1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH, BẢO TỒN VÀPHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HOÁ DÂN TỘC CỦANHÂN DÂN TA QUA HƠN MỘT NGÀN NĂM BẮC THUỘC

36 721 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 301 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thứ hai mua chuộc quan lại người Việt, đưa tư tưởng Nho giáo và văn hóaTrung Hoa vào chính sách cai trị, buộc người Việt phải theo lễ giáo Trung Quốc, từnhững việc dựng vợ, gả chồng cho

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BẮC THUỘC

GVHD: ThS NGUYỄN THỊ ÁNH NGUYỆT

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Trong lịch sử cổ đại, Trung Quốc là một nước lập quốc sớm và trở thành mộttrong những trung tâm văn minh lớn của phương Đông Khi mới thành lập nước(vào thế kỷ XXI TCN) địa bàn Trung Quốc chỉ mới là một vùng ở trung lưu lưu vựcHoàng Hà Từ cuối thế kỷ thứ III TCN Trung Quốc trở thành một nước phong kiếnthống nhất Từ đó nhiều triều đại của Trung Quốc đã bành trướng sang các nướcxung quanh và phát triển thành một đế chế lớn, đất rộng, người đông Quá trìnhdựng nước của Trung Quốc gần như đi đôi với quá trình bành trướng với hệ tư

tưởng làm nền tảng của chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc là thuyết “bình thiên

hạ” Từ đời Chu, các vua Trung Quốc tự xưng là “Thiên tử” (con trời), làm vua

theo “Thiên mệnh” (mệnh trời) Đó là sự thần thánh hóa quyền uy, chức năng của

nhà vua và cả bản thân nhà vua theo quan niệm tôn quân tuyệt đối Do đó, tất cả đất

đai, con người dưới gầm trời đều là của vua “Quân tử” là mẫu người lý tưởng của giai cấp thống trị, sinh ra thực hiện cái đạo “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” Khái niệm “thiên hạ” từ đó trở thành tham vọng đi bành trướng của giai cấp thống trị

Trung Quốc Đây là học thuyết chính trị được khoác màu tôn giáo nhằm biện hộcho hoạt động bành trướng

Sau khi đánh bại An Dương Vương, Triệu Đà nhập nước Âu Lạc vào nướcNam Việt Bắt đầu thời kỳ dân tộc Việt Nam chịu ách thống trị của ngoại bang Áchthống trị ngoại bang kéo dài hơn nghìn năm, nhưng không liên tục Ách thống trịngoại bang kéo dài hơn nghìn năm, trải qua các triều đại Tây Hán (111TCN -08CN), Đông Hán (23 - 220), Ngô (220 - 280), Tấn (280 - 420), Thời kỳ Nam –Bắc triều (420 - 602), Tùy (602 - 618), Đường (608 - 905) Các triều đại TrungQuốc xâm lược Việt Nam là những thế lực có tiềm năng về mọi mặt như binh hùng,tướng mạnh, chiến lược, chiến thuật quân sự giỏi, vũ khí hiện đại hơn dân tộc ta rấtnhiều Trong hơn nghìn năm xâm lược và đô hộ nước ta, các triều đại phong kiếnphương Bắc đã thực hiện nhiều chính sách và biện pháp đồng hóa nhân dân, biếnnước ta thành một bộ phận đất đai của Trung Quốc Trong cuộc đấu tranh trường kỳ

và vô cùng gian khổ, quyết liệt đó, đã nhiều lần, nhân dân ta giành thắng lợi, đuổi

kẻ thù ra khỏi bờ cõi, xây dựng chính quyền tự chủ, tự định đoạt công việc củamình Công cuộc đấu tranh đó cũng là cơ sở cho nhân dân ta giữ gìn và phát triểnsản xuất, phát triển nền kinh tế Mặc dù, từ Triệu đến Đường, chính quyền đô hộ rasức cai trị, vơ vét rất tàn bạo nhưng vẫn không khuất phục được tinh thần đấu tranh

giành độc lập của dân tộc ta “Đây là thời kỳ đầy máu và nước mắt, nhưng cũng là

thời kỳ biểu hiện hết sức quật cường cũng như sự vươn lên kỳ diệu của một tộc người” Trần Quốc Vượng đã nhận định: “Thời kỳ này gọi là thời nghìn năm Bắc thuộc, song có lẽ đúng hơn là thời Bắc thuộc và chống Bắc thuộc, vì người Việt chưa bao giờ chịu khuất phục” Từ đó tinh thần dân tộc, đoàn kết đấu tranh đã hình

thành từ rất sớm trong tiềm thức mỗi người Việt Nam, đó chính là bản lĩnh đặctrưng của dân tộc Việt Thời kỳ bắc thuộc là một thử thách, cũng là hoàn cảnh đểdân tộc Việt phát huy được bản lĩnh ấy

Trang 3

I KHÁI QUÁT

1 Những tiền đề văn hoá của dân tộc Việt

Người Việt cổ sớm quần cư ở các dòng sông lớn như Sông Hồng, sông Mã vàdần dần tập trung thành các bộ tộc, bộ lạc Cuộc sống chủ yếu là nông nghiệp cònmang tính chất sơ khai Trải qua thời gian dài đã khiến cho cuộc sống của các bộ lạcViệt cổ ngày càng phát triển, từ đó hình thành các nền Văn hóa cổ phản ánh quátrình sáng tạo của người Việt qua từng thời kỳ

Thời kỳ Nguyên thủy (TK VIII TCN – TK VII TCN) thời kỳ này trải dài từthời đồ đá, qua đồ đồng cho đến đầu thời kỳ đồ sắt Đây là thời kỳ người Việt cổtừng bước định cư, xây dựng xóm làng, hình thành nên các chiềng, chạ Qua cáccông trình khảo cổ, các nhà khoa học trong nước và ngoài nước đã tìm thấy rấtnhiều dấu tích của các nền văn hóa khác nhau trong từng thời kỳ Ví như các di chỉcủa văn hóa Hòa Bình, các nhà khảo cổ đã tìm thấy 160 địa điểm, trong đó có haitỉnh Hòa Bình và Thanh hóa xuất hiện nhiều nhất; ví như những di vật được tìmthấy ở các ngôi mộ cổ của nền văn hóa Hòa Bình (Nghệ An, khu vực vườn quốc giaCúc Phương) Đặc biệt là các bộ sưu tập đồ đồng được tìm thấy thời văn hóa ĐôngSơn, các vật dụng sử dụng để lao động trong nông nghiệp (lưỡi cày, cuốc, thủng,rìu) thủ công hay trang sức (hoa tai, móc lưng, nhẫn ), các loại tượng người, convật… cũng đều được tìm thấy (di chỉ làng Nghệ Tĩnh, di chỉ làng Việt Khê HảiPhòng) Chính các nền văn hóa trên đã mang đậm tính cách, tâm hồn của ngườiViệt Đó là quá trình phát triển vật chất, thúc đẩy đời sống tinh thần của người Việtnảy nở

Nền văn minh sông Hồng, hay còn gọi là thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc (đầu thế

kỷ I – cuối thế kỷ III) Đây là thời kỳ hình thành nhà nước sơ khai của dân tộc Việt.Nhiều năm qua, qua những truyền thuyết, thần thoại, dựa vào những các nguồn sửliệu khác nhau (nguồn sử liệu Trung Quốc, di vật thời kỳ Văn Lang - Âu Lạc, CổLoa Thành…), các nhà khảo cổ, các nhà lịch sử Việt Nam đã chứng minh đượcrằng: nền văn minh sông Hồng đã hình thành từ khá sớm, nguồn gốc dân Việt sinh

ra từ cái nôi văn minh lúa nước Sông Hồng, nền văn hóa Văn Lang – Âu Lạc đãđược chứng minh, sự hư ảo về nguồn gốc dân tộc Việt qua các câu truyện thần thoại(Hồng Bàng, Thánh Gióng, Thành Cổ Loa…) đã được khẳng định và thực tế khiđược giới sử học bóc tách và nghiên cứu thì những truyện thần thoại ấy lại là mộtphần của sự thật

Như vậy, có thể thừa nhận, cho đến trước khi phương bắc xâm lược, VănLang, Âu Lạc từng có nền văn hóa tương đối phát triển Có một lãnh thổ chung,một tiếng nói chung, một cơ sở kinh tế – xã hội gắn bó với thể chế một nhà nước sơkhai, một lối sống mang sắc thái riêng, phong tục tập quán riêng biểu thị trong mộtnền văn hóa chung, đã tự khẳng định sự tồn tại của mình như một quốc gia vănminh có đủ điều kiện vững vàng tiến lên, vượt qua mọi bão táp, thách thức của lịchsử

