1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân của bộ Quốc triều hình luật

12 811 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 607 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đánh giá về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân của bộ Quốc triều hình luật 3 A.MỞ ĐẦU Trong xã hội phong kiến không kể ở phương Đông hay phương Tây, địa vị của người

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

1 Chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn

nhân của bộ Quốc triều hình luật

1

2 Đánh giá về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong

thời kì hôn nhân của bộ Quốc triều hình luật

3

A.MỞ ĐẦU

Trong xã hội phong kiến không kể ở phương Đông hay phương Tây, địa vị của người phụ nữ trong gia đình rất thấp kém Họ bị trói buộc bởi tam tòng tứ đức, bởi nghĩa vụ với cha mẹ, với gia đình chồng Trải qua hàng trăm năm đấu tranh bền bỉ,

Trang 2

người phụ nữ mới dần khẳng định địa vị của mình trong gia đình và ngoài xã hội, họ đã

và đang từng bước xác lập mối quan hệ bình đẳng với những người đàn ông Tuy nhiên, không phải chỉ khi người phụ nữ xuống đường đấu tranh, khi cộng đồng quốc tế bắt đầu quan tâm tới “bình đẳng giới” vào thế kỉ XIX thì những quyền và lợi ích hợp pháp của người phụ nữ mới được coi trọng Ở Việt Nam, tuy vấn đề bình đẳng giới được đặt ra muộn hơn ở các nước phương Tây nhưng từ thế kỉ XV, bằng những quy định của bộ Quốc triều hình luật, địa vị của người phụ nữ đã được cải thiện hơn rất nhiều thậm chí trong một số lĩnh vực, pháp luật đã thiết lập một vị thế tương đối bình đẳng giữa 2 giới; một trong số đó là quyền sở hữu tài sản trong gia đình Những quy định về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân của bộ Quốc triều hình luật là một nét đặc sắc có phần đi trước thời đại của pháp luật phong kiến Việt Nam

B.NỘI DUNG

1 Chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân của bộ Quốc triều hình luật

Cùng với sự chú trọng luật hình và trình độ lập pháp còn hạn chế, bộ Quốc triều hình luật không có những quy định riêng biệt, cụ thể về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân mà quy định gián tiếp thông qua các chế định thừa kế và hợp đồng

Cụ thể, chế độ tài sản giữa vợ và chồng được quy định gián tiếp trong điều 374,

375 và 376 của bộ Quốc triều hình luật Điều 374 quy định: “Chồng cùng vợ trước có con, vợ sau không có con, hay vợ cùng chồng trước có con, chồng sau không có con,

mà chồng chết trước không có chúc thư, thì điền sản thuốc về con vợ trước, hay con chồng trước; nếu vợ sau, chồng sau không chia đúng phép thì bị xử phạt 50 roi, biếm 1

tư Cha mẹ còn thì lại xử khác (đúng phép, nghĩa là vợ trước có 1 con, vợ sau không con, thì điền sản chia làm 3, cho con vợ trước 2 phần, vợ sau 1 phần; nếu vợ trước có 2 con trở lên, thì phần vợ sau chỉ bằng phần các con thôi Phần của vợ sau thì chỉ để nuôi dưỡng 1 đời mình, không được nhận làm của riêng; nếu vợ sau chết hay cải giá lấy chồng khác thì phần ấy lại về con chồng Vợ chết trước thì người chồng cũng theo

