Sau khi cải cách Minh trị diễn ra, chính nhờ nguồn sức lao động phong phú, có kĩ thuật và ý thức kỉ luật cao của môi trường kinh tế đô thị mà Nhật Bản đã có nhiều điều kiện thuận lợi để
Trang 1Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG CUỘC CẢI CÁCH Ở
NHẬT BẢN ( 1868- 1912)1.1 Những tiền đề của cuộc cải cách
1.1.1 Tiền đề về kinh tế
Vào giữa thế kỷ XIX, chế độ phong kiến Nhật Bản Tokugawa sau mấy thế kỷ thống trị đã rơi vào tình trạng bế tắc, suy thoái, không thể nào đáp ứng được sự phát triển, không đủ sức chống lại sự xâm nhập của đế quốc Âu – Mỹ
Nông nghiệp: Đến giữa thế kỷ XIX, Nhật Bản vẫn là một nước nông nghiệp với mối quan hệ sản xuất phong kiến lạc hậu Nền nông nghiệp dựa trên quan hệ phong kiến, quyền sở hữu đất đai thuộc về nhà nước phong kiến, tình trạng cát cứ không phù hợp với nhu cầu phát triển sản xuất hàng hóa Pháp luật không công nhận nông dân Nhật có quyền chiếm hữu đất đai, mặc dầu họ được canh tác trên những mảnh đất cha truyền con nối Việc mua bán đất bị cấm rất nghiêm, nhưng trong thực tế việc gán đất đã xảy ra đến quy mô lớn Vì thiên tai mất mùa hoặc do bệnh tật trong các gia đình nông dân, họ không đủ sức nạp nghĩa vụ tô thuế, lao dịch nên phải gán đất cho nhà giàu ở nông thôn hay chủ buôn bán, người cho vay nặng lãi ở thành thị Về hình thức người nông dân vẫn giữ đất của mình và tiếp tục cày cấy, nhưng thực ra họ đã trở thành tá điền, không chỉ nộp thuế cho Daimyô – những quý tộc phong kiến lớn, mà còn phải nộp tô điền hay tô hiện vật cho chủ nợ Người phú nông chủ nợ có quyền sở hữu đất đai, thực tế được gọi là Dzinusi tức là địa chủ
Ở Nhật Bản lúc bấy giờ còn khuyến khích khai hoang và dành cho chủ đất nhiều quyền lợi, được miễn thuế trong thời gian nhất định Sắc lệnh
Trang 2khẩn hoang năm 1721 đã tạo điều kiện cho các thương gia vay lãi ở thành thị xuất vốn tham gia khai khẩn đất hoang Như vậy, độc quyền chiếm hữu đất đai của quý tộc bị phá vỡ ở một mức độ đáng kể Bên cạnh, những lãnh chúa phong kiến truyền thống đã xuất hiện giai cấp địa chủ Dzinusi gồm phú nông và các nhà buôn cho vay nặng lãi.
Sự phát triển của các quan hệ hàng hoá, tiền tệ, hiện tượng chiếm hữu đất đai kinh doanh và việc hình thành những quan hệ mới đã làm thay đổi các quan hệ trong nông nghiệp
Một hiện tượng mới ở nông thôn là sự xuất hiện chế độ làm thuê năm, thuê tháng và thuê công nhật Tuy ở Nhật Bản việc nông dân ra khỏi lãnh địa
đi làm thuê đều bị bắt trả về cho lãnh chúa, nhưng hiện tượng trốn khỏi lãnh địa vẫn xảy ra không gì ngăn nổi Nông dân đi kiếm việc làm ở thị trấn và những vùng thiếu lao động Vì, lúc này phần lớn diện tích ruộng đất ở nông thôn đã chuyển sang trồng cây công nghiệp như: bông, dâu, chè, thuốc lá… Vào nửa đầu thế kỷ XIX, diện tích trồng dâu, bông ở quanh một số thành phố lớn đã vượt quá diện tích trồng lúa Thời gian này chính quyền Shôgun thu thuế bằng tiền thay cho hiện vật
Vào đầu thế kỉ XIX, những dấu hiệu khủng hoảng của nền kinh tế tự nhiên ngày càng lộ rõ Tình trạng mất mùa, đói kém, ôn dịch liên tiếp xảy ra Trong 50 năm từ 1790 – 1840 theo tài liệu thống kê đầy đủ, nước Nhật có 22 lần mất mùa, nạn đói bao trùm một phần khá lớn đất nước Trước tình hình
đó yêu cầu đặt ra cho chính phủ là phải tiến hành cải cách để cải thiện tình hình kinh tế của đất nước, nâng cao đời sống cho nhân dân
Công thương nghiệp: vào đầu thế kỉ XVIII, đặc biệt là thế kỉ XIX, công thương nghiệp phát triển mạnh mẽ và tác động trở lại đối với xã hội
Tổ chức sản xuất thủ công nghiệp truyền thống là các phường hội ở thành thị, lao động tại nhà của nông dân Các công trường thủ công và phường hội
Trang 3đầu tiên xuất hiện ở các công quốc vào những năm 20 của thế kỉ XVIII Chính quyền đã giao cho phường hội độc quyền sản xuất kinh doanh một thứ hàng hoá và phải nộp cho nhà nước một khoản nghĩa vụ bằng tiền.
Công trường thủ công phân tán khá phổ biến đem lại hiệu quả cho nền sản xuất kinh doanh Nông dân thường nhận nguyên liệu từ những chủ kinh doanh, sản xuất tại nhà và giao hàng cho chủ theo định kì Sản phẩm của họ làm đều thuộc về chủ Cũng có nhiều nơi thực tế nông dân lĩnh lương của nhà buôn Ở miền Trung Nhật Bản trên đảo Hoooonsshu trong các ngành tơ, lụa, kéo sợi, dệt vải, công nghiệp tại gia phát triển nhanh chóng Mỗi khu vực trong nước chuyên môn sản xuất một mặt hàng nào đấy Sự tiêu thụ ngày càng tăng về vải lụa vào đầu thế kỉ XVIII cho phép xuất hiện nhiều công trường thủ công dệt Ở miền Nam trong công quốc Satsuma ngành sản xuất tơ lụa có nhiều xí nghiệp thuê từ 20 đến 30 công nhân
Vào nửa sau thế kỉ XVIII công trường thủ công sản xuất lụa vải xuất hiện ở nhiều tỉnh, có đến 100 công trường do phong kiến tổ chức quản lí Trong những năm 50 – 60 đã xuất hiện công nghiệp luyện thép và những công xưởng đóng tàu ở các công quốc phía Tây Nam
Đến giữa thế kỉ XIX, số công trường thủ công lên tới hàng trăm nhưng công nghiệp chế tạo vẫn chưa ra đời Tỉ lệ sản phẩm công nghiệp Nhật so với thế giới không đáng kể, ngành đúc đồng khoảng 6% và ngành sản xuất tơ lụa cũng chỉ mới chiếm 10% (năm 1867)
Tuy công nghiệp Nhật Bản có những bước phát triển nhưng gặp nhiều khó khăn Tính biệt lập của các công quốc làm xuất hiện hàng rào quan thuế
và đủ thứ hạn chế của chính phủ, đặc biệt là công việc cấm nông dân không được bỏ đất chạy ra thành thị
Trang 4Vào thời Edo (1600 – 1868) ở Nhật Bản còn có sự ra đời của các thành thị với vai trò kinh tế, văn hóa nổi bật đã khiến thành thị trở thành những nhân tố rất có ý nghĩa đối với công cuộc cải cách ở Nhật Bản Trong các thành thị đó, bộ máy quản lý theo kiểu phong kiến hành chính quan liêu ngày càng tỏ ra bất lực trước sự phát triển đa dạng, sôi động của nền kinh tế
đô thị Vai trò điều hành trên thực tế đã rơi vào tay đẳng cấp thương nhân thông qua các phường hội Đội ngũ thương nhân – thị dân không chỉ là những nhà buôn giàu có mà đồng thời còn là những người chuyên kinh doanh tiền tệ và là các chủ nợ có thế lực kinh tế lớn Họ chính là những người định đoạt giá cả và tạo ra những mức giá tương đối ngang bằng giữa các vùng Có thể nói, đẳng cấp thương nhân, trong đó có thương nhân Osaka không chỉ đã đóng vai trò tích cực trong việc giảm thiểu tình trạng độc quyền về kinh tế, tự định đoạt giá cả của các lãnh chúa mà còn đem lại sự phát triển đông nhất và bước đầu đặt cơ sở cho sự ra đời của một thị trường
