghiệp nhỏ nờn ngoài trồng trọt, người dõn Móo Điền cũn phỏt triển chăn nuụi lợn, gà, vịt….Đỏng chỳ ý nhất là ươm nuụi cỏ con Ca dao Múo Điền cỳ cừu:

„„Chằm Ngăm đi bỏn cỏ con Thổ Hà gỏnh đất nung non nặn nồi”

Nghề ươm nuụi cỏ giống xuất hiện ở Móo Điền vào những năm 1854 -

1855, từ lõu người dõn Móo Điền đó lưu truyền cõu ca dao:

„„Từ đời Tự Đức thất niờn Hai làng Móo Điền thả cỏ xi xao”

Một số người dõn đi buụn bỏn học được nghề ươm nuụi cỏ giống từ cỏc thụn, xó thuộc vựng sụng Đuống, từ cỏc vựng sản xuất cỏ giống lõu đời như: Nam Hà, Hà Tõy, Gia Lõm Họ nhận thấy điều kiện tự nhiờn ở đõy thuận lợi cho ươm nuụi cỏ giống Giai đoạn đầu chỉ một vài người ươm nuụi cỏ giống nhưng sau đú trở thành phong trào rộng khắp đặc biệt trong những năm 70, 80 của thế kỷ XX Đõy là thời kỳ hoàng kim của nghề ươm nuụi cỏ giống ở Móo Điền Gia đỡnh nào cũng tham gia ươm nuụi cỏ giống Nhiều hộ cho thờu ruộng để tham gia ươm nuụi cỏ giống Trải qua những thời kỳ lịch sử, nghề

Trang 17

16

ươm nuôi cá giống của Mão Điền có những giai đoạn thăng trầm Từ khi ươm nuôi cá giống xuất hiện và được người dân coi như nghề chính, đến nay nghề này có những đóng góp to lớn vào thay đổi kinh tế - xã hội Mão Điền, trở thành nguồn thu nhập chính và làm giàu của nhiều hộ gia đình Tuy nhiên thực tế khẳng định, đây là nghề không ổn định, bấp bênh, đôi khi nguy hiểm Thời kỳ đầu, ươm nuôi cá giống diễn ra rất tự nhiên Người dân đi vớt cá bột ven bờ sông Đuống sau đó về thả ở ao nhà Đến năm 1980, hợp tác xã ươm nuôi cá giống thành lập, nhiều gia đình cũng thành lập các trại cá giống Tuy nhiên ươm nuôi cá giống vẫn phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên Điều đặc biệt ươm nuôi cá giống chủ yếu là nghề của nam giới, phụ nữ chỉ tham gia khâu ươm nuôi Sở dĩ như vậy vì nghề này rất vất vả nhất là khâu tiêu thụ Người đi bán cá giống phải lên tận vùng ngược, trèo đèo, lội suối mới tới địa điểm bán Ban ngày đi bán, tối về phải thay nhau thức trông cá Nhiều khi cá lên đến nơi bán thì chết gần hết Thời gian bán cá kéo dài, nhiều người bị sốt rét, sét đánh, tai nạn năm nào ở Mão Điền cũng có chục người mất

Từ khi đất nước tiến hành đổi mới 1986, xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước đã làm cho nghề ươm nuôi cá giống xã Mão Điền gặp khó khăn Địa chỉ làm ăn của nghề ươm nuôi cá giống bị thu hẹp do sự giải thể hoặc chuyển đổi của các Hợp tác xã nông nghiệp, nhiều gia đình phải lấp ao để lấy đất làm nhà, công trình phục vụ dân sinh Hầu hết các gia đình không thể sống bằng nghề làm ruộng và nghề ươm nuôi cá giống mà họ phải làm nhiều nghề khác để nâng cao thu nhập gia đình Nhiều gia đình bỏ hẳn nghề này làm nghề khác, họ vào Nam, lên các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc kiếm sống

Như vậy dưới tác động của nền kinh tế thị trường, nghề ươm nuôi cá giống ở Mão Điền mất dần vị thế của mình trong đời sống kinh tế Tuy nghề này không mất đi nhưng nó không còn là nghề thu hút đông đảo người dân

Trang 18

17

tham gia, không còn là nghề mang lại thu nhập chính Điều đó đặt ra cho các cấp lãnh đạo, nhân dân nơi đây cần tìm ra cho mình một hướng đi mới mang tính ổn định lâu dài phù hợp với xu thế phát triển của dân tộc và thế giới

1.1.4 Xã h ội

Như trên đã nói, Mão Điền vốn là vùng đất chật, người đông Năm 2006, dân số Mão Điền là 13000 người Phần lớn dân cư ở đây là thuần nông, bản chất siêng năng, cần cù Ngoài trồng trọt, ươm nuôi cá giống là nghề chính của các gia đình ở đây Là nghề chăn nuôi nhưng mang tính thương mại lớn Người dân ở đây không chỉ ươm nuôi cá giống tại địa phương mà còn mang

cá giống đi bán ở khắp nơi trong nước, thậm chí đi bán nước ngoài Trong quá trình trao đổi cá giống giúp người dân Mão Điền được tiếp xúc, giao lưu với

cư dân và nền văn hoá nhiều địa phương, hình thành nên một tính cách: Tính thực tế rất cao Người dân Mão Điền làm tất cả mọi công việc miễn sao công việc đó chính đáng, mang lại lợi nhuận và kinh tế Cơn lốc của nền kinh tế thị trường làm nghề ươm nuôi cá giống rơi vào tình trạng khó khăn, khủng khoảng Nghề này mất dần vị trí của mình trong đời sống kinh tế -

xã hội địa phương

Trong hoàn cảnh đó, một số cá nhân, gia đình ở xã thành đạt theo con đường học vấn Họ nhanh chóng vươn lên trở thành những người có địa vị và kinh tế Điển hình là gia đình ông Nguyễn Chí Tẩm, gia đình ông Nguyễn Duy Hán, gia đình ông Trịnh Văn Hoản Cá biệt có những gia đình mặc dù không có điều kiện, thậm chí khó khăn cũng tìm mọi cách khắc phục nuôi con thành tài Những tấm gương sống động ấy đã tác động mạnh mẽ đến suy nghĩ,

tư tưởng của những người dân vốn có tính thực tế lại đang cần tìm cho mình một con đường đi mới mang tính ổn định lâu dài

Nghị quyết hội nghị BCHTW Đảng lần thứ 4 khoá VII năm 1993 của Đảng về vai trò và vị trí của Giáo dục - Đào tạo trong sự nghiệp công nghiệp

