Trong suốt thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, toàn thể giới tri thức, dù khác nhau về quan điểm chính trị và văn hóa đều tự coi mình là những đệ tử của Nho giáo, đều lấy tiêu chuẩn đạo đức c
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Nho giáo Trung Quốc đã du nhập vào Việt Nam từ rất lâu, chiếm được vị trí độc tôn từ thế kỷ 15 và thịnh đạt nhất vào thời Lê Thánh Tông Việt Nam là một nước từ lâu đời chịu ảnh hưởng của nền văn hóa Nho giáo Nho giáo từ trên một ngàn năm được giới thống trị ở Việt Nam sử dụng như tư tưởng chủ đạo trong kiến trúc thượng tầng của xã hội Trong suốt thời kỳ phong kiến ở Việt Nam, toàn thể giới tri thức, dù khác nhau về quan điểm chính trị và văn hóa đều tự coi mình là những đệ tử của Nho giáo, đều lấy tiêu chuẩn đạo đức của Nho giáo làm phương châm suy nghĩa và hành động
Vì sự phát triển hết sức mạnh mẽ của Nho giáo ở Việt Nam trong suốt một thời gian dài như thế nên nền văn hóa Việt Nam cũng đã chịu sự ảnh hưởng sâu sắc, đặc biệt là đến lĩnh vực nghệ thuật và phong tục tập quán của nước ta thời phong kiến Việc tìm hiểu kĩ hơn về Nho giáo và ảnh hưởng của Nho giáo đến nghệ thuật và phong tục tập quán từ thời phong kiến ở Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế của nước ta Mặc
dù sau khi du nhập vào nước ta, Nho giáo còn rất nhiều những điều không tốt nhưng ta cũng không thể phủ nhận được những tư tưởng tiến bộ và những cơ sở kiến trúc, văn hoá mang lại nhiều giá trị nghệ thuật cho chúng ta sau này
Trang 2NỘI DUNG
I Khái quát chung về nho giáo và quá trình du nhập của nho giáo vào Việt Nam.
1 Khái quát chung về nho giáo.
Nho giáo hay còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Đức Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Đức Khổng Tử (sinh năm
551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó Chính vì thế mà người đời sau coi ngài là người sáng lập ra Nho giáo
Các sách kinh điển về Nho giáo đề hình thành từ thời kỳ Nho giáo nguyên thủy Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư viết về xã hội, và những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị, về đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho gia Các thuyết tiêu biểu của Nho giáo tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức
2 Quá trình du nhập của nho giáo vào Việt Nam.
Nho giáo truyền nhập vào Việt Nam khoảng 2000 năm nhưng nó có vị trí chi phối cao nhất là từ thế kỷ 15 về sau Trước đó, vào thời Trần, ảnh hưởng của Nho giáo chưa sâu đậm Có thể có một bộ phận quan chức cao cấp còn áp dụng ít nhiều lễ giáo, còn trong dân gian và kể cả quan chức cấp thấp thì ảnh hưởng của Nho giáo chưa đáng
kể
Sự du nhập Nho giáo vào xã hội Việt Nam gắn liền với sự xâm lược của các thế lực phong kiến phương Bắc Quá trình đó diễn ra nhanh hơn, đồng bộ hơn việc thiết lập bộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam thời bấy giờ Nếu không có sự xâm lược của các thế lực phong kiến đối với Việt Nam thì Nho giáo vẫn du nhập vào xã hội Việt Nam,nhưng quá trình đó sẽ diễn ra chậm hơn và không đồng bộ Chiến thắng trên sông Bạch Đằng vào năm 938 đã chấm dứt hơn một ngàn năm Bắc thuộc, mở ra thời
kỳ mới cho sự phát triển của Việt Nam Vào thời điểm này, Phật giáo có vị trí đặc biệt quan trọng Sang thời Lê Thánh Tông (1460-1497) Nho giáo được phát triển và cũng
từ đó về sau, Nho giáo thâm nhập vào xã hội Việt Nam ngày càng sâu đậm trên nhiều lĩnh vực tư tưởng, thơ văn, phong tục, tập quán… qua hệ thống giáo dục, pháp luật, chính quyền
Trang 3II Ảnh hưởng của Nho giáo đến lĩnh vực nghệ thuật và phong tục tập quán của Việt Nam thời kỳ phong kiến.