kinh tế thống nhất ở Nhật Bản
Hơn thế nữa, trong mỗi thành thị địa phương, với hạt nhân là các thương nhân, đã tạo ra sự kích thích mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế trong nông thôn, khuyến khích việc mở rộng của kinh tế nông nghiệp, thương nghiệp và sản phẩm thủ công nghiệp Trong số các thành thị của Nhật Bản thời Edo, Kyoto, Osaka và Nagasaki được coi là những trung tâm kinh tế quan trọng đồng thời là các mô hình thành thị tiêu biểu của Nhật Bản thời kì cận đại Vào đầu thế kỉ XVIII, ở Osaka, Kyoto, Edo ước tính có đến hàng trăm nghìn thợ thủ công và số lượng đó vẫn không ngừng được tăng lên vào cuối thời Edo Đến giữa thế kỉ XIX, tổng dân số Nhật Bản đã lên đến khoảng
30 triệu trong đó có khoảng 20% số dân sống ở thành thị Điều đáng chú ý
là, các thành thị Nhật Bản không chỉ là trung tâm thương mại, địa bàn tiêu thụ hàng hóa mà còn là những công xưởng lớn Nền sản xuất của thành thị
Trang 5với trình độ tổ chức chặt chẽ và năng lực sản xuất cao đã tạo ra những mặt hàng thủ công đạt đến trình độ tinh xảo nổi tiếng thế giới như : tơ lụa, luyện kim, đồ gốm sứ, sơn mài … từ sau năm 1858, sau khi mở cửa buôn bán với
Mỹ, tơ lụa và trà đã trở thành mặt hàng xuất khẩu chính của Nhật Bản Trong đó, chỉ riêng nguồn thu về tơ lụa đã đạt giá trị ngang với tổng ngân sách hàng năm và được coi là di sản lớn nhất của thời kì Edo để lại cho giai đoạn phát triển sau Sau khi cải cách Minh trị diễn ra, chính nhờ nguồn sức lao động phong phú, có kĩ thuật và ý thức kỉ luật cao của môi trường kinh tế
đô thị mà Nhật Bản đã có nhiều điều kiện thuận lợi để tiếp nhận các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến phương Tây và bước nhanh vào xã hội công nghiệp hiện đại
1.1.2 Tiền đề về xã hội
Vào thời kỳ cận đại mặc dù chính phủ Shôgun cố làm cho nước Nhật vươn lên, nhưng lại muốn duy trì nguyên trạng các đẳng cấp Tuy vậy, các quy luật phát triển xã hội đã thay đổi, quan hệ hàng hóa tiền tệ đã làm xói mòn những giá trị tưởng chừng bất biến đã làm thay đổi các đẳng cấp trong
Trang 6Thế lực của các phiên phía Bắc, kinh tế không phát triển, thành lực lượng bảo thủ Đại diện là Daimyô ở Hôkkaidô Đây sẽ là đối tượng của cách mạng.
Thế lực của các phiên Tây nam, tiếp xúc với thị trường kinh tế phát triển như Satsuma, Tosa, Choshu, Hizen đều giàu mạnh lên, có xu hướng canh tân, chống lại tính bảo thủ và sự hạn chế của chế độ quân sự phong kiến Họ sẽ là lực lượng tích cực cho cuộc cải cách đưa đất nước phát triển
Samurai là tầng lớp được luyện cả văn và võ Trừ một số Samurai lớp trên, đại đa số là bộ phận phục vụ quân sự cho các Daimyô Bộ phận này vào thời kỳ cận đại đã lên tới hai triệu Tầng lớp Samurai đã tăng mạnh về số lượng làm cho các Daimyô không đủ sức thỏa mãn nhu cầu kinh tế Họ là người có học, có kiến thức tổ chức và quân sự, là tầng lớp được ưu dãi trong
xã hội phong kiến
Cuộc đấu tranh phát triển xã hội làm cho một bộ phận tầng lớp Samurai phân hoá thành người kinh doanh, rời bỏ cuộc sống trong các lãnh địa để ra thành thị Nhờ có học vấn mà họ nhanh chóng nắm được kiến thức mới Họ trở thành bộ phận quý tộc có tư tưởng chống lại Sôgun, muốn tiến hành cuộc cải cách xã hội
Thương nhân Ôsaka có vị trí đặc biệt quan trọng trong xã hội Nhật Bản Ôsaka là những tập đoàn thương gia lúa gạo lớn đã nắm được mạch sống lương thực của đất nước Các Daimyô gặp khó khăn kinh tế phải bán trước số thóc một hay vài năm và như vậy họ tự rơi vào tình trạng lệ thuộc
về tài chính Các phú thương dần dần nắm lấy đất đai và cả nông dân, tham gia bóc lột trực tiếp Đến nửa sau thế kỷ VIII quyền sở hữu đất đai thực tế
đã nằm trong tay các nhà buôn giàu có
Daimyô thành con nợ của thương nhân, còn thương nhân tuy giàu có nhưng lại thiếu quyền lực và vị trí xã hội Thương gia có thể dùng tiền để
Trang 7mua tước hiệu Samurai, cũng có thể qua con đường hôn nhân với con cái Samurai để tạo nên vị trí hợp pháp của mình, thương gia dù có giàu có nhưng không được coi trọng Họ thường là chủ nợ của các lãnh chúa, của võ
sỹ, thậm trí cả Tướng quân ( Sôgun) nhưng họ không có địa vị xã hội tương ứng
Thợ thủ công đây là tầng lớp dưới trong đẳng cấp phong kiến Mạc phủ vì muốn ngăn ngừa chế độ phong kiến tan rã, nên có sự hạn chế rất chặt chẽ với hoạt động của thợ thủ công Người làm nghề thủ công còn phải gánh vác nhiều loại thuế nặng nề Đứng về mặt chính trị, họ ở vào địa vị không có quyền hạn gì Thậm chí ngay cả đến con người của họ cũng không bảo đảm Một khi võ sĩ cảm thấy họ “vô lễ” thì có thể dựa vào luật “được quyền giết ngay tại chỗ những người phạm tội” để giết chết họ
Nông dân chiếm 80%- 90% cư dân, là lực lượng cơ bản của nền sản xuất Nhật Bản.Đất đai nằm trong tay các Đaimiô Nông dân lĩnh canh ruộng đất và nộp tô cho Đaimiô Quan hệ này tương đối giống quan hệ ruộng đất ở Tây Âu trung cổ Nhưng vốn là tá điền của lãnh chúa, nông dân không có quyền rời khỏi lãnh địa, nếu trốn chạy, lãnh chúa có quyền bắt về Cùng với
sự phát triển kinh tế hàng hóa, kinh tế nông dân càng khó khăn, hàng vạn người phải ra thành thị kiếm sống vì không có đất, không có việc làm Đó là nguồn cư dân cơ sở của thành thị Thân phận khốn khó của nông dân làm cho họ bất mãn với chế độ Tướng quân ( Sôgun) Địa vị bi thảm của người
đã thúc đẩy họ đứng lên chống áp bức bóc lột Từ năm 1801 đến năm 1843,
đã bùng nổ 320 lần những cuộc khởi nghĩa của nông dân Những cuộc khởi nghĩa của nông dân thời kỳ này yêu cầu phân phối ruộng đất và đuổi bọn tham quan vô lại…
Trang 81.1.3 Tiền đề về văn hóa tư tưởng
Cùng với những chuyển biến kinh tế, có thể khẳng định rằng, cuộc cải cách Minh Trị ở Nhật Bản đã diễn ra và diễn ra một cách thành công cũng chính là nhờ có những vai trò hết sức quan trọng của những tiền đề về văn hóa và tư tưởng Văn hóa, tư tưởng không chỉ đạo nên nền tảng căn bản của cuộc cải cách mà còn ý nghĩa tập trung sức mạnh đất nước, dẫn dắt tiến trình lịch sử dân tộc
