Tri thức khoa học luôn luôn là một trong những yếu tố quyết định trình độ của người lao động, của công cụ lao động và phương tiện lao động… Nếu như công cụ, phương tiện lao động được xem
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu nghiêm túc, tâm huyết của tác giả được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Vũ Văn Gầu Kết quả nghiên cứu là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố ở bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận án
NCS Nguyễn Thị Ngọc Thùy
Trang 4BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT
APEC : Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái Bình Dương
ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
CNTT : Công nghệ thông tin
CBQT : Công bố quốc tế
CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, Hiện đại hoá
FDI : Đầu tư trực tiếp nước ngoài
HDI : Chỉ số phát triển con người
H : Chỉ số đo lường tầm ảnh hưởng của bài báo khoa học quốc tế
IMF : Quỹ Tiền tệ quốc tế
ICI : Công nghệ thông tin và truyền thông
IT : Công nghệ thông tin
ISI : Viện Thông tin khoa học
KCNC : Khu công nghệ cao
KEI : Chỉ số kinh tế tri thức
KI : Chỉ số tri thức
KHCN : Khoa học Công nghệ
LLSX : Lực lượng sản xuất
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
ODA : Quỹ Hỗ trợ phát triển chính thức
PGS : Phó giáo sư
R&D : Nghiên cứu và phát triển
Trang 5SCImago : Tổ chức xếp hạng và đánh giá khoa học
SEL : Vùng trọng điểm quốc gia
UNESCO : Tổ chức giáo dục khoa học và văn hoá của Liên hợp quốc
VNRENSAT : Dự án phóng vệ tinh viễn thám
WIPO : Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRI THỨC KHOA HỌC VÀ KINH TẾ TRI THỨC 18
1.1 Tri thức khoa học và kinh tế tri thức 18
1.1.1 Khái niệm và phân loại của tri thức khoa học 18
1.1.2 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức 32
1.1.3 Những điều kiện để tri thức khoa học trở thành yếu tố cơ bản của kinh tế tri thức 46
1.2 Vai trò của tri thức khoa học đối với kinh tế tri thức 59
1.2.1 Tri thức khoa học là cơ sở, phương tiện để phát triển kinh tế tri thức 59
1.2.2 Tri thức khoa học là động lực cơ bản để phát triển kinh tế tri thức 63
Kết luận chương 1: 69
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ YÊU CẦU KHÁCH QUAN ĐỐI VỚI PHÁT TRIỂN TRI THỨC KHOA HỌC TRONG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 72
2.1.Thực trạng phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam hiện nay 72
2.1.1 Thực trạng hoạt động nghiên cứu khoa học ở Việt Nam hiện nay 73
2.1.2 Thực trạng nguồn nhân khoa học công nghệ và cơ sở giáo dục đào tạo ở Việt Nam hiện nay 83
2.1.3 Thực trạng cơ sở vật chất – kỹ thuật và cơ chế chính sách của khoa học công nghệ ở Việt Nam hiện nay 90
2.2 Phát triển kinh tế tri thức và những yêu cầu khách quan đối với quá trình phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam hiện nay 100
Trang 72.2.1 Tính tất yếu của quá trình xây dựng, phát triển kinh tế tri thức và
những thời cơ, thách thức đối với quá trình phát triển tri thức khoa học
ở Việt Nam hiện nay 100
2.2.2 Kinh nghiệm phát triển tri thức khoa học để thực hiện mục tiêu xây dựng kinh tế tri thức ở một số nước phát triển và bài học vận dụng cho Việt Nam 122
Kết luận chương 2 144
CHƯƠNG 3:PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN TRI THỨC KHOA HỌC ĐỂ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 147
3.1 Phương hướng phát triển tri thức khoa học để xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay 147
3.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay về phát triển tri thức khoa học 148
3.1.2 Phương hướng phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam hiện nay 155
3.2.Một số giải pháp cơ bản phát triển tri thức khoa học nhằm thực hiện quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay 167
3.2.1 Nhóm giải pháp về giáo dục - đào tạo 168
3.2.2 Nhóm giải pháp về phát triển thị trường khoa học công nghệ 176
3.2.3 Nhóm giải pháp về phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin - ICT 182
3.2.4 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách phát triển tri thức khoa học 185
Kết luận chương 3 194
PHẦN KẾT LUẬN 197
TÀI LIỆU THAM KHẢO 201
PHỤ LỤC 210
Trang 8PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ở tất cả mọi thời đại của lịch sử xã hội, trong một phương thức sản xuất nhất định, trình độ phát triển của lực lượng sản xuất - được biểu hiện thông qua trình độ của người lao động, trình độ công cụ, phương tiện lao động - là yếu tố quyết định trình độ phát triển của phương thức sản xuất nói riêng, của nền sản xuất xã hội nói chung Tri thức khoa học luôn luôn là một trong những yếu tố quyết định trình độ của người lao động, của công cụ lao động và phương tiện lao động… Nếu như công cụ, phương tiện lao động được xem là sức mạnh trí tuệ của con người được vật chất hóa trong nền sản xuất, và người lao động với năng lực trí tuệ của họ là khâu then chốt trong lực lượng sản xuất, thì tri thức khoa học chính là nền tảng đầu tiên, là đòn bẩy phát triển cho các bộ phận giữ vai trò quyết định trong lực lượng sản xuất, khi tri thức khoa học được vật chất hóa trong nền sản xuất, sẽ tạo thành công nghệ - kỹ thuật, ứng dụng để phát triển công cụ, phương tiện lao động; còn người lao động, một khi được dẫn dắt bởi tri thức khoa học thì sẽ tạo nên năng lực trí tuệ, là một sức mạnh to lớn để làm biến đổi thế giới Cho nên, có thể nói, sự phát triển của nền sản xuất, của các thời đại kinh tế, của xã hội loài người…phụ thuộc vào sự phát triển của tri thức khoa học
Từ thập niên 1990 đến nay, sau khi xóa bỏ cơ chế bao cấp, Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, về cơ bản, đó là nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, hướng tới mục tiêu chiến lược “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại” [25, tr.70] Bản chất của kinh tế thị trường là hoạt động xã hội hóa lao động ngày càng được đẩy mạnh, cả chiều rộng
và chiều sâu, dưới sự tác động của các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Nền kinh tế thị trường hiện đại phát triển đầy biến động với tốc độ khá nhanh, để lại đằng sau những gì là lỗi thời về cơ sở kỹ thuật, về quan hệ kinh tế - xã hội, nó
Trang 9cũng luôn tạo ra những lực lượng sản xuất mới, những quan hệ kinh tế, xã hội, chính trị mới để không ngừng phát triển, tiến lên giai đoạn cao hơn - giai đoạn kinh tế tri thức Như vậy, tiến lên kinh tế tri thức là xu thế phát triển tất yếu, khách quan của kinh tế thị trường, do đó để phát triển nhanh và bền vững, Việt Nam cần nhanh chóng đầu tư cho tri thức khoa học để tạo động lực cho phát triển nhằm tất yếu hình thành và phát triển kinh tế tri thức
Mặt khác, những thành tựu mang tính đột phá của các cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đã tạo nên những bước nhảy vọt về mọi mặt trong đời sống xã hội, nền kinh tế đang từng bước chuyển đổi từ kinh tế công nghiệp sang kinh tế tri thức, tạo nên một nền móng mới cho lịch sử nhân loại Trong sự chuyển đổi đặc biệt đó, tri thức khoa học, ngày càng giữ một vai trò quan trọng, tác động trực tiếp đến tiến trình phát triển của xã hội Nếu trong thiên niên kỷ thứ nhất của xã hội loài người, nguồn năng lượng chủ yếu của xã hội chỉ mới là than đá, sức gió, sức nước, sức mạnh cơ bắp của con người và gia súc; thiên niên kỷ thứ hai, là sự phát triển vượt bậc của nguồn năng lượng dầu khí, máy hơi nước, điện, năng lượng nguyên tử phân hạch, v.v… thì hiện nay, nhân loại đang tiến vào thiên niên kỷ thứ ba dựa trên sức mạnh của các ngành khoa học công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano, công nghệ năng lượng hạt nhân tổng hợp nhiệt hạch v.v… Như vậy, khi tiến vào kinh tế tri thức, khoa học, công nghệ và kỹ thuật cao thực sự là động lực phát triển hàng đầu của nhiều quốc gia và dân tộc trên thế giới Trên thực tế, bản đồ kinh tế - chính trị của thế giới đã có sự thay đổi khá phức tạp, thể hiện ở sự thăng trầm và chuyển đổi thứ bậc xếp hạng của nhiều cường quốc, nhiều khu vực trên thế giới, và một trong những nguyên nhân sâu xa của tất cả sự thay đổi đó chắc chắn rằng đều nằm ở vị trí ưu tiên đối với khoa học, kỹ thuật và công nghệ trong chiến lược phát triển của các quốc gia
Bước vào những năm đầu thế kỷ XXI, để giành được vị trí dẫn đầu trong mọi lĩnh vực, nhiều nước phát triển và đang phát triển trên thế giới đều chú trọng tăng cường đầu tư vào phát triển khoa học - công nghệ, tập trung mọi nguồn lực
Trang 10nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong các lĩnh vực khác nhau, chú trọng xây dựng, triển khai các chiến lược và chính sách khoa học công nghệ quốc gia có tính vĩ mô và lâu dài Ngày nay, việc hợp tác quốc tế về khoa học và công nghệ nhằm phát triển tri thức khoa học cũng được đề cập và phân tích như một chiến lược hội nhập rất quan trọng, là một trong những mục tiêu hàng đầu của các quốc gia trong thời đại toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới
Tri thức bao giờ cũng là nguồn lực trí tuệ quan trọng nhất đối với sự phát triển trên mọi lĩnh vực của đời sống Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh
tế hiện nay, tri thức khoa học đã thực sự là động lực chủ yếu, “trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp”, giữ vai trò chủ đạo trong quá trình sản xuất nói riêng cũng như trong tiến trình phát triển của toàn bộ xã hội nói chung Kinh tế nước ta đang còn
