Tây Bắc là vùng núi và trung du, diện tích rừng chiếm 17.3% so với diện tíchrừng cả nước.Việc đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc đúng hướng sẽ làmgia tăng lợi ích kinh tế cho vùng
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Đầu tư là một hoạt động cơ bản và thiết yếu tồn tại trong mỗi lĩnh vực, mỗiquốc gia Đầu tư phát triển là hoạt động mang tính lâu dài Đầu tư hiệu quả sẽ xâydựng được một nền kinh tế ổn định có tốc độ tăng trưởng nhanh, cơ sở hạ tầng hiệnđại, cơ sở pháp lý hiện đại
Rừng là tài nguyên quý giá của mỗi quốc gia, là tài sản quí báu vào bậc nhất
mà thiên nhiên ban tặng cho con người Rừng có vai trò quan trọng trong việc cungcấp lâm - đặc sản rừng phục vụ cho các nhu cầu của xã hội.Rừng là lá phổi xanh củaloài người giúp điều hòa khí hậu, bảo vệ sự sống; là nơi nghỉ ngơi, an dưỡng; làđiểm tham quan du lịch của mọi người Đây là nơi cư trú của hàng ngàn loài độngthực vật rừng và hàng triệu người Việt khác nhau trong 54 dân tộc
Rừng đem lại nhiều lợi ích như thế nên đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp là một
xu thế tất yếu ngoài khai thác những thế mạnh vùng để phát triển kinh tế nó còngiúp cân bằng môi trường sinh thái, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hộibền vững
Tây Bắc là vùng núi và trung du, diện tích rừng chiếm 17.3% so với diện tíchrừng cả nước.Việc đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc đúng hướng sẽ làmgia tăng lợi ích kinh tế cho vùng, giải quyết việc làm cho lao động, tăng thu nhậpcho người dân góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng Côngnghiệp hóa, Hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn
Đây là lý do em chọn đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ĐẦU TƯPHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP CỦA VÙNG TÂY BẮC ĐẾN NĂM 2015” làm đề
án môn học của mình
2 Mục tiêu nghiên cứu
Hiểu được tầm quan trọng của đầu tư và đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc
Trang 2Đánh giá tình hình thực tiễn Tây Bắc tác động đến quá trình phát triển lâm nghiệpĐánh giá tác động sự quản lý và chính sách của nhà nước của nhà nước tới sựphát triển lâm nghiệp.
Các giải pháp phát triển lâm nghiệp Tây Bắc trong giai đoạn 2011-2015
3 Kết cấu nội dung đề án
Chương 1: Cơ sở lý luận về đầu tư và đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc Chương 2: Thực trạng đầu tư phát triển lâm nghiệp cùng Tây Bắc giai đoạn
2005-2010
Chương 3: Một số giải pháp phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc
Kết luận và kiến nghị
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thống kê và phân tích vấn đề
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Trong quá trình nghiên cứu, làm đề án dựa trên kiến thức của môn học chuyênngành Kinh Tế Lâm Nghiệp và các môn học khác cùng với sự hướng dẫn chỉ bảotận tình của Thầy Hoàng Mạnh Hùng đã giúp em hoàn thành chuyên đề này Nhưngđầu tư phát triển lâm nghiệp là vấn đề mang tầm vĩ mô, cần sự định hướng của nhànước Hơn nữa kiến thức thực tế còn có hạn nên trong quá trình làm đề án không thểtránh khỏi những thiếu xót Rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy Cô
Trang 3CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ VÀ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP VÙNG TÂY BẮC
1 Cơ sở lý luận chung về đầu tư phát triển
1.1 Khái niệm đầu tư
Đầu tư (Investment) được hiểu là quá trình sử dụng nguồn lực (đất, vốn, laođộng, công nghệ…) nhằm đạt được mục đích của các đối tượng liên quan, là sự hysinh tiêu dùng hiện tại để phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai Có rất nhiềukhái niệm về đầu tư và được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau:
- Dưới góc độ tài chính thì đầu tư là một chuỗi hoạt động chi tiêu để chủ đầu
tư nhận về một chuỗi các dòng thu
- Dưới góc độ tiêu dùng thì đầu tư là sự hy sinh tiêu dùng hiện tại để thuđược mức tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai
- Theo quan điểm của doanh nghiệp: “đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanhvới mục tiêu thu được số vốn lớn hơn số vốn đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận”
- Theo quan điểm của nhà nước: “ đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để
từ đó thu được các hiệu quả kinh tế xã hội vì mục tiêu phát triển Quốc gia”
Quan điểm chung nhất: Đầu tư là việc bỏ vốn hoặc chi dùng vốn cùng cácnguồn lực khác ở hiện tại để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm thu về
các kết quả có lợi trong tương lai
Trên thực tế tùy theo mục tiêu đầu tư, theo nguồn vốn, theo vùng lãnh thổ, chủđầu tư, cấp quản lý dự án, nội dung kinh tế mà đầu tư được phân thành nhiều loạikhác nhau
1.2 Đầu tư phát triển và đặc điểm của đầu tư phát triển
Đầu tư phát triển là một bộ phận của đầu tư, là quá trình phối hợp các nguồn