Trang 4

2 Phương bắc đô hộ dân tộc ta và chính sách đồng hoá

Có nhiều ý kiến cho rằng, 1000 năm bắc thuộc bắt đầu từ khi Triệu Đà đemquân xâm lược Âu Lạc (179 TCN), nhưng với tính chất về chính sách đồng hóa khicác vương triều phương bắc đặt ách cai trị lên dân tộc Việt, sẽ bắt đầu từ khi nhàHán xâm lược Nam Việt của Triệu Đà, qua các vương triều Đông Ngô, Tấn, Tề,Lương, Tùy, Đường Chỉ có vài khoảng thời gian độc lập ngắn ngủi như thời kỳ Hai

Bà Trưng (40 - 43), thời kỳ Lý Bí với nước Vạn Xuân (544 – 603)

Trong suốt hơn 1000 ngàn năm bắc thuộc, các chính quyền đô hộ của cácvương triều phương bắc luôn chú trọng củng cố bộ máy cai trị của mình, áp đặt lêndân tộc ta các chính sách bóc lột về kinh tế vô cùng nặng nề, đàn áp các cuộc khởinghĩa của dân tộc Việt dã man Thâm độc hơn, để đồng hóa dân tộc ta như chúng đãlàm đối với các bộ phận tộc Bách Việt, Mân Việt… Chúng đều dùng các chính sáchđồng hóa dân tộc

Thứ nhất, dựa trên cơ sở dùng người Hán đồng hóa người Việt, bằng cách đưangười Hán di cư sang nước ta, rồi từ đó chẳng cần cai trị mà lãnh thổ của ngườiViệt sẽ là của người Hán Bắc quốc nắm được ưu thế dân số đông, văn hóa lớn vàchính vì lẽ đó chính sách Hán hóa diễn ra rất bài bản và thâm độc

Thứ hai mua chuộc quan lại người Việt, đưa tư tưởng Nho giáo và văn hóaTrung Hoa vào chính sách cai trị, buộc người Việt phải theo lễ giáo Trung Quốc, từnhững việc dựng vợ, gả chồng cho đến ăn mặc, về mặt tiếng nói, phong tục tậpquán, lối sống sinh hoạt, tín ngưỡng, văn học, nghệ thuật…Lẽ tất nhiên nếu không

có biến cố 1000 năm bắc thuộc, thì nền văn hóa của dân tộc Việt sẽ có cơ hội pháttriển hơn, khi nền văn hóa Việt đang trong giai đoạn đặt nền móng vững chắc cho

sự phát triển mạnh mẽ, thay vì phải chịu sự kìm hãm của chính sách đồng hóa từchế độ đô hộ phương bắc Thế nhưng khi đi vào tiến trình lịch sử, dân tộc Việt đãcho ta thấy bản lĩnh hết sức phi thường Chính sách đồng hóa của các vương triềuphương bắc không những không đồng hóa được dân tộc Việt, mà còn không thểkìm hãm được sự phát triển bản sắc văn hóa dân tộc ta Đối với người Việt, khôngnhững đấu tranh bảo vệ được bản sắc dân tộc mình, mà còn sáng suốt, khéo léo biếtcách chọn lọc những cái tốt, bài trừ những cái xấu của văn hóa phương bắc để pháthuy hơn nữa nền văn hóa của dân tộc mình

Như vậy, quá trình đấu tranh bảo vệ và phát huy ấy trong suốt hơn 1000 nămdai dẳng, khi các thế lực phương bắc cai trị nước ta thì dân tộc ta vẫn đấu tranh bền

bỉ Điều đó cho ta thấy rằng, ý chí tự tôn dân tộc, tinh thần yêu nước, tinh thần đoànkết đánh bại quân xâm lược là giá trị lớn nhất của dân tôc Việt từ xưa cho đến nay

Trang 5

II QUÁ TRÌNH ĐẤU TRANH, BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TRONG HƠN MỘT NGÀN NĂM BẮC THUỘC

“Văn hóa còn thì tộc người còn” (trích lời của Giáo sư Đặng Nghiêm Vạn).

Nếu một dân tộc đánh mất đi nền văn hóa của mình, thì có nghĩa là họ đã chết, tuykhông chết cứng về mặt sinh học nhưng họ đã tự đánh mất đi vị thế của mình Vănhóa của họ đã hòa vào dòng chảy của nền văn hóa khác và họ sẽ không tồn tại với

tư cách là một tộc người Người Việt biết được điều đó nên đã tự chọn lựa cho mìnhcon đường đấu tranh, bảo tồn văn hóa dân tộc

Người Hán di cư xuống phương nam sống chung với người Việt, đời này đếnđời kia, năm này qua năm nọ, trải qua thời gian thì tự nhiên dòng máu Hán Việt saotránh khỏi sự pha trộn Nhưng thực tế thì lịch sử cũng không chứng kiến sự đồnghóa, Hán hóa mà lại ghi nhận thực thực tế ngược lại Việt hóa mạnh hơn Hán hóa,Hán hóa không thể chế ngự người Việt, kết quả đó hoàn toàn không phải do chínhsách đô hộ lỏng lẻo, mà lý do là vì xóm làng của người Việt, cộng đồng Việt tỏ ra

ưu điểm trong đối nhân xử thế, làm cho dân Hán thuận tình, cảm phục Có thể lấy ví

dụ điển hình là Lý Bí – đã thành lập nước vạn xuân, là cháu bảy đời của một ngườiTây Hán sang lãnh nạn ở Giao Châu

Cộng đồng người Việt là cộng đồng được cấu kết gắn chặt với làng xã, cácxóm làng là một cấu trúc bền vững, khó có một vũ khí nào của chính quyền đô hộ

có thể chọc thủng Ở đây ngọn nguồn của người Việt được nuôi dưỡng, được rènluyện Trong quá trình chống đồng hóa chính làng xã là cơ sở để người Việt đứngdậy đấu tranh bảo vệ nền văn hóa dân tộc mình và từ đó mà phát huy hơn nữa.Quân xâm lược có thể cướp nước, nhưng không cướp được làng xã người Việt.Người Việt có thể mất nước, nhưng không mất làng xã, gia đình của mình

Thời kỳ giặc phương bắc xâm lược rồi đô hộ nước ta, để thực hiện âm mưuđồng hóa, điều đầu tiên chế độ đô hộ phong kiến phương bắc thực hiện đó là thủtiêu những gì liên quan đến nguồn gốc dân tộc, trong đó có tiếng Việt, tiếng nói mà

cư dân Việt cổ dùng để giao tiếp hàng ngày Người Hán bắt đầu di cư sang ở xen kẽvới người Việt, giao tiếp với người Việt bằng tiếng Hán, bắt người việt đọc sách

Trang 6

Nho bằng tiếng Hán, nhằm thủ tiêu tiếng Việt Ấy vậy mà, suốt ngàn năm bắc thuộcdài đằng đẵng vẫn không thể biến cả dân tộc ta “ăn theo nói leo” thành người Hán,nói tiếng Hán Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã khẳng định rằng: Tiếng mẹ đẻ -tiếng Việt hơn 1000 năm trước đây dù có biến đổi theo thời đại nhưng so với ngàynay cơ bản là không khác mấy Nguyên nhân vì sao lại như vậy, ta sẽ tìm hiểu cụthể hơn việc dân tộc ta đã đấu tranh, bảo vê tiếng nói chống lại âm mưu Hán hóadân tộc.

Thứ nhất, người Việt vốn sống dung hòa, luôn có lòng vị tha, nhân ái, luônmong muốn được sống hạnh phúc và hòa bình Bởi thế mà khi nhóm người phươngbắc sang đất Việt sống xen kẽ với người Việt, nhân dân ta không những không kỳthị, phân biệt mà còn sống dung hòa với họ, vốn cũng là những người bần nôngmuốn tìm cuộc sống tốt hơn ở mảnh đất mới Bởi lẽ thế, nhóm người Hán di cưsang cùng chung sống với người Việt không thể dùng tiếng Hán để giao tiếp màphải tự học hỏi ngược lại người Việt, dùng tiếng Việt để giao tiếp với đại bộ phậnđông đảo cư dân Việt Đó là cách để tổ tiên ta đánh bại âm mưu đồng hóa dùngngười Hán ở xen kẽ với người Việt, dùng tiếng Hán để kìm hãm sự phát triển của

tiếng Việt “Sử có chép lại : tiếng nói của ta không chút gì giống của Tàu, đến nỗi

khi sứ ta sang dâng chim Bạch Trĩ mà vua tàu phải tìm mãi người thông ngôn mới có”.

