1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước

182 1,1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 182
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng phải kể tới công trình của Đỗ Bình Trị, Lê Trường Phát về thi pháp thể loại bao gồm truyền thuyết: Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian 1999, Thi pháp văn học d

Trang 1

MỞ ĐẦU……… 1

1 Lý do chọn đề tài……… 1

2 Lịch sử vấn đề……… 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……… 8

4 Mục tiêu nghiên cứu……… 8

5 Phương pháp nghiên cứu……… 8

6 Đóng góp của luận án……….10

7 Kết cấu của luận án………11

CHƯƠNG 1: Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước từ góc nhìn thể loại và từ đặc điểm tư liệu,

hệ thống truyện……….12

1.1 Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước từ góc nhìn thể loại……… 12

1.1.1 Thể loại truyền thuyết……… 12

1.1.1.1 Khái niệm……… 12

1.1.1.2 Phân loại truyền thuyết……… 18

1.1.2 Thể loại giai thoại……….19

1.1.2.1 Việc nghiên cứu về giai thoại………19

1.1.2.2 Về thuật ngữ giai thoại ……….21

1.1.2.3 Giai thoại là một thể loại văn học dân gian 21

1.1.3 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử 27

1.1.3.1 Những điểm tương đồng……… 27

1.1.3.2 Những điểm khác biệt……… 28

1.2 Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước từ đặc điểm tư liệu hệ thống truyện………31

1.2.1 Khái niệm Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước……… 31

1.2.2 Tình hình tư liệu……… 33

1.2.2.1 Nhóm tư liệu sử biên niên, địa chí thời kỳ nhà Nguyễn thế kỷ XVIII, XIX….34 1.2.2.2 Nhóm tư liệu biên khảo, nghiên cứu lịch sử, văn hóa… thời kỳ trước 1975 đến nay.36 1.2.2.3 Nhóm tư liệu sưu tập truyện dân gian thời kỳ trước 1975 đến nay 37

1.2.2.4 Những tư liệu không thuộc phạm vi đề tài 39

1.2.3 Hệ thống truyện……… 41

1.2.3.1 Xác định nguồn tư liệu và tiêu chí sưu tầm, biên soạn……….41

1.2.3.2 Hệ thống hóa truyện kể……… 42

CHƯƠNG 2: Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử là những nhân vật tiền hiền khai khẩn mở đất từ cuối thế kỷ XIX trở về trước……… 45

2.1 Khái quát hệ thống truyện……… 45

2.2 Đặc điểm cấu tạo 47

2.2.1 Mô hình cốt truyện 47

2.2.2 Những tình tiết, môtíp của hệ thống truyện 48

2.2.3 Miêu tả những tình tiết, môtíp của các nhóm truyện……… 49

2.2.3.1 Truyền thuyết liên quan đến việc khẩn đất, chiến đấu chống động vật gây hại và chống thiên tai, dịch bệnh 49

Trang 2

2.3 Giá trị nội dung của hệ thống truyện……… 66

2.3.1 Sự phản ảnh một mặt tiến trình lịch sử Nam Bộ gắn với những nhân vật người anh hùng khai phá……… 66

2.3.2 Ý nghĩa phản ánh đặc điểm của văn hóa mở đất 68

CHƯƠNG 3: Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử Nam Bộ là những người anh hùng chiến đấu chống ngoại xâm từ cuối thế kỷ XIX trở về trước… 72

3.1 Khái quát hệ thống truyện……… 72

3.2 Đặc điểm cấu tạo 74

3.2.1 Mô hình cốt truyện 74

3.2.2 Những tình tiết, môtíp của các nhóm truyện 75

3.2.3 Miêu tả những tình tiết, môtíp của các nhóm truyện 77

3.2.3.1 Truyền thuyết về người anh hùng mở cõi, chống nạn xâm lấn từ giai đoạn trước khi thực dân Pháp xâm lược trở về trước 77

3.2.3.2 Truyền thuyết về người anh hùng khởi nghĩa chống Pháp đến cuối thế kỷ XIX 82

3.2.4 Nhận xét kết quả miêu tả 111

3.3 Giá trị nội dung của hệ thống truyện……… 112

3.3.1 Sự phản ảnh một mặt tiến trình lịch sử Nam Bộ gắn với hình tượng người anh hùng chống ngoại xâm……… 112

3.3.2 Một hiện tượng văn học dân gian độc đáo gắn với lịch sử 114

CHƯƠNG 4: Truyền thuyết về nhân vật Nguyễn Ánh ……….116

4.1 Khái quát hệ thống truyện……….116

4.2 Đặc điểm cấu tạo 117

4.2.1 Mô hình cốt truyện 117

4.2.2 Những tình tiết, môtíp của hệ thống truyện 118

4.2.3 Miêu tả những tình tiết, môtíp của hệ thống truyện 119

4.3 Giá trị nội dung của hệ thống truyện……… 133

4.3.1 Sự thể hiện thái độ tình cảm của người dân Nam Bộ đối với Nguyễn Ánh… 133

4.3.2 Ý nghĩa văn hóa……….136

4.3.3 Về vấn đề “Gia Long phục quốc” (khôi phục cơ đồ)……….137

CHƯƠNG 5: Giai thoại về những danh nhân, danh sĩ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước 140

5.1 Khái quát hệ thống truyện……….140

5.2 Đặc điểm cấu tạo 142

5.2.1 Mô hình cốt truyện 142

5.2.2 Những tình tiết, môtíp của hệ thống truyện………… 143

5.2.3 Miêu tả những tình tiết, môtíp của hệ thống truyện 144

5.3 Giá trị nội dung của hệ thống truyện……… 163

5.3.1 Sự ngợi ca những con người “dệt gấm thêu hoa”, xây dựng nên những biểu tượng văn hoá Nam Bộ…… 163

5.3.2 Ý nghĩa sự đối kháng văn hoá 165

KẾT LUẬN……… 167

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 171

PHỤ LỤC……….181

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1 Nam Bộ là vùng đất mới của Tổ quốc Tuy mới chỉ được khai phá hơn ba thế

kỷ, chưa có bề dầy thời gian như các vùng đất trung du Bắc Bộ hay vùng đất ven sông Hồng, sông Mã, nhưng với đặc điểm tự nhiên, con người, lịch sử , Nam Bộ có truyền thống lịch sử, văn hóa riêng trên nền thống nhất của lịch sử, văn hóa dân tộc Những cái tên như Gia Định, Đồng Nai, Rạch Gầm, Xoài Mút, Nhật Tảo, “Hào khí Đồng Nai”, “Nam Kỳ lục tỉnh”, v.v đâu chỉ là địa danh, tên gọi bình thường, đó là mồ hôi, nước mắt, xương máu của cha ông ta trong hành trình “mang gươm đi mở cõi”, tiến về phương Nam khai khẩn, mở đất và giữ đất, viết tiếp những trang sử rạng ngời của một thời “khổ nhục nhưng vĩ đại” (chữ dùng của Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng) của dân tộc Theo đó, trên tiến trình lịch sử Nam Bộ từ buổi đầu hình thành đến cuối thế kỷ XIX đã nổi lên tên tuổi các nhân vật là những người có những đóng góp lớn lao đối với cộng đồng xã hội Để lưu danh họ, bên cạnh những bộ sử biên niên, còn có một dòng chảy lịch sử khác của nhận thức và tình cảm nhân dân, đó là những truyện kể dân gian được sáng tác và lưu truyền qua bao thế hệ Đây là hiện tượng văn học dân gian, văn hóa dân gian có giá trị, ý nghĩa to lớn, phản ánh sự nhận thức, tình cảm về lịch sử bằng cảm quan nghệ thuật dân gian của người dân Nam Bộ nói riêng, cả nước nói chung đối với con người và vùng đất thiêng liêng này Đã có những công trình sưu tầm, nghiên cứu về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước Tuy nhiên, Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước còn chưa được sưu tầm và nghiên cứu đầy đủ, do đó cần được sưu tầm, hệ thống hóa và đào sâu nghiên cứu thêm

2 Tiếp cận với Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ tiếp tục tìm hiểu đặc trưng của truyền thuyết và đặc trưng của giai thoại và mối quan hệ, chuyển hóa lẫn nhau của hai đối tượng này trong thời kỳ cận đại và tại vùng đất Nam Bộ Đây là thời kỳ tại Nam Bộ diễn ra rất nhiều sự kiện lịch sử nổi bật, trọng yếu của đất nước, dân tộc Bên cạnh những truyền thống chung của cả nước, người dân Nam Bộ với những đặc điểm xã hội

- văn hóa, tính cách riêng, trong hoàn cảnh lịch sử riêng, có cách tiếp cận riêng đối với những sự kiện, nhân vật lịch sử trên mảnh đất của mình Và do đó, nghiên cứu đề tài này cũng góp phần làm sáng tỏ thêm bản chất thể loại của truyền thuyết và giai thoại, đồng thời tô đậm thêm đặc điểm địa phương của văn hóa dân gian Nam Bộ trên nền tảng thống nhất, đa dạng của văn hóa dân gian cả nước Đề tài cũng cung cấp thêm minh chứng gián tiếp trả lời các câu hỏi: vì sao ở Việt Nam, thể loại truyền thuyết rất

Trang 4

phát triển, vì sao trong các thể loại văn học dân gian, truyền thuyết mang đậm tính địa phương hơn cả.

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

2.1 Các công trình nghiên cứu, bài viết về thể loại

Thể loại truyền thuyết và giai thoại đã thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu

ở những phương diện, mức độ khác nhau

Thuật ngữ truyền thuyết xuất hiện đầu tiên trong bài viết của Đào Duy Anh:

“Những truyền thuyết đời thượng cổ nước ta” (Tạp chí Tri Tân số 30 ra ngày 7/1/1942) Việc nghiên cứu truyền thuyết thể hiện rõ nét hơn với những bước tiến mới

từ những năm 1960 về sau, trong đó, nhiều công trình đặc biệt là các giáo trình đại học

đã đi theo hướng tiếp cận truyền thuyết như là thể loại Các tác giả của bộ Lịch sử văn học Việt Nam (xuất bản năm 1963) đã công nhận sự tồn tại của truyền thuyết với tư cách là một thể loại Tuy nhiên, trong cuốn Lịch sử văn học Việt Nam - Văn học dân gian (1973), tác giả Đinh Gia Khánh không thừa nhận truyền thuyết như là một thể loại văn học dân gian mà xếp vào sử học Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu (1999), Văn học dân gian Việt Nam của Lê Chí Quế (1999) , cũng nghiên cứu truyền thuyết đặt trong hệ thống các thể loại Chuyên khảo Truyền thuyết anh hùng trong loại hình tự sự dân gian (1971), trong đó có chuyên khảo Truyền thuyết anh hùng trong thời kỳ phong kiến của Kiều Thu Hoạch được coi như là cái mốc chuyên

khảo dày dặn đầu tiên cho việc nghiên cứu truyền thuyết như một thể loại văn học dân gian Cũng phải kể tới công trình của Đỗ Bình Trị, Lê Trường Phát về thi pháp thể loại

bao gồm truyền thuyết: Những đặc điểm thi pháp của các thể loại văn học dân gian (1999), Thi pháp văn học dân gian (2000); hay Nguyễn Tấn Đắc, Truyện kể dân gian đọc bằng Type và Motif (2001), Hồ Quốc Hùng (biên soạn), Truyền thuyết Việt Nam & vấn đề thể loại (2003)… Ngoài ra có các bài viết tiêu biểu, như: Bùi Quang Thanh, Về một thể loại văn học dân gian, Tạp chí Văn học, số 4/1979, Tìm hiểu kết cấu dạng truyền thuyết anh hùng, Tạp chí Văn học, số 3/1981, Bùi Mạnh Nhị, Tiếp cận văn học dân gian địa phương từ đặc trưng của văn học dân gian, Tạp chí Văn học, số 3/1985; Trần Thị An: “Nghiên cứu truyền thuyết - những vấn đề đặt ra” Tạp chí Văn học, số 3/1994, “Suy nghĩ mới về bản chất thể loại truyền thuyết” Thông báo văn hóa dân gian, 2000… Tất cả các công trình trên, ở những mức độ khác nhau, đã có những đóng

góp quan trọng trong việc nghiên cứu thể loại truyền thuyết Nhìn chung, từ những quan niệm ban đầu chưa có sự nhất trí xem truyền thuyết là một thể loại văn học dân gian, đến nay giới nghiên cứu đã có những bước phát triển sâu rộng, khẳng định sự tồn

Trang 5

tại của thể loại truyền thuyết với những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật, hình thức tồn tại

Các nghiên cứu về truyền thuyết ở những khía cạnh cụ thể khác nhau tiếp tục

xuất hiện với hình thức bài báo hoặc luận án Có thể kể đến các bài viết: Bước đầu tìm hiểu nguồn truyện kể địa danh Việt Nam, Nguyễn Bích Hà, Tạp chí Văn học, số 2/1986; hay Truyện kể địa danh từ góc nhìn thể loại, Trần Thị An, Tạp chí Văn học, số

3/1999, đưa ra những nhận xét mới trong việc nghiên cứu truyện kể địa danh ở cách

tiếp cận thể loại… Hay các luận án tiến sĩ như: Những đặc trưng cơ bản của truyện dân gian vùng Thuận Hóa (1999), Hồ Quốc Hùng, Đặc trưng thể loại truyền thuyết và quá trình văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam (2002), Trần Thị An, Khảo sát truyện kể dân gian Khme Nam Bộ (qua thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích), Phạm Tiết Khánh (2007), Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 - 1918), Võ Phúc Châu (2009), Đặc trưng thể loại truyền thuyết dân gian vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đỗ Thị Hồng Hạnh (2013)

Khác với thể loại truyền thuyết, do không thuộc vị trí của khung phân loại truyền thống nên việc nghiên cứu giai thoại đến nay chưa đầy đủ Trong bài tiểu luận

đầu sách Kho tàng giai thoại Việt Nam (1994), Vũ Ngọc Khánh nhận định: “Tuy vẫn luôn luôn được nhắc đến, kể đến với nhiều trân trọng, nhưng phải nói rằng giai thoại chưa được nghiên cứu bao nhiêu, và thật ra thì cũng chưa xác định vị trí cho rõ rệt lắm” Đây cũng là tập tư liệu mở đầu, cùng với một số chuyên khảo khác đã đặt nền

tảng quan trọng cho việc nghiên cứu thể loại giai thoại ở góc độ thể loại Tiếp theo, cần

kể tới các công trình, như: Khảo luận về giai thoại (trong Tổng tập Văn học dân gian người Việt, Kiều Thu Hoạch (2004), được bổ sung trong Văn học dân gian người Việt - góc nhìn thể loại (2006)) hay Giai thoại xứ Nghệ (trong Về văn học dân gian xứ Nghệ, Ninh Viết Giao (2004) Bên cạnh đó, có các bài viết như: Bước đầu phân biệt truyền thuyết và giai thoại, Võ Phúc Châu (2005), Giai thoại - một thể loại văn học dân gian,

Nguyễn Bích Hà (2010)

Ngoài ra có thể kể đến các bộ tự điển với những định nghĩa, giới thuyết chung

về thể loại truyền thuyết và giai thoại như: Từ điển văn học (1984), (Nhiều tác giả), Từ điển văn học (Bộ mới) (2004), Đỗ Đức Hiểu (chủ biên), Từ điển thuật ngữ văn học (2013), Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên), hay chuyên khảo về type truyện dân gian bao gồm truyền thuyết và giai thoại: Từ điển Type truyện dân gian Việt Nam (2012), Nguyễn Thị Huế (chủ biên)

Về tư liệu nước ngoài, về các khái niệm, thuật ngữ, đặc trưng thể loại, chúng tôi tham khảo một số công trình nghiên cứu có tính tổng hợp, dịch thuật và giới thiệu, như:

Trang 6

Phônclo và thực tại của V.Ia.Propp, Chu Xuân Diên dịch; Mỹ học folklore, Hoàng

Ngọc Hiến dịch (1998); “Chất dân gian của những người không phải dân chúng và chất

phi dân gian của dân chúng” của Charles Seeger, trong Folklore thế giới - một số công trình nghiên cứu cơ bản, “Truyền thuyết” của Linda Dégh, trong Folklore một số thuật ngữ đương đại, Ngô Đức Thịnh, Frank Proschan (Đồng chủ biên) (2005); định nghĩa

về giai thoại của từ điển Larousse trong Nguồn gốc văn minh nhân loại, M.Rohl

(2008), Lê Thành biên dịch cung cấp nhiều luận điểm có giá trị về lý thuyết thể loại;

hay Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, Jean Chevalier, Alain Gheerbrant (1997), với

những khái niệm, tri thức văn hóa về biểu tượng mang ý nghĩa là ngữ liệu cho đề tài

Còn có những quan niệm, nhận định của một số nhà nghiên cứu folklore thể giới

về thể loại được ghi nhận từ các bài nghiên cứu hay giới thiệu sách sưu tầm, biên soạn, như: định nghĩa về truyền thuyết của nhà ngữ học Linda Dégh & A.Vizonyi trong bài viết “Nhận diện truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam” của Trần Thị An, Tạp chí Văn hóa dân gian, số 6 / 2006; nhận định liên quan đến giai thoại của P.Roland

Barth: “Dẫn luận phân tích các cơ cấu truyện kể”, Tạp chí Communications (Giao Lưu, Paris) trong Giai thoại kẻ sĩ, Thái Doãn Hiểu (1996)