ở trình độ lạc hậu, kém phát triển, tuy nhiên nếu biết phát huy nguồn vốn trí tuệ, dựa vào tri thức khoa học và có những chính sách phát triển nguồn lực này một cách hiệu quả, thì tri thức khoa học sẽ trở thành một lực đẩy vô cùng to lớn làm chuyển biến xã hội và có thể hỗ trợ Việt Nam rút ngắn con đường đến đích, so với các nước đi trước trong quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức Chiến lược phát triển khoa học công nghệ đã được Đảng ta đề ra và triển khai thực hiện từ khá sớm, ở Đại hội X, Đảng ta xác định rõ khoa học công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá mới, đây cũng là lần đầu tiên trong Nghị quyết Đại hội Đảng, đề cập đến vấn đề đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời gian tới Điều này cho thấy, phát triển tri thức khoa học chính là một trong những nhiệm vụ đang được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm Đại hội XI, Đảng ta khẳng định tiếp tục phát triển kinh
tế tri thức trên cơ sở phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ vẫn là mấu chốt để phát triển quốc gia Vậy, sự phát triển tri thức khoa học được coi như
là một trong những điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững của một quốc gia dân tộc ở mọi giai đọan lịch sử, đặc biệt, trong điều kiện hiện nay phát triển tri thức khoa học còn là một trong những yếu tố mang tính quyết định để hoàn thành mục đích phát triển kinh tế tri thức, Đại hội XI
Trang 11cũng khẳng định: cần nỗ lực “phát huy và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn tri thức của con người Việt Nam và khai thác nhiều nhất tri thức của nhân loại Xây dựng
và triển khai lộ trình phát triển kinh tế tri thức đến năm 2020” [25, tr.78] Việc phân tích vị trí, vai trò, những vấn đề đặt ra của tri thức khoa học, những giải pháp phát triển tri thức khoa học trong quá trình phát triển kinh tế tri thức tại Việt Nam trong thời kỳ chuyển đổi mô hình phát triển, thực hiện sâu rộng tái cơ cấu nền kinh tế, chỉ ra những thành quả bước đầu, những hạn chế của sự phát triển tri thức khoa học, tác động đa diện, đa chiều của nó đến kinh tế tri thức giữa một thế giới phẳng, thế giới không biên giới nhưng hết sức phức tạp như hiện nay là điều cần thiết
Rõ ràng khoa học công nghệ và tri thức khoa học là yếu tố hàng đầu, là hạt nhân quan trọng nhất để có thể thực hiện thành công mục tiêu tri thức hóa, khoa học hóa nền kinh tế mới Tìm hiểu tri thức khoa học và vai trò to lớn của nó giúp chúng ta nhận thức và xác định đúng trọng tâm của quá trình phát triển, tiến hành đầu tư, thúc đẩy và triển khai đúng hướng, đảm bảo rút ngắn quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong thời đại mới, nhằm định hướng và triển khai hiệu quả quá trình xây dựng kinh tế tri thức, đáp ứng nhu cầu của thời đại đặt ra
Vì vậy nghiên cứu sinh chọn đề tài “Tri thức khoa học trong quá trình
xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận
án tiến sĩ triết học của mình
2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài
Sự phát triển tri thức khoa học và sự tác động, ảnh hưởng của nó được coi như là một trong những điều kiện tiên quyết để thúc đẩy sự phát triển nhanh, mạnh và bền vững của một quốc gia dân tộc ở mọi giai đọan lịch sử Vì vậy, đề tài được nhiều học giả quan tâm, Có thể khái quát các công trình nghiên cứu về tri thức khoa học trong quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay theo ba hướng cơ bản sau:
Hướng thứ nhất, đó là các công trình nghiên cứu về tri thức khoa học
và vai trò của tri thức khoa học
Trang 12Ở nước ngoài, tiêu biểu cho hướng nghiên cứu này là các công trình như
công trình của David – Clandes ( 1998), The wealth and Poverty of nation, USA
(Sức mạnh và năng lực quốc gia) Thomas Friedman (2005), The World is flat(Thế giới phẳng), Farrar, Straus v Giroux, New York, USA Sience and industry in the 19 th century (Khoa học và nền công nghiệp thế kỷ 19), London J
D Bernal, (1944), The Social Function of Science (Chức năng xã hội của khoa
học), George Routledge, London; K.Y.Tan, M.H.Toh, L.Loh (1998), Competitiveness of the Sigapore economy (Năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Singapore), Singapore Word Bank Report (Asia – Paciffic Economic
Cooperation) (2000), Knowledge for development (tri thức cho sự phát triển)
Sách đã dịch sang tiếng Việt có khá nhiều như công trình của tác giả Ikujiro
Nonaka, Ryoko Toyama và Toru Hirata (2010), Quản trị dựa vào tri thức
(Knowledge – based Management), Nhà xuất bản Thời đại, Hà Nội Bộ ba tác
phẩm: Alvin Toffler (1992) Cú sốc tương lai; Làn sóng thứ ba; Thăng trầm quyền
lực, Nhà xuất bản Thông tin lý luận, Hà Nội Gaston Bachelard (2009), Sự hình thành tinh thần khoa học, Nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội Steven Benton and
Melissa Giovagnoli (2008), Khám phá nguồn lực tiềm ẩn, Nhà xuất bản Tri thức,
Hà Nội Chính phủ Anh (2000), Sách Trắng về khoa học và đổi mới: Sự vượt trội
và cơ hội, Anh Quốc
Cuốn sách The wealth and Poverty of nation, xuất bản năm 1998 của tác
giả David – Clandes là một công trình tiêu biểu ở Mỹ, đã chỉ ra khoa học và công nghệ vừa là tài sản quý giá, vừa là năng lực phát triển của quốc gia, nó là yếu tố làm sáng tỏ lý do tại sao một số nước và vùng lành thổ trên thế giới tạo nên được những cú nhảy vọt như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc…
Alvin Toffler với bộ ba tác phẩm : Cú sốc tương lai; Thăng trầm quyền
lực và Làn sóng thứ ba, trong đó Làn sóng thứ ba là cuốn sách có tầm tổng hợp
quy mô lớn, miêu tả nền văn minh cũ và phác họa hình ảnh một nền văn minh tương lai Vi tính, thông tin và khoa sinh hóa - là những cơ sở của nền kinh tế
tương lai mà Làn sóng thứ ba đã đề cập tới Đọc Làn sóng thứ ba, độc giả sẽ tìm
Trang 13thấy nhiều điều thú vị Và như chính tác giả của cuốn sách này đã nói : Làn sóng
thứ ba cùng một lúc sẽ cung cấp những câu trả lời và sẽ đặt những câu hỏi mới
Tuy vậy, trong cuốn sách này, tác giả muốn đi đến thuyết hội tụ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản Xét về mặt thế giới quan triết học, tác giả có nhiều quan điểm khác với chúng ta Những quan điểm đó còn cần phải thảo luận, và tranh luận nhiều
Tác giả Thomas L Friedman trong cuốn sách Thế giới phẳng: Tóm tắt lịch
sử của Hai mươi thế kỷ đầu tiên, đã tập trung phân tích vấn đề toàn cầu hóa một
cách độc đáo, với lập luận xoay quanh quá trình "trở nên phẳng" của thế giới Khái niệm "phẳng" ở đây đồng nghĩa với "sự kết nối" Những tiến bộ vượt bậc của cách mạng số và môi trường thông thoáng của toàn cầu hóa xóa bỏ những trở ngại về địa lý Cách mạng thông tin, cách mạng số và thời đại Internet đã cho phép các cá nhân, tổ chức, các quốc gia kết nối và hợp tác hiệu quả với nhau trên quy mô toàn cầu để tạo ra những giá trị gia tăng lớn hơn…
Học giả người Anh J D Bernal đã giới thiệu khái niệm "Cách mạng khoa
học - kỹ thuật" trong tác phẩm "The Social Function of Science" (Chức năng xã hội của khoa học) để mô tả vai trò mới của khoa học - kỹ thuật trong tiến trình
phát triển của xã hội Bernal đã vận dụng thuyết về lực lượng sản xuất của Các Mác để minh chứng rằng khoa học đang trở thành một "lực lượng sản xuất" trong
xã hội Tác phẩm này là nỗ lực của Bernal để chỉ ra vai trò to lớn của khoa học, công nghệ, nó không chỉ là khâu bảo tồn trí tuệ mà phải thực hiện được chức năng vốn có của mình là cải thiện đời sống nhân loại Đây là một nghiên cứu mang tính đột phá đối với các vấn đề của khoa học công nghệ và trong cả các
chính sách công để phát triển khoa học công nghệ
Những nghiên cứu trong các công trình trên phần nào cho thấy được cái nhìn tổng thể về tri thức khoa học cũng như tầm quan trọng của tri thức khoa học trong thời đại mới Đó cũng chính là những cơ sở dữ liệu và nền tảng để từ đó, tác giả luận án tiếp tục nghiên cứu vấn đề ở góc độ sâu hơn, gắn nó với tình hình và bối cảnh thực tế ở Việt Nam
Trang 14Ở trong nước, có nhiều công trình liên quan đến vấn đề này như Bộ khoa
học công nghệ và môi trường, (1996), Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa
đất nước và cách mạng công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, Phát huy nguồn tài nguyên trí thức của đất nước, Tạp chí khoa học và Tổ quốc, số 10
TS Trần Hồng Lưu (2011), Vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công
nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia –
Sự thật, Hà Nội Bùi Thị Ngọc Lan (2002), Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi
mới ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Danh Sơn (2000), Quan hệ giữa phát triển khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế – xã hội trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội Mạch Ngọc Thuỷ (2004), Góp phần tìm hiểu vai trò của đội ngũ trí thức
trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay, Luận văn
thạc sỹ, Tp Hồ Chí Minh Đặng Mộng Lân – Lê Minh Triết (1999), Công nghệ
thế giới đầu thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Trẻ, TP Hồ Chí Minh Hoàng Đình Phu
(1998), Khoa học và công nghệ với các giá trị văn hóa, Nhà xuất bản Khoa học
Kỹ thuật, Hà Nội Nguyễn Đắc Hưng (2005), Trí thức Việt Nam trước yêu cầu
phát triển đất nước, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Tiến sĩ Trần Hồng Lưu trong công trình: Vai trò của tri thức khoa học
trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam hiện nay Tác giả