Trang 19

18

hoá, hiện đại hoá đất nước tác động đến nhận thức của Đảng bé và nhân dân

xã Đại hội Đảng bộ xã lần thứ XVI năm 1993 khẳng định: Muốn xoá đói giảm nghèo triệt để, xây dựng cuộc sống ấm no, văn minh, hạnh phúc không

có con đường nào khác là phải coi Giáo dục - Đào tạo là quốc sách hàng đầu Chiến lược phát triển kinh tế, văn hoá phải bắt đầu từ giáo dục, đầu tư cho giáo dục và đào tạo chính là đầu tư cho phát triển bởi suy cho cùng thì con người được đào tạo„„vững về chính trị, giỏi về chuyên môn, trong sáng về đạo đức” là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội [ 23; 53 ]

Điều đặc biệt ở Mão Điền số lượng dòng họ rất đông đảo, hơn 60 dòng họ: Đỗ Đăng, Nguyễn Chí, Nguyễn Duy, Nguyễn Văn, Nguyễn Bá, Nguyễn Xuân, Nguyễn Khắc, Nguyễn Đăng, Nguyễn Công Bên cạnh gia đình, dòng họ là tổ chức xã hội gần gũi và thân thiết nhất đối với mỗi cá nhân

Sự thịnh vượng của dòng họ cũng là sự tự hào của mỗi cá nhân, từ cá nhân và ngược lại Sự tồn tại đông đảo dòng họ ở Mão Điền là một trong những điều kiện quan trọng để giúp giáo dục từ chỗ cá biệt thành phong trào rộng khắp,

và là một trong những điều kiện đưa tới sự thành công trong sự nghiệp phát triển giáo dục Mão Điền thời đổi mới

1.2 Vài nét về giáo dục Mão Điền trước đổi mới

1.2.1 Thời phong kiến

Thời phong kiến, Kinh Bắc nổi tiếng là xứ „„ngàn năm văn hiến” đã đào tạo cho đất nước 592 trong tổng số 2898 tiến sĩ được ghi danh trên văn bia ở văn miếu Thăng Long Chỉ tính riêng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh ngày nay( một phần xứ Kinh Bắc xưa) đã có 391 tiến sĩ, chiếm 13,5% số tiến sĩ của cả nước Đặc biệt một số làng như: Làng Kim Bôi ( huyện Quế Võ), làng Tam Sơn, làng Vĩnh Kiều, làng Hương Mặc ( huyện Từ Sơn ), được gọi là„„làng tiến sĩ” hay „„làng khoa bảng”.[ 21; 23 ] Thời Hán học, giáo dục Mão Điền rất được coi trọng Bài minh trên bia đá ở Đình Vật ( Khu Ngòi Hồ Tủng) viết:

Trang 20

19

Hoàng thiên sinh đế nghiệp

Lê Trịnh ức vạn niên Kinh Bắc cảnh siêu loại Thuận An nhất Mão Điền Địa linh hình tráng tú Nhân đĩnh đản tài hiền Nông trần trần phú túc

Sĩ luỹ luỹ danh liên Nghĩa là:

Trời sinh ra thế nghiệp

Lê - Trịnh ngàn vạn năm Siêu Loại đất Kinh Bắc Mão Điền thuộc Thuận Thành Đất thiêng đẹp lại mạnh Hiền tài nối tiếp sinh Nông bề bề giàu thóc

Sĩ lớp lớp đề danh

Mặc dù không phải là„„làng tiến sĩ ” nhưng thời Hán học, Mão Điền có nhiều nhà khoa bảng: Giám sinh Quốc Tử Giám cú Nguyễn Duy Hài (1587), Nguyễn Nghĩa Lập (1626); Hương Cống: Ông họ Vũ tự Hưng Tạo, ông họ Nguyễn tự Danh Tu, ông họ Lê tự Bá Cao, Vũ Văn Nhã, Lê Trần Thạch; Cử nhân: Vũ Minh Phố, Vũ Cán Phố, Ngô Huy Tuấn, Nguyễn Khắc Đôn, Nguyễn Đình Kiên, Vũ Trọng Tiếm; Sinh Đồ 25 vị; Tú Tài 14 vị Như vậy thời Hán Học tổng số người Mão Điền đỗ trung khoa là 13, đỗ tiểu khoa là 39.[ 24; 32 ]

1.2.2 Thời Pháp thuộc (1884 - 1945):

Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Đến năm 1884 với hiệp ước Patơnôt, Việt Nam trở thành thuộc địa của Phỏp Sau khi hoàn

Trang 21

ta, dạy cho họ tiếng nói của chúng ta và do đó phải bắt đầu từ nhà trường và trước tiên chú ý đến trẻ em”.[ 17; 14 ] Mục đích của Pháp là sử dụng giáo dục làm công cụ cho nền thống trị, đào tạo những người thừa hành trong bộ máy thống trị thực dân Tháng 4 năm 1901, thực dân Pháp ra nghị định thiết lập chương trình giáo dục Pháp - Việt nhằm mục đích loại bỏ dần nền Hán học

cũ, thiết lập chương trình giáo dục mới để đào tạo lớp người Việt Nam phục

vụ cho bộ máy cai trị của thực dân Pháp Ngày 21 tháng 12 năm 1917, Toàn quyền Đông Dương ký Nghị định tổ chức hệ thống giỏo dục và thi trên toàn cõi Đông Dương ( bao gồm Việt Nam, Lào, Cam-pu-chia) Theo chương trình giáo dục của Pháp, đồng thời bãi bỏ các kỳ thi chữ Hán của Nam triều trước đây, Pháp chia hệ thống giáo dục làm 3 cấp: Tiểu học, trung học, và đại học [30; 236] Từ đầu thế kỷ XX trở về trước trên địa bàn huyện Thuận Thành không có trường tiểu học nào, sau này có hai trường tiểu học được thành lập

là trường Tiểu học Lạc Thổ ( 1922), Phú Thuỵ( 1928) [ 22; 42 ]

Thời Pháp thuộc, giỏo dục Mão Điền có nhiều chuyển biến Một vài ông đồ, ông khoá vẫn mở trường dạy chữ Nho như ông Lý Thao, ông Đồ Tị, ông Đồ Đức Năm 1937 ở xã thành lập trường hương sư dạy 3 lớp sơ học Trường chủ yếu dành cho con em gia đình khá giả, tầng lớp trên, đa số con

em nhân dân vì nhà nghèo không có tiền đi học, đã thế những tập tục phong

Trang 22

21

kiến cứ đè nặng lên đầu, lên cổ người dân như đám cưới, đám tang gia chủ phải mời cả làng ăn cỗ ba ngày Đặc biệt tệ nạn tranh giành ngôi thứ ở chốn đình chung khiến nhiều người phải bán nhà, bán vườn, bỏ làng ra đi vĩnh viễn Một số học sinh Mão Điền học tiểu học phải học trọ ở trường Lạc Thổ Tóm lại, dưới thời Pháp thuộc, hoạt động giỏo dục Mão Điền vẫn diễn

ra Tuy nhiên, học tập giai đoạn này chủ yếu dành cho một số ít người nhằm phục vụ cho công cuộc thống trị và khai thác của chủ nghĩa thực dân Pháp