lực nhằm tạo ra các năng lực sản xuất mới phục vụ về số lượng cũng như chất lượng
Trang 4của nền kinh tế Đầu tư phát triển là hình thức trực tiếp tạo ra cơ sở vật chất cho nềnkinh tế và cho các cơ sở sản xuất kinh doanh
Đặc điểm của đầu tư phát triển:
Nguồn lực huy động cho đầu tư phát triển thường rất lớn va nằm ứ đọng trongsuốt quá trình thực hiện đầu tư
Đầu tư phát triển là hoạt động mang tính chất lâu dài biểu hiện:
Thời kỳ thực hiện đầu tư
Thời kỳ vận hành kết quả đầu tư
Kết quả và hiệu quả của hoạt động đầu tư phát triển chịu ảnh hưởng của cácyếu tố không ổn định theo thời gian của tự nhiên, các điều kiện kinh tế xã hội
Thành quả của hoạt động đầu tư phát triển chịu ảnh hưởng hưởng của cac điềukiện địa hình, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, phong tục tập quán ở nơi được tạodựng và khai thác
Thành quả cuả đầu tư phát triển có giá trị sử dụng lâu dài
1.3 Vai trò của đầu tư trong nền kinh tế quốc dân
Đầu tư có rất nhiều vai trò, nhưng ở khía cạnh đề tài chỉ xét những vai trò sau:
1 3.1 Đầu tư tác động đến tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế:
Muốn giữ tốc độ tăng trưởng ở mức trung bình thì tỷ lệ đầu tư phải đạt từ 20% so với GDP tuỳ thuộc vào ICOR của mỗi nước:
15-Ở các nước phát triển, ICOR thường lớn từ 5- 7 15-Ở các nước chậm phát triểnICOR thấp từ2- 3 Đối với các nước đang phát triển, phát triển về bản chất được coi
là vấn đề đảm bảo các nguồn vốn đầu tư đủ để đạt được một tỉ lệ tăng thêmsảnphẩm quốc dân dự kiến
1.3.2 Đầu tư và sự chuyển dịch cơ cấu
Trang 5tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãng thổ,đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đanhững lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị…của những vùng cókhả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng pháttriển.
2 Lý luận chung về đầu tư phát triển lâm nghiệp
2.1 Khái niệm về lâm nghiệp và đầu tư trong lâm nghiệp
Khái niệm lâm nghiệp:
‘ Lâm ’ là rừng, ‘ nghiệp ’ là nghề Lâm nghiệp hiểu theo nghĩa chung nhất lànghề rừng Hiện nay Việt Nam và các Quốc gia trên thế giới có những quan điểmkhác nhau về lâm nghiệp:
Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất trong nền kinh tế quốc dân cónhiệm vụ trồng cây gây rừng, chăm sóc , nuôi dưỡng, bảo vệ rừng, nhằm cung cấplâm sản , phòng hộ và bảo vệ môi trường sống
Lâm nghiệp là một ngành sản xuất vật chất độc lập của nền kinh tế quốc dân
có nhiệm vụ trồng cây gây rừng, chăm sóc, nuôi dưỡng, bảo vệ rừng, khai thác vàvận chuyển lâm sản rừng
Quan điểm chung nhất: Lâm nghiệp là ngành sản xuất vật chất độc lập của nềnkinh tế quốc dân có nhiệm vụ trồng cây, gây rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng; khaithác,vận chuyển, chế biến các sản phẩm từ rừng đồng thời duy trì tác dụng phòng
hộ nhiều mặt của rừng
Khái niệm đầu tư trong lâm nghiệp:
Đầu tư trong lâm nghiệp là hoạt động tổng hợp có nhiệm vụ sử dụng tiền vốn
và các nguồn tài nguyên khác, không ngoài khái niệm đầu tư nói chung nhưngkhi triển khai sử dụng tiền vốn và các nguồn tài nguyên đất đai, tài nguyên rừngtrong một thời gian tương đối dài nhằm bảo tồn gen và đa dạng sinh học, đem lại
Trang 6những lợi ích kinh tế, nguồn nước, môi trường, góp phần phát triển kinh tế -xã hội
Rừng là quẩn thể sinh vật rất phong phú và phức tạp.Đó là những cơ thể sống
có quy luật sinh trưởng và phát triển khác nhau Có những loài cây rừng có chu kisinh trưởng kéo dài mấy chục năm, có khi hàng trăm năm: Pơ mu, Gụ, Trám,Thông, Xưa, Táu Hoạt động sản xuất lâm nghiệp chủ yếu là hoạt động tác động đếnrừng nên chu kì sản xuất của nó tương ứng như cây lâu năm của sản xuất nôngnghiệp
2.2.1.2 Sản xuất lâm nghiệp có tính thới vụ
Thời vụ là đặc điểm chung của của các ngành sản xuất sinh học, đặc biệt làngành trồng trọt Bởi lẽ:
Cùng một loại cây trồng nhưng ở vùng có điều kiện thời tiết khác nhau thì cómùa vụ và thời vụ sản xuất khác nhau do ngoài chịu sự tác động của quy luật sinhtrưởng riêng chúng còn chịu những tác động từ ngoại cảnh: nắng, mưa, bão, sươngmuối
Ở mỗi loài cây trồng, vật nuôi ở mỗi giai đoạn sinh trưởng và phát triển cần sựtác động khác nhau của con người Cho nên có giai đoạn đòi hỏi lao động căngthẳng và liên tục; có giai đoạn ít căng thẳng và cần ít lao động; thận chí không cầnlao động
2.2.1.3 Sản xuất nông nghiệp vừa có tính chất nông nghiệp vừa có tính công nghiệp
Trang 7Hầu hết các sản phẩm nông nghiệp muốn sử dụng trong đời sống đều phải quakhâu khai thác, vận chuyển và chế biến Đó là những hoạt động có tính côngnghiệp Do đặc trưng của rừng là trồng ở khu vực đồi núi, địa hình phức tạp cho nênhoạt động khai thác cần phải trang bị những máy móc, phương tiện hiện đại mới cóthể thực hiện được Không như các sản phẩm rau quả thông thường chỉ cần thuhoạch về và sơ chế qua là có thể sử dụng ngay được mà các sản phẩm lâm nghiệpđòi hỏi có công đoạn chế biến nhất định mới thành sản phẩm sử dụng được.