này tập trung phân tích và hệ thống hoá khái niệm, kết cấu, phân loại tri thức khoa học, tìm ra cách hiểu đúng về khái niệm tri thức khoa học và làm rõ vai trò của tri thức khoa học đối với sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh tác động của toàn cầu hoá kinh tế thị trường và kinh tế tri thức, đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của tri thức khoa học trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trong giai đoạn hiện nay
Công trình “Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam” là thành quả nghiên cứu nghiêm túc của TS Bùi Thị Ngọc Lan, đã tập trung phân tích và chỉ rõ vai trò, vị trí và chức năng của nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam hiện nay - bộ phận trung tâm làm nên chất lượng và sức mạnh đổi mới cho nền kinh tế
Trang 15- trên cơ sở tìm hiểu, phân tích thực trạng và đánh giá mức độ phát triển của nguồn lực trí tuệ ở Việt Nam, tác giả đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm phát triển nguồn lực trí tuệ cho xã hội ta ngày nay Đây là một cuốn sách hay và chứa đựng nhiều tâm huyết của người viết, tác giả luận án rất tâm đắc với nhiều quan điểm của tác giả cuốn sách, tuy nhiên, ở công trình này, TS Bùi Thị Ngọc Lan tập trung tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tổng lực nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới, còn tác giả luận án tiếp cận cuốn sách và tiếp thu tinh thần đề cao vị trí và vai trò nguồn lực trí tuệ để phục vụ hướng nghiên cứu của mình: Vai trò của tri thức khoa học trong phát triển kinh tế tri thức
Tác giả Danh Sơn viết về vấn đề ở khía cạnh Quan hệ giữa phát triển
khoa học và công nghệ với phát triển kinh tế – xã hội trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam, đã làm rõ vai trò động lực của tri thức khoa học và
công nghệ trong sự phát triển kinh tế – xã hội nói chung, tác giả này cho rằng tri thức khoa học chính là đầu tàu và là nhân tố có vai trò then chốt để có thể thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam; Tác giả
Nguyễn Đắc Hưng trong cuốn “Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất
nước” đã nêu lên vị trí vô cùng quan trọng của đội ngũ trí thức cũng như vai trò
quyết định của tri thức khoa học trong sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay
Đây là những tài liệu quý mà tác giả đã tìm hiểu, kế thừa, từ những góc nhìn, cách phân tích, đánh giá và những hướng nghiên cứu khác nhau, của các vấn đề khác nhau (có ít nhiều liên quan đến các nội dung của luận án) mà những nhà nghiên cứu đi trước đã đạt được, tác giả tiếp thu một cách có chọn lọc và từ
đó vận dụng vào giải quyết các nhiệm vụ của luận án một cách có hiệu quả hơn
Hướng thứ hai, đó là các công trình nghiên cứu về kinh tế tri thức nói chung trên thế giới và xu thế phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam
Ở nước ngoài, liên quan đến vấn đề này có khá nhiều tác giả với các tác
phẩm như: Admade M(2009), Knowledge – Based Economy and Local
Innovative Network:Recent theoretical and Methodogical Trend, Glasgow,
Scotland; APEC (1999), Toward knowledge – based economies in APEC, APEC
Trang 16David – Clandes, (1998), The wealth and Poverty of nation, USA; Đặng Thị Việt Đức(2009), The emergence of knowledge economy through ICT in developing
countries: the case of Vietnam, Luận án tiến sĩ Ohno K(2007), The East Asia growth regione and political development Vietnamese student Symposium on Economy and Technology, Tokyo Commission of Eroupean Communities (1993),
White Paper, The challenges and way forward into the 21 st century Ducatel K
(1998), Learing and Skill in the Knowledge Economy, Working Paper Sách dịch thì có Ngô Quý Tùng (2001), Kinh tế tri thức xu thế mới của xã hội thế kỷ XX,
Nhà xuất bản Đại học quốc gia, Hà Nội
Tác giả Ngô Quý Tùng trong cuốn “Kinh tế tri thức xu thế mới của xã hội
thế kỷ XXI” thì chỉ ra xu thế tất yếu của kinh tế tri thức trong tương lai không xa
và sự cấp thiết phải chuẩn bị hành trang và tâm thế để cùng thế giới tiến vào nền kinh tế tri thức Nội dung của cuốn sách đã cho chúng ta một cái nhìn khá toàn diện về kinh tế tri thức từ nguồn gốc, nội hàm và đặc điểm của kinh tế tri thức Tác giả này cũng đặt lại vấn đề về khoa học kỹ thuật là lực lượng sản xuất thứ nhất, đồng thời ông phát họa cách nhìn mới về các nguồn tài nguyên: tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên tri thức, từ đó đặt vấn đề là làm sao để nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng cạn kiệt giúp cho nền kinh tế công nghiệp có thể phát triển thành kinh tế tri thức
Tổ chức hợp tác Kinh tế Châu Á Thái Bình Dương (APEC) đã tổ chức hội
thảo “Hướng tới nền kinh tế dựa trên tri thức trong APEC” (Toward knowledge –
based econonies in APEC) Tổ chức này nhận ra tầm quan trọng của tri thức trong quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế bền vững trong tương lai, từ đó hướng đến phát triển các nền kinh tế APEC dựa trên tri thức Để giải quyết được mục
tiêu này, Ủy ban Kinh tế APEC khởi xướng dự án nghiên cứu "Hướng tới nền
kinh tế dựa trên tri thức trong APEC” vào giữa năm 1999, nhằm thúc đẩy hiệu
quả việc vận dụng sáng tạo và phổ biến tri thức trong các nền kinh tế của các quốc gia thuộc APEC Hội thảo đã được tổ chức tại Seoul, Hàn Quốc vào tháng 6 năm 1999 và tháng 6 năm 2000 Theo đó bảy nền kinh tế đã được lựa chọn để đại
Trang 17diện cho bốn cụm nền kinh tế APEC: các nền kinh tế phát triển nhất (Úc và Canada); các nền kinh tế phát triển cao ở châu Á (Singapore và Hàn Quốc); các nền kinh tế đang phát triển nhanh châu Á (Thái Lan và Philippines) và nền kinh tế
Mỹ Latinh (Chile)
Ủy ban cộng đồng chung Châu Âu từ năm 1993 đã cho xuất bản công trình
White Paper, The challenges and way forward into the 21 st century, là một công
trình nghiên cứu khá quy mô bàn về nhiều vấn đề khác nhau của xã hội ở thế kỷ XXI, từ cơ hội phát triển, năng lực cạnh tranh cho đến xu hướng ngành nghề, sự phát triển của khoa học công nghệ… nghiên cứu này đã đưa ra khái niệm xã hội thông tin (information society) và từ đó đưa đến khái niệm nền kinh tế thông tin, kinh tế tri thức với tư cách là nền kinh tế mà tốc độ phát triển, xu hướng chuyển đổi, năng lực cạnh tranh, các dịch vụ, xu hướng ngành nghề và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đều phụ thuộc nhiều vào thông tin, đặc biệt công trình này nhấn mạnh đến vị trí, vai trò của thông tin và công nghệ truyền thông – ICT – Information Comunities Technologies
Ở trong nước có rất nhiều công trình như công trình tiêu biểu của Đặng
Hữu (2001), Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa, Hà Nội GS TSKH Vũ Đình Cự – Trần Xuân Sầm (2006), Lực
lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Nguyễn Kế Tuấn (2004), Phát triển kinh tế tri thức, đẩy nhanh quá trình công
nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Trần Văn Tùng (2001), Nền kinh tế tri thức và yêu cầu đổi mới giáo dục Việt
Nam, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội Tấn Ngôn Trước (2000), Thời đại kinh tế tri thức, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Kinh tế thế giới tiến vào thế kỷ XXI (1993), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội PGS, TS Trần Cao Sơn
(2004), Môi trường xã hội nền kinh tế tri thức – những nguyên lý cơ bản, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Lê Ngọc (2000), Những xu thế kinh tế trong
thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội TS Trần Đình Thiên và
TS Trần Đức Ba (2011), Kinh tế tri thức và khoa học, công nghệ cao, Nhà xuất
Trang 18bản Thanh Niên Tập thể tác giả GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền, PGS.TS Đào Duy
Huân, TS Lương Minh Cừ (2005), Hướng đến nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, Nhà xuất bản Thống kê, Hà Nội Đặng Mộng Lân (2002), Kinh tế tri thức, những
khái niệm và vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Thanh Niên, Hà Nội Lê Thị Ngân
(2005), Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tiếp cận kinh tế tri thức ở Việt
Nam, Luận án tiến sĩ; Nguyễn Thị Ngọc Hương (2014), Phát triển Kinh tế tri thức ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, Luận
án tiến sĩ
Giáo sư,Viện sĩ Đặng Hữu trong công trình khoa học công phu và có giá trị
“Kinh tế tri thức, thời cơ và thách thức đối với sự phát triển của Việt Nam”, với nguồn tài liệu tham khảo phong phú và được chắt lọc hiệu quả, luận chứng thuyết phục, súc tích giáo sư đã đưa ra khá nhiều thông tin, tư liệu về khái niệm, đặc trưng, lịch sử hình thành và phát triển của một số nước của kinh tế tri thức cũng như thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện nay và kinh nghiệm của một số nước đi trước trong quá trình phát triển kinh tế tri thức Trên cơ sở trình bày thực trạng nền kinh tế Việt Nam, cuốn sách cũng đưa ra những gợi ý về định hướng và giải pháp phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ngày nay
Công trình Hướng đến nền kinh tế tri thức ở Việt Nam của tập thể tác giả
GS.TS Nguyễn Thanh Tuyền, PGS.TS Đào Duy Huân, TS Lương Minh Cừ, viết về nền kinh tế tri thức khá hệ thống, từ quá trình hình thành, phát triển, thực trạng xã hội Việt Nam trên con đường tiến đến nền kinh tế tri thức và các giải pháp chủ yếu đảm bảo xây dựng thành công kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Công trình viết chung của hai tác giả GS TSKH Vũ Đình Cự và Trần
Xuân Sầm Lực lượng sản xuất mới và kinh tế tri thức góp phần làm rõ hơn