1.2.3 Giai đoạn 1945- 1954

Ngay khi cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà đứng trước muôn vàn khó khăn trong đó có giặc dốt Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với chính phủ lâm thời đã tìm mọi cách để khắc phục như kêu gọi thành lập các lớp „„bình dân học vụ”, thực hiện xoá nạn mù chữ, xây dựng những tiền đề cho nền giáo dục cách mạng Trong hoàn cảnh đó giáo dục Mão Điền có những chuyển biến đáp ứng nhưu cầu của cách mạng và xã hội Giáo dục Mão Điền lúc này có hai loại hình: Giáo dục phổ thông và giáo dục bình dân học vụ

Giáo dục bình dân học vụ: Thực hiện lời kêu gọi của Bác và chính phủ,

nhân dân Mão Điền hăng hái, tích cực thực hiện xoá nạn mù chữ Nhiều khẩu hiệu như: Đi học bình dân học vụ là yêu nước, dạy học bình dân học vụ là yêu nước, giúp đỡ bình dân học vụ là yêu nước, chống nạn thất học cũng như chống giặc ngoại xâm được tuyên truyền Nhiều câu ca dao, hò vè cũng được sáng tác để tuyên truyền như:

„„Lấy chồng biết chữ là tiên Lấy chồng mù chữ là duyên nợ nần.”

Nhờ những biện pháp tuyên truyền trên, hàng chục lớp bình dân học vụ được lập Nhiều lớp học mở ở đình, chùa, đền, miếu, điếm, nhà dân, gốc cây to…Các lớp bình dân học vụ không chỉ nhằm xoá nạn mù chữ mà còn

Trang 23

22

là „„câu lạc bộ chính trị”.[23; 47] Thắng lợi của phong trào chống giặc dốt

có ý nghĩa to lớn về mặt văn hoá, góp phần mở mang dân trí, bước đầu xây dựng nÒn văn hoá mới, bài trừ mê tín xoá bỏ các tệ nạn xã hội do đế quốc, phong kiến để lại tạo điều kiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ và tham gia quản lý đất nước

Giáo dục phổ thông: Cách mạng Tháng tám 1945 thành công và chủ trương của Đảng về phát triển giáo dục đã đặt nền móng cho giáo dục cách mạng Sau khi tiếp thu một số trường, lớp do Pháp thành lập, Uỷ ban kháng chiến huyện Thuận Thành đã bổ nhiệm 8 giáo viên lưu dụng đầu tiên của chế

độ cũ tiếp tục làm nhiệm vụ giảng dạy, ở huyện có ông Nguyễn Tiến Thăng phụ trách công tác giáo dục Trên địa bàn xã Mão Điền có một trường tiểu học trên cơ sở tiếp thu trường hương sư của Pháp Tham gia giảng dạy có 4 thày: Thày Nguyễn Văn Úc, Nguyễn Bá Hành, Nguyễn Chí Luận và thầy Nguyễn Khắc An Thời kỳ kháng chiến chống Pháp 1946 – 1950, phong trào giáo dục dần dần được phát triển theo đúng chủ trương của Đảng về xây dựng nền giáo dục cách mạng Năm 1950, Đảng tiến hành cải cách giáo dục lần thứ nhất nhằm xoá bỏ tàn tích giáo dục thực dân, phong kiến đặt nền móng cho nền giáo dục cách mạng dân tộc và dân chủ Hoà bình lập lại năm 1954, phong trào bình dân học vụ được thực hiện rất khẩn trương, Mão Điền được chính phủ tặng bằng khen về xoá mù chữ

Như vậy, giai đoạn 1945 - 1954 cùng với sự phát triển nền giáo dục cách mạng trong cả nước, giáo dục Móo Điền nằm trong hoàn cảnh hết sức khó khăn gay go, phức tạp, các lớp số học sinh chưa nhiều, CSVC hầu như chưa

có gì đáng kể Đội ngũ giáo viên tiếp thu của chế độ cũ hoặc không qua trường lớp sư phạm mà chỉ qua các đợt tập huấn ngắn hạn Mặc dù vậy, giáo dục Móo Điền thời kì này có nhiều đóng góp đáng kể vào cuộc kháng chiến trường kì chống thực dân Pháp, góp phần xoá dần nạn mù chữ cho

Trang 24

23

nhân dân, đào tạo lớp cán bộ trẻ nhiệt tình cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của quê hương Nhiều người sau này đã trở thành những nhà thơ, nhà giáo, cán bộ của Đảng như: ¤ng Ngô Huy Thắng nguyên là thứ trưởng Bộ Nội Vụ, nhà giáo ưu tú Nguyễn Văn Hoản…

1.2.4 Giai đoạn 1954-1975

Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, hiệp định Giơnevơ kí kết, miền Bắc nước ta giải phóng, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến tới thống nhất đất nước Hoàn cảnh lịch sử mới đặt ra cho cách mạng nước ta nói chung và giáo dục nói riêng những nhiệm vụ mới Đảng xác định mục tiêu giáo dục lúc này là xây dựng một thế hệ con người mới biết làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, lao động có kỉ luật, có kĩ thuật, có năng suất cao, yêu Tổ quốc, yêu CNXH [ 3; 54 ] Đó là những người có phẩm chất tốt đẹp và là nguồn nhân lực quan trọng trong công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Sự nghiệp giáo dục thời kì này được Đảng và Nhà nước quan tâm chỉ đạo phát triển cả về qui mô các ngành học, bậc học, chất lượng giáo dục Giai đoạn này, nhà nước áp dụng hệ thống giáo dục phổ thông 10 năm, giáo dục phổ thông có ba cấp: Cấp I từ lớp 1 đến lớp 4, cấp II từ lớp 5 đến lớp 7, cấp III từ lớp 8 đến lớp 10

Qui mô, mạng lưới trường lớp nền giáo dục Móo Điền thời kì này phát triển toàn diện và mạnh mẽ hơn giai đoạn trước Loại hình giáo dục vẫn còn bình dân học vụ và giáo dục phổ thông Bậc phổ thông có đủ ngành học, bậc học từ mẫu giáo, vỡ lòng đến phổ thông cấp I, cấp II