Thứ hai, dân tộc Việt có tinh thần đoàn kết, tinh thần tư cường rất cao Lốisống làng xóm đã hình thành từ khi chưa có nhà nước sơ khai, mà xưa đó gọi là kẻchợ, chiềng hay chạ Làng xã có tính chất đóng kín Chính tính chất ấy đã bảo vệđược những đặc trưng văn hóa nguồn cội của dân tộc, điều được nói đến ở đây làbảo vệ tiếng nói của người Việt Âm mưu Hán hóa, triệt tiêu tiếng Việt của bọn đô

hộ không thể vượt qua khỏi bức tường tre làng, văn hóa làng xã, lối sống làng xã.Chính từ đó làng xã như là thế giới riêng của người Việt, ở đây tiếng nói người Việtvẫn được sử dụng trong cuộc sống, vẫn được phát triển qua từng thế hệ người, contrẻ lớn lên bằng những câu hát ru, tình yêu xuất phát từ những câu hò…, tất cả đều

là sản phẩm kết tinh từ tiếng nói Việt Đó cũng biện pháp đấu tranh chống Hán hóatiếng Việt của tổ tiên ta

Thứ ba, dân tộc Việt thông minh và khôn khéo, vừa có tinh thần độc lập tựchủ, vừa có tinh thần đấu tranh quyết liệt Một số ít người Việt thuộc tầng lớp trêntrong xã hội mới có điều kiện đi học, và họ mới học tập thứ tiếng nói và chữ viếtcủa nhà Hán Thêm vào đó một điều hết sức quan trọng là khi học chữ Hán, cha ông

ta đã học tập một cách thông minh nhằm bảo tồn tiếng việt bằng cách không đọcchữ Hán theo âm Hán chuẩn mà đọc theo âm Hán đã Việt hóa: gọi là âm Hán- Việt.Nên cho dù học hành bao nhiêu đi nữa thì họ cũng không thể trở thành người Hán

và đánh mất tiếng Việt của tổ tiên mình, tức đánh mất một thành tố vô cùng quantrọng trong nền văn hóa dân tộc; mà ngược lại thông qua đó, người Việt lại có điềukiện để làm giàu lên cho tiếng Việt của mình bằng hệ thống những thanh điệu và từngữ

Trang 7

Thứ tư, người Việt rất khôn khéo, có cái nhìn tổng quát cao Để không bị mất

đi tiếng nói của dân tộc, tổ tiên ta đã sử dụng cách dùng tiếng Việt để đặt tên chotừng địa danh, tên làng, tên người, tên vật, tên truyền thuyết – thần thoại Chẳng hạnnhư việc đặt tên người “nữ thì có tên lót là thị, nam thì có tên lót là văn” cách đặttên đó dân tộc ta vẫn còn gìn giữ cho đên ngày nay

1.2 Chữ viết

Cố nhiên dưới ách thống trị lâu ngày của người Hán, trong cuộc sống đã sảnsinh những nhu cầu mới trong giao tiếp và tiếng Việt cũng buộc phải có những biếnđổi và phát triển cho phù hợp với thời đại Trải qua nghìn năm Bắc thuộc, và dướicác triều đại phong kiến, ngôn ngữ chính thống là chữ Hán, nhưng cũng là thời giantiếng Việt tỏ rõ sức sống đấu tranh tự bảo tồn và phát triển Chữ Hán được đọc theocách của người Việt, gọi là cách đọc Hán-Việt, bên cạnh âm tiết thuần Việt (một,hai) thì đã xuất hiện âm tiết Hán – Việt (nhất, nhị), vốn gốc Hán nhưng đã thay đổicách phát âm nên không giống tiếng Hán Và được Việt hoá bằng nhiều cách tạo ranhiều từ Việt thông dụng Nó đã tiếp nhận thêm nhiều yếu tố của ngôn ngữ Hán,nhất là về mặt hệ thống từ vựng gốc Hán và cả về mặt thanh điệu (đa thanh điệuhóa) cũng như về mặt âm tiết (đơn âm tiết hóa) Ngày nay trong ngôn ngữ tiếngViệt có đến 70% từ ngữ có nguồn gốc Hán ngữ Điều đó, thực tế đã làm giàu cho hệthống từ vựng của tiếng Việt, nhưng kết quả là tiếng Việt vẫn không bị đánh mất,

mà trái lại nó được bảo tồn một cách toàn bộ cả về mặt hệ thống từ vựng lẫn cấutrúc ngữ pháp của mình Như vậy là Tiếng Việt không bị mất đi mà còn giàu có vàhoàn thiện hơn về mặt âm tiết

Chữ viết ra đời là một bước ngoặt lớn trên con đường phát triển văn hóa củanước ta Tổ tiên ta với truyền thống bất khuất, thông minh đã xây dựng được một hệthống văn tự trên cơ sở các chữ vuông Hán để ghi âm tiếng nói dân tộc Đó là chữNôm, chữ Nôm đã góp phần xây dựng một nền văn hiến ở nước ta Về sau khigiành được độc lập, Chữ Nôm ra đời được sử dụng thay thế tiếng Hán trong nhiềulĩnh vực: hành chính, giáo dục thi cử cũng như trong sáng tác văn chương Vì vậychữ Nôm có vai trò hết sức quan trọng Đó là, chữ Nôm ra đời nhằm thỏa mãn nhucầu ghi chép đa dạng và phức tạp mà chữ Hán chưa đảm nhiệm một cách triệt để;chữ Nôm ra đời nhằm thu thập và chỉnh lý văn học dân gian; sử dụng chữ Nômtrong sáng tác văn học… Sự ra đời của chữ Nôm đã có những đóng góp tích cựcvào việc nâng cao giá trị của tiếng Việt Thúc đẩy sự phát triển đời sống tinh thầncủa người dân Việt

2 Phong tục, tập quán

G.S.Trần Văn Giàu đã có nói: "Bị đô hộ hàng mười thế kỷ bởi một nước có

văn hóa cao hơn, số dân đông hơn gấp bội mà sau mấy ngàn năm Ta vẫn là ta hẳn không phải vì mũi tên nhọn hơn, bắp thịt cứng hơn mà chủ yếu là nhờ văn hóa,

Trang 8

-nhờ đạo lý, -nhờ hệ giá trị tinh thần của riêng mình, chứ văn hóa lấy sức đọ sức, lấy

số đọ số thì dân tộc Việt Nam, nước Việt Nam chỉ còn là đối tượng khảo cổ học”.

Vậy dân tộc ta đã ra sức chống lại chính sách đồng hóa của bọn thực dân phongkiến phương bắc như thế nào?

2.1 Thủ đoạn của bọn phong kiến phương bắc

Tư tưởng Hán hóa của các thế lực phong kiến phương bắc chinh phạt phươngNam để sát nhập lãnh thổ, biến nước ta thành quận huyện của người Hán Đầu tiênthể hiện ở việc chúng di dân ồ ạt cả dân thường và quan lại, để người Hán sốngquần cư lẫn lộn với các dân tộc Âu Lạc, nhằm phá vỡ cơ cấu dân cư truyền thống

sản xuất lúa nước nhiệt đới Sách Hậu Hán thư chép rằng: “Xưa thời Bình đế, Tích

Quang người Hán Trung làm Thái thú Giao Chỉ, dạy dỗ dân Di (người Việt), dần dần hóa theo lễ nghĩa, danh tiếng ngang với Nhâm Diên” Thực chất, Tích Quang là

Thái thú Giao Chỉ, và Nhâm Diên là Thái thú Cửu Chân đem cách ăn mặc, cưới xin,

ma chay lễ nghĩa của người Hán áp đặt vào đời sống người Việt Bọn chúng còn

mở các trường học để truyền bá các tư tưởng này, áp đặt bắt dân ta phải theo phongtục của người Hán

Có một câu chuyện lưu truyền trong huyền sử mấy ngàn năm cho đến tận ngàynay rằng: Năm 43, Mã Viện tiêu diệt cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, Mã phátlệnh thu hết trống đồng, nấu chảy thành dung dịch lỏng rồi đúc ngựa kiểu, đúcthành đồng trụ và khắc chữ vào: "Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt” (Cột đồng gẫy,Giao chỉ mất) Tích cột đồng Mã Viện như một ghi nhớ không thể nào quên về sựhủy diệt văn hóa Việt, và chính sách đồng hóa của phong kiến phương bắc Tìnhtrạng này, sau nhà Hán là bộ máy cai trị tiếp theo là nhà Ngô, Tấn, Tống, Tề,Lương, Tùy, Đường thực hiện càng nghiệt ngã hơn kéo dài suốt ngàn năm bắc

thuộc Đại Việt Sử Ký toàn thư chép: “bọn phong kiến phương bắc cấm con trai

con gái không được cắt tóc; phụ nữ mặc áo ngắn, quần dài, đồng hóa theo phong tục phương bắc”.