những quan điểm về kinh tế tri thức được nêu lên trong văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, và giúp cho các nhà nghiên cứu, những người quan tâm đến vấn đề có cái nhìn khái quát và sâu sắc hơn về sự tiến bộ của lực lượng sản xuất hiện nay, cũng như ảnh hưởng có tính quyết định của nó đến sự phát triển của nền
Trang 19kinh tế tri thức Cuốn sách là một công trình nghiên cứu nghiêm túc, được kết cấu thành XVIII chương, phần đầu tiên cuốn sách tập trung trình bày một cách khá toàn diện và đặc biệt khai thác, nhấn mạnh về khoa học, công nghệ và công nghệ cao; về lực lượng sản xuất mới cũng như những đặc điểm chủ yếu và những tác động xã hội của lực lượng sản xuất mới (là khoa học công nghệ và công nghệ cao); phần thứ hai là các vấn đề liên quan đến kinh tế tri thức, tác giả đề cập đến
xu thế phát triển kinh tế tri thức như là một tất yếu lịch sử, những đặc trưng chủ yếu cũng như sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức ở một số nước trên thế giới, nội dung đáng chú ý ở phần này là các tác giả đề cập đến hai hệ thống chính trị tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa với kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay, cuối cùng, các tác giả tìm hiểu về chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay
Trên đây, là những nhà nghiên cứu có uy tín cùng những công trình có giá trị của họ đã đưa ra nhiều thông tin tư liệu về nền kinh tế tri thức khá hệ thống, từ quá trình hình thành, phát triển của kinh tế tri thức ở các nước, ở Việt Nam, thực trạng xã hội Việt Nam trên con đường tiến đến nền kinh tế tri thức và các giải pháp chủ yếu đảm bảo xây dựng thành công nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, là những tài liệu tham khảo hữu ích cho tác giả luận án
Hướng thứ ba, đó là các công trình nghiên cứu về thực trạng và giải pháp phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam hiện nay
Liên quan đến nội dung này, có nhiều công trình nghiên cứu như: Ban
Tuyên giáo Trung ương (Trung tâm tư liệu quốc gia) (2000), Nền kinh tế tri thức
và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam – Kỷ yếu Hội thảo (2 tập), Nhà xuất bản
Chính trị quốc gia, Hà Nội Đỗ Nguyên Phương (2003), Tình hình và kết quả hoạt
động khoa học và công nghệ ở nước ta, Tạp chí Công tác khoa giáo Bộ khoa học
công nghệ và môi trường (1996), Chiến lược công nghiệp hóa hiện đại hóa đất
nước và cách mạng công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Bộ khoa
học công nghệ và môi trường (2002), Khoa học và công nghệ thế giới, Hà Nội
Bộ khoa học và công nghệ (2002), Khoa học và công nghệ Việt Nam 2001, Hà
Trang 20Nội GS TSKH Vũ Đình Cự (2006), Khoa học công nghệ, lực lượng sản xuất
hàng đầu, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Đỗ Minh Cương (1998), Những vấn đề cơ bản về quản lý khoa học và công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị
quốc gia, Hà Nội Nguyễn Văn Thuỵ (1994), Một số vấn đề về chính sách phát
triển khoa học và công nghệ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội TS Vũ
Trọng Lâm (2004), Kinh tế tri thức ở Việt Nam - quan điểm và giải pháp phát
triển, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà Nội Hoàng Đình Phu (1998), Khoa học và công nghệ với các giá trị văn hóa, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật, Hà
Nội Phạm Xuân Nam (2001), Triết lý về mối quan hệ giữa cái kinh tế và cái xã
hội trong phát triển, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội Trần Khánh Đức
(2009), Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.TS Nguyễn Thanh (2007), Vấn đề con người và giáo
dục con người nhìn từ góc độ triết học xã hội, Nhà xuất bản Tổng hợp, TP Hồ
Chí Minh Trần Văn Tùng (2005), Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực
tài năng – kinh nghiệm của thế giới, Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội TS Hồ Đức
Việt (2010), Xây dựng, phát triển thị trường khoa học công nghệ trong nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà
Nội Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách khoa học công nghệ, Nguyễn Thị
Anh Thu (chủ biên) (2000), Đổi mới chính sách sử dụng nhân lực khoa học và
công nghệ trong cơ quan nghiên cứu – phát triển, Nhà xuất bản Khoa học xã hội,
Hà Nội
Ban tuyên giáo Trung ương, Bộ Khoa học công nghệ và Môi trường cùng
Bộ Ngoại giao phối hợp tổ chức hội thảo quốc gia: Nền kinh tế tri thức và những
vấn đề đặt ra đối với Việt Nam Hội Thảo có 153 đại biểu, 20 Bộ, ngành tham dự
với 25 đề tài nghiên cứu được đăng trong 2 tập Kỷ yếu của Hội thảo, các đề tài này tập trung làm rõ nhưng vấn đề chung về kinh tế tri thức, về thời cơ, thách thức và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam trước xu thế phát triển kinh tế tri thức Tại Hội thảo, nhiều bài tham luận của các chuyên gia có uy tín được trình bày, cho thấy cái nhìn bước đầu, nhưng khá toàn diện về nền kinh tế tri thức và
Trang 21diện mạo của nó ở Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, khi Việt Nam đã hội nhập sâu vào nền kinh tế toàn cầu Đây là một tài liệu quý, tập hợp những ý kiến, nhận định của các chuyên gia đầu ngành và những nhà nghiên cứu có uy tín trong lĩnh vực nghiên cứu về kinh tế tri thức
Các công trình của Bộ Khoa học và công nghệ về Khoa học công nghệ Việt
Nam và Khoa học công nghệ thế giới, đã thống kê và cho thấy thực trạng phát
triển tri thức khoa học ở Việt Nam cũng như ở thế giới qua từng năm, là công trình công phu, nghiêm túc và rất có chất lượng, nó giúp phác họa được bức tranh của tri thức khoa học trong những năm qua, cho thấy những thành tựu, những hạn chế trong quá trình phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam Hơn nữa những công trình này còn cho thấy được mối tương quan so sánh giữa nền khoa học công nghệ nước nhà trong bức tranh chung của thế giới
TS.Vũ Trọng Lâm trong cuốn sách Kinh tế tri thức ở Việt Nam – quan
điểm và giải pháp phát triển, đã phác họa một cách khá đầy đủ và hệ thống các
vấn đề liên quan đến kinh tế tri thức ở Việt Nam, đây cũng là một trong những công trình đã bước đầu phân tích thực trạng của kinh tế tri thức tại Việt Nam và
đề xuất một số giải pháp khá hữu ích nhằm phát triển kinh tế tri thức
Các tác giả Trần Khánh Đức, Trần Văn Tùng đều quan tâm đến vấn đề
phát triển nguồn nhân lực trong các công trình của mình như: Giáo dục và phát
triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI và Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài năng – kinh nghiệm của thế giới Đây là những tài liệu tìm hiểu và
khẳng định về tầm quan trọng của nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao, những bài học kinh nghiệm từ các nước phát triển trong quá trình đào tạo, sử dụng nguồn lực quý này cho sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ để tiến lên kinh tế tri thức
Đó là tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài, nhiều công trình đã tìm hiểu
và đưa ra cái nhìn toàn diện về tri thức khoa học, kinh tế tri thức, nhưng chưa một công trình nào đi sâu nghiên cứu về những tác động to lớn và vai trò hạt nhân của tri thức khoa học trong kinh tế tri thức để xây dựng những định hướng và giải
Trang 22pháp phát triển tri thức khoa học nhằm hướng đến xây dựng phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay Tiếp biến một cách nghiêm túc tất cả những kết quả nghiên cứu đã nêu, tác giả luận án có điều kiện để tập trung giải quyết các mục đích và nhiệm vụ đã đặt ra cho luận án một cách toàn diện, đa chiều, sâu sắc và có giá trị thiết thực
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
3.1 Mục đích của luận án
Mục đích của luận án là tìm hiểu những vấn đề lý luận chung về tri thức khoa học và kinh tế tri thức, tập trung nghiên cứu, phân tích làm rõ vai trò to lớn của tri thức khoa học đối với quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức của Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp cơ bản để phát triển tri thức khoa học, phục vụ quá trình phát triển kinh tế tri thức
3.2 Nhiệm vụ của luận án
Để đạt được mục đích trên, luận án thực hiện các nhiệm vụ cơ bản như sau:
Thứ nhất: Phân tích làm rõ các vấn đề lý luận chung về tri thức khoa học,
kinh tế tri thức và vai trò của tri thức khoa học trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện đặc thù ở Việt Nam hiện nay
Thứ hai: Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển tri thức khoa học ở Việt
Nam trong điều kiện hiện nay; tìm hiểu kinh nghiệm của một số quốc gia đi trước trong việc phát triển tri thức khoa học để phát triển kinh tế tri thức và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Thứ ba: Trình bày và phân tích làm rõ định hướng cơ bản, từ đó đề xuất
những giải pháp nhằm góp phần phát triển tri thức khoa học để thực hiện quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp luận nghiên cứu của luận án
Luận án được nghiên cứu dựa trên nguyên tắc thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Tư tưởng Hồ Chí Minh, lập trường quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam Ngoài
ra để giải quyết các mục đích và nhiệm vụ mang tính đặc thù của luận án, tác giả
Trang 23còn sử dụng tổng hợp những phương pháp nghiên cứu khác như phân tích, tổng hợp, so sánh, phương pháp logic – lịch sử, thống kê xã hội học, phân tích, xử lý
số liệu, v v…
5 Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án
Luận án tập trung nghiên cứu về tri thức khoa học trong quá trình xây dựng
và phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay dưới góc độ của một luận án tiến sĩ triết học Do đó, tri thức khoa học ở đây được xem là một trong những yếu