2.2.1.4 Sản xuất lâm nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ giữa tái sinh rừng và khai thácrừng
Nhu cầu các sản phẩm từ rừng của dân cư ngày càng cao và đa dạng trong khicác cây rừng phải qua một thời gian dài mới có thể thu hoạch được Trong khi đóquá trình sinh trưởng dài, sẽ chịu ảnh hưởng nhiều hơn các điều kiên tự nhiên bấtlợi Do đó để bảo vệ diện tích rừng không bị suy giảm cần phải khai thác rừng hợp
lý đi đôi với việc tái tạo và bảo vệ rừng
2.2.1.5 Sản xuất nông nghiệp tiến hành trên địa bàn rộng lớn, ở vùng có điều kiện tựnhiên, kinh tế, xã hội khó khăn
Địa hình sản xuất lâm nghiệp chủ yếu là đất dốc, đất thuần cát hoặc đất ngậpmặn Với địa hình đó, các cơ sở hạ tầng kinh tế hết sức thấp kém vì việc xây dựng
cơ sở hạ tầng ở những khu vực đó là khó khăn và tốn kém
Về mặt xã hội, do điều kiện về cơ sở hạ tầng thấp kém nên điều kiện phát triểnkinh tế cũng hạn chế Điều đó kéo theo cùng với sự lạc hậu, khó đi lại để tiếp xúcmọi cộng đồng với nhau và các tập quán như du canh, du cư sẽ làm ảnh hưởngkhông nhỏ cho sản xuất lâm nghiệp
2.2.2 Đặc điểm riêng sản xuất lâm nghiệp ở Việt Nam
Ngoài đặc điểm chung như sản xuất nông nghiệp thì sản xuất lâm nghiệp ởnước ta có những đặc điểm đặc thù:
Trang 8Sản xuất lâm nghiệp nước ta trong điều kiện sản xuất nhỏ, cơ sở hạ tầng thấpnên gặp rất nhiều khó khăn, với hội nhập kinh tế quốc tế nên các dự án kinh doanhsản xuất đầu tư vào lâm nghiệp còn hạn chế do thời gian thu hồi vốn chậm.
Sản xuất lâm nghiệp trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm, có chế độ gió mùa
rõ rệt có những thuận lợi và không ít khó khăn
Sản xuất lâm nghiệp nước ta trong điều kiện ¾ là đồi núi và phân bố ở nhữngvùng khó khăn Trong khi nguồn lao động lâm nghiệp phân bố rải rác và không đềugiữa các vùng
Do đó việc chú trọng đầu tư vốn, phân bổ nguồn lực hợp lý là cần thiết để lâmnghiệp Việt Nam ngày càng phát triển
3 Phân loại đầu tư trong lâm nghiệp
3.1 Theo mục đích đầu tư
- Đầu tư lâm sinh, hiện tại áp dụng cho các dự án trồng mới 5 triệu ha rừng,
hiện tại áp dụng cho các dự án thuộc rừng đặc dụng sử dụng nguồn ODA
- Đầu tư nghiên cứu khoa học (bao gồm cả giống cây lâm nghiệp)
- Đầu tư khuyến lâm
Trang 93.2 Theo nguồn vốn
- Dự án đầu tư từ nguồn ngân sách
- Dự án đầu tư từ nguồn ODA
- Dự án đầu tư từ nguồn FDI (đầu tư trực tiếp nước ngoài)
- Dự án đầu tư từ nguồn khác: vốn do doanh nghiệp tự tạo, vốn huy động cổphần, vốn
do tổ chức phi chính phủ hoặc cá nhân nước ngoài
4 Lý luận về đầu tư phát triển lâm nghiệp
4.1 Khái niệm và hoạt động đầu tư phát triển lâm nghiệp
4.1.1 Khái niệm
Dựa trên khái niệm về lâm nghiệp và đầu tư phát triển lâm nghiệp ta hiểu đầu
tư phát triển lâm nghiệp như sau:
Đầu tư phát triển lâm nghiệp là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại :vốn, lao động, đất, tài nguyên thiên nhiên và các tài sản vật chất khác để tạo và bảo
vệ rừng để thu được các lợi ích lớn hơn trong tương lai
Hiện nay ở nước ta đầu tư cho lĩnh vực nông, lâm nghiệp, thủy sản còn rất ítchỉ chiếm 6.15% tổng số vốn đầu tư Do đó cần đẩy mạnh đầu tư để lâm nghiệpphát huy tính hiệu quả của nó
4.1.2 Hoạt động đầu tư phát triển lâm nghiệp
- Trồng rừng: Là giải pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng trên đất trống trống vàđất có rừng nhằm xây dựng rừng nhân tạo, để đáp ứng tốt nhất mục tiêu cụ thể Đây
là khâu cần lượng vốn đầu tư lớn, công chăm sóc nhiều, bảo vệ rừng từ sau khi rừngkhép tán đến khi rừng đủ tuổi khai thác
- Nuôi dưỡng rừng: Là biện pháp rất quan trọng, từ khi rừng là cây non chođến trước tuổi khai thác chính, từ 4- 5 năm đối với rừng kinh doanh gỗ nhỏ và 8-12năm đối với rừng kinh doanh gỗ lớn
Trang 10- Khoanh nuôi: Là phương thức tái sinh rừng, giữa tái sinh tự nhiên và tái sinhnhân tạo Trên cơ sở tận dụng năng lực gieo giống của rừng có sẵn kết hợp với tácđộng tích cực của con người tạo điệu kiện cho hạt giống sinh trưởng và phát triểntốt.
