Ảnh hưởng của Nho giáo tới các lĩnh vực văn học và giáo dục Việt Nam thời kì phong kiến 1 1.Ảnh hưởng của Nho giáo tới lĩnh vực văn học Việt Nam thời kì phong kiến a.Nho giáo ảnh hưởng t
Trang 1MỤC LỤC:
Trang Lời nói đầu
I Nho giáo và con đường xâm nhập của nó tới Việt Nam 1
II Ảnh hưởng của Nho giáo tới các lĩnh vực văn học và giáo dục
Việt Nam thời kì phong kiến
1
1.Ảnh hưởng của Nho giáo tới lĩnh vực văn học Việt Nam thời
kì phong kiến
a.Nho giáo ảnh hưởng tới đối tượng sáng tác
b Nho giáo ảnh hưởng tới nội dung sáng tác
1
2.Ảnh hưởng của Nho giáo tới lĩnh vực giáo dục Việt Nam thời
kì phong kiến
a.Tư tưởng trọng văn ảnh hưởng tới giáo dục
b Nho giáo ảnh hưởng tới đối tượng được đào tạo, nội dung đào tạo và thi cử
3
LỜI NÓI ĐẦU:
Trang 2Trung Hoa được coi là 1 trong những cái nôi của văn minh nhân loại, một cơ thể sống luôn hừng hực lửa với khát khao trinh phục thế giới Trong suốt thời kì cổ trung đại, con rồng châu Á này đã để lại cho hậu thế biết bao viên ngọc quý : những phát minh vĩ đại, những kiến trúc kì vĩ mang tầm nhân loại, những tác phẩm nghệ thuật đồ sộ, đặc sắc… Trong số đó, có thể khẳng định rực rỡ và nở rộ hơn cả
là thành tựu về mặt tư tưởng mang tên: Nho giáo Những triết lý của tư tưởng này mang tính nhân bản cao, ít quan tâm đến vấn đề tôn giáo, bởi thế, nó có tầm ảnh hưởng và sức lan tỏa mạnh mẽ tới bản thân nền văn minh Trung Quốc và với các quốc gia hướng nho trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam Cuối thế kỷ XIV, Nho giáo giành được ưu thế so với Phật giáo, chi phối mọi mặt đời sống xã hội Để có những am hiểu sâu sắc, có thể nhìn nhận, đánh giá ảnh hưởng của Nho giáo đối với
sự phát triển của Nhà nước ta thì tùy theo thời cuộc, tùy theo quan điểm mà đã thay đổi qua các giai đoạn lịch sử có cách nhận xét riêng Trên cơ sở nhận thức rõ sức lan tỏa cũng như tác động của Nho giáo đến nước ta, nhóm chúng em xin đi sâu
vào phân tích và nghiên cứu đề bài: “Ảnh hưởng của Nho giáo đến văn học và
giáo dục ở Việt Nam thời kỳ phong kiến.Trong quá trình tìm hiểu kiến thức nhằm
phục vụ cho việc hoàn thành bài tập, do khả năng có hạn nên chúng em làm bài tập còn rất nhiều hạn chế, thiếu sót mong các thầy cô xem xét, giúp đỡ chỉ bảo để bài tập ngày càng hoàn thiện hơn nữa Cảm ơn các thầy cô rất nhiều!
I.Nho giáo và con đường xâm nhập của nó tới Việt Nam.
Trang 3Nho giáo có nguồn gốc từ rất sớm,người đặt nền móng - vị tổ sư của nho giáo là Khổng Tử.Vì vậy,Nho giáo còn được gọi là Khổng giáo.Nho giáo là hệ thống các giáo lý của các nhà nho nhằm mục đích tổ chức xã hội có hiệu quả.Hay nói cách khác, thực chất Nho giáo là một học thuyết chính trị nhằm tổ chức và duy trì trật tự
xã hội Từ thời kì Hán Vũ đế, nó đã trở thành tư tưởng pháp lý chính thống của Trung Quốc và ảnh hưởng mạnh mẽ tới sự phát triển và thành tựu của 1 loạt các lĩnh vực khác nhau Nho giáo được du nhập vào Việt Nam từ khi nước ta bị xâm lược và sáp nhập vào Trung Quốc từ đời Hán (206TCN đến 220SCN) Tuy nhiên,
vì là thứ văn hóa của quân xâm lược áp đặt nên hầu như nó không “có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam” Tới năm 1070, Lý Thánh Tông lập Văn Miếu thờ Khổng
Tử , Chu Công, nó mới được coi là chính thức bắt đầu được tiếp nhận Suốt nhiều thế kỉ, nho giáo âm thầm vươn mình và tới thời Lê Sơ, tư tưởng này đã trở thành độc tôn, suy tàn vào thời Lê Mạt
II Ảnh hưởng của nho giáo tới các lĩnh vực Văn học và giáo dục của Việt Nam thời kì phong kiến.