tố tiên quyết của lực lượng sản xuất, giữ vai trò quyết định trong quá trình tri thức hóa nền kinh tế, là một động lực to lớn thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển kinh tế tri thức song song với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, trong chiến lược phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
6 Cái mới của luận án
Kết quả nghiên cứu của luận án đã có đóng góp mới về mặt học thuật, thể hiện trên một số điểm sau đây:
Thứ nhất, luận án đã góp phần hệ thống hóa và luận chứng vai trò hạt nhân
của tri thức khoa học đối với việc xây dựng và phát triển kinh tế tri thức trong điều kiện hiện nay tại Việt Nam, nhìn tri thức khoa học không chỉ từ góc độ là yếu tố bên trong mà còn được “khách quan hóa” thành yếu tố tác động cơ bản đến kinh tế tri thức
Thứ hai, từ sự đánh giá, phân tích thực trạng, làm rõ mặt mạnh, mặt hạn
chế của sự phát triển tri thức khoa học ở Việt Nam, luận án đã gợi mở những định hướng, nêu rõ mục tiêu và những giải pháp cơ bản để phát huy vai trò của tri thức khoa học đối với quá trình xây dựng và phát triển kinh tế tri thức ở nước ta gắn với công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay
7 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của luận án
Về mặt lý luận, luận án góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về tri
thức khoa học và thực trạng, tính tất yếu phải định hướng xây dựng, phát triển nền kinh tế tri thức ở Việt Nam hiện nay
Trang 24Về mặt thực tiễn, những giải pháp cơ bản để xây dựng phát triển thành
công hệ thống tri thức khoa học mà luận án đề xuất sẽ góp phần vào quá trình xây dựng nền kinh tế tri thức ở Việt Nam, đưa đất nước tiến nhanh, tiến mạnh và tiến vững chắc theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Ngoài ra, luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên chuyên ngành triết học và một số ngành khoa học xã hội nhân văn khác trong quá trình nghiên cứu về vai trò của tri thức khoa học đối với quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức ở nước ta hiện nay
8 Kết cấu của luận án
Để thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ đã được xác định trên đây, kết cấu
của luận án gồm có phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của luận án được cấu trúc thành ba chương, 6 tiết, phần danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Trang 25Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRI THỨC KHOA HỌC VÀ KINH TẾ TRI THỨC
1.1 TRI THỨC KHOA HỌC VÀ KINH TẾ TRI THỨC
Từ khi ra đời, tri thức khoa học luôn có một vai trò to lớn đối với sự phát triển xã hội, đặc biệt, bước vào thời kỳ hiện đại, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, thông qua những giải pháp kỹ thuật, nó đã tác động mạnh mẽ và trở thành một trong những phương tiện vĩ đại, là động lực thúc đẩy xã hội phát triển
Vì nhận thức được vai trò quan trọng và tầm ảnh hưởng lớn của tri thức khoa học
có đối với tiến trình phát triển xã hội, cho nên trong chương một, luận án sẽ tập
trung làm rõ những vấn đề lý luận chung về tri thức khoa học và kinh tế tri thức, đồng thời phân tích vai trò của tri thức khoa học đối với quá trình xây dựng và
phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay
1.1.1 Khái niệm và phân loại tri thức khoa học
Trên cơ sở tham khảo các tài liệu khác nhau, đồng thời dựa trên những lập luận, phân tích, lý giải của mình, trước hết luận án tập trung trình bày làm rõ những vấn đề lý luận chung về tri thức khoa học và kinh tế tri thức như là cơ sở lý thuyết cho luận án
Thứ nhất, về khái niệm tri thức khoa học
Tri thức khoa học luôn có những ảnh hưởng lớn đến con người và đời sống
xã hội loài người, cho nên tìm hiểu về tri thức khoa học luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của các học giả ở mọi lĩnh vực, đã có rất nhiều định nghĩa về tri thức khoa học được các nhà nghiên cứu đưa ra
Theo đánh giá của tác giả Phạm Khiêm Ích trong lời dẫn cho cuốn Tri thức
về tri thức - nhân học về tri thức thì tri thức là một khái niệm nhiều chiều, theo
nghĩa cùng một lúc, nó vừa là vật lý, sinh học, não, tinh thần, tâm lý, văn hoá, xã hội không tách rời nhau, cho nên, nó có thể được hiểu theo nhiều phương diện, nhiều phương thức và nhiều trình độ khác nhau, mà mỗi thuật ngữ ấy lại thích hợp với một phương diện, một khía cạnh nào đó (người ta có thể dùng một loạt
Trang 26các từ như: kiến thức, tư duy, thông tin, lý thuyết hệ thống,… để cùng chỉ cho tri thức) Tri thức tiến hành phản ánh, mô tả lại hiện thực khách quan, nó thực chất là một cấu tạo của tinh thần và là một sự diễn đạt, vì vậy nội hàm của nó sẽ phụ thuộc nhiều vào sự phản ánh, sự mô tả, phụ thuộc vào cấu tạo của tinh thần và sự diễn đạt ấy như thế nào
Edgar Morin, viết về tri thức đã nhận định: người ta có thể ăn mà không cần biết đến các quy luật tiêu hoá, thở mà không cần biết đến các quy luật hô hấp, người ta có thể suy nghĩ mà không cần biết đến các quy luật và bản chất của tư duy, người ta có thể nhận thức mà không cần biết về tri thức, tuy nhiên như vậy thì mọi hoạt động ấy đều là các hoạt động tự phát, thiếu sự định hướng và thiếu thứ ánh sáng lấp lánh của chân lý soi đường ở phía trước, và cũng vì vậy mà những hoạt động ấy sẽ không có, hoặc sẽ kém hiệu quả, điều này cho thấy vai trò định hướng của tri thức khoa học cho hoạt động thực tiễn và làm rút ngắn quá trình đạt mục tiêu hơn tri thức kinh nghiệm, theo đó, có thể hiểu, đối với học giả này thì tri thức là những hiểu biết của con người về thế giới và có tác dụng định hướng cho con người trong hoạt động sống
Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế thế giới (OECD) cho rằng: Tri thức
được con người sáng tạo ra, trong đó tri thức về khoa học, về kỹ thuật, về quản
lý là các bộ phận quan trọng nhất Theo quan điểm này, tri thức ở trình độ cao -
tri thức khoa học – được coi trọng, không đề cập đến tri thức hình thành trong quá trình cảm tính, tích luỹ từ kinh nghiệm bị xem nhẹ, nói cách khác, định nghĩa này đã đồng nhất tri thức với tri thức khoa học
Theo GS.TS Vũ Đình Cự: “Tri thức, theo nghĩa thông thường, là sự hiểu
biết có hệ thống của con người về sự vật, hiện tượng tự nhiên hoặc xã hội.”[15,
tr.69]; Còn GS VS Đặng Hữu thì nhận định rằng “tri thức là sự hiểu biết của con
người đối với thế giới khách quan và khả năng vận dụng chúng vào thực tiễn Tri thức cũng là sự tích luỹ thông tin và những kỹ năng có được qua việc sử dụng chúng.”[40, tr 85]
Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Tri thức là những điều hiểu biết nhờ học
Trang 27tập hay kinh nghiệm mà có”[95, tr.89]
Như vậy, có thể hiểu tri thức là sự hiểu biết của con người về hiện thực khách quan, tri thức có được khi con người biết tích cực nỗ lực học hỏi và thu thập kinh nghiệm, thông qua một quá trình tích luỹ lâu dài của con người trong quá trình thực hiện quan hệ với giới tự nhiên và các quan hệ trong xã hội Tri thức khác với thông tin, nhưng tri thức lại có mối quan hệ chặt chẽ với thông tin
Hoạt động nhận thức nhằm hình thành nên tri thức nằm trong những tương tác, ràng buộc với lao động, đạo đức, tôn giáo, chính trị…còn chính quyền thì luôn luôn kiểm soát sự hiểu biết với mục đích kiểm soát quyền năng của chính sự hiểu biết Để có được tri thức cần phải liên kết, hội tụ nhiều quá trình, nhiều yếu
tố, từ tâm sinh lý, trình độ tư duy của chủ thể nhận thức, cho đến ngôn ngữ, logic,
ý tưởng, động lực, hiện thực khách quan…vì thế, hoàn toàn có lý khi các nhà
nghiên cứu khẳng định tri thức là một hiện tượng nhiều chiều
Trên cơ sở tổng kết và kế thừa có chọn lọc tất cả những kết quả nghiên cứu
trên, chúng tôi cho rằng: tri thức là những hiểu biết của con người đối với thế
giới khách quan và khả năng vận dụng những hiểu biết đó vào cải tạo thực tiễn,
nó là sản phẩm của quá trình học tập, tích luỹ thông tin hay tích luỹ kinh nghiệm qua quá trình hoạt động thực tiễn mà có
Theo nghĩa đó tri thức bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ
năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dục, phải đáp ứng ba tiêu chí cơ bản là khả tín, xác thực và chứng minh được, đó là sự hiểu biết về một đối tượng,
về mặt lý thuyết hay thực hành
Thực chất tri thức là một khối lượng thông tin đã được xử lý, đồng hoá, đưa
vào nhận thức của cá nhân, là thông tin kết hợp cùng với phán đoán; Xử lý các thông tin bằng tư duy, nhận thức ta đạt được các hiểu biết về tự nhiên và xã hội,
đó là tri thức
Trong mọi thời đại, tri thức của con người bao giờ cũng là yếu tố quan trọng, là phương tiện vĩ đại nhất để thúc đẩy xã hội phát triển Nếu không có tri thức và sự truyền bá, kế thừa tri thức thông qua các thế hệ, nhân loại sẽ luôn đứng
Trang 28ở vạch xuất phát, không thể có nền văn minh phát triển rực rỡ như ngày nay Tri thức khoa học chính là phương tiện để cho con người nhận thức thế giới, hơn nữa còn là để con người cải thiện mối quan hệ giữa con người và giới tự nhiên Mức
độ sở hữu tri thức của con người càng phát triển thì trình độ chinh phục giới tự nhiên của con người càng cao Trí tuệ con người có ảnh hưởng lớn đến xã hội, thời kỳ cổ đại, con người đã sớm biết dựa vào tri thức để tồn tại và phát triển, hiện nay, với hoạt động lao động sản xuất dựa vào nền cơ khí máy móc và trình độ kỹ thuật cao, con người đã đứng ở vị thế làm chủ giới tự nhiên và buộc giới tự nhiên phải phục tùng mình Như vậy sự thay thế vị trí làm chủ giữa con người và giới tự nhiên được thực hiện nhờ vào trình độ sở hữu tri thức khoa học của con người trong hoạt động thực tiễn của mình