Dựa trên những nền tảng văn hóa truyền thống, dường như tương phản với những khung cảnh ảm đạm về chính trị, càng về cuối thời Edo những luồng gió mới của văn hóa thời đại càng tràn mạnh mẽ vào Nhật Bản
và đem lại đời sống văn hóa Nhật Bản một diện mạo mới Một số dạng thức biểu hiện và tư tưởng văn hóa mới xuất hiện khiến cho văn hóa Nhật Bản trở nên hết sức phong phú Môi trường xã hội mới cũng khiến cho giáo dục từng bước thoát ra khỏi những định chế phong kiến và ngày càng trở thành những nhu cầu hiểu biết, học tập của đông đảo các tầng lớp nhân dân
Thời Edo, ở một số trường ngoài những môn học luân lý và triết luận Nho giáo, học sinh còn được học: Toán, Địa lý, Lịch sử, các môn học về Khoa học, Kỹ thuật phương Tây, tiếng Anh, tiếng Hà lan….Vào cuối thời Edo học tập đã trở thành một nhu cầu quan trọng trong cuộc sống thường ngày của các Samurai cũng như đông đảo các tầng lớp bình dân Qua đó cho thấy trước khi nền giáo dục hiện đại được thiết lập đã có một số lượng đông đảo các giáo viên có kinh nghiệm, một truyền thống hiếu học trong xã hội đã khá phổ biến Đây là cơ sở cho cải cách giáo dục ở Nhật Bản
Nhờ sự phát triển của giáo dục ở Nhật Bản đã xuất hiện những khuynh hướng tư tưởng mới thể hiện sinh động khung cảnh của một xã hội đang trong thời kỳ chuyển giao giữa bảo thủ, lạc hậu và tân tiến, giữa truyền thống và hiện đại Một số khuynh hướng tư tưởng, học thuật đó thực sự trở
Trang 9thành những luồng tư tưởng mang ý nghĩa khai sáng như: Quốc học, Khai quốc học, Hà lan học… Các khuynh hướng tư tưởng đó đã bổ sung và làm phong phú thêm kho tàng tri thức của Nhật Bản Do vậy, các khuynh hướng học thuật và tư tưởng mới không chỉ góp phần quan trọng mở rộng tầm nhận thức của dân tộc mà còn phá vỡ xu thế độc tôn của Khổng học, hướng tư duy phát triển xã hội đến mô hình phát triển mới và những giá trị tiên tiến của văn minh phương Tây Điều quan trọng là, hệ thống giáo dục và tư tưởng Nhật Bản đã sớm thoát ảnh hưởng của tôn giáo, coi trọng thực học, kỹ thuật, công nghệ, nhằm mau chóng đưa Nhật Bản trở thành một quốc gia “ phú quốc, cường binh”.
1.1.4 Tiền đề về chính trị
Đến giữa thế ỷ XIX Nhật Bản vẫn là một quốc gia phong kiến Đứng đầu nhà nước là Thiên hoàng có vị trí tối cao (nhưng chỉ trên danh nghĩa) thực quyền thuộc về Sôgun đóng ở phủ chúa (Mạc phủ) Bên dưới là một hệ thống chính quyền từ trung ương đến địa phương Ở các địa phương, các Đaimiô là những lãnh chúa phong kiến theo kiểu châu Âu Nhân dân lao động bị bóc lột nặng nề bằng địa tô và thuế khóa
Sự thống trị của Mạc phủ Tôcưgawa tồn tại gần ba thế kỷ 1868) Chính quyền Mạc phủ trực tiếp nắm khỏang ¼ đất nước, còn ¾ lãnh thổ còn lại thuộc quyền các chư hầu phong kiến cai quản Những vùng đất của chư hầu được gọi là “phiên quốc” Đứng đầu phiên quốc là Đaimiô Sau hơn hai trăm năm cầm quân thì chế độ Mạc phủ Tôcưgaoa lâm vào tình trạng khủng hoảng, suy yếu
(1603-Giữa lúc mâu thuẫn trong lòng xã hội Nhật Bản gay gắt, chế độ Mạc phủ khủng hoảng nghiêm trọng thì các nước phương Tây dùng áp lực quân
sự đòi Nhật Bản phải mở cửa Năm 1854, một hạm đội của Mỹ đến Nhật Bản buộc Mạc phủ phải ký hiệp ước, mở hai cửa biển Simôđa và Hôkôđatê
Trang 10cho Mỹ buôn bán, tiếp đó Pháp, Nga, Đức cũng đua nhau ép Nhật Bản ký hiệp ước bất bình đẳng Sở dĩ, các nước tư bản Âu, Mỹ lúc này đòi Nhật Bản
mở cửa để giao lưu, buôn bán, đặc biệt là Mỹ chú ý đến Nhật vì Nhật Bản có thể thành nơi dừng chân cho các tàu Mỹ rồi tỏa ra Trung Quốc và Thái Bình Dương Đến năm 1864, sự can thiệp của nước ngoài vào Nhật Bản ngày càng tăng Hạm đội Mỹ-Anh-Pháp-Hà lan tấn công Shimonnoseki, đòi quyền qua lại cảng này Đặt Nhật Bản trong một hoàn cảnh khó khăn Tiếp tục duy trì chế độ phong kiến và chấp nhận đối đầu với các nước phương Tây Nhượng bộ mở cửa giao thương và theo con đường canh tân đất nước
Sau một loạt những hiệp ước mà chính phủ Mạc phủ ký với nước ngoài đã chấm dứt hơn hai trăm năm theo đuổi chính sách đóng cửa của chính quyền Edo Tuy nhiên, việc ký các hiệp ước này đã làm cho các tầng lớp nhân dân trong xã hội phản ứng mạnh mẽ Phong trào phát triển mạnh ở các công quốc phía Tây Nam như: Chiôxiu, Satsuma, Toxa Chính quyền cho quân trấn áp nhưng cũng không ngăn được làn sóng chống chính phủ Tôcưgaoa Phong trào đấu tranh chống Sôgun vào những năm 60 của thế kỷ XIX đã làm sụp đổ chế độ Mạc phủ
Như vậy, giữa thế kỷ XIX Nhật Bản lâm vào khủng hoảng trầm trọng đứng trước sự lựa chọn hoặc là tiếp tục duy trì chế độ phong kiến bảo thủ trì trệ, lạc hậu để bị các nước đế quốc xâu xé hoặc là canh tân đất nước đưa Nhật Bản phát triển theo con đường các nước tư bản Trước tình hình đó, đóng vai trò là đẳng cấp bên trên, giữ vai trò thống trị xã hội, một bộ phận quan trọng đẳng cấp võ sĩ nhận thức sâu sắc về sự tồn vong của dân tộc và cảm thấy danh dự của đất nước, của đẳng cấp bị xúc phạm nên họ đã đứng lên lựa chọn con đường canh tân đất nước đưa Nhật Bản thoát khỏi cảnh bị các nước đế quốc xâu xé, phát triển cường thịnh
Trang 11Sau khi Thiên hoàng Komei đột ngột qua đời tháng 12 năm 1867 thì Thiên hoàng Minh Trị lên kế vị Minh Trị Thiên Hoàng (1825 – 1912) tên thật là Mutxuhitô vị hoàng đế thứ 122 trong 125 đời Thiên Hoàng của đất nước Nhật Bản Ông sinh ra tại TôKyô, là con trai của Thiên Hoàng Hiếu Minh và phi tần NaKayama Xôshikô Được các quý tộc và một số thành viên phái Tôn vương nuôi dưỡng nên Thiên hoàng Minh Trị đã sớm có tư tưởng cải cách Ông cũng là người chủ trương phải lật đổ Mạc phủ Ông đã ban sắc chỉ đồng ý cho hai han là Chosu và Satsuma tấn công Edo Trước nguy cơ nội chiến, Goto Shojiro và Sakamoto thông qua lãnh chúa Tosa là Yamanouchi Toyoshige khuyên Tokugawa Yoshinobu nên trao trả lại quyền lực chính trị cho Thiên hoàng Chấp nhận lời khuyên này, ngày 14/ 10/ 1867, tại Kyoto, Tokugawa Yoshinobu quyết định trao trả quyền lực cho Thiên hoàng Chính quyền Minh Trị chính thức được thành lập Đến đây, hình thức hai chính quyền song song tồn tại chấm dứt hoàn toàn Chế độ Mạc phủ tồn tại từ năm 1192 ở Nhật Bản chính thức bị lật đổ Quyền lực chính trị của nhà nước tập trung vào tay Thiên hoàng.
