Với đề tài “phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiếntranh thế giới thứ hai”, tôi muốn làm rõ hơn về sự hình thành và phát triển của cách mạng các nước,đã lựa chọn ch
Trang 1Với đề tài “phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á sau chiến
tranh thế giới thứ hai”, tôi muốn làm rõ hơn về sự hình thành và phát triển của
cách mạng các nước,đã lựa chọn cho mình những con đường khác nhau phù hợpvới hoàn cảnh từng giai đoạn lịch sử của mỗi nước cụ thể trong cuộc đấu tranhcủa dân tộc, để tiến tới xây dựng đất nước phát triển Qua đó giúp bạn đọc cómột cách nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề này.Đồng thời cũng góp phầntíh cực vào công việc học tập và giảng dạy môn học lịch sử thế giới nói chung vàphần lịch sử Đông Nam Á nói riêng của tôi sau này
Tuy đã có nhiều cố gắng và nhưng đề tài này của tôi không thể tránh những hạnchế và thiếu sót, vì vậy mong nhậnh được sự góp ý kiến của thầy cô hướng dẫn,các thầy cô trong bộ môn lịch sử cũng như bạn đọc để đề tài được hoàn thiệnhơn
Xin chân thành cám ơn!
Trang 22.Lịch sử vấn đề:
Phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á không phải làmột đề tài mới, cho đến nay đã có nhiều công trình và tài liệu nghiên cứu về vấn
đề này Trong các công trình đó có nghiên cứu và trình bày về lịch sử Đông Nam
Á như: Lịch sử Đông Nam Á GS.Lương Ninh chủ biên (nxb.Bộ giáo dục và đàotạo); Lược sử Đông Nam Á Phan Ngọc Liên chủ biên.(nxb Giáo dục); hay cácbài viết trên các Tạp chí lịch sử…Qua các công trình nghiên cứu đó cho thấy vấn
đề Đông Nam Á là một vấn đề không phải là đơn giản mà rất phức tạp Từ mảnhđất đó có thể giúp cho các nhà nghiên cứu tiếp tục đào xới về mảng đề tài này
Đề tài phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á sau chiến tranh thếgiới thứ hai của tôi đã trình bày một cách khái quát đầy đủ Đề tài này cũng cótham khảo những tài liệu được nêu trên cũng như các bài giảng trên các trangweb điện tử…
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu :
a Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là phong trào giải phóng dân tộc ở các nướcĐông Nam Á
b Phạm vi nghiên cứu :
Đề tài này tập trung nghiên cứu phong trào giải phóng dân tộc ở các nước ĐôngNam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai
4.Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh làm cơ sở khoa học
Phương pháp nghiên cứu cụ thể là sử dụng phương pháp so sánh lịch sử,phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp lôgich, phương pháp hệ thống vàtrình bày một số ý kiến riêng của mình
Trang 35 Đóng góp của đề tài:
Thông qua các vấn đề nêu trên của Đông Nam Á đề tài này của tôi đã tậptrung làm rõ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Ásau chiến tranh thế giới thứ hai đã phát triển một cách rực rỡ trong giai đoạn này,thể hiện tinh thần đoàn kết của các nước trong khu vực để đi đến thắng lợi cuốicùng của đất nước là hoàn toàn độc lập
Qua đó cũng cho chúng ta thấy rõ hơn sự phát triển của ý thức hệ các nướctrong việc lựa chọn cho mình con đường đi riêng để hoàn thành cuộc đấu tranhcủa dân tộc Việc tìm hiểu các vấn đề phong trào giải phóng dân tộc có thể rút ranhững bài học kinh nghiệm bổ ích, có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc về cuộc đấu tranhcủa nhân dân Đông Nam Á trong công cuộc hoàn thành nền độc lập dân tộc đểhướng tới xây dựng và phát triển của đất nước
6.Cấu trúc của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và phần kết thúc đề tài của tôi còn có các nội dung chínhnhư sau:
+ Cuộc đấu tranh chống phát xít của nhân dân Đông Nam Á
b Chương II: Phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Ásau chiến tranh thế giới thứ hai:
- Cách mạng Lào từ 1945-1975:
+ Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954)
+ Cuộc kháng chiến chống Mĩ xâm lược 1954-1975
- Cách mạng Việt Nam:
Trang 4+ Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954).
