Yêu cầu - Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển cấu trúc cây và hình tháicủa các giống cà chua lai ở vụ Xuân hè - Đánh giá khả năng đậu quả và các yếu tố cấu thành năng suất - Đánh
Trang 1PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Rau là loại thực phẩm rất cần thiết cho đời sống hàng ngày của conngười Cây rau không những cung cấp vitamin, muối khoáng, chất xơ, nănglượng cho con người mà còn là loại cây mang lại hiệu quả kinh tế cao chongười sản xuất
Cây cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) được trồng rộng rãi trên
thế giới, do nó có giá trị dinh dưỡng, giá trị kinh tế cao nên được nhiều nướcxếp vào cây chiếm vị trí hàng đầu trong ngành sản xuất rau Cà chua có thể sửdụng cho mục đích ăn tươi, nấu chín, salát, nguyên liệu cho công nghiệp chếbiến thực phẩm như: cà chua đóng hộp, nước cà chua cô đặc, tương cà chua,
cà chua hỗn hợp với các loại đậu rau Quả cà chua khi chín có rất nhiều chấtdinh dưỡng như: đường, vitamin A, C và các chất khoáng quan trọng cho conngười Không những thế cà chua còn có giá trị sử dụng rất đa dạng và giá trị
về mặt y học to lớn Các nghiên cứu gần đây cho biết cà chua có tác dụng tốtcho hệ tiêu hóa, tăng cường sự tiết dịch ở dạ dày và quá trình lọc máu, giúpbảo vệ cho những người nghiện thuốc lá khỏi nguy cơ mắc bệnh tim mạch.Với những giá trị đó, cây cà chua đã và đang được trồng rộng rãi trên thế giớitrong đó có Việt Nam
Cà chua được du nhập vào Việt Nam hơn 100 năm nay và được trồngphổ biến ở Miền Bắc tập trung chủ yếu ở các tỉnh Hà Nội, Hải Dương, BắcNinh, Hưng Yên Trong điều kiện Miền Bắc nước ta, cà chua được trồngchủ yếu vào vụ Đông Bởi thời vụ này có điều kiện khí hậu thời tiết thuận lợicho cây sinh trưởng, phát triển, ít sâu bệnh hại, năng suất và chất lượng quảcao nhưng giá thành lại thấp Trong khi đó, ở vụ Xuân hè cà chua lại có giáthành rất cao Do đó, trồng cà chua vụ Xuân hè sẽ mang lại hiệu quả kinh tế
Trang 2cao hơn so với vụ Đông xuân Tuy nhiên, gieo trồng cà chua Xuân hè thườnggặp rất nhiều khó khăn do điều kiện khí hậu thời tiết không thuận lợi cho câysinh trưởng, phát triển, nhiều sâu bệnh hại nên năng suất, chất lượng quả càchua trong vụ này thường thấp Vì vậy, để nâng cao năng suất, chất lượng càchua vụ Xuân hè thì việc chọn ra bộ giống cà chua tốt để trồng rải vụ là rấtquan trọng Xuất phát từ những vấn đề trên và được sự cho phép của bộ môn
Di Truyền – Chọn Giống, Khoa Nông Học, Trường Đại học Nông nghiệp HàNội Dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hồng Minh, tôi tiến hànhnghiên cứu đề tài:
“Đánh giá sinh trưởng, năng suất của một số giống cà chua lai mới
ở vụ Xuân hè 2011 tại huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương”.
1.2 MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 Mục đích
- Đánh giá đặc điểm nông sinh học của các giống cà chua lai mới
- Chọn ra các giống cà chua lai có triển vọng cho năng suất cao, chấtlượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh cao thíchhợp cho sản xuất vụ Xuân hè
1.2.2 Yêu cầu
- Đánh giá khả năng sinh trưởng, phát triển cấu trúc cây và hình tháicủa các giống cà chua lai ở vụ Xuân hè
- Đánh giá khả năng đậu quả và các yếu tố cấu thành năng suất
- Đánh giá tình hình nhiễm bệnh trên đồng ruộng của các giống cà chualai vụ Xuân hè
- Đánh giá các chỉ tiêu về hình thái quả và một số đặc điểm liên quanđến chất lượng quả của các giống cà chua lai ở điều kiện vụ Xuân hè
Trang 3PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 NGUỒN GỐC VÀ PHÂN LOẠI CỦA CÂY CÀ CHUA
2.1.1 Nguồn gốc
Chi Lycopersicum được Miller tách ra từ một số đại diện của chiSolanum L từ năm 1975 Chi này có khoảng 10, loài trong đó cà chua có lẽ làkết quả của một quá trình lai tạp giữa một số loài Cà chua có nguồn gốc từvùng Andean thuộc Nam Mỹ gồm một phần lãnh thổ của Bolivia, Chilê,Ecuador và Colombia Tuy nhiên cà chua lại được trồng trọt đầu tiên ởMêhicô Sau các cuộc thám hiểm tìm ra Châu Mỹ, cà chua được đưa về trồng
ở Châu Âu, đến thế kỷ XVII du nhập vào Trung Quốc, một số nước vùngĐông Nam và Đông Nam Á Đến thế kỷ XVIII, cà chua mới được trồng ởNhật Bản và Hoa Kỳ (R.T Openna & H.A.M van de Vossen, 1994 inPROSEA NO8, Vegetables, 199-206)
Các nhà nghiên cứu có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của cây
cà chua trồng Tuy nhiên nhiều tác giả khác nhận định L.esculentum
var.cerasiforme (cà chua anh đào) là tổ tiên của loài cà chua trồng Với nhiều
bằng chứng khảo cổ học, thực vật học, ngôn ngữ học và lịch sử đã thừa nhậnMêhicô là trung tâm thuần hóa cà chua trồng (Jenkin, 1948) Theo nhà thựcvật học người Ý Pier Andrea Mattioli (1554), những giống cà chua đầu tiênđược đưa vào Châu Âu có nguồn gốc từ Mêhicô
Lịch sử phát triển và du nhập của cây cà chua vào các nước trên thếgiới bắt đầu từ thế kỷ XVI
Ở Châu Âu, theo Lucdewill (1943) cà chua từ Nam Mỹ được đưa vàoChâu Âu từ thế kỷ 16 và đầu tiên được trồng ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, từ
đó cà chua được lan truyền đi các nơi khác
Trang 4Ở Châu Á, theo Luck Will (1943); Kuo et al và Cs, 1998, thì quá trình
du nhập cà chua vào các nước Châu Á được bắt đầu từ Philipin, đảo Java vàMalayxia, thông qua các lái buôn người Châu Âu và thực dân Hà Lan, Bồ ĐàoNha, Tây Ban Nha vào khoảng thế kỷ XVII Sau đó được trồng phổ biến ra cácvùng khác lân cận trong khu vực.[8]
Ở Việt Nam, Một số nghiên cứu cho rằng cà chua được du nhập vàoViệt Nam từ thời thực dân Pháp chiếm đóng tức là vào khoảng hơn 100 nămtrước đây và được người dân thuần hóa trở thành cây bản địa [1].Từ đó cùng với
sự phát triển của xã hội thì cây cà chua đang ngày càng trở thành một cây trồng
có giá trị kinh tế và giá trị sử dụng cao ở Việt Nam
2.1.2 Phân loại cây cà chua
Cà chua (Lycopersicon esculentum Mill) thuộc họ cà (Solaneceae) chi (Lycopersicon) Có bộ nhiễm sắc thể 2n=24 và gồm có 12 loài, tất cả đều có
nguồn gốc từ Châu Mỹ Cà chua được nghiên cứu và lập thành hệ thống phânloại theo quan điểm riêng của nhiều tác giả: H.J.Muller (1940), Daskalov vàPopov (1941), Luckwill (1943), Lehmann (1953), Brezhnev (1955, 1964)…nhưng cho đến nay hệ thống phân loại của Brezhnev (1964) được sử dụng
đơn giản và rộng rãi nhất Theo Brezhnev, chi Lycopersicon được phân làm 3
loài thuộc 2 chi phụ:
+ Chi phụ Eriopersicon: dạng cây một năm hoặc nhiều năm, quả
không bao giờ chín đỏ, luôn luôn có màu xanh, có sọc tía, quả có lông, hạt
nhỏ Chi phụ này gồm 5 loại hoang dại: L cheesmanii, L chilense, L.