1.2 Những nội dung cải cách
Sau khi lật đổ chế độ Mạc Phủ, Thiên Hoàng Mutxuhito thực hiện một cuộc cải cách lớn về mọi mặt từ chính trị, kinh tế, giáo dục cho đến quân sự Những cải cách này đã khiến Nhật Bản phát triển mạnh mẽ từ cuối thế kỷ XIX, biến Nhật Bản từ một nước phong kiến thành một nước tư bản chủ nghĩa, thoát khỏi nguy cơ trở thành thuộc địa của các nước đế quốc tư bản.2.1.1.Về chính trị
Thiên hoàng tuyên bố chấm dứt chế độ Mạc phủ, thành lập chính phủ mới, xóa bỏ chế độ cát cứ và xây dựng chính quyền trung ương tập quyền do Thiên Hoàng đứng đầu Trong đó, địa vị chính trị của Thiên hoàng
Trang 12được đề cao, vị trí thiêng liêng của Hoàng gia được coi là Trung tâm, hội tụ
về sức mạnh, ý trí dân tộc
Với mục đích ổn định thế cục và có đủ sức mạnh chống lại thực dân phương Tây, chính quyền Minh Trị đã tập trung tất cả mọi lỗ lực thực hiện bằng được khẩu hiệu “Phú quốc, cường binh” mà chính phủ đã đề ra ngay sau khi được thành lập Để thực hiện mục tiêu chiến lược đó, chính quyền Minh Trị đã thực hiện kiên quyết và triệt để một số các biện pháp cải cách
mà trước hết là tập trung vào hai nhiệm vụ cơ bản:
Thứ nhất, triệt bỏ những định chế lạc hậu của thể chế phong kiến Thứ hai, tạo dựng được những cơ chế thích ứng để thúc đẩy sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, mau chóng hiện đại hóa đất nước
Chính quyền mới đã khôi phục lại quyền lực của Thái chính quan ( Daijokan) Ban đầu Thái chính quan được chia làm 3 viện: Chính viện (Shoin) là cơ quan quyền lực tối cao, Tả viện (Sain) là cơ quan tư vấn lập pháp, Hữu viện (Uin) là cơ quan quản lý các bộ Đứng đầu cơ quan này lần lượt là: Thái chính đại thần, Tả đại thần và Hữu đại thần Về sau chế độ tam viện còn được cải cách nhiều lần vào các năm 1871, 1873, 1875, 1877, và nó được duy trì cho đến năm 1885 khi chính quyền Minh Trị thực thi chế
độ Nội các Cùng với Tam viện, chính quyền còn thiết lập 6 bộ: Bộ Dân vụ ,
Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Bộ Tư pháp, Bộ Hoàng cung, Bộ Ngoại giao Trong chính quyền mới, hầu hết các chức vụ chủ chốt đều do quý tộc và tầng lớp võ sĩ đảm nhiệm Điều đó, phần nào thể hiện vai trò và ảnh hưởng của những tầng lớp này trong xã hội Nhật Bản thời bấy giờ
Bên cạnh việc thiết lập thể chế chính trị trung ương tập quyền, chính phủ Minh Trị đã tiến hành những cải cách nhằm loại bỏ tàn dư của chế độ phong kiến Bằng sắc lệnh “Tứ dân bình đẳng”, chế độ đẳng cấp tồn tại từ
Trang 13thời Edo đã được xóa bỏ Theo đó, 4 đẳng cấp sĩ, nông, công thương không còn và dân chúng được chia làm 3 hạng: Tầng lớp có thân phận cao như Daimyo, Kuye ( quý tộc); Tầng lớp võ sĩ và tầng lớp bình dân Chính quyền mới cho phép tầng lớp bình dân được mang họ của mình, công nhận quyền kết hôn với tầng lớp khác có địa vị xã hội cao hơn Ngoài ra, họ cũng có quyền tự do chuyển đổi chỗ ở, lựa chọn nghề nghiệp…Đó là những quyền
mà vào thời phong kiến, giới bình dân không thể có
Để khẳng định những nguyên tắc của một nhà nước mới, chính quyền Mịnh Trị đã tập trung sức lực vào việc xây dựng chính thể và biên soạn hiến pháp Dựa trên cơ sở ban đầu là việc thiết lập một chính thể mới của một nền chính trị công minh chính đại lấy nhân nghĩa làm cốt lõi Mục tiêu chính trị hàm giá trị nhân bản đó không phụ thuộc vào cá nhân người đứng đầu mà phải quy định bởi chính thể Theo Minh Trị, chính thể thích hợp nhất cho Nhật Bản là thể chế “Quân chủ lập hiến” Sau một quá trình vận động đấu tranh và tham khảo nhiều bản hiến pháp phương Tây, ngày 12/2/1889 bản
“ Đại Nhật Bản đế quốc hiến pháp” được chính thức ban hành Đây là văn bản quan trọng quy định thể chế chính trị của nhà nước mới Theo bản hiến pháp này, vị thế thiêng liêng và quyền lực của Thiên hoàng được khẳng định Thiên hoàng là người đứng đầu nhà nước, là người duy nhất có thể đưa ra những quyết định trọng yếu của đất nước như tuyên chiến, giảng hòa hay ký kết các hiệp ước Các bộ trưởng trong Nội các chịu trách nhiệm và tuân thủ mệnh lệnh trực tiếp từ Thiên hoàng Bộ trưởng lục quân và hải quân cũng chịu trách nhiệm báo cáo trực tiếp với Thiên hoàng mà không cần tham vấn
ý kiến hay thông qua Nội các Ngoài ra, Thiên hoàng còn có quyền ban hành
và sửa đổi luật pháp Quốc hội Nhật Bản thông qua
Như vậy, “Hiến pháp Minh Trị” là bản hiến pháp đầu tiên được ban hành ở Châu Á Nội dung và tinh thần của hiến pháp là ví dụ điển hình của
Trang 14quan điểm xây dựng một mô hình nhà nước hiện đại theo kiểu phương Tây nhưng vẫn kết hợp, duy trì những yếu tố truyền thống phương Đông, đặc biệt là truyền thông Nhật Bản Vị thế của Thiên hoàng với tư cách là người đứng đầu đất nước được đề cao Tuy nhiên, trên thực tế các tầng lớp quý tộc vẫn có nhiều ảnh hưởng trong đời sống chính trị Nhật Bản, chi phối các quyết định của Thiên hoàng, chi phối các hoạt động của Nội các.