2.2 Các công trình biên khảo, nghiên cứu về lịch sử, văn hóa dân gian Nam Bộ

Nhóm tư liệu về lịch sử, văn hóa dân gian Nam Bộ có thể phân theo hai thời kỳ: Thời kỳ nhà Nguyễn

Tiêu biểu có sách địa chí, lịch sử, như: Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, công trình nghiên cứu sâu rộng về vùng đất Gia Định xưa; Đại Nam nhất thống chí (phần Lục tỉnh Nam kỳ), Đại Nam thực lục (Quốc triều sử toát yếu là hình thức lược biên, rút gọn), Đại Nam liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn Các công

trình đã ghi nhận một số mẩu truyện kể về các nhân vật lịch sử Nam Bộ

Từ đầu thế kỷ XX đến nay

Giai đoạn trước năm 1975 có các công trình như: Nam Kỳ danh nhân, Đào Văn Hội (1943), nói đến thành phần võ tướng và văn nhân; Lịch sử khẩn hoang miền Nam (1970), Đất Long Xuyên và công trình khai phá miền Hậu Giang, Đất Gia Định xưa, Bến Nghé xưa, Đồng bằng sông Cửu Long nét sinh hoạt xưa (1985) của Sơn Nam, biên khảo về lịch sử khẩn hoang và phát triển vùng đất; hay Sài Gòn năm xưa, Vương

Hồng Sển (1960), công trình khảo luận về lịch sử Sài Gòn… Rải rác trong các công trình, có một số mẩu truyện tương truyền về các nhân vật lịch sử

Bên cạnh đó, có một số bài nghiên cứu liên quan các nhân vật lịch sử Nam Bộ

trong Tập san Sử Địa, gồm: Nén hương hoài cổ Trương Định, Trương Bá Phát, Vài

giai thoại có dính líu tới cụ Lãnh binh Trương Định, Lê Thọ Xuân, số 3, 1966; Phan

Trang 7

Thanh Giản dưới mắt người Pháp qua vài tài liệu, Nguyễn Thế Anh, số 7, 1967; hay chuyên khảo Kỷ niệm 100 Nguyễn Trung Trực số 12, 1968…

Sau năm 1975, về lịch sử, văn hóa, có các công trình nghiên cứu về đặc điểm

vùng đất, con người, tiêu biểu như: Đình miếu và lễ hội dân gian, Sơn Nam (1994), Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX Huỳnh Lứa, (2000), Nam Bộ đất và người Hội khoa học lịch sử TP HCM (2005), Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn Tạp chí Xưa & Nay (2009), Khởi nghĩa Trương Định, Nguyễn Phan Quang, Lê Hữu Phước (2001), Nguyễn Hữu Cảnh chân dung người mở cõi, Thanh Ba (2007) ; hay những công trình dưới hình thức hỏi đáp lịch sử như: Lịch sử Gia Định - Sài Gòn trước 1802, Cao Tự Thanh (2007), Hỏi đáp về cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực, Trương Định, Võ Duy Dương, Tủ sách lịch sử Việt Nam (2008); Bên cạnh đó, các tư liệu lịch sử địa phương như Nguyễn Trung Trực - thân thế và sự nghiệp, Bảo

tàng Kiên Giang (1989), Những trang ghi chép về lịch sử – văn hóa Tiền Giang,

Nguyễn Phúc Nghiệp (1998) cũng có một số mẩu truyện kể về các nhân vật lịch sử

Về lĩnh vực ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, có các công trình tiêu biểu như: Văn hóa dân gian người Việt ở Nam Bộ (1992), Thạch Phương, Hồ Lê, Huỳnh Lứa, Nguyễn Quang Vinh, nghiên cứu các thiết chế văn hóa dân gian ở Nam Bộ; Tự vị tiếng Việt miền Nam (1993), Vương Hồng Sển, giải thích địa danh theo phương pháp giải thích địa lý, ngôn ngữ, văn hóa và truyền thống dân gian; Sổ tay hành hương đất phương Nam, Huỳnh Ngọc Trảng (chủ biên) (2003), ghi nhận hệ thống di tích văn hóa - tín ngưỡng vùng đất phương Nam; Tìm hiểu văn hóa tâm linh Nam Bộ, Nguyễn Đăng Duy

(1997), phác họa một mặt thiết yếu của đời sống người Nam Bộ, trong đó có mối quan

hệ giữa truyền thuyết với tín ngưỡng; hay An Giang đôi nét văn hóa đặc trưng vùng đất bán sơn địa, Nguyễn Hữu Hiệp (2007); Văn hóa dân gian đảo Phú Quốc, Trương Thanh Hùng (2008); Nghiên cứu Hà Tiên, Trương Minh Đạt, (2008), nói đến lịch sử,

văn hóa của vùng đất, đã ghi nhận một số mẩu truyện kể (như về Nguyễn Ánh, Mạc Tử Sanh, Nguyễn Trung Trực, Huỳnh Mẫn Đạt…)

Nằm trong loại sách danh nhân Nam Bộ, có những tư liệu viết theo hình thức

nhân vật chí, nghiên cứu, giới thiệu về con người, sự nghiệp, tác phẩm thơ văn, như:

Theo dấu Bùi Hữu Nghĩa, Thái Văn Kiểm (1961), Những danh sĩ miền Nam, Hoài Anh, Hồ Sĩ Hiệp (1990), Phan Văn Trị cuộc đời và tác phẩm, Nguyễn Khắc Thuần (1986), Bùi Hữu Nghĩa con người và tác phẩm, Những ngôi sao sáng trên bầu trời văn học Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX, Bảo Định Giang (2001)… Các công trình viết về cuộc

đời và sự nghiệp của các danh nhân văn hoá miền Nam từ lúc hình thành vùng đất Đàng Trong thế kỷ XVII đến khi thực dân Pháp đặt ách thống trị

Trang 8

2.3 Các công trình sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian, truyền thuyết và giai thoại dân gian Nam Bộ

Từ đầu thế kỷ XX đến trước 1975 đã có những công trình sưu tập, nghiên cứu văn học dân gian Nam Bộ Bộ phận truyện dân gian Nam Bộ nói chung được nghiên cứu không nhiều, chủ yếu là sưu tầm, rải rác có một vài bài viết hoặc giới thiệu sơ lược Từ sau 1975, trong điều kiện đất nước thống nhất, việc giới thiệu, nghiên cứu văn học dân gian ở Nam Bộ nói riêng đã có những bước phát triển mới

Nhóm tư liệu sưu tầm, ghi chép

Đến nay, công tác sưu tầm văn học dân gian Nam Bộ nói chung đã đạt được những thành tựu khả quan Tư liệu sưu tầm, ghi chép nguồn truyện dân gian về nhân

vật lịch sử Nam Bộ nói riêng khá phong phú, bao gồm các nhóm: thư tịch sách Quốc

sử quán triều Nguyễn, sách biên khảo, nghiên cứu lịch sử, văn hóa Nam Bộ, địa phương chí và sách sưu tầm, biên soạn văn học dân gian Nam Bộ

Nhóm tư liệu nghiên cứu

Về nghiên cứu lý luận, có các bài viết tiêu biểu như: Tiếp cận văn học dân gian địa phương từ đặc trưng của văn học dân gian, Bùi Mạnh Nhị, Tạp chí Văn học, số

3/1985: nêu những định hướng trong nghiên cứu văn học dân gian địa phương, nhấn mạnh sự phát triển mạnh của thể loại truyền thuyết ở giai đoạn cận đại gắn với những

nét đặc thù của tiến trình lịch sử Nam Bộ; hay Đặc trưng truyện dân gian người Việt ở Nam Bộ trong Văn hóa dân gian Nam Bộ những phác thảo, Nguyễn Phương Thảo

(1997), đề cập nét đặc trưng của truyện dân gian Nam Bộ, bao gồm truyện về các nhân vật lịch sử và văn hóa

Bên cạnh đó, trong lời dẫn ở một số sách sưu tập, có phần giới thiệu hoặc tiểu luận tổng quan về truyện dân gian bao gồm truyền thuyết và giai thoại Nam Bộ, như:

Truyện dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, Khoa Ngữ văn Trường Đại học Cần Thơ (1994), Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh của Huỳnh Ngọc Trảng (1998)

Ngoài ra, có nhóm bài viết Kỷ yếu hội thảo về nhân vật lịch sử Nam Bộ, như Kỷ

yếu Hội thảo khoa học về nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị (1985), Kỷ yếu Hội thảo khoa học về Nhà thơ - Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa (1987), Kỷ yếu Hội thảo Thân thế và

sự nghiệp của Chưởng cơ - Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh (1993), Kỷ yếu Hội thảo Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX (2008)

Về nghiên cứu chuyên sâu, có hai luận án đi trước có liên hệ về phạm vi đề tài

Ở Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 - 1918) của Võ Phúc Châu (2009), tác giả đã hệ thống hóa truyền thuyết dân gian về

Trang 9

những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ; khảo sát các nhóm truyền thuyết; những motif, nhóm motif phổ biến; nêu những chứng tích văn hóa liên quan tới các truyện kể Công trình dày dặn này đã thống kê, miêu tả khá hệ thống các tình tiết, môtíp, là cơ sở để chúng tôi tham khảo, tiếp tục hệ thóng hóa và miêu tả các tình tiết, môtíp của nhóm truyền thuyết về người anh hùng chống ngoại xâm từ cuối thế kỷ XIX trở về trước, bên cạnh đó, ghi nhận phần phụ lục truyện kể của công trình như một tư

liệu sưu tầm, biên soạn Ở Đặc trưng thể loại truyền thuyết dân gian vùng Đồng bằng sông Cửu Long, Đỗ Thị Hồng Hạnh (2013), tác giả đã xác lập cơ sở hình thành đặc

trưng và một số tiêu chí để nhận diện, phân loại thể loại truyện kể; khảo sát đặc điểm tư liệu, trình bày đặc trưng cấu tạo truyền thuyết địa danh; đặc trưng cấu tạo truyền thuyết

về một số nhân vật Tuy nhiên, đối tượng nghiên cứu luận án của chúng tôi có phần khác và rộng hơn so với hai luận án đã kể trên, cách tiếp cận và nhiệm vụ nghiên cứu của chúng tôi cũng có những điểm khác (sẽ trình bày ở các chương sau)

Liên quan tới lịch sử vấn đề, tới các mảng tư liệu dùng để so sánh, có thể kể đến

các bài viết như: Về mấy khuynh hướng sai lầm ở các đô thị miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 về nghiên cứu văn học dân gian, Nguyễn Quang Vinh, Tạp chí Văn học, số 4 / 1977, Các hình thức tương tác cơ bản giữa văn học dân gian và văn học viết, Trần Đức Ngôn, Tạp chí Văn học, 2004, Các mảng truyện kể dân gian về cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám lưu truyền trên đất Yên Thế, Nguyễn Đình Bưu, Tạp chí Văn học số 1 / 1975, Về nhóm truyền thuyết khẩn hoang ở một vùng đất mới, Hồ Quốc Hùng, Tạp chí Văn học, số 4 / 1998, hay sách Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca,

Nguyễn Liên Phong (1909)

Điểm qua các tư liệu, có thể thấy các công trình chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề chung về lịch sử, văn hóa Nam Bộ và cung cấp những tư liệu sưu tầm về văn học dân gian Với các công trình có liên hệ về phạm vi đề tài đã nêu, đây là những thành quả đáng trân trọng, giúp ích cho việc đào sâu, phát triển thêm vấn đề nghiên cứu Tuy nhiên, trong việc tập hợp, hệ thống mảng truyền thuyết Nam Bộ nói chung, chúng tôi sẽ chú trọng nhiều hơn việc phân biệt văn bản ghi chép lịch sử và truyện kể dân gian, đồng thời bổ sung thêm nguồn tư liệu truyện kể Luận án của chúng tôi cũng

sẽ tập trung vào những vấn đề cần tiếp tục được quan tâm nghiên cứu, như mối quan hệ giữa truyền thuyết và giai thoại hay việc xác lập giai thoại với tư cách là một thể loại văn học dân gian, diện mạo, những nét đặc thù của truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ, yếu tố truyền thống và sáng tạo, xu hướng xâm nhập lẫn nhau giữa truyền thuyết và giai thoại thời kỳ cận đại

Trang 10

Đây cũng là yêu cầu đặt ra cho đề tài, nhằm góp phần khẳng định những sắc thái độc đáo của loại hình tự sự dân gian Nam Bộ

3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Truyền thuyết và giai thoại về nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX là đối tượng nghiên cứu chính của luận án Các phương diện lịch sử, đời sống văn hóa, xã hội của cộng đồng cư dân Nam Bộ trong mối quan hệ với thể loại truyền thuyết và giai thoại cũng được xem là đối tượng nghiên cứu hữu quan

Phạm vi nghiên cứu chủ yếu là các tư liệu văn bản trong các công trình sưu tập, biên soạn truyện dân gian và mở rộng ở các công trình lịch sử, địa chí triều Nguyễn, công trình biên khảo, nghiên cứu lịch sử, văn hóa Nam Bộ có ghi chép truyện kể đã được hệ thống hóa Các truyện kể cùng nội dung, chủ đề trong truyện kể dân gian các vùng miền khác, tùy theo mục đích từng phần của nội dung luận án, được dùng để so sánh, liên hệ, để làm nổi bật đối tượng nghiên cứu

4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Luận án hướng tới những mục tiêu chính như sau:

Trên cơ sở lý thuyết thể loại, xác lập các tiêu chí chọn lọc tư liệu, luận án đã hệ

thống các văn bản, các nhóm truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam

Bộ đến cuối thế kỷ XIX Đồng thời, luận án phác họa diện mạo, phân tích đặc trưng

nghệ thuật, ý nghĩa và giá trị các truyền thuyết và giai thoại này trong hệ thống truyện dân gian Nam Bộ nói riêng, truyện dân gian Việt Nam nói chung; bước đầu xác lập mối quan hệ tương tác thể loại giữa truyền thuyết và giai thoại, sự vận động của các thể loại này trong sự phát triển của chúng ở thời cận đại

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thực hiện mục tiêu đề tài, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp hệ thống: Phương pháp này tạo cơ sở cho việc đánh giá, xác lập tiêu chí chọn lọc văn bản và hệ thống nguồn tư liệu, nguồn truyện, giúp tìm hiểu quy luật vận động của các thể loại

Phương pháp thống kê, miêu tả: Thống kê các nhóm truyện, miêu tả kết cấu, nội dung, các môtíp trong các nhóm truyện làm cơ sở khái quát các luận điểm theo thể loại

và các tiểu loại, phân tích các giá trị dựa trên những tiêu chí, số liệu cụ thể

Phương pháp phân tích, so sánh: Phân tích truyện kể theo chủ đề, nội dung, các môtíp theo đặc trưng thể loại So sánh, đối chiếu văn bản truyện, phân loại các nhóm tư liệu, so sánh liên hệ với các nhóm truyện ở các vùng miền

Phương pháp liên ngành: Luận án sử dụng phương pháp này để tìm hiểu một số phương diện văn hóa, lịch sử, tín ngưỡng, tôn giáo làm cơ sở để phân tích các nhóm

Trang 11

truyện, mối quan hệ của truyền thuyết và giai thoại lịch sử với lịch sử vùng đất và với văn hóa, văn học dân gian Nam Bộ

Những khái niệm công cụ

Chúng tôi xin giới thuyết một số khái niệm công cụ được sử dụng trong luận án, bao gồm: đề tài, cốt truyện, đề tài - cốt truyện, tình tiết, môtíp (motif) và típ (type)

Đề tài là phạm vi hiện thực của đời sống khách quan mà tác phẩm đề cập

Cốt truyện theo Từ điển thuật ngữ văn học là “Hệ thống sự kiện cụ thể, được tổ

chức theo yêu cầu tư tưởng và nghệ thuật nhất định, tạo thành bộ phận cơ bản, quan trọng nhất trong hình thái động của tác phẩm văn học thuộc các loại tự sự và kịch” [52,99]

Khái niệm đề tài - cốt truyện dùng chỉ đề tài gắn liền với cốt truyện, tức một

phạm vi giới hạn của đời sống khách quan được hướng đến, được xây dựng trong một hình thức tổ chức hệ thống sự kiện nhất định Tùy theo sự đa dạng, phong phú của tác phẩm, quy mô nhóm đề tài - cốt truyện sẽ mở rộng

Sự hiện thực hoá đề tài, cốt truyện được biểu hiện ở hệ thống tình tiết, môtíp,

đóng vai trò kiến tạo cốt truyện

Tình tiết của truyền thuyết được rút ra, xây dựng từ những sự kiện thực tế,

mang ý nghĩa thể hiện diễn tiến của cốt truyện Sự xuất hiện lặp lại, có tính ổn định, tiêu biểu về mặt ý nghĩa nhất định của một hoặc một số tình tiết có thể tạo lập nên các môtíp Đây là những đơn vị, thành tố nghệ thuật nhỏ nhất hàm chứa những quan niệm

cụ thể về sự kiện hiện thực đã được “mã hóa”

S.Thompson đã định nghĩa: “Mô típ là yếu tố nhỏ nhất của truyện kể dân gian,

có khả năng lưu truyền một cách bền vững Để có được khả năng này mô típ phải là một cái gì đó khác thường và gây ấn tượng” [60,13] Định nghĩa này giới thuyết về cấu tạo, sự vận động và dấu hiệu đặc trưng của môtíp với vai trò là một đơn vị cấu trúc của truyện dân gian