1.Ảnh hưởng của nho giáo tới lĩnh vực Văn học nước ta thời phong kiến mạnh
mẽ trên nhiều phương diện.
Nếu văn học dân gian do nhân dân lao động sáng tạo và phát triển mạnh mẽ với phương thức truyền miệng và mang đậm phong cách thuần Việt, đa số không tiếp thu hình thức , chữ viết và tư tưởng Nho giáo văn học viết( TK X-TK XVIII) viết chủ yếu được viết bằng chữ Hán Chẳng hạn như :Côn sơn ca của Nguyễn Trãi, Bạch Vân am thi tập - ( Nguyễn Bỉnh Khiêm)…mà chữ Hán được coi là chữ của Nho giáo nên có thê nói ảnh hưởng của nó tới văn học ngày càng lớn
a.Nho giáo ảnh hưởng tới đối tượng sáng tác :
Trang 4Nho giáo với tư tưởng“ trọng nam khinh nữ”, người phụ nữ phải“ tam tòng tứ đức”
đã thổi vào đời sống xã hội của nước ta một không khí mang nặng hệ tư tưởng bất bình đẳng, nó ảnh hưởng rõ nét nhất tới đối tượng sáng tác Bởi vậy, hầu hết các nhà thi sĩ, văn sĩ có tài đều là nam nhân Trong thời kì đầu tiên của văn học viết,đối tượng sáng tác chủ yếu là quý tộc quan lại như : vua Lý Công Uẩn ( Thiên Đô Chiếu),Trần Quốc Tuấn ( Hịch Tướng Sĩ) Thời gian sau đó việc học tập mở rộng nên có thêm nhiều các nho gia, ẩn sĩ: Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi …Mãi tới sau này, tới đầu TK XVIII, 1 số nhà thơ nữ mới bắt đầu xuất hiện, điển hình là: Hồ Xuân Hương(1772-1822) và Bà huyện Thanh Quan( 1805-1848)…
b,Nho giáo ảnh hưởng tới nội dung của các tác phẩm văn học.
Trước hết, ta nhận thấy các tác phẩm văn học Việt Nam ảnh hưởng rất nhiều bởi
Tứ Thư- Ngũ Kinh, học tập rất nhiều điển tích, điển cố… để làm phong phú và sâu sắc hơn cho nội dung , ý nghĩa của tác phẩm Ví dụ như Chiếu dời đô của Lý Công
Uẩn: “Xưa nhà Thương đến đời Bàn Canh năm lần dời đô, nhà Chu đến đời Thành Vương ba lần dời đô…”hay truyện Kiều Nguyễn Du đã sử dụng điển cố “quả mai
ba bảy” lấy ý từ Kinh Thi trong câu thơ: “Quả mai ba bảy đương vừa-Đào non sớm liệu xe tơ kịp thời” để chỉ việc làm đám cưới nên vợ nên chồng
Không chỉ vậy, văn học còn tiếp thu và đề cao chữ “ Nhân” trong Nho giáo, biến
nó thành một trong những đề tài sáng tác chủ đạo trong thi ca, tiểu thuyết, truyện… Nhân tức là tình người, là chữ hiếu, là tình yêu thủy chung son sắc: ta đã từng say
mê chữ “hiếu”của một Thúy Kiều bán mình chuộc cha , 1 Kim Trọng sắc son lời thể trong thi phẩm “ Truyện Kiều” hay một tấm lòng đồng cảm với nàng Tiểu Thanh trong Độc Tiểu Thanh Kí của Nguyễn Du và thổn thức cho nàng Vũ Nương
bi kịch trong Truyền Kì Mạn Lục của Nguyễn Dữ “Nhân” cũng có nghĩa là nhân
Trang 5dân, là con người, Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại cáo đã từng đề cao chữ nhân trong đạo trị nước: “ Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”
Tiếp theo, văn học trung đại còn thể hiện sự bất bình đẳng mà nho giáo đã khẳng định:“ trọng nam khinh nữ”, thân phận người phụ nữ trong xã hội xưa bi coi rẻ, như cánh bèo lênh đênh sóng nước : nhân vật Thị Kính( vở Chèo Quan Âm Thị Kính); Bánh trôi nước( Hồ Xuân Hương) Đồng thời tư tưởng “phản dân chủ” của nho giáo đã ảnh hưởng tới văn thơ Việt Nam trung đại, chỉ đề cao cái “ta” mà gần như triệt để bỏ đi cái “ tôi” của bản thân
