1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ,TỈNH THÁI NGUYÊN

26 1,4K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 166,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các loại rau củ thường được người dân hái như: củ mài, củ nâu, nấm, măng,trám đen, trám trắng, mác mật, rau ngót rừng… đã tạo nên những món ăn ngon lạmiệng trong khẩu phần ăn uống hàng n

Trang 1

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

1.1.Vị trí địa lí và điều kiện tự nhiên của huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên 1.1.1 Vị trí địa lí

Đồng Hỷ là huyện miền núi của Thái Nguyên Huyện lỵ đặt tại thị trấn ChùaHang cách trung tâm thành phố Thái Nguyên 3km về phía Tây Bắc ToànHuyện có 17 xã và 3 thị trấn Địa phận huyện Đồng Hỷ chạy dài 21°32 đến21°51 độ vĩ bắc, 105°46’ đến 106°04’ độ kinh đông Phía bắc giáp huyện VõNhai và tỉnh Bắc Kạn, phía nam giáp huyện Phú Bình và thành phố TháiNguyên, phía đông giáp tỉnh Bắc Giang, phía tây giáp huyện Phú Lương vàthành phố Thái Nguyên

1.1.2 Điều kiện tự nhiên

Huyện Đồng Hỷ có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển kinh tế nôngnghiệp đặc biệt là trồng cây công nghiệp

Nhìn chung nhờ vị trí và điều kiện tự nhiên trên nên Đồng Hỷ có nhữngđiều kiện cơ bản để thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhất là nền kinh tế nông nghiệpnhiệt đới, bên cạnh đó còn đẩy mạnh sự giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các vùng,

Từ đó tạo điều kiện đảm bảo đời sống vật chất cho nhân dân

1.2 Người Sán Dìu ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên.

1.2.1.Tên gọi và nguồn gốc lịch sử.

Tộc danh tự nhận của họ là Sán Dìu (Sán Dao/Sán Dìu) Các cộng đồng lánggiềng gọi họ bằng nhiều tên khác nhau như: Sán Dìu,Trại Đất

1.2.1 Dân số và phân bố dân cư.

Tính năm 2011 dân số trên toàn huyện Đồng Hỷ là 110,170 người, trong đó

người Sán Dìu chiếm tới 16322 người, tập trung chủ yếu ở các xã:Nam Hòa( 5932

người) Tân Lợi ( 2838 người ) Linh Sơn ( 2828 người) Minh Lập (1376 người )

Trang 2

Tiểu kết chương I

Đồng Hỷ là huyện thuộc trung du miền núi phía Bắc, nơi có điều kiện tựnhiên khá thuận lợi để phát triển hoạt động sản xuất nông nghiệp và phát triển mộtnền công nghiệp, dịch vụ Sán Dìu là một dân tộc chiếm số lượng khá đông tronghuyện, họ là những người nông dân chất phác, giản dị, lấy nông nghiệp làm nghềmưu sinh chính Tất cả những điều kiện thuận lợi đó đã góp phần thúc đẩy nền kinh

tế nông nghiệp phát triển đồng thời nó cũng hướng tới sự phát triển của văn hóa vậtchất

CHƯƠNG II: VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI SÁN DÌU Ở HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

2.1 Quan niệm chung về văn hóa và văn hóa vật chất.

Văn hóa đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến tiêu biểu như giáo sư Trần

Ngọc Thêm Ông đã đưa ra khái niệm văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”

Văn hóa bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần Văn hóa vật chất trong dântộc học là một trong các hình thức văn hóa của mỗi tộc người bao gồm : làng bản,nhà của, áo quần, trang sức, ăn uống, phương tiện đi lại, công cụ sản xuất, vũ khí…Tuy nhiên trong đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu về ẩm thực và công cụ mưu sinh