Nguyễn Tấn Đắc tóm lược và nhấn mạnh đặc trưng đơn vị môtíp của tác phẩm

văn học dân gian: “Motif là những phần tử đơn vị vừa mang tính đặc trưng vừa mang tính bền vững của tác phẩm văn học dân gian” [37,11] Chu Xuân Diên nói đến vai trò cốt yếu cụ thể của môtíp: thuật ngữ môtíp dùng chỉ “những yếu tố đơn giản nhất có ý nghĩa trong cấu tạo đề tài, cốt truyện của tác phẩm nghệ thuật” [143,465] Đối với các thể loại tự sự của văn học dân gian, thuật ngữ này đươc hiểu theo nghĩa là “hạt nhân của cốt truyện”, là “công thức truyền thống” từ đó cốt truyện được triển khai hoặc như

“yếu tố hợp thành” của cốt truyện Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: mô típ là

“những thành tố, những bộ phận lớn hoặc nhỏ đã được hình thành ổn định bền vững và

Trang 12

được sử dụng nhiều lần trong sáng tác văn học nghệ thuật, nhất là trong văn học nghệ thuật dân gian” [52,197]

Nhóm tác giả Từ điển type truyện dân gian Việt Nam đã diễn giải về môtíp trong

mối liên hệ với cấu trúc cốt truyện và típ (kiểu) truyện như sau: “Motif truyện kể thực

chất là một khái niệm đơn giản, hay gặp trong truyện kể truyền thống, nó có thể là một đoạn kể ngắn, lặp đi lặp lại và có thể có tính chất khác thường, làm cho người ta nhớ hoặc nó có dấu hiệu đặc biệt Sự lắp ghép của các motif một cách logíc sẽ tạo nên các cốt truyện, nhiều cốt truyện có những motif tương tự nhau sẽ tạo nên những type”[79,21]

Các định nghĩa, diễn giải nêu trên về môtíp là những cách hiểu mà chúng tôi thấy đúng và phù hợp Chúng tôi thống nhất với quan niệm của tác giả Chu Xuân Diên

về môtíp: là những yếu tố đơn giản nhất có ý nghĩa trong cấu tạo đề tài, cốt truyện, là hạt nhân của cốt truyện, là công thức truyền thống cho sự triển khai cốt truyện hoặc như yếu tố hợp thành của cốt truyện Đồng thời, khi vận dụng khái niệm này, chúng tôi cũng chú ý những nội dung khác của khái niệm môtíp như: tính lặp lại, tính chất độc đáo của các chi tiết trong các văn bản tác phẩm hay sự hàm chứa một quan niệm về nhân sinh

6 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN ÁN

Luận án đã có những đóng góp sau:

- Trên cơ sởtiếp cận cơ sở lý thuyết về thể loại, luận án đã khái quát những đặc điểm của truyền thuyết và giai thoại, tiếp tục so sánh truyền thuyết và giai thoại folklore, đồng thời chỉ ra sự gần gũi, thâm nhập, chuyển hóa lẫn nhau của các thể loại này

- Luận án trình bày tổng quan được bức tranh vừa khái quát, vừa cụ thể tình hình sưu tầm, biên soạn, nghiên cứu truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước; tiếp cận những khía cạnh cụ thể của vấn đề văn bản hóa truyện dân gian, bổ sung một số tư liệu sưu tầm mới về văn bản và mối quan hệ của văn bản với các chứng tích văn hóa có liên quan

- Luận án đã tập hợp, sưu tầm, thống kê, phân loại, hệ thống hóa 220 truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước, thời kỳ mà tại Nam Bộ diễn ra rất nhiều sự kiện lịch sử nổi bật, trọng yếu của đất nước, dân tộc

- Theo hướng tiếp cận thể loại, luận án đã khảo sát, miêu tả và xác định đặc trưng nghệ thuật và đặc trưng giá trị của hệ thống truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước, chỉ ra đặc trưng mối quan hệ

Trang 13

của các yếu tố điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa, xã hội và sự hình thành, phát triển của hệ thống truyện dân gian Nam Bộ

- Kết quả nghiên cứu và nguồn truyện sưu tầm của luận án góp phần vào việc nghiên cứu văn hóa, lịch sử địa phương, đồng thời, góp phần lưu giữ, bảo tồn những giá trị văn hóa phi vật thể của Nam Bộ

7 KẾT CẤU LUẬN ÁN

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, luận án có 5 chương:

Chương 1: Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước từ góc nhìn thể loại và từ đặc điểm tư liệu, hệ thống truyện

Chương 2: Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử Nam Bộ là những nhân vật tiền hiền khai khẩn mở đất từ cuối thế kỷ XIX trở về trước

Chương 3: Truyền thuyết về các nhân vật lịch sử Nam Bộ là những người anh hùng chiến đấu chống ngoại xâm từ cuối thế kỷ XIX trở về trước

Chương 4: Truyền thuyết về nhân vật Nguyễn Ánh

Chương 5: Giai thoại về những danh nhân, danh sĩ Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước

Trang 14

CHƯƠNG 1 TRUYỀN THUYẾT VÀ GIAI THOẠI VỀ CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ NAM BỘ

TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ TRƯỚC TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI VÀ TỪ ĐẶC ĐIỂM TƯ LIỆU, HỆ THỐNG TRUYỆN

1.1 TRUYỀN THUYẾT VÀ GIAI THOẠI VỀ CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ NAM

BỘ TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ TRƯỚC TỪ GÓC NHÌN THỂ LOẠI

Nghiên cứu văn học dân gian trên bình diện thể loại là nhiệm vụ rất cần thiết, vì

như nhà nghiên cứu Bùi Mạnh Nhị đã nhận xét, “Trên thực tế không có văn học dân gian như là một lĩnh vực đơn nhất mà chỉ có văn học dân gian tồn tại trong những thể loại, với những tác phẩm cụ thể” [136,120] Việc nghiên cứu, miêu tả đặc trưng thể

loại đóng vai trò thiết yếu cho việc tìm hiểu những sáng tác thuộc thể loại

1.1.1 Thể loại truyền thuyết

1.1.1.1 Khái niệm

Khái niệm và đặc trưng của truyền thuyết đã được nhiều nhà nghiên cứu nhắc đến Do đó, chúng tôi chỉ khái quát, hệ thống lại những điểm cơ bản, làm cơ sở cho việc khảo sát đối tượng nghiên cứu của luận án

Theo lối định nghĩa duy danh, truyền thuyết được hiểu là những điều được truyền lại từ đời trước bằng miệng qua các thế hệ, vì vậy, những “lời truyền thuyết” này bao hàm ý nghĩa là những sự việc thực hư chưa rõ, chưa có chứng cứ tin cậy Hay

truyền thuyết là thuyết, giả thuyết được truyền, theo đó, truyền thuyết là những lời

truyền tụng trong dân gian về sự việc, sự kiện nào đó nhưng chưa bảo đảm là thực

Ở Trung Quốc, danh từ truyền thuyết thường được dùng cùng “truyền văn” hay

“truyền ngoa” (có cụm từ dĩ ngoa truyền ngoa), chỉ sự việc không phải là điều tai nghe,

mắt thấy hay chuyện hoang đường, nó bao hàm ý nghĩa là điều không có thật, được lưu truyền lan rộng

Ở một số nước phương Tây như Anh, Mỹ hay Pháp, khái niệm truyền thuyết

được thể hiện trong từ legend (hay la légende) (xuất hiện trong ngôn ngữ Anh năm 1340), có gốc từ từ La tinh lagère (đọc) để chỉ một đoạn tài liệu đọc, về sau có nghĩa liên quan thông tin không chính xác, hay một câu chuyện không chắc có thực Các nhà

nghiên cứu cũng nói đến cách hiểu về giới hạn cụ thể của thuật ngữ Tiếng Nga có hai

thuật ngữ chỉ thể loại truyền thuyết: predanhie để chỉ truyền thuyết về các sự kiện và nhân vật có thật; legenda thì chỉ nhóm truyền thuyết huyền thoại, trong đó bao hàm cả

truyền thuyết hoặc được dùng chỉ một bộ phận huyền thoại, tức là những truyện có yếu

tố hoang đường, quái đản Ở một số nước châu Âu, có sự phân biệt giữa thuật ngữ

Trang 15

légende và tradition, đều có nghĩa là lời truyền tụng, lời tục truyền nhưng có sự phân

biệt giữa nhân vật lịch sử linh thiêng (thuộc tôn giáo) và lịch sử trần thế

Ở góc độ thể loại, với ý nghĩa là một thuật ngữ khoa học, truyền thuyết có nội hàm rộng hơn Giai đoạn thế kỷ XIX đến những thập niên đầu XX, trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu chuyên về truyền thuyết trên bình diện thể loại Thuật

ngữ khoa học truyền thuyết học được hình thành cho thấy tính chất quan trọng và rộng

lớn của khoa học nghiên cứu truyền thuyết Đây được coi là thể loại có tính đặc thù trong loại hình văn xuôi tự sự dân gian Trong những quan niệm có tính bao quát về

truyền thuyết, niềm tin vào những điều được kể, về tính có lý của nó là dấu hiệu quan

trọng bản chất của thể loại truyền thuyết, khác với truyện cổ tích, nói theo Propp là

“thế giới của những điều tưởng tượng, không thể xảy ra được” [158,36]

M.Rohl, nhà nghiên cứu khoa học xã hội Anh khi định nghĩa về truyền thuyết,

đã chú trọng diễn giải vấn đề niềm tin: “Trong cốt lõi của nó có một niềm tin cơ bản ở phía người kể chuyện, cho rằng các sự việc được mô tả là điều có thật” [170,7]

L.Dégh, nhà folklore Hungary, cũng nói về niềm tin đặt vào truyền thuyết: “Cốt lõi của truyền thuyết thực tế là một đức tin” [26,322]

L.Dégh & A.Vizonyi thống nhất quan điểm về vấn đề niềm tin có tính cốt yếu

trong truyền thuyết: “Niềm tin là một vấn đề có tính nguyên tắc của truyền thuyết (…) Những khía cạnh phong phú của niềm tin về những điều có thực hay tưởng tượng được trình bày trong truyền thuyết là chiếc chìa khóa để các nhà nghiên cứu hiểu được thể loại này” [4,54]

F.Ranke, nhà nghiên cứu folklore Đức, nhấn mạnh tinh thần của niềm tin được

tạo lập trong truyền thuyết: “Truyền thuyết trong bản chất của nó đòi hỏi một niềm tin

ở người kể cũng như người nghe, rằng nó liên quan tới sự thực, rằng nó đã từng xảy ra” [4,54]

Ở Việt Nam, nhiều nhà chính trị, văn hóa, nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm về truyền thuyết

Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, nhà chính trị, văn hóa lớn, đã nêu một ý kiến rất

xác đáng về truyền thuyết: “Những truyền thuyết dân gian thường có cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa, gửi gấm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích” (Nhân ngày Giỗ Tổ vua Hùng, báo Nhân dân, 29.4.1969)

Kiều Thu Hoạch xác định: “Truyền thuyết là một thể loại chuyện kể truyền miệng nằm trong loại hình tự sự dân gian, nội dung cốt truyện của nó là kể lại truyện

Trang 16

tích các nhân vật lịch sử hoặc giải thích nguồn gốc các phong vật địa phương theo quan điểm của nhân dân, biện pháp nghệ thuật phổ biến là khoa trương, phóng đại, đồng thời nó cũng sử dụng những yếu tố hư ảo, thần kỳ…”[72,18]

Lê Chí Quế định nghĩa: “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa hay nhân vật tôn giáo thông qua sự hư cấu thần kỳ”[163,49]

Cùng hướng đến chiều sâu ý nghĩa, giá trị tư tưởng của truyền thuyết, Bùi

Quang Thanh kiến giải về những đặc trưng nghệ thuật thể loại: “Với sự tưởng tượng

“thơ và mộng”, với “tâm tình thiết tha” của mình, nhân dân đã phủ lên những “cái lõi

sự thật lịch sử” ấy những yếu tố hư ảo, thần kỳ, những nét khoa trương, phóng đại (…) Phải chăng có sử dụng những biệp pháp nghệ thuật như vậy, các tác giả dân gian mới thỏa mãn được lòng kính trong, được gửi gấm tình yêu thương mãnh liệt đối với quê hương đất nước, với những vị anh hùng của dân tộc?” [190,126]

Có thể thấy, quan niệm của M.Rohl, L.Dégh, F.Ranke về truyền thuyết nhấn mạnh vấn đề niềm tin (về “những điều có thực hay tưởng tượng”), tức yếu tố thái độ tinh thần được đặt ở bình diện thứ nhất Quan niệm của các nhà văn hoá, nhà nghiên cứu khác chú trọng đặc trưng “sự tưởng tượng”, “ thơ và mộng”, “sự hư cấu thần

kỳ” , là những yếu tố nghệ thuật xây dựng nên giá trị tư tưởng của thể loại, vấn đề

niềm tin nằm trong “mạch ngầm” của tư tưởng, tình cảm

Tựu trung, có thể rút ra định nghĩa về truyền thuyết xác lập trên các phương diện loại hình, đặc điểm nội dung, nghệ thuật và thái độ nhận thức như sau: truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự dân gian, phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử, gắn với sự tưởng tượng và hư cấu thần kỳ, thể hiện cảm quan, sự đánh giá của nhân dân về lịch sử

Về đặc điểm thể loại, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh cái cốt lõi trước hết và trung tâm nhất của truyền thuyết là tính lịch sử Sự khác biệt có tính cốt lõi của truyền thuyết so với các thể loại thần thoại và truyện cổ tích đã được Chu Xuân Diên khái

quát: “Đặc điểm chủ yếu phân biệt truyền thuyết với các thể loại thần thoại và truyện

cổ tích là trong truyền thuyết bao giờ cũng giữ lại được những nét chính yếu của những sự kiện và con người có thực, làm thành cái lõi cốt hiện thực lịch sử - cụ thể cho trí tưởng tượng nghệ thuật của nhân dân” [143,78] Đã là truyền thuyết thì phải mang

yếu tố lịch sử Trong sự sáng tạo của truyền thuyết, lịch sử là yếu tố làm nên đặc tính thể loại, từ cảm hứng nghệ thuật, xu hướng lịch sử hóa, nội dung thể hiện Trên tổng thể, truyền thuyết dân gian là “một dòng tự sự lịch sử độc đáo” [190,131], đã trình bày một cách đầy đủ bức tranh sinh động về lịch sử dân tộc hay địa phương Đây là một

Trang 17

dạng thức “nghìn năm bia miệng”, là hình thức nhận thức lịch sử của nhân dân qua các thời đại như một dòng chảy lịch sử không vơi cạn Song, yếu tố lịch sử trong truyền thuyết không phải là lịch sử đơn thuần mà gắn với sự kỳ ảo hóa (đồng thời là xu hướng khẳng định là sự thật những điều kỳ ảo) và đây chính là con đường của sáng tạo nghệ

thuật Bùi Mạnh Nhị nhận định: “Cái lõi sự thật lịch sử trong các truyền thuyết chỉ là cái nền, cái “phông” cho các tác phẩm, vì đã được nhào nặn lại, được kỳ ảo hóa để khái quát, lý tưởng các sự kiện, nhân vật, nhằm tăng “chất thơ” cho các câu chuyện”

[140]

Mối liên hệ đặc biệt giữa truyền thuyết và lịch sử cũng đã được đề cập ngay

trong bài Tựa sách Lĩnh Nam chích quái thế kỷ XV, một trong những tập truyện đầu

tiên được hình thành từ sự “góp nhặt và sàng lọc” các truyện kể dân gian của các học

giả thời phong kiến: “Những truyện chép ở đây là sử ở trong truyện chăng?… Sử là thực và truyện là hư Sử nằm trong truyện, truyện xen vào sử” [169,18]

Do tính chất gắn bó chặt chẽ với lịch sử của truyền thuyết, đã có ý kiến coi

truyền thuyết là dã sử hay sử dân gian, tức là một bộ phận của lịch sử thời kỳ cổ sơ và

là lịch sử truyền miệng (bên cạnh loại sử chính thống, tồn tại trên văn tự); vì vậy không coi truyền thuyết là một khái niệm thuộc phạm trù văn hóa dân gian

Quan niệm đồng nhất hay nhầm lẫn giữa truyền thuyết và lịch sử không chỉ do

sự gắn bó với lịch sử của truyền thuyết mà còn do điều kiện khách quan là có khoảng thời gian dài, nhiều cộng đồng, dân tộc chưa có sử thành văn, nên những câu chuyện về lịch sử của truyền thuyết đã trở thành nguồn sử liệu chính cho đời sau Đây cũng là hiện tượng phổ biến mọi nước, khi chưa có chữ viết, lịch sử dân tộc thường được kể

mở đầu bằng truyền thuyết như một sự thay thế, bổ khuyết cho lịch sử Sau này những truyền thuyết đó được ghi chép lại

Về quan hệ giữa lịch sử và văn học dân gian, có thể nhắc đến nhận xét của

M.Gorki: “Từ thời viễn cổ, văn học dân gian luôn luôn là người đồng hành khăng khít

và đặc thù của lịch sử”