lệ ấy nhưng không câu nệ khi lấy vợ khác Nếu điền sản là của chồng cùng vợ trước

Trang 3

làm ra, thì chia 2 phần, vợ trước và chồng mỗi người 1 phần, phần của vợ trước thì để riêng cho con, còn phần chồng thì lại chia như trước Nếu điền sản là của chồng và vợ sau làm ra, thì cũng chia làm 2 phần, chồng và vợ sau mỗi người 1 phần, phần của chồng thì chia như trước; còn phần của vợ sau được nhận làm của riêng, vợ chết trước thì chồng cũng như thế)” Điều 375 quy định: “Vợ chồng không có con, hoặc ai chết trước, không có chúc thư, mà điền sản chia về chồng hay vợ cùng là để việc tế tự, không đúng phép thì xử phạt 50 roi, biếm 1 tư Người trong họ không được giữ phần điền sản về việc tế tự ấy nữa.(đúng phép, nghĩa là chồng chết thì điền sản chia làm 2 phần, về người họ ăn thừa tự 1 phần để giữ việc tế tự; về vợ 1 phần, phần của người vợ thì chỉ để nuôi đời mình khồn được nhận làm của riêng, vợ chết hay cải giá thì phần ấy lại thuộc về người thừa tự Nếu cha mẹ hãy còn sống thì thuộc về cha mẹ cả; vợ chết trước thì cũng thế chỉ không bắt buộc hễ lấy vợ khác thì mất phần ấy Trên đây là nói

về điền sản cha mẹ để cho con, còn điền sản của vợ chồng làm ra thì chia làm 2, vợ chồng mỗi người 1 phần; phần của vợ được nhận làm của riêng, phần của chồng lại chia làm 3, cho vợ 2 phần, để về việc tế tự và phần mộ 1 phần, 2 phần cho vợ cũng chỉ

để nuôi 1 đời mình, không được nhận làm của riêng, vợ chết hay cải giá thì 2 phần ấy lại để về việc tế tự và phần mộ, nếu cha mẹ còn sống thì cha mẹ giữ; vợ chết trước thì chồng cũng thế chỉ không câu nệ khi lấy vợ khác)” Điều 376 quy định: “Vợ chồng đã

có con nếu 1 người chết trước, sau đó con cũng chết thì điền sản thuộc về chồng hay

vợ Nếu người trưởng họ chia không đúng phép, thì xử phạt 50 roi, biếm 1 tư và mất phần chia (đúng phép nghĩa là điền sản của vợ chia làm 3, để cho chồng 2 phần, cho người họ (người thừa tự) 1 phần Cha mẹ còn sống thì chia làm 2, thuộc về cha mẹ 1 phần, thuộc về chồng 1 phần, phần của chồng chỉ được để nuôi 1 đời, không được nhận làm của riêng, chồng chết thì phần ấy thuộc về cha mẹ hay người thừa tự Chồng chết trước thì vợ cũng thế, cải giá thì phải trả lại)”.

Theo như quy định tại các điều luật đã trích dẫn ở trên, ta có thể thấy, mọi tài sản trong gia đình đều thuộc sở hữu của vợ chồng và khối tài sản được hình thành từ 3 nguồn Đó là:

Trang 4

Tài sản riêng bao gồm: Tài sản riêng của chồng được thừa kế từ gia đình mình (phu điền sản) và tài sản riêng của vợ được thừa kế từ gia đình mình (thê điền sản) Cụ

thể, các điều luật trên đều sử dụng các cụm từ như “điền sản cha mẹ để cho con”, “của riêng”, “điền sản của vợ” hay quy định về tội ngoại tình ở điều 401: “…Vợ cả, vợ lẽ phạm tội đều xử tội lưu, điền sản trả lại cho người chồng” đã quy định một cách gián

tiếp nguồn gốc của tài sản riêng cũng như công nhận quyền sở hữu riêng của vợ hoặc chồng với tài sản đó Tuy trong thời gian hôn nhân tồn tại không có sự phân chia quá rạch ròi về tài sản riêng, vợ chồng cùng quản lí khối tài sản đó và lợi tức của nó là tài sản chung nhưng sự tồn tại của chúng sau hôn nhân (cụ thể là khi hôn nhân chấm dứt) chứng tỏ trong thời kì hôn nhân chúng vẫn luôn tồn tại

Tài sản chung là tài sản do 2 vợ chồng làm ra trong thời kì hôn nhân (tần tảo điền

sản) được đề cập đến ở điều 374 và 375 Cụ thể, điều 374 quy định: “…Nếu điền sản là của chồng cùng vợ trước làm ra, thì chia 2 phần, vợ trước và chồng mỗi người 1 phần