2.2 Văn hóa ẩm thực.

Ăn (thực) uống (ẩm) là nhu cầu tự nhiên của con người, cho dù người đó thuộcđối tượng nào, dân tộc nào và ở vùng miền nào đi chăng nữa Hoạt động ăn uốngkhông chỉ đơn thuần là việc đưa đồ ăn, thức ăn vào miệng nhai nuốt, mà nó còn là

Trang 3

khái niệm thuộc phạm trù văn hóa “chính xác hơn là văn hóa tận dụng môi trường

tự nhiên”

2.2.1 Nguồn nguyên liệu chế biến các món ăn.

Nguồn sống chủ yếu của người Sán Dìu là nền kinh tế nông nghiệp tự cung

tự cấp với phương thức sản xuất lạc hậu Nhưng những điều kiện thuận lợi từ thiênnhiên mang lại cùng với sự sáng tạo của mình, đồng bào đã tạo ra nguồn thu nhập

để trang trải cho cuộc sống trong đó việc tìm kiếm khai thác lương thực, thực phẩmđược nhân dân nơi đây chú trọng

2.2.1.1 Nguồn thức ăn khai thác trong tự nhiên.

Để bổ sung cho nguồn thức ăn hàng ngày thì người Sán Dìu cũng biết tậndụng và khai thác nguồn thức ăn có sẵn trong tự nhiên Nguồn thức ăn này kháphong phú tùy theo từng mùa, mỗi mùa lại có những loại rau, củ, quả khác nhau,cách chế biến khác nhau, tạo nên những món ăn lạ, ngon và hấp dẫn

Các loại rau củ thường được người dân hái như: củ mài, củ nâu, nấm, măng,trám đen, trám trắng, mác mật, rau ngót rừng… đã tạo nên những món ăn ngon lạmiệng trong khẩu phần ăn uống hàng ngày Bên cạnh những hoạt động hái lượm thìngười đàn ông Sán Dìu cũng thường xuyên săn bắt muông thú, đánh bắt tôm cá ởcác mon sông, suối… được diễn ra quanh năm Ngay cả hiện nay khi trồng trọt vàchăn nuôi phát triền thì việc tìm kiếm và tận dụng nguồn thức ăn thủy sản này cũngkhông hề bị mất đi

Như vậy những loại rau, củ, quả, động vật hoang dã và thủy sảnkhông chỉ góp phần làm cho nguồn thức ăn hàng ngày của người dân tộc Sán Dìuđược phong phú hơn mà còn phản ánh được mối quan hệ mật thiết của cư dân SánDìu với môi trường tự nhiên trong việc tìm kiếm thức ăn Ngày nay tuy những hoạt

Trang 4

động săn bắt, hái lượm đã giảm đi so với trước kia nhưng đâu đó nó vẫn hiện diệntrong cuộc sống hàng ngày của người dân tộc Sán Dìu ở nơi đây.

2.2.1.2 Nguồn thức ăn từ trồng trọt và chăn nuôi.

Cũng như cộng đồng các dân tộc anh em khác, người Sán Dìu cũng sửdụng cây lúa là cây lương thực chính Các giống lúa được người Sán Dìu ở nơi đâytrồng phổ biến như: cháo vô (sớm câu), ba giăng vô, tám thơm vô (tám thơm), támlùn vô (tám lùn), nếp hoa vàng, thai nô (nếp cái), nếp đen, nếp trắng…

Ngoài cây lúa người Sán Dìu còn trồng các loại cây lương thực khácnhư: ngô, các loại khoai, sắn, củ từ… sản phẩm của các loại cây này được sử dụng

để làm thức ăn độn trong những ngày giáp hạt, những năm thiếu đói và để chănnuôi gia súc, gia cầm