Trong văn chương, các hình tượng nhân vật trung tâm còn chịu ảnh hưởng rõ nét của nho giáo với những quan niệm về đạo đức- lễ nghĩa Là người đàn ông phải là người quân tử, có tài như Kim Trọng, có trí lớn, có sự nghiệp như Từ Hải, Là người phụ nữ phải giữ lễ nghĩa, phải biết tam tòng tứ đức ví dụ: Thị Kính, Vũ Nương, Thúy Kiều do10 năm lưu lạc, thấy mình không còn xứng đáng với tình yêu của chàng Kim Ngoài ra, 1 số tư tưởng khác như “ nam nữ thụ thụ bất thân”, trung quân”, trọng văn… của nho giáo cũng ảnh hưởng đến nội dung văn học thời kì này
2 Ảnh hưởng của nho giáo tới các lĩnh vực giáo dục của Việt Nam thời kì
phong kiến.
Cũng giống như văn học, giáo dục Việt Nam thời phong kiến sớm chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo Trung Quốc Tuy thể chế giáo dục Nho học có sự thay đổi khác nhau cho phù hợp với từng triều đại song về cơ bản, cách thức đào tạo khoa cử để lựa chọn người tài dựa trên nền tảng tư tưởng nho giáo
a.Tư tưởng “ trọng văn” ảnh hưởng tới giáo dục:Do ảnh hưởng của tư tưởng
trọng văn, tức trọng kẻ sĩ của nho giáo nên ở Việt Nam có thứ bậc xếp hạng: “ Sĩ, nông, công, thương” Cũng vì lý do này, ở nước ta không chú trọng mở các
Trang 6trường,các khoa thi võ mà chủ yếu là ham học chữ và thi văn, người ta quan niệm:“ Một kho vàng không bằng 1 nang chữ” Tư tưởng nho giáo khiến người ta coi nó là công cụ văn hóa, là đòn xoay để người ta vực số phận, làm lên nghiệp lớn
b.Nho giáo ảnh hưởng tới đối tượng đào tạo, nội dung giáo duc và thi cử.
Đối tượng được đào tạo:Cũng như văn học, giáo dục cũng phải chịu ảnh hưởng
sâu sắc bởi tư tưởng trọng nam khinh nữ và việc phân chia cấp bậc, lễ nghĩa và tư
tưởng thần quyền nên phần lớn là con quan lại quý tộc giáo dục Việt Nam (thời Lý:việc học chữ hán trở thành một yêu cầu tất yếu tháng 9/1070 vua Lí Thánh Tông dựng nhà Khổng Miếu để thái tử học Sáu năm sau, Lý Nhân Tông cho lập Quốc Tử Giám Tuy nhiên, ở thời kì này, chỉ có các thái tử, con em hoàng thân quốc thích được đi học) Ngoài ra còn có một hạn chế lớn là chỉ cho phép nam giới
đến trường học, do ảnh hưởng nặng nề bởi tư tưởng trọng nam khinh nữ của Nho
giáo( Tới thời Trần đối tượng giáo dục được mở rộng, ngoài con em quan lại học ở Quốc Tử Giám, ở các địa phương, con em bình dân cũng được đến học ở các viên học quan Tuy nhiên nữ giới thì tuyệt đối không được phép.) Điều này đã gây ra sự
bất bình đẳng lớn trong xã hội, kìm hãm sự phát triển của giới nữ và dẫn đến nhiều
hệ lụy khác Và cho dến tận ngày nay, sự ảnh hưởng này tuy đã có những chuyển biến nhất định nhưng vẫn còn rất nặng nề và dai dẳng Những điểm hạn chế đó phản ánh mặt bảo thủ, tiêu cực của Nho giáo nước ta thời bấy giờ
Nội dung đào tạo và thi cử: Nước ta học chữ hán của thánh hiền đồng thời chú