+ Cuộc kháng chiến chống Mĩ Cứu nước (1945-1975)
- Cách mạng Campuchia
+ Trong những năm 1945-1954 chống thực dân Pháp xâm lược
+ Cuộc kháng chiến chống Mĩ của Campuchia
- Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc ở Inđônêxia
- Cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Mlaixai
- Philippin được trao trả độc lập
- Nước Cộng hoà Xigapo thành lập
- Miến Điện giành được độc lập
- Brunây được trao trả độc lập
- ĐôngTimo
Trang 5Phần II: NỘI DUNG
Chương I: KHÁI QUÁT BỐI CẢNH LỊCH SỬ ĐÔNG NAM Á TRONG CHIẾN TRANH THẾ GIỚI THỨ II
1 Phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á trước chiến tranh thế giới thư hai
Đông Nam Á là một khu vực khá rộng lớn, có diện tích khoảng 4,5 triệu
km2, với số dân 528 triệu người ( năm 2000), nằm khoảng 920 đến 1400 kinhĐông và từ 280 vĩ Bắc, chạy qua xích đạo đến 150 vĩ Nam Hiện nay, Đông Nam
Á gồm có 11 nước: Việt Nam , Lào, Campuchia, Thái Lan, Mianma, Xingapo,Inđônêxia, Philippin, Brunây, ĐôngTimo, Malaixia
Đông Nam Á được xem là một khu vực có ý nghĩa quan trọng trong tiếntrình phát triển lịch sử của loài người Với vị trí chiến lược quan trọng về quân
sự, thương mại, hàng hải, hàng không quốc tế nối liền Châu Á với các Châu lụccòn lại Đông Nam Á còn được xem như là chiếc cầu nối là đầu nối giao thôngquan trọng giữa Đông và Tây Bên cạnh đó, trong quá trình phát triển các quốcgia cư dân Đông Nam Á có một đời sống khá cao Đến thế kỷ XVI Đông Nam Á
đã nổi lên như một trong những trung vị trí địa lý quan trọng , giàu tài nguyênthiên nhiên nên Đông Nam Á sớm trở thành trung tâm văn minh một khu vực địalý- lịch sử - văn hóa
Với vị trí địa lí quan trọng, giàu tài nguyên thiên nhiên nên Đông Nam Á
đã sớm trở thành đối tượng xâm lược của các nước tư bản phương Tây Khi chế
độ phong kiến ở các nước Đông Nam Á đang trên đà suy yếu mạnh ,vào nữa sauthế kỷ XIX các nước tư bản Phương Tây đã đẩy mạnh các cuộc chiến tranh xâm
Trang 6lược thuộc địa Vì thế, hầu hết các nước Đông Nam Á đều trở thành thuộc địahoặc phụ thuộc vào các nước Phương Tây.
Mở đầu cho cuộc chinh phục Đông Nam Á của thực dân Châu Âu là HàLan xâm chiếm Malácca, sau khi xâm chiếm Inđônêxia thì Hà Lan nhanh chónggạt đi vai trò của Bồ Đào Nha ở khu vực Cũng trong thời gian này, bằng cuộcthám hiểm táo bạo người Tây Ban Nha đã phát hiện ra quần đảo Philippin và đếnnăm 1565 căn bản đã chinh phục được quần đảo này Thực dân Anh xâm chiếmMiến Điện , Mã Lai Ở Đông Dương thì Pháp vào xâm lược Việt Nam, Lào,Campuchia Chỉ có Xiêm (Thái Lan) với cuộc cách tân đất nước đã thoát khỏithân phận là thuộc địa như các nước khác
Mặc dù các nước tư bản phương Tây đã đặt được ách đô hộ ở các nướcĐông Nam Á nhưng trong quá trình xâm lược thì ngay từ đầu đã gặp phải sựkháng cự của phong trào giải phóng dân tộc ở các nước Đông Nam Á một cách
mạnh mẽ Sau thất bại của những cuộc khởi nghĩa “phò Vua cứu nước” mang ý
thức hệ phong kiến , tầng lớp tri thức mới ở nhiều nước đã hướng cuộc đấu tranhgiải phóng dân tộc theo con đường mới mang tư tưởng dân chủ tư sản
Do sự xâm nhập của chủ nghĩa thực dân phương Tây, cơ cấu kinh tế - xãhội của các nước Đông Nam Á bị xáo trộn một cách nghiêm trọng Cùng với cácchính sách khai thác và bóc lột thuộc địa sử dụng chính sách thống trị triệt phánền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp đã lôi cuốn các nước Đông Nam Á vào bộmáy sản xuất tư bản chủ nghĩa Trong xã hội sự phân hóa giai cấp cũng diễn ramột cách gay gắt hơn trên nền tảng của yếu tố tư bản chủ nghĩa Với sự ra đời củagiai cấp tư sản đã đưa đến sự hình thành của hai khuynh hướng đấu tranh trongphong trào giải phóng dân tộc của các quốc gia Đông Nam Á Một khuynhhướng chủ trương đấu tranh theo con đường bạo lực cách mạng và một conđường chủ trương đấu tranh theo con đường cải lương Bên cạnh các phong tràođấu tranh do giai cấp tư sản lãnh đạo thì vào các thập niên 20 - 40 của thế kỷ
XX Ở Đông Nam Á phong trào giải phóng dân tộc khu vực xuất hiện một xu
Trang 7hướng cứu nước mới theo sự dẫn dắt của ý thức hệ tư tưởng Vô sản Với thắnglợi của cách mạng tháng mười Nga đã tác động một cách mạnh mẽ đến phongtrào đấu tranh giải phóng dân tộc ở các nước khu vực theo xu hướng vô sản Vìvậy, cuộc đấu tranh của nhân dân Đông Nam Á chống ách thống trị của chủnghĩa thực dân phương Tây đã diễn ra dưới những sắc thái khác nhau nhưng cốtlõi là sự khơi dậy của ý thức dân tộc và tinh thần dân chủ.