Tri thức chỉ trở thành chân lý khách quan, trở thành tri thức khoa học khi
nó phù hợp với thực tiễn Trong các yếu tố của ý thức con người thì tri thức là cơ bản Tri thức thường là sản phẩm của lao động và mọi sản phẩm của lao động đều
là vật hóa của tri thức Theo đó chúng tôi cho rằng hiểu tri thức là những hiểu biết
về chân lý khách quan là chưa đầy đủ, nó phải bao hàm luôn cả quá trình đem những hiểu biết ấy vận dụng vào thực tiễn và phải được trải nghiệm và được kiểm chứng thông qua thực tiễn
Vậy, tri thức khoa học là kết quả của quá trình nhận thức có mục đích, có
kế hoạch, có phương pháp, là hệ thống tri thức đi sâu phản ánh đúng đắn bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng, quá trình trong thế giới thông qua hoạt động thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm
Trong hoạt động nghiên cứu khoa học, thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát các dấu hiệu biểu hiện mang tính vật chất của tự nhiên nhằm thu thập thông tin, sắp xếp các thông tin đó thành dữ liệu
để phân tích nhằm giải thích cách thức hoạt động, tồn tại của sự vật hiện tượng Tri thức khoa học là một loại tài sản vô cùng quý giá và là tài sản đặc biệt, không bị tổn thất hoặc hao mòn trong quá trình sử dụng Khác với tài sản hữu hình (một cỗ máy, các hệ thống dây chuyền máy móc hiện đại, đất đai, tài
Trang 29nguyên…), tài sản tri thức là tài sản vô hình, nguồn tài sản trí tuệ này có đặc trưng riêng là khả năng sử dụng và khai thác chúng không mang tính giới hạn và không
bị loại trừ, tri thức vốn là tài sản của cá nhân, thông qua sự hấp thụ thông tin và tìm kiếm kiến thức của một cá nhân, và chỉ người đó mới sử dụng được Tuy nhiên, cần khuyến khích để biến tri thức khoa học - tài sản của các cá nhân ưu tú được xã hội hoá và trở thành thứ tài sản chung của xã hội, mọi người cùng khai thác, sử dụng phục vụ sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng, cho nên nhìn chung, con người là chủ thể của tài sản trí tuệ, khi tri thức đã được phổ biến thì nó biến thành tài sản chung và không giới hạn, lúc này tri thức tồn tại như là một tài sản công cộng Hiện nay, trong mọi hoạt động, nếu thiếu tri thức thì sẽ tạo nên những khoảng trống khó có thể lấp đầy, nếu không có phương thức quản lý hiệu quả loại tài sản này thì sẽ tạo nên sự phát triển thiếu bền vững
Thứ hai, về phân loại tri thức khoa học
Tri thức khoa học được hình thành từ nhận thức khoa học, là trình độ mới
về chất so với tri thức thông thường, đây là thành quả vĩ đại của trí tuệ con người, đánh dấu sự phát triển cao trong việc nhận thức thế giới và cải tạo thế giới Xét về
mặt cấu trúc, tri thức bao gồm hai cấp độ: tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận
Tri thức là sản phẩm hoạt động nhận thức của con người, là kết quả mối
tương quan giữa chủ thể nhận thức và khách thể nhận thức, thực chất đây là quá trình phản ánh hiện thực khách quan, là quá trình tạo thành tri thức trong bộ óc con người, hoạt động nhận thức là một trong những hoạt động chủ yếu để hình thành ý thức (mà hạt nhân của nó là tri thức) về thế giới Theo đó, con người là chủ thể tích cực, sáng tạo của nhận thức, khi nhận thức, các yếu tố của chủ thể người như lý tưởng, tài năng, ý chí… đều tham gia vào quá trình nhận thức với các mức độ khác nhau, và ảnh hưởng đến kết quả nhận thức (tri thức) Hơn nữa, nhận thức không phải là một hành động tức thời, giản đơn, máy móc mà là một quá trình biện chứng, tích cực, sáng tạo, được diễn ra theo con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, là quá trình nhận thức đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất kém sâu sắc đến bản chất sâu
Trang 30sắc hơn, và đến thực tiễn - ứng dụng, triển khai Trong nghiên cứu của nhà khoa học, thì tri thức khoa học cũng phải đi từ nghiên cứu cơ bản đến nghiên cứu ứng dụng, triển khai, quan trọng là phải biết vận dụng tri thức khoa học vào nhiệm vụ cải tạo thực tiễn
Lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác dựa vào tính tự phát hay tự giác của sự xâm nhập vào bản chất của sự vật chia quá trình nhận thức thành hai giai đoạn cơ bản với trình độ và tính chất khác nhau nhưng có liên hệ chặt chẽ với nhau: nhận thức thông thường – hình thành nên tri thức thông thường và nhận thức khoa học – hình thành nên tri thức khoa học Tri thức thông thường chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở bề ngoài, ngẫu nhiên, tự nó không thể chuyển thành nhận thức khoa học Trên cơ sở của tri thức thông thường tri thức khoa học được hình thành Tri thức thông thường là cơ sở dữ liệu để phát triển tri thức khoa học, tri thức thông thường càng phong phú, đặc sắc thì tri thức khoa học càng đúng đắn Tuy nhiên, muốn phát triển từ tri thức thông thường thành tri thức khoa học, cần sự tham gia của những nhà khoa học, tổng kết khái quát các tri thức tiền khoa học
Tri thức kinh nghiệm là trình độ thấp, chủ yếu thu nhận được thông qua
quan sát và thí nghiệm, nó nảy sinh một cách trực tiếp từ thực tiễn, lao động sản xuất, đấu tranh xã hội hoặc thí nghiệm khoa học, phản ánh cái hiện tượng, cái đơn nhất, cái cụ thể trực tiếp, bề ngoài của sự vật Tri thức kinh nghiệm là kết quả quá trình phản ánh hiện thực một cách cụ thể và sinh động, cho nên nội dung của tri thức kinh nghiệm khá đầy đủ, đặc sắc về hiện thực, nhưng lại ít sâu sắc Theo chủ nghĩa duy vật biện chứng thì dựa vào trình độ thâm nhập vào bản chất của đối tượng chia ra thành nhận thức kinh nghiệm - hình thành từ sự quan sát trực tiếp các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội hay trong các thí nghiệm khoa học - tri thức kinh nghiệm là kết quả của nó, được phân làm hai loại:
Tri thức kinh nghiệm thông thường (tri thức tiền khoa học), là loại tri thức được hình thành từ sự quan sát trực tiếp hàng ngày về cuộc sống và sản xuất Tri thức này rất phong phú, nhờ có tri thức này con người có vốn kinh nghiệm sống dùng để điều chỉnh hoạt động hàng ngày Tri thức kinh nghiệm khoa học là loại
Trang 31tri thức thu được từ sự khảo sát các thí nghiệm khoa học, loại tri thức này quan trọng ở chỗ đây là cơ sở để hình thành nhận thức khoa học và lý luận Hai loại tri thức này có quan hệ chặt chẽ với nhau, xâm nhập vào nhau để tạo nên tính phong phú, sinh động của tri thức kinh nghiệm
Tri thức kinh nghiệm mặc dù thiên về miêu tả, nhưng cũng đã bước đầu mang tính trừu tượng và khái quát Tri thức kinh nghiệm có vai trò không thể thiếu được trong thực tiễn cuộc sống, tuy nhiên hạn chế của loại tri thức này là nó chỉ mới đem lại sự hiểu biết một cách riêng lẽ, còn rời rạc, chưa cho phép nắm được cái tất yếu và các mối quan hệ mang tính bản chất
Tri thức lý luận là trình độ cao của tri thức khoa học, là kết quả của quá
trình nghiên cứu, học tập nghiêm túc, bền bỉ, có hệ thống của con người, là sự phản ánh sâu sắc hơn, đầy đủ hơn, chính xác hơn về đối tượng nhận thức Tri thức khoa học được hình thành một cách tự giác và mang tính trừu tượng, nó là hình thức khái quát từ tri thức kinh nghiệm, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm, nhưng tri thức lý luận không hình thành một cách tự phát, và do tính độc lập tương đối của
nó, ở một mức độ nhất định, lý luận có thể đi trước những dữ kiện kinh nghiệm Tính hệ thống, chặt chẽ và logic là đặc trưng quan trọng để phân biệt tri thức khoa học với tri thức thông thường Vì tri thức khoa học có tính trừu tượng và logic cao, được phản ánh dưới dạng các lý thuyết hệ thống, có tính khái quát, nó phản ánh dưới dạng logic trừu tượng những thuộc tính, kết cấu, những mối quan hệ bản chất, những quy luật của thế giới khách quan, cho nên, về mặt bản chất, tri thức khoa học được phản ánh thành một hệ thống chỉnh thể các khái niệm, phạm trù, quy luật, có liên hệ nội tại với nhau và mang tính chân thực Tri thức khoa học hướng tới việc nghiên cứu các khách thể của tự nhiên, xã hội và bản thân con người, nó có căn cứ và cơ sở khoa học hết sức thuyết phục, nó hướng tới chân lý
và là phương tiện để từng bước đạt tới chân lý Bên cạnh việc sử dụng ngôn ngữ thông thường để miêu tả thế giới khách quan, tri thức khoa học còn dùng ngôn ngữ chuyên môn, sử dụng ngôn ngữ “nhân tạo” để phản ánh thế giới, nếu ngôn ngữ được xem là công cụ của tư duy thì ngôn ngữ khoa học là công cụ của tư duy
Trang 32khoa học, nó không ngừng được phát triển và bổ sung tương ứng với sự phát triển mới của các lĩnh vực khoa học Nghĩa là, sự ra đời của tri thức khoa học đòi hỏi
sự vận dụng một cách hệ thống các phương pháp nghiên cứu và sử dụng cả ngôn ngữ thông thường và thuật ngữ khoa học để diễn tả sâu sắc bản chất và quy luật của đối tượng nghiên cứu Vì thế tri thức khoa học có vai trò ngày càng to lớn trong hoạt động thực tiễn, đặc biệt trong thời đại khoa học và công nghệ Như vậy, tri thức lý luận mang lại những hiểu biết có tính bản chất, bên trong, vạch ra những mối liên hệ tất nhiên, và tính quy luật của đối tượng cho phép con người tiến gần sát đến chân lý về sự vật Nhiệm vụ của nhận thức lý luận là đem quy sự vận động bề ngoài về sự vận động bên trong bản chất Vì tri thức khoa học sâu sắc hơn, chính xác, hệ thống hơn, nên phạm vi ứng dụng của nó cũng phổ biến hơn, rộng hơn nhiều so với tri thức kinh nghiệm Do tính gián tiếp và trừu tượng hóa cao nên đôi khi lý luận có thể bị xa rời thực tiễn và ảo tưởng