Giỏo dục Mần non: Giai đoạn này nhà trẻ lúc đầu chỉ ở mức sơ khai chưa

có qui mô đáng kể Các nhóm trẻ và lớp mẫu giáo được thành lập theo đội sản xuất ở các HTX nông nghiệp Cơ sở vật chất ban đầu rất thiếu thốn, các nhóm trẻ chủ yếu đặt nhờ nhà dân, lớp mẫu giáo phải đặt ở đình làng Đến năm 1968,

Trang 25

24

nhóm trẻ liên cơ quan thành lập Khi thành lập chỉ có 7 đến 10 cháu, ở một gian nhà của các cụ nghỉ hưu miền Nam, sau đó số cháu ngày càng tăng Thời kỳ này, giáo dục mầm non do Hội phụ nữ quản lý Móo điền là một trong 4 xó ở huyện Thuận Thành có các nhóm gửi trẻ đầu tiên.[ 22; 46 ]

Giỏo dục phổ thông: Những năm từ 1954 - 1975, giáo dục phổ thụng

Mão Điền có bước phát triển mạnh mẽ Năm 1955, từ cơ sở trường tổng sư do ông Tô Mộng Lan ( Phủ Văn Giang) phụ trách và các lớp học bổ túc văn hoá, trường phổ thông cấp I Mão Điền được thành lập Trong điều kiện ban đầu gặp nhiều khó khăn, cơ sở trường lớp chưa có, trường chủ yếu phải học ở các điếm đình, các thôn Giáo viên trường là thầy cô giáo cũ và một số nhà nho tiếp tục giảng dạy Năm 1962, với tinh thần nhà nước và nhân dân cùng làm, địa phương đã tu bổ khu Đình Vật làm trường, đây cũng là khu trung tâm Trên cơ sở trường phổ thông nông nghiệp thành lập năm 1962, năm 1964 trường đổi tên là trường cấp hai Mão Điền Đây là một trong 4 trường cấp hai được thành lập sớm của huyện Thuận Thành Năm học đầu tiên, trường có hai lớp, chín giáo viên, 102 học sinh.[23; 41] Giáo dục phổ thụng Mão Điền giai đoạn 1954 - 1975 mặc dù được quan tâm, tuy nhiên do hoàn cảnh lịch sử, đa

số học sinh ngồi trên ghế nhà trường đã tình nguyện vào Nam chiến đấu Nhiều người sau này đã trở thành nhà văn, nhà thơ, nhà giáo nổi tiếng như nhà thơ Phan Hách ( hiện nay là chủ tịch hội nhà văn Việt Nam), nhà giáo, nhà thơ Nguyễn Khắc Đàm, nhà giáo Nguyễn Xuân Hy (giảng viên trường đại học nông nghiệp Việt Bắc, chủ biên bộ„„Từ điển vật lí”), nhà thơ, nhà nghiên cứu Duy Phi

1.2.5 Giai đoạn 1975 - 1986

Sau năm 1975, cả nước hồ hởi phấn khởi thực hiện quá trình thống nhất, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, xây dựng cuộc sống mới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV năm 1976 xác định đường lối chung và đường lối

Trang 26

25

kinh tế, văn hoá, giáo dục trong giai đoạn này là trong khoảng 20 năm đưa

nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn XHCN Mục tiêu giáo dục của nước

ta trong thời kỳ này là đào tạo ra một thế hệ con người mới XHCN vừa hồng vừa chuyên Nguyên lý dạy học là học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội.[ 21; 198 ]

Tuy nhiên giai đoạn (1975-1986) là thời kì kinh tế, xã hội nước ta gặp nhiều khó khăn, thời kì bắt đầu thực hiện quá trình đổi mới, chuyển đổi từ nền kinh tế quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoỏ nhiều thành phần theo định hướng XHCN Trong lĩnh vực nông nghiệp có sự chuyển biến căn bản, chuyển từ hợp tác xã tập trung cũ sang thực hiện cơ chế khoán 10 Những biến đổi kinh tế dẫn đến chuyển biến các mối quan hệ xã hội trong đó có giáo dục

Giáo dục Mão Điền những năm 1975 - 1986 cũng trong tình trạng tương

tự như vậy Mặc dù hệ thống giáo dục từ Mẫu giáo đến trung học được duy trì, củng cố tuy nhiên đây là thời kỳ giáo dục Mão Điền gặp khó khăn toàn diện Cơ sở vật chất từ mẫu giáo đến phổ thông không có nhiều thay đổi so với giai đoạn trước Giáo viên cuộc sèng gặp nhiều khó khăn, một số xin nghỉ dạy như thày: Nguyễn Văn Thiệp, Nguyễn Thị Bộ, Nguyễn Thị Liên Trường cấp I , cấp II hoạt động dạy và học vẫn được duy trì, nhưng hiện tượng học sinh bỏ học diễn ra thường xuyên Năm học 1983 - 1984, học sinh trường cấp

II nghỉ học chiếm 17%, năm học 1984 - 1985 chiếm 24%.[ 43; 3 ] Thời kỳ này, những hợp tác xã ươm nuôi cá giống phát triển mạnh mẽ Đội sản xuất cá giống và trại cá giống được thành lập n¨m 1980 Trại cá giống nhân tạo của chủ hộ kinh doanh tư nhân ra đời ngày càng nhiều những năm 70, 80 thế kỷ

XX Nghề ươm nuôi cá giống mang lại hiệu quả kinh tế cao:„ „Những năm ấy,

cá giống Mão Điền đã có mặt trên khắp đất nước, từ miền xuôi đến miền ngược, từ Bắc vào Nam, cung cấp con giống cho dân chúng, bổ sung nguồn