Các vương triều phong kiến phương bắc ra sức đưa ra những chính sách đồnghóa để thâu tóm, biến dân ta thành người Hán, nhưng để thực hiện thì không dễdàng chút nào, với tinh thần chống đồng hóa bảo vệ nền văn hóa của dân tộc, ngườiViệt dùng văn hóa Việt, dân ta đã ra sức đấu tranh, bảo tồn nền văn hóa mà ở đây

cụ thể là phong tục tập quán

2.2 Nhân dân ta đấu tranh, bảo tồn phong tục tập quán

Song song với cuộc đấu tranh chống đồng hóa của bọn phong kiến phươngbắc Cuộc đấu tranh chống đồng hóa của nhân dân ta cũng diễn ra sôi nổi, mạnh mẽtrên các lĩnh vực đặc biệt là trên lĩnh vực văn hóa nói chung và phong tục tập quán

Trang 9

Chống đồng hóa văn hóa trước hết là phải là giữ gìn tiếng nói mẹ đẻ - bản sắccủa đân tộc Suốt 1000 năm bắc thuộc dài đằng đẵng chúng cũng không thể biếndân tộc ta thành người Hán, nói tiếng Hán Tiếp đến chúng ta sẽ nói đến vai trò củalàng xã trong cuộc đấu tranh chống đồng hóa.

Làng xã Việt Nam là một cơ cấu kinh tế - xã hội hạ tầng thật kì diệu vừa cónhiều khiếm khuyết nhưng cũng thừa ưu việt Nó đóng cửa trong tù túng, cố thủchối từ hội nhập nhưng trong thời đại lịch sử đặc biệt suốt ngàn năm bắc thuộc lại làsức mạnh đề kháng cường tráng chống lại sự đồng hóa và đã chống đồng hóa thànhcông Cây tre hiền hòa gắn liền với người Việt Người ta thường lấy lũy tre baoquanh làng xã để nói đến tính cố kết, quây quần của cộng đồng Làng nọ cách làngkia chỉ một cánh đồng, hay một con ngòi nhỏ cũng có thể khác nhau vài ba nếp vănhóa dân gian; Mỗi làng thờ một ông Thành hoàng làng, mỗi làng một hội làng khácnhau Thậm chí trong một làng, mỗi dòng họ cũng tự thân cố kết và giữ gìn bảnsắc, nếp nhà nếp dòng họ để không lẫn với dòng họ khác, nhà khác

Lịch sử đã chứng minh rằng chúng ta nhiều phen mất nước nhưng chưa baogiờ mất làng Làng là đơn vị hành chính - kinh tế - xã hội, nơi cố thủ cuối cùngtrước nạn đồng hóa của phương bắc Ấy là chưa kể cách đây cả ngàn năm địa lýnước ta hiểm trở, xa xôi, rừng rú hoang dã đầy lam sơn chướng khí, người Hoa Hạ

xứ lạnh không chịu nổi khí hậu nhiệt đới ẩm ướt gió mùa Quan lại người Hán cóthể “với” xuống châu, huyện, chứ chưa bao giờ cắm xuống tận làng Làng vẫn dongười Việt điều hành và lũy tre làng như là bức tường vòng tròn vô hình ngăn chặnphong tục tập quán của người Hán xâm nhập vào Việt Nam Dân cư trong các làng

xã vẫn sinh hoạt với nền phong tục tập quán của ta (ăn mặc, nhà ở, ẩm thực, machay – cưới hỏi, mối quan hệ làng xã), sử dụng làm vũ khí chiến lược để chống lại

sự du nhập tràn lan phong tục của người Hán, vì vậy mà người Hán không thể vớitới được và xâm nhập được vào các làng xã, thực hiện các chính sách đồng hóa

a Lối sống sinh hoạt

 Ăn mặc

Trong cách ăn mặc, mỗi dân tộc có phong cách ăn mặc và trang sức riêng, ănmặc cũng là biểu tượng của văn hóa dân tộc Mọi âm mưu đồng hóa đều bắt đầu từcách ăn mặc, nhà Hán cho đến các triều đại phong kiến sau đều kiên trì tìm đủ cácbiện pháp buộc nhân dân ta ăn mặc theo kiểu ăn mặc theo người phương bắc, ví nhưbắt phụ nữ mặc áo ngắn, quần dài như phụ nữ phương bắc… Song với ý thức dântộc và điều kiện tự nhiên của xứ nóng phương nam, người Việt xưa vẫn ăn mặc theotruyền thống của mình Chính vì thế kể cả khi các chế độ đô hộ phong kiến phươngbắc có ra sức áp đặt, cưỡng bức người Việt phải làm theo thì phong cách ăn mặchay những sinh hoạt khác giữa người Việt và người Hán vẫn có sự khác biệt Vậycái khác biệt trong cách mặc của người Việt là gì?

Trang 10

Trước hết phải kể đến nước ta là nước nông nghiệp, tính chất nông nghiệp thểhiện rõ nhất trong chất liệu may mặc Để đối phó hữu hiệu với môi trường tự nhiên,người phương Nam ta sở trường ở việc tận dụng các chất liệu có nguồn gốc thực vật

là sản phẩm của nghề trồng trọt, cũng là những chất liệu may mặc mỏng, nhẹ,

thoáng, rất phù hợp với xứ nóng như là tơ tằm, tơ chuối,… ( Ngọc Hoa, vợ của Sơn

Tinh Nàng đã dạy người dân vùng đất bãi sông Thao, sông Hồng ươm tơ, dệt lụa, dệt ra những tấm the đẹp nhất để tiến Vua Hùng Hàng năm, làng lại tổ chức ngày hội thi chọn lụa tốt tiến vua và trình làng lĩnh thưởng) Các thành ngữ “váy vận,

yếm mang" (đối với phụ nữ) và “cởi trần đóng khố" (đối với nam giới) miêu tả rấtchính xác trang phục lao động truyền thống của người dân Việt cổ Người phươngbắc coi dân tộc ta lúc bấy giờ là man – di, có sự phân biệt giữa người Giao Châu vàngười Hán, cũng bởi từ cách ăn mặc có sự khác nhau đó

Điều đó chứng minh rằng, trong suốt thời kỳ bắc thuộc đó cách ăn mặc giữangười Việt và người Phương bắc khác nhau Trong quá trình sinh sống, do phải tậpthích nghi với môi trường nhiệt đới ở phương nam, người phương bắc đã học cách

ăn mặc như người Việt để thoáng mát hơn, học cách sử dụng chất liệu vải của ngườiViệt

 Nhà ở

Giặc phương bắc tràn vào nước ta họ đưa gia quyến người thân vào sốngchung với người Việt, họ truyền bá lối sống của họ vào việc xây nhà ở Tuy nhiênlối sống của người Việt đã có từ lâu, việc thay đổi lối sống, đặc biệt là nhà ở theongười Hán thì rất khó Thêm nữa sự cố kết làng xã, người Việt sống theo cộngđồng, tinh thần dân tộc lại rất cao, nên việc thay đổi như trên cũng ít nhiều cũngchịu sự chi phối Vì thế trong suốt thời bắc thuộc, phong cách ăn ở giữa người Hán

và người Việt có nhiều sự khác biệt Người Hán thì xây dựng nhà trệt, mái thẳngkhông cong, nền nhà thấp, chủ yếu là nhà hình tròn mang đậm tính chất kiến trúc dumục