Để mở rộng quyền “dân chủ” chính quyền Minh Trị đã thành lập Nghị viện gồm hai viện: Thượng viện và Hạ viện Trong đó, Thượng viện do Thiên hoàng chỉ định, Hạ viện do một số bô phận dân chúng bầu Tuy nhiên,
số lượng cử chi còn rất hạn chế, chỉ có nam giới từ 25 tuổi trở lên và đóng thuế cao mới có quyền đi bầu cử Mặt khác, trong một số trường hợp Thiên hoàng có quyền đình chỉ hoạt động của nghị viện, giải tán và triệu tập Hạ viện Như vậy, nghị viện Nhật Bản chỉ mang tính chất hình thức, “mị dân” , dân chủ với một số ít người có địa vị xã hội, thực quyền cơ bản vẫn nằm gọn trong tay Thiên hoàng
Tóm lại, những cải cách trên đã thiết lập ở Nhật Bản một chế độ chính trị mới - Chế độ Quân chủ lập hiến do Minh Trị đứng đầu Cải cách đã tạo điều kiện cho việc thống nhất đất nước, xây dựng thị trường dân tộc thống nhất và xóa bỏ chế độ đẳng cấp phong kiến ở Nhật Bản
1.2.2 Về kinh tế
Song song với việc thực hiện những chủ trương lớn nhằm xây dựng một nhà nước mới, chính quyền mới cùng tiến hành cải cách về kinh tế nhằm thúc đẩy sự phát triển về kinh tế Nhật Bản nhằm nâng cao đời sống cho nhân dân
Về Nông nghiệp: Dưới chế độ Mạc phủ đời sống người nông dân vô cùng cực khổ, họ không có ruộng đất, sau khi thu hoạch phải nộp cho chủ
Trang 15ruộng ½ số hoa lợi Ngoài ra, người nông dân còn phải gánh chịu rất nhiều loại tạp thuế, lao dịch, họ không có quyền tự do chọn nghề và nơi cư trú mà cuộc sống bị cột chặt vào ruộng đất của chủ ruộng.
Chính vì vậy, sau khi nắm được chính quyền, chính phủ Minh Trị rất chú trọng đến nông dân và nông nghiệp việc cải cách ruộng đất được xem là một yêu cầu quan trọng hàng đầu Nhằm hiện thực hóa quyền sở hữu tối cao của Thiên Hoàng về ruộng đất, Năm 1869, Minh Trị chủ trương thực hiện “ bản tịch bổng hoàn” Nghĩa là các Lãnh chúa phải trao trả cho Thiên Hoàng lãnh địa và thần dân Trên các lãnh địa ấy, Minh Trị thiết lập thành các đơn vị hành chính dưới sự chỉ đạo của chính quyền, nông dân lãnh địa được giải phóng, được tự do trồng cấy và phải nộp thuế theo quy định của nhà nước Năm 1871, chính quyền Minh Trị xóa bỏ mọi hạn chế đối với nông nghiệp trong thời Mạc phủ Năm 1872, những pháp lệnh việc ngăn cấm mua bán ruộng đất được ban từ năm 1693 dưới thời Mạc phủ bị xóa bỏ, cùng năm này, chính phủ công bố pháp lệnh đo lại ruộng đất của các lãnh chúa phong kiến cũ (Sogun,Đaimyô) Việc xác lập quyền sở hữu ruộng đất này là một bước tiến lớn có ý nghĩa tích cực về mặt xã hội cũng như kinh tế Nhật Bản
Đi cùng việc cải cách ruộng đất, năm 1873, pháp lệnh về cải cách thuế ruộng đất được ban bố, quy định mọi người sở hữu ruộng đất đều phải nộp thuế Theo pháp lệnh thuế ruộng đất được ấn định không thay đổi, bằng 3% giá trị ruộng đất và phải trả bằng tiền Ngoài ra, người sở hữu ruộng đất phải nộp thêm lệ phí cho thôn (tương đương 1% giá trị ruộng đất) Việc cải cách ruộng đất đã làm tăng thêm thu nhập cho chính phủ khi mà ngân sách đang thiếu hụt và thuế thu nhập chiếm tỉ lệ cao trong các nguồn thu đó (năm
1975, tỉ lệ này là 80%) Cho nên chính sách cải cách nông nghiệp ở Nhật Bản thời Minh Trị là một trong những đòn bẩy để tích lũy tư bản trong thời
Trang 16kỳ phát triển kinh tế của đất nước Nhưng mặt khác, điều này làm cho nông dân không được hưởng nhiều quyền lợi trong cải cách ruộng đất Thậm chí, một số còn bị mất ruộng đất trở thành tá điền và một tỉ lệ nhỏ trở thành công nhân.