Cùng với sự xuất hiện và tồn tại song song hai xu hướng cách mạng tư sản
và cách mạng vô sản phong trào đấu tranh giành độc lập ở các nước Đông Nam
Á đã đi theo hai con đường khác nhau:
Phong trào đấu tranh giành độc lập theo xu hướng tư sản do giai cấp tư sảnlãnh đạo cũng đã thể hiện tinh thần yêu nước cách mạng chống đế quốc và tínhthỏa hiệp yếu đuối do gắn bó quyền lợi với các nước đế quốc
Ở Inđônêxia : Vào những thập niên cuối của thế kỷ XIX, phong trào giảiphóng dân tộc diễn ra sôi nổi, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa ở Átgiê, ở TâyXumatơ ra, kéo dài 30 năm (1873-1904) ; khởi nghĩa Batắc, ở Đông Xumatơracũng tồn tại gần 30 năm (1878-1907)…
Những năm đầu thế kỷ XX, phong trào đấu tranh giành độc lập ởInđônêxia có những bước phát triển mới Mở đầu cho phong trào đấu tranh làviệc thành lập công đoàn tiên của công nhân xe lửa năm 1905 với tên gọi S.S
Bond “Liên hiệp hỏa xa quốc gia” Năm 1908, một tổ chức gọi là Buđi Utômô ra
đời ở Giacácta Với hoạt động ban đầu chỉ mang tính chất phát triển văn hóa ,giáo dục nâng cao hiểu biết cho quần chúng khơi dậy tinh thần độc lập và thu hútđông đảo nhân dân tham gia
Sau khi Buđi Utômô nhiều tổ chức đảng phái của người Inđônêxia yêu
nước ra đời và được nâng lên một tầng cao mới Năm 1909 “Hiệp hội sinh viên
Ấn” do sinh viên Inđônêxia ở Hà Lan tổ chức, đến năm 1922 đổi thành “ Hiệp hội sinh viên Inđônêxia” Lúc đầu tổ chức này chủ trương truyền bá tư tưởng dân
chủ, nhưng ngày một lớn hơn và trưởng thành hơn nên mang tính chất chính trị
Trang 8ngay càng đậm nét với mục tiêu đấu tranh giành độc lập cho dân tộc của nhândân Inđônêxia
Trên cơ sở đó năm 1912 , các phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của
nhân dân Inđônêxia đã đưa đến sự ra đời của Đảng cộng sản Inđônêxia, sau đổi
thành Đảng Quốc Dân, đã đấu tranh sôi nổi những năm 1926-1927, thì cuộc khởinghĩa của Xumatơra do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã bị thất bại Tuy rằng, bị thấtbại nhưng cơn bão táp cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của ĐảngCộng sản đã làm rung chuyển nền thống trị của thực dân Hà Lan ở Inđônêxia
Sau thất bại của Đảng Cộng sản từ năm 1927 quyền lãnh đạo phong tràocách mạng chuyển vào tay giai cấp tư sản dân tộc, đứng đầu là Xucácno Với chủtrương chống đế quốc, đoàn kết các lực lượng dân tộc, tiến hành đấu tranh dântộc bằng biện pháp hòa bình, và bằng phong trào bất hợp tác với chính quyềnthực dân Đảng dân tộc đã chống giành được uy tín chính trị và trở thành lựclượng dẫn dắt phong trào giải phóng dân tộc ở Inđônêxia
Ở Philippin: Với đại diện của phong trào cách mạng theo khuynh hướngcải lương là Hêxêridan Sự chuẩn bị kỉ lưỡng về mặt chính trị, tư tưởng cho cuộcđấu tranh chống thực dân Tây Ban Nha như qua các tác phẩm “ Đừng đụng đếntôi” Song Hêxêridan chủ tương đấu tranh bằng con đường hòa bình thông quaviệc đòi Philippin trở thành một tỉnh của Tây Ban Nha, yêu cầu khôi phục đạidiện của Philippin trong nghị viện Tây Ban Nha và đòi bình đẳng pháp luật cùngvới các quyền tự do dân chủ, tự do hội họp Ngoài ra, ông còn đòi thủ tiêu các tòa
án dị giáo và hạn chế các đặc quyền đặc lợi của tầng lớp tăng lữ Năm 1892,
Hôxêridan thành lập tổ chức “ Liên minh Philippin” thu hút chủ yếu các tầng lớp
tri thức, thương nhân ngoài ra còn có địa chủ, một số công nhân và nông dân Vớichủ trương đường lối cải lương, ôn hòa để đòi cải cách, đòi bình đẳng giữa ngườiTây Ban Nha và người Philippin, hạn chế các quyền của tăng lữ … vv Sau mộtthời gian hoạt động do không được sự ủng hộ của nhân dân nên tan rã
Trang 9Tiếp đó, tháng 2-1892 phong trào cách mạng của Bôphaxiô với tổ chức
“Liên minh những người con của nhân dân” đã thu hút nhiều nông dân và dân
nghèo thành thị, chủ trương đấu tranh giành độc lập dân tộc, chứ không đòi cảicách chế độ cai trị ở Tây Ban Nha Đây là một bước tiến quan trọng trong phongtrào yêu nước Philippin lúc bấy giờ Tháng 8-1896, cuộc khởi nghĩa do Bôphaxiôlãnh đạo nổ ra ở ngoại thành Manila với sự tham gia của đông đảo nhân dân đểthành lập nước Cộng hòa Nghĩa quân đã giải phóng nhiều vùng đất rộng lớn ,lấy đất của người giàu , nhà thờ chia cho người nghèo, thực hiện nhiều biện pháp
để cải thiện đời sống cho công nhân và dân nghèo thành thị Tuy nhiên do mâu
thuẫn nội bộ nên Aghinanđô đã lật đổ Bôniphaxiô cùng tổ chức “Liên minh
những người con nhân dân” Aghinanđô lên nắm quyền chấp nhận ngừng bắn và
ký hiệp ước đầu hàng với Tây Ban Nha (11-1897) Mặc dù vậy cuộc doBôniphaxiô lãnh đạo được đánh giá là mốc mở đầu cho phong trào đấu tranh của
nhân dân Philíppin dưới ảnh hưởng của dân chủ tư sản Cuộc khởi nghĩa này “có
ý nghĩa như sự kiện đầu tiên ở Đông Nam Á theo xu hướng mới - xu hướng dân chủ tư sản” Sau sự kiện đầu hàng của Aghinanđô phong trào đấu tranh chống
thực dân Tây Ban Nha tiếp tục phát triển
Sau đó, lợi dụng phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Philíppin, đếquốc Mỹ đã can thiệp vào công việc nội bộ trở thành thuộc địa của Mỹ (1898).Phong trào đấu tranh của nhân dân Philíppin chống Mỹ tiếp tục dâng cao Do áplực đấu tranh của quần chúng nhân dân đế quốc Mỹ buộc phải trao trả quyền tựtrị cho nhân dân Philíp pin vào năm 1931