Ngoài ra phải quan tâm đến các vấn đề: đầu tư vốn, xây dựng chế độ quản lývốn, cấp phát vốn, khoa học công nghệ, các giống cây con để hoạt động đầu tư, pháttriển lâm nghiệp đạt hiệu quả cao
4.2 Đặc điểm đầu tư trong lâm nghiệp
Đặc điểm đầu tư phát triển lâm nghiệp gắn liền với đặc điểm của sản xuất lâmnghiệp
- Mức đầu tư lớn và kéo dài, thời gian thu hồi vốn chậm, khả năng sinh lợithấp:
Xuất phát từ đặc điểm chu kì của sản xuất lâm nghiệp dài đối tượng lại là
cơ thể sống nên quá trình thu hồi vốn đầu tư phụ thuộc vào quá trình sinh trưởng vàphát triển của các tập đoàn cây rừng Bên cạnh đó việc đầu tư ban đầu là rất tốnkém, chi phí cây con, người chăm sóc và bảo vệ là không nhỏ mà sau vài hay vàichục năm mới thu hồi vốn được Quá trình đầu tư gặp nhiều rủi ro do chưa làm chủđược các điều kiện ngoại cảnh: như cháy rừng, thiên tai, lũ lụt, chặt chộm Theothống kê của Vụ Bảo tồn, Tổng Cục lâm nghiệp, năm 2010 đã phát hiện và xử lýxấp xỉ 2.000 vụ vi phạm về rừng, tăng gần 200 vụ so với năm trước.Cho nên lĩnhvực này chưa thu hút được đầu tư của tư nhân.Đầu tư của hộ gia đình thì ít do thiếuvốn, thiếu kỹ thuật Cho tới hiện nay nguồn vốn đầu tư phát triển lâm nghiệp vẫnchủ yếu là vốn ngân sách nhà nước
- Hiệu quả kinh tế xã hội lớn:
Đầu tư vào rừng đem lại hiệu quả kinh tế xã hôi rất cao, nhưng thực tế khó
Trang 11trường cho người dân, cho thủy lợi và cho phát điện Đầu tư phát triển lâm nghiệpcòn mang lại những giá trị văn hóa, lịch sử to lớn Ở nước ta rừng còn là “rừng che
bộ đội, rừng vây quân thù” Rừng còn có giá trị sinh học cao, là nơi bảo tồn duy trìcác quỹ gen động thực vật quý hiếm như rừng Cúc Phương, Cát Tiên, Phú Quốc…Đầu tư vào rừng là cách duy trì sự sống cho hàng sinh mạng động vật, các loài thựcvật và cả con người Đầu tư vào rừng cũng làm tăng thu nhập cho các ngành khácnhư du lịch sinh thái
4.3 Nguồn vốn đầu tư phát triển lâm nghiệp
Đầu tư phát triển lâm nghiệp đòi hỏi vốn lớn, cần phải huy động từ nhiều
nguồn.Trong đó mỗi nguồn có những đặc thù riêng khác nhau về số lượng, về thờihạn hoàn trả, mức lãi suất, danh mục đầu tư Các nguồn vốn đầu tư cho phát triểnlâm nghiệp bao gồm:
Nguồn vốn ngân sách: Đây là nguồn vốn chính đầu tư vào lâm nghiệp hiệnnay ở nước ta Vốn ngân sách bao gồm hai nguồn: Vốn ngân sách trung ương vàvốn ngân sách ở địa phương Vốn ngân sách đầu tư vào phát triển lâm nghiệp ở cáccông việc sau:
Xây dựng các cơ sở hạ tần phục vụ cho trồng, quản lý bảo vệ rừng
Bảo vệ rừng, trồng nuôi dưỡng rừng, khoanh nuôi tái sinh, trồng ở rừng dặcdụng, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ
Vốn sự nghiệp quản lý dự án
Nguồn vốn tín dụng ưu đãi: Là nguồn được hình thành dưới hình thức vaytín dụng với lãi suất hoặc thời gian ưu đãi Đây là nguồn vốn mang tính chất khuyếnkhích các lâm trường hay các hộ gia đình tham gia đầu tư Nguồn vốn này đượcphân bổ cho các việc sau của quá trình đầu tư phát triển lâm nghiệp:
Bảo vệ rừng, trồng, khoanh nuôi tái sinh rừng
Xây dựng rừng, trang trại, và trồng cây ăn quả
Trang 12 Nguồn vốn đầu tư tự có trong doanh nghiệp: Là nguồn vốn được hìnhthành từ lợi nhuận của các doanh nghiệp hoặc trích khấu hao từ quỹ tài sản cố địnhcủa doanh nghiệp Thực tế hiện nay nguồn vốn này đầu tư vào lâm nghiệp rất ít,chiếm tỷ trọng nhỏ tronh tổng nguồn vốn đầu tư vào lâm nghiệp và được sủ dụng ởcác công việc sau:
Xây dựng vườn cây ăn quả, mô hình nông lâm kết hợp
Trồng cây công nghiệp lấy gỗ, củi cung cấp cho các nhà máy chế biến gỗ,giấy, cao su
Nguồn vốn tự có của dân cư: Là nguồn vốn được hình thành từ tiền vốncủa dân cư đầu tư vào phát triển lâm nghiệp Nguồn vốn này thường nhỏ, lẻ, phântán, chủ yếu đầu tư vào cá mô hình kinh tế vườn rừng, trang trại
Nguồn vốn nước ngoài: Là nguồn vốn được hình thành từ tiền vay, tài trợ,hay tiền đầu tư trực tiếp từ các tổ chức quốc tế, các chính phủ, hay của tư nhân nướcngoài vào đầu tư phát triển lâm nghiệp