… Nếu điền sản là của chồng và vợ sau làm ra, thì cũng chia làm 2 phần, chồng và vợ

sau mỗi người 1 phần, phần của chồng thì chia như trước; còn phần của vợ sau được

nhận làm của riêng …”; điều 375 quy định “…điền sản của vợ chồng làm ra thì chia

làm 2, vợ chồng mỗi người 1 phần; phần của vợ được nhận làm của riêng, phần của chồng lại chia làm 3…” Có thể thấy, pháp luật đã công nhận đóng góp của người phụ

nữ ngang bằng với người đàn ông trong khối tài sản chung của gia đình, chính vì vậy nên khi quan hệ hôn nhân chấm dứt, người vợ được hưởng 1 nửa số tài sản chung làm của riêng Đồng thời, pháp luật công nhận quyền sở hữu chung của 2 vợ chồng với tài sản trong gia đình nên khi tiến hành các hoạt động chuyển nhượng, thuê hay vay mượn ruộng đất đều phải có khế ước, văn tự với chữ kí và sự đồng ý của cả 2 vợ chồng

2 Đánh giá về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân của bộ Quốc triều hình luật

2.1 Tiến bộ

Điểm đặc sắc, tiến bộ nhất của bộ Quốc triều hình luật nằm trong những quy định

về quyền và địa vị của người phụ nữ mà một trong số đó là quyền sở hữu tài sản của gia đình trong thời kì hôn nhân Sự tiến bộ đó không hề bị giới hạn bởi không gian và thời

Trang 5

gian, không những thể hiện khi đặt cạnh những quy định của pháp luật cùng thời mà còn thể hiện nguyên vẹn những nét đặc sắc khi so sánh với Hoàng Việt luật lệ của triều Nguyễn hay Đại Thanh luật lệ của Trung Quốc và thậm chí là pháp luật của các nước

phương Tây của hàng trăm năm sau đó Theo điều 88 của “Đại Thanh Luật Lệ,” chỉ

nam giới được hưởng quyền chia tài sản của cha mẹ (tức không thể tồn tại thê điền sản như quy định của Quốc triều hình luật); còn theo điều 78, khi người nữ lấy chồng thì tất

cả tài sản riêng của mình kể cả tài sản mình tự tạo lập ra hay nhận của cha mẹ ruột của mình, đều phải sát nhập hết vào gia sản của nhà chồng Nếu ly dị hay cải giá, người nữ phải rời nhà chồng với hai bàn tay trắng, không lấy được các tài sản riêng mà mình mang đến gia sản nhà chồng Năm 1890, ở Hoa Kỳ vẫn còn 1 số tiểu bang áp dụng học

lý Femme Couverte của Thông Luật theo đó“người vợ là vật sở hữu của chồng” không

có quyền pháp lý đối với lợi tức do chính bà kiếm ra, cũng như đối với con cái và tài sản của bà, trừ khi hai vợ chồng ký hôn khế trước, và đặt tài sản của họ dưới chế độ giám hộ So sánh các quy định về tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân của Đại Thanh luật lệ (chế định từ năm 1644, chính thức ban hành năm 1740), Hoàng Việt luật lệ với kĩ thuật lập pháp cao hơn hay pháp luật của các nước phương Tây khi đã bắt đầu thiết lập nhà nước tư sản có cái nhìn thoáng và ít yêu cầu hơn với người phụ nữ cùng với Quốc triều hình luật của thế kỷ XV mới thấy hết được những điểm tiến bộ của

nó, khi Quốc triều hình luật đã lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp thiết lập địa vị tương đối bình đẳng trong sở hữu tài sản giữa vợ và chồng Việc công nhận quyền sở hữu của người vợ với tài sản riêng là công nhận 1 quyền cơ bản của con người, công nhận quyền

sở hữu với tài sản chung đồng nghĩa với việc công nhận những đóng góp của người phụ

nữ trong gia đình Điều này không những thể hiện tính nhân văn của bộ luật mà còn mang đậm bản sắc, phong tục tập quán dân tộc