Ở Mã Lai, đầu thế kỷ XX, với sự ra đời của tổ chức “Đại hội toàn Mã
Lai” Phong trào đã chủ trương đòi quyền tự trị nhưng do sự khác biệt về tôn
giáo và dân tộc nên bị thực dân làm trở ngại cho việc tập hợp lực lượng thốngnhất trong cuộc đấu tranh chống lại thực dân Anh vì nền độc lập tự do của MãLai
Trang 10Ở Miến Điện (Myanma), có “Phong trào Tha kin” đây là cuộc đấu tranh
đòi cải cách quy chế đại học đòi tự trị của sinh viên Miến Điện trong những năm
30 của thế kỷ XX (phong trào của những người làm chủ đất nước)
Cùng với phong trào xu hướng tư sản đã xuất hiện từ trước, xu hướng vôsản trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á đã nhanh chóng pháttriển Trong giai đoạn 5 năm 1920, Đảng cộng sản Inđônêxia được thành lập đạidiện cho nguyện vọng của nhân dân Thì ở Việt Nam, sau thất bại của phong tràoCần Vương, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc đã chuyển sang một hướngmới đánh dấu bước tiến mới trong phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam.Bên cạnh đó phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục và những cuộc vậnđộng Duy Tân theo khuynh hướng tư sản còn có phong trào đấu tranh yêu nướccủa quần chúng nhân dân chống lại ách thống trị của thực dân pháp Tuy nhiêncác phong trào ấy đều bị thất bại do thiếu của một sự lãnh đạo của một giai cấptiên tiến cách mạng , các phong trào chỉ mới là sự nổi dậy mà chưa có đường lốicứu nước đúng đắn Trên cơ sở đó Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đánh dấu
sự trưởng thành của giai cấp công nhân Việt Nam và mở ra một thời đại mớitrong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở khu vực Đông Nam Á Đặc biệt
là đối với phong trào đấu tranh của ba nước Đông Dương Việt Nam, Lào,Campuchia, đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và lãnh đạo của cáchmạng dân tộc Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương phong tràocách mạng Việt Nam phát triển một cách mạnh mẽ, trở thành ngọn cờ đi đầutrong cuộc đấu tranh chống thực dân theo xu hướng Vô sản, đấu tranh vũ tranggiành độc lập của phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới
Trong số các nước Đông Nam Á, Thái lan được xem là một trường hợp
"đặc biệt” Trước sự xâm nhập của thực dân phương Tây, Thái Lan đã thực hiệnchính sách mở cửa đa chiều Ở trong nước Vua ChuLaLongCon (1868) đã tiếnhành Duy Tân đất nước theo kiểu tư bản chủ nghĩa Nhưng về hình thức lại phụthuộc vào các nước thực dân về tài chính và ngoại giao Chính điều đó đã tạo
Trang 11điều kiện thuận lợi cho phép Thái Lan tiến hành cách mạng tư sản (1932 ) đã đưaThái Lan phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.
Như vậy, từ những năm 20 của thế kỷ XX phong trào đấu tranh giải phóngdân tộc ở Đông Nam phát triển theo một xu hướng mới đó là xu hướng vô sản tồntại song song với xu hướng tư sản Sau chiến tranh thế giới thứ nhất, chính sáchkhai thác và bóc lột thuộc địa ở các nước đế quốc đã tác động trực tiếp đến cácnước Đông Nam Á, làm cho đời sống nhân dân cho Đông Nam Á càng lầm than,khổ cực và đất nước kiệt quệ hơn Vì thế mà phong trào chống đế quốc đã dângcao và phát triển mạnh mẽ hơn Đồng thời với thắng lợi của cách mạng thángMười Nga cũng đã tác động mạnh mẽ đến phong trào giải phóng dân tộc ở khuvực này
Hai phong trào tư sản và vô sản cùng tồn tại song song ở Đông Nam Á vớinhiều điểm khác biệt về ý thức hệ, về mục tiêu cuối cùng Nhưng đứng trước mụctiêu chung là độc lập dân tộc nên cả hai phong trào đã tồn tại song song, cónhững lúc hết lúc kết hợp với nhau trong một chừng mực nhất định Bởi lẽ đốivới nhân dân Đông Nam Á, kẻ thù lớn nhất là chủ nghĩa đế quốc Và với sự rađời của Đảng cộng sản đã dẫn dắt phong trào đấu tranh chống đế quốc phát triểnhơn Với giai cấp công nhân trở thành lực lượng nòng cốt lãnh đạo phong tràocách mạng
1. Phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á trong chiến tranh thế giới thứ hai.
Cùng với sự phát triển của lịch sử Đông Nam Á, chiến tranh thế giới thứhai đã mở ra một giai đoạn mới trong phong trào giải phóng dân tộc ở các nướcĐông Nam Á Chỉ trong giai đoạn 1940-1945, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
ở Đông Nam Á đã gắn liền với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít Năm
1940, được xem là mốc mở đầu cho một giai đoạn đấu tranh chống chủ nghĩaphát xít Nhật của nhân dân Đông Nam Á Tháng 9-1940, với sự kiện Nhật tấn
Trang 12công Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng, mở đầu cho cuộc chinh phục Đông Nam
Á của Nhật
Cũng từ đây, cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít Nhật đã trở thànhnội dung chính của phong trào giải phóng dân tộc lúc này Đồng thời, cũng đểhòa nhập với phong trào dân chủ chống phát xít trên thế giới, nhân dân ĐôngNam Á đã đấu tranh làm cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phát xít ngày càngsôi nổi và mạnh mẽ hơn
a Nhật xâm chiếm Đông Nam Á.