trọng giáo dục đạo đức, đào tạo ra những con người sống theo lí tưởng Nho giáo, tư tưởng làm người, được gói gọn trong 4 chữ: Tu, Tề, Trị, Bình…, dạy ta trở thành người quan tử Thời Lý giáo dục chưa được coi trọng nhưng tới thời Trần, Trần Thái Tông cho lập Quốc Học Viện, Tứ Thư, Ngũ Kinh là những sách giáo khoa
Trang 7kinh điển của Nho học được sử dụng để giảng dạy Đến thời Lê Sơ, các tác phẩm kinh sách của Nho giáo được đem ra giảng dạy nhiều hơn, trong đó không thể không kể đến: Tứ thư, Ngũ kinh, Hiếu kinh, Minh tâm bảo giám hay Tam tự kinh, đặc biệt là Ấu học ngũ ngôn thi cùng các sách nhất tự, tam thiên tự và sơ học vấn tâm để dạy văn hóa cho lứa tuổi ấu sinh thuở xưa.Tuy nhiên, nội dung nền giáo dục Nho học thời này lại “ thiên lệch” không đề cập đến các phương diện khoa học, kinh tế, nghề nghiệp, tức không hướng vào phương diện kĩ nghệ và kinh tế Bởi thế
mà không thúc đẩy sự phát triển của các ngành khoa học tự nhiên
Chính vì vậy mà bắt đầu từ thời kì nhà Trần(1232) khoa thi đầu tiên mở ra, nội dung thi cử chủ yếu xoay quanh các kiến thức về nho giáo, lấy nó làm nền tảng, làm công cụ lựa chọn nhân tài Tới thời Lê Sơ, đặc biệt dưới triều vua Lê Thánh Tông, quy chế thi cử cơ bản được hoàn thiện, bao gồm ba kì thi chính là thi hương, thi hội và thi đình, nho giáo đã khẳng định được ảnh hưởng của nó tới đỉnh cao
III Đánh giá:Một lần nữa có thể khẳng định lại, trong gần 2000 năm phát triển,
Nho giáo ảnh hưởng tới rất nhiều phương diện làm sâu sắc thêm tầng văn hóa đời sống nước ta nhưng nó vẫn “ khúc xạ”, vẫn mang những nét rất Việt Nam Đặc biệt, nó vẫn in hằn dấu tích và hình ảnh trong văn chương và giáo dục nước ta một cách sâu sắc Sở dĩ sức ảnh hưởng của nó mạnh mẽ đến vậy là do hơn 1000 năm Bắc thuộc, Nho giáo đã dần bén rễ vào tư tưởng Việt Đồng thời cũng là nhu cầu có một tôn giáo, hệ tư tưởng chính thống làm bệ đỡ thống nhất quốc gia , xây dựng bộ máy nhà nước, quản lý chính quyền và nhu cầu tìm kiếm nhân tài phục vụ trung thành của giai cấp thống trị đòi hỏi các bậc vua chúa chọn Nho giáo là hệ tư tưởng chính thống
V
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 81 Trần Ngọc Thêm(1999) -Nho giáo và văn hóa Việt Nam- Cơ sở Văn hóa Việt
Nam, NXB Giáo dục( Tr.256-271)
2 Trần Đình Hựu-Nho giáo, ảnh hưởng của nó Vấn đề ngày xưa và ngày nay
ở nước
ta,http://nguyenducmau.blogspot.com/2011/11/nho-giao-anh-huong-cua-no-van-e-ngay.html(20.11.2011)
3 Hình ảnh về nho giáo-https://www.google.com.vn/search?q=nho+gi
%C3%A1o&hl=vi&noj=1&tbm=isch&tbo=u&source=univ&sa=X&ei=gN9 FUeXBMcmZiQes_oD4BA&ved=0CEkQsAQ&biw=1024&bih=643#imgrc
=CONjC3C4wGDaMM%3A%3Bm_Mxs8vWXKU8MM%3Bhttp%253A
%252F%252F4.bp.blogspot.com%252F_YweZEYcp_cw
%252FTSLGIm7wDbI%252FAAAAAAAABMA%252Fzegf5Y2AScM
%252Fs1600%252FKhongTu01.jpg%3Bhttp%253A%252F
%252Fbshohai.blogspot.com%252F2011%252F01%252Fnho-giao-va-cuoc-song.html%3B601%3B410
4 PGS.TS Bùi Xuân Đính-Giáo dục và khoa cử Nho học Thăng Long - Hà Nội,
NXB Hà Nội, 2010
5 PGS.TS Đinh Khắc Thuân –Giáo dục và khoa cử thời Lê ở Việt Nam qua tài
liệu Hán, NXB Khoa học Hà Nội ,2009