glandulosum, L hirsutum, L peruvianum thuộc 2 loài Lycopersicun hisrutum và - Lycopersicum peruviarum
- Lycopersicun hisrutum Humb: Loài này thường ở độ cao
2200-2500m, ít khi ở độ cao 1100m so với mặt nước biển, đây là loại cây ngàyngắn, quả chỉ hình thành trong điều kiện chiếu sáng trong ngày 8-10 h/ngày,quả chín xanh, có mùi đặc trưng
Trang 5- Lycopersicum peruviarum Mill: loại này thường mọc ở miền Nam
Pêru, bắc Chilê, sống ở độ cao 300-2000m, có xu hướng thụ phấn chéo cao
hơn so với loài Lycopersicon esculentum Mill Trong điều kiện ngày ngắn cây
ra quả tốt hơn ngày dài, nó không có đặc tính của L hisrutum, loại này có khả
năng chống bệnh cao hơn các loài khác
+ Chi phụ Eulycopersicon: là dạng cây hàng năm, quả chín đỏ hoặcvàng Quả không có lông hạt mỏng rộng Chi phụ này có một loài là
Lycopersicon Esculentum.Mill Loài này gồm 3 loài phụ là:
- L Esculentum Mill Ssp spontaneum Brezh (cà chua hoang dại).
- L Esculentum Mill Ssp subspontaneum Brezh (cà chua bán hoang dại).
- L Esculentum Mill Ssp Cultum (cà chua trồng): là loại lớn nhất, có
các biến chủng có khả năng thích ứng rộng, được trồng khắp thế giới.Brezhnev đã chia loài phụ này thành biến chủng sau:
L Esculentum var Vulgare (cà chua thông thường) biến chủng này
chiếm 75% cà chua trồng trên thế giới Bao gồm các giống có thời gian sinhtrưởng khác nhau với trọng lượng quả từ 50 đến trên 100g Hầu hết nhữnggiống cà chua đang được trồng ngoài sản xuất đều thuộc nhóm này
L.Esculentum var Grandifolium: Cà chua lá to, cây trung bình, lá láng
bóng, số lá trên cây từ ít đến trung bình
L.Esculentum var Validum: cà chua thân bụi, thân thấp, thân có lông
tơ, lá trung bình, cuống ngắn, mép cong
2.2 GIÁ TRỊ CỦA CÂY CÀ CHUA
2.2.1 Giá trị dinh dưỡng và y học của cây cà chua
Cà chua là loại rau ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, được sử dụng rộngrãi trên khắp thế giới Quả chín chứa nhiều chất dinh dưỡng như đường,vitamin A, vitamin C và các khoáng chất quan trọng như canxi, sắt, phot pho,kali, magie, …
Trang 6Theo E.D Warr C.Tigchelaar (1989), thành phần hóa học trong quảchín có nước chiếm 94-95%,vật chất còn lại chiếm 5-6%, bao gồm các chấtsau: Đường: 35% ( đường Fructosa, glucoza, sucroza); chất không hòa tantrong ruợu: 21% ( Protein, Xenlulo, Pectin, Polysacarit); Axit hữu cơ: 12%(Xitric, malic, galacturonic, Pỷolidon cacboxylic); Chất vô cơ: 7%; các chấtkhác: 5% (Carotenoic, Ascobic axit, chất dễ bay hơi, Aminoaxit ).[4]
Khảo sát trên 100 mẫu giống cà chua trồng vụ xuân hè tại Đồng bằng sôngHồng cho thấy thành phần hóa học chủ yếu như sau (Tạ Thu Cúc, 1985):nước: 0,94g%; Protein: 0,6g%; Gluxit: 4,2g%; Xenlulo: 0,8g%; tro: 0,4g%;Ca: 12mg%; Caroten: 2,0mg%; PP: 0.5mg%.( Nguồn: Bảng thành phần hóahọc thức ăn Việt Nam, 1972).[3]
Trong quả cà chua còn chứa các aminoaxit (trừ tritophan) giá trị dinhdưỡng của cà chua rất phong phú, vì vậy hàng ngày mỗi người chỉ cần sửdụng 100-200g cà chua sẽ thỏa mãn nhu cầu vitamin cần thiết và các chấtkhoáng chủ yếu (theo Võ Văn Chi 1972).[15]
Bên cạnh giá trị to lớn về mặt dinh dưỡng thì cây cà chua còn có giá trịtrong y học Cà chua được chỉ định dùng ăn hay lấy dịch quả uống trị suynhược, ăn không ngon miệng, nhiễm độc mãn tính, thừa máu, máu quá dính,
xơ cứng tiểu động mạch máu, tạng khớp, thấp phong, thấp khớp, thừa uretrong máu, viêm ruột… Dùng ngoài để chữa trứng cá và dùng lá để trị vết đốtcủa sâu bọ Nước sắc lá có tác dụng giảm huyết áp, lọc máu, khử trùng đườngruột Chất tomarin chiết xuất từ lá cà chua khô có tác dụng kháng khuẩn,chống nấm, diệt một số bệnh hại cây trồng [12]
Ngoài ra, trong cà chua có chất Lycopen - thành phần tạo nên màu đỏ củaquả cà chua - giúp giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch Hàm lượng chất này nhiềuhay ít phụ thuộc vào độ chín của quả và chủng loại cà chua Đây là một chất oxihóa tự nhiên mạnh gấp 2 lần so với beta-caroten và gấp 100 lần so với vitamin E.Lycopen liên quan đến vitamin E đã được chứng minh là có thể ngăn ngừa ung
Trang 7thư tiền liệt tuyến [20] Ngoài ra nếu sử dụng nhiều cà chua thì tỉ lệ oxi hóa làm
hư các cấu trúc sinh hóa của AND giảm xuống thấp nhất [9]
ở dạng ăn tươi chỉ 5-7% Ở Mỹ (1997) tổng giá trị sản xuất 1ha cà chua caohơn gấp 4 lần so với lúa nước, 20 lần so với lúa mì [3]
Ở Việt Nam tuy cà chua mới được trồng khoảng trên 100 năm naynhưng nó đã trở thành một loại rau phổ biến và được sử dụng rộng rãi Theo
số liệu điều tra của phòng nghiên cứu thị trường Viện nghiên cứu rau quả, sảnxuất cà chua ở Đồng bằng sông Hồng cho thu nhập bình quân 42,0-68,4 triệuđồng/ha/vụ với mức lãi thuần 15-25 triệu đồng/ha, cao gấp nhiều lần so vớitrồng lúa [13]
Trong đề án phát triển rau, quả và hoa cây cảnh thời kỳ 1999-2010của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, cà chua là một trong những mặthàng được quan tâm phát triển Theo đề án năm 2005 diện tích trồng cà chuatoàn quốc sẽ là 2000 ha Với sản lượng 80.000 tấn, cho giá trị xuất khẩu 10triệu USD; năm 2010 diện tích tăng lên 6000 ha, tổng sản lượng đạt 240.000tấn cho giá trị xuất khẩu là 100 triệu USD.[16]
2.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA CÂY CÀ CHUA
Cà chua có hệ rễ thuộc hệ rễ chùm, ăn sâu và phân nhánh mạnh, có thể
ăn sâu đến 1,5m Hệ rễ phân bố chủ yếu ở tầng đất 0-30cm, trong phạm vi bánkính 60-65cm Rễ phát triển tốt nhất ở nhiệt độ trung bình ngày 26,50C, đêm
từ 16-220C
Trang 8Cà chua thân bụi, phân nhánh mạnh, toàn thân có lớp lông mền và lôngtuyến phủ Trên thân có nhiều đốt và có khả năng ra rễ bất định.