Trong khi đó thì người Việt với thói quen sống bằng nhà sàn, vì nó không chỉ

có tác dụng ứng phó với môi trường sông nước quanh năm ngập lụt, mà còn có tácdụng ứng phó với thời tiết mưa nhiều gây lũ rừng ở miền cao và ngập lụt định kỳ ởmiền thấp, khí hậu nhiệt đới có độ ẩm cao hạn chế và ngăn cản côn trùng thú dữ Vềsau người Việt cũng có chọn lọc, chuyển từ nhà sàn xuống nhà xây dựng nhà trệtnhư người phương bắc, nhưng vẫn giữ được nét kiến trúc đậm chất sông nước, biểuhiện là mái cong hình thuyền, tường nhà đắp bằng bùn đất Nhiều ý kiến cho rằngđiểm này là vay mượn của kiến trúc Trung Hoa, nhưng thực chất mái cong đã có từthời Đông Sơn, Trung Hoa thời Hán lúc đó họ làm nhà vẫn với mái thẳng, và saunày sống chung với người Việt, họ cũng chuyển dần sang làm nhà với mái cong

Trang 11

 Ẩm thực

Quan lại Hán và các thương gia người Hán mang nước tương, ngũ vị hươngvới cách nấu chiên xào của người Hoa Hạ du nhập vào nước ta, tuy nhiên cơ cấubữa ăn của phần lớn cư dân Việt vẫn là nước mắm, hành tỏi, nghệ, giềng, bữa ăn thì

ít thịt mà nhiều cá, rau củ quả, luộc hấp và ăn tươi sống là chính, trong bữa ăn nhấtđịnh phải có canh Điều đó cho thấy tổ tiên ta vẫn giữ được thói quen trong bữa ăncủa mình và có đăc trưng riêng về bản sắc dân tộc Việt Ngày nay, trong bữa ăn củamỗi gia đình Việt vẫn giữ được nét truyền thống đó của tổ tiên ta ngày xưa Tuynhiên ta cũng có tiếp thu nhiều điều độc đáo của người phương bắc, các gia vị củangười phương bắc làm bữa ăn Việt đậm đà mùi vị hơn, các hình thức chế biến cũngđược ta tiếp thu, như chiên, xào, hấp (bánh bao hay còn gọi là màn thầu…)

 Ma chay, cưới hỏi

Để có thể tồn tại thì nhân dân Âu Lạc đã phải tiến hành các cuộc đấu tranh cả

về vũ trang và tư tưởng để có thể giành độc lập và bảo tồn, phát triển văn hóa củadân tộc Từ trong các xóm làng Việt cổ nơi mà bọn đô hộ không thể nào với tay tới

đó được, nhân dân Âu Lạc đã ra sức bảo tồn và phát huy các bản sắc văn hóa bảnđịa mà chúng ta đã tích lũy được qua hơn một ngàn năm trước, trong đó có tiếngnói, tín ngưỡng, các phong tục tập quán và nền văn học dân gian Trong đó khôngthể không kể đến đó là các tập tục đã có từ rất lâu đời như là ma chay, cưới hỏi, đây

là những tập tục được nhân dân ta rất chú trọng

Thứ nhất tục ma chay Tang lễ là phần nghi thức không thể thiếu trong đờisống của người Việt Nam Hình thức tang lễ của mỗi vùng khác nhau nhưng chungquy lại nó vẫn chịu ảnh hưởng nhiều về nghi lễ của người Trung Hoa Mặc dù nghi

lễ ngày nay đã thay đổi nhiều nhằm phù hợp với đời sống hiện đại nhưng đâu đóvẫn còn là tang lễ mà người sống thực hiện đối với người đã chết Do chúng ta luônluôn quan niệm rằng con người có hai phần đó là phần hồn và phần xác, sau khichết thì linh hồn sẽ về thế giới bên kia với thói quen sống ở thế giới bên kia, vì vậychết già được xem là một sự mừng và nhiều nơi có người già chết còn đốt pháo,chắt chút để tang cụ kị thì đội khăn đỏ, khăn vàng Phong tục tang lễ phổ biến vàchính thống của ta còn thừa kế được cả tinh thần dân chủ truyền thống Thọ Mai gia

lễ của ta quy định cha mẹ phải để tang con, và không chỉ cha mẹ để tang con mà cảông bà và cụ kị cũng để tang hàng cháu, hàng chắt Trong khi đó thì theo tục lệ

Trung Hoa, “Phụ bất bái tử” (cha không lạy con) Con chết trước cha mẹ là nghịch

cảnh, là con bất hiếu (một vài nơi ở vùng Bắc Bộ có truyền thống Nho học mạnhcũng theo quan niệm này nên nếu con chết trước thì lúc khâm liệm quấn trên đầu tửthi mấy vòng khăn trắng, ý là ở cõi âm cũng phải để tang báo hiếu sẵn cho cha mẹ).Thứ hai là tục cưới hỏi Nếu như người Trung Quốc dùng đôi nhạn để làmbiểu tượng cho đôi lứa yêu nhau Đôi nhạn được quy định là dùng trong lễ Nạp thái,

Trang 12

lễ này, theo phong tục, nhà trai phải đem đến nhà gái một đôi chim nhạn Đây làmột trong những lễ quan trọng trong đám cưới Trung Quốc Người Việt cũng có

biểu tượng cho tình yêu của đôi lứa là trầu cau “miếng Trầu là đầu câu truyện”, trầu

cau cũng là biểu tượng của sự trung thủy, của sự kết duyên giữa lứa đôi khi được cảhai gia đình đồng ý Theo phong tục của người Việt, nhà trai phải đem đến nhà gáinhiều sính lễ trong đó có trầu cau, sính lễ không thể thiếu đối với tục cưới hỏi củangười Việt Cho đến ngày nay, tục lệ ấy vẫn còn gìn giữ và coi đó như là nét độcđáo văn hóa tốt đẹp nhất của người trong chuyện kết duyên cho lứa đôi

Dân tộc Việt vốn luôn có tinh thần kính nhớ tổ tiên, nguồn gốc nguồn cội là

trên hết “uống nước nhớ nguồn”, “dù ai đi ngược về xuôi, nhớ ngày giỗ tổ mùng

mười tháng ba”… Trong lễ cưới hỏi cũng vậy, lễ kết duyên lứa đôi được người Việt

chuẩn bị rất chu đáo, trong đó bàn thờ tổ tiên phải được chuẩn bị đầy đủ và tươm tấthơn cả Đôi trai gái bước vào hành lễ thì phải đến bàn thờ tổ tiên để bái lạy trước,giống như xin phép ông bà cho đôi trai gái này được nên duyên vợ chồng, sau đómới cử hành những bước tiếp theo trong buổi lễ Điều này có sự khác biệt đối vớingười Trung Hoa, trong việc hành lễ kết duyên vợ chồng, người Trung Hoa thườnghành lễ dưới sự chướng giám của trời đất (thiên địa), cha mẹ (phụ mẫu)… Điều đócho ta thấy rằng, mỗi dân tộc có một phong tục khác nhau, cũng như người TrungHoa, người Việt cũng có phong tục riêng của mình và phong tục đó cũng có nguồn

gốc từ xa xưa “Câu truyện sơn tinh thủy tinh cũng có nói về sự kết duyên đôi lứa

và lễ kết duyên” Cho dù người phương bắc dùng bao nhiêu thủ đoạn đồng hóa dân

tộc, phá vỡ bản sắc dân tộc ta như thế nào đi nữa, thì cũng không thể nào làm bậtgốc nền truyền thống văn hóa đã ăn sâu vào trong máu thịt của dân tộc Việt

b Các tục lệ truyền thống

Có câu truyện kể, dân ta xưa có tục nhai trầu, nhuộm răng đen, xăm mình

Người nhà Tần thấy thì hỏi, sứ của ta trả lời “vẽ mình để thủy quái khỏi ăn thịt,

nhai trầu để trừ độc khí và nhuộm răng để cho chặt chân răng Rõ ràng những thói quen ấy đã gắn chặt vào cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của người Việt, nó dường như không thể thiếu đối với người Việt, việc từ những thói quen ấy theo ý muốn của chính quyền đô hộ phương bắc là không thể Hơn một ngàn năm Bắc thuộc dân tộc

ta vẫn giữ được những tục ấy, cho đến đời Trần tục xăm mình và nhai trầu vẫn còn được phổ biến rộng rãi Cho đến ngày nay, tục nhai trầu cũng vẫn còn, miếng trầu cau vẫn xuất hiện trong những sự kiện trọng đại, như cưới hỏi, lễ hội, chúc năm mới… ”.