Những quy định tiến bộ về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân cũng như việc xác lập địa vị tương đối bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ

sở hữu xuất phát từ nhiều nguyên nhân

Thứ nhất, dân tộc Việt Nam có truyền thống tôn trọng người phụ nữ thể hiện qua

truyền thuyết Con Rồng cháu Tiên, …, điều này xuất phát từ thực tế lịch sử đấu tranh

Trang 6

chống giặc ngoại xâm không thể thiếu vai trò của người phụ nữ ở hậu phương, không thể phủ nhận đóng góp của người phụ nữ trong gia đình Đồng thời, do phong tục tập quán Việt Nam là tài sản hương hỏa chỉ dùng để thờ cúng tổ tiên, không thể giao cho người khác họ nên để đảm bảo tài sản hương hỏa không bị chuyển giao cho dòng họ khác khi con gái đi lấy chồng, cách tốt nhất là thừa nhận quyền sở hữu tài sản riêng của người vợ

Thứ 2, Quốc triều hình luật là sản phẩm của thời Hậu Lê Đây là thời kỳ chế độ

phong kiến Đại Việt phát triển rực rỡ nhất, vị vua đầu tiên có xuất thân từ tầng lớp bình dân cùng với nguồn gốc hình thành của vương triều dựa vào sức mạnh của nhân dân để giành độc lập từ tay ngoại bang khiến nhà nước thời Hậu Lê có tính nhân dân và tính dân tộc tương đối sâu sắc, nhà nước quan tâm bảo vệ lợi ích của cộng đồng dân tộc

Thứ 3, ở Việt Nam, tồn tại chủ yếu lại là gia đình nhỏ (3 thế hệ: vợ chồng, các

con, cha mẹ), hay gia đình hạt nhân chỉ gồm 2 thế hệ Do vậy, trong gia đình truyền thống Việt Nam, vợ chồng có thể độc lập quyết định những công việc quan trọng trong gia đình Lúc này, vợ chồng cùng tham gia bàn bạc, cùng giải quyết Điều này khác xa

so với kiểu gia đình đa thế hệ với những dòng họ lớn mà quyền quyết định các việc trọng đại trong gia đình đều đặt vào trong tay người gia trưởng (thường là trưởng tộc hay người chồng, người cha trong gia đình), như ở Trung Quốc

2.2 Hạn chế

Tuy nhiên, với kĩ thuật lập pháp còn hạn chế của thế kỷ XV cùng những tư tưởng

ăn sâu bám rễ trong xã hội phong kiến, những quy định về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân của Quốc triều hình luật cũng không tránh khỏi còn nhiều hạn chế

Thứ nhất, các quy định phần lớn mang tính chất ví dụ, quá cụ thể dẫn tới thiếu

tính bao quát và điển hình, chính vì vậy trên thực tế khi giải quyết các vụ việc cụ thể cần tới các chỉ dụ riêng lẻ hoặc do phong tục tập quán điều chỉnh (ví dụ như khi 2 vợ chồng có sự tranh chấp về tài sản) Đồng thời, pháp luật chưa có những quy định trực tiếp về quan hệ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân, tất cả các quy định đều

Trang 7

chỉ được suy ra và vận dụng gián tiếp thông qua chế định thừa kế và chế định hợp đồng nên tính hệ thống và tính pháp điển hóa không cao

Thứ 2, Quốc triều hình luật mới chỉ có quy định về điền sản, hoàn toàn không

nhắc đến vấn đề sở hữu với các loại tài sản khác như vàng, bạc, nhà cửa, lụa vải, lúa thóc, …

Thứ 3, tuy về quan hệ tài sản pháp luật đã công nhận quyền sở hữu tài sản của

người phụ nữ nhưng vẫn còn có sự bất bình đẳng giữa vợ và chồng Cụ thể, đối với 1 phần tài sản riêng mà vợ, chồng nhận được để nuôi 1 đời (khi 1 trong 2 người chết), tuy

vợ hay chồng đều không được nhận làm của riêng nhưng người vợ phải trả lại số tài sản