1 Ảnh hưởng của Nho giáo đến lĩnh vực nghệ thuật
a Về kiến trúc
Nho giáo ảnh hưởng đậm nét đến kiến trúc Việt Nam thời kỳ phong kiến như: Đền Đài, Cung Điện, Lăng Tẩm mà tiêu biểu nhất là văn miếu, tự Miếu, Văn Chỉ
Quần thể Văn Miếu - Quốc Tử Giám Hà Nội được xây dựng theo trục Bắc Nam Phía trước Văn Miếu có một hồ lớn gọi là hồ Văn Chương Ngoài cổng chính có một dãy bốn cột trụ, hai bên tả hữu có bia Cổng Văn Miếu xây kiểu Tam Quan trên
có 3 chữ lớn Văn miếu môn viết bằng chữ Hán
(1) : Cổng Văn Miếu Quốc tử giám Văn miếu - Quốc Tử Giám là quần thể di tích đa dạng và phong phú hàng đầu ở
Hà Nội, nằm ở phía Nam kinh thành Thăng Long Quần thể kiến trúc văn Miếu - Quốc
Tử Giám bao gồm : hồ Văn, khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám, mà kiến trúc chủ thể là văn Miếu - nơi thờ Khổng Tử và Quốc Tử Giám - trường đại học đầu tiên ở Việt Nam Khu Văn Miếu - Quốc Tử Giám có tường gạch bao quanh, phía trong chia làm năm lớp không gian có kiến trúc khác nhau Mỗi lớp không gian đó được giới hạn bởi các tường gạch có ba cửa để thông với nhau (gồm của chính ở giữa và hai của phụ ở hai bên ) Từ ngoài vào trong có các cổng lần lượt là: cổng Văn Miếu(1), Đại trung(2), Khuê
Trang 4Văn Các(3), Đại Thành và cổng Thái Học Lối kiến truc này mang đặc trưng của tư
tưởng Nho giáo
(2) Đại Trung
(3) Khuê Văn Các
b Về hội họa.
Trang 5Các tác phẩm hội họa Việt Nam thời phong kiến mang đậm tư tưởng Nho giáo Nghệ thuật thư pháp(4), tranh tứ bình(5), tranh dân gian(6) và đã trở thành tinh hoa hội họa Việt Nam thời phong kiến Trong mỗi bức thư pháp thường thể hiện tư tưởng Nho giáo, tinh thần hiếu học của nhân dân ta Tranh tứ bình dòng tranh mang đậm tính nghệ thuật cũng mang tính triết lý sâu sắc về sự chuyển biến của các mùa, tư tưởng về người quân tử, kẻ tiểu nhân ( tùng, trúc biểu tượng cho người quân tử ) Hay những bức tranh dòng Đông Hồ như tranh Lễ trí, tranh Nhân nghĩa thể hiện những giá trị tốt đẹp của Nho giáo
(4) Tranh thư pháp
Trang 6
(5) Tranh tứ bình
(6) Tranh dân gian
c Về điêu khắc.