Chế độ thống trị phương bắc luôn dùng mọi thủ đoạn cưỡng bức dân ta từ bỏphong tục của mình đi theo phong tục Hán Chẳng hạn, bọn đô hộ phương bắctruyền bá tục để răng trắng, nhưng dân ta quyết chống lại bằng tục để răng đen Vềcuộc khởi nhân Hai Bà Trưng, theo sách Thiên Nam Ngữ Lục viết:

Trang 13

“Nước sao bi sứ bấy ôi

Để thằng răng trắng hiếp người răng đen”

Thằng răng trắng ám chỉ Hán, Ngô, Đường xâm lược, đáng căm thù, đángkhinh ghét Còn người răng đen là nói đến dân mình, những con người kiên cườngbất khuất, kiên quyết chiến đấu giành lại đất nước, bảo vệ nền văn hóa truyền thốngcủa dân tộc

Tục ngữ Việt có câu “cái răng cái tóc là góc con người” nên hàm răng đen

ngày trước là tối quan trọng, không kém gì mái tóc Tục nhuộm răng cũng đánh dấungưỡng cửa bước vào cuộc đời trưởng thành của mỗi người Người nào khôngnhuộm răng thì dư luận cho là người không đứng đắn Trong một xã hội cổ truyền

vốn coi trọng sự suy xét của cộng đồng nói chung thì câu “răng trắng như răng

chó” là có ý chê trách Răng đen cũng là một đặc điểm khác biệt giữa người Việt và

người Tàu nên còn có câu: “răng trắng như răng Ngô” Tục nhuộm răng đối với

người Việt thường gắn liền với tục ăn trầu tuy hai tập tục này là hai khía cạnh khácnhau về xã giao và đoàn kết Tục nhuộm răng là một nét văn hóa để phân biệt vớicác tộc người khác Hầu như tất cả người dân Việt Nam từ kẻ nghèo cho đến ngườigiàu, ai ai cũng nhuộm răng lúc bấy giờ Mặc dầu rằng tục đó bây giờ đã suy tànnhưng người Việt Nam ta luôn trân trọng những phong tục của cha ông ta này vàtục này vẫn được thường xuyên nhắc tới

Tục xăm mình: Một trong những tục cổ xưa nhất của người Việt là xǎm mình.Tục này kéo dài mãi cho đến cuối thế kỉ thứ XIII, đầu thế kỉ thứ XIV mới chấm dứt.Xăm mình có ý nghĩa như ý chí sắt đá, quyết tâm chống giặc ngoại xâm Xǎm mình,thích chữ vừa là truyền thống, vừa là thi hành lời thề thiêng liêng, vừa thể hiện mộttinh thần thượng võ Đồng thời cũng là một thái độ rõ ràng với quân địch (nhất làkhi bị bắt): tự nhận mình là kẻ tử thù với chúng Ngoài ra, tục thích chữ, xǎm mìnhcòn biểu hiện sự hòa hợp với thiên nhiên, biểu hiện ý thức tiếp nối truyền thống,không quên gốc tổ, biểu hiện tinh thần quyết tâm chiến đấu cho nền độc lập của dântộc Đã góp phần làm cho Việt và Hán biệt lập rõ ràng

Quan hệ làng xã: người Việt cổ sống gần nhau thường có mối liên kết rất chặt

chẽ trong các làng xóm, kẻ chợ… Tục ngữ có câu “bán anh em xa, mua láng giềng

gần” bà con hàng xóm giúp đỡ nhau trong sản xuất “tắt lửa tối đèn có nhau”, tư

tưởng này đã có từ rất lâu đời gắn bó với người Việt, và hình như nó đã ăn sâu vàomỗi con người Việt, nên trong khi người Hán cố gắng xâm nhập vào cố tình chia rẽmối quan hệ của làng xã thì người việt vẫn âm thầm đoàn kết chống lại sự chia rẽnày

Trang 14

c Lễ hội

Dân tộc ta vốn rất thích ca hát, vốn lối sống cố kết dựa trên cơ sở làng xã, vàonhững ngày rảnh rang chuyện đồng áng, vào đầu mùa xuân thường diễn ra các lễhội, hội hè để dân chúng vui chơi, múa rối ở Bạch Hạc (Vĩnh Yên), ca múa hát,trống quân từ đó mà xuất hiện

Vào thời bắc thuộc, bọn phong kiến phương bắc luôn đề ra các chính sáchngăn cấm lễ hội của dân tộc ta, ít nhiều lễ hội cũng chịu ảnh hưởng và không cònhoạt động Tuy nhiên người Việt vẫn tổ chức lễ hội, tiếng trống đồng vẫn đượcvang lên, bất chấp bọn đô hộ ra sức chống phá Thông qua việc tổ chức lễ hội,người Việt đã khéo léo giữ gìn và truyền bá mở rộng khắp nơi không những trongphạm vi làng xã mà còn ảnh hưởng đến những tầng lớp quan lại, đang bị Hán hóadần dần Các nghi lễ có mục đích tín ngưỡng, đáng chú ý là là sự sùng bái tưởngniệm những anh hùng có công tích cực trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ độc lậpdân tộc Ví như: hội đền An Dương Vương (Cổ Loa Hà Nội) ngày 6-1 tưởng niệmThục Phán người có công dựng nước Âu Lạc, xây thành Cổ Loa; hội đền Hạ Lôi

(Mê Linh) tưởng niệm Hai Bà Trưng, hội "Cơm hòm" ở Phổ Yên Trong khi Hán,

Đường cố gắng thay văn hóa nhân dân ta bằng văn hóa Hán thì một tín ngưỡng đặcbiệt, là sản phẩm thuần túy của các đơn vị làng Việt Nam cổ truyền, có quy mô toànlàng, với chức năng hạt nhân của hội làng, nằm ngay trong nội dung và hình thứccủa một sinh hoạt văn hóa tiêu biểu nhất của xã hội nông thôn ta xưa vẫn được duytrì Hạt nhân ấy mang tính chất điển hình và có tác dụng đặc biệt đối với làng Đó làcác nghi thức thờ các anh hùng làm thành hoàng – một tín ngưỡng về thần bảo vệchung cho cả làng và từng làng, vốn là sự tôn thờ tổ tiên đã có từ trước đó Tínngưỡng thành hoàng mỗi năm một lần được biểu thị thành nghi thức hội làng Và

đó là thứ lễ hội truyền thống quan trọng nhất của làng, thường được tiến hành ởngôi đình – công trình kiến trúc trung tâm và tiêu biểu nhất của làng

Lễ tết đã tồn tại từ rất lâu trong con người Việt Nam, dù ai đi ngược về xuôithì họ cũng phải nhớ về ngày tết, là ngày họ đoàn tụ sum họp với gia đình thămviếng thân nhân và thờ phụng tổ tiên, mặc dầu trong xiềng xích của bọn xâm lượcnhưng nhân dân ta vẫn giữ gìn được tục lệ này qua nhiều thời kỳ gian khổ Lễ tếtđược tổ chức vào mùa xuân gồm hai phần là cúng tổ tiên và ăn uống bù cho lúc làmlụng đầu tắc mặt tối Thời cổ, năm mới phương nam bắt đầu từ tháng tị, tức thángmột, về sau ta chịu sự ảnh hưởng của văn hóa trung hoa nên mới lấy tháng dần(tháng giêng) làm tháng đầu năm Tuy chịu ảnh hưởng của Trung Hoa trong việcxác định mốc đầu năm nhưng tết ta vẫn mang trọn vẹn đặc trưng văn hóa truyềnthống dân tộc

Người Việt chúng ta ăn tết âm lịch là một trong những ảnh hưởng của hơn mộtngàn năm Bắc thuộc Đó là một thực tế chúng ta mà chúng ta không thể nào phủnhận được Trước đây người Hàn Quốc và Nhật Bản cũng tổ chức tết theo âm lịch

Trang 15

nhưng hiện nay đã chuyển sang tết dương lịch Như vậy, hiện nay chỉ còn TrungQuốc, các lãnh thổ nơi có đông người Hoa sinh sống và Việt Nam có tết này.