Để hình thành tri thức khoa học cần phải có sự hỗ trợ của cả một hệ thống các phương tiện và các phương pháp nghiên cứu chuyên môn, quá trình nhận thức khoa học, cũng như sự hỗ trợ của các máy móc, các phương tiện kỹ thuật hiện đại như máy gia tốc, kính thiên văn, vô tuyến điện, kính hiển vi điện tử….Ngoài ra,
để thu nhận được tri thức khoa học, cần có sự bổ trợ thêm của phương pháp thu nhận tri thức kinh nghiệm như quan sát và thí nghiệm, là các phương pháp để xây dựng và phát triển lý thuyết khoa học
Là một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, tri thức khoa học phản ánh hiện thực khách quan, trong mối quan hệ tương tác giữa khách thể nhận thức và chủ thể nhận thức, nó xây dựng nên hệ thống chân lý khoa học về thế giới, và diễn đạt chúng bằng các khái niệm, các phạm trù, quy luật, những nguyên lý khái quát, những giả thuyết, học thuyết khoa học, v v… Tri thức khoa học không chỉ hướng vào việc giải thích thế giới, mà quan trọng hơn còn hướng tới việc cải tạo, làm biến đổi thế giới theo xu hướng có lợi cho con người “Khoa học không có giới hạn trong sự phát triển vì tư duy của con người không có giới hạn trong nhận thức”[ 89, tr.14], vì vậy, tri thức khoa học luôn luôn phát triển và hoàn thiện cùng
Trang 33với sự phát triển khả năng nhận thức của con người và trình độ phát triển của lịch
sử xã hội
Là hệ thống tri thức khái quát về các sự vật, hiện tượng, quá trình của thế giới, về các quy luật tồn tại và vận động của chúng, tri thức khoa học được xác lập trên các căn cứ xác đáng, phản ánh đúng bản chất của thế giới, có thể kiểm tra được và có tính ứng dụng trong hoạt động thực tiễn Tri thức khoa học đưa ra phải dựa trên sự kiểm nghiệm và chứng thực của thực tiễn, đồng thời phải là kết quả của một quá trình nghiên cứu nghiêm túc, đầy đủ, đáng tin cậy, phải dựa trên quá trình khái quát hoá, trừu tượng hoá cao, bỏ qua những cái không cơ bản nhằm phát hiện ra bản chất và những quy luật khách quan về thế giới, do vậy, tri thức khoa học là sản phẩm cao cấp của trí tuệ con người
Kế thừa và phát triển thành tựu tri thức nhân loại, chủ nghĩa Mác – Lênin cho rằng, tri thức khoa học (ý thức khoa học) nó vừa là một hình thái ý thức xã hội, lại vừa là một hiện tượng xã hội đặc biệt Quan điểm mác xít cho rằng, tri thức khoa học là một hệ thống tri thức phản ánh đúng đắn, chân thực nhất về thế giới, dưới dạng hệ thống logic và đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn Đối tượng phản ánh của tri thức khoa học bao quát mọi lĩnh vực của tự nhiên, xã hội và tư duy, như vậy, đối tượng của tri thức khoa học rất rộng lớn, đây cũng là một trong những sự khác biệt giữa tri thức khoa học với hệ thống những hình thái ý thức xã hội khác
Tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận là hai trình độ khác nhau, trong đó tri thức kinh nghiệm là cơ sở của tri thức lý luận, tri thức thông thường có trước tri thức khoa học và là nguồn chất liệu để xây dựng nội dung của các khoa học, vì
nó gắn chặt với thực tiễn nên nó vừa cung cấp cho tri thức lý luận những tư liệu phong phú, lại vừa là cơ sở hiện thực để kiểm tra, bổ sung cho lý luận Ngược lại, mặc dù được hình thành từ tổng kết kinh nghiệm, tri thức lý luận không xuất hiện một cách tự phát từ kinh nghiệm, nó lại tác động trở lại tri thức thông thường, xâm nhập và làm cho tri thức thông thường phát triển, tăng cường nội dung khoa học cho quá trình nhận thức thế giới của con người Do tính độc lập tương đối của
Trang 34nó, lý luận có thể đi trước những sự kiện kinh nghiệm, hướng dẫn sự hình thành tri thức kinh nghiệm có giá trị, lựa chọn kinh nghiệm hợp lý để phục vụ cho hoạt động thực tiễn
Nắm vững cấu trúc, bản chất, chức năng của từng trình độ tri thức cũng như mối quan hệ biện chứng giữa chúng có ý nghĩa phương pháp luận quan trọng trọng việc đấu tranh khắc phục bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa và bệnh giáo điều để xây dựng các hệ thống tri thức toàn diện Trong thời đại của bùng nổ thông tin, thời đại của khoa học công nghệ, thời đại của kinh tế tri thức, nhờ vào tri thức khoa học, con người không ngừng vươn tới cái mới, vươn tới sự sáng tạo, vươn lên làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân
Về phân loại, tri thức khoa học là một lĩnh vực rất rộng lớn, phân loại tri
thức là một vấn đề được các nhà nghiên cứu sớm quan tâm
Ngay từ thời cổ đại Aristote đã chia tri thức thành ba nhóm dựa trên tiêu chí và mục đích nghiên cứu của khoa học Thứ nhất là tri thức khoa học mang tính thực tiễn liên quan đến đạo đức, chính trị Thứ hai là nhóm tri thức khoa học sáng tạo như nghệ thuật, kỹ thuật….Thứ ba, nhóm tri thức khoa học tư biện như triết học, toán học, vật lý… Nhà thực chứng luận thế kỷ XVIII – XIX, Auguste Come thì chia tri thức khoa học thành 6 lĩnh vực cơ bản là: Toán học, thiên văn học, vật lý học, hóa học, sinh vật học, xã hội học, và sắp xếp theo trật tự xuất hiện của các lĩnh vực này
Một số nhà nghiên cứu lại thống nhất cho rằng có hai loại tri thức đó là tri
thức hiện là tri thức có thể diễn tả được bằng chữ viết, lời nói, hình vẽ, âm thanh,
v.v… thông qua ngôn ngữ có lời hoặc không lời, nguyên tắc hệ thống, chương trình máy tính, chuẩn mực hay các phương tiện khác, có thể biểu diễn bằng công nghệ số (digitaliser), loại tri thức này được giải thích và mã hóa bằng văn bản, dễ dàng chuyển giao, thường được phổ biến và tiếp nhận qua hệ thống giáo dục và đào tạo, sách vở (như những hiểu biết, những lý thuyết về một đối tượng) Tri thức hiện được phổ biến rất nhanh trong cộng đồng, đặc biệt là từ khi được hỗ trợ bởi các phương tiện thông tin truyền thông thì việc chuyển giao, phổ biến loại tri
Trang 35thức này phát triển theo kiểu bùng nổ; và tri thức ẩn , là loại tri thức thu được
thông qua sự trải nghiệm (như niềm tin, kỹ năng, bí quyết – nằm trong mỗi cá nhân), là tri thức tập trung ở não người trực tiếp sở hữu nó, là loại tri thức khó truyền bá, chỉ có thể truyền bảo theo kiểu "cầm tay chỉ việc" cho những môn đệ, thí dụ một số nghề thủ công, tinh xảo và người sở hữu loại tri thức này phải tự mình lĩnh hội là chính Tri thức ẩn rất phong phú và quan trọng cho phát triển Như vậy, tri thức ẩn là những tri thức thu được từ sự trải nghiệm thực tế, dạng tri thức này thường ẩn trong mỗi cá nhân, rất khó “mã hóa” và chuyển giao, thường bao gồm: niềm tin, giá trị, kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng
Cũng có các học giả phân loại tri thức khoa học theo các góc độ khác như: Phân loại theo nguồn gốc hình thành khoa học; Phân loại theo mục đích ứng dụng khoa học; Phân loại theo mức độ khái quát hóa của khoa học; Phân loại theo tính tương liên giữa các ngành khoa học; Phân loại theo kết quả hoạt động chủ quan của con người; Phân loại theo cơ cấu của hệ thống tri thức hay chương trình đào tạo khoa học; Phân loại theo đối tượng nghiên cứu của khoa học Hoặc dựa theo vai trò và phạm vi ứng dụng người ta chia ra thành tri thức khoa học cơ bản và tri thức khoa học ứng dụng
Tổ chức Unesco quan niệm có 5 lĩnh vực khoa học cơ bản thì tương ứng với nó cũng sẽ có 5 hệ thống tri thức khoa học được phân chia là: tri thức khoa học về khoa học tự nhiên và khoa học chính xác; tri thức khoa học về khoa học
kỹ thuật; tri thức khoa học về khoa học nông nghiệp; tri thức khoa học về sức khỏe; tri thức khoa học về khoa học xã hội và nhân văn
Luận án tán thành với cách phân loại của các nhà nghiên cứu B Lundvall,
B Johnson và D Foray, các công trình nghiên cứu và những công bố của các học giả này đã có từ thập niên 90 của thế kỷ XX, từ đó đến nay được sử dụng khá phổ biến, được dùng trong các báo cáo về kinh tế tri thức của OECD, các tác giả này chia tri thức khoa học thành 4 loại cơ bản:
Tri thức về sự vật, trả lời cho câu hỏi “biết cái gì” (Know - what), đây là những tri thức về các sự kiện, ở góc độ này, tri thức thiên về thông tin Tri thức về
Trang 36nguyên nhân trả lời cho câu hỏi “biết tại sao” (know - why), là tri thức về các
định luật, nguyên lý trong tự nhiên, xã hội, là cơ sở để phát triển công nghệ Sản sinh ra tri thức loại này thường là các viện nghiên cứu hay trường đại học và nhà
nghiên cứu phải đạt đến một trình độ cao nhất định Tri thức về cách thức, trả lời
cho câu hỏi “biết làm thế nào” (know how ) là loại tri thức gắn liền với bí quyết,
kỹ năng để thực hiện công việc, tri thức này thường nằm trong đầu mỗi cá nhân,
có được bằng cách tự lĩnh hội là chính Tri thức về con người, tri thức này trả lời
cho câu hỏi “biết về ai” (know who), ai ở đây là người biết tri thức và biết cách làm Loại tri thức này ngày càng trở nên quan trọng, nó cho phép tạo lập các mối quan hệ, tiếp cận các chuyên gia và sử dụng tri thức của họ một cách hiệu quả
Khoa học và công nghệ là đặc trưng của thời đại, biểu hiện cho sự thành công rực rỡ nhất của nền văn minh nhân loại Vì vậy, hoàn toàn chính xác khi khẳng định tri thức là sức mạnh, là quyền lực của con người Sự tác động tổng thể của tri thức (và đặc biệt là tri thức khoa học) sẽ tạo nên một quyền năng rất lớn,
mà ngay cả những nhà khoa học, người chế tạo và sáng tạo ra tri thức khoa học cũng không có khả năng kiểm soát những quyền năng nô dịch hay phá hoại bắt nguồn từ tri thức do chính họ tạo ra Tri thức càng phát triển sẽ kéo theo hàng loạt các vấn đề đặt ra, cả tích cực và tiêu cực, kể cả các vấn đề sống còn của văn minh cũng được đặt ra, bởi tri thức khoa học có khả năng kiến tạo nên một sức mạnh và một quyền năng vượt tầm kiểm soát, mà nói như kiểu của Edgar Morin thì: ngày nay toà lâu đài kiến thức hiện đại được dựng lên như một tháp Babel chế ngự chúng ta nhiều hơn chúng ta chế ngự nó Như vậy, theo nhận định của Edgar Morin thì tri thức không chỉ là sản phẩm của con người mà nó còn là quyền năng của người sử dụng nó, thậm chí tri thức khoa học còn tự xác lập quyền năng vượt tầm kiểm soát của chính chủ thể tạo ra nó