Nho giáo vốn là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức xã hội, và đề cao vai trò của người quân tử Do vậy trong nghệ thuật chạm khắc, các hình ảnh biểu tượng của Nho giáo là những hình ảnh liên quan đến việc biểu dương sự học; hay là các quan niệm về đạo đức của người quân tử; các cách thức cư xử của con người đối với cộng đồng; hoặc nó là biểu tượng của các vương triều và các vị quân vương Đặc trưng của nghệ thuật là sự diễn tả bằng hình ảnh, do vậy không phải lý thuyết nào của đạo Nho cũng được chuyển tải, mà nó chỉ khắc hoạ các lý thuyết của Nho giáo trên khía cạnh
đã được hình tượng hoá, hoặc có tính cách ẩn dụ, ví von để tìm sự tương đồng giữa hình tượng được thể hiện và ngữ nghĩa biểu hiện
Trang 7
Rồng hình yên ngựa mặt cạnh bia Lê Thái Tổ (Lam Kinh, Thanh hoá) 1498 Một trong những số thành tuự điêu khắc nổi tiếng nhất mà còn khá nguyên vẹn tới bây giờ chính là tấm bia chiến sỹ được đặt trong khu kiến trúc Văn Miếu - Quốc
Tử Giám(7) Bia tiến sỹ Văn Miếu Thăng Long gồm 82 bia đá, được dựng từ năm
1484 ( niên hiệu hồng Hồng Đức thứ 15 ) đến năm 1780 ( niên hiệu Cảnh Hưng thứ 41), khắc các bài văn trên bia đề danh tiến sỹ Nho học Việt Nam của các khoa thi Đình
từ năm 1442 (niên hiệu Đại Bảo thứ 3), đến năm 1779 (niên hiệu Cảnh Hưng thứ 40)
82 bia Tiến Sĩ tại Văn Miếu được công nhận là Di sản tư liệu thế giới
Năm 1484, với chủ trương đề cao Nho học và tôn vinh bậc chi thức Nho học đõ đại khoa, vua Lê Thánh Tông đã cho dựng các tấm bia tiến sỹ đầu tiên tại Văn Miếu
Trang 8-Quốc Tử Giám cho các khoa thi Đình Các năm trước đó của nhà Hậu Lê, 7 bia đầu tiên, trong số 82 bia, được dựng năm này.Số lượng bia tiến sỹ được dựng vào thời Lê
sơ gồm 12 bia tiến sỹ đầu tiên, cho các khoa thi từ năm 1442 đến năm 1514 ( bia tiến
sỹ khoa thi 1514 được dựng năm 1521 ) Sang triều đại Lê Trung Hưng, các kỳ thi tiến
sỹ Nho học được khôi phục ngay từ thời triều vua Lê Trung Tông khi đang còn đóng
đô ở Thanh Hóa Đến năm 1653, thì nhà Lê Trung Hưng mới tiến hành một đợt dựng bia tiến sỹ lớn nhất tại Văn Miếu Thăng Long, với 25 bia tiến sỹ từ khoa thi năm 1554 đến khoa thi năm 1652
Do ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo, nghệ thuật trang trí, điêu khắc thời Lê cũng mang nặng tính khuôn thước, mẫu mực Bởi thế, những người thợ thủ công không được khuyến khích để thăng hoa trong mỗi lần sáng tạo ra những tác phẩm trang trí, điêu khắc Tính nghệ thuật, tính độc đáo trong các tác phẩm trang trí, điêu khắc thời Lê vì vậy không cao như thời Lý và thời Trần
Rồng đá thời Lê
2 Ảnh hưởng của Nho giáo đến phong tục tập quán.
a Chữ Hiếu và phong tục thờ cúng.
Nho giáo Việt Nam coi trọng chữ Hiếu, cụ thể qua phong tục thờ cúng Việc thờ cúng tổ tiên đã có từ lâu đời và duy trì tới tận ngày nay, ăn sâu vào tiềm thức mỗi con người Thờ cúng là thông qua những nghi lễ để tỏ lòng thành kính, biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã khuất Mỗi khi giỗ kỵ, được mùa hay khi nào
Trang 9thể làm cỗ mặn, cỗ chay hoặc cúng hoa quả nhưng tất cả đều bắt nguồn từ tấm lòng thành, dâng lên cha mẹ, tổ tiên thờ cúng tổ tiên là sự thực hành chữ Hiếu
b Phong tục cưới hỏi.