Trang 27

26

thực phẩm cho bữa ăn Có thể nói đây là thời kỳ hoàng kim của nghề ươm nuôi cá giống ở Mão Điền.”[ 27; 4 ] Nhờ ươm nuôi cá giống nhiều hộ gia đình trở nên khá giả, đa số người lao động nhờ cá giống cũng đỡ vất vả Hiệu quả kinh tế của nghề ươm nuôi cá giống thu hút đông đảo lực lượng lao động tham gia cả những thầy cô giáo, những em học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường Trong hoàn cảnh đó, nhiều người quyết tâm học cấp II nhưng học xong họ không thể đi học tiếp do yếu tố kinh tế, sự lựa chọn của họ là trở về tham gia sản xuất, ươm nuôi cá giống Người dân khuyến khích con em bỏ học làm kinh tế, họ đặt ra những câu hỏi:„„học để làm gì?” Đây là giai đoạn phát triển nền kinh tế Mão Điền nhưng lại là thời kỳ khó khăn của nền giáo dục Trong hoàn cảnh đó, một số gia đình, cá nhân biết vượt qua khó khăn trước mắt đầu tư cho con em mình học thành đạt như: Tiến Sỹ Ngô Huy ánh, Tiến Sỹ Nguyễn Quang Thuấn, Tiến Sỹ Nguyễn Duy Thông, Thạc Sỹ Nguyễn Chí Chương, Thạc Sỹ Nguyễn Duy Kha Khi nghề ươm nuôi cá giống gặp khủng hoảng thì sự thành đạt của những cá nhân đó tác động mạnh mẽ đến nhận thức, sự lựa chọn con đường của người dân Mão Điền Đây là điều kiện quan trọng hình thành„„làng đại học” thời kỳ sau này

Người dân ở Mão Điền nổi tiếng siêng năng, cần mẫn Hầu hết những người trong độ tuổi lao động đều phải bôn ba nay đây, mai đó Do vậy hình thành ở họ sự thích nghi với những thay đổi của xã hội Dưới tác động của

Trang 28

27

nền kinh tế thị trường, ươm nuôi cá giống không còn là nghề „„kiếm cơm” lâu dài và ổn định Hoàn cảnh này đòi hỏi người dân Mão Điền cần tìm ra cho mình một hướng đi mới

Giữa lúc đó, sự thành đạt của những gia đình, cá nhân chấp nhận khó khăn đầu tư cho con cái học tập, kết hợp với những nghị quyết của Đảng về tầm quan trọng của giáo dục, và sự cần thiết phải quan tâm đến giáo dục đã tác động sâu sắc đến suy nghĩ và hành động của người dân Mão Điền Họ đã tìm ra cho mình câu trả lời về hướng đi sắp tới:„„Quyết di dân bằng con đường tri thức đến các thành phố lớn, các trung tâm kinh tế - xã hội lớn.”[ 41;

2 ]

Trang 29

28

Chương 2 Giáo dục Mão Điền trong những năm (1986 - 2006)

2.1.Tình hình phát triển giáo dục ở Mão Điền trong những năm đổi mới (1986 - 2006)

2.1.1 Cơ sở hạ tầng

Cơ sở hạ tầng là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao chất lượng dạy và học Nó bao gồm hệ thống trường học, lớp học, hệ thống bàn ghế, trang thiết bị phục vụ cho quá trình dạy và học nói cách khác cơ sở hạ tầng là toàn bộ những yếu tố phục vụ cho dạy và học

Từ năm 1986 – 1990, trên địa bàn xã tồn tại trường phổ thông cơ sở Mão Điền gồm hệ thống trường cấp một và cấp hai Năm học 1987 - 1988 là năm đầu tiên thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, thực hiện quyết định số 305 của Bộ giáo dục về mục tiêu đào tạo cũng là năm đầu tiên toàn ngành thống nhất 10 quan điểm giáo dục trong đó có nâng cao yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học Trước năm 1986, hệ thống trường học của Mão Điền là tranh tre, lứa lá Đến năm học 1987-1988, được

sự hỗ trợ của nhân dân về ngày công và nguyên vật liệu, nhà trường đó tiến hành xây dựng thêm tám phòng lợp ngói nâng tổng số phòng học của trường lên 16 Trong những phòng học, hệ thống bàn ghế của giáo viên và học sinh, bục giảng rất hạn chế: Bàn ghế của cả thầy giáo và học sinh đều làm bằng gạch do nhà trường tận dụng nguyên vật liệu khu Đình vật.[ 43; 2] Do không

đủ số phòng học tập trung, vì vậy nhà trường vận động chính quyền xã và các thôn xóm dựng hệ thống trường học ngay tại thôn của mình, kết quả đã xây dựng được tám phòng học cấp bốn tại năm khu lẻ Năm 1990, với tinh thần:„„Nhà nước và nhân dân cùng làm” trường phổ thông cơ sở Móo Điền xây dựng dãy nhà hai tầng kiên cố tám phòng, nâng tổng số phòng học khu

Trang 30

Năm 1999, xã chủ trương tách trường tiểu học Mão Điền thành trường Tiểu học Mão Điền số 1 và trường Tiểu học Mão Điền số 2 Trường tiểu học Số 2 có 14 phòng, trong đó 8 phòng học cấp bốn chung với trường Trung học cơ sở, 6 phòng học cấp bốn tại 5 khu lẻ ở các thôn Năm 2003, đáp ứng nhu cầu tách cơ sở vật chất trường trung học cơ sở và trường tiểu học số

2, địa phương đã xây dựng khu trung tâm trường tiểu học số 2 tại xóm Ba với tám phòng học kiên cố, nhà văn phòng, hệ thống tường bao, sân trường, các công trình phụ khác với tổng số tiền 850 triệu đồng

Th¸ng 9/1999, khu trung t©m Trường tiểu học Mão Điền số 1 được xây dựng trên diện tích 7000 mét vuông ( Diện tích đất do thôn 3: Xóm Ngòi Hồ Tủng tặng) Trên khuôn viên đó, tám phòng học cấp bốn, khu v¨n phßng lợp proximang được xây dựng Tổng chi phí xây dựng khu trung tâm trường tiểu học số 1 là 450 triệu đồng Ngoài khu trung tâm, trường tiểu học Mão Điền số

1 nhận 3 phòng học kiên cố khu Thuỵ Mão

Sau khi tách cơ sở vật chất trường tiểu học, trường trung học cơ sở nằm trên khuôn viên hai trường trước đây, trừ tám phòng học phía sau nhà hai tầng (®ổi tám phòng học của trường tiểu học cho tr-êng trung học cơ sở) Năm

2001, trường trung học cơ sở xây dựng khu nhà hiệu bộ nằm trên diện tích

400 mét vuông trị giá 250 triệu đồng Tiếp đó trường cho xây dựng một

Trang 31

2.1.2 Đội ngũ giáo viên

Tôn sư trọng đạo là truyền thống tốt đẹp của nhân dân Việt Nam Vì vậy, người thày có địa vị xứng đáng trong xã hội, được nhân dân, học sinh tin yêu Giáo dục theo nghĩa rộng xuất hiện cùng sự xuất hiện của con người và xã hội Lịch sử đã xác nhận vai trò của người thày qua các thời đại đối với giáo dục thế hệ trẻ Giáo dục thế hệ trẻ là công việc của toàn xã hội, mà thày giáo

là người lãnh trách nhiệm chủ yếu Giáo dục là cơ sở quan trọng cho sự tồn tại

và phát triển của toàn xã hội Nhà tâm lý học Pháp Pê Rông đã nêu một giả định mang tính viễn tưởng: Có một tai hoạ bất ngờ nào đấy làm cho tất cả những người lớn tuổi trên quả đất bị tiêu diệt hết, chỉ còn lại những em bé, mọi tài liệu bị mất mát hết thì nhân loại phải bắt đầu những bước đi chập chững non yếu của mình về trớ tuệ.[ 32; 186 ]