Lá cà chua thuộc loại lá kép lông chim lẻ, phân thùy Mỗi lá hoànchỉnh có từ 3-4 đôi lá chết Màu sắc lá, răng cưa nông hay sâu tùy thuộc vàođặc điểm của từng giống
Hoa cà chua là hoa chùm, màu vàng, mọc thành xim thưa ở kẽ lá.Hoa đính vào chùm, có một lớp tế bào riêng rẽ hình thành ở cuống hoa Vìnguyên nhân bất thuận sẽ hình thành tầng rời ở cuống hoa, lớp tế bào đó chết
đi và hoa sẽ rụng
Quả cà chua chín là quả mọng bao gồm vỏ, thịt quả, vách ngăn, giánoãn và ở giữa là trục Cà chua được trồng hiện nay thường có màu đỏ, đỏhồng, vàng và vàng cam
Hạt cà chua nhỏ, dẹt, nhọn, ở cuống hạt có màu vàng sáng, vàng tốihoặc vàng nhạt, hạt của một số giống có phủ lông tơ
2.4 YÊU CẦU NGOẠI CẢNH CỦA CÂY CÀ CHUA
Trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng nói chung
và cây cà chua nói riêng luôn luôn chịu sự tác động của điều kiện ngoại cảnh.Trong đó các yếu tố như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, dinh dưỡng và đất đaiđóng vai trò quan trọng
2.4.1 Nhiệt độ
Cà chua có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới khô nên ưa nhiệt độ ấm áp, khảnăng thích ứng rộng Nhiệt độ ảnh hưởng suốt quá trình sinh trưởng và pháttriển của cây cà chua: từ nảy mầm, tăng trưởng cây, nở hoa, đậu quả, hìnhthành hạt và năng suất thương phẩm
Hạt cà chua có thể nảy mầm thích hợp ở nhiệt độ 25-300C, nhiệt độ đấtthích hợp là 290C[6] Mùa khô, điều kiện nhiệt độ yêu cầu ban ngày là 21-
250C, ban đêm là 15-200C Trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng, cà chua
Trang 9yêu cầu nhiệt độ từ 18-240C, cây ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ >350C và
<250C Nếu nhiệt độ ở 100C trong thời gian dài sẽ làm cây chết
Nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát triển cà chua đặc biệt ởthời kỳ đậu qủa Nhiệt độ tối ưu cho cây phát triển đậu quả là 20-270C (ngày),13-160C (đêm) Khi nhiệt độ tăng làm giảm khả năng đậu quả Để ra hoa nhiệt
độ đòi hỏi không thấp hơn 14-150C (ngày).[7]
Nhiệt độ còn là yếu tố quan trọng liên quan đến sự hình thành sắc tố ởquả Màu đỏ đặc trưng của quả cà chua do sắc tố lycopen tạo thành chỉ đượchình thành ở nhiệt độ 20-250C Trên nhiệt độ này sắc tố đó bị phá hủy hoặckhông hình thành Đó là cơ sở khoa học giải thích vì sao trong vụ xuân hèmàu sắc cà chua thường không được đỏ nhất là những năm vụ xuân hè cónắng nóng sớm
2.4.2 Ánh sáng
Theo một số kết quả nghiên cứu thì cà chua là cây trồng không phảnứng chặt chẽ với thời gian chiếu sáng trong ngày Do đó, nếu nhiệt độ thíchhợp cà chua có thể sinh trưởng, phát triển ở nhiều vùng sinh thái khác nhautrên đất nước ta [10] Tuy cây cà chua không phản ứng chặt chẽ với thời gianchiếu sáng nhưng cây cà chua đòi hỏi cường độ chiếu sáng mạnh trong suốtthời kỳ sinh trưởng, nếu thiếu ánh sáng cây sẽ sinh trưởng yếu, thời gian sinhtrưởng kéo dài và sản lượng thấp, chất lượng quả giảm, hương vị kém Thiếuánh sáng nghiêm trọng dẫn đến rụng nụ, rụng hoa, rụng quả Cường độ ánhsáng yếu làm cho nhụy bị co rút lại, phát triển không bình thường, giảm khảnăng tiếp thu hạt phấn của núm nhụy Somos (1971) đã chứng minh rằng: đểcho cà chua sinh trưởng bình thường ra hoa kết quả thì cần có chế độ chiếusáng với cường độ chiếu sáng không dưới 1000 lux, ánh sáng yếu ức chế quátrình sinh trưởng, làm chậm giai đoạn từ sinh trưởng sinh dưỡng sang sinhtrưởng sinh thực (theo Tạ Thu Cúc, 1985) [3] Điều đó chứng tỏ cây cà chua
là cây ưa sáng mạnh Ánh sáng đầy đủ, tốt cây con sinh trưởng tốt, ra hoa quả
Trang 10thuận lợi, năng suất chất lượng quả tốt Trong điều kiện thiếu ánh sáng có thểđiều khiển sự sinh trưởng, phát triển của cây thông qua chế độ dinh dưỡngkhoáng Cần tăng cường bón phân kali và phân lân tùy theo đặc trưng đặc tínhcủa từng giống Cần bố trí mật độ thích hợp để cây sử dụng ánh sáng có hiệuquả nhất.