Trên cơ sở chúng ta sẽ có thể phục dựng được ngày tết riêng của người ViệtNam đúng nghĩa đậm đà bản sắc dân tộc Chúng ta có sự tích bánh chưng bánh dàynói về tục làm bánh trong dịp tết và lại còn có câu chuyện cổ tích cây nêu ngày tếtnói về nguồn gốc ngày tết của người Việt

Đó là những cơ sở đáng quý để mỗi người Việt Nam tin rằng chúng ta có thể

có được cái tết riêng của mình mà không vay mượn, không đánh đồng và khi nhắcđến các dân tộc khác đều phải thừa nhận Nó sẽ là nguồn cảm hứng mới cho các thế

hệ mai sau, mang lại sự tự tin và kiêu hãnh trong mỗi người Việt Nam và nếu nóitheo các nhà kinh tế thì nó sẽ định vị lại hình ảnh Việt Nam trong con mắt bạn bèquốc tế

Trong dịp lễ tết thì công việc mà chúng ta phải làm đó là thờ cúng tổ tiên đểthể hiện lòng biết ơn, ghi nhớ về những người đã có công sinh thành và dưỡng dụccủa mình Trên bàn thờ của người Việt lễ vật thường bày đó là hai ngọn đèn dầu,trầu cau cùng với bát nước trắng tinh khiết, ở giữa bàn thờ là một mâm ngũ quả baogồm năm loại quả khác nhau Bên cạnh đó thì cơm cúng ngày tết cũng được bàybiện khá công phu, tùy vào hoàn cảnh của mỗi gia đình mà có các mâm cỗ lớn nhỏkhác nhau Tết nguyên đán thường được tổ chức bốn ngày Tết Nguyên đán thường

tổ chức 4 ngày và lễ cúng gia tiên cũng được trình tự cúng trong 4 ngày với những ýnghĩa khác nhau Chiều 30 Tết có lễ cúng tất niên, tức là cúng trình với ông bà, tổtiên năm cũ đã hết Đêm 30 cúng giao thừa, thời điểm chuyển tiếp năm cũ sang nămmới Sáng mùng 1 Tết là cúng nguyên đán, nghĩa là cúng sáng sớm của một ngàyđầu năm Chiều mùng 1 Tết cúng tịch điện, tức là cúng cơm chiều Ngày mùng 2Tết có 2 lễ cúng, buổi sáng cúng mời tổ tiên gọi là chiêu điện, buổi chiều cúng tịchđiện Ngày mùng 3 là ngày cuối của tết, nên cúng tạ ông vải, với ý nghĩa 4 ngày tết

đã đầy đủ

Về nét thuần Việt trong các món ăn truyền thống và về khác biệt giữa bếp núcViệt và bếp núc ở nước láng giềng Trung Hoa, Tiến sĩ Nguyễn Nhã - Viện trưởngViện bên cạnh công việc thờ cúng trong ngày tết thì người việ nam còn rất chútrọng đến việc nấu nướng ngày tết Các nhà Nghiên cứu Ẩm thực Việt Nam – nói:

“Nhìn chung, Tết Nguyên đán là gốc Trung Quốc, nhưng món ăn của người Việt và

người Hoa khác nhau nhiều Người Trung Quốc đâu có bánh chưng, đâu có bánh tét Trung Quốc đâu có dưa hành, đâu có các loại giò như mình.Bởi vì người Trung Quốc thích quay, thích chiên, thích sào”.các loại món ăn tết đặc trưng của người

Việt được chế biến trên cơ sở chưng, hấp, luộc, không giống với người Trung Quốc.Theo Tiến sĩ Nguyễn Nhã, đó chính là “bản sắc giúp Việt Nam chúng ta tồn tại, mà

“không bị đồng hóa” qua nghìn năm Bắc thuộc.

Nhắc đến tết nguyên đán thì không thể nào không nhắc đến tục làm bánhchưng bánh giày Đây là nét rất đặc trưng trong ngày tết củ người Việt Tục làm

Trang 16

bánh chưng bánh giày đã có từ rất lâu đời, theo truyền thì đã có từ thời vua HùngVương thứ sáu, do lang liêu là con trai của vua làm ra và truyền lại cho đến ngàynay Bánh chưng là tượng trưng cho đất còn bánh dày là tượng trưng của trời, đâychính là một nét rất riêng trong ngày tết của người Việt từ xưa đến nay, nó chính lànét để chúng ta có thể phân biệt được giữa ngày tết cổ truyền của người Việt Nam

và ngày tết của người Trung Hoa

Bên cạnh đó, các phong tục cổ truyền của người Việt vẫn được gìn giữ, nhưtục cạo tóc hay búi tóc, tục chơi trò ném còn, tục hát ví mùa xuân, chôn cất ngườichết trong quan tài hình thuyền hay thân cây khoét rỗng, Vẫn mãi được lưu truyền

từ đời này sang đời khác, trở thành điểm nhấn riêng của người Việt cổ, mà khôngdân tộc nào có được

d Trống đồng biểu tượng linh vật của người Việt cổ

Bọn thống trị phương bắc không chỉ ra sức uy hiếp, phá hoại tinh thần của dântộc ta, mà còn phá hoại cả những thành quả Văn hóa vật chất mà dân tộc ta đã làmnên Sau khi đánh thắng Hai Bà trưng, nhà Hán sai Mã Viện thu gom tất cả trốngđồng, vật tiêu biểu cho vật chất thời Văn háo Đông sơn – Hùng Vương, để đúcngựa Làm như vậy chúng nhằm vào hai mục tiêu: vừa phá hoại văn hóa vật chất,vừa uy hiếp tinh thần dân tộc ta Nhưng dân ta không nản long, nhân dân ta vẫn tiếptục đúc trống đồng, và tiếng trống đồng vẫn tiếp tục vang mai đến thời Trần làmhàng vạn quân Nguyên Mông phải khiếp sợ:

“Bóng lòe gươm sắt lòng thêm đắng

Tiếng rộn trống đồng tóc đốm hoa”

(Trần Phu)Trống đồng vẫn được nhân dân bảo vệ bằng cách vẫn sử dụng nó trong các dịp

Lễ hội, tiếng trống đồng thúc quân trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng làm choquân Nhà Hán phải khiếp sợ

Trong quá trình đấu tranh đó nền văn hóa cổ truyền được đặt trước sự thửthách lớn lao Văn hoá Hán được du nhập và truyền bá vào Việt Nam có mặt ônhoà, qua số người di dân từ Trung Quốc, song mặt chủ yếu là mang tính cưỡng bứcqua bàn tay của bọn đô hộ như một công cụ nô dịch và đồng hoá Nền văn hóa ViệtNam không chống lại để tự vệ một cách bảo thủ và cô lập Nó không chối tìmnhững đóng góp của những yếu tố bên ngoài mà còn tỏ ra có khả năng thu nạp vàdung dưỡng mạnh những cái hay, cái đẹp của nền văn hoá ngoại nhập, kể cả đó lànền văn hóa của kẻ đi xâm lược và đô hộ mình Nói như tác giả Trần Thanh Đạm

trong bài ''Văn hóa Việt Nam - giao lưu và hội nhập quốc tế” là: “Văn hóa Việt

Nam đã tự bảo tồn được bản sắc của mình, đồng thời thâu thái được tinh hoa của bên kia để phát triển và phát huy bản sắc đó, biến bản sắc thành ra bản lĩnh, có nghĩa là bản sắc này không những chỉ có đặc tính riêng biệt mà còn có sức sống quật cường” Nhìn lại quá trình, đấu tranh và bảo vệ phát huy trong tiến trình lịch

sử văn hóa, nhiều phong tục tập quán người Việt đã có sự tiếp thu của người Hán và

Trang 17

bằng chày tay được thay đổi bằng giã gạo bằng cối đạp (theo hệ thống đòn bẩy) Từtập quán ở nhà sàn, người dân dần dần chuyển sang ở nhà nền đất bằng, thuận tiệnhơn Tục và cách chôn cất người chết cũng được thay đổi theo người hán Và tếtnguyên đán qua thời gian cũng có nhiều thay đổi, người Việt Nam bổ sung thêmnhững phong tục tết khác như tết nguyên tiêu, tết trung thu, tết đoan ngọ, tết thanhminh…