Với quan niệm Nho giáo " Trọng lễ nghi khi (khinh) tài vận", những nghi thức,
lễ nghi cưới hỏi ở nước ta thời phong kiến diễn ra rất cầu kỳ, nhiều thủ tục bao gồm 3
lễ : chạm ngõ là tiếp xúc lần đầu tiên, chính thức nhà trai và nhà gái thưa truyện với nhau, sau đó là lễ ăn hỏi với cơi trầu, chè, rượu Trong lễ ăn hỏi lại gồm có lễ đằng nội, lễ đằng ngoại, lễ tại gia Cuối cùng là lễ cưới, thường diễn ra sau lễ ăn hỏi khoảng
10 ngày
Thời phong kiến, theo luân lý " tâm cương ngũ thường ", việc hôn nhân của con cái, cha mẹ đều có quyền quyết định Những bậc cha mẹ chỉ quan tâm đến " môn đăng
hộ đối " mà bỏ qua tình cảm của con mình.
c Trọng nam khinh nữ.
Tư tưởng trọng nam khinh nữ ( coi trọng nam giới hon phụ nữ ) là tư tưởng chịu ảnh hưởng của Nho giáo thời phong kiến, thể hiện qua nhiều hình thức khác nhau : trong dòng họ, quyền lực của con trai, nhất là con trai trưởng rất lớn ( quyền huynh thế phụ ); người con trai được học hành để thi cử, tiến thân còn người con gái trong gia
đình phải tuân theo " tam dòng tứ đức ", không được học chữ mà phải học thêu thùa,
may vá để sau này xuất giá
Nho giáo ủng hộ chế độ đa thê, nên những người đàn ông thời phong kiến
thường lấy nhiều vợ : " Trai anh hùng năm thê bảy thiếp/ Gái chính chuyên chỉ có một chồng " Lấy thiếp không nhất thiết phải tổ chức theo đúng lễ nghi, người thiếp có khi
phải sống khổ sở, làm lụng vất vả như người ở, không những sống trong cảnh tranh giành, đấu đá giữa những người phụ nữ khác mà còn có nguy cơ bị vợ cả hoặc chồng
đuổi đi bất cứ lúc nào Khi sinh ra các bế trai được coi trọng hơn các bế gái " Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô ".
d Câu đối đỏ ngày tết
Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các Nho học cho đến
những người bình dân "tồn cổ" vẫn coi trọng tục treo "câu đối đỏ" nhân ngày tết.
Những câu đối này được viết bằng chữ Nho ( mầu đen hay vàng ) trên những tấm giấy
đổ hay hồng đào cho nên thường được gọi chung là câu đối đỏ
Trang 10Câu đối đỏ ngày tết Ngoài ra, người Việt xưa còn nhiều các phong tục chịu ảnh hưởng của Nho giáo như : viết gia phả, hương ước phải do Nho gia viết, xông nhà, mừng tuổi, xin chữ đầu năm và truyền thống hiếu học, tôn sư trọng đạo, coi trọng người có học vấn (nhất là các thầy đồ Nho )