Sự “đặc thù” đó liên quan đến bản chất sáng tạo nghệ thuật của văn học dân gian, nói cách khác, tính chất sử được phản ánh một cách đặc thù trong văn học dân gian Cách truyền thuyết và sử tiếp cận lịch sử khác nhau Cách tiếp cận của sử chính là

sự chính xác, khách quan về sự kiện, con người, còn truyền thuyết, tiếp cận theo đặc thù nghệ thuật Khi phản ánh thực tại, truyền thuyết hướng về những vấn đề của lịch sử nhưng gắn với những sáng tạo nghệ thuật, theo hướng lý tưởng hóa Propp đã nhận

định về truyền thuyết: “Nhân dân đã tự do phát huy trí tưởng tượng lịch sử và hư cấu nghệ thuật”[157] Theo đó, những sự kiện của đời sống thực được đưa vào tác phẩm

Trang 18

không phải là mục đích cuối cùng mà là chất liệu thực tế để tạo nên tư tưởng hình ảnh, chi tiết nghệ thuật, từ đó nhằm nêu lên những vấn đề có ý nghĩa của đời sống văn hóa tinh thần cộng đồng Ví dụ, từ những mũi tên đồng tìm thấy ở di tích Cổ Loa đến hình tượng nỏ thần, có một khoảng cách vừa thực vừa rất mơ hồ của sự khái quát hoá, kỳ ảo hóa, để hướng đến sự thể hiện giá trị tinh thần lớn lao về sức mạnh, trí tuệ, trình độ sản xuất, sự vun bồi khí lực trong bài học giữ nước của dân tộc Đây chính là lối kỳ ảo hóa lịch sử của truyền thuyết Ở đây thực tại đã được thiêng hóa để gửi gấm vào đó những giá trị tư tưởng, thẩm mỹ và qua đó đã nâng tầm vóc của sự kiện, nhân vật lịch sử ở mức độ cao nhất

Do đó, trong nghiên cứu truyền thuyết, nếu chỉ đi tìm những chi tiết lịch sử có

thực thì chưa bao quát đầy đủ đặc trưng thể loại Trần Thị An nhận định: “Hướng nghiên cứu này đã làm nghèo nàn truyền thuyết dân gian, chỉ đơn giản tìm trong truyền thuyết dân gian những chi tiết chính xác của lịch sử” [3,66]

Ở một góc nhìn khác, như Hồ Quốc Hùng nhận xét, truyền thuyết là “ký ức cộng

đồng về quá khứ” [83,10] Truyền thuyết nói về quá khứ, lịch sử được phản ánh trong

truyền thuyết không phải là lịch sử chính xác ở những thời điểm cụ thể mà thông qua

sự cảm nhận, nhận thức về lịch sử (bởi tính cố định, cụ thể trong sự hư cấu lịch sử sẽ

không đồng nghĩa với tính xác thực mà “chủ yếu ở bản chất, ở cái cốt lõi của lịch sử”

[72,17] Đó là lịch sử trong chiều sâu, cái tồn lưu trong ký ức như một “mạch ngầm” của tinh thần, tình cảm, gắn liền với cảm hứng ngợi ca, tôn vinh Đây là nét đặc thù của thể loại Chính cảm hứng ngợi ca, tự hào về lịch sử mà qua những truyền thuyết dân

gian về thời Bắc thuộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Phùng Hưng…, các nhân vật đã

trở thành những biểu tượng của tinh thần kiên cường, bất khuất của dân tộc như những

ký ức lịch sử sâu đậm về quá khứ Đây là dòng chảy lịch sử ở chiều sâu, thể hiện chất nhân văn của con người hướng về dân tộc, đất nước Đỗ Bình Trị nhận định về ý nghĩa

sâu sắc của truyền thuyết cổ xưa: “Những truyền thuyết thời cổ như những truyền thuyết về thời các vua Hùng, thường có nghịch lý: “lịch sử” trong đó thường lung linh,

mờ ảo trong bao lớp sương mù của thời gian và nhiều điều huyễn hoặc của tư duy thần thoại, nhưng niềm tin vào “sự thật lịch sử” có lẽ còn mãnh liệt hơn so với những truyền thuyết đời sau” [209,88]

Mặt khác, truyền thuyết phản ánh lịch sử theo những cách thức riêng, có sự chọn lựa và sáng tạo Truyền thuyết có sự chọn lựa những yếu tố lịch sử, nhằm thể hiện trong chiều sâu cái cốt lõi tinh thần những giá trị liên quan các quá trình lịch sử Cho nên không phải bất kỳ sự kiện, nhân vật nào cũng có truyện kể nhưng tinh thần, xu thế

của từng thời kỳ lịch sử lại được thể hiện sâu sắc trong truyền thuyết dân gian: “Nhân

Trang 19

dân đã thể hiện trong đó thái độ của mình đối với các biến cố, các nhân vật lịch sử và các tình huống lịch sử, đã thể hiện trong đó ý thức lịch sử của mình”[157]

Tính chất chắt lọc tinh thần các thời đại lịch sử của truyền thuyết đưa đến đặc

điểm có tính đặc thù về thể loại Hồ Quốc Hùng nhận định:“mỗi truyền thuyết dường như trở thành biểu tượng cho một giai đoạn, thời đại lịch sử nhất định” [83,22] Như

một mạch nguồn tự nhiên, từ thời Hùng Vương buổi bình minh của công cuộc dựng và giữ nước đến thời kỳ chống Pháp đau thương mà hào hùng, lịch sử dân tộc như chưa bao giờ gián đoạn trong những ký ức của cộng đồng về quá khứ Những sự kiện và tinh thần đó không chờ ghi chép từ những bộ sử biên niên mới có mà vốn đã sống trong ký

ức nhân dân như những giá trị tinh thần quý báu không mất đi theo thời gian Sự chọn lựa còn thể hiện ở cái cụ thể, là chiều sâu tâm lý, tình cảm, gắn với “chất tâm tình” Những sự kiện, nhân vật đi vào truyền thuyết phải là những tâm điểm được đánh giá cao, tập trung sự chú ý của nhân dân Nhân vật là những đối tượng gần gũi, trải nhiều thế hệ luôn được ghi nhớ trong niềm cảm phục, sự tri ân, lại được lưu dấu trên những chứng tích địa danh, văn hóa như những vết khắc không phai mờ qua năm tháng

Đặc điểm tiếp theo là tính kết chuỗi của các tác phẩm thành hệ thống truyện xoay quanh các nhân vật hay sự kiện Đặc điểm này có nét đặc thù ở truyền thuyết Không tác phẩm truyền thuyết nào tồn tại đơn lẻ Tính kết chuỗi thể hiện trước hết ở hiện tượng các nhân vật gắn với những hệ thống truyện kể nhất định Mức độ hệ thống

ấy tồn tại ở một vùng miền, địa phương hoặc ở những phạm vi liên vùng Trong đó, các truyện kể được phát sinh và lưu truyền ở nơi có dấu tích hoạt động của nhân vật hoặc lan xa theo tầm vóc sự kiện, tầm vóc công tích của nhân vật Tính kết chuỗi ấy, xét về

mặt tư tưởng, như các nhà nghiên cứu nhận định, thường “có chung những tính chất cụ thể lịch sử nhất định, tạo thành nếp cảm nghĩ truyền thống nhất định” [40,228] trong

kho tàng văn học dân gian Việt Nam

Những khảo sát thực tiễn cho thấy có khoảng 200 truyền thuyết (với các dị bản) xoay quanh các vua Hùng, được sản sinh và lưu truyền ở khắp các tỉnh trung du và đồng bằng Bắc Bộ [231,14]; hệ thống truyền thuyết Hai Bà Trưng và các nữ tướng với

số lượng không nhỏ phổ biến rộng rãi ở các tỉnh Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Tây, Hà Nội[198,129]; truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và người anh hùng Lê Lợi “trải

ra mênh mông suốt từ Hà Tĩnh đến Lạng Sơn” [129,360]; và gần đây, theo số liệu tập hợp được, có đến hơn 80 truyền thuyết về những anh hùng chống Pháp ở Nam Bộ

Một đặc điểm khác là mối quan hệ gắn bó của truyền thuyết với các di tích văn hóa, nghi lễ, tập tục Các di tích, nghi lễ, phong tục liên quan là hình thức văn hóa vật

thể, môi trường “diễn xướng” và lưu giũ đặc biệt của truyền thuyết Bùi Mạnh Nhị

Trang 20

nhận xét: “Truyền thuyết thường gắn với các di tích lịch sử, văn hóa (đền thờ, miếu mạo, lễ hội), danh lam thắng cảnh và phong tục thờ cúng ở địa phương” [140]

Khắp nơi trên đất nước, các địa danh, di tích lịch sử, văn hóa đi cùng nghi thức, tập tục thờ cúng đều gắn với truyền thuyết (có khi đã được thần tích hóa) Cơ sở lịch sử của câu chuyện đã đi vào đời sống tinh thần, tâm linh của nhân dân Với cảm hứng tôn vinh lịch sử, những nơi tương truyền người anh hùng đặt chân đến hay lập nên công tích cần phải được lưu giữ, nhắc nhở muôn đời, nhân dân đã gửi vào truyền thuyết tâm niệm, ước vọng đó Ký ức, tình cảm của nhân dân về quá khứ dân tộc có nhu cầu gắn kết với chứng tích văn hóa (hình thức di tích, lễ hội, tập tục thờ cúng…), lấy đó làm chỗ dựa bền chắc cho niềm tin và sự tôn vinh Chính điều này đã tạo cho truyền thuyết

ý nghĩa sâu sắc, bởi “hương khói” của sự thờ phụng chứa đựng giá trị thiêng, nó là

“tiếng núi sông”, “hồn linh”, “tiếng rì rầm trong đất”, là niềm tin, niềm tự hào về

truyền thống, sự trường tồn của dân tộc, bờ cõi đất nước

Những chứng tích địa danh, lịch sử, văn hóa trong truyền thuyết thường mang ý

nghĩa là những biểu tượng thiêng, như núi Nghĩa Lĩnh, núi Sóc Sơn, sông Tô Lịch (Truyền thuyết về Vua Hùng, Tản Viên đón vợ, Thánh Gióng, Sông Tô Lịch ); hoặc là

những dấu tích thực tế dùng cho việc tưởng niệm như đền, miếu, lễ hội… gắn với nhu cầu về tâm linh Những chứng tích được gắn kết vào câu chuyện nhằm khẳng định thêm niềm tin vào điều được kể Đặc biệt, yếu tố địa danh của nhiều truyền thuyết thể hiện rất sâu xa ký ức về lịch sử, có thể đối chiếu với các nguồn tư liệu khác nhau để tìm ra ý nghĩa bề sâu đó Truyền thuyết ở những vùng đất có bề dầy lịch sử thể hiện rõ nét hơn đặc điểm này khi đặt trong mối liên hệ đối chiếu với giai thoại (bởi truyền thuyết ở những vùng đất mới chưa có sự bồi lắng nhiều lớp lịch sử, văn hóa, yếu tố nội dung liên quan với thực tại được thể hiện trực tiếp của nó dễ có khả năng đi gần với hình thức giai thoại)

1.1.1.2 Phân loại truyền thuyết

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều cách phân loại truyền thuyết Kiều Thu Hoạch phân chia truyền thuyết thành truyền thuyết nhân vật (bao gồm các tiểu loại: truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết phản diện, truyền thuyết tôn giáo), truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phong vật Lê Chí Quế chia thành truyền thuyết lịch sử, truyền thuyết anh hùng, truyền thuyết về các danh nhân văn hóa Đỗ Bình Trị phân thành truyền thuyết địa danh, truyền thuyết phổ hệ, truyền thuyết lịch sử Tuy có những khác biệt về quan điểm phân loại nhưng nhìn chung truyền thuyết lịch sử đều được

xem là bộ phận tiêu biểu nhất của thể loại, là “truyền thuyết lịch sử đích thực”; hay nói

như Kiều Thu Hoạch về truyền thuyết nhân vật (có nội hàm tương ứng): “Nói tóm lại,

Trang 21

dù phân loại theo cách nào, dù có những quan điểm phân loại khác nhau giữa mặt này mặt khác, nhưng chung quy thì loại truyền thuyết nhân vật mà trong đó có loại truyền thuyết anh hùng chống ngoại xâm vẫn là biến thể nổi bật nhất và cũng chiếm số lượng nhiều nhất trong kho tàng truyền thuyết người Việt”[72,146]

Tựu trung, theo tiêu chí đề tài, nội dung, có thể chia truyền thuyết dân gian Việt Nam thành các tiểu loại (biến thể) sau:

Truyền thuyết địa danh: những truyện kể dân gian nhằm giải thích nguồn gốc những tên gọi địa danh ở các địa phương gắn với các sự kiện, nhân vật lịch sử (bao gồm tên gọi những địa điểm, địa vật, cảnh quan địa lý… ít nhiều có quan hệ đến hiện

thực lịch sử - cụ thể) Ví dụ: Sự tích Hồ Gươm, Sự tích thành Lồi, Sự tích Chùa Phật Bốn Tay…

Truyền thuyết phong - vật: những truyện kể dân gian giải thích về nguồn gốc phong tục, sản vật trong quá trình lịch sử của nó hoặc có gắn với các nhân vật, sự kiện

lịch sử, bao gồm sự hình thành tín ngưỡng, phong tục Ví dụ: Sự tích tục đánh cá thờ,

Sự tích đua ghe ngo, Tục vẽ mắt ghe ở Kiên Giang…

Truyền thuyết lịch sử: những truyện kể dân gian mang đậm yếu tố lịch sử, kể về nhân vật, sự kiện lịch sử, chủ yếu là nhân vật lịch sử gắn với tiến trình lịch sử địa phương, dân tộc, bao gồm những truyền thuyết về danh nhân lịch sử, văn hóa, tổ tiên nòi giống, truyền thuyết về những người có công đánh giặc, khẩn hoang, tạo lập làng

xã, nghề nghiệp… Ví dụ: Lạc Long Quân, Âu Cơ, Hai Bà Trưng, Hoàng Hoa Thám, Ông Không Lộ đúc chuông…

Việc phân loại trên đây cũng chỉ tương đối, bởi giữa các tiểu loại có sự đan xen vào nhau và sụ đan xen này có xu hướng đậm nét hơn trong hệ thống truyền thuyết ở những vùng đất mới, do hệ thống này vẫn đang còn trong quá trình vận động, biến đổi mạnh hơn so với truyền thuyết ở các vùng đất cổ Mặt khác, theo nghĩa rộng, truyền thuyết địa danh và truyền thuyết phong vật cũng chính là các dạng khác của truyền thuyết lịch sử mà thôi Luận án nêu vấn đề phân loại nói trên để tiện sử dụng quy ước khi chỉ tên các tác phẩm hay nhóm tác phẩm cụ thể trong quá trình khảo sát, phân tích

1.1.2 Thể loại giai thoại

1.1.2.1 Việc nghiên cứu về giai thoại

Theo tư liệu, ngay ở Trung Quốc, thuật ngữ giai thoại xuất hiện sớm từ thời Đường - Tống, về sau có nhiều loại sách ghi chép giai thoại nhưng lý thuyết về thể loại không thấy đặt ra Ở Phương Tây, đến những năm 60 của thế kỷ XX mới có một số công trình về lý thuyết giai thoại, như ở Nga với công trình của những tên tuổi như F.Xumtxốc, M.Xiđelnicốp, V.Guxép hay ở Pháp như P.Roland Barthes…

Trang 22

Nhà phê bình hiện đại P.Roland Barthes viết: “Truyện kể hiện diện trong huyền thoại, truyền thuyết, ngụ ngôn, truyện hoang tưởng, truyện ngắn, anh hùng ca, bi kịch, chính kịch, hài kịch, kịch câm, tranh vẽ, kính ghép màu, điện ảnh, truyện tranh, việc

văt, trò chuyện, giai thoại…” (Dẫn luận phân tích các cơ cấu truyện kể, Tạp chí

Communications (Giao Lưu, Paris, 8-1968) [14,3] Nhận định này cho thấy quan niệm

về sự tồn tại của thể loại giai thoại: các truyện kể (récit) bao gồm giai thoại (anecdote),

trong đó, giai thoại là một dưới - thể loại (“sous-genre”) của thể loại (“genre”) truyện

kể

Ở Việt Nam, thuật ngữ “giai thoại” được chính thức sử dụng với hình thức ghi

thành tiểu mục hoặc thành lời chú loại dưới các đề tài trên các báo quốc ngữ nổi tiếng

giai đoạn 1865 - 1965 như Khuyến học, Nước Nam, Tiếng dân, Tri Tân… Truyện đời xưa (1866), Chuyện khôi hài (1882) của Trương Vĩnh Ký đã ghi một số mẩu chuyện kể

có tính chất giai thoại (như Răng cắn lưỡi, Học trò sửa liễn của ông Hoàng, Câu đối có chí khí, Người can đảm ).Những mẩu chuyện kể có tính chất giai thoại cũng đã xuất hiện ở một số sách báo khoảng thời gian từ năm 1930 - 1945 và rải rác trong sách Hán

Nôm từ thời Lê đến thời Nguyễn (tiêu biểu như bộ Văn đàn bảo giám, Trần Trung

Viên sưu tập, xuất bản năm 1926 - 1938, ghi chép những mẩu chuyện lý thú trong đối đáp văn chương) Đến năm 1965 mới xuất hiện quyển sưu tập đầu tiên mang tên giai

thoại: Giai thoại văn học Việt Nam, soạn giả Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch ở

miền Bắc (bản thảo được thông báo hoàn thành năm 1963, Trần Thanh Mại viết Giới thiệu) và Giai thoại làng Nho của Lãng Nhân ở miền Nam (thực tế được xuất bản lần đầu vào năm 1963, lời tựa sách của Đoàn Thêm với chủ ý: “phần chính cuốn sách này, phải chăng là sự tích kể lại, hay đúng hơn là những tài liệu thi văn mà Lãng Nhân đã

cố gắng thâu lượm?” [132,3], mở đầu cho những tập sách kể chuyện giai thoại về sau