Hiện nay xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, đây sẽ là nguồnvốn đầu tư quan trọng trong xu hướng phát triển của nước ta, do đó phải có biệnpháp để sao cho đầu tư phát triển lâm nghiệp sẽ hấp dẫn nguồn vốn đầu tư này
4.4 Các chỉ tiêu kết quả và hiệu của đầu tư hát triển lâm nghiệp:
Các chỉ tiêu kết quả: Các chỉ tiêu này thể hiện bằng kết quả, mặt mạnh, yếucủa quá trình đầu tư thể hiện: Diện tích rừng, sản lượng gỗ, số lượng cơ sở chế biến,sản xuất lâm sản, tổng giá trị sản xuất lâm nghiệp
Các chỉ tiêu hiệu quả đầu tư: Để đánh giá hiệu quả đầu tư phát triển lâmnghiệp ta căn cứ một số chỉ tiêu sau:
Trang 13Giá trị hiện tại của thu nhập thuần:
Trong đó: : Tổng thu nhập cuối năm ở năm t
: Chi phí phải trả vào thời điểm đầu năm thứ t
n : Số chu trình vòng quay,tính theo năm
t : Số năm tính từ khi bắt đầu đầu tư
r: Tỷ lệ lãi suất hằng năm
5 Sự cần thiết đầu tư vào lâm nghiệp vùng Tây Bắc
5.1 Khái quát chung về Tây Bắc
Vùng Tây Bắc là vùng nằm ở phía Tây của Hà Nội, trước kia (1994) gồm 4tỉnh: Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai với diện tích 37.5 nghìn km2 chiếm11.3% tổng diện tích toàn quốc Diện tích rừng hiện nay của Tây Bắc theo thống kêcủa tổng cục thống kê là 1572.5 nghìn ha, tỷ lệ che phủ rừng đạt 20 % Địa hìnhTây Bắc hiểm trở, có nhiều khối núi và dãy núi cao chạy theo hướng Tây Bắc-ĐôngNam Dãy Hoàng Liên Sơn dài tới 180 km, rộng 30 km, với một số đỉnh núi caotrên từ 2800 đến 3000 m Dãy núi Sông Mã dài 500 km, có những đỉnh cao trên
1800 m Giữa hai dãy núi này là vùng đồi núi thấp lưu vực sông Đà (còn gọi là địamáng sông Đà) Ngoài sông Đà là sông lớn, vùng Tây Bắc chỉ có sông nhỏ và suốigồm cả thượng lưu sông Mã
Tỷ lệ dân số tăng tự nhiên còn cao như Sơn La 18.9% trong khi sản xuất vẫnchủ yếu là trên nương Sự gia tăng dân số, nhu cầu về lương thực, về gỗ và lâm sản
cả đồng bào vùng đang là sức ép không đối rừng trên địa bàn vùng trong khi việc
Trang 14bảo vệ rừng còn yếu Trong những năm qua nhà nước đã có sự quan tâm đầu tư, tuynhiên có nhiều lý do mà đầu tư vào lâm nghiệp nơi đây vần chưa thu hút được các
tổ chức tư nhân, các doanh nghiệp trong và ngoài nước Do đó đầu tư chưa tạođược “cú huých” để lâm nghiệp nơi đây chưa có bước phát triển nhảy vọt Cần phải
có sự quan tâm hơn nữa từ chính phủ, các văn bản chính sách để thu hút nguồn vốnđầu tư vào lâm nghiệp cả chiều rộng và chiều sâu
5.2 Sự cần thiết phải đầu tư vào lâm nghiệp vùng Tây Bắc
Đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc là một tất yếu khách quan trongquá trình phát triển kinh tế của đất nước nói chung và vùng trung du miền núi phíaBắc nói riêng bởi:
Tây Bắc là cửa ngõ phía Tây Bắc của Tổ Quốc Vùng Tây Bắc có ý nghĩatrong giao lưu kinh tế với các nước láng giềng và có ý nghĩa đặc biệt về quốcphòng:Vùng Tây Bắc phía Bắc giáp Trung Quốc có cửa khẩu Lai Vân, đường biêngiới dài 310 km; phía Tây giáp Lào có cửa khẩu Điện Biên, Sông Mã, Mai Sơn,đường biên giới dài 520 km; Phía Đông giáp vùng Đông Bắc và Đồng bằng sôngHồng; phía Nam giáp với Bắc Trung Bộ
Tây Bắc là đầu nguồn của một vài hệ thống sông Đà, sông Mã, sông Bôinơi dự trữ nước và còn có nhiều đập thủy điện lớn: Hòa Bình, Sơn La cung cấpđiện, nước cho người dân
Trong rừng có nhiều loại dược liệu quí như sa nhân, tam thất (Lai Châu).Đặc biệt rừng Tây Bắc có nhiều cánh kiến và các động vật quí hiếm voi, bò tót,nai
Như vậy đầu tư vào Tây Bắc không chỉ bảo tồn phát huy rừng và các côngtrình liên quan mà còn tạo công ăn việc làm cho người dân trong vùng Vì vầy đây
là một việc làm cần thiết
Trang 15CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN LÂM NGHIỆP VÙNG TÂY BẮC GIAI ĐOẠN 2005- 2010
1 Khái quát chung về điệu kiện tự nhiên xã hội trong mối liên hệ phát triển Tây Bắc
1.1 Điều kiện tự nhiên