2.4.3 Nước, độ ẩm
Chế độ nước trong cây là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến cường
độ của các quá trình sinh lý cơ bản: quang hợp, hô hấp, sinh trưởng và pháttriển…Theo cấu tạo của lá và hệ rễ thì cây cà chua là loại cây trồng tương đốichịu hạn nhưng không có khả năng chịu úng
Somos (1971) đã quan sát thấy sự tiêu hao nước của cà chua trong 1ngày đêm là 20-650g, sự khác nhau khá xa đó có liên quan đến sự phát triểncủa cây và điều kiện thời tiết Độ ẩm đất thích hợp cho cây sinh trưởng pháttriển tốt là 70-80% Thời kỳ khủng hoảng nước là từ khi hình thành phấn hoa,
ra hoa, hình thành quả và quả phát triển Cà chua yêu cầu độ ẩm không khíthấp trong quá trình sinh trưởng và phát triển, độ ẩm thích hợp là 45-55%.Nước ta là một nước có khí hậu nóng ẩm, độ ẩm không khí cao nên cà chuanhiễm nhiều loại bệnh hại, đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làmcho năng suất và chất lượng cà chua chưa cao
2.4.4 Đất và dinh dưỡng
Cà chua yêu cầu chế độ luân canh rất nghiêm ngặt, không được trồng
cà chua trên đất mà cây trồng trước là cây họ cà nhất là cây khoai tây Đấtphù hợp với cây cà chua là đất thịt nhẹ, đất thịt trung bình, đất thịt pha cát,giàu mùn, tơi xốp, tưới tiêu thuận lợi Độ pH từ 5,5-7,5, đất chua, độ pH dưới5,5 thì trung hòa bằng cách bón thêm vôi vào đất trước khi trồng Khối lượngvôi bón từ 2-3 tấn đến 5 tấn/ha tùy theo độ chua của đất Độ pH từ 6,0-6,5thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển Cà chua là cây có thời gian sinhtrưởng dài, thân lá sinh trưởng mạnh, cành lá sum suê, khả năng ra hoa, ra quả
Trang 11nhiều, tiềm năng năng suất lớn Vì vậy cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng làyếu tố có tính chất quyết định đến năg suất và chất lượng quả.
Chất dinh dưỡng: P, N, K, S, Mg, B, Fe, Mn, Cu, Zn, Mo, Ca Trong đó
cà chua hút nhiều nhất là kali, tiếp đến là đạm và ít nhất là lân Cà chua sửdụng 60% lượng đạm, 59-60% K2O và 15-20% P2O5 tổng lượng phân bón vàođất suốt vụ trồng Vai trò các nguyên tố dinh dưỡng với cây cà chua cụ thểnhư sau:
- Đạm: Cây cần nhiều vào thời kỳ ra hoa kết quả để thúc đẩy sinhtrưởng thân lá, phân hóa hoa sớm, tăng số hoa trên cây, hoa to, tăng khốilượng quả và tăng năng suất
- Lân: Kích thích quả lớn nhanh trong điều kiện bón đạm đầy đủ Thiếulân, cây đồng hóa kém do đó kéo theo thiếu đạm và một số yếu tố khác
- Kali: Kali giúp cho các tế bào cứng cáp hơn, làm tăng khả năng cấttrữ, vận chuyển, tăng khả năng kháng bệnh cho cây đồng thời chiếm giữ vaitrò trong việc hình thành màu sắc quả, tăng lượng sắc tố carotene và giảm sắc
tố chlorophin
- Các yếu tố vi lượng: tác dụng quan trọng đối với sự sinh trưởng vàphát triển của cây đặc biệt là cải thiện chất lượng quả Cà chua phản ứng tốtvới các nguyên tố vi lượng B, Mn, Zn…Trên đất chua nên bón phân Mo [4]
2.5 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CÀ CHUA TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.5.1.Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới
Hiện nay cà chua là một loại rau được sử dụng rộng rãi trên khắp thế
giới trong các bữa ăn, trong thẩm mỹ và công nghiệp chế biến Chính vì vậy
mà diện tích trồng cà chua luôn luôn tăng trong các năm trước và gần đây
Theo FAO (2005) hiện nay có tới 150 nước trồng cà chua với diện tích4.570.869ha, năng suất trung bình là 27,222 (tạ/ha), sản lượng là 124.426,995tấn Trong đó đứng đầu về diện tích cà chua là Châu Á với diện tích là
Trang 122.563.991 ha, Châu Âu đứng đầu về năng suất với 410.165 tạ/ha, Trung Quốc
là nước có diện tích trồng cà chua lớn nhất thế giới
Bảng 2.1 Tình hình sản xuất cà chua trên thế giới.
Năm Diện tích
(triệu ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (triệu tấn)
(Nguồn FAO – Database 2006)
Sản lượng cà chua chiếm xấp xỉ 1/6 tổng sản lượng rau hàng năm trêntoàn thế giới Châu Âu là khu vực nhập khẩu cà chua lớn nhất thế giới,khoảng 21 triệu tấn quả tươi hàng năm, bằng 60% lượng nhập toàn thế giới.Thị trường nhập khẩu lớn nhất là Anh, Đức, Hà Lan, Italia, Bỉ và Tây BanNha Nhưng đồng thời Châu Âu cũng là khu vực xuất khẩu sản phẩm cà chuachế biến nhiều nhất thế giới chiếm khoảng 56% tổng lượng xuất khẩu đứngđầu là Mỹ và Italia, trong đó khu vực châu Á sản phẩm cà chua chế biến xuấtkhẩu chỉ chiếm 21 %
Trang 13Bảng 2.2 Sản lượng cà chua của thế giới và 10 nước dẫn đầu thế giới
(Nguồn FAO – Database 2006)
Cà chua sản xuất ở Châu Mỹ, Châu Âu thường được chế biến thành cácdạng sản phẩm khác nhau như cà chua đóng hộp, cà chua cô đặc…Xuất khẩu
cà chua cô đặc ở Châu Âu chiếm tới 56% lượng xuất khẩu trên toàn thế giới.Sản lượng cà chua Châu Á và Châu Phi cao nhưng do chất lượng không đồngđều nên chủ yếu được tiêu thụ tại chỗ
Giá cà chua trên thế giới hiện nay tăng hầu hết ở các thị trường Mớiđây thị trường bắc Italia, giá cà chua đã lên tới 700 eure/tấn Nguồn cà chuacung ứng cho thị trường thế giới chủ yếu là Châu Á đặc biệt là Trung Quốc,tiếp đến là Hoa Kỳ và Châu Âu.[18]
2.5.2 Tình hình sản xuất trong nước
Ở Việt Nam cây cà chua mới được trồng từ hơn 100 năm nay, diện tích
cà chua trồng hàng năm chiếm khoảng 7-10% tổng diện tích rau của cả nước
và chiếm 3-4% tổng sản lượng Sản xuất cà chua phát triển chủ yếu vào vụđông với diện tích khoảng 6800-7300 ha tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc
Trang 14đồng bằng và trung du Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Dương, Vĩnh Phúc…) còn ởMiền Nam tập trung ở các tỉnh An Giang, Tiền Giang, Lâm Đồng…