6 Đại Doãn Phan- Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia,1998
Trang 9V, PHỤ LỤC
1
Khổng Tử và các môn đồ Tiểu sử của Khổng Tử
Khổng Tử tên thật là Khổng Khâu, tự là Trọng Ni 仲尼, sinh ngày 27 tháng 8 năm
551 trước Công nguyên, vào thời Xuân Thu (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc) Năm lên ba, Khâu mồ côi cha, lớn lên, phải làm lụng vất vả
để nuôi mẹ, nhưng rất ham học Năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học Học trò gọi ông
là Khổng Phu Tử 孔夫子, hay gọi gọn hơn là Khổng Tử 孔子 'Tử' ngoài ý nghĩa là Tử'Tử' ngoài ý nghĩa là ngoài ý nghĩa là 'Tử' ngoài ý nghĩa là con'Tử' ngoài ý nghĩa là ra còn có nghĩa là "Thầy" Do vậy Khổng Tử 孔子 là Thầy Khổng.Trong suốt
gần 20 năm Từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn học trò đi khắp các nước trong vùng
để truyền bá các tư tưởng và tìm người dùng các tư tưởng đó
Trang 10Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách, sáng lập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ, đưa giáo dục mở rộng cho bình dân, đem tri thức văn hóa truyền bá cho dân gian, có cống hiến thật to lớn đối với giáo dục thời cổ đại Ông mất tháng 4 năm 479 TCN, thọ 73 tuổi
2
Nho giáo và chữ của nho gia: chữ Hán
Trang 11Nho sĩ thời Nguyễn
Trang 12Hình ảnh minh họa Mạnh Tử
Tiểu sử: Mạnh Tử (chữ Hán : 孟子; bính âm: Mèng Zǐ ; 372–289 trước công nguyên ; có một số tài liệu khác ghi là: 385–303 hoặc 302 TCN) là nhà triết học Trung Quốc và là người tiếp nối Khổng Tử
Mạnh Tử, tên là Mạnh Kha, tự là Tử Dư, sinh
vào đời vua Liệt Vương, nhà Chu , quê gốc ở đất Trâu, thuộc nước Lỗ, nay là thành phố
Trâu Thành , tỉnh Sơn Đông , Trung Quốc Ông
mồ côi cha, chịu sự nuôi dạy nghiêm túc của
mẹ là Chương thị (người đàn bà họ Chương) Mạnh Tử là đại biểu xuất sắc của Nho giáo thời chiến quốc, thời kỳ nở rộ các nhà tư tưởng lớn với các trường phái như Pháp gia, Du thuyết, Nho gia, Mặc gia (thời kỳ bách gia tranh minh)và cũng là thời kỳ mà các tập đoàn phong kiến tranh giành, xâu xé lẫn nhau gây ra các cuộc chiến tranh liên miên, dân tình vô cùng khổ sở Tư tưởng của Mạnh Tử phát triển thêm tư tưởng của Khổng Tử nhưng ông không tuyệt đối hóa vai trò của ông vua như
Khổng Tử, ông chủ trương dân vi quý, xã tắc
thứ chi, quân vi khinh, ông cũng là người đưa
ra thuyết tính thiện của con người rằng con
người sinh ra đã là thiện rồi nhân chi sơ bản
tính thiện, tư tưởng này đối lập với thuyết tính
ác của Tuân Tử rằng nhân chi sơ bản tính ác
Ông cho rằng "kẻ lao tâm trị người còn người lao lực thì bị người trị" Học thuyết của ông gói gọi trong các chữ "Nghĩa", "Trí", "Lễ",
"Tín" Ông đem học thuyết của mình đi truyền
bá đến vua chúa các nước chư hầu như Tề Tuyên Vương (nước Tề), Đằng Văn Công (nước Đằng), Lương Huệ Vương (nước Nguỵ) nhưng không được áp dụng Về cuối đời ông dạy học và viết sách, sách Mạnh Tử của ông là một trong những cuốn sách quan trọng của Nho giáo Ông được xem là ông tổ thứ hai của nho giáo và được hậu thế tôn làm
"Á thánh Mạnh Tử" (chỉ đứng sau Khổng Tử).