Tây Bắc gồm 4 tỉnh: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, Điện Biên:
- Phía Bắc: giáp với CHND Trung Quốc có cửa khẩu Lai Vân
- Phía Tây và Tây Nam: giáp Lào có cửa khẩu Điện Biên, Sông Mã, Mai Sơn
- Phía Đông: giáp với Lào Cai, Yên Bái, Phú Thọ, Hà Tây cũ
- Phía Nam: giáp với tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình, Nam Định, CHDCND Lào
Địa hình, địa thế:
Địa hình núi cao hiểm trở chia cắt phức tạp, nhiều đỉnh núi cao với dãy HoàngLiên Sơn chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ biên giới Việt Trung về đồngbằng và các dãy núi, cao nguyên khác Bởi vậy việc mở mang xây dựng và giao lưuvới bên ngoài của vùng rất hạn chế Nằm giữa vùng là dòng sông Đà với hai bên lànúi cao và cao nguyên tạo thành vùng tự nhiên độc đáo thích hợp phát triển thànhkhu kinh tế tiêu biểu cho vùng núi cao miền Bắc Việt Nam
Hiện trạng đất rừng:
Đất của vùng chủ yếu là đất lâm, nông nghiệp Có hai loại đất chủ yếu làđất pharalit đỏ vàng phong hóa từ đá vôi và từ các loại sa diệp thạch; đất bồi tụtrong các thung lũng và ven sông
Tổng diện tích rừng và đất trống đồi trọc quy hoạch cho lâm nghiệp (sau đâygọi là đất lâm nghiệp) toàn vùng là: 2.804,4 ngàn ha, chiếm 75,0% diện tích tựnhiên toàn vùng, trong đó:
+ Diện tích đất có rừng: 1.544,3 ngàn ha, chiếm 55,1% đất lâm nghiệp
Trang 16Trong diện tích có rừng: rừng tự nhiên 1.420,6 ngàn ha chiếm 92,0 % diện tích
có rừng; diện tích rừng trồng chỉ chiếm: 8,0 % (tỉnh Lai Châu: rừng tự nhiên chiếm:97,4%, rừng trồng 2,6%; Điện Biên rừng tự nhiên: 96,5%, rừng trồng: 3,5%; Sơn
La rừng tự nhiên: 95,8%, rừng trồng: 4,2% và tỉnh Hòa Bình rừng tự nhiên chiếm:68,2%, rừng trồng chiếm: 31,8%) Trong diện tích rừng trồng toàn vùng, diện tíchrừng có trữ lượng chiếm 73,4% còn lại rừng chưa có trữ lượng chiếm 26,6%.+ Diện tích đất trống đồi núi trọc quy hoạch cho lâm nghiệp toàn vùng cònlớn: 1.260,1 ngàn ha, chiếm 44,9% diện tích đất lâm nghiệp, trong đó: tỉnh Lai Châucòn nhiều nhất 415 ngàn ha, Điện Biên: 381,6 ngàn ha, Sơn La: 339,6 ngàn ha vàHòa Bình 123,9 ngàn ha
Trong diện tích đất trống, diện tích có khả năng phục hồi rừng bằng tái sinh tựnhiên là 339,6 ngàn ha, chiếm 27% diện tích đất trồng, còn lại 920,5 ngàn ha (73%)cần thiết phải trồng rừng
Trang 17Bảng 1 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp vùng Tây Bắc (năm 2008)
(Chi tiết phân theo từng tỉnh và phân theo các năm 2000, 2005-2008)
Khí hậu:
Mùa đông lạnh, một số nơi nhiệt độ xuống thấp có tuyết rơi: Sa Pa, đỉnhHoàng Liên Sơn Mùa hè đến sớm hơn các vùng khác, nóng ẩm, có gió Tây khô vàmưa nhiều Khí hậu lạnh làm phát triển một số loài cây ưa lạnh nhưng cũng gây khókhăn cho quá trình sinh hoạt, sản xuất
Dân tộc, dân số:
- Dân tộc:
- Để hiểu rõ hơn dân tộc các tỉnh vùng Tây Bắc ta cùng xem bảng sau:
Trang 18Bảng 2 : Dân tộc các tỉnh Tây Bắc năm 2005
31,425,223,011,19,3
Nguồn: Sách Địa lý kinh tế Việt Nam- GS.TS Đặng Như Toàn)
Từ bảng số liệu ta thấy người Thái là đông dân nhất trong vùng Tây Bắc.Dân cư Tây Bắc còn thưa thớt, có 4 dân tộc chủ yếu sống ở vùng Tây Bắc Do cónhiều cửa khẩu nên nơi đây ngày càng thu hút người Kinh đến làm ăn, buôn bán
- Dân số:
Theo số liệu của tổng cục thống kê dân số Khu vực 2010 trung bình là 2,77triệu người, chiếm 3,19% dân số cả nước Mật độ dân số Tây Bắc thưa thớt 74người trên km2 trong khi mật độ trung bình cả nước là 259 người trên km2 Các dântộc thiểu số chiếm 80% dân số Khu vực Theo Khảo sát mức sống hộ 2007 củaTổng Cục thống kê, tỷ lệ nghèo trong Khu vực là 39,4% theo tiêu chí của Chính phủ
và là 49% theo tiêu chuẩn quốc tế căn cứ theo khối lượng calo tiêu thụ
Bảng 3: Dân số trung bình vùng Tây Bắc từ 2006- 2009
Dân số trung bình vùng Tây Bắc từ 2006- 2009 (nghìn người)
Trang 19gỗ trái phép, và các tệ nạn như: ma túy đang len lỏi dần vào đời sống của người dânnơi đây.