Bảng 2.3 Diện tích, năng suất và sản lượng cà chua từ 2001 – 2005
Năm Diện tích (nghìn
ha)
Năng suất (tấn/ha)
Sản lượng (nghìn tấn)
(Nguồn: Tổng cục thống kê 2006)
Giai đoạn 2001–2005 diện tích trồng cà chua ở nước ta tăng lên đáng
kể từ 13.729 (2001) đến 23.354 ha (2005) Tại thời điểm năm 2005 năng suấtđạt 19,8 tấn/ha, tăng 2,59 tấn/ha so với năm 2004 (17,21 tấn/ha) nhưng năngsuất cà chua của nước ta vẫn còn thấp, chỉ bằng 62% so với năng suất trungbình toàn thế giới
Về diện tích trồng có sự tăng trưởng vượt trội nhất là giai đoạn từ2000-2001, chỉ trong vòng một năm diện tích đã tăng tới 4.105 ha
Về sản lượng, năm 2005 đạt 462,435 nghìn tấn mặc dù đã tăng 2,23 lần
so với năm 2000 nhưng chỉ đủ cung cấp 5,5 kg quả/người/năm, bằng 35% sovới mức trung bình toàn thế giới
Tính đến tháng 7 năm 2008, Lâm Đồng hiện là địa phương có diện tích,năng suất và sản lượng cà chua lớn nhất cả nước với khoảng từ 4000 đến
5000 ha gieo trồng hàng năm Đơn Dương là nơi có diện tích trồng cà chualớn nhất tỉnh khoảng từ 3000 đến 3500 ha mỗi năm, năng suất trung bình đạtkhoảng 40-45 tấn/ha, một số trường hợp năng suất có thể đạt từ 80-90 tấn/ha.[17]
Theo kết quả điều tra của TS Phạm Đồng Quảng và cộng sự, hiện nay
cả nước có khoảng 115 giống cà chua được gieo trồng, trong đó có 10 giống
Trang 15được gieo trồng với diện tích lớn 6259 ha, chiếm 55% diện tích cả nước.Giống M386 được trồng nhiều nhất với diện tích khoảng 1432 ha, tiếp theo làcác giống cà chua Pháp, VL 2000, TN002, Red Crown, T42, HT7, TN129,TN2700, TN54, Hà Lan, TN52, P375,….[14],[2]
2.6 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÀ CHUA
Chọn giống là một trong những khâu rất quan trọng trong quy trìnhsản xuất Ngay từ xa xưa con người đã biết chọn những cây tốt, khỏe, ngon đểgiữ lại làm hạt giống Đó là quá trình chọn lọc nhân tạo Sau đó người ta sửdụng những đột biến tự nhiên và đột biến nhân tạo để sử dụng làm vật liệucho quá trình chọn lọc giống mới Ngày nay, với trình độ khoa học kỹ thuậthiện đại, các nhà chọn giống đã áp dụng các phương pháp mới như nuôi cấy
mô kết hợp với các phương pháp chọn tạo truyền thống để tạo ra những giống
cà chua mới phục vụ cho nhu cầu ngày một cao của con người
2.6.1 Tình hình nghiên cứu cà chua trên thế giới
Việc chọn tạo giống đã được ghi nhận đầu tiên vào giữa thế kỷ XIX ởChâu Âu Năm 1863, đã có 23 giống cà chua được giới thiệu trong đó giốngTrophy được coi là giống có chất lượng tốt nhất với 5 USD 1 gói nhỏ có 20hạt giống
Chương trình thử nghiệm của Liberti Hyde Bailey tại trường nôngnghiệp Michigan (Mỹ) bắt đầu từ năm 1886, tác giả đã tiến hành chọn lọc,phân loại giống cà chua chọn lọc.[4]
Ở Italia vào những năm 1970 đã tạo ra được bộ giống CS80/64,CS67/74, CS72/64 Là các giống có khả năng chịu hạn, cho năng suất cao,chống chịu bệnh tốt, chín tập trung nên rất thích hợp cho việc thu hoạch bằng
cơ giới Những giống này được sử dụng để sản suất nước sốt cà chua là chủyếu.[15]
Ở Ai Cập, từ năm 1977 đến năm 1984 đã tiến hành nghiên cứu chọntạo giống cà chua chịu nhiệt có năng suất cao Kết quả cho thấy: Các giống có
Trang 16nguồn gốc từ Mỹ như: Cal Ace, Housney, Prit Chard, VFN–8 và VFN–Bash…đều có những đặc tính tốt như quả to, có năng suất và chất lượng cao.Một số giống khi quả chín có màu vàng như Caro Kich, Golde Bay, Tubiler
và có hàm lượng khá cao Các giống này rất thích hợp để trồng các vụ có điềukiện nhiệt độ cao
Nhiều công trình nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu và phát triểnrau Châu Á (AVRDC) cho thấy những giống cà chua chọn tạo trong điều kiện
ôn đới không thích hợp với điều kiện nống ẩm vì sẽ tạo những quả kém chấtlượng như có màu đỏ nhạt, nứt quả, vị nhạt hoặc chua…(Kuo và cs, 1998)[20] Theo ý kiến của Anpachev (1978), Iorganov (1971), Phiên Kì Mạnh(1961) (dẫn theo Kiều Thị Thư, 1998) [15] thì xu hướng chọn tạo giống càchua mới là:
+ Tạo giống chín sớm phục vụ cho sản xuất vụ sớm
+ Tạo giống cho sản lượng cao, giá trị sinh học cao, dùng làm rau tươi
và nguyên liệu cho chế biến đồ hộp
+ Tạo giống chín đồng loạt thích hợp cho cơ giới hóa
+ Tạo giống chống chịu sâu bệnh
Viện nghiên cứu và phát triển nông nghiệp Malaysia (MARDI) đã phốihợp với AVRDC và trung tâm nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới (TARC) ởNhật Bản để xúc tiến chương trình cải tiến giống cà chua triển vọng Đã chọnđược 6 dòng có khả năng chịu nhiệt và chống chịu vi khuẩn: MT1, MT2,MT3, MT4, MT5, MT6, MT10 [21]
Nhiều thử nghiệm về các giống cà chua được tiến hành ở TOP, trường đại học Kasestart Thái Lan đã chọn tạo nhiều giống được đánhgiá là chất lượng tốt kết hợp với tính chịu nóng, năng suất cao và chống bệnh
AVRDC-cụ thể là các giống cà chua anh đào CHT104, CHT92, CHT105 có năng suấtcao, chống chịu bệnh tốt, màu sắc quả đẹp, hương vị ngon, quả chắc Các
Trang 17giống PT225, PT3027, PT4165, PT446, PT4121 cho năng suất cao, chấtlượng tốt, chống bệnh và chống nứt quả (Chu Jinping, 1994) [22]
Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau Châu Á còn phát triển chươngtrình về các dòng tự phối hữu hạn và vô hạn có khả năng đậu quả cho phép ởgiới hạn nhiệt độ cực đại 32-340C và cực tiểu 22-240C đã đưa được nhiềugiống lai có triển vọng, được phát triển ở một số nước nhiệt đới như CLN161L, CLN 2001C, CL5915-204DH, CL143…(Morris 1998) [23]