Về thực phẩm, song song với việc thu hái rau trong rừng, ven suối,người Sán Dìu còn biết đến trồng rau canh tác trên các bãi đất vườn với hình thứcxen canh và luân canh Các loại bầu (phù), bí, được trồng nhiều ở trên nương bãi.Quả bí được dùng làm thức ăn quanh năm, ngọn bí được nấu canh, luộc hoặc xào Trước đây, trong bữa ăn hàng ngày người Sán Dìu ít ăn thịt Hầu hếtcác loại gia sức như: trâu (ngòi), bò (vòng ngòi), lợn (chui), chó, dê,… chỉ đượcdùng vào các việc như ma chay, cưới xin, các lễ giải hạn, cấp sắc… Thịt gà, vịt,ngan, chim chỉ được dung những ngày lễ tết hay có khách

2.2.1.3 Các nguồn lương thực, thực phẩm khác.

Bên cạnh nguồn thức ăn có từ sản xuất hay khai thác trong tự nhiên,người Sán Dìu ở huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên còn bổ sung thức ăn cho bữa cơmgia đình bằng các trao đổi sản phẩm với nhau hoặc mua bán Từ xưa các chợ phiên

đã hình thành trong khu vực người Sán Dìu cư trú tạo thuận lợi cho việc trao đổibuôn bán sản phẩm

Trang 5

Thông thường, người ta đem những sản phẩm (gạo, sắn, rau, thịt, mộcnhĩ, măng, củ nâu, củ mài, các loại rau…) mà mình dư thừa đổi lấy thực phẩm màgia đình thiếu Cách trao đổi khác là họ đem những sản phẩm, hàng hóa dư thừa rachợ bán rồi mua những thực phẩm mà họ thiếu hoặc không thể tự túc được như: Mìchính, nước mắm, muối, mỡ ăn, cá, thuốc lào, chè, các loại rau…

Một nguồn lương thực, thực phẩm nữa là sự đóng góp của các tổ chứclàng bản, hay anh em họ hàng khi gia đình có việc lớn: cưới xin, tang ma… Đónggóp với số lượng nhiều hay ít là tùy thuộc vào mối quan hệ họ hàng hoặc tùy vàođiều kiện hoàn cảnh các gia đình trong họ

2.2.2 Các món ăn hàng ngày.

Tuy sống gần kề với nhiều dân tộc, tiếp thu nhiều yếu tố văn hóa của cácdân tộc anh em song việc ăn uống của người Sán Dìu cũng có những nét riêng biệt.Nếu như đa phần cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều lấy cơm làm món ăn chínhthì ở người Sán Dìu ngoài cơm còn phải kể đến cháo loãng Ăn cháo đi đôi với cơmchứ không phải vì đói mà ăn cháo hoặc thay cơm Trên bếp của mỗi nhà thườngxuyên có một nồi cháo loãng Nước cháo cũng được coi như một thứ nước giải khátcủa dân tộc Sán Dìu

Trong ngày thường người Sán Dìu ăn ba bữa, hai bữa chính (trưa từ 11h 12h, chiều từ 18h - 19h) và một bữa phụ sáng Bữa sáng thường ăn khoai, sắn hoặccháo loãng, bữa trưa và bữa chiều có cơm, cháo, rau, cà, tương… Thức ăn hàngngày của người Sán Dìu rất đạm bạc, món ăn chủ yếu vẫn là rau xanh, củ luộc hayxào mỡ Tùy từng mùa, mỗi mùa lại có những món rau ,củ riêng, vào mùa hè người

-ta sử dụng nhiều loại rau như: mồng tơi, rau đay, mướp, rền, rau muống… Thuđông có các loại rau cải, xà lách, xu hào… Ngoài ra để bổ trợ cho các loại rau ởvườn nhà là vô số các loại rau hoang dại như: rau bợ, măng,… Mùa hè thời tiếtnóng bức người ta thường luộc hoặc nấu canh ăn lẫn với cà muối và chấm tương

Trang 6

Mùa đông thời tiết lạnh nhu cầu của các món rán, rang, xào tăng Các gia vị cay,nóng của gừng, ớt…được sử dụng nhiều hơn Trong khẩu phần ăn uống của ngườiSán Dìu thức ăn từ nguồn động vật như: thịt, cá cũng có nhưng không phải làthường xuyên