Về Công nghiệp: Sau khi thành lập, chính phủ Minh Trị đã nắm quyền quản lý và kế thừa những cơ sở kỹ thuật, vật chất công xưởng nhà máy mới Năm 1870, chính phủ đã mở rộng xưởng sản xuất pháo binh ở Osaka trên cơ
sở sử dụng thiết bị của xưởng luyện kim của Mạc Phủ ở Nagasaki, xưởng đóng tàu ở Tôshikawa thành công xưởng của hải quân Chính phủ cũng đã xây dựng các nhà máy mới như nhà máy đóng tàu ở Hyogo, nhà máy dệt Sakai, nhà máy sợi Hiroshima Từ năm 1868 đến 1881, chính quyền Minh Trị đã đầu tư 36.4 triệu yên để phát triển các công ty, doanh nghiệp Đến
1880, trừ những quân xưởng, nhiều công ty quốc doanh đã được nhượng lại với giá thấp cho giới chủ doanh nghiệp và tư bản tư nhân đặc biệt là những người có năng lực, có công hay những mối liên hệ mật thiết với chính quyền Họ tự tập hợp thành một tầng lớp “chính thương” rất có thế lực Bằng cách đó chính phủ đã thành công trong việc tạo dựng một đội ngũ các nhà tư bản công nghiệp luôn đứng sau ủng hộ chính phủ, tuân thủ sự chỉ đạo của chính phủ Sau cải cách Minh Trị nhiều người đứng đầu các công ty tư bản
đã trở thành những “tập đoàn tài phiệt” có thế lực lớn kết cấu hết sức chặt chẽ với giới lãnh đạo chính trị Nhật Bản
Tuy nhiên, việc xây dựng những xí nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế tư bản chủ nghĩa Vì vậy, nhà nước đã huy động nguồn vốn bằng nhiều cách như tăng thuế, phát hành công trái, in một khối lượng lớn tiền giấy Trong các biện pháp này, phát hành công trái là một nguồn thu quan trọng Từ năm 1874-1876, chính phủ đã phát hành công trái lên đến 20 triệu yên Năm 1878-1883, giá trị công trái lên đến 32.5 triệu
Trang 17yên Thu thuế , đặc biệt là thuế ruộng đất, thuế đánh vào các loại hàng tiêu thụ cũng là nguồn thu lớn cho ngân sách
Để thúc đẩy nhanh chóng sự phát triển công nghiệp tư bản chủ nghĩa, chính quyền Minh Trị không ngừng quan tâm đến việc sử dụng kĩ thuật, thiết bị tiên tiến của phương Tây, mời các chuyên gia ngoại quốc, cử người đi du học, tiếp thu trực tiếp các thành tựu hiện đại về tổ chức quản
lý sản xuất Đó là những việc làm đúng đắn của chính quyền Minh Trị, có ý nghĩa then chốt trong việc phát triển nền công nghiệp Nhật Bản, giúp Nhật Bản gia nhập vào hàng ngũ những nước chủ nghĩa phát triển như Anh, Pháp,Mĩ
Về Thương nghiệp: Song song với việc thực hiện những cải cách nông nghiệp, công nghiệp, chính quyền Minh Trị cũng hết sức quan tâm đến vấn
đề phát triển thương nghiệp trong nước cũng như giao lưu buôn bán với nước ngoài Để thực hiện mục đích đó, chính quyền Minh Trị đã tiến hành sửa đổi, loại bỏ những rào cản phát triển kinh tế vốn có từ thời phong kiến Đồng thời, ban hành nhiều chính sách mới khuyên khích thương mại Tháng 5 năm 1868, chính phủ Minh Trị dự thảo “Luật thương mại” theo đó, tất cả mọi người dân có quyền tự do kinh doanh, buôn bán, có quyền tự do đi lại, vận chuyển hàng hóa , có quyền sở hữu tài sản riêng (kể
cả ruộng đất)
Chính phủ Nhật Bản rất chú trọng tới việc xây dựng hệ thống ngân hàng và coi đây là biện pháp quan trọng để thu hút, tập trung nguồn vốn nhu cầu phát triển của chủ nghĩa tư bản Năm 1869, với sự tham gia của các thương nhân giàu có ở Mitsui, Ono…Chính phủ đã thành lập công ty kinh doanh và trao đổi tiền tệ Công ty có 8 chi nhánh ở Tokyo và Osaka hoạt động như chức năng của một ngân hàng Công ty này có nhiệm vụ cho vay,
Trang 18nhận tiền gửi và phát hành trái phiếu Trên cơ sở đó đến năm 1872, theo đề
án của Ito Hirobumi (1841-1909) chính phủ đã ban hành quy chế “Ngân hàng Quốc gia học tập theo mô hình của Mỹ” Năm 1873, Ngân hàng Quốc gia số I được thành lập ở Tokyo Sau đó, các Ngân hàng Quốc gia số II, số
IV, số V đã được thành lập tại những thành thị quan trọng đồng thời là các trung tâm kinh tế lớn như: Yokohama, Niigata và Osaka Năm 1882, Ngân hàng Nhật Bản được chính thức thành lập Những loại tiền tệ do một số lãnh chúa địa phương lưu hành trước đây bị xóa bỏ Nhật Bản sử một loại tiền thống nhất do “Cục đúc tiền phát hành ”
Bên cạnh nội thương, ngoại thương Nhật Bản khá phát triển Đầu thế
kỷ XX, Nhật Bản đã tham gia tích cực vào việc “phân chia thị trường” Triều Tiên và Trung Quốc Sau năm 1895, những tập đoàn tư bản đã tăng cường xuất vốn ra nước ngoài, tiến hành khai thác tài nguyên, nhân lực với những điều kiện tốt nhằm tạo lên lợi nhuận tối đa, Nhật Bản lập các nhà máy đường, dệt vải và sản xuất các mặt hàng thiết dụng ở Đài Loan, Thượng Hải Nhật Bản đặc biệt quan tâm đến việc kinh doanh đường sắt ở Trung Quốc, Triều Tiên, lập ngân hàng ở nước ngoài để tiện việc kinh doanh khai thác Như vậy, sự phát triển mạnh mẽ của thương nghiệp Nhật Bản cuối thế
kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã tạo tiền đề đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh kinh tế, quân sự và chính trị để có thể tham gia vào cuộc đấu tranh giành thị trường thế giới
2.1.3.Về thông tin liên lạc , giao thông vận tải
Để thúc đẩy sản xuất, quá trình lưu thông hàng hóa và tiền tệ, chính phủ Minh Trị đã tập trung xây dựng hệ thống thông tin liên lạc Tháng 3 năm
1871, dựa theo hệ thống bưu chính của Anh, mạng lưới bưu điện giữa 3 thành phố lớn là Tokyo, Osaka, Kyoto đã được xây dựng Năm 1872, Nhật
Trang 19Bản mới có 21 trạm bưu điện nhưng chỉ 2 năm sau đã tăng đến 3.224 bưu điện Năm 1877, Nhật Bản đã thiết lập được 2.827 dặm điện tín và đến năm
1893 là 4000 dặm Mạng lưới này trải rộng khắp lãnh thổ Nhật Bản Đồng thời, nghành bưu chính Nhật Bản cũng thực hiện 1 giá tem thống nhất
Cùng với thông tin liên lạc, giao thông cũng là một trong những điều kiện không thể thiếu đối với quá trình xây dựng chủ nghĩa tư bản đặc biệt là đường sắt và đường biển Dựa theo hệ thống đường sắt của Anh, năm 1870, tuyến đường sắt nối liền Tokyo và Yokohama đã được khởi công với sự giám sát kỹ thuật của chuyên gia Anh và nguồn vốn vay từ chính phủ Anh Nhờ
đó, chỉ 2 năm sau tuyến đường này được khai thông Cũng trong năm
1870 ,tuyến đường sắt nối liền Kobe và Osaka được khởi công đến năm
1874 công trình hoàn thành Năm 1879, tuyến đường sắt Tokaido (đông hải đảo) nối Tokyo với Kobe cũng được khánh thành Về sau tuyến đường này