Tháng 8/2005, AVRDC giới thiệu 3 giống cà chua triển vọng làCLN2026D, CLN2116B, CLN2123A Cả 3 giống này đều sinh trưởng hữuhạn, có khả năng chịu nhiều loại bệnh như héo xanh vi khuẩn, héo rũ do nấm,virus….trong đó giống CLN2026D quả có thể dùng ăn tươi hoặc chế biến;giống CLN2116B có quả tròn, chịu nóng tốt, thích hợp trồng nửa cuối mùakhô; giống CLN2123A là giống có khả năng chịu nóng cao, quả thuôn dàiphục vụ cho cả ăn tươi và chế biến [24]
Ở Mỹ công tác chọn giống cà chua được tiến hành từ rất sớm, đến nay
đã thu được nhiều thành tựu đáng kể Trường Đại học California đã chọn rađược những giống cà chua mới như: UC-105, UC-134, UC-82 có năng suấtcao hơn hẳn VE-145 và có nhiều đặc điểm tốt như: tính chịu nứt quả cao vàquả cứng (Dẫn theo nguồn tài liệu của Hồ Hữu An, 1996)
Các nhà khoa học tại Mỹ đã tạo ra những giống cây trồng biến đổi gentrong đó có cà chua Những giống cây trồng này ngoài khả năng chống chịuđược sâu bệnh, tuyến trùng, khô hạn, sương muối mà còn có khả năng cất giữbảo quản lâu, chất lượng cao, mang nhiều dược tính, năng suất cao Các nhànghiên cứu tại đại học bang Oregon (Mỹ) đang hoàn thiện một giống cà chuatím, đây là một sự kết hợp giữa màu sắc và chất dinh dưỡng Màu tím trongquả cà chua do có chứa chất Phytochemical, có khả năng giảm nguy cơ ungthư và bệnh tim Loại cà chua này có nguồn gốc từ dạng dại ở Nam Mỹ Hàngtrăm năm trước các nhà khoa học đã phát hiện cà chua màu tím trong thiên
Trang 18nhiên nhưng loài cây này nhỏ và có độc Vào thập niên 1960-1970, các nhàkhoa học đã thu nhặt hạt giống từ cà chua tím và lai với loài hiện đại để cho
ra loại quả an toàn với mọi người hơn dạng ban đầu của nó
Hiện nay, các nhà khoa học trên toàn thế giới vẫn đang tiếp tục tiếnhành các nghiên cứu và thử nghiệm và áp dụng những thành tựu của CôngNghệ Sinh Học vào việc chọn tạo giống cà chua để tạo ra các giống cà chuamới Trung Quốc là nước đầu tiên có Công nghệ chuyển gen mang tínhthương mại với các sản phẩm của công nghệ chuyển gen trên cà chua Mỹ lànước bán ra thị trường giống cà chua có gen kìm hãm sự chín ở cà chua có tênlà: Elavasarr T M vào những năm 90, loại cà chua có tính biến đổi di truyềncao, có thời gian chín hơn 10 ngày
2.6.2 Tình hình nghiên cứu cà chua trong nước
Cà chua là một loại rau chủ lực có diện tích trồng ngày càng tăng ởnước ta Cà chua phát triển mạnh trong các thời vụ chính khi mà điều kiện ẩm
độ cũng như nhiệt độ là rất thích hợp cho quá trình sinh trưởng, phát triển và
ra hoa đậu quả của chúng Đa số những giống phù hợp đó lại là các giống chonăng suất không cao, lại có khả năng kháng sâu bệnh kém
Tạo giống cây trồng ưu thế lai là lĩnh vực được quan tâm lớn ở nhiềunước trên thế giới, đặc biệt đối với các cây rau Trung tâm nghiên cứu và pháttriển rau châu Á, các viện, các trung tâm tạo giống khác nhau ở châu Âu, Mỹ,Trung Quốc, … hàng năm đưa ra nhiều giống cà chua lai nổi tiếng với nhiều
ưu điểm về năng suất, chất lượng, chịu nóng và chống chịu các bệnh hại nguyhiểm như bệnh chết héo xanh, bệnh virus, … Các công ty tư bản thâu tóm cácgiống rau lai để thương mại trên phạm vi toàn cầu Từ năm 1995–1996 tớinay, các giống nước ngoài nhập vào nước ta ngày càng tăng, điều này tạo chongành chọn giống trong nước đứng trước thách thức và cạnh tranh rất lớn
Các giống nhập nội có nhiều ưu điểm, song vẫn mang những nhượcđiểm kém phù hợp với cơ cấu luân canh cây trồng, thời tiết miền Bắc Việt
Trang 19Nam Việc nghiên cứu tạo ra các bộ giống cà chua có năng suất, chất lượngcao, phù hợp với điều kiện miền Bắc Việt Nam luôn là đòi hỏi rất cấp thiết.
Ở nước ta nhiều viện, trường, trung tâm, … triển khai các nghiên cứu
về tạo giống và kỹ thuật thâm canh cà chua Trong đó có thể dẫn đến một sốđơn vị chủ lực như: Viện nghiên cứu rau quả Trung ương, Viện CLT và TP,trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội Các nghiên cứu và phát triển cà chua ởnước ta có thể phân ra các giai đoạn sau.[11]
Giai đoạn 1986: nhằm mục đích chọn được những giống cà chua thíchhợp cho vụ Xuân Hè ở vùng ĐBSH, từ năm 1973-1984, Tạ Thu Cúc đã tiếnhành nghiên cứu tập đoàn gồm 100 mẫu giống cà chua nhập nội Được trồngtrong vụ Xuân Hè ở vùng Gia Lâm – Hà Nội Kết quả cho thấy loại cà chuahoang dại L.Racemogerum có khả năng chống chịu sâu bệnh cao nhất Tiếpđến là các giống như: Pháp số 7, BeA-5, CuBa, …các giống BeA-5, BeA-1,Nhật số 2 cho năng suất cao nhất (Tạ Thu Cúc, 1985).[3]
Giai đoạn 1986-1995: Các nghiên cứu về chọn tạo giống cà chua đãthu được một số kết quả, đi theo hai hướng
Các giống trồng ở điều kiện vụ Đông truyền thống như số 7, 214, HồngLan (Viện CLT và TP), HP5 (Công ty nhập khẩu rau quả Hải Phòng)
Ở giai đoạn này đã tiến hành các nghiên cứu về tạo giống cà chua chịunóng để phục vụ cho trồng trái vụ Trên thế giới, những năm 80 và đầu nhữngnăm 90 của thế kỷ 20 đã tập trung nghiên cứu mạnh về cà chu chịu nóng Dođiều kiện nóng ở miền Bắc Việt Nam khá đặc thù nên nhiều cơ sở nghiên cứu
ở nước ta tới năm 1994-1995 vẫn chưa đưa ra được giống cà chua chịu nóngđảm bảo chất lượng thương phẩm để trồng trong sản xuất Trường Đại họcNông nghiệp Hà Nội là cơ quan nghiên cứu về chọn tạo giống cà chua MV1
có khả năng chịu nóng trồng được được trái vụ đáp ứng về năng suất và chấtlượng thương phẩm Giống này phát triển diện tích đại trà lớn và tới năm
1997 thì MV1 được công nhận là giống quốc gia (Nguyễn Hồng Minh, Kiều
Trang 20Thị Thư, 1998), đây là giống cà chua chịu nóng trồng trái vụ đầu tiên đượcchọn tạo nở nước ta trồng trên diện tích lớn ở vụ sớm và vụ muộn xuân hè.