Với sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của chủ nghĩa phát xít Đức,Italia, Nhật đã làm cho tình hình thế giới càng thêm bất ổn Sau sự kiện 1-9-1939,chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Tháng 5-1940, Đức tấn công Pháp, sau đóPháp đầu hàng Ở Viễn Đông, quân phiệt Nhật đã đẩy mạnh chiến tranh xâm lượcTrung Quốc và cho quân tiến sát hơn tới biên giới Việt- Trung
Ngày 22/9/1940, Nhật gửi tối hậu thư cho Pháp đòi thi hành hiệp địnhTôkiô Cũng trong ngày này, Nhật đã cho quân vượt biên giới Việt – Trung tấncông Lạng Sơn và ném bom Hải Phòng rồi đổ bộ lên Đồ Sơn mở đầu cho cuộcchinh phục Đông Nam Á của phát xít Nhật
Với sự lớn mạnh của phe phát xít trên thế giới, ở Đông Dương Ngày 23-9,Pháp kí hiệp định chấp nhận quân Nhật chiếm toàn bộ Đông Dương thuộc Pháp,biển Đông Dương thành căn cứ chiến lược trong kế hoạch tiến quân cứ phía Namcủa họ Sau sự kiện Trân Châu Cảng (17-12-1941), Nhật đã tự do xâm chiếmĐông Nam Á tấn công xâm lược với tốc độ nhanh Cùng với ngày Nhật tấn côngTrân Châu Cảng, quân đội Nhật đã đổ bộ vào bán đảo Mã Lai ném bom Xingabo.Cùng với quá trình đẩy mạnh xâm lược ở Đông Nam Á, ở giai đoạn đầu Nhật đã
sử dụng chiêu bài “giải phóng Đông Nam Á” lợi dụng ưu thế tạm thời về hải quân
áp đảo Thái Bình Dương và vùng biển Đông Á Chỉ trong vòng nữa năm, phát xítNhật đã nhanh chóng chiếm toàn bộ Đông Nam Á
Trang 13Ngày 8-12-1941, khi quân Nhật đổ bộ vào Thái Lan với lý do quá cảngtiến công vào Miến Điện và Mã Lai thuộc Anh Sau khi kháng cự không thànhcông, Phibun tuyên bố trở thành đồng minh của Nhật Đồng thời, năm 1942 Nhậtcũng đổ bộ và đánh chiếm Inđônêxia, Philíppin và xâm lược Miến Điện bằng haimũi tiên công từ lãnh thổ Xiêm Quân Anh bị thất bại và rút lui, Hà Lan đầuhàng Vào tháng 4, 5 cuộc chiến tranh của Nhật ở Philíppin cũng vào giai đoạncuối.
Như vậy, Nhật đã khống chế làm chủ tất cả các đảo tại Đông Nam Á, tiếnsát tới Ôxtrâylia, Tân Tây Lan Sau khi chiếm xong Đông Nam Á và Tây NamThái Bình Dương, Nhật Bản đã khống chế một vùng đất rộng lớn 386 0000kmvới 150 triệu dân nếu tính cả Triều Tiên cũng như những vùng đất mà Nhậtchiếm đóng lên tới 700000 km2 với 500 triệu người, đã hình thành một khối đếquốc thực dân khổng lồ Về cơ bản, Nhật đã thực hiện được kế hoạch “Khu vựcthịnh vượng chung Đại Đông Á và thực hiện âm mưu của mình trên các mặtchính trị, kinh tế
Về chính trị, thiết lập chế độ thống trị kiểu phát xít, thành lập các chínhphủ quân sự, ban bố lệnh giới nghiêm, thục hiện các chính sách mị dân…để lôikéo người bản địa ủng hộ người Nhật, chống lại thực dân phương Tây, thậm chígây ảo tưởng cho họ, và hứa hẹn một trật tự mới và nền độc lập cho các nướcĐông Nam Á, thành lập các chính phủ thân Nhật…Vì thế mà không ít người ởĐông Nam Á như Xucácnô, Hat - ta của Inđônêxia, Phan Bội Châu ở ViệtNam… đã hy vọng dựa vào Nhật để thoát khỏi thực dân Phương Tây, lấy lại nềnđộc lập dân tộc mà họ đã đổ bao xương máu nhưng chưa được
Về kinh tế: Sau khi chiếm đóng toàn bộ Đông Nam Á, quân Nhật đã thựchiện chính sách áp bức, bóc lột một cách tàn bạo ở các nước thuộc địa Mục đích
là khai thác các nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, phục vụ chiến tranh và làm giàucho nước Nhật,các công ty của Nhật đóng ở khắp mọi nơi: Công ty Mítsubisikhai thác đốt phá ở Đông Dương, khống chế xưởng tàu ở Xingapo , cao su, thiếc
Trang 14ở Mã Lai Với sự bóc lột nặng nề của chủ nghĩa phát xít Nhật ở những năm 1944-1945, đã đẩy nhân dân Đông Nam Á vào tình cảnh khốn khổ, đói kém như ởViệt Nam, Inđônêxia, Philíppin…hàng triệu người dân bị điều động đi đắp hào,đường sá, cầu cống, phục vụ cho cuộc chiến tranh của quân đội Nhật.