đã nối liền miền tây (Nagasaki) với miền đông (Aomori) Nhật Bản Tuy nhiên do gặp khó khăn về tài chính nên việc triển khai xây dựng các tuyến giao thông luôn gặp nhiều trở ngại Do vậy, chính phủ đã khuyến khích tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này như miễn thuế, hỗ trợ kĩ thuật.… Kết quả là, đến những năm 1893, mạng lưới đường sắt của Nhật lên đến gần 2000 dặm Trong đó, chiều dài đường sắt do tư nhân đầu tư xây dựng là 1165 dặm Nhật Bản là một quốc gia hải đảo cho nên lĩnh vực vận tải đường biển được chính phủ mới hết sức chú trọng và đầu tư vốn lớn.Từ cuối thời kỳ Edo, trên cở sở học tập kĩ thuật phương Tây, Nhật bản có khả năng đóng những chiếc tàu có trọng tải lớn Mặt khác,nhà nước cũng chủ động xuất vốn mua tàu của nước ngoài Do vậy, từ năm 1868 những chuyến hàng vận tải hàng hóa giữa Osaka với Kobe ,Osaka với Sokohama và Tokyo với Sokohama đã được thực hiện Ban đầu, chính phủ đưa ra chủ trương quốc hữu hóa toàn bộ các tuyến vận tải đường biển nhưng đến năm 1875, chính
Trang 20phủ đã quyết định giao quyền quản lý vận tải gồm hơn 30 chiếc tàu cho Iwasaki Yataro (1834-1885 ) - Người sáng lập công ty Mitsubisi Hàng năm chính phủ trợ cấp cho công ty 200.000 yên do đã có công tham ra và hoàn thành những trọng trách mà chính phủ giao như việc vận chuyển quân sự trong cuộc tiến quân sang Đài Loan và ngăn chặn võ sĩ nổi loạn ở Satsuma Số tàu của công ty đã chiếm tới 80% tổng số tàu vận tải của Nhật Bản Đến năm 1893, tổng trọng tải củasố tàu chạy bằng hơi nước đã lên đến 100.000 tấn Tất cả những thành tựu đó có vai trò rất quan trọng trong việc lưu thông, vận tải trong nước, cạnh tranh với công ty vận tải hàng hải quốc
tế và hình thành thị trường thống nhất ở Nhật Bản
2.1.4.Về quân sự
Nhật bản xác định mục tiêu “lực lượng quân sự là cần thiết để phòng vệ đất nước và bảo vệ nhân dân “ Năm 1872 ,chính phủ đã tập hợp về Tokyo một vạn quân chủ yếu từ 3 han Satsuma ,Choshu va Tosa để xây dựng thành một đội quân chính quy trực thuộc gọi là Goshinbi Tháng 3 năm Minh Trị thứ 5 (1872) Goshinbi được đổi thành Konoechei Chính phủ cũng thành lập các trường lục quân ,hải quân nhằm xây dựng một lực lượng quân sự hùng mạnh Vào tháng 11-1870, xây dựng các pháo đài phòng thủ ven biển Tháng 2-1872 ,Nhật bản thành lập thêm bộ hải quân
Đến tháng 1-1873 thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự thay cho chế độ trưng binh,tất cả nam thanh từ 20 tuổi không phân biệt nguồn gốc ,địa vị xuất thân đều phải có trách nhiệm tham gia quân sự ban đầu là phải nhập ngũ 3 năm, sau đó có 4 năm làm quân nhân dự bị Thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự có nghĩa là về mặt quân sự xóa bỏ quân đội võ sỹ theo kiểu phong kiến cũ, thành lập quân đội của giai cấp tư sản, tước đoạt đặc quyền lũng đọa quân sự của các võ sỹ và lấy quân từ trong dân chúng Nhưng, để giảm thiểu sự phán
Trang 21kháng từ phía võ sỹ chính phủ lại sử dụng người trong “sỹ tộc” để đảm nhiệm chức vụ sỹ quan nòng cốt trong quân đội kiểu mới.
Quân đội được tổ chức và huấn luyện theo kiểu phương Tây ,chú trọng phát triển công nghiệp tài chiến ,sản xuất vũ khí đạn dược Các chuyên gia quân sự người Đức giúp về lục quân ,hải quân do người Anh gúp đỡ.Nhờ vậy, chỉ trong một thời gian ngắn Minh Trị Thiên hoàng đã xây dựng được một lực lượng lục quân và hải quân hùng mạnh Đến khoảng năm 1890 về lục quân Nhật Bản có bảy sư đoàn hiện dịch gồm 53.000 người và quân trù
bị gồm 256.000 người Hải quân có 25 chiến hạm và 10 ngư lôi đỉnh, tổng cộng hơn 50.000 tấn Nhưng lục quân và hải quân Nhật có quyền rất lớn chỉ chịu lệnh của Thiên hoàng Đây là sự học tập Âu Mỹ nhưng không theo đúng Âu Mỹ của Nhật Bản Với sức mạnh về quân sự đó đã giúpNhật Bản tiến hành thắng lợi 2 cuộc chiến tranh Trung –Nhật (1894-1895) và Nga-Nhật (1904-1905) Đi đôi với việc mở rộng quân đội kiểu mới, bắt đầu từ năm 1875, chính phủ Minh Trị lần lượt giải tán quân đội theo hình thức cũ được cải biên từ quân đội của các phiên trước kia
Nhật Bản thời kỳ này cũng chú trọng sản xuất vũ khí, đóng tàu thuyền….phục vụ cho việc phát triển quân sự
Như vậy, việc xây dựng chế độ quân sự kiểu mới của chính phủ Thiên hoàng Minh Trị là sự hỗn hợp giữa tàn dư phong kiến và giai cấp tư sản Quân đội kiểu mới được gọi là “Hoàng quân”, tức là quân đội của Thiên hoàng Chính phủ Minh Trị đã nhồi nhét vào các sỹ quan và binh sỹ tư tưởng phục tùng Thiên hoàng Năm 1978, chính phủ này công bố “Điều lệnh quân nhân” câu đầu tiên là đòi hỏi mỗi người quân nhân phải sùng bái Thiên hoàng như một vị “Thần” siêu nhân Cái gọi là tinh thần “Võ sỹ đạo” đã trở thành chuẩn mực trong hành động của tất cả quân nhân “Võ sỹ đạo” nguyên
là quy phạm đạo đức của võ sỹ phong kiến tại Nhật Bản Nó nhấn mạnh đến
Trang 22tinh thần trung quân, tuyệt đối phục tùng, dũng cảm và không sợ chết Khi cần thiết người quân nhân phải dám tuốt gươm mổ bụng Việc mổ bụng được xem là sự thể hiện lòng trung dũng, nghĩa liệt của người võ sỹ.
Trang 23Chương2 CẢI CÁCH GIÁO DỤC CỦA THIÊN HOÀNG MINH TRỊ Ở
NHẬT BẢN2.1 Vài nét về tình hình giáo dục ở Nhật Bản trước cải cách Minh Trị
Cũng như nhiều nước châu Á khác, giáo dục Nhật Bản thời cổ trung đại mang tính cố hữu và chịu ảnh hưởng khá sâu sắc của Trung Quốc Biểu hiện cụ thể là: ngay từ rất sớm đạo Khổng đã du nhập vào Nhật Bản Do đó,
hệ tư tưởng của Nhật Bản thời kỳ này chịu ảnh hưởng sâu sắc của Khổng giáo Đó là lòng trung thành vô hạn đối với chủ, với hoàng đế, tính kỷ luật
và tinh thần kỷ luật cao, ngược hẳn với chủ nghĩa cá nhân ở phương Tây
Vào thời Nara (710-794), Nhà nước đã cử nhiều thanh niên của các gia đình quý tộc sang nhà Đường học tập Họ tiếp thu toàn bộ hệ thống giáo dục của nhà Dường Trong đó có chữ viết (chữ Hán), chữ viết của Nhật Bản
có nhiều phần giống với chữ Hán Ngoài ra ở Trung Quốc còn có rất nhiều nhà sư Nhật Bản sang đây để học các quy chế nhà chùa Điều này chứng tỏ rằng đến thời Nara văn hoa Trung Quốc có ảnh hưởng lớn tới Nhật Bản Ở thời kỳ này Nhà nước đã ban hành một số luật, lệnh, trong đó có luật về giáo dục Nhà nước đã bắt đầu chú ý đến giáo dục, nhiều trường học đã được lập nên để dạy cho con em các nhà quý tộc Nội dung giảng dạy chủ yếu là văn học và pháp lý Trung Quốc