đó nếu tái giá còn người chồng thì không hay khi li hôn do lỗi của người vợ thì toàn bộ tài sản riêng phải để lại cho nhà chồng, đối với tài sản các con được thừa kế thì chỉ người cha được quyền định đoạt Đồng thời, tuy cần có chữ kí của người vợ trong các khế ước, văn tự mua bán, thuê đất nhưng trên thực tế, quyền quyết định chủ yếu vẫn thuộc về người chồng, pháp luật không có quy định điều chỉnh về vấn đề này; tuy nói tài sản trong gia đình đều thuộc về vợ và chồng nhưng pháp luật lại có quy định về thất xuất trong đó có trường hợp vợ trộm cắp tài sản trong gia đình, dường như một phần nào đó, quyền sở hữu tài sản trong gia đình của người vợ cũng bị hạn chế

Những hạn chế trong quy định về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân xuất phát từ đặc điểm văn hóa xã hội của nước ta thời phong kiến Cụ thể:

Thứ nhất, nhà nước phong kiến Lê sơ được xây dựng với Nho giáo là bệ đỡ tư

tưởng nên tam tòng tứ đức và tư tưởng gia trưởng, tư tưởng trọng nam khinh nữ đã ăn sâu, bám rễ trong đời sống gia đình Việt Chính vì vậy, tuy pháp luật có những quy định

về quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ nhưng chính bản thân họ lại khó có thể tự giác thực hiện quyền này của mình, nhất là trong việc định đoạt tài sản

Thứ 2, nước ta có nền kinh tế nông nghiệp truyền thống, trong một xã hội trọng

nông thì điền sản là thứ tài sản quý nhất, quan trọng nhất và dường như chỉ có điền sản mới đáng giá

Trang 8

Thứ 3, trình độ lập pháp của các nhà làm luật thời kì này còn rất hạn chế, chủ yếu

học tập từ pháp luật Trung Quốc và kế thừa các quy định trong bộ luật của triều đại trước

Thứ 4, Nhà Lê từng bước xây dựng bộ máy nhà nước phong kiến trung ương tập

quyền với địa vị chí tôn của nhà vua, pháp luật được xây dựng với mục tiêu hàng đầu là bảo vệ chế độ phong kiến, địa vị quyền lợi của giai cấp thống trị, củng cố trật tự đẳng cấp xã hội và gia đình gia trưởng phong kiến, thể chế hóa tư tưởng đạo đức chính trị Nho giáo và Hình luật được đặc biệt coi trọng nên các quy định trong lĩnh vực hôn nhân gia đình không được quá coi trọng Bên cạnh đó, Nhà nước công nhận phong tục tập quán là một bộ phận của pháp luật nên có một số vấn đề do phong tục tập quán điều chỉnh

C.KẾT LUẬN

Lịch sử lập pháp của nước ta đã trải qua hàng ngàn năm để đạt được trình độ lập pháp cao như ngày nay Tuy nhiên, con đường đi lên không phải lúc này cũng thẳng tắp

mà trong lịch sử đã có những bước thụt lùi trong những quy định về một số lĩnh vực cụ thể Quy định về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân cũng vậy Nếu như đây là một nét đặc sắc, độc đáo của bộ quốc triều hình luật thì đến Hoàng Việt luật

lệ đã hoàn toàn biến mất Chính vì vậy, không thể vì pháp luật phong kiến còn nhiều hạn chế về cả nội dung lẫn hình thức mà bỏ qua việc tiếp thu những tinh hoa, những điểm tiến bộ của nó Ngày nay, pháp luật hôn nhân gia đình Việt Nam đã tiếp thu và phát huy tinh thần của Quốc triều hình luật khi quy định rõ ràng, cụ thể và hợp tình, hợp

lí về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân Từ đó có thể thấy, những quy định về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân trong bộ Quốc triều hình luật đã thể hiện những quan điểm hết sức tiến bộ và mang tính nhân văn sâu sắc

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Viện sử học Việt Nam, Quốc triều hình luật: Hình luật triều Lê, Nxb Pháp lí,

1991

Trang 9

2 Lê Thị Sơn (Chủ biên), Quốc Triều hình Luật lịch sử hình thành, nội dung và giá trị, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2004.