Với chính sách bóc lột tàn bạo của Nhật đã gây ra sự phản ứng một cáchmạnh mẽ của các nước Đông Nam Á, kể cả những người thân Nhật Với sự ápbức,bóc lột như vậy, đã thúc đẩy nhân dân Đông Nam Á nổi lên cao trào chốngNhật cứu nước
b.Cuộc đấu tranh chống phát xít của nhân dân Đông Nam Á:
Từ năm 1940, phát xít Nhật tràn vào Đông Nam Á và cũng từ đây cuộcđấu tranh của nhân dân Đông Nam Á đã chĩa mĩu nhọn vào phát xít Nhật Docuộc đấu tranh chống phát xít Nhật đã trở thành nội dung chính của phong tràođấu tranh giai đoạn này Với nét nổi bật là sự ra đời của mặt trận dân tộc thốngnhất và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng
Ở Việt Nam năm 1941, Nguyễn Ái Quốc về nước, ở Pác Bó, Cao Bằng,trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sảnĐông Dương, Mặt trận thống nhất phản đế Đông Dương, cách mạng Việt Nam đãtừng bước đi lên giành thắng lợi Tại Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản ĐôngDương lần thứ 8 ( tháng 10 đến 19/05/1941) do Nguyễn Ái Quốc triệu tập đã nêurõ: Lúc này mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam và bọn đế quốc phát xít Pháp –Nhật là mâu thuẫn chủ yếu phải tập trung giải quyết nhằm giải phóng dân tộcĐông Dương “Nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòiđược độc lập tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dântộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn nămcũng không đòi lại được…”
Việc xây dựng lực lượng cách mạng tiến tới vũ trang khởi nghĩa được coitrọng Sau khi khởi nghĩa Bắc Sơn thất bại, một bộ phận vũ trang khởi nghĩa đãchuyển sang xây dựng các đội du kích và thống nhất thành “Cứu quốc quân”
Trang 15Năm 1941, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân được thành lập, nhằmphát động tập hợp đoàn kết toàn dân tộc chuẩn bị các lực lượng chính trị, lựclượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng chuẩn bị chớp lấy thời cơ tổng khởi nghĩagiành chính quyền tạo nên thắng lợi lớn của cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Ở Lào: Sau khi phát xít Nhật đầu hàng đồng minh, cộng với thắng lợi lớncủa cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, ngày 23/08/1945, nhân dânLào đã nổi dậy giành chính quyền, Chính phủ Lào ra mắt quốc dân và trịnh trọngtuyên bố trước thế giới nền độc lập của nước Lào
Ở Campuchia: Tuy thời cơ cách mạng đến nhưng do tình hình bất ổn,Campuchia không có những thuận lợi như cách mạng Việt Nam và Lào Vì thế đã
bỏ lỡ cơ hội giành độc lập Đến khi Pháp xâm chiếm lại, chính quyền nhà nướcCampuchia vẫn nằm trong tay Xihanúc và thủ tướng Sơn Ngọc Thành
Với tháng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam, Lào đãlàm cho phong trào giải phóng dân tộc ở các nước còn lại ở Đông Nam Á, phongtrào nổi lên sôi nổi và ngày một mạnh mẽ hơn
Ở Philíppin: Năm 1941, quân đội Nhật đổ bộ vào chiếm đóng và thiết lậpnền thống trị với chính phủ bù nhìn được dựng lên ngày 23/1/1942, các đảng pháichính trị ở trong nước bị giải tán Cũng như ở các nước khác Nhật thực hiện trao
trả “độc lập” và giúp đỡ nhóm những người thân nhật tuyên bố thành lập Cộng
hòa Philippin vào ngày 14/10/1943 do Giôsêloren làm tổng thống Năm 1942, Mặt trận dân tộc dân chủ thống nhất chống phát xít được thành lập sau đổi thành Quân đội nhân dân chống Nhật gọi là Hukbalahap, do những người Cộng sản
lãnh đạo đây là đội quân nồng cốt trong cuộc kháng chiến chống Nhật Dưới sựlãnh đạo của Đảng Cộng sản phong trào kháng Nhật cứu nước nổi lên một cáchmạnh mẽ ở hầu hết Philippin dưới mọi hình thức đấu tranh Với sự kết hợp giữa
giai cấp tư sản dân tộc với các tổ chức yêu nước chống Nhật như “ Philippin tự
do”, “Người thợ săn” v.v… hợp tác với “Quân đội nhân dân đấu tranh chống Nhật” Trong quá trình kháng chiến chống Nhật cứu nước , Quân đội Philippin
Trang 16đã đánh Nhật 1200 trận, loại khỏi vòng chiến đấu 25000 lính Nhật và ngụy quân,giải phóng được một vùng đất rộng lớn taị đảo Lu xông.