Phương thức chế biến món ăn của người Sán Dìu chủ yếu là chế biến qualửa, không qua lửa Nhưng thực tế đi sâu vào tìm hiểu ta sẽ thấy được sự khácnhau, nét độc đáo và sáng tạo trong cách chế biến món ăn cũng như khẩu vị mangnét đặc trưng của dân tộc mình

Các món ăn được chế biến qua lửa: các món nướng (các loại thịt nướng, cánướng…), vùi (ngô, khoai, củ từ…), rán (khoai, thịt, nem…), xào, rang (thịt lơn,thịt gà, rau…)

Các món được chế biến không qua lửa như: sang hoét (tiết sống), làm gỏi,làm mẻ, làm chua, nôm, muối sổi…

Cách chế biến một số món ăn hàng ngày và truyền thống của người Sán Dìunhư:

Cháo loãng: Thông thường đồng bào ăn cháo trong tất cả các bữa ăn,

uống cháo loãng như một thứ nước như giải khát làm mát cơ thể saunhững giờ lao động mệt mỏi Cách nấu món cháo loãng rất đơn giản,nguyên liệu gồm có gạo và nước, khi nấu người ta đổ gạo và nướcvào nồi rồi đặt lên bếp lửa đun đến khi nào nhừ thì thôi Món cháoloãng không cho thêm gia vị gì cả, thường khi ăn cháo loãng người

ta ăn thêm với cà muối…

Cơm nắm: Cơm nắm của người Sán Dìu thường được dung cho

người dân khi đi làm trên nương, món này được làm khá đươn giản,sau khi nấu cơm thì người ta cho cơm vào khăn nắm chặt rồi bỏ vào

Trang 7

lá chuối đã được hơ qua lửa Cách làm này làm cho món cơm nắmthêm mùi thơm và có thể để lâu được Khi ăn có cảm giác ngonmiệng không cần tới thức ăn hoặc có thể chấm với muối vừng.

Tương sống: Đồng bào Sán Dìu làm tương rất ngon Nguyên liệu

gồm có gạo nếp, đậu tương rang vàng, xay vỡ Gạo nếp được đồ xôichín, để nguội sau đó đem ủ với lá cong cốc má dep, là thứ lá tỏanhiệt cao để tạo ra mốc từ đen chuyển sang vàng rồi cuối cùng là đỏ,đem mốc rửa sạch rồi đổ vào chum sành cùng với nước tương rang,thêm muối, bịt kín, ngâm khoảng một tuần Đỗ tương rang vàng xay

vỡ cho vào chum, ngâm từ 3 đến 4 ngày sau đó là công đoạn ngảtương tức là hòa chum mốc đã ngâm lẫn với đỗ tương ngâm để tạothành tương Khi pha mốc với tương đồng bào thường pha vào buổisáng sớm, lúc mặt trời chưa mọc , theo kinh nghiệm nếu mặt trờimọc thì tương sẽ bị chua Để có tương với độ mặn vừa phải, ngon,người ta làm công thức cứ chín bát nước thì hai bát muối Tương đểcàng lâu thì càng ngon

Gỏi cá: Các loại cá để làm gỏi thường là cá mè, trắm to, cá quả…

Được làm sạch , lọc lấy thịt bỏ xương, không được dùng nước rửa

mà phải dung giấy bản thấm khô thịt cá sau đó thái lát mỏng, trộnvới thính gạo rang là ăn được Khi ăn thường ăn kèm với nhiều loạirau thơm như: húng chó, mùi tàu, tía tô… Ngày nay món cá gỏi ítđược dùng bởi bà con ý thức được rằng ăn gỏi (ăn sống) là khôngđảm bảo vệ sinh

Các loại dưa chua: Cải bẹ, cải bắp, là sắn, hành, cà… tất cả rửa sạch,

bỏ rễ, bỏ lá (nếu là hành), thái nhỏ (nếu là cải bẹ, cải bắp), bỏ cuống(nếu là cà bát, cà pháo), cho vào vại, thêm muối trắng, nước lã đổ

Trang 8

vừa ngập, dùng tấm phên nén xuống sau đó trẹn hòn đá cuội trên mặtrồi đậy kín, sau vài ngày là ăn được.