Thực trạng phát triển kinh tế:
Hiện nay kinh tế Tây Bắc đang từng bước phát triển, tốc độ tăng GDP trungbình từ năm 2006- 2010 là 9%/năm Có cơ cấu như sau:
- Ngành nông lâm chiếm 54%
- Ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản chiếm 16%
- Ngành kinh doanh dịch vụ chiếm 30%
2 Thực trạng đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc giai đoạn 2005- 2010
2.1 Tổng quan đầu tư phát triển lâm nghiệp vùng Tây Bắc
Tây Bắc là vùng đất mới với sự giàu có về tiềm năng khoáng sản, nông-lâmsản, về du lịch và là nơi có nguồn đất đai, lao động dồi dào Thu hút mạnh mẽ cácnguồn lực đầu tư vào vùng Tây Bắc không chỉ là chủ trương, định hướng của Đảng,Nhà nước mà còn là sự lựa chọn có tính chiến lược của các nhà đầu tư
Trang 20Nhưng do đặc điểm vùng Tây Bắc với địa hình hiểm trở, đồi núi dốc và có khíhậu phân hóa rõ rệt giữa mùa đông và mùa hè Mặt khác đầu tư vào lĩnh vực lâmnghiệp là đầu tư mang tính lâu dài, thu hồi vốn chậm nên hiện nay vốn đầu tư pháttriển lâm nghiệp vùng Tây Bắc còn chưa thu hút được nhiều các doanh nghiệp trongnước, các tổ chức phi chính phủ.
2.1.1 Chương trình dự án đầu tư cho lâm nghiệp vùng Tây Bắc
Từ năm 2005 đến 12/2008 đã có 14 loại dự án đầu tư vốn cho phát triển lâmnghiệp vùng Tây Bắc trong đó:
- Các dự án trong nước gồm: 11 dự án, bao gồm:
+ Dự án do Nhà nước cấp vốn đầu tư gồm 4 dự án :
Dự án 661 của 4 tỉnh, bao gồm: 49 dự án cơ sở:
Tỉnh Lai Châu: 4 dự án
Tỉnh Điện Biên: 11 dự án
Tỉnh Sơn La: 19 dự án
Tỉnh Hòa bình: 15 dự án
Dự án Khoanh nuôi bảo vệ rừng 21 xã biên giới tỉnh Lai Châu
Dự án Nâng cao năng lực phòng chống cháy rừng 2 tỉnh Điện Biên và LaiChâu
Dự án 472 tỉnh Hòa Bình
+ Dự án do các tỉnh đầu tư (3 dự án):
Dự án trồng rừng lục hóa của tỉnh Lai Châu
Dự án theo dõi diễn biến rừng tỉnh Lai Châu
Dự án nâng cao nhận thức người dân bảo vệ rừng tỉnh Điện Biên
Trang 21 Dự án khoanh nuôi, trồng rừng, chăm sóc rừng của doanh nghiệp tư nhânông Trần Văn Yên tỉnh Lai Châu
Dự án trồng rừng nguyên liệu của Công ty lâm nghiệp Hòa Bình
Dự án trồng rừng nguyên liệu giấy cho nhà máy giấy Bãi Bằng tại tỉnh Sơn La
Dự án trồng rừng nguyên liệu bột giấy xuất khẩu của Công ty CPĐT&PT
hạ tầng 559 tại Sơn La
+ Các dự án nước ngoài đầu tư: 3 dự án
Dự án KFW7 tại tỉnh Hòa Bình
Dự án Renforda (JICA) tại tỉnh Hòa Bình
Chương trình dự án thí điểm lâm nghiệp cộng đồng Dự án tài trợ do Quỹ
ủy thác ngành lâm nghiệp (TFF)
Trang 22B ng 4: Th ng kê các d án ảng 4: Thống kê các dự án đầu tư cho lâm nghiệp vùng ống kê các dự án đầu tư cho lâm nghiệp vùng ự án đầu tư cho lâm nghiệp vùng đầu tư cho lâm nghiệp vùng u t cho lâm nghi p vùng ư cho lâm nghiệp vùng ệp vùng Tây B c (2005-2008) ắc (2005-2008)
(Triệu đồng)
Tổng thực hiện (Triệu đồng)
6 Dự án nâng cao
nhận thức BVR
7 Dự án theo dõi diễn
biến tài nguyên rừng
Chi cục kiểm lâm tỉnhLai Châu
8 Dự án rừng
Nguyên liệu giấy
Công ty giấy Bãi Bằng 6.000,0 6.000,0
9 Dự án trông rừng
bột giấy Xuất khẩu
Công ty CPĐT&PT hạtầng 559
Trang 23Từ bảng số liệu ta thấy đầu tư vào lâm nghiệp cùng Tây Bắc hiên nay đãchuyển biến theo những chiều hướng tích cực Tổng số vốn của các dự án nướcngoài là: 9175,1 (triệu đồng) chiếm 2,15% tổng số vốn các dự án đầu tư vào lâmnghiệp của vùng Tổng vốn đầu tư của các dự án tư nhân vào vùng là: 45.554,4(triệu đồng) chiếm 10,69% tổng số vốn các dự án Đây là một con số không đángmừng nhưng bởi cho thấy cơ hội đầu tư và hứa hẹn sẽ có nhiều dự án đầu tư vào lâmnghiệp Tây Bắc.