3 Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia Viện Nhà nước và pháp luật,

Nghiên cứu về hệ thống pháp luật Việt Nam thế kỷ XV – Thế kỷ XVIII, Nxb Khoa học

xã hội, Hà Nội, 1994

4 Đánh giá về chế độ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kì hôn nhân của bộ Quốc Triều hình luật

Nguồn: http://tailieu.vn/xem-tai-lieu/danh-gia-ve-che-do-tai-san-giua-vo-va-chong-trong-thoi-ky-hon-nhan-cua-bo-quoc-trieu-hinh-luat.1293987.html

5 Ngô Vũ Hải Bằng, Quyền lợi của người phụ nữ trong bộ luật Hồng Đức, tạp chí xưa

và nay

Nguồn: http://www.danangpt.vnn.vn/vanhoa/detail.php?id=41&a=76&k=124

6 ThS Lê Minh Tuấn, Bộ luật Hồng Đức có nhiều quy định tiến bộ bênh vực, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ.

Nguồn: http://luathoc5c.net/viewtopic.php?t=240

7 Chế độ thừa kế tài sản giữa vợ và chồng trong bộ Quốc triều hình luật

Nguồn: http://thuvientructuyen.vn/chi-tiet-tai-lieu/che-do-thua-ke-tai-san-giua-vo-va-chong-trong-bo-quoc-trieu-hinh-luat/36265.ebook#gsc.tab=0

8 Những điểm đặc sắc trong lĩnh vực hôn nhân gia đình của bộ Quốc triều hình luật.

Nguồn: http://doan.edu.vn/do-an/de-tai-nhung-diem-dac-sac-trong-linh-vuc-hon-nhan-gia-dinh-cua-bo-quoc-trieu-hinh-luat-3695/

9 Chế định hôn nhân trong bộ Quốc triều hình luật

Nguồn: http://ebook.ringring.vn/chi-tiet/che-dinh-hon-nhan-trong-bo-quoc-trieu-hinh-luat/47/34708.html

10.Nguyễn Thanh Bình, Quốc triều hình luật (Bộ luật Hồng Đức)

a=v&q=cache:vr3QNB8sLQcJ:files.myopera.com/thanhbinhtelebank/files/

Trang 10

oJwDIEZpKaBYXsvx8r1eftw9M-VR-a8t2F9Tc8Wo06vNvylnE8e940_ktDlPzvIZY9HZI7F6CAVOvQVcmIw11djthEq78 mEgv50mTdfv1673QG2N3AFerUCMrmq9&sig=AHIEtbRmkswBRfRWPD4EyI2 OvZ_jhRJrbA

11.Phạm Văn Bản, Tiến trình nhân quyền

Nguồn: http://phamvanban.awardspace.us/tien_trinh_nhan_quyen.htm

PHỤ LỤC

Chúng tôi là Phạm Văn Khánh và vợ ở làng Thư Điền, huyện Yên Mô, phủ

Ninh Bình có 1 sào ruộng ở cánh đồng Phù Long, tứ chí như sau: phía đông

giáp con ngòi Hát, phía Tây giáp ruộng nhà ông Hài, phía Nam giáp ruộng

ông Thuần, phía Bắc giáp ruộng nhà bà Bảnh Nay vì cần tiền bán đứt thửa

ruộng này cho ông Lê Văn Chỉnh cùng vợ người cùng làng, lấy số tiền là 3

quan tiền Khi lập khế ước này 2 bên đã nhận đủ phần mình.Thửa ruộng

đoạn mại này chính là tư sản của riêng tôi, có điều gì man trá, tôi chịu hoàn

toàn trách nhiệm không liên can gì đến người mua Kể từ ngày lập văn tự,

người mua nhận ruộng canh tác, truyền tử nhược tôn, vĩnh viễn như của

riêng.

Theo pháp luật trong nước, nay lập văn tự làm bằng.

Niên hiệu Hồng Đức, năm … ngày … tháng …

Ngày đăng: 16/01/2016, 00:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w