Mỗi bước phát triển, tiến lên của con người trong quan hệ với giới tự nhiên, với xã hội, đều được tạo nên bằng một nấc thang phát triển mới trong trình
độ phát triển tri thức của họ, chính bằng sự phát triển vũ bão của tri thức khoa học, con người có thể vươn lên, xác lập vị thế mới cho mình trong thế giới
Trang 37Lịch sử nhân loại đang trải qua thời kỳ mới mà ở đó tri thức dẫn đầu làm nên cuộc cách mạng trên lĩnh vực trí tuệ, trong đầu óc của những nhà khoa học, động lực cơ bản cho tiến trình phát triển trong thời đại mới, thời đại kinh tế tri thức Khoảng đầu những năm 60 của thề kỷ XX, cách mạng công nghệ thông tin (gồm tin học, vô tuyến viễn thông ) đã tạo ra hàng loạt những tri thức mới và góp phần định hình cho một thời kỳ công nghệ mới Hệ thống tri thức đồ sộ cùng với các thiên tài của thời đại đã mở ra cho con người nhiều khả năng mới, đặc biệt nhất là khả năng chinh phục vũ trụ Cách mạng thông tin đã làm nên những thành tựu và những bước đột phá mới, hàm lượng tri thức khoa học tăng lên trong sản xuất và trong mọi mặt, nhiều tri thức và nhiều lý thuyết mới ra đời, chi phối thế giới Ngày nay, tri thức và khoa học về cơ bản đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, nhờ những đột phá trong lĩnh vực tri thức, quá trình công nghiệp hoá được rút ngắn, từ 100 năm vào đầu thế kỷ X đến 10 năm ở cuối thế kỷ XX Nhờ tri thức và cách mạng khoa học công nghệ, rút ngắn nhanh quá trình tăng tổng sản phẩm quốc dân, tăng lượng của cải do con người làm ra (chỉ trong 2 thập kỷ, loài người đã sản xuất ra lượng của cải vật chất công nghiệp bằng 270 năm trước) Tuy nhiên, mặt trái của vấn đề là khi tri thức khoa học và những thành tựu khoa học công nghệ được ứng dụng để tạo ra một số lượng khổng lồ vũ khí với nhiều chủng loại như: vũ khí hạt nhân,vũ khí hoá học,vũ khí sinh học,tên lửa…sẽ
để lại những hậu quả khó lường, và hơn nữa con người có thể mất khả năng tư duy độc lập, bị nô lệ vào ý chí người khác
Trong lịch sử, nếu nông nghiệp được coi là giai đoạn mở đầu của sự phát triển kinh tế, công nghiệp được coi là giai đoạn thứ hai, thì hiện nay đang diễn ra cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên phạm vi toàn cầu mà bản thân của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ mới đó phân chia thành nhiều cấp độ khác nhau, trong đó chúng tôi cho rằng cách mạng tri thức là một nét mới, một đặc trưng và cũng là trình độ cao của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại Cuộc cách mạng trên lĩnh vực tri thức gắn liền với sự ra đời và phát triển mạnh
mẽ của một trình độ văn minh mới trong lịch sử loài người, đó là văn minh thông
Trang 38tin, văn minh hậu công nghiệp, văn minh tri thức
Sau cuộc cách mạng công nghiệp, từ giữa thế kỷ XX đến nay, cuộc cách mạng tri thức bùng lên như vũ bão trên thế giới Gọi là cuộc cách mạng bởi lẽ: Khối lượng tri thức phát triển rất nhanh 90% khối lượng tri thức của loài người
đã được sáng tạo ra trong nửa thế kỷ đó Khối lượng tri thức tạo ra ở thời kỳ này gấp 9 lần toàn bộ tri thức của nhân loại tạo ra từ bao đời trước đó Các tên được
đặt cho sự kiện này là: “Vụ nổ lớn tri thức”; “bùng nổ thông tin… Lúc này, tri
thức và đặc biệt thông tin là yếu tố hàng đầu quyết định đối với mọi lĩnh vực của sản xuất và của xã hội, tri thức khoa học được thừa nhận như là một nhân tố đặc thù, nhân tố tồn tại độc lập tương đối và tác động đến toàn diện các lĩnh vực của sản xuất, sự phát triển mạnh mẽ và liên tục của nó làm rút ngắn vòng đời của tri thức khoa học cũng như của các phát minh khoa học, lúc này, tri thức khoa học – công nghệ - sản xuất - thị trường trở thành một thể thống nhất trong quá trình toàn cầu hoá và nền kinh tế mới, nền kinh tế tri thức
Như vậy, thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của tri thức, khoa học và công nghệ Cách mạng công nghiệp thực hiện bước chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu sang nền kinh tế cơ khí, máy móc, bước đầu thay thế sức người và trình độ thủ công bằng hệ thống máy móc với nguồn nguyên, nhiên liệu phong phú, làm cho năng suất và chất lượng sản phẩm tăng cao hơn nhiều so với trình độ thủ công trước đó Máy móc thật sự chiếm lĩnh trong các quy trình sản xuất ở thời kỳ cách mạng công nghiệp, thì cách mạng tri thức là cuộc cách mạng làm chuyển đổi nền sản xuất từ tự động hoá cục bộ sang tự động hoá toàn bộ, quá trình này đã làm tăng cường gấp bội sức mạnh vật chất và sức mạnh trí tuệ của con người, đưa năng lực của tư duy lên một tầm vóc mới trong việc chinh phục và cải tạo giới tự nhiên, nó đã góp phần làm thay đổi tận gốc rễ những yếu tố vật chất có tính truyền thống của lực lượng sản xuất, tạo nên một hệ thống máy móc kỹ thuật dựa trên công nghệ tiên tiến hơn nhiều so với cuộc cách mạng công nghiệp trước đó Hiện nay, tri thức khoa học phát triển theo cấp số nhân, trình độ tư duy của con người được xem như là yếu tố chủ đạo, vấn đề về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực
Trang 39chất lượng cao được đặc biệt quan tâm Để dành được thắng lợi trong cuộc cách mạng này, cần phải tăng cường đầu tư vào nguồn vốn con người Xét về mặt tính chất thì cuộc cách mạng tri thức nâng cao sức mạnh cơ bắp và các giác quan của con người, mà quan trọng hơn nó mở rộng bộ óc và nâng cao năng lực tư duy của con người, nó tiến hành tri thức hóa nền sản xuất và nền kinh tế Thông tin và tri thức đã trở thành cơ sở cho mọi quyết định và hành động của con người trong hoạt động thực tiễn Với tư cách là nguồn tài nguyên quan trọng, quý giá và là nguồn tài nguyên vô tận của nhân loại, sự phát triển thông tin và tri thức hứa hẹn
sẽ phá vỡ nhanh chóng những giới hạn tạm thời trong trình độ nhận thức của con người đối với thế giới, nó giúp chuyển tải thông tin, và chuyển hoá tri thức vào mọi lĩnh vực của hoạt động thực tiễn Cách mạng tri thức mở đầu cho một kỷ nguyên mới của nền văn minh nhân loại – nền văn minh dựa vào tri thức
Xã hội thông tin và siêu lộ cao tốc thông tin trong thời kỳ cách mạng tri thức diễn ra đã đưa lại sự ra đời của kinh tế tri thức, có hiểu được kinh tế tri thức thì mới thấy được vai trò hết sức quan trọng của tri thức khoa học – là động lực chủ yếu – trong nền kinh tế tri thức, vì vậy, trong phần tiếp theo, luận án tập trung làm rõ nền kinh tế tri thức là gì và những vấn đề lý luận chung về kinh tế tri thức
1.1.2 Khái niệm và những đặc trưng cơ bản của kinh tế tri thức
Khái niệm kinh tế tri thức
Kinh tế tri thức là một khái niệm còn tương đối mới mẻ, nó xuất hiện cùng với thời đại toàn cầu hóa và trong cuộc cách mạng khoa học công nghệ đương đại Đây là xu hướng của nền kinh tế đã được định hình tại các nước phát triển như Mỹ và các nước phương Tây vào những năm 1970, thậm chí là từ những năm
1960 của thế kỷ XX Tuy nhiên, ngay tại thời điểm đó thì xu hướng này còn khá
xa lạ, thậm chí là chưa được biết đến ở Việt Nam, mãi đến những năm gần đây thì kinh tế tri thức mới được chú ý ở nước ta, đến nay thì nó thực sự trở thành một trong những tâm điểm cho chiến lược phát triển của Việt Nam, nó được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như nền kinh tế mới, nền kinh tế toàn cầu hóa dựa vào tri thức, nền kinh tế nối mạng toàn cầu, nền kinh tế hậu công nghiệp v.v
Trang 40Cũng đã có rất nhiều định nghĩa được đưa ra về nền kinh tế tri thức, tuy nhiên để hiểu khái niệm kinh tế tri thức, trước hết, phải hiểu được khái niệm kinh
tế Theo Từ điển bách khoa tiếng Việt thì: Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ
tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn
Nghĩa hẹp của từ này chỉ "hoạt động sản xuất và làm ăn của cá nhân hay
hộ gia đình Nghĩa rộng của từ này chỉ "toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông" của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia (luận án đề
cập đến kinh tế và kinh tế tri thức hiểu theo nghĩa rộng của khái niệm này) Vậy,
kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội Về cơ bản, khái niệm
“kinh tế” đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của một cộng đồng xoay quanh các vấn đề cơ bản sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Lưu thông, phân phối như thế nào? Phát triển sản phẩm theo hướng nào? Với cách hiểu đó, bước đầu có thể khẳng định kinh tế tri thức (Knowledge – Based
Economy - KBE) có nghĩa là nền kinh tế mà ở đó tri thức thâm nhập vào các hoạt
động của con người và xã hội, tri thức thâm nhập vào mọi mặt của quá trình sản xuất, phân phối, tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ
Năm 1996, OECD đã định nghĩa: kinh tế tri thức là nền kinh tế ngày càng
phụ thuộc trực tiếp vào việc sản xuất phân phối và sử dụng tri thức và thông tin
Năm 2000 OECD điều chỉnh: Kinh tế tri thức là tạo việc làm trong tất cả các
ngành kinh tế
Năm 1998, Bộ Công nghiệp và Thương mại Anh thì cho rằng: kinh tế tri
thức là “nền kinh tế dẫn dắt bởi tri thức, là nền kinh tế trong đó sản sinh ra và
khai thác tri thức giữ vai trò nổi bật nhất trong việc tạo ra của cải” [40, tr 97] Năm 2001, tác giả Ngô Quý Tùng đã định nghĩa kinh tế tri thức là “nền kinh