Tiết canh (thuân): Phổ biến nhất là tiết canh lợn Khi chọc tiết lợn,

họ hứng lấy tiết vào một chiếc bát to có pha sẵn tỷ lệ muối, khuấyđều liên tục theo một chiều cho đến khi tiết nguội để khỏi đông lại.Nhân tiết canh chủ yếu được làm từ xương sườn, cuống họng, phổibăm, cơ hoành đem luộc hoặc thui qua lửa băm nhỏ, rang vàng Khihãm người ta cho nhân vảo bát con sau đó múc tiết chế nước sôi đểnguội đánh đều đổ vào bát nhân sao cho khi thêm tiết vào sẽ đầy bát.Ngoài tiết canh lợn, người Sán Dìu còn đánh tiết canh gà, vịt, ngan,nhân thường là cổ cánh băm nhỏ, rang vàng Cách chế biến như tiếtcanh lợn

Cơm lam (chôc thòng phan): Lam là một động từ chỉ việc nướng

chín thức ăn trong ống nứa tươi Vì vậy khi đi rừng, đi săn, làmnương xa trong điều kiện không có dụng cụ nấu ăn, người Sán Dìukhông chỉ nấu cơm lam mà còn có thịt lam, cá lam, bí lam… Ốngnứa được chọn làm cơm lam thường là nứa phấn hoặc tre bánh tẻtươi để khi lam thì chỉ cháy ở phần ngoài và nước ngọt thấm vàothức ăn, khi lam cơm người ta nướng phần ống có nút lá trước, vừanướng vừa xoay đến cuối ống cho cơm chín đều

Món canh hoa chuối (cheo lúi cang): Hoa chuối thái ngang, nhỏ, bóp

muối cho bớt vị chát, cho vào chảo mỡ đảo đều, thêm nước đun đếnsôi là được

Món canh rau lang (suy dep cang): Ngọn và lá rau lang hái về rửa

sạch, cho mỡ vào chảo đun già lửa rồi cho rau vào đảo đều thêm vàinhánh tỏi giã nhỏ, đổ nước đun đến khi sôi là được

Trang 9

Món canh cà bát (cà hoa) (fa khuế chúy cang): Quả cà thái lát miếng

mỏng, ngâm nước để hết chat, cho vào chảo mỡ đảo đều, cho nướcđun sôi chín, thêm ít mùi tàu, tía tô là được

Như vậy, trong hai cách chế biến thức ăn nói trên thì người Sán Dìu thiên

về cách chế biến qua lửa, trong đó phổ biến là luộc và nấu canh Thông qua việc ănuống trong ngày thường, ngày mùa hoặc bữa ăn có sự tham gia của cộng đồng tathấy cơ cấu bữa ăn của người Sán Dìu thay đổi một cách khéo léo cho phù hợp vớihoàn cảnh kinh tế, thói quen cũng như tập quán của dân tộc

2.2.3 Các món ăn trong ngày lễ tết.

Người Sán Dìu ở các địa phương đều thống nhất trong việc tổ chức cácngày lễ tết cổ truyền, họ là tộc người được coi là có nhiều tết trong năm Cũnggiống như người Kinh, người Sán Dìu ăn tết theo lịch âm trùng với hầu hết cácngày tết lớn với người kinh và nhiều dân tộc anh em khác Trong một năm, nếu chỉ

kể các tết chính thì người Sán Dìu có tới sáu cái tết đó là: Tết Nguyên Đán ( sêchsin nén); tết Thanh Minh; tết mồng năm tháng năm; tết tháng Bảy; tết Cơm Mới; tếtĐông Chí

• Một số món ăn trong ngày tết:

Nem chua: Là món ăn phổ biến trong các ngày lễ tết Để làm được món này

cần có thịt nạc sống, bì lợn luộc thái mỏng, nêm muối rang trộn với thính gạo rangthêm chút rượu gạo, dùng ống nứa hoặc tre bánh tẻ nhồi toàn bộ thịt đã trộn vàođầy ống sau đó dung lá ổi nút miệng ống lại, dựng ngược miệng ống ngâm trongnước sau một tuần là ăn được Nem chua ăn sống, có vị chua và mùi thơm củathính, khác với các loại nem chua của người kinh và một số dân tộc khác

Lạp xường: Lòng non lợn được tuốt nhiều lần cho sạch, mỏng Thịt nạc vai,

thịt ba chỉ bỏ bì thái mỏng, băm nhỏ, ướp rượu, muối, gừng vừa đủ, cho thêm hồ

Trang 10

tiêu rồi nhồi chặt vào lòng non Sau đó cho lên xào, ngày thì phơi nắng, tối thì sấytrên gác bếp cho tới khi bì lạp xường khô mọng, trong suốt, nhìn thấy thịt đỏ au là

có thể ăn được Thông thường lạp xường được rán hoặc hấp trước khi ăn, nhưngcũng có thể đem thái mỏng ăn ngay Lạp xường của người Sán Dìu có màu hồng,dậy mùi thơm của rượu, vị cay của hồ tiêu và vị ngon của thịt ướp

Khau Nhục: Được chế biến từ thịt lợn ba chỉ nhưng khau nhục (nhiều nơi

gọi là khao nhục) lại khiến người ăn không thấy ngấy, mỡ mà lại có mùi vị rất độcđáo, bổ dưỡng Khau nhục là một món ăn tiếp nhận kỹ thuật của người Hoa, chếbiến rất công phu, tuân theo quy trình, bí quyết riêng Từ lâu, món ăn đã trở thànhmột món đặc sản dùng trong cỗ bàn sang trọng, tiếp đón khách quý hoặc mỗi dịp lễTết của người dân tộc Sán Dìu

Các món ăn trong ngày lễ tết không thể thiếu các loại bánh:

Bánh chưng: Là loại bánh không thể thiếu trong dịp tết Nguyên Đán, với

người Sán Dìu ngoài tết Nguyên Đán họ còn làm trong dịp tết mồng năm thángnăm, tết Thanh Minh Bánh chưng của dân tộc Sán Dìu được gói giống như hìnhtrụ tròn, mỗi đầu bánh được gấp thành ba góc, buộc cuốn lạt giang tước mỏng từhai đầu góc giữa, đây cũng là một đặc điểm khác so với bánh chưng vuông hoặc trụtròn của dân tộc kinh Bánh có nhân thịt mỡ và đỗ xanh Nguyên liệu gồm có gạonếp loại ngon, đỗ xanh, thịt mỡ khổ, muối, lá dong, lá chíp, lạt giang Gạo nếp giãtrắng, ngâm khoảng mười giờ liên tục, đãi sạch để dáo nước; đỗ xanh vỡ đôi, ngâmnước làm tróc vỏ, đãi sạch, trộn muối trắng; thịt mỡ khổ thái chỉ bằng ngón tay út,ướp muôi; lá dong được rửa sạch; lạt bánh là lạt giang Bánh chưng được gói theothứ tự, lá dong loại to thì đặt một tàu, lá nhỏ thì đặt hai tàu, tiếp là chip xếp xenvào, sau đó múc một bát rưỡi gạo dải một lượt theo chiều dài của lá, dải đỗ, đặt thỏithịt vào giữa theo chiều dài của bánh, phủ tiếp lượt đỗ lên láp kín thịt, rồi dải tiếpmột bát rưỡi gạo để lấp kín đỗ, sau đó gói thành hình trụ tròn dài như chiếc bánh