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc„„vốn xưng nền văn hiến đã lâu”như Nguyễn Trãi đã nêu trong Bình Ngô Đại Cáo Một trong những thành phần cấu tạo nền văn hiến của đất nước là nền giáo dục phát triển Nhân dân ta có truyền thống hiếu học và một nền giáo dục lâu đời, đã đào tạo biết bao người

Trang 32

Vai trò của người thày đối với giáo dục, với xã hội được đúc kết qua câu

ca dân gian„„không thày đố mày làm nên” hoặc:

„„Muốn sang thì bắc cầu kiều Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy” Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, cả nước tiến hành công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá Đảng lại đặt:„„Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Nhà nước và của toàn dân.” [ 5; 1 ] Luật giáo dục được Quốc Hội nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2-12-1998, đã dành một chương nói về „„Nhà giáo”, trong đó nêu vai trò quan trọng của nghề giáo và những chính sách đối với nhà giáo Nếu như giáo dục và đào tạo là mặt trận hàng đầu, xã hội hoá giáo dục là hậu phương của mặt trận ấy thì giáo viên là công cụ để thực hiện thắng lợi mặt trận đó

Đội ngũ giáo viên dạy học tại Mão Điền chủ yếu sèng ở xã Hoài Thượng và xã Mão Điền §ể nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương, mỗi nhà trường thực hiện khẩu hiệu:„„Mỗi thầy cô giáo lµ người nhà trong gia đình của mình.”[ 44; 3 ] Đội ngũ cán bộ quản lý, tập thể thầy cô giáo địa phương luôn luôn xây dựng một tập thể đoàn kết, chân thành để mỗi thầy cô thực sự là người cha, người mẹ của học sinh, được mang tất cả khả năng của mình để cống hiến Chính vì vậy, gần hai

Trang 33

cú 5/43 giỏo viờn giỏi cấp tỉnh, năm 2001 là 4/47, năm 2006 là 9/58 Đến nay( 2007), trường Trung học sơ sở chưa phải là trường chuẩn Quốc gia nhưng được coi là trường chất lượng cao của tỉnh M·o điền đã xây dựng được tập thể đội ngũ giáo viên vững vàng về tư tưởng chính trị, trong sáng về đạo đức, giỏi về nghiệp vụ chuyên mụn, biết chấp nhận và vượt lên mọi khó khăn để dạy giỏi và là tấm gương sỏng cho học sinh noi theo

Đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, trong hai mươi năm qua, đội ngũ giáo viên ở Mão Điền không ngừng tăng lên về số lượng và chất lượng:

Ngành học mầm non: Trong những năm sau đổi mới, đất nước gặp

nhiều khó khăn Về cơ bản đội ngũ giáo viên kh«ng được đào tạo chính quy Năm học đầu tiên ( 1987 - 1988), Mão Điền có tổng số 18 giáo viên, trong đó

16 giáo viên chưa qua đào tạo, 2 giáo viên có trình độ sơ cấp Đa số giáo viên mẫu giáo là người của thôn sở tại Năm học ( 1990 - 1991), Mão Điền có tổng

số 26 cán bộ, giáo viên (16 giáo viên mẫu giáo, 10 giáo viên nhà trẻ), trong

Trang 34

33

đó 2 cụ trỡnh độ trung cấp chiếm 7,7%, 14 cụ trỡnh độ sơ cấp chiếm 53,8%, chưa đào tạo 10 cụ chiếm 38,5% Đến năm học (2005 - 2006), số giỏo viờn mầm non là 28, trong đú 2 cô trỡnh độ Đại học chiếm 7,1%, 20 cô trỡnh độ trung cấp chiếm 71,4%, sơ cấp 4 cụ chiếm 14,2%, giỏo viờn chưa qua đào tạo cũn 2 cụ

Ngành học phổ thụng: Đội ngũ giỏo viờn tiểu học Móo Điền cú nhiều

biến động Năm học 1987 - 1988, trường tiểu học nằm trong tổng thể trường phổ thụng cơ sở, tổng số giỏo viờn tiểu học là 38, trong đú toàn bộ cỏc thầy cụ

cú trỡnh độ trung cấp Năm học (1999 - 2000), tổng số giỏo viờn tiểu học là

55, trong đú 7 giỏo viờn cú trỡnh độ Đại học, 12 giỏo viờn cú trỡnh độ Cao đẳng, cũn lại trỡnh độ trung cấp Đến năm học (2006 - 2007), Mão Điền cú

57 cỏn bộ, giỏo viờn tiểu học, trong đú 10 thầy cụ trỡnh độ Cao Đẳng, 23 giỏo viờn trỡnh độ trung cấp, 24 giỏo viờn đang theo học cỏc lớp Đại học,

Cao Đẳng

Trong 45 năm tồn tại, đặc biệt sau hơn 20 năm đất nước đổi mới, tr-ờng Trung học cơ sở Móo Điền là trường cú đội ngũ thầy cụ giỏo chất lượng cao của tỉnh Năm học (1987 – 1988), trường chỉ cú 24 giỏo viờn, trong đú 11 giỏo viờn trỡnh độ Cao Đẳng, 13 giỏo viờn trỡnh độ trung cấp Năm học (2003 – 2004), trường cú 55 cỏn bộ, giỏo viờn, 100% cú trỡnh độ đạt chuẩn, 7 giỏo viên trỡnh độ đại học, 19 giỏo viờn đang theo học Đại học Năm học (2006 - 2007), trường cú 64 cỏn bộ, giỏo viờn, trong đú cỏn bộ quản lý 3, 2 hành chớnh, 59 thầy cụ đứng lớp Hai tỏm giỏo viờn cú trỡnh độ Đại học, 16 giỏo viờn đang theo học Đại học Như vậy tổng số giỏo viờn cú trỡnh độ Đại học và giỏo viờn đang theo học của trường là 44 chiếm 70,5%

2.1.3 Đội ngũ quản lý

Quản lý là một dạng lao động xó hội gắn liền với lịch sử phỏt triển của loài người, một dạng lao động đặc biệt, điều khiển hoạt động lao động, cú tớnh