Khi cuộc kháng chiến của các lực lượng yêu nước Philippin chống Nhậtsắp kết thúc đã gần đi đến độc lập thì với danh nghĩa quân Đồng minh giải giápNhật của Mỹ tiến vào Philippin Đàn áp các lực lượng yêu nước, kháng chiến củaQuân đội nhân dân kháng Nhật Tuy vậy, trước phong trào đấu tranh của nhândân Philippin, ngày 4-6-1946 Philippin tuyên bố độc lập và thành lập chế độCộng hòa
Ở Inđônêxia: Sau khi quân đội Nhật đổ bộ vào Xumatơra và Giava ngày9-3-1941, thực dân Hà Lan phải đầu hàng và nhường quyền thống trị Inđônêxiacho trùm phát xít Nhật Phong trào chống phát xít Nhật của nhân dân và binh lính
ở đây cũng nhiều lần nổi dậy kháng chiến Ngay sau khi nhật đầu hàng, ngày17-8-1945 đại diện các đảng phái và đoàn thể yêu nước đã soạn thảo và kí vàoTuyên ngôn độc lập thành lập nước Cộng hòa Inđônêxia Ngày 4-9-1945, chínhphủ Inđônêxia được thành lập, đứng đầu là Xucácnô Hiến pháp mới được thôngqua, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử Inđônêxia
Ở Miến Điện : Tháng 8-1942, “Liên minh tự do chống phát xít” được
thành lập Và cùng nhân dân đứng dậy làm bùng nổ phong trào đấu tranh chống
phát xít một cách rầm rộ, dưới sự chỉ đạo của “Liên minh tự do chống phát xít”.
Cùng với chiến tranh du kích chống Nhật, năm 1944 cuộc đấu tranh chống Nhật
ở Miến Điện phát triển thêm một bước,với việc thành lập căn cứ địa cách mạngtại vùng núi Arakan và vùng núi Manđalay, số lượng thành viên của Liên minhlên tới 20 000 người Sau khi quân đồng minh từ Ấn Độ vào Miến Điện lựclượng vũ trang chống Nhật ở Miến Điện liền phối hợp mở cuộc phản công chóngchủ nghĩa phát xít Nhật, và chiếm được thủ đô Rangu Tháng 8-1945, quân nhậtđầu hàng vô điều kiện Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, nhân dânMiến Điện cũng đã bước vào thời kỳ cuối trong cuộc đấu tranh chống Anh, giảiphóng đất nước
Trang 17Ở Mã Lai : Năm 1942, “Liên minh nhân dân Mã Lai” ra đời cùng với các
đơn vị quân đội nhân dân chống Nhật Lúc đầu, giai cấp vô sản chiếm ưu thế hơngiai cấp tư sản trong vai trò đấu tranh, song trong quá trình phát triển cuộc đấutranh giai cấp vô sản tụt lại, bỏ rơi mất ngọn cờ lãnh đạo
Năm 1943, giai cấp tư sản nắm ngọn cờ lãnh đạo trong cuộc chiến đấuchống Nhật Các phong trào đấu tranh sôi nổi hơn khi Quân đội nhân dân khángNhật tiến hành chiến tranh du kích, tấn công trực tiếp vào quân đội Nhật phá hoạigiao thông đường sắt và đến năm 1945, đã làm tê liệt hệ thống giao thông củaNhật khi quân đội Anh tấn công vào
Sau khi quân Nhật đầu hàng, Quân đội nhân dân kháng Nhật của Mã Lai
đã tiến hành giải giáp quân Nhật và “Quân đội quốc gia Ấn Độ” Tháng 9-1945,
hơn 250.000 quân Anh trở lại Mã Lai và thiết lập chế độ ở đây với lý do giải giáptán quân đội nhân dân kháng Nhật Như vậy, tuy nhân Mã Lai đã rất nổ lực trongviệc kháng chiến chống Nhật, nhưng họ đã lỡ mất cơ hội để tuyên bố độc lập, khiquân đội Anh với danh nghĩa Đồng minh trở lại bán đảo Mã Lai Nhân Mã lai lạiphải tiếp tục cuộc đấu tranh chống Anh
Đối với Thái Lan, năm 1941 sau khi quân Nhật xâm nhập vào nước này.Ngày 21-12-1941 chính phủ Thái lan đã ký với Nhật hiệp ước Đồng minh quân
sự song phương và trở thành nước thuộc phe phát xít, chống lại các nước đồngminh Tuy nhiên, ĐảngCộng sản Thái Lan đã đứng ra tổ chức các lực lượngchống Nhật Phát động các tầng lớp nhân dân đứng lên tổ chức chống Nhật, họ đã
lập ra phong trào “Thái tự do” với số người tham gia lên tới 50.000 người Hoạt
động chống Nhật sau đó lien minh với phe Đồng minh để cùng chống Nhật.Thông qua các hoạt động chống Nhật bí mật đó, phe Đồng minh đã chuẩn bị sânbay, đưa vũ khí vào Thái Lan để chuẩn bị tấn công Nhật, nhưng cuộc khángchiến không sảy ra do vào giữa tháng 8-1945 quân Nhật đã đầu hàng nhanhchóng
Trang 18Như vậy , khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc Nhật đã đầu hàng quânĐồng minh, với những điều kiện khách quan thuận lợi đó Đây được xem là “thời
cơ có một không hai” đã tạo ra tình thế mới hết sức thuận lợi cho các nước ởĐông Nam Á như Việt Nam, Lào, Inđônêxia chớp lấy thời đánh đổ phát xít Nhậtgiành độc lập cho dân tộc trước khi quân Đồng minh đổ bộ vào
Bên cạnh đó, ở các nước khác các lực lượng yêu nước và quân đội vũ trang
đã đấu tranh một cách quyết liệt chống lại phát xít Nhật và cũng đã giải phóngđược một phần rộng lớn đất đai trong nước Tuy nhiên thời cơ giành độc lập ởcác nước này đã bị bỏ lỡ, quân Mĩ trở lại Philippin,quân Anh trở lại Miến Điện,