Ngoài những văn bản sưu tập, việc nghiên cứu về thể loại đến nay còn khá ít ỏi

Giới nghiên cứu đến nay vẫn chưa có sự thống nhất ý kiến về thể loại “giai thoại” Trong các sách chuyên ngành văn học dân gian trước nay, hệ thống thể loại văn học dân gian truyền thống không có giai thoại nhưng thực tế giai thoại tồn tại từ lâu với quy mô tác phẩm không nhỏ và có bộ phận nằm lẫn vào những thể loại khác Những thập niên gần đây, trong phân loại truyện kể dân gian, một số nhà nghiên cứu hoặc biên soạn đã chính thức đưa vào thể loại giai thoại, đồng thời cũng đã có một số công trình

nghiên cứu về giai thoại như là một thể loại văn học dân gian độc lập Trong sách Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam (1974) [40,53], Cao Huy Đỉnh đã nói đến

giai thoại song mới chỉ là những nhận xét ngắn Qua tổng quan tư liệu nghiên cứu về

giai thoại, Nguyễn Bích Hà đưa ra ý kiến: “giai thoại với số lượng văn bản phong phú,

Trang 23

với vẻ đẹp về cả ngôn ngữ nghệ thuật và tư tưởng tác phẩm rất xứng đáng được dành một khoảng không gian nhất định trong hệ thống các thể loại VHDG”[50] Điều này là

cần thiết, vì nói như V.Guxép, nhà nghiên cứu folklore Nga: giai thoại “có một số đặc điểm cho phép xem nó như một thể loại độc lập”, và vì “Nhìn từ quá trình phát triển của việc sưu tầm, biên soạn giai thoại, thì dường như tự nó đã hình thành một thể loại độc lập” [45]

1.1.2.2 Về thuật ngữ giai thoại

Các nhà nghiên cứu thống nhất thuật ngữ giai thoại tương đương với thuật ngữ anecdote của phương Tây (mẩu chuyện ngắn, vui, lạ) là điều có tính chất vui, hay, thú

vị Kiều Thu Hoạch giới thuyết: “Giai thoại vốn là một thuật ngữ gốc Hán, giai có nghĩa là hay, thoại là câu chuyện kể Như vậy, giai thoại là câu chuyện kể hay, đẹp, mà lâu nay giới nghiên cứu vẫn coi thuật ngữ này là tương đương với thuật ngữ anecdote của phương Tây”[72,422]

Vũ Ngọc Khánh nói rõ, giai thoại (anecdote) có tính cách hài hước, dí dỏm, gây được những nụ cười “ý nhị, ít nhiều mang ý nghĩa triết học”; “thoại” được quan niệm

là chuyện, nên có ngắn, có dài, do đó có tình tiết hoặc sự kiện [95,164]

Khái niệm giai thoại cũng được dẫn từ định nghĩa của Guxép: “Chúng tôi gọi giai thoại là tác phẩm tự sự trào phúng hoặc hài hước (satirique ou humoristique), được xây dựng trên một tình tiết có một sức tăng tiến, tới điểm cao (culmination), biểu hiện

rõ rệt và hết sức bất ngờ Những giai thoại có thể kết chuỗi xung quanh một nhân vật quen thuộc với đại chúng (populaire), có thể là nhân vật lịch sử hoặc tưởng tượng…”[45,233] Quan niệm này có nhiều điểm gần với khái niệm truyện cười hoặc

truyện trạng Theo Ninh Viết Giao, đây là lý do tác giả Kho tàng giai thoại Việt Nam

đã đưa vào tập sách những truyện “thường được các nhà nghiên cứu văn học dân gian xếp vào loại “truyện cười kết chuỗi”

Coi giai thoại là anecdote (theo cách hiểu của phương Tây) là chưa đủ, giữa

chúng vẫn có sự khác nhau, chính thực tiễn sáng tác đã đưa đến những nội hàm rộng hơn cho khái niệm giai thoại như một thể loại

1.1.2.3 Giai thoại là một thể loại văn học dân gian

Theo Lại Nguyên Ân, giai thoại là một thể loại độc lập, về bản chất thuộc văn học viết: “Giai thoại thuộc về văn chương bác học, gắn với sinh hoạt văn học thành văn, nhưng lại tồn tại dưới dạng truyền miệng, tức là dạng thức tồn tại của các chuyện

kể dân gian” [69,519] Nhận định này phù hợp với giai thoại văn học, có thể bao gồm nhóm giai thoại đi sứ, bởi phần lớn các giai thoại cũng gắn với thơ văn, song chưa bao

Trang 24

quát đầy đủ các tiểu loại giai thoại khác Thực tế, không ít giai thoại được sáng tác và lưu truyền không “gắn với sinh hoạt văn học thành văn”

Một số nhà nghiên cứu đã xác định giai thoại với tính chất là một thể loại văn học dân gian Trong công trình của Cao Huy Đỉnh, giai thoại đã được nhắc đến như

một thể loại thuộc lĩnh vực văn học dân gian: “Chung quanh Tô Hiến Thành, Chu Văn

An, Mạc Đĩnh Chi, Trương Hán Siêu… và sau này có Nguyễn Trãi nữa, nhân dân có những lời ngợi khen, mến phục hoặc tin tưởng tự hào Tiểu sử của những ông quan như thế thường lẫn lộn với tình tiết hư cấu trùng lặp về “các nhân tài nước Nam” và trở thành giai thoại” [40,53]

Kiều Thu Hoạch xác định rõ “giai thoại là sáng tác folkore, là văn học dân gian”, chứng minh giai thoại là văn học dân gian dựa trên tính tập thể, tính vô danh,

vốn là các đặc trưng của thể loại văn học dân gian Về quan niệm giai thoại văn học

chủ yếu là do “những người có chữ sáng tạo nên” thì đây là những sáng tạo của “các nho sĩ trong những cuộc đàm tiếu nhân lúc “trà dư tửu hậu”, của những ông đồ quê luôn tắm mình trong cội nguồn văn hóa trào tiếu dân dã”, cũng là những người đã từng

sáng tác văn học dân gian Xét về mặt lịch sử sưu tầm, biên soạn, ở giai đoạn trước, hầu hết giai thoại đều là những mẩu chuyện hay được ghi lại vào lúc rảnh việc công

(như “công hạ ký văn”, “công dư tiệp ký”) hoặc sau lúc ăn uống (“thoái thực ký văn”), tức giai thoại đều “nghe được và ghi chép lại từ miệng người khác”, là “dấu hiệu của folklore, của văn học dân gian” [72,427]

Vũ Ngọc Khánh khẳng định tính chất dân gian ở giai thoại: câu thơ, câu đối được vận dụng theo phong cách dân gian, nhân vật lịch sử và tác gia thành nhân vật dân gian, tác phẩm có đời sống dân gian như thể loại văn học dân gian khác [95,170]

Ninh Viết Giao qua phần tổng thuật tư liệu về giai thoại trong “Giai thoại xứ Nghệ” cũng xác nhận sự tồn tại của giai thoại như là thể loại văn học dân gian Tác giả

định nghĩa: “Giai thoại là những mẩu chuyện đẹp, hay, ngắn, gọn, vui, thú vị, có khả năng gây cho người nghe, người đọc một cảm giác thoải mái, sảng khoái, nhẹ nhàng, trong đó ẩn giấu một suy nghĩ, một tính cách, một thái độ… của nhân vật nào đó”

[48,307]

Lê Văn Chưởng cũng nhấn mạnh sự tồn tại độc lập của giai thoại trong mối

tương quan với một số thể loại văn học dân gian: “Kho tàng truyện dân gian Việt Nam

có một mảng truyện kể khá gần gũi với truyện cười và cũng tương quan với truyền thuyết, được tồn tại độc lập và có một đời sống riêng được gọi là giai thoại” [25,71]

Trang 25

Tuy nhiên, nhận xét giữa giai thoại và truyện cười “có cái gì giống nhau, có cái

gì liên quan mật thiết với nhau” (Trần Thanh Mại) [147,3] mới là một dự cảm, cần nói

rõ “có cái gì”, phân biệt giữa hai thể loại

Những đặc trưng của giai thoại và phân loại

Theo từ điển Larousse, “Giai thoại là một truyện rất ngắn gọn về một sự việc hấp dẫn, lý thú của một nhân vật nào đó, truyện mà người ta còn ít biết đến”[70,14]

Định nghĩa trên thể hiện những nét đặc trưng có tính bao quát về giai thoại

Chính đặc điểm “rất ngắn gọn” đã đưa đến quan niệm xem giai thoại là một dưới - thể loại (“sous-genre”) của thể loại truyện kể (“récit”) Những khía cạnh riêng tư, đặc biệt,

chưa phổ biến về nhân vật là những nét đặc thù tạo nên sức sống của giai thoại Người nghe chờ đợi một thông tin mới về nhân vật, thường được tạo ra trong những tình huống đặc biệt, bất ngờ, đưa đến những ấn tượng sâu sắc

Về tính chất ngắn gọn của giai thoại, như Ninh Viết Giao đã đề cập, có “một số giai thoại chưa dựng thành chuyện, sự việc rất đơn giản” [48,291], nhưng xưa nay vẫn được kể và lưu truyền

Từ điển thuật ngữ văn học định nghĩa “giai thoại”: “Một thể loại truyện kể ngắn gọn về một tình tiết có thực hoặc được thêu dệt của những nhân vật được nhiều người biết đến” (ví dụ: giai thoại về các nhà chính trị, các tướng, các nhà văn, nhà khoa học, các nhân vật có biệt tài như Mạc Đĩnh Chi, Trạng Quỳnh ) [52,132] Chúng tôi cũng thống nhất với quan niệm này về giai thoại, tuy nhiên, “nhân vật được nhiều người biết đến” được định vị là những con người thật, không phải là nhân vật hư cấu

Với tư cách là một thể loại văn học dân gian, giai thoại, trước hết, là những câu chuyện hay, đẹp, lý thú Nói theo Kiều Thu Hoạch, một tác phẩm sở dĩ được gọi là giai

thoại chính là do tính lý thú (“intéressant, plaisant”) tạo nên, nó phân biệt với truyện cười với tính gây cười (“risible”) Đồng thời, thông thường đã gọi là giai thoại phải có

đối thoại, đối đáp (“dialogue”) giữa hai nhân vật, có những tình tiết dẫn tới kịch tính từ lời kể chuyện, tức lời thoại Điều này thể hiện trước hết ở giai thoại văn học, bởi mục đích, chức năng của giai thoại văn học là đưa đến cảm giác sảng khoái, thú vị, một sự giải trí trí tuệ, dí dỏm bằng thơ văn Ở đây tính lý thú mang ý nghĩa toàn diện, thể hiện

ở bản thân thơ văn và còn ở chính tình huống của giai thoại

Nhân vật giai thoại là những nhân vật có thật Đó là các nhân vật lịch sử, danh nhân văn hóa, các nhà nho, tổ sư của các nghề nghiệp… và là những người nổi tiếng

Theo Ninh Viết Giao, “Nhân vật càng nổi tiếng thì các giai thoại nói về họ càng hấp dẫn, lôi cuốn dễ đạt được tính chất mỹ cảm của nó” [48,290] Đây là những mẩu

chuyện về “người thật, việc thật” với những khía cạnh riêng tư, cụ thể về nhân vật

Trang 26

Mặt khác, tính hư cấu cũng là một đặc trưng phổ quát của giai thoại, với ý nghĩa

là “gán cho người nọ việc kia” [95,176] Đây là sự hư cấu theo lối thêu dệt những tình

tiết, sự kiện về nhân vật (nếu là giai thoại văn học thì có thể hư cấu cả thơ văn của nhân vật) theo xu hướng biểu đạt thái độ tôn phục Điều này khác với tính chất “sự hư cấu

thần kỳ” trong truyền thuyết Cao Huy Đỉnh cũng đã nói đến “tình tiết hư cấu trùng lặp” giữa các nhân vật nổi tiếng và “các nhân tài nước Nam” [40,53] trong giai thoại

Theo Vũ Ngọc Khánh, giai thoại được chia làm ba loại: giai thoại văn học (những câu chuyện hoàn toàn là chuyện sáng tạo và chuyện những người sáng tạo trong địa hạt văn chương học thuật), giai thoại lịch sử (những câu chuyện khác liên quan với những sự kiện, những nhân vật hoạt động trong các chính trường, có liên hệ chặt chẽ với tiến trình tồn vong của đất nước) và giai thoại folklore (các mẩu chuyện về những tài năng thợ thêu, thợ chạm, những nghệ nhân, nghệ sĩ tuồng chèo, hội họa, điêu khắc, diễn xướng gây được những thú vị, bất ngờ; các mẩu chuyện tạo nên những thành ngữ, phương ngôn, vẫn thường được nhân dân truyền tụng để biểu lộ niềm tin, tự hào về con người, quê hương, dòng họ ) [95,174] Kiều Thu Hoạch phân giai thoại thành hai loại: giai thoại văn học (gồm nhóm giai thoại về các tác gia văn học và nhóm giai thoại về các sáng tác văn học khuyết danh, vô danh) và giai thoại lịch sử (gồm nhóm về danh nhân lịch sử, danh nhân văn hóa và nhóm giai thoại đi sứ) Gắn với quan

niệm xem giai thoại là những chuyện vui vui, hay hay”, “hàm chứa yếu tố gây cười một cách nhẹ nhàng tao nhã”, trên cơ sở các giai thoại sưu tầm ở địa phương, Lê Văn

Chưởng chia giai thoại thành các loại: giai thoại sinh hoạt hò, giai thoại hoàng tộc-thứ dân, giai thoại sân khấu, giai thoại sáng tác thơ văn Các nhóm giai thoại được nêu tương quan với giai thoại văn học và giai thoại folklore Nguyễn Bích Hà chia giai thoại làm ba loại: giai thoại văn học (về Nguyễn Du, Xuân Diệu…), giai thoại danh nhân (về Nguyễn Hiền, Lương Thế Vinh…), giai thoại cười (Truyện Trạng Quỳnh, Bác Ba Phi…) Tác giả cũng không đưa vào khái niệm giai thoại lịch sử và có quan niệm đồng nhất một bộ phận của giai thoại với loại “truyện cười kết chuỗi” hay truyện trạng

vua-quan-Như vậy, các cách phân loại cũng chưa có tiêu chí nhất quán song đã có những điểm gần nhau, qua đó có thể nhận diện được các nhóm giai thoại Chúng tôi thống nhất với cách phân chia thành ba tiểu loại giai thoại của Vũ Ngọc Khánh, gồm: giai thoại văn học, giai thoại lịch sử và giai thoại folklore, bởi các tiểu loại có khả năng bao quát rộng rãi các đối tượng truyện kể

Tóm lại, giai thoại là một thể loại văn học dân gian đích thực Văn học viết vẫn

có giai thoại, là những giai thoại về các tác gia, tác phẩm đúng chất văn học (có thể bao

Trang 27

gồm nhóm giai thoại đi sứ) Những yếu tố xem là “ngoài chính thống” của nó sẽ là

những đặc điểm làm nên giai thoại văn học bác học, với ý nghĩa là“một dòng phái sinh trong thực tiễn văn học” [193,17] như Cao Tự Thanh đã nhận định Còn văn học dân

gian vẫn có thể loại giai thoại, theo nguyên lý những gì của dân gian sẽ trở về với dân

gian Trong lời Giới thiệu Giai thoại văn học Việt Nam, Trần Thanh Mại cũng đã nói đến sự tồn tại của hai kiểu loại giai thoại: “trừ một số cá biệt, nói chung thì giai thoại văn học không thuộc phạm vi văn học dân gian” [147,3] Thực tế, “một số cá biệt” đó

lại là một mặt có ý nghĩa quan trọng của thể loại Trong đó, có giai thoại văn học (dân gian), giai thoại folklore (gồm cả giai thoại xung quanh những bài thơ, câu đối khuyết danh hoặc nhân vật phiếm chỉ) và giai thoại lịch sử

Vấn đề phân biệt giai thoại văn học và giai thoại văn học dân gian

Quan niệm “Là dân gian, cái gì không phải là chính thống” (“Est populaire, ce

qui n’est pas officiel”) (Trần Quốc Vượng dẫn của một nhà folklore Pháp) [224,172] là

một cách hiểu ở phạm vi rộng Đến với sáng tác văn học dân gian cần có thêm kiến giải

cụ thể Khái niệm “chính thống” được hiểu là sáng tác chính thức của cá nhân, có tính quan phương Có thể có những sáng tác ngoài chính thống nhưng không hẳn là của dân gian

Các nghiên cứu folklore thế giới đã đề cập đến vấn đề “chất dân gian của những người không phải dân chúng và chất phi dân gian của dân chúng” [20,171] Thực tế này gợi mở nhận thức mới về tính chất không tuyệt đối của những phạm vi quy ước cũng như mở ra khả năng thứ hai cho cách hiểu về yếu tố thực tế của những sáng tác truyền miệng dân gian, trong đó bao gồm cả những sản phẩm được tạo từ thành phần ngoài dân chúng và những gì thuộc về tính chất không chính thống không hẳn mang chất lượng của truyền thống dân gian