3 Nhận xét về ảnh hưởng của Nho giáo đối với nghệ thuật và phong tục tập quá ở Việt Nam thời kỳ phong kiến.
Nho giáo có ảnh hưởng rất lớn đến phong tục tập quán của người Việt Nam từ khi nó bắt đầu xuất hiện cho đến nay Những phong tục vẫn còn được gìn giữ và phát triển cho đến ngày nay như phong tục thờ cúng tổ tiên như một nét đẹp về đạo dức trong Nho giáo Việt Nam Nho giáo Việt Nam đề cao chữ Hiếu, răn dạy con cháu phải
Trang 11biết “uống nước nhớ nguồn” cũng bị ảnh hưởng rất nhiều từ Nho giáo đó là phong tục cưới hỏi, nghi thức của một đám cưới được chuẩn bị rất chu đáo mang đậm nét văn hóa Việt
Nho giáo được Việt Nam hóa, trí thức Nho giáo đã có những đóng góp đáng kể vào việccủng cố những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, nâng nó lên thành những tư tưởng ổn định thúc đẩy sự phát triển của đất nước, tạo nên một sức mạnh to lớn để suốt một ngàn năm giữ vững độc lập và chiến thắng mọi kẻ xâm lược
Nho giáo mang đến cho văn hóa Việt những nét đẹp được gìn giữ qua hàng trăm năm, mặt khác nó vẫn tồn tại những ảnh hưởng tiêu cực:
Nho giáo đưa con người quá hướng nội, chuyên chú suy xét trong tâm mà không hướng dẫn con người hướng ra bên ngoài, thực hành những điều tìm được, chinh phục thiên nhiên, vạn vật xung quanh Điều này làm cho nền văn minh, khoa học tư nhiên, kỷ thuật sau một thời gian phát triển đã bị chững lại so với nền văn minh phương Tây vốn xuất hiện sau
Phong tục thờ cúng tổ tiên là một phong tục đẹp, rất có ý nghĩa nhưng ngày nay nhiều người đã quá coi trọng về hình thức mà quên đi mất ý nghĩa thực của nó Về các làng quê mới thấy được “tấm lòng” của những người con, cháu, thế hệ sau đối với những người đi trước bằng cách - xây những ngôi mộ càng to thì càng thể hiện được chữ Hiếu trong tâm của con cháu Việc làm này dẫn đến hệ quả là đất dành cho việc chon cất người chết ngày càng mở rộng, lấn sang đất của người sống
Tôn ti trật tự là nguyên tắc đầu tiên mà giai cấp phong kiến dùng để phân định các mối quan hệ trong gia đình; nguyên tắc thứ hai là trọng nam khinh nữ; nguyên tắc thứ ba là bảo đảm quyền tối cao của người gia trưởng Rõ ràng những nguyên tắc này hoàn toàn lệch lạc, không được đúng đắn, hạ thấp người phụ nữ trong gia đình mà quên rằng họ cũng có thể làm được những điều mà nam giới có thể làm
Mặc dù còn rất nhiều những điều không tốt, mặt tối của Nho giáo nhưng ta cũng không thể phủ nhận được những tư tưởng răn dậy con người tiến bộ và những cơ sở kiến trúc, văn hoá mang lại nhiều giá trị nghệ thuật cho chúng ta sau này
Trang 12KẾT LUẬN
Không ai chối cãi được rằng Khổng giáo hay Nho giáo đã tham gia một phần vào
sự đúc nặn cái diện mạo tinh thần dân tộc và vào sự thành văn hoá dân tộc, cho nên chúng ta cần thiết phải nghiên cứu Nho giáo để xem nó ảnh hưởng đối với văn hoá nước ta như thế nào Và cũng không thể phủ nhận rằng nghệ thuật và phong tục tập quán Việt Nam đã kế thừa được nhiều cái hay, cái tốt, sự tiến bộ từ Nho giáo
Từ Nho giáo chuyển sang chủ nghĩa Mác qua một cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài và một biến chuyển về tư tưởng cơ bản, từ một hệ tư tưởng duy tâm lấy ý chí con người làm gốc sang chủ nghĩa duy vật với phương pháp khoa học, từ tư tưởng tôn ti trật tự gia trưởng sang dân chủ, từ dân tộc sang tư tưởng Mác xít phải đòi hỏi một quá trình dai dẳng Tất nhiên rất nhiều điểm trong Nho giáo đã trở nên cổ hủ, lạc hậu, thậm chí là phản động đang kèm hãm quá trình phát triển của dân tộc ta nhất là tại các khu nông thôn Nhưng chúng ta không hề hổ thẹn khi nói rằng chúng ta đi lên chủ nghĩa xã hội là kế tục truyền thống nhà nho xưa, và nếu ghét cay ghét đắng chế độ phong kiến khi đã thối nát thì cũng không thể không trân trọng đến kẻ sĩ đời trước, và khi đánh giá lại, nếu học thuyết tư tưởng ngày nay chúng ta hơn hẳn thế hệ các sĩ phu thời trước, nhưng về nhân cách vẫn còn phải học nhiều phải chăng câu “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất” của nhà Nho không còn giá trị hay sao?