3 Tôn giáo

Về nguyên lý, không một tôn giáo hay một hệ tư tưởng nào lại tự giới hạnphạm vi ảnh hưởng của mình trong một vùng lãnh thổ nhất định Ở góc độ mà xét,trước hết, chúng ta phải thừa nhận sự truyền bá mọi tôn giáo, mọi tư tưởng đếnnước ta là một hiện tượng rất tự nhiên và hợp quy luật Tất nhiên sự truyền bá mụctiêu cuối cùng cũng là tạo ra một quy mô tiếp nhận ngày càng rộng lớn Nhưngtruyền bá và tiếp nhận là hai quá trình hoàn toàn khác nhau Vần đề đáng lưu ý ởđây là ý thức lợi dụng quy luật truyền bá của tôn giáo và tư tưởng vào những âmmưu chính trị thâm độc của quân đô hộ Ở thời kỳ bắc thuộc đó là sự lợi dụng củaNho giáo, Đạo giáo và Phật giáo

Vào thời Bắc thuộc các tư tưởng triết lý mới được du nhập vào nước ta, dướicác hình thức khác nhau (Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) Nếu như Phật giáo đếnnước Việt bằng con đường hòa bình, với những tư tưởng tốt đẹp đã hòa nhập nhanhchóng vào đời sống dân tộc Việt, và cũng như Đạo giáo theo chân ngoại bang xâmlược truyền bá vào nước ta hay từ dân di cư người Hán vào nước ta, dần dần nó đãtrở thành một phần trong đời sống của dân tộc Việt, dân tộc ta đã chọn lọc nó vàbiến những tư tưởng của Lão Trang thành lẽ sống phù hợp với truyền thống củamình Đến Nho giáo, Nho giáo cũng truyền bá vào nước Việt ta theo bước chân củangoại bang phương bắc, tuy nhiên khác với Đạo giáo hay Phật giáo, Nho giáo đượcchế độ đô hộ phương bắc dùng làm công cụ để cai trị dân tộc ta, với âm mưu đồnghóa về mặt tư tưởng, bảo vệ chế độ đô hộ phương bắc Trong hoàn cảnh, khi cả ba

tư tưởng trên tồn tại song song trên đất Việt, theo lẽ tự nhiên thì tín ngưỡng, tưtưởng truyền thống của dân tộc ta sẽ bị Tam giáo chèn ép, làm lu mờ dần bản sắcdân tộc, sự đối nghịch về tư tưởng của tam giáo, sẽ làm cho sự đối kháng giữachúng với nhau ngày càng gay gắt hơn

Nhưng trên thực tế, dân tộc Việt không những không làm mất đi tư tưởng bảnsắc dân tộc mình, mà còn dung hòa, hòa hợp các tư tưởng của tam giáo với nhau, vìthế ít thấy xảy ra xung đột lẫn nhau Người Việt đã đấu tranh chống lại những tưtưởng của Nho giáo khi nó là công cụ bảo vệ chính quyền đô hộ, tư tưởng truyềnthống của dân tộc được bảo vệ, từ đó truyền thống dân tộc Việt càng được phát huyhơn bằng cách chọn lọc những giá trị tốt đẹp mà Đạo giáo, Phật giáo mang lại

Trang 18

3.1 Nho giáo

Nho giáo là hệ tư tưởng lớn nhất ở Trung Quốc, và từng có ảnh hưởng mạnh

mẽ đến nhiều vùng lãnh thổ khác nhau ngoài biên giới của Trung Quốc Lịch sử của

hệ tư tưởng phát triển đặc biệt này, tính đến khi bắt đầu truyền bá vào nước ta Nhogiáo được coi là cơ sở trí thức và là nền tảng tư tưởng của giai cấp phong kiến thốngtrị Trung Quốc, hiển nhiên khi được coi là một học thuyết chính trị, Nho giáo phảichấp nhận chọn lọc mang nặng tính lợi vụ của giai cấp thống trị đương thời Từ đâyNho giáo mới bắt đầu có địa vị quan trọng hàng đầu trên vũ đài chính trị và tưtưởng của Trung Quốc Chẳng bao lâu sau khi có được địa vị quan trọng này, Nhogiáo đã theo chân quân đội xâm lược Trung quốc mà đến nước ta Ở đây Nho giáolại phải chịu thêm một sự gạn lọc nữa, nhằm chỉ cho phép truyền bá những gì có lợinhất cho chính quyền đô hộ mà thôi Hán Nho là một trường phái rất mạnh của lịch

sử Nho giáo, nhưng Nho học truyền bá đến nước ta thời Hán chỉ gồm hai nội dungchủ yều là quảng bá tiếng nói tôn quân đại thống nhất và tiếng nói trọng nam khinh

nữ Việc quảng bá cho tiếng nói tôn quân đại thống nhất, bọn đô hộ muốn khép chặtnhân dân ta vào vòng cương tỏa nghiệt ngã của chủ nghĩa bành chướng, đồng thờivới việc quảng bá cho tiếng nói trọng nam khinh nữ, bọn đô hô hy vọng sẽ từngbước loại một nửa lực lượng xã hội nước ta ra khỏi cuộc đấu tranh giành độc lập rấtquyết liệt đương thời

Người Việt tiếp thu tư tưởng Nho giáo, nhưng cải biến nó trở thành vũ khíchống lại âm mưu đồng hóa dân tộc của phương bắc

Tư tưởng Nho giáo khi vào nước Việt, đã làm ảnh hưởng đến các tầng lớpnhân dân Tuy nhiên quá trình tiếp nhận đó lại có sự khác nhau Những tầng lớp xãhội trên như quan lại người Việt cũ, những người có điều kiện đi học chữ Nho đãchịu ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo sâu sắc Từ chỗ bị ép học, nhân dân ta đã tựnguyện học nó và ngày một phổ biến nó một cách rộng rãi Vì thế những người ViệtNam đầu tiên được giữ những chức vụ quan trọng dưới thời Bắc thuộc như Lý Tiến,

Lý Cầm - làm thái thú, thứ sử - đều là những người học thông kinh truyện, xuất thân

từ khoa bảng

Đối với các tầng lớp nhân dân, sống trong lũy tre làng, cuộc sống cố kết cộngđồng, truyền thống yêu nước lúc nào cũng được thắp sáng Bởi thế mà khi tư tưởngNho giáo bắt đầu xâm nhập vào lũy tre làng, bọn đô hộ phương bắc những tưởngchính tư tưởng Nho giáo ấy sẽ phá vỡ được khối đoàn kết làng xã đặc trưng của dântộc Việt, thì họ đã nhầm Nho giáo vào đời sống làng xã, người Việt đã tiếp thu nó,

và tìm cách biến nó trở thành vốn sống của mình để phù hợp với truyền thống dântộc, triết lý nguyên thủy của Nho giáo bị người Việt phá vỡ

Tam cương ngũ thường, có ảnh hưởng nhưng không ăn sâu vào tinh thần, tưtưởng dân tộc Nhân dân ta đã chọn lọc tiếp thu được những gì tương đồng với đạo

lý truyền thống của dân tộc Nhưng phủ nhận tư tưởng trọng nam khinh nữ, coi

Ngày đăng: 16/01/2016, 00:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Quốc Vượng (Chủ biên) (2004), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb. Giáo dục, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở văn hóa Việt Nam
Tác giả: Trần Quốc Vượng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Giáodục
Năm: 2004
2. Nguyễn Tài Thư (chủ biên) (1993), Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Phật giáo Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Tài Thư (chủ biên)
Nhà XB: Nxb.Khoa học xã hội
Năm: 1993
3. Phan Huy Lê – Trần Quốc Vượng – Hà Văn Tấn – Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập. 1, Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịchsử Việt Nam
Tác giả: Phan Huy Lê – Trần Quốc Vượng – Hà Văn Tấn – Lương Ninh
Nhà XB: Nxb. Đại học và Trung học chuyên nghiệp
Năm: 1991
4. Doãn Chính – Nguyễn Sinh Kế (2004), Về quá trình Nho giáo du nhập vào Việt Nam (từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX), Triết học, số 9, tháng 9 - 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về quá trình Nho giáo du nhập vàoViệt Nam (từ đầu Công nguyên đến thế kỷ XIX)
Tác giả: Doãn Chính – Nguyễn Sinh Kế
Năm: 2004
5. Trần Văn Giàu (1993), Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam, Nxb. TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Giàu
Nhà XB: Nxb. TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1993
6. Huỳnh Công Bá (2011), Lịch sử Việt Nam cổ - trung đại, Nxb. Thuận Hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Việt Nam cổ - trung đại
Tác giả: Huỳnh Công Bá
Nhà XB: Nxb. Thuận Hoá
Năm: 2011

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w