Cũng theo chiều hướng này, về vấn đề tác giả văn học dân gian, các nhà nghiên cứu đưa ra quan niệm văn học dân gian có thể là sáng tác của “những người có chữ

nghĩa”, hơn nữa đó còn được coi là “nét đặc thù của văn hóa - văn học dân gian truyền thống Việt Nam” Nói như A.Dundes, nhà folklore Mỹ khi bàn về chủ thể sáng tác văn hóa dân gian: “Chúng ta là những người sáng tác văn hóa dân gian trong số những người sáng tác văn hóa dân gian khác” [72,430]

Song, một vấn đề đặt ra khác là ai sẽ lưu truyền cho “chúng ta” với những tác phẩm giới hạn người thưởng thức? Như đối với giai thoại văn học, đây là sáng tác ngoài chính thống của tác giả nhưng không phải dành cho công chúng bình dân, trong

thực tế nó “gắn với sinh hoạt văn học thành văn” [69,519] Còn nếu xem sinh hoạt của những người có chữ nghĩa, các nhà nho cũng là môi trường dân gian căn cứ vào “thực

Trang 28

tế sinh hoạt văn học dân gian những thế kỷ trước” [95,169], thì cũng rất hạn hữu,

không thể biện giải đầy đủ cho mọi sáng tác, để coi đó là tác phẩm văn học dân gian Một tác phẩm được hình thành đều có một cá nhân khởi xướng song chỉ có tác phẩm nào trải qua quá trình dân gian hoá, qua sự gia công, bồi đắp của tập thể thì mới được coi là tác phẩm đích thực Những giai thoại văn học dân gian ban đầu do cá nhân sáng tác, nhưng nó có yêu cầu về đời sống dân gian của tác phẩm, cái để “văn bản có thể sống và sống tiếp” Giai thoại văn học dân gian phải là văn bản kể có chất dân gian đồng thời có khả năng lưu truyền rộng rãi trong nhân dân

Mặt khác, ở đây nếu nói đến trường hợp như Propp đã nêu là “tác phẩm folklore

có nguồn gốc văn học”, tác phẩm ban đầu là sáng tác của cá nhân nhà văn, nhà thơ, thì cũng phải đảm bảo dấu hiệu “folklore về mặt vận động” [158,23] Tác phẩm phải được

lưu truyền, có đời sống thực sự với những ghi chép có tính chất dị bản (còn có sự lưu truyền trên văn bản nhưng đó là trường hợp chất liệu tác phẩm dân gian đích thực)

Câu chuyện thơ văn dù độc đáo, hay, đẹp đến đâu (về sự thưởng thức chữ nghĩa) nhưng có tính quy phạm, lại lưu hành trong phạm vi giới hạn như ở tao đàn, nhà học,

không được kể rộng rãi thì không thể trở thành tác phẩm văn học dân gian, như Giai thoại về Bùi Hữu Nghĩa (ghi phỏng theo Thi Long tạp lục, 1889), với Đằng giao khỉ phụng, Ngư mạo long thi hay Bình thơ Đường [188,50] Lại có trường hợp tác phẩm

là sáng tác ghi chép, kể chuyện thơ văn, trước sau chỉ có một văn bản sao chép qua lại, không có bản kể khác ghi nhận sự vận động của tác phẩm Đây cũng không thuộc giai

thoại văn học dân gian Chẳng hạn, trong Giai thoại lịch sử Việt Nam [215], bên cạnh

một số truyện được coi là giai thoại dân gian, còn lại là những giai thoại văn học, như:

Ngô Thì Sĩ và cái vạ văn chương, Mạc Thiên Tích – ông quan cai trị giỏi, thơ hay…

Lại Nguyên Ân trong Từ điển văn học nhận định: “Trong những ghi chép sớm nhất, giai thoại văn học thường không phân giới rõ rệt với truyền thuyết, truyền kỳ, có những mảng giai thoại xuất hiện thời kỳ sau lại gần với tiếu lâm”[69,519]

Trường hợp nói ở trên được hiểu là những sách chữ Hán thời kỳ đầu (những mẩu chuyện hay như sự tích, câu chuyện giao tiếp ứng xử, mạn đàm đối đáp văn chương… được ghi vào các tập: tạp thuật, tiệp ký, mạn lục, kiến văn lục, nhàn đàm…

như Sơn cư tạp thuật, Công dư tiệp ký, Lan trì kiến văn lục…) chưa mang tên giai

thoại Ngay trong “những mảng giai thoại xuất hiện thời kỳ sau” cũng chưa có sự nhất quán trong việc phân loại Có khi cùng một loại truyện nhưng được xếp vào thể loại giai thoại hay truyện cười hoặc đưa về thể loại độc lập là truyện trạng (nói như Kiều

Thu Hoạch về giai thoại là sự phân loại “tạm thời để công bố”) Điều này do quan

điểm phân loại đồng thời do tính chất phức tạp của đối tượng (như nhận xét của Cao

Trang 29

Huy Đỉnh: “tính chất châm biếm đả kích của giai thoại càng mạnh và nó sẽ lẫn lộn với truyện cười” [40,55]; hay nói như Guxép: “Các tiểu loại giai thoại chưa được phân hóa rõ rệt” [45,233])

Hay trong Kho tàng giai thoại Việt Nam [93], truyện Ông Ó, truyện Ba Phi được

xếp vào loại giai thoại folklore Đây là những mẩu chuyện kết chuỗi xoay quanh “nhân

vật quen thuộc với đại chúng” (tài nói trạng, gây cười), nhân vật tự kể chuyện hay mở

rộng ra là những câu chuyện được gắn với tên tuổi của nhân vật Thủ pháp gây cười mang phong cách riêng đậm dấu ấn địa phương Truyện Ông Ó là tiếng cười chế nhạo,

đả kích những thói xấu, sai trái của tầng lớp quan chức địa phương Truyện Ba Phi với tiếng cười hồn nhiên, phóng khoáng của những người đi khai phá vùng đất mới Đây là những tiếng cười mang sắc thái độc đáo, đậm chất Nam Bộ, thể hiện cốt cách tinh thần của những con người và những cái đặc biệt của sinh thái, sản vật nơi đất rừng phương Nam Dựa vào phương thức nói trạng và chức năng tư tưởng thẩm mỹ của truyện kể, theo chúng tôi, có thể coi đây là thể loại truyện trạng

1.1.3 Những điểm tương đồng và khác biệt giữa truyền thuyết lịch sử và giai thoại lịch sử

1.1.3.1 Những điểm tương đồng

- Đặc điểm tính kết chuỗi

Các truyền thuyết và giai thoại đứng riêng lẻ đều tạo lập thành những chuỗi truyện xoay quanh sự kiện, nhân vật trung tâm, ít có trường hợp chỉ có một truyện kể

duy nhất về đối tượng Điều này thể hiện đặc điểm tính kết chuỗi của thể loại (đây

cũng là đặc điểm chung của những thể loại truyện dân gian có liên quan đến nhân vật

cụ thể) Ví dụ chuỗi truyền thuyết về Hùng Vương, hay những giai thoại về Phan

Thanh Giản… Tuy nhiên, mức độ chuỗi của truyền thuyết nhìn chung thường có quy

mô, phạm vi rộng lớn hơn so với giai thoại

- Phạm vi đề tài

Truyền thuyết và giai thoại lịch sử đều có đối tượng phản ánh là những hiện tượng lịch sử, bao gồm nhân vật và sự kiện lịch sử gắn với lịch sử địa phương hoặc dân tộc Trong đó, không có giới hạn riêng biệt sự kiện, nhân vật cho mỗi thể loại truyện, nói cách khác, một nhân vật, sự kiện lịch sử có thể có cả truyền thuyết lẫn giai thoại Ví

dụ về nhân vật Trương Định có truyền thuyết Phút cuối của Trương Định và giai thoại Trương Định gặp cụ Đồ Chiểu…

- Sự gắn kết nội dung với những chứng tích địa danh, lịch sử, văn hóa

Nhiều truyện kể ở cả hai loại truyện đều gắn với những chứng tích địa danh, lịch

sử, văn hóa Đây cũng là điểm giao thoa giữa hai thể loại Ví dụ về nhân vật Lê Lợi có

Trang 30

truyền thuyết Sự tích Hồ Gươm và cũng có giai thoại Chuyện Lê Lợi đặt tên các làng…

Tuy nhiên mối quan hệ giữa truyền thuyết với các chứng tích lịch sử, văn hóa rõ rệt hơn so với giai thoại lịch sử

- Phương thức phản ánh thực tại

Về quan hệ với thực tại, cả hai thể loại đều dựa trên cơ sở hiện thực là các sự

kiện, nhân vật lịch sử Ở truyền thuyết, đó là “nét chính yếu của sự kiện và con người

có thực” [143,78] (phân biệt với tính chất “bịa đặt” của truyện cổ tích) Với giai thoại

là đặc điểm “gần gũi với người thật” [95,14] Mặc dù yếu tố hư cấu, tưởng tượng vẫn

là một đặc trưng nghệ thuật của truyền thuyết (bởi truyền thuyết không và “chưa bao giờ nói đúng 100 % về lịch sử”, hoặc có khi trùng khít với sử nhưng không phải là truyền thuyết) Và trong giai thoại có khi có sự hiện diện của yếu tố thêu dệt hoang

đường Ví dụ: câu chuyện liên quan môtíp Đứa bé khiển âm thần nằm trong mạch sự

kiện có tính chất thêu dệt, huyên truyền về nhân vật Phan Thanh Giản

- Dạng thức tồn tại của tác phẩm

Trong tiến trình hình thành, tác phẩm truyền thuyết trước hết có thể chỉ là những

tình tiết, sự kiện cốt yếu còn đơn lẻ, là những mẩu ký ức được kể lại Qua quá trình lưu

truyền, cốt truyện sẽ dần được hoàn chỉnh khi vận động trong không gian và thời gian Đây là vấn đề có tính quy luật của văn học dân gian Có khi tác phẩm được bổ sung, hoàn thiện trong quá trình văn bản hóa Trong thực tế, nhiều khi ban đầu, dân gian chỉ

kể mẩu chuyện vắn tắt, để trở thành một văn bản đầy đủ phải nói đến vai trò của người biên soạn với quá trình văn bản hóa truyện kể và đến lượt nó có sự tác động trở lại dân gian, tạo nên một vòng đời mới trong đời sống tác phẩm Quá trình này có khi chưa hoàn thành trọn vẹn, không ít truyền thuyết có thể tồn tại ở dạng thức cốt kể nhưng chưa phát triển đầy đủ chi tiết; hình thức tác phẩm lúc này có thể gần với giai thoại vốn

có cấu trúc ngắn gọn (mặt khác, chính giai thoại cũng có khả năng tồn tại ở dạng cốt kể

với những mẩu thông tin ban đầu)

Những điểm tương đồng trên đây có thể là nguyên nhân của việc chưa xác định ranh giới rõ giữa truyền thuyết và giai thoại, đưa đến hiện tượng cách dùng hai thuật ngữ chưa nhất quán ở một số sách sưu tập, biên soạn truyện dân gian

1.1.3.2 Những điểm khác biệt

- Giai thoại thường phải ngắn gọn Tính chất ngắn gọn của giai thoại phù hợp việc kể về một tình huống, sự kiện với yếu tố cốt lõi và ý nghĩa đơn nhất (là một “lát cắt”, một giai đoạn trong cuộc đời nhân vật) đồng thời phù hợp với yêu cầu đưa đến

những điều hay, lạ, đặc biệt Nếu là những câu chuyện xoay quanh nhân vật thì sẽ tạo

nên chuỗi truyện

Trang 31

V.Guxép khi bàn về folklore hiện đại cũng đã gián tiếp cho thấy đặc điểm hình thức này của giai thoại: “Bên cạnh những tác phẩm bông đùa được sáng tác không ít những tác phẩm thực sự trào phúng, nhất là trong những hình thức “nhỏ” của folklore, những bài ca đơn khúc, những giai thoại, những câu nói hóm, những tục ngữ

- Nhiều người đã nói đến đặc điểm giai thoại phải có lời thoại, tức là lời đối đáp trực tiếp trong câu chuyện giữa các nhân vật Trong một số giai thoại, yếu tố lời thoại mang ý nghĩa là những tình tiết thúc đẩy câu chuyện, tạo được kịch tính, mặt khác, tính chất thoại như một đặc trưng độc đáo, tạo cho giai thoại văn chương tính trí tuệ sâu sắc

Bên cạnh đó cũng có những giai thoại lịch sử được kể theo lối không có lời đối đáp Ngôn ngữ kể, giọng kể thể hiện rõ tính chất tương truyền của câu chuyện, có khi bao hàm một vài sắc thái (như tán tụng hoặc mỉa mai…) Có trường hợp lời thoại được thêm thắt từ người biên soạn không có chất dân gian, không tạo được hiệu quả nghệ thuật (như một số truyện được biên soạn trong sách sưu khảo Nam Bộ)

Văn bản truyền thuyết không yêu cầu lời thoại, mặc dù truyền thuyết cũng

không giới hạn lời thoại Ví dụ: trong truyện An Dương Vương, Lê Lợi trả gươm, chính

lời thoại là một tình tiết độc đáo làm nên cái hay của tác phẩm Song, về cơ bản, lời thoại của truyền thuyết đi theo mạch sự kiện, khác với tính chất đối đáp trong tình huống trực tiếp của giai thoại

Ngôn ngữ kể của truyền thuyết thường là giản dị, đời thường nhưng thành kính, trang trọng, gắn với cảm xúc, thể hiện trong những câu chuyện về người anh hùng

- Ở giai thoại, sự kiện, tình tiết được nhắc đến mang ý nghĩa là những diễn biến thực tế, gắn với những sinh hoạt đời thường Nó thường liên quan những tình huống và

Trang 32

ứng xử đặc biệt của nhân vật, nhằm phác họa những đặc điểm về cá tính, tính cách nhân vật cụ thể hoặc những khung cảnh, hoạt động tạo nên những dấu ấn về thực tại

Trong truyền thuyết, sự kiện, tình tiết thường mang ý nghĩa sự biểu đạt nghệ thuật, là thực tại nhưng đồng thời chứa đựng sự ảo hóa, làm thực tại có tính linh thiêng, gắn với những ý nghĩa lớn lao về lịch sử đất nước, địa phương, dân tộc (ở những giai đoạn lịch sử đã lùi xa đặc điểm này thể hiện rõ nét, nhất là ở phần kết cục truyện kể với những ấn tượng sâu sắc nhất về nhân vật, sự kiện) Điều này còn thể hiện trong tính hệ thống của chuỗi truyện Kể về những người anh hùng cứu nước, dân gian đã xây dựng những chuỗi truyện với nhiều sự kiện, tình tiết có tính chất khuôn mẫu theo thời gian,

như về Nguyễn Huệ: tài năng thiên bẩm, trời trao mũ áo, lưỡng xà dâng kiếm…; về Lê Lợi: trao gươm thần, trả lại gươm thần…

- Truyền thuyết phản ánh sự nhận thức, cách đánh giá, thể hiện tình cảm của nhân dân về các sự kiện, nhân vật lịch sử của địa phương, dân tộc Khi kể truyền thuyết, cả người kể và người nghe đều tin đó là điều có thật Giai thoại lịch sử kể những điều hay, lạ, đặc biệt, gây ấn tượng về sự kiện, nhân vật lịch sử Giai thoại, về

cơ bản, không bao hàm sự lý tưởng hóa về sự kiện, nhân vật Qua những chuyện kể đời thường, có phần “bên lề”, có thể góp nhặt được những dấu ấn về con người thật của nhân vật vốn là những “yếu nhân” của mỗi thời kỳ, thể hiện sắc nét sự nhận thức, đánh giá khách quan của dân chúng về các đối tượng Khi kể giai thoại, về mặt tâm lý, cả người kể và người nghe đều không đặt ra vấn đề đó là điều có thật hay không có thật Như vậy có sự khác biệt về mặt chức năng giữa hai thể loại

- Truyền thuyết gắn với những yếu tố “thiêng hóa” (thời gian thiêng, không gian thiêng, sự kiện, nhân vật thiêng), là nơi gửi gấm những xúc cảm thiêng liêng trong sự nhận thức về quá khứ cộng đồng, dân tộc Giai thoại lại thể hiện rõ tính chất đời thường, những cảm nhận cụ thể, gần gũi về đối tượng những sự việc đương thời hay

quá khứ gần, gây được ấn tượng Theo Vũ Ngọc Khánh, giai thoại được ví như “người bạn thường xuyên của con người và của các sự kiện lịch sử xã hội” [95,165], cái hay là

giai thoại biết chọn lựa những khoảnh khắc lóe sáng, gây ấn tượng về nhân vật, sự kiện Ở các giai thoại thời kỳ đầu thế kỷ XX về sau, tính chất đời thường càng tăng lên với những câu chuyện lan truyền về sinh hoạt của các tầng lớp trong xã hội thực dân phong kiến Đó là những câu chuyện về khía cảnh sinh hoạt, ứng xử thường nhật của các nhân vật Ở đây có sự khâm phục đối với các tài trí, nghĩa khí của nhân vật nhưng các giai thoại đều gần như không gợi tính chất “thiêng” như trong nội dung truyền thuyết Đối với một số giai thoại kể cùng về một sự kiện hay nhân vật như đối tượng phản ánh của truyền thuyết thì tính chất “thiêng” lại xuất hiện ở mức độ nhất định