Trang 11

tét, ở hai đầu bánh gấp lại tạo thành mỗi đầu ba góc, dùng lạt cuốn quanh theo hìnhxoắn ốc từ hai góc vào giữa Sau đó cho bánh vào nồi đồng hoặc nhôm to, trước khixếp bánh người ta lót một lớp lá dong ở đáy nồi Khi xếp bánh đầy nồi đổ nướcngập trên bánh, miệng nồi được biệt lá dong, sau đấy mới đậy vung Nồi bánh đunkhoảng mười giờ liên tục, thỉnh thoảng kiểm tra nếu thấy cạn nước thì phải đỏ thêmnước sôi vào đầy nồi Sau khi vớt bánh người ta lăn bánh để bánh dền chọn bánhđẹp đặt lên bàn thờ thắp hương báo tổ tiên.

Bánh trôi: Với bánh trôi được làm từ bột nếp sống, nhào nước lăn thành

thỏi bột, cắt từng đầu mẩu cho vào lòng bàn tay lăn thành hình tròn to hơn trứngchim cút, sau đó cho vào nồi nước đang sôi, đến khi bánh chín nổi trên mặt nướcthì vớt ra bát đĩa, sau đó rắc lên trên ít đường phên Bánh trôi có mùi thơm củađường ăn rất ngon

Bánh tro: Với bánh tro nguyên liệu là gạo nếp ngon ngâm với nước tro lọc.

Điều khác biệt của bánh tro Sán Dìu là nước tro lấy từ tro của một trong các thân

cây rừng đốt tươi trong đó tốt nhất là cây “má láo suy” Trước kkhi gói bánh từ

mười đến mười lăm ngày, người ta lấy một chiếc thạ lót lá chuối khô rồi đổ cho vàođầy thạ, ấn nhẹ tay xuống cho tạo thành chỗ trũng để đổ nước, phía dưới được hứngbằng một chiếc vại để lấy nước lọc qua tro Sau khi có nước lọc tro người ta lại phachế với nước vôi trong để được nước ngâm gạo nước tro có độ mặn của tro và độnồng của nước vôi Nước tro màu vàng khi ngâm gạo làm cho gạo chuyển màuvàng và khi bánh chín có màu vàng trong suốt Bánh tro gói bên ngoài là lá dong,bên trong lá chíp hình tròn dài, hai đầu bánh gấp lại thành sáu góc, cuốn lạt xungquanh như bánh chưng, khi ăn chấm với mật mía Bánh tro của người Sán Dìu cóhương vị ngày tết ngày tết Nguyên Đán, tết Đoan Ngọ thêm phần phong phú

Bánh oản (món thói): Nguyên liệu là gạo nếp ngon nấu hoặc đồ xôi, nếu

nấu thì không phải ngâm còn nếu là đồ xôi thì gạo được ngâm một đêm, sau đó đãi

Trang 12

sạch đem đồ Sau khi nấu hay đồ xôi chín, cơm nếp được đóng thành oản Bánhoản (có nơi gọi là xôi oản) được sử dụng làm vật phẩm cúng bái, trong các đám: kýyên, dâng sao giải hạn, cấp sắc, ma chay…

Bánh dầy: của người Sán Dìu được làm từ gạo nếp nguyên chất giã bằng

cối đá Trước khi giã bánh dày người ta thái chuối giã nhiều lần cho sạch lòng cối.Sau đó, xôi trong chõ được xúc đổ vào cối, phải hai đến ba người cùng nhau giã,khi giã nhuyễn người ta dùng mỡ gà hoặc mỡ lợn hơ nóng xoa tay vào chày đểchống dính Bánh dầy của người Sán Dìu thường nhồi nhân đỗ xanh trộn đườngphên, hay nhân đỗ xanh xào mỡ Bánh có hình tròn dẹt Người Sán Dìu, lót lá chuốivào mẹt, dần sang, rồi xếp từng lượt bánh vào Mùa giã bánh dầy của người SánDìu khoảng tháng 10 âm lịch, sau vụ thu hoạch lúa nếp mới