Giai đoạn 1996-2005: Từ trước 1995 nghiên cứu tạo giống cà chua ưuthế lai ở nước ta đã được đề cập, song giai đoạn từ sau 1995 vấn đề mới đượcphát triển mạnh nhằm tạo ra các giống cà chua lai có ưu điểm trồng ở chính
vụ và trái vụ Bên cạnh đó vấn đề chọn tạo giống cà chua phục vụ chế biếncông nghiệp cũng được chú trọng
Tuy nhiên từ 1995-1996 trở đi các giống cà chua lai nước ngoài nhậpvào nước ta ngày càng ào ạt Chọn tạo giống cà chua trong nước đứng trướcnhững thách thức và cạnh tranh rất lớn
Tạo giống cà chua lai và công nghệ sản xuất hạt giống lai cà chua đượctriển khai nghiên cứu hệ thống và nhiều hơn cả là trường Đại học Nôngnghiệp Hà Nội đã nghiên cứu các công nghệ sản xuất hạt giống cà chua laibằng công nghệ như: bỏ qua công đoạn khử đực cây mẹ, bằng sử dụng cácdòng bố mẹ có tính trạng bất dục đực và tính trạng bất thụ, công nghệ có sửdụng khử đực cây mẹ bằng thủ công, Đại học Nông nghiệp Hà Nội cũng đãnghiên cứu tạo ra quy trình công nghệ sản xuất hạt giống cà chua lai trên quy
mô đại trà đầu tiên ở nước ta vào năm 1997-1998 từ năm 1998, giống cà chualai HT7 của trường ĐHNNHN bắt đầu mở rộng diện tích sản xuất đại trà.Tháng 9 năm 2000, tại hội nghị khoa học, Bộ Nông nghiệp đã công nhậnchính thức giống cà chua lai HT7 là giống quốc gia HT7 có sức cạnh tranhvới các giống ngoại nhập (do có nhiều ưu điểm độc đáo về trồng trái vụ, ngắnngày, chất lượng, …) nên nó được phát triển mạnh trên diện tích đại trà lớnnhiều năm liên tục Như vậy, HT7 là giống cà chua lai quốc gia đầu tiên củaViệt Nam phát triển trên diện tích sản xuất lớn Năm 2004, đã đưa ra một sốgiống cà chua lai mới công nhận tạm thời: HT21 (ĐHNNHN) và VT13 (ViệnCLT và TP) Gần đây (2005-2006), nhiều giống cà chua lai của trường
Trang 21ĐHNNHN có khả năng cạnh tranh với các giống ngoại nhập phát triển trêndiện tích sản xuất lớn như: HT42, HT160 và các giống khác.
Ở giai đoạn này một số giống cà chua tự thụ chọn lọc (giống thuần)phục vụ chế biến được đưa ra như: PT18 (Viện nghiên cứu rau quả Trungương), C95 (Viện CLT và TP) Tuy nhiên trước áp lực cạnh tranh của cácgiống ngoại nhập chúng chưa tìm được sự phát triển trong sản xuất
Giai đoạn từ 2005-2006 đến nay: Sau nhiều năm phát triển sản xuất càchua tới năm 2004-2005 đã đạt diện tích khá lớn ở nước ta Tuy nhiên với sựphát triển ào ạt của các giống ngoại nhập, nguy cơ các dịch bệnh ngày càngcao, từ 2005-2006 bùng phát dịch virus rất mạnh ở các vùng sản xuất cà chualớn Những năm 2005, 2006, 2007 diện tích sản xuất cà chua ở nước ta đã bịgiảm do dịch bệnh này Vấn đề chọn tạo các giống cà chua cần nhấn mạnhkhả năng kháng bệnh virus Những nghiên cứu này đang được triển khai ởmột số cơ sở nghiên cứu ở nước ta, trong đó có trường ĐHNNHN
Cũng từ 2005-2006 sản xuất cà chua mini (quả nhỏ) ở nước ta cũng đã
có sự phát triển khởi sắc về diện tích (phục vụ chủ yếu cho đóng hộp xuấtkhẩu) Chọn tạo giống cà chua quả nhỏ trước 2005 đã được triển khai ở một
số cơ sở nghiên cứu ở nước ta, trong đó có ĐHNNHN Tuy nhiên kết quả vềchọn tạo giống cà chua quả nhỏ giai đoạn trước 2005 là chưa đáng kể TrườngĐHNNHN sau nhiều năm nghiên cứu về tạo các giống cà chua lai quả nhỏ,năm 2003-2004 đã hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất hạt hạt giống càchua lai quả nhỏ trên quy mô đại trà, đã tạo ra bộ giống cà chua lai quả nhỏHT144 đã phát triển diện tích sản xuất đại trà lớn, phục vụ cho nội tiêu vàxuất khẩu (đóng hộp nguyên quả) HT144 là giống cà chua lai quả nhỏ đầutiên của Việt Nam chất lượng cao cạnh tranh thành công với các giống thếgiới để phát triển sản xuất lớn Bên cạnh HT144, nhiều giống cà chua lai khácmang thương hiệu HT đã được tiếp tục đưa ra, quảng bá để phát triển sảnxuất, trong đó có các giống tham gia trình diễn trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Trang 22Trong những năm gần đây, các nhà khoa học Việt Nam đã áp dụngthành công kỹ thuật ghép cà chua trên cà tím, cà chua trên khoai tây Mặc dùtrồng cà chua ghép có chi phí cao hơn nhưng nó hạn chế được nhiều vấn đềtrở ngại của vụ cà chua Xuân Hè, giúp cho nông dân có thể trồng cà chua trái
vụ cho năng suất cao Kỹ thuật ghép cà chua trên cà tím được trung tâm pháttriển rau Châu Á (AVRDC) chuyển giao cho viện nghiên cứu rau quả từ năm
1998, đến nay đã được mở rộng ở nhiều vùng trên cả nước như: Hải Phòng,Bắc Giang, Hà Nội, Thái Bình, Vĩnh Phúc…Năm 2005, thông qua dự án pháttriển Nông nghiệp bền vững ven đô (SUSPER) Viện nghiên cứu rau quả đãchuyển giao công nghệ ghép cà chua cho công ty Giống cây trồng Hà Nội,cung cấp cho các huyện ngoại thành hàng vạn cây cà chua ghép [19] Theokết quả thí nghiệm của Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội khi ghép 2giống MV1 Và HT7 trên gốc ghép cà tím EG203 thì cây cà chua ghép có khảnăng kháng bệnh héo xanh tốt và chịu ngập úng 72 giờ (Vũ Thanh Hải,Nguyễn Văn Đĩnh, 2004) [5]
PHẦN III: VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Vật liệu nghiên cứu
Thí nghiệm gồm 15 giống cà chua lai do Trung tâm nghiên cứu và pháttriển giống rau chất lượng cao - Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đưa ra:Q14, Q18, Q19, Q4, Q5, Q7, Q8, T06, T119, T26, T29, T33, T35, T357, T51.Giống đối chứng là giống nhập nội Savior (B22) do công ty Syngenta cung ứng
3.1.2 Thời gian và địa điểm tiến hành thí nghiệm
- Thí nghiệm được tiến hành trong điều kiện vụ xuân hè năm 2011 tại
xã Cộng Hòa huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương
Trang 23- Thời gian thực hiện: tháng1/2011 đến tháng 6/2011.
Trang 24- Mật độ: mỗi ô thí nghiệm 7,2m2, trồng 18 cây/ô.