Trang 35

Trường học là một hệ thống xã hội mà ở đó tiến hành quá trình giáo dục đào tạo (gọi chung là cơ sở giáo dục) Nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội, thực hiện các chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó Trường học là một tổ chức giáo dục cơ

sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo giáo dục thế hệ trẻ, nó là tế bào chủ chốt của hệ thống giáo dục từ Trung ương đến địa phương Do vậy trường học chính là khách thể cơ bản của mọi cấp quản lý Hiệu trưởng và các hoạt động của giáo viên là chủ thể quản lý trực tiếp vận hành hệ thống giáo dục Xét cho cùng, quản lý giáo dục ở tất cả các cấp đều phải nhằm mục đích làm cho các công việc trong nhà trường được vận hành thuận lợi để đạt mục tiêu giáo dục mà nhà trường đề ra Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò và các hoạt động khác trong nhà trường, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để tiến tới mục tiêu giáo dục nhà trường đề ra Công tác quản lý trường học bao gồm quản lý sự tác động qua lại giữa trường học với xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường

Trong các giai đoạn phát triển của giáo dục Mão Điền, đội ngũ quản lý đã

có những đóng góp quan trọng, là những người đi tiên phong trong cuộc cách mạng làm giáo dục Người có vai trò quan trọng trong việc tiến hành cuộc cách mạng đó là thầy Nguyễn Xuân Viên, nguyên hiệu trưởng trường phổ thông cơ sở Mão Điền ( giai đoạn 1986-1990), hiệu trưởng trường trung học

Trang 36

35

cơ sở Mão Điền (1990 - nay) Các thầy cô như: cô Nguyễn Thị Tính nguyên hiệu trưởng trường tiểu học Mão Điền số 1 (1999 - nay), thầy Vũ Văn Diệp nguyên hiệu trường trường tiểu học Mão Điền (1990 - 1999), hiệu trưởng trường tiểu học Mão Điền số 2 (1999 - 2006) cũng góp phần vào sự nghiệp cách mạng đó §óng góp của những thầy cô trên có tác dụng„„định hướng giáo dục từ mái trường”.[ 37; 4 ] Sự lãnh đạo của đội ngũ quản lý giáo dục ở Mão Điền có nhiều điểm đáng chú ý:

Thứ nhất là công tác tuyên truyền, phổ biến để mỗi người dân Mão Điền nhận thức được đầy đủ vai trò, ý nghĩa của sự nghiệp giáo dục đến tương lai của con người và dân tộc Những năm đầu sau đổi mới, đất nước còn gặp muôn vàn khó khăn, người dân cả nước nói chung cũng như người dân Mão Điền nói riêng quan tâm nhiều đến kinh tế Trong bối cảnh nghề ươm nuôi cá giống ở Mão Điền lại đang phát triển mạnh nên giai đoạn này học sinh Mão Điền nghỉ học rất nhiều, trung bình hµng năm ở mỗi cấp học số lượng học sinh nghỉ học chiÕm khoảng từ 13 - 15%.[ 43; 2] Con số này khiến những người làm giáo dục trăn trở Đội ngũ cán bộ quản lý trường phổ thông cơ sở Mão Điền đã vận động thành lập Ban liên lạc N¨m 1990, Ban liên lạc trường phổ thông cơ sở Mão Điền thành lập, thành phần gồm đội ngũ thầy cô giáo, lãnh đạo chính quyền địa phương, một số người thành danh, đại diện các dòng họ Hoạt động của Ban liên lạc nhằm tuyên truyền, vận động nhân dân và gia đình nhận thức được vai trò, ý nghĩa của sự nghiệp giáo dục Nhờ hoạt động

đó, người dân Mão Điền ngày càng quan tâm hơn đến sự nghiệp giáo dục Số học sinh bỏ học ngày càng ít đi, từ 13% năm học 1987 - 1988 xuống còn 8% năm học 1990 - 1991, 3% năm học 1991 - 1992 [43; 2-3] Đây là yếu tố quan trọng đầu tiên trong cuộc cách mạng làm giáo dục ở Mão Điền

Thứ hai là hoạt động nhằm nâng cao chất lượng dạy và học: Để nâng cao chất lượng dạy vµ học, thế mạnh của Mão Điền chính là yếu tố con người

Trang 37

36

trước hết là đội ngũ cán bộ giáo viên và học sinh Mặc dù hệ thống trường lớp

ë Mão Điền không đảm bảo nh-ng những cán bộ quản lý ở đây nhận thức sâu sắc rằng:„„Muốn nâng cao được chất lượng dạy và học cần phải xây dựng được hệ thống thư viện và những phương tiện dạy học”.[ 44; 5] Năm 1999, lãnh đạo trường trung học cơ sở Mão Điền phối hợp với Ban liên lạc vận động thành lập quỹ„„Tấm lòng vàng” nhằm xây dựng phòng máy tính, phòng thư viện Năm 2000, trường trung học cơ sở Mão Điền hoàn thành xây dựng phòng máy tính và đưa tin học vào giảng dạy Mão Điền là địa phương đầu tiên trong huyện giảng dạy tin học ở bặc THCS Năm 2002, trường Trung học

cơ sở Mão Điền hoàn thành xây dựng và trang bị nhà thư viện khoảng 3000 đầu sách trị giá 100 triệu đồng

Giỏo viên là một trong những yếu tố quan trọng nâng cao hiệu quả giáo dục Vì vậy mỗi nhà trường đã xây dựng kế hoạch tổ chức bồi dưỡng đội ngũ giáo viên như: Cử đi học nâng cao trình độ, thường xuyên tổ chức cho giáo viên đi học tập kinh nghiệm những đơn vị giáo dục mạnh đặc biệt là các trường ở Hà Nội, mời các chuyên gia (Là những người đã thành danh từ chính mái trường đó về giảng dạy), Từ năm 2000 đến nay, mỗi năm trường THCS Mão Điền tổ chức hai đợt học tập chuyên môn do những cá nhân ở địa phương ( Đang dạy tại trường chuyên Bắc Ninh, giảng viên ở một số trường Đại học ) vào dịp 20/11 và dịp tết cổ truyền Nhờ những biện pháp trên, Mão Điền có đội ngũ giáo viên chất lượng cao ở bặc THCS Bắc Ninh

Với học sinh, mỗi nhà trường đều thống nhất công tác chỉ đạo: Bồi dưỡng cho học sinh ý chí không ngừng vươn lên, giáo dục các em ý thức tự học, tự rèn luyện Đặc biệt nhà trường rất coi trọng công tác hướng dẫn học sinh phương pháp tự học Ngoài tự học trên lớp, thông qua ban liên lạc, hội phụ huynh học sinh, nhà trường hướng dẫn phụ huynh cách các em tự học ở nhà và cách theo dõi các em