Trang 33

Tính chất thiêng đó xuất hiện do các giai thoại này cũng gắn với chứng tích, dấu vết văn hóa, với địa danh, phong vật nào đó của một địa phương Đây là điều rất lý thú của

sự thâm nhập, tác động lẫn nhau giữa truyền thuyết và giai thoại lịch sử

1.2 TRUYỀN THUYẾT VÀ GIAI THOẠI VỀ CÁC NHÂN VẬT LỊCH SỬ NAM

BỘ TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX TRỞ VỀ TRƯỚC TỪ ĐẶC ĐIỂM TƯ LIỆU, HỆ THỐNG TRUYỆN

1.2.1 Khái niệm Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước

1.2.1.1 Khái niệm “nhân vật lịch sử” thường dùng chỉ các nhân vật có những

hoạt động gắn với các sự kiện lịch sử địa phương hoặc của dân tộc hay nhân loại

“Lịch sử” hiểu theo nghĩa rộng là những diễn tiến quá trình hoạt động, phát triển của con người ở các lĩnh vực đời sống, những gì đã xảy ra trong quá khứ của địa phương một quốc gia, dân tộc hay nhân loại Nói cách khác, lịch sử là dòng chảy thời gian có tính quy luật, kết nối các sự kiện trong quá khứ do con người tạo ra Trong đó,

lịch sử không chỉ thuộc phạm vi chính trị hay chiến tranh mà còn có các lĩnh vực khác như lịch sử văn hóa, nghệ thuật, khoa học Nói chung, lịch sử là những “bước đi” của

con người diễn ra ở các phương diện đời sống xã hội, với ý nghĩa thành quả đạt được theo quy luật của sự phát triển Theo đó, những người có đóng góp hay tạo ra những ảnh hưởng quan trọng trong các lĩnh vực đời sống đối với sự phát triển của cộng đồng trong tiến trình lịch sử dân tộc đều là nhân vật lịch sử Như vậy, nhân vật lịch sử là các nhân vật có vai trò trong lịch sử, tiêu biểu cho mỗi thời kỳ ở các lĩnh vực khác nhau, trên nhiều phương diện đối với một cộng đồng dân cư nhất định

Trong suốt trường kỳ lịch sử, trải quá trình chiến đấu chống ngoại xâm, có biết bao thế hệ con người ưu tú là các anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa đã làm rạng danh đất nước Họ là những con người đồng hành, làm rạng danh lịch sử Đây là nhân vật lịch sử Việt Nam

Về loại hình nhân vật, lịch sử ghi danh ba loại hình đáng tôn thờ: người anh hùng dân tộc chống ngoại xâm (có công đánh giặc giữ nước) hay anh hùng nông dân (chống áp bức, cường quyền) và danh nhân văn hóa (có năng lực sáng tạo mang ý nghĩa lớn trên lĩnh vực văn hóa nghệ thuật hoặc tạo ra thành quả văn hóa) Đồng thời, tất yếu cần bổ sung loại nhân vật lịch sử thứ tư: vừa có công đánh giặc vừa có công sáng tạo nên các kỳ tích văn hóa Đây chính là anh hùng văn hóa Về cơ cấu thành phần, nhân vật lịch sử có thể bao gồm nhiều đối tượng cụ thể, nổi bật nhất là những nhân vật hoạt động trên chính trường, có liên quan trực tiếp đến tiến trình tồn vong, hưng phế của đất nước Các nhân vật này đóng vai trò là “yếu nhân” của mỗi thời kỳ,

Trang 34

giai đoạn lịch sử Nhân vật lịch sử cũng có thể là những con người khác nhau trong các tầng lớp nhân dân đã có thành tựu đáng kể ở lĩnh vực cụ thể, nhất định nào đó hoặc trong hoạt động tạo được công tích, đóng góp cho lợi ích cộng đồng và thường biểu hiện ở phạm vi địa phương

Trên thực tế, nhân vật lịch sử còn được hiểu là nhân vật có liên quan đến lịch sử

ở khía cạnh những ảnh hưởng khác nhau Như theo quan niệm của Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam: “trên chiều dài lịch sử tầm cỡ” của dân tộc, “có những ai hiền lương

tài giỏi? có những ai kiên cường bất khuất? có những ai đạo cao hạnh trọng? mà cũng

có những kẻ phản dân hại nước…” [196,2], nên trong hệ thống còn có loại nhân vật phản diện như Đặng Thị Huệ, Hoàng Cao Khải, Huỳnh Công Tấn… Theo đó, nhân vật lịch sử là những ai có liên quan đến lịch sử, kể cả nhân vật là hình ảnh đã gây ảnh hưởng tiêu cực đối với sự phát triển của cộng đồng, dân tộc, hành trạng của những con người này cũng làm thành những câu chuyện được truyền tụng để chế giễu, nhắc nhở các thế hệ

Tiến trình lịch sử Nam Bộ hơn ba thế kỷ là khoảng thời gian có tính chất đặc biệt, trong đó nổi lên tên tuổi các nhân vật có vai trò nổi trội, có những ảnh hưởng, đóng góp quan trọng đối với cộng đồng Đây là những nhân vật lịch sử Nam Bộ

Nhân vật lịch sử Nam Bộ là những người anh hùng chống ngoại xâm, những danh nhân văn hoá, tức là những người đã tạo nên các thành quả văn hóa, bao gồm những người anh hùng mở cõi, có công khai khẩn và ổn định cương thổ Phần lớn nhân vật lịch sử Nam Bộ đã được ghi danh trong sử sách, trong đời sống, tên tuổi của họ được nhắc nhở, truyền tụng Có người chỉ nhân dân lưu công tích của họ, còn chính sử không nhắc đến Các truyện kể dân gian là minh chứng về nhân vật lịch sử, bởi đây là tiếng nói xuất phát từ nhận thực, tấm lòng thương quý của nhân dân đối với các nhân vật Như vậy, nhân vật lịch sử phải là con người có danh tính cụ thể, sử sách ghi chép hoặc được nhân dân truyền tụng Đây là một đặc điểm có tính khu biệt về đối tượng, bởi không ít trường hợp nhân vật truyện kể không đáp ứng điều kiện này

Nhân vật lịch sử Nam Bộ là người địa phương hay có thể đến từ vùng miền khác nhưng có dấu ấn hoạt động trên vùng đất Như Nguyễn Hữu Cảnh, sử ghi là Nguyễn Hữu Kỉnh, nhà quân sự, chính trị tài năng của chúa Nguyễn, theo lệnh triều đình vào Nam trấn nhậm, kinh lý, dấu chân trải hầu khắp Nam Bộ; hay Nguyễn Ánh, từ 1775 -

1802 là thời gian chạy nạn chúa Trịnh và bị quân Tây Sơn truy đuổi phải trốn lánh ở Nam Bộ Thực tế, người Nam Bộ chính là những người quê gốc miền Bắc, miền Trung vào định cư, khai phá vùng đất mới từ mấy thế kỷ trước Ngoài ra, nhân vật lịch

sử Nam Bộ không chỉ là người Việt, bởi thành phần cư dân nơi đây mang đặc điểm của

Trang 35

quá trình cộng cư lâu dài Như Nguyễn Văn Tồn, là người Khmer theo chúa Nguyễn lập nhiều công trận được cải tên, thành tích đóng góp của ông đối với cộng đồng cư

dân Nam Bộ có cả người Việt lẫn Khmer Sách Nam kỳ phong tục nhơn vật diễn ca đã ghi rõ lai lịch nhân vật: Truy nguyên sự tích ông Tồn, Người Miên vua đặt Nguyễn Tồn tính danh [153,76]

1.2.1.2 Với đối tượng nghiên cứu, như đã nêu, điểm cốt yếu là có truyện kể về

nhân vật hay không Truyền thuyết và giai thoại là minh chứng rất cụ thể, sinh động về dấu ấn của nhân vật lịch sử trong nhân dân

Nhân vật lịch sử chính là đối tượng trung tâm được truyền thuyết và giai thoại hướng đến Luận án của chúng tôi sẽ tìm hiểu nghiên cứu về các truyền thuyết và giai

thoại về các nhân vật lịch sử ở Nam Bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước, tức là từ khi

người Việt tiến vào vùng đất Nam Bộ khai khẩn, mở rộng bờ cõi đất nước đến cuối thế

Excursions et Reconnaissances) (1885) của Trương Vĩnh Ký, ghi nhận một số truyện

kể về nhân vật, như Nguyễn Ánh, Lê Văn Duyệt [90,30]

Từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, việc sưu tầm, nghiên cứu văn học dân gian Nam Bộ tiếp tục phát triển Trước 1975, có các công trình biên khảo, sưu tập, bài nghiên cứu của các nhà Nho cùng đội ngũ trí thức Tây học rải rác đã ghi một số mẩu truyện kể Với điều kiện nghiên cứu, quan điểm học thuật đương thời, tính chất tư liệu

có những nét đặc thù Có thể kể đến các công trình như: Nam - kỳ danh nhân, Theo dấu Bùi Hữu Nghĩa, Tập san Sử Địa Từ sau năm 1975 đến nay, tư liệu được mở

rộng, chuyên biệt hơn Đây là nguồn tư liệu chủ yếu cho việc hệ thống hóa truyện kể Các tư liệu được luận án khảo sát có quy mô và hình thức khác nhau, được chia 3 nhóm: nhóm tư liệu lịch sử, địa chí triều Nguyễn (5 tư liệu); nhóm tư liệu sưu khảo,

Trang 36

nghiên cứu lịch sử, văn hóa, địa phương chí (35 tư liệu); nhóm tư liệu sưu tập, biên soạn, điền dã… (24 tư liệu) Tổng cộng có 64 tư liệu (với 57 tư liệu được sử dụng để chọn lọc hệ thống truyện) (xem Phụ lục 1) Các tư liệu phong phú nhưng không thuần nhất, đặt ra những vấn đề về văn bản tư liệu

1.2.2.1 Nhóm tư liệu sử biên niên, địa chí thời kỳ nhà Nguyễn thế kỷ XVIII, XIX

Nhóm tư liệu có số lượng truyện ít nhưng có ý nghĩa khởi đầu cho nguồn

truyện, đồng thời cho thấy quan điểm nhận diện tư liệu truyện dân gian

Nhìn chung, với Gia Định thành thông chí, công trình lịch sử, địa chí quy mô

lớn của triều Nguyễn, các bộ sử, địa chí được biên soạn về sau đều có phần tham khảo,

ghi chép lại sách này, như Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục Trong đó, có

những truyện tương truyền về nhân vật lịch sử Nam Bộ, đặc biệt là về “đức Thế tổ Cao Hoàng”, tức Nguyễn Ánh, tuy văn bản có chút ít sửa đổi nhưng về cơ bản là cùng một loại tư liệu, không phải những nguồn khác nhau

Về quan điểm tiếp cận đối với nguồn tư liệu sử, những văn bản ghi chép truyện

mang tính chất tương truyền về các nhân vật lịch sử có phải là văn bản truyện dân gian?

Nói chung, việc ghi chép lịch sử có yêu cầu về tính khách quan Tuy có phần hạn chế do cách nhìn của sử gia trong thời đại nhưng về cơ bản chính sử trước nay vẫn

là những căn cứ xác thực, đáng tin cậy ở mức độ nhất định Nhiều sử gia đã cân nhắc,

đánh giá lại những gì cho là chủ quan, sai lệch ghi ở sử cũ Như Đại Việt sử ký tiền biên của triều Tây Sơn, bộ sử mang tính sử luận đậm nét, sử thần Ngô Thì Sĩ đã nêu

chính kiến đối với sử liệu không xác thực: “Tác giả dối ta, ta tin rồi lại đi dối người

khác Bậc quân tử đối với điều mình không biết há lại bừa bãi thế sao” (NK.QI) [218,40] Hay trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục triều Tự Đức, tuy “lời

cẩn án”, “lời phê” có những chỗ bất cập (như nói về chiến công của Đinh Bộ Lĩnh hay của nhà Trần; hoặc về công lao của Gia Long khi dựa vào quân nhà Thanh) nhưng phần căn bản đã cho thấy tâm huyết và sự thận trọng của “vua và thần tử” triều Nguyễn nói riêng trong việc làm sử (nhất là việc xử lý những chi tiết mơ hồ về lịch sử của “sử cũ”)… Hay đoạn “bút phê” về sự kiện Bình Định Vương đánh thành Đông Quan cũng cho thấy sự cân nhắc, phán xét về các sự kiện (có thể để tránh lối mòn cũ): “có lẽ vì tập

sử Lê ký là do các bầy tôi nhà Lê biên soạn, cho nên tuy gọi là thực lục, nhưng có nhiều lời lẽ quá khoe khoang, không đủ tin là chứng cứ xác thực được” (CB,QXII) [167,794]… Như vậy, tuy chính sử vốn là công cụ của triều đình ghi chép chuyện về vua chúa, các “bề tôi”, tư tưởng của các sử gia là tôn xưng nên có thể thêu dệt những

Trang 37

câu chuyện tán tụng, nhưng lịch sử cũng có những chế định của nó, không thể chỉ theo

ý đồ chủ quan

Mặt khác, việc đưa truyện dân gian vào chính sử đã có tiền lệ Thời kỳ đầu,

truyền thuyết đã được dùng như cứ liệu bổ khuyết cho lịch sử (tiêu biểu là Đại Việt sử

ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên) Ở các giai đoạn sau, các sử gia ít nhiều cũng đã sử dụng

truyện kể, những chi tiết truyền tụng trong dân gian để khắc họa nhân vật lịch sử Điều này gắn với dụng ý chính trị của các sử gia phong kiến Ở một phương diện nhất định đây còn là vấn đề quan điểm học thuật của thời kỳ “văn sử triết bất phân” Các tác giả không chỉ dựa vào thư tịch bác học mà còn dựa vào “dã sử”, “lời truyền tụng”, tức

nguồn “văn liệu” truyền miệng Như phần Phàm lệ Đại Việt sử ký toàn thư, sách cuối

thế kỷ XV của sử quán triều Lê, đã ghi: “Sách này làm ra gốc ở hai bộ Đại Việt sử ký của Lê Văn Hưu và của Phan Phu Tiên, tham khảo thêm Bắc sử, dã sử, các bản truyện

ký xưa nay và những điều nghe thấy truyền lại rồi khảo đính, biên tập mà thành” [216]

Hay lời tấu trong Đại Nam liệt truyện, sách cuối thế kỷ XIX của sử quán triều Nguyễn:

“nước có sử là để tỏ quy mô thể thống một đời, sử có truyện là để thuật gốc ngọn trước sau một người, cho nên làm sử có bốn thể thì truyện là một” (Q1) [164,9] Quan niệm

“truyện” ở đây thuộc phạm trù văn bản sử, một hình thức ghi chép lịch sử của thời kỳ này, tuy nhiên cũng cho thấy quan điểm làm sử không xem nhẹ việc ghi chép, mà hình thức này không thể bỏ qua lời kể tương truyền, vốn là những thực tế phong phú, phản ánh căn cứ xác thực nhất định của sự kiện trong đời sống và trong niềm tin của nhân

dân Như Đại Việt sử ký toàn thư khi nói về Trần Hưng Đạo đã đưa vào lời kể về sự

linh thiêng: “Sau khi ông mất, người ở các châu huyện ở Lạng Giang gặp tai biến ốm đau, nhiều người đến cầu khấn Hoặc mỗi khi có giặc, đều cầu đảo ở đền Hưng Đạo,

thấy hộp kiếm kêu lên thì thắng lợi” (BK.Q4) [216,398] Hay sách Quốc sử quán triều

Nguyễn cũng ghi câu chuyện chúa Nguyễn Hoàng do lời tục truyền về “bà già áo đỏ ngồi trên đỉnh gò” đã dựng chùa Thiên Mụ [168,35]; hay chuyện đánh tướng nhà Mạc

ở sông Ái Tử, đêm mộng thấy “người đàn bà áo xanh” đến mách bảo “dùng mỹ kế” [168,22]

Về Nam Bộ, sách Gia Định thành thông chí trong nội dung biên khảo đã ghi chép những lời truyền tụng, như trong mục Thành trì chí có ghi truyện Sư Hồng Ân đánh cọp [43,34]; mục Sơn xuyên chí nói về Sông Xá Hương có chi tiết tương truyền:

“Người địa phương cầu khấn điều gì đều được linh ứng” [43,47]; về Sông Lũng Kỳ: đêm sinh Mạc Tông “tìm thấy tượng Phật vàng cao bảy thước ta, dọi sáng đáy sông ” [43,97]; mục Cương vực chí, đoạn nói về Trấn Hà Tiên có lời kể về lai lịch tên đất [43,159] hay Đại Nam nhất thống chí cũng ghi nhận những lời kể tương truyền về

Trang 38

Sông Song Ma, Sông Xá Hương (Q.XXVII) [165,217], Sư Ân, Sư Ngộ, sư Lượng

(Q.XXVII) [165, 247]…

Việc đưa các truyện dân gian (hình thức tương truyền) vào chính sử đã thể hiện khuynh hướng sử hóa truyện dân gian của thời kỳ này Điều này làm cho truyện kể về nhân vật lịch sử phần nhiều pha lẫn màu sắc sử biên niên Tuy nhiên, nhờ đó truyện dân gian có hình thức lưu trữ sớm và bền vững về mặt giá trị Nhiều sách sưu tập truyện dân gian về sau đã dẫn nguồn tư liệu này (chép nguyên văn hoặc liên hệ để bổ

trợ bản kể mới), như các mẩu truyện về bà Thái phi Từ Dũ ghi chép trong Đại Nam liệt truyện được đưa vào Kho tàng giai thoại Việt Nam [93], Giai thoại phụ nữ Việt Nam