Mã Lai, Xingapo và Brunây… Đặc biệt với tần góc vĩ đại của cuộc cách mạngtháng 8 -1945 và bản tuyên ngôn độc lập ngày 2-9-1945 ở Việt Nam trở thànhmột trường hợp điển hình của phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á Vàtrên thế giới
Với cao trào kháng Nhật cứu nước đã làm cho phong trào đấu tranh củanhân dân Đông Nam Á thêm mạnh mẽ hơn với sự lãnh đạo tài tình của ĐảngCộng sản Thể hiện được tinh thần đoàn kết dân tộc của các nước trong khu vựcĐông Nam Á đã cùng nhau chống lại kẻ thù chung Đến đây, đã khép lại mộtthời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước Đông Nam Á và mở ra mộtthời kỳ mới trong phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc
Trang 19Chương II: Phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ởĐông Nam Á phát triển lên một giai đoạn mới Hai con đường đấu tranh giảiphóng dân tộc được hình thành trước chiến tranh thế giới thứ hai đã thể hiện rõnét trong thực tiễn đấu tranh giải phóng ở hai nhóm nước: Đông Dương và cácnước còn lại của khu vực Đông Nam Á Với sự phát triển cao của phong trào giảiphóng dân tộc ở Đông Nam Á trong những năm cuối của chiến tranh thế giới thứhai phát triển lên cao Ở nhiều nước lực lượng cách mạng đã xây dựng đượcnhững căn cứ vững chắc và giải phóng được nhiều vùng đất rộng lớn, tạo điềukiện bên trong hết sức thuận lợi cho phong trào giải phóng trào giải phóng dântộc phát triển và đi đến giành thắng lợi
Trước làn sóng cách mạng của các nước Đông Nam Á ngày càng lên cao
và phát triển một cách rầm rộ hơn, các nước thực dân không muốn mất đi vùngđất phì nhiêu này, ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ hai sắp kết thúc các nước
“chính quốc” đã tung ra những đội quân tinh nhuệ được trang bị vũ khí tối tân,
hòng đàn áp các cuộc cách mạng và phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam
Á, tái chiếm lại khu vực này
Trên bán đảo Đông Dương, ngay từ tháng 10-1945 thực dân Pháp đã đemquân trở lại xâm lược Việt Nam và Cămpuchia Tháng 3-1946, tấn công sangLào Nhân dân 3 nước Việt Nam, Lào ,Cămpuchia lại tiếp tục cuộc đấu tranhgiành độc lâp dân tộc, chống lại sự xâm lược của chế độ thực dân Pháp và canthiệp của Mĩ Trong cuộc chiến đấu lâu dài và gian khổ đó đã hình thành một liênminh chiến lược vừa mang tính tất yếu vừa mang tính tự nguyện giữa ba nướcĐông Dương, đã làm nên chiến thắng vẽ vang của nhân dân ba nước sau thất bại
ở Điện Biên Phủ năm 1954, thực dân Pháp buộc phải ký hiệp định Giơnevơ công
Trang 20nhận độc lập chủ quyền thống nhất nước nhà, toàn vẹn lãnh thổ của ba nướcĐông Dương Hiệp định cũng quy định tất cả các đơn vị quân đội Pháp phải rútkhỏi lãnh thổ miền Bắc Việt Nam, Lào, Cămpuchia.
Ngay sau khi thực dân Pháp bị đánh bại, đế quốc Mỹ liền tìm mọi cách đểhất cẳng Pháp và phát động cuộc chiến tranh xâm lược, nhằm biến ba nước ĐôngDương thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ Một lần nữa nhândân Việt Nam, Lào, Cămpuchia lại sát cách cùng nhau chiến đấu chống lại kẻ thùchung Thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam năm 1975 đã cổ vũ mạnh mẽ vàtạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân Lào,Cămpuchia tiến lên giành thắng lợihoàn toàn
Ở các nước khác sau khi thực dân quay trở lại xâm lược thì ở Inđônêxiaphong trào chống thực dân Hà Lan càng trở nên rầm rộ hơn Ở Malixia phongtrào chống thực dân Anh… Cuối cùng các phong trào đấu tranh giành độc lập củacác nước Đông Nam Á, cũng đi đên thắng lợi cuối cùng bằng những con đường
và khoảng thời gian khác nhau Đã hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập củamình tùy theo những điều kiện lịch sử cụ thể và tương quan lưc lượng giữa cácgiai cấp xã hội trong từng nước
1 Cách mạng Lào 1945 đến 1975:
Sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, thực dân Pháp liền đem quântrở lại xâm lược Đông Dương Váo tháng 3-1946 quân Pháp tấn công xâm lượcLào Cuộc đấu tranh giành độc lập chống lại sự xâm lược của Pháp và can thiệpcủa Mỹ, cách mạng Lào từ năm 1945 đến 1975 trải qua hai giai đoạn:
a Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1945-1954:
Tháng 8-1945, phát xít Nhật đầu hàng vô điều kiện Ở Việt Nam cáchmạng tháng 8 bùng nổ và đưa lại những thành công rực rỡ Nắm được thời cơ,nhân dân Lào đã vùng dậy giành chính quyền từ tay phát xít Nhật và bọn phongkiến tay sai Ngày 12/10/1945, nhân dân thủ đô Viêng Chăn khởi nghĩa giànhchính quyền Chính phủ Lào ra mắt quốc dân và trịnh trọng thông báo trước thế