Trang 38

37

2.1.4 Sự phát triển mạnh lưới trường lớp, quy mô đào tạo

Trong hai mươi năm đất nước đổi mới ( 1986 - 2007), giáo dục Mão Điền không ngừng được mở rộng về quy mô đào tạo và mạng lưới trường lớp

Đối với ngành học mầm non: Năm học 1987 - 1988, Mão Điền có 6

nhóm nhà trẻ tập thể với 160 cháu, mẫu giáo có 7 lớp với 260 cháu Đến năm học 1997-1998, có 11 nhóm nhà trẻ tập thể với 141 cháu, 10 lớp mẫu giáo với

407 cháu Năm học 2005-2006, Mão Điền có 40 nhóm nhà trẻ tập thể với 268 cháu, 20 lớp mẫu giáo với 593 cháu Như vậy trong 20 năm ngành học mầm non của Mão Điền không ngừng phát triển: Số nhóm nhà trẻ tập thể tăng từ 6 nhóm lên 40 nhóm( gấp gần 7 lần), số trẻ tăng từ 160 lên 268 cháu Lớp mẫu giáo tăng từ 7 lên 20 lớp( gần 3 lần), số cháu học mẫu giáo tăng từ 260 lên 593( tăng hơn 2 lần)

Đối với ngành học phổ thông: Từ năm 1962 - 1990, Mão Điền chỉ có

một trường phổ thông bao gồm cả cấp một và cấp hai, đến năm 1991 - 1999, Mão Điền có hai trường phổ thông là trung học cơ sở Mão Điền và tiểu học Mão Điền Năm 1999, do yêu cầu của sự phát triển, trường tiểu học Mão Điền tách thành hai: Trường tiểu học Mão Điền số một và trường tiểu học Mão Điền số hai Như vậy từ một trường phổ thông đến nay ở Mão Điền đã có ba trường phổ thông

Ngoài sự phát triển quy mô số trường, quy mô lớp học và số lượng học sinh cũng có sự phát triển: Năm học 1987 - 1988, trường phổ thông cơ sở Mão Điền có 47 lớp với 1856 học sinh trong đó 36 lớp cấp I, 11 lớp cấp II Đến năm học 1997 - 1998, trên địa bàn xã có 52 lớp cấp I với 1814 học sinh,

22 lớp cấp II với 1068 học sinh Năm học 2006-2007, ở Mão Điền có 33 lớp cấp I với 1127 học sinh, ( Trường tiểu học số I: 18 lớp, 530 học sinh Trường tiểu học số II: 15 lớp, 597 học sinh), và 30 lớp cấp II với 1256 học sinh Như

Trang 39

38

vậy trong hai mươi năm, số học sinh phổ thông của Mão Điền tăng lên 1,3 lần ( từ 1856 lên 2383 học sinh) Số lớp học tăng lên 1,3 lần ( từ 47 lên 63 lớp) Qua tìm hiểu mạng lưới trường lớp và quy mô đào tạo giáo dục của Mão Điền ta thấy sự học ở đây không ngừng được phát triển Điều này khẳng định người dân nơi đây rất quan tâm đến gi¸o dôc và tạo điều kiện cho con em mình được đến lớp Đây là nhân tố để xây dựng phong trào học tập rộng khắp, học tập suốt đời

2.1.5 Công tác xã hội hoá giáo dục

2.1.5.1 Chủ trương của Đảng, nhà nước về xã hội hoá giáo dục

Xã hội hoá giáo dục là một quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta Quan điểm đó là sự đúc kết truyền thống hiếu học, đề cao sự học và chăm lo việc học hành của nhân dân ta suốt chiều dài phát triển của dân tộc Từ cách mạng tháng 8/1945 thành công đến nay, nhiều văn bản của Đảng, Nhà nước ta

về chỉ đạo sự nghiệp giáo dục đã khẳng định: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”, “Nhà nước và nhân dân cùng làm giáo dục”

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI( 12/1986), ngành Giáo dục và Đào tạo đã có những chuyển biến tích cực, đề ra những chủ trương đổi mới đúng đắn nhằm phát triển giáo dục lên một tầm cao mới phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Một trong những chủ trương đó của ngành giáo dục là đẩy mạnh XHHGD bằng con đường mở Đại hội giáo dục các cấp nhằm huy động các lực lượng xã hội và nhân dân tham gia xây dựng, phát triển giáo dục

Nghị quyết TW 4 khoá VII ngày 14/01/1993 về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp Giáo dục và Đào tạo” của Ban chấp hành TW Đảng, nhấn mạnh: “Nhà nước cần đầu tư nhiều hơn cho giáo dục, nhưng vấn đề rất quan trọng là phải quán triệt sâu sắc và tiến hành tốt việc xã hội hoá các nguồn đầu tư, mở rộng

Trang 40

Điều 11, Luật giáo dục ban hành năm 1998 có quy định về xã hội hoá hoạt động giáo dục cụ thể: Mọi tổ chức, gia đình và công dân đều có trách nhiệm chăm lo cho sự nghiệp giáo dục, xây dựng phong trào học tập và môi trường giáo dục lành mạnh, phối hợp với nhà trường thực hiện mục tiêu giáo dục Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp giáo dục, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp giáo dục [ 5; 6]

Chỉ thị 40/CT-TW ngày 15/6/2004 của ban bí thư TW Đảng đã đặt ra mục tiêu phấn đấu cho toàn ngành Giáo dục và Đào tạo nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2001- 2010 và chấn hưng đất nước là: Xây dựng đội ngũ nhà giáo và quản lý giáo dục được chuẩn hóa đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng cường xã hội hóa giáo dục, toàn dân chăm lo cho sự nghiệp giáo dục.[14; 3] Để đạt được mục tiêu này, Ban bí thư chỉ ra 6 nhiệm

vụ toàn Đảng và toàn ngành giáo dục đào tạo phải ra sức thực hiện

Thấm nhuần chủ trương xã hội hoá giáo dục của Đảng, tỉnh Bắc Ninh rất chú trọng đến công tác xã hội hoá giáo dục Nghị quyết 03/NQ-TU ngày 26/5/1997 của tỉnh uỷ Lâm thời Bắc Ninh về mục tiêu phát triển giáo dục -

Ngày đăng: 16/01/2016, 07:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng chữ viết tắt - Một số vấn đề về giáo dục ở mão điền (huyện thuận thành, tỉnh bắc ninh trong những năm đổi mới (1986-2006)
Bảng ch ữ viết tắt (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w