2.1.2 Tổng vốn đầu tư
Nguồn vốn đầu tư là nguồn vốn quan trọng để phát triển kinh tế xã hội
Từ số liệu của tổng cục thống kê ta có bảng số liệu:
Bảng 5: Vốn đầu tư chung và đầu tư phát triển nông lâm thủy sản( theo giá hiện
2 Tổng vốn đầu tư vào
nông lâm thủy sản (tỷ
đồng)
3 Tỷ lệ phần trăm đầu tư
vào nông, lâm, thủy sản
Trang 24cầu, hàng loạt ngân hàng, các công ty tài chính trên thê giới bị sụp đổ Trước đó thìcác lĩnh vực này là nơi hút các nguồn vốn đầu tư, khi đó đầu tư vào các lĩnh vựcnông, lâm nghiệp được coi là một chiến lược để phát triển kinh tế dài hạn Tuynhiên lĩnh vực lâm nghiệp lại không hấp dẫn đầu tư, bởi nó mất thời gian dài để thuhồi vốn, trong khi với nền kinh tế khủng hoảng, lạm phát cao người ta lại thích cáclĩnh vực mau hoàn lại vốn.
Việt Nam là một nước nông nghiệp, con người từ xa xưa sống nhờ các hoạtđộng nông, lâm nghiệp thế nhưng Nhà Nước mới chỉ giành 6- 7% trong tổng số vốnđầu tư để đầu tư vào nông lâm, thủy sản thì tất nhiên lĩnh vực này của ta chưa cạnhtranh nhiều nước đó là điều thực tế
Điều này cho thấy đã có sự nhận thức đúng đắn về lợi ích mà nông, lâm nghiệpmang lại cho con người nhưng việc đầu tư vào nó là chưa thỏa đáng
2.1.3 Cơ cấu vốn đầu tư phân theo nguồn vốn
Có nhiều nguồn vốn đầu tư, nhưng trong lâm nghiệp lại chủ yếu chia thành cácnguồn là: nguồn vốn ngân sách và các nguồn nước ngoài và nguồn vốn của chủdoanh nghiệp
Trong tổng 425.871,1 triệu đồng đầu tư cho lâm nghiệp từ 2005-2008,được phân theo các nguồn vốn sau:
Trang 25Vốn ngân sách của các địa phương đầu tư các dự án lâm nghiệp, nâng caonhận thức bảo vệ rừng cho nhân dân địa phương, vốn đối ứng cho dự án của các tổchức quốc tế (dự án KFW7 tại Hòa Bình)…
2.1.3.2 Vốn đầu tư nước ngoài
Trong 4 tỉnh vùng Tây Bắc giai đoạn 2005-2008 chỉ có 3 tỉnh có vốn đầu tưnước ngoài là: Điện Biên, Sơn La và Hòa Bình, với tổng là: 5,5 tỷ đồng, chiếm1,3% tổng vốn đầu tư, trong đó 100% là vốn từ các tổ chức thông qua các chươngtrình viện trợ chính phủ hoặc các tổ chức phi chính phủ; Quỹ của các nhà tài trợ…Tỉnh có vốn đầu tư nước ngoài nhiều nhất là Hoà Bình (2,2 tỷ), tỉnh Lai Châuchưa có dự án nào
Vốn đầu tư trên chủ yếu của các tổ chức quốc tế, chưa có doanh nghiệp hoặc
cá nhân nước ngoài đầu tư vào lâm nghiệp vùng Tây Bắc Điều này phản ánh cơ hộithu hút đầu tư nước ngoài để kinh doanh trong lâm nghiệp với các tỉnh vùng TâyBắc là rất khó khăn vì so với các vùng khác trong cả nước, cơ sở hạ tầng, thị trườngvùng Tây Bắc còn rất thiếu
2.1.3.3 Vốn của các doanh nghiệp và các chủ rừng
Tổng vốn của các doanh nghiệp đầu tư cho lâm nghiệp Tây Bắc là: 45,5 tỷđồng, chiếm: 10,7% tổng vốn đầu tư, trong đó có 4 dự án của Công ty giấy BãiBằng; Công ty CPĐT&PT hạ tầng 559 tại Sơn La; Công ty lâm nghiệp Hòa Bình tạiHòa Bình và ông Trần Văn Yên Tại Lai Châu
Các Doanh nghiệp trên chủ yếu đầu tư trồng rừng sản xuất nguyên liệu vánnhân tạo, nguyên liệu giấy…
Ngoài các doanh nghiệp, chủ rừng trên, trên địa bàn vùng Tây Bắc có nhiều hộgia đình đầu tư xây dựng trang trại rừng, vườn rừng….nhưng do quy mô nhỏ, nguồnđầu tư thấp (hộ gia đình là chủ yếu), nên các tỉnh chưa thống được nguồn vốn này.Tuy nhiên theo khảo sát tại các địa phương cho thấy nguồn vốn này cũng khôngđáng kể vì hầu hết các hộ gia đình được giao đất, giao rừng là các hộ đồng bào dân