Trong suốt khoảng thời gian dài từ năm 710 đến đầu thế kỉ XIX, Nho giáo của Trung Quốc lại trở thành nội dung giảng dạy chính của giáo dục Nhật Bản Tuy nhiên, đến nửa đầu thế kỷ XIX, giáo dục Nhật Bản lại mang một số điểm mới đó là: giáo dục không còn là đặc quyền của quý tộc nữa
mà đã lan xuống các tầng lớp thứ dân Các lớp tư học đã được mở ra ở khắp
Trang 24nơi và được gọi là Têracôya ( tự tử ốc) Các thầy đồ thời kỳ này chủ yếu là những nhà sư.Do đó, kìm hãm sự phát triển của đất nước Nhưng vào những năm giữa thế kỷ XIX các nước tư bản phương tây đã phát triển mạnh và tăng cường xâm lược thuộc địa để tìm kiếm nguồn tài nguyên và thị trường Các nước châu Á và trong đó có Nhật Bản trở thành đối tượng nhòm ngó của thưc dân phương Tây Người phương Tây đến Nhật Bản để truyền giáo và buôn bán thực chất là nhằm mở đường cho các cuộc xâm lược sau này Do
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật phương Tây đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến giới tri thức tiên tiến của Nhật Bản Họ sớm nhận ra ưu thế của khoa học- kĩ thuật, của trao đổi buôn bán Người Nhật đã học tập và tiếp thu được nhiều giá trị tinh hoa của văn minh phương Tây và đồng thời không ngừng phát huy những đặc tính của văn hóa truyền thống như: cá tính dân tộc, long tự tôn dân tộc, tính kỷ luật cao… Văn hóa phương Tây lúc này được nhiều người học hỏi và làm bùng lên phong trào học tập người phương Tây Chính trong phong trào này những tư tưởng đổi mới canh tân đất nước,
áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đã hình thành trong một bộ phận giới tri thức tiến bộ Đây là cơ sở cho cuộc canh tân đất nước của Nhật Bnar thời Minh Trị, trong đó có cải cách giáo dục
Hệ thống giáo dục thời Tôcưgawa còn nhiều hạn chế, mạnh lưới giáo dục chủ yếu là các trường làng, trường chùa, chưa nhận được sự quản lí tập trung của nhà nước Tuy nhiên giáo dục Nhật Bản thời Tôcưgawa đã khác hẳn các nước châu Á khác Trong khi Thái Lan chủ yếu dạy trẻ theo lối sống đạo Phật thì Nhật Bản lại rất chú trọng đến việc cung cấp tất cả những tri thức cơ bản cho các em Cũng ngay trong thời kỳ này, Nhật Bản đã chú trọng học thực hành bao gồm: nông học, lập bản đồ, toán học, y học, thiên văn học và lịch sử tự nhiên… Đây chính là cơ sở để Minh Trị thiên hoàng
kế thừa và thực hiện thành công sự nghiệp canh tân đất nước
Trang 252.2 Nội dung cải cách giáo dục
Công cuộc Minh Trị duy tân giáo dục ở Nhật Bản ( 1868- 1912) đã đạt được nhiều thành tựu, góp phần tạo nên nội lực giúp Nhật vượt khỏi “ bốn bức tường cung cấm Á Đông” và bước vào hàng ngũ các nước tư bản chủ nghĩa lúc bấy giờ Chính phủ Thiên hoàng từ rất sớm đã nhận thức được rằng: sự khác nhau bất bình đẳng trong xã hội một phần là do sự khác nhau
về trình độ học vấn Người Nhật đã có tư tưởng cầu thị, không dấu dốt, muốn tự học hỏi hòa mình vào cộng đồng của nhân loại để đuổi kịp, đi xa
và đi nhanh hơn các quốc gia tiên tiến Âu Mỹ Vì vậy, ngay trong những năm đầu của thời đại Minh Trị, Nhật Bản đã không ngừng tìm kiếm, học tập, chấp nhận những yếu tố văn minh phương Tây phù hợp với lợi ích và sự phát triển quốc gia mình Với phương châm “ khoa học phương Tây, tinh thần Nhật Bản”, người Nhật đã không ngừng tiếp thu, học tập những tinh hoa của thế giới nhưng vẫn giữ vững những nét đặc trưng, bản sắc văn hóa của dân tộc mình
2.2.1 Nhật Bản ban hành hàng loạt bộ luật liên quan đến giáo dục
Công cuộc cải cách giáo dục chính thức được bắt đầu với việc Bộ Giáo dục công bố Luật giáo dục vào tháng 8 năm 1872 Bộ “Luật giáo dục” được ban hành gồm 213 điều với ba đặc điểm chính:
1. Nhà trường cung cấp cho người học kiến thức dựa vào Âu – Mỹ
2. Đào tạo con người làm giàu cho tổ quốc, bảo vệ đất nước
3. Xây dựng nhiều trường học, mở rộng các trường cao đẳng và chuyên nghiệp (để tiếp thu kỹ thuật Âu – Mỹ)
Trên cơ sở đó Nhật Bản đã ban hành luật cưỡng bức giáo dục 8 năm (sau đó giảm xuống còn 6 năm) Bao gồm 4 năm tiểu học bậc thấp và 4 năm tiể học bậc cao Tất cả trẻ em từ 6 tuổi đến 13 tuổi phải cắp sách tới trường
Bộ luật được Thiên hoàng đọc thành một bài dụ Bài dụ nêu rõ: từ nay trở đi
Trang 26chúng thứ nhân dân, không kể hoa tộc, sĩ tộc cùng các hạng cày ruộng, làm công, đi buôn cho đến đàn bà, con gái cũng vậy làm sao trong làng không có nhà nào không học, trong nhà đừng còn người nào không học Thiên hoàng
đã ra lệnh cưỡng bức giáo dục: “ hạn nhỏ tuổi thì không hạn là trai gái phải cho chúng theo học tiểu học hết thảy Nếu không thì lỗi là ở kẻ phụ huynh ” Nhờ đó, tinh thần hiếu học được khơi dậy trong toàn dân và nhân dân Nhật
đã chấp nhận mọi hy sinh để con cái họ theo học
Luật giáo dục chia toàn quốc thành 8 khu đại học Mỗi Khu đại học lại quản lý 32 Khu trung học, mỗi Khu trung học lại có 210 Khu tiểu học Như vậy, trong 8 học khu có 256 trường trung học và 53760 trường tiểu học với mỗi khu vực khoảng 600 người.Trong thời kỳ này giáo dục Nhật Bản được chia làm hai hệ: Hệ phổ thông 17 năm(6+5+3+3) và hệ kỹ thuật 14 năm (6+5+3) Nhờ những biện pháp trên năm 1873 mới có 28% tổng số cư dân đến tuổi đi học được đến trường thì tới năm 1882 con số này được tăng lên 50%, năm 1895 là 67%, năm 1904 là 98% Một nền giáo dục phổ cập đã khiến cho Nhật Bản trở thành nước đầu tiên ở Châu Á có một lượng lớn quần chúng biết đọc biết viết Trình độ dân trí cao, cũng như sức mạnh quân
sự và khả năng kỹ nghệ là lý do cắt nghĩa tại sao Nhật Bản chiếm được ưu thế tại vùng Đông Á vào nửa cuối thế kỷ XX
Cùng với hệ thống trường công do nhà nướcquản lý, nhà nước còn khuyến khích mở các trường tư thục, dân lập và bổ túc Nhiều trường giành cho con em nghèo được miễn trừ phụ phí, các trường tư thục tại nhà riêng của các giáo sư Trên toàn quốc đã xây dựng gần 12500 trường ở khắp nới, đặc biệt là ở thủ đô Tookyo – Trung tâm đào tạo nhân tài cho đất nước Trường đại học Shosheiko trở thành trường đại học lớn ở Tokyo Hệ thống trường trung cấp, cao đẳng và đại học cũng được mở ra trên toàn quốc Quan điểm giáo dục của Nhật Bản là chú trọng vào giáo dục sơ đẳng và hướng