[144]

Những mẩu truyện kể trong sử, địa chí là hình thức ghi chép nguyên trạng (như

sử gia thường phát biểu ở mục phàm lệ hay lời tấu trình) hay đã cắt sửa cũng là vấn đề

đặt ra Do mục đích làm sử nên việc đưa nguồn “văn liệu” dân gian vào sẽ rập theo khuôn mẫu sử, tuy nhiên, xét về bản chất, đây là văn bản văn học dân gian, bởi điều cốt yếu là nguồn chất liệu tạo nên truyện kể Việc nhận diện có thể căn cứ trên một số dấu hiệu đặc trưng, như: lời mở đầu “Tương truyền…”, yếu tố kỳ ảo, môtíp , đồng thời văn bản còn được ghi chép ở loại tư liệu khác hoặc được truyền tụng (có một số văn bản là cốt kể lại rất gần với hình thức lời kể dân gian)

Với văn bản đã được chỉnh sửa theo phong cách sử, nếu có bản kể dân gian, thì cần đối chiếu, chọn lọc lại Việc dẫn lại hoàn toàn văn bản sử một sự tích được lưu truyền có khi chưa ghi nhận được dạng thức đầy đủ của truyện kể (như những đoạn kể

về Nguyễn Ánh ghi trong sách Quốc sử quán triều Nguyễn) Với những văn bản sử chỉ còn giữ một phần chất dân gian thì không thể xem toàn bộ văn bản là truyện dân gian,

như các “giai thoại” lấy từ các trang viết của Đại Việt sử ký toàn thư: Chó trong nhà, cắn người lạ vì không phải là chủ nó, Thà làm quỉ nước Nam không thèm làm vương đất Bắc, Không ngại việc đánh giặc chỉ sợ lòng dân có theo hay không theo [93]

1.2.2.2 Nhóm tư liệu biên khảo, nghiên cứu lịch sử, văn hóa… thời kỳ trước 1975 đến nay

Tư liệu biên khảo, nghiên cứu lịch sử, văn hóa xã hội, tự điển ngôn ngữ, địa

phương chí, nhân vật chí, thần tích…, thường ở hình thức lời kể tương truyền cũng là

một kênh thu nhận, góp phần lưu giữ nguồn truyện dân gian Trong đó, tư liệu ghi chép

về nhân vật liên quan đến nghi lễ, tín ngưỡng có khả năng chứa sự tích, tức có nguồn

gốc từ một truyền thuyết hay giai thoại nào đó Đây là nguồn sưu tầm điền dã gắn với

những di tích văn hoá vật chất (đền, chùa, miếu, võ…) (như Sổ tay hành hương đất phương Nam [208]) Tuy nhiên, các công trình này không xem truyện dân gian là đối

Trang 39

tượng nghiên cứu mà chỉ coi đó là tư liệu hỗ trợ nên khi tập hợp nguồn truyện cần chọn lọc lại văn bản

Tác giả bộ Sưu khảo các tỉnh, thành năm xưa đã bộc bạch: “Chúng tôi thích làm

văn hóa, viết sách, sưu khảo, tìm hiểu non sông gấm vóc…” [111,2]; “đã lê gót, dấn thân khắp nẻo đường đất nước để cống hiến cho bạn đọc những di tích lịch sử non

nước nhà” [117,84], “ghi lại những gì tai nghe mắt thấy hoặc do người dân nơi đây kể

lại” [118,92] Mặc dù đây không phải là loại tư liệu sưu tập (truyện kể ít, sắp xếp thể

loại còn đơn giản) nhưng nhìn chung đã ghi chép từ thực địa những mẩu truyện dân gian về nhân vật lịch sử Nam Bộ mà hầu hết đã được sách sưu tập về sau biên soạn,

“nhuận sắc” lại Một số sách biên khảo lịch sử, bài viết liên quan các nhân vật Nam Bộ

đã góp nhặt những mẩu truyện tương truyền, mặc dù còn khá ít ỏi (như Theo dấu Bùi Hữu Nghĩa [85], Vài giai thoại có dính líu tới cụ Lãnh binh Trương Định trong Tập san

Sử Địa [226]…)

Sau 1975, các tư liệu dạng này đa dạng hơn Tiêu biểu là trong các Kỷ yếu Hội thảo khoa học, có những truyện thu thập từ lời kể trong dân gian địa phương, như về Nguyễn Hữu Cảnh, Trương Định, Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa…

Các tư liệu nghiên cứu lịch sử, văn hóa địa phương có xu hướng sử dụng những mẩu truyện dân gian về nhân vật lịch sử như nguồn dữ kiện Với loại văn bản này, không thể coi toàn bộ là văn bản truyện dân gian mà cần chọn lựa trong đó những mẩu truyện phù hợp (cũng dựa trên những dấu hiệu đặc trưng như: lời mở đầu (“Tương

truyền”, “Lời tục truyền”, yếu tố kỳ ảo, môtíp ) Chẳng hạn, Anh hùng kháng Pháp Nguyễn Trung Trực [97], đây là tư liệu lịch sử không thể đồng nhất với tư liệu truyện dân gian (như các trường hợp: Hỏa hồng Nhật Tảo, Nghĩa binh đánh giặc ở Vàm Răng,

Ông Nguyễn diệt giặc ở Kiên Giang )… Hay Sổ tay hành hương đất phương Nam

[208], đây là sách sưu khảo về văn hóa, lịch sử địa phương, có những văn bản mang

tính chất ghi chép lịch sử như: Đốc binh Bùi Quang Diệu, Nguyễn Văn Quá…, trong khi các bản kể như Ông Cử Đa, Lê Quang Quan… có thể đưa vào hệ thống truyện về

nhân vật lịch sử, những lời truyền tụng về sự kiện, nhân vật như những sự tích được kể

1.2.2.3 Nhóm tư liệu sưu tập truyện dân gian thời kỳ trước 1975 đến nay

Đây là loại tư liệu chủ yếu cho thấy diện mạo của nền văn học dân gian Nam

Bộ, tạo cơ sở cho việc khảo sát, nghiên cứu

Thời kỳ trước 1975, tập sách Chuyện xưa tích cũ của Sơn Nam, Ngọc Linh đã

tập hợp một số truyện kể về nhân vật, song còn ít và xếp lẫn với các loại truyện khác

Thời kỳ sau 1975, tư liệu sưu tập truyện dân gian khá nở rộ Trong đó có sách

sưu tầm điền dã, loại tư liệu chuyên biệt Các tuyển tập Thơ văn Đồng Tháp, Văn học

Trang 40

dân gian Đồng bằng sông Cửu Long, Văn học dân gian Sóc Trăng, Văn học dân gian Bạc Liêu, Văn học dân gian Châu Đốc cho thấy một diện mạo tư liệu mới của truyện

dân gian Nam Bộ Về cơ bản, các tư liệu đã ghi chép, văn bản hóa theo hình thức ghi lại nguyên văn những truyện kể lưu hành ở địa phương hoặc có bước chỉnh lý văn bản theo đặc điểm truyện dân gian mà các tác giả sưu tầm, biên soạn quan niệm Nhìn chung, các tư liệu này đã cố gắng giữ lại dấu ấn đời sống dân gian của các truyện kể

Tuy nhiên, nguồn tư liệu có sự trùng lặp nhiều Như truyện về Phan Văn Trị, tư

liệu cổ nhất là Phan Văn Trị (1830-1910) phụ: Học Lạc - Nhiêu Tâm (1956), tư liệu này được lặp lại trong Kho tàng giai thoại Việt Nam (1998) Hay cùng một truyện kể lại có mặt trong bốn tư liệu của một tác giả biên soạn (Giai thoại dân gian Đồng Tháp Mười, Truyền thuyết Thiên Hộ Dương - Đốc binh Kiều…), hay lặp lại sách khác (có

truyện chú thích nguồn) Có trường hợp, do điều kiện khách quan, một số truyện kể bị

trùng lặp, như truyện Giết hổ cứu bạn [99], Tại sao mộ Phật thầy Tây An không đắp

nấm [182], Nãi chuối cau cúng dường cho Thầy Tây An cư sĩ [160] đã in trong Kỳ tích

núi Sam [21] Hay do việc thay đổi địa giới hành chính Nam Bộ trước đây, như khi xuất bản Vĩnh Long xưa [120], một trấn lớn bao trùm một góc miền Tây mà Sa Đéc,

Bến Tre là vùng thuộc Long Hồ ngày trước, tác giả nhắc lại các nhân vật đã nói đến ở

Sa Đéc xưa [118], Kiến Hoà xưa [117]

Các tư liệu đặt ra vấn đề biên soạn, văn bản hóa truyện dân gian Văn bản hóa tác phẩm văn học dân gian là xác lập cho tác phẩm một hình thức ngôn từ cụ thể Việc

ghi chép rất cần thiết, bởi “những lời truyền khẩu đáng nghe song cũng dễ thoảng qua hay chìm mất” [132,3] Trên thực tế, các tác phẩm văn học dân gian được phổ biến, lưu

hành không chỉ bằng phương thức truyền miệng mà còn bằng văn bản Về bản chất, con đường hình thành tác phẩm văn học dân gian trong mối liên hệ với việc văn bản hóa mang tính chất một quá trình tái tạo, trong đó những sáng tác được ghi chép được

cố định văn bản, khi phổ biến ra, đến lượt nó sẽ trở thành tác phẩm truyền miệng Không chỉ nhân dân sáng tác và lưu truyền mà các nhà sưu tầm, biên soạn qua nhiều thế hệ cũng đã góp phần không chỉ trong việc sưu tầm, phục hồi, chỉnh lý các tác phẩm văn học dân gian phong phú và đa dạng

Việc ghi chép, biên soạn truyện dân gian ngay từ thời kỳ trước 1975 đã khá

phức tạp “Không ít văn bản đã xa rời lối kể của dân gian - lối kể mà người ta còn có thể tìm thấy trong đời sống để đối chiếu một cách dễ dàng” [148,64] Khuynh hướng

này về sau có chiều hướng gia tăng với những dạng thức khác nhau Với tư liệu truyện dân gian Nam Bộ, nhiều truyện kể được biên soạn lấy từ tư liệu lịch sử hay văn hóa, xã hội, trong đó, sự có mặt “yếu tố chính sử xen lẫn những tình tiết dã sử” nhiều khi do

Ngày đăng: 15/01/2016, 22:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị An (1999), “Truyện kể địa danh từ góc nhìn thể loại”, Văn học, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện kể địa danh từ góc nhìn thể loại”, "Văn học
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 1999
2. Trần Thị An (2001), “Suy nghĩ mới về bản chất thể loại truyền thuyết”, Thông báo văn hóa dân gian, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Suy nghĩ mới về bản chất thể loại truyền thuyết”, "Thông báo văn hóa dân gian
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2001
3. Trần Thị An (2002), Đặc trưng thể loại truyền thuyết và quá trình văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Viện Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng thể loại truyền thuyết và quá trình văn bản hóa truyền thuyết dân gian Việt Nam
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2002
4. Trần Thị An (2006), “Nhận diện truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, Văn hóa dân gian, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận diện truyền thuyết các dân tộc thiểu số ở Việt Nam”, "Văn hóa dân gian
Tác giả: Trần Thị An
Năm: 2006
5. Chiêng Xom An (1992), “Bàn thêm về thể loại truyền thuyết”, Văn hóa dân gian, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về thể loại truyền thuyết”, "Văn hóa dân gian
Tác giả: Chiêng Xom An
Năm: 1992
6. Đào Duy Anh (1963), Hán Việt tự điển, Trường Thi, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hán Việt tự điển
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 1963
7. Đào Duy Anh (2002), Việt Nam văn hoá sử cương, Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hoá sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Năm: 2002
8. Hoài Anh, Hồ Sĩ Hiệp (1990), Những danh sĩ miền Nam, Tiền Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những danh sĩ miền Nam
Tác giả: Hoài Anh, Hồ Sĩ Hiệp
Năm: 1990
9. Nguyễn Kim Anh (chủ biên) (2004), Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Đại học quốc gia TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Kim Anh (chủ biên)
Năm: 2004
10. Nguyễn Thế Anh (1967), “Phan Thanh Giản dưới mắt người Pháp qua vài tài liệu”, Sử Địa, số 7, Khai Trí, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Thanh Giản dưới mắt người Pháp qua vài tài liệu”, "Sử Địa
Tác giả: Nguyễn Thế Anh
Năm: 1967
11. Thanh Ba (2007), Nguyễn Hữu Cảnh chân dung người mở cõi, Mũi Cà Mau Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Hữu Cảnh chân dung người mở cõi
Tác giả: Thanh Ba
Năm: 2007
13. Bảo tàng Kiên Giang (1989), Nguyễn Trung Trực - thân thế và sự nghiệp, Kiên Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trung Trực - thân thế và sự nghiệp
Tác giả: Bảo tàng Kiên Giang
Năm: 1989
14. Barthes P.Roland Barthes (1996), “Dẫn luận phân tích các cơ cấu truyện kể”, Communications (Giao Lưu, Paris), Giai thoại kẻ sĩ, Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn luận phân tích các cơ cấu truyện kể”, "Communications "(Giao Lưu, Paris), "Giai thoại kẻ sĩ
Tác giả: Barthes P.Roland Barthes
Năm: 1996
15. J.Barrow (2008), Một chuyến du hành đến xứ Nam Kỳ (1792-1793), Nguyễn Thừa Hỷ dịch, Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một chuyến du hành đến xứ Nam Kỳ (1792-1793)
Tác giả: J.Barrow
Năm: 2008
16. Nguyễn Công Bình (chủ biên) (1990), Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Công Bình (chủ biên)
Năm: 1990
17. Nguyễn Văn Bổn (1983), Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng, Sở Văn hoá thông tin Quảng Nam - Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn nghệ dân gian Quảng Nam - Đà Nẵng
Tác giả: Nguyễn Văn Bổn
Năm: 1983
18. Nguyễn Đình Bưu (1975), “Các mảng truyện kể dân gian về cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám lưu truyền trên đất Yên Thế”, Văn học, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các mảng truyện kể dân gian về cuộc khởi nghĩa Hoàng Hoa Thám lưu truyền trên đất Yên Thế”, "Văn học
Tác giả: Nguyễn Đình Bưu
Năm: 1975
19. Trương Bá Cần (2011), Hoạt động ngoại giao của nước Pháp nhằm củng cố cơ sở tại Nam Kỳ (1862 – 1874), Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động ngoại giao của nước Pháp nhằm củng cố cơ sở tại Nam Kỳ (1862 – 1874)
Tác giả: Trương Bá Cần
Năm: 2011
21. Liêm Châu (1993), Kỳ tích núi Sam, Châu Đốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỳ tích núi Sam
Tác giả: Liêm Châu
Năm: 1993
22. Võ Phúc Châu (2011), Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 - 1918), Thời đại, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thuyết dân gian về những cuộc khởi nghĩa chống Pháp ở Nam Bộ (1858 - 1918)
Tác giả: Võ Phúc Châu
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

1.1. Bảng thống kê, phân loại hệ thống truyện - Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
1.1. Bảng thống kê, phân loại hệ thống truyện (Trang 45)
Bảng 2.1. Thống kê, phân loại - Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
Bảng 2.1. Thống kê, phân loại (Trang 48)
Bảng 2.3. Thống kê, phân loại kiểu nhân vật, đề tài - cốt truyện - Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
Bảng 2.3. Thống kê, phân loại kiểu nhân vật, đề tài - cốt truyện (Trang 49)
Bảng 2.4.  Thống kê tình tiết, môtíp - Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
Bảng 2.4. Thống kê tình tiết, môtíp (Trang 50)
Hình  ảnh,  thành  những  biểu  tượng  của  lòng  yêu  nước  thông  qua  hình  thức  giải  thích  các tên gọi của núi sông” [1,54] - Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
nh ảnh, thành những biểu tượng của lòng yêu nước thông qua hình thức giải thích các tên gọi của núi sông” [1,54] (Trang 75)
Bảng 3.3. Thống kê, phân loại kiểu nhân vật, đề tài - cốt truyện - Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
Bảng 3.3. Thống kê, phân loại kiểu nhân vật, đề tài - cốt truyện (Trang 76)
Bảng 4.3. Thống kê tình tiết, môtíp - Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
Bảng 4.3. Thống kê tình tiết, môtíp (Trang 77)
Bảng 4.3.  Thống kê tình tiết, môtíp - Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
Bảng 4.3. Thống kê tình tiết, môtíp (Trang 120)
Bảng 5.2. Thống kê, phân loại kiểu nhân vật, đề tài - cốt truyện - Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
Bảng 5.2. Thống kê, phân loại kiểu nhân vật, đề tài - cốt truyện (Trang 144)
Sơ đồ hóa diễn tiến cốt truyện của những truyện kể thuộc đề tài - cốt truyện này  như sau: Nhân vật đại quan có lối  hành xử tỏ rõ đức  độ, phẩm chất hay có những dấu - Truyền thuyết và giai thoại về các nhân vật lịch sử nam bộ từ cuối thế kỷ XIX trở về trước
Sơ đồ h óa diễn tiến cốt truyện của những truyện kể thuộc đề tài - cốt truyện này như sau: Nhân vật đại quan có lối hành xử tỏ rõ đức độ, phẩm chất hay có những dấu (Trang 146)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w