- Khoảng cách: hàng – hàng: 60cm, cây – cây: 48cm
3.3.3 Kỹ thuật vườn ươm
- Đất: Chọn đất thịt nhẹ, đất pha cát, tơi xốp, chủ động tưới tiêu, sạch
cỏ dại, ít nấm bệnh, độ pH khoảng 6-6,5
- Chuẩn bị hạt giống: Chọn hạt giống có tỷ lệ nảy mầm lớn hơn 80%
- Gieo hạt: gieo hạt với mật độ 2g/m2, sau đó rắc lớp đất bột, phủ lêntrên mặt luống một lớp trấu và rơm sạch để giữ ẩm cho hạt
- Chăm sóc: tới nước giữ ẩm, khi hạt nảy mầ khỏi mặt đất thì gỡ bỏ lớpphủ hạt, tỉa cây con
- Khi cây có 4-5 lá thật thì nhổ đem trồng
3.3.4 Kỹ thuật trồng trên đồng ruộng
- Làm đất: phải có thời gian để ải, phải làm sạch cỏ dại Lên luống cao25- 30cm, rộng 1,4cm, đáy rãnh rộng 35cm
- Cách trồng: Trồng cây vào thời điểm chiều mát, không trồng quá sâu,sau khi trồng phải tưới nước ngay để đảm bảo đủ độ ẩm cho cây
- Phân bón và cách bón: Quy trình bón phân trong thí nghiệm (tính cho1ha) như sau:
Lượng bón: + Phân chuồng hoai mục: 12 tấn
+ Đạm urê: 400kg + Supe lân: 600kg
+ Kali: 380kg
Trang 25Cách bón:
+ Bón lót: toàn bộ phân chuồng và 50% lân
+ Bón thúc: Chia làm 4 thời kỳ bón:
Lần 1: Sau trồng 7-8 ngày, bón 10% đạm và 10% lân
Lần 2: Khi cây ra hoa rộ (sau trồng 28 ngày), bón 40% lân, 30%đạm và 30% kali
Lần 3: Khi quả rộ (sau trồng 46 ngày), bón 30% đạm và40% kali
Lần 4: Sau thu hoạch quả đợt 1, bón 30% đạm và 30% kali
- Vun xới, làm cỏ, tiến hành 3 lần
+ Lần 1: Vun xới và làm cỏ khi cây hồi xanh
+ Lần 2: Làm cỏ vun gốc kết hợp bón phân lần 2
+ Lần 3: Sau 2 lần vun xới tiến hành làm cỏ bằng tay, không xớixáo làm ảnh hưởng đến bộ rễ tạo điều kiện cho sâu bệnh xâm nhập và pháttriển
- Tưới nước: Đảm bảo độ ẩm đất 70-80%
- Làm giàn, buộc cây, tỉa cành:
+ Làm giàn: Sau khi bón thúc lần 2, cây đạt chiều cao 30-40cm thì làmgiàn, tốt nhất là làm giàn kiểu chữ A
+ Buộc cây: Dùng dây mềm buộc nhẹ cây dựa vào giàn theo hình số 8,mối buộc đầu tiên ở chùm hoa thứ nhất, đảm bảo cây phát triển tốt không bị
Trang 263.4 CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI
3.4.1 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển thời kỳ ngoài đồng ruộng
- Thời gian từ trồng đến ra hoa (ngày): Khi 70-80% số cây trong ô thínghiệm nở chùm hoa thứ nhất
- Thời gian từ trồng đến đậu quả (ngày): Khi 70-80% số cây trong ô thínghiệm đậu quả ở chùm hoa thứ nhất
- Thời gian từ trồng đến khi bắt đầu chín (ngày): Khi 30% số câytrong ô thí nghiệm có quả chín ở chùm thứ nhất
- Thời gian từ trồng đến khi chín rộ (ngày): khi 80% số cây trong ô thínghiệm có quả chín
- Thời gian từ trồng đến kết thúc thu hoạch (ngày)
3.4.2 Một số chỉ tiêu về hình thái và cấu trúc cây
( Đo đếm, đánh giá trên 6 cây trong 1 ô thí nghiệm)
- Tốc độ tăng trưởng chiều cao cây (cm/7 ngày)
- Tốc độ ra lá trên thân chính: trước khi trồng đếm số lá và 7 ngày đếmlại một lần
- Chiều cao từ gốc đến chùm hoa hoa thứ nhất
- Số đốt từ gốc đến chùm hoa thứ nhất
- Chiều cao cây: Đo từ gốc đến đỉnh sinh trưởng
- Dạng cây: Cao tán rộng, cao tán hẹp, thấp tán rộng, thấp tán hẹp
- Màu sắc lá: Xanh, xanh sáng, xanh thẫm
- Dạng chùm hoa: Đơn giản, trung gian, phức tạp
3.4.3 Đặc điểm nở hoa và tỷ lệ đậu quả
- Đặc điểm nở hoa: tập trung, rải rác
- Tỷ lệ đậu quả: Mỗi ô thí nghiệm theo dõi 6 cây, mỗi cây theo dõi 5chùm hoa (từ dưới lên ) và 5 chùm quả tương ứng với các chùm hoa đó
- Số hoa trên từng chùm
- Số quả đậu trên từng chùm
Trang 27- Tỷ lệ đậu quả của từng chùm, tính trung bình của 5 chùm hoa.
(Tỷ lệ đậu quả = Tổng số quả/Tổng số hoa trên cùng chùm)
3.4.4 Tình hình nhiễm một số sâu bệnh hại trên đồng ruộng
- Bệnh virus: Đánh giá thường kỳ (7 ngày/1 lần) lần đầu khi cây ra hoa,phân làm hai nhóm:
+ Nặng: Cây xoăn lùn, nhiều lá khảm, xoăn và biến vàng
+ Nhẹ: lá ngọn khảm và xoăn nhẹ
- Một số bệnh hại khác: Bệnh chết héo cây, nấm,…
3.4.5 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất các giống cà chua lai
- Số chùm quả trên cây
- Tổng số quả trên cây:
N1: số quả nhóm quả lớn ( D > 3cm)
N2: số quả nhóm quả nhỏ N2 ( D < 3cm)
- Khối lượng trung bình quả (P)
P1: Khối lượng trung bình nhóm quả lớn (gam)
P2: Khối lượng trung bình nhóm quả nhỏ (gam)
- Màu sắc vai quả khi chưa chín: Trắng, trắng ngà, xanh
- Màu sắc quả khi chín: Đỏ đều, đỏ vàng, vàng
- Số ngăn hạt/quả
Trang 28- Số hạt/quả.
- Độ dày thịt quả (mm)
3.4.7 Một số chỉ tiêu về chất lượng quả
- Đặc điểm thịt quả: thô sượng, chắc mịn, chắc bở, mềm mịn, mềm nát
- Độ ướt thịt quả: Rất ướt, ướt, ướt nhẹ, khô nhẹ, khô
- Khẩu vị nếm: ngọt, ngọt dịu, nhạt, chua dịu, chua
- Hương vị: Có hương, không rõ, hăng ngái
- Chất khô hòa tan (độ Brix): sử dụng máy đo độ Brix
3.5 XỬ LÝ THỐNG KÊ SỐ LIỆU
- Theo thiết kế thí nghiệm tính các giá trị trung bình
- Xử lý số liệu trên phần mềm EXCEL và IRISTAR 4.0 phân tíchtương quan các tính trạng chọn giống
- Phân tích phương sai (ANOVA)
Trang 29PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1 CÁC GIAI ĐOẠN SINH TRƯỞNG CHÍNH CỦA CÁC GIỐNG CÀ CHUA LAI
Cây trồng nói chung và cây cà chua nói riêng Để hoàn thành chu kỳsống của mình, cây cà chua cần thời gian phát triển trên dưới 120 ngày và trảiqua nhiều giai đoạn sinh trưởng phát triển nhất định, có thể chia ra hai giaiđoạn chính là sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực Mỗi giai đoạndài hay ngắn phụ thuộc vào yếu tố di truyền của giống Tuy nhiên, điều kiệnngoại cảnh cũng tác động đến từng giai đoạn, chúng có thể kéo dài hoặc rútngắn lại
Việc nghiên cứu thời gian các giai đoạn sinh trưởng ở cà chua giúpchúng ta nắm được đặc điểm sinh trưởng của từng giống Từ đó để đưa ra cácbiện pháp kỹ thuật tác động thích hợp nhằm điều khiển sự sinh trưởng, pháttriển theo hướng có lợi cho con người