Bánh chay (bánh chấy): Cách chế biến như bánh trôi, bột nếp sống nhào

nước lăn thành quả bột, cắt từng cục bột vê tròn dài bằng ngón tay cái, sau đó cắttừng chiếc to bằng đầu ngón tay, dung hai lòng bàn tay lăn thành những miếngbánh hình tròn để xuống nia Sau đó, thả tất cả bánh vào nồi nước đang sôi đến khibánh chín, nổi trên mặt nước thì vớt ra bát rồi cho đường phên thái vụn hoặc đườnghoa mai, rồi lấy chính nước luộc bánh đó chan Loại bánh này ít làm trong các ngàythường để ăn mà chỉ làm khi cũng tổ tiên

2.2.4 Gia vị, nước chấm.

Gia vị thường được người dân tộc Sán Dìu sử dụng trong bữa ăn như: vị chua,

cay, mặn, ngọt… Song song với nó là các loại rau gia vị thông dụng như: sông (hành), hẹ, slọn thoi (tỏi), tía tô, lat chấy (ớt), rau răm, mùi tàu, koong (nghệ), lạt koong (gừng), koong thòi (riềng)…

Tương là nước chấm thông dụng nhất của người Sán Dìu , và trong mỗi gia đình hầu như không thể thiếu được chum tương

2.2.5 Cách bảo quản thực phẩm truyền thống.

Trang 13

Trong ngày lễ tết số lượng thịt có nhiều hoặc những khi săn bắn, hái lượm dư thừa, người Sán Dìu đã dùng nhiều cách bảo quản nguồn thực phẩm để ăn dần Có những cách bảo quản phổ biến như: Slại chao (làm khô) Dẹp phi nhộc (muối thịt mỡ) Nhộc trụ chạo (thịt thính).

2.2.6 Đồ uống đồ hút.

Về thức uống: người Sán Dìu thường uống rượu được đồng bào tự nấu bằng

gạo nếp và men thường làm các thứ lá cây rừng Rượu được uống trong các ngày lễtết, khi có khách và là thức uống để thờ cũng tổ tiên, thánh thần Hàng ngày cháoloãng được coi là thức ăn nhưng cũng đồng thời là đồ uống thường xuyên trong giađình người Sán Dìu Khi đi làm đồng về khát nước người ta múc bát cháo uống.Người Sán Dìu quan niệm, uống nước cháo loãng vừa mát, vừa bổ lại tăng cườngsức lực cho con người Cũng từ lâu người Sán Dìu cũng biết hái các loại lá đunnước uống như: là vối, lá chè, đinh lăng, nhân trần… Uống nước lá không nhữnggiúp con người thỏa mãn cơn khát mà còn có tác dụng tốt cho sức khỏe

Về đồ hút: Từ xa xưa người đàn ông dân tộc Sán Dìu thường hút thuốc lào

trong nhà nào nhà nấy cũng có sự xuất hiện của chiếc điếu cày, tẩu, bát hút Nóđược hình thành như những nét truyền thống của người đàn ông thời xưa Ngày nayngười Sán Dìu còn biết tới hút thuốc lá được bán rộng rãi trên thị trường Nhưngtheo thời gian người dân tộc nơi đây cũng dần bỏ đi thói quen, quan niệm xấu nàybởi lẽ họ đã biết tới tác hại của thuốc lào, thuốc lá

Như vậy trong bản sắc văn hóa ẩm thực của mình, người Sán Dìu ở huyệnĐồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã góp phần làm phong phú trong kho tàng văn hóa ẩmthực của người Sán Dìu Thái Nguyên nói riêng và sự đa dạng của văn hóa ẩm thựcngười Sán Dìu Việt Nam nói chung Đó sẽ mãi là hình ảnh đẹp của người Sán Dìutrong cộng đồng 54 dân tộc anh em trên lãnh thổ Việt Nam, nó mãi được phát huy

và bảo tồn theo dòng chảy của thời gian

Ngày đăng: 16/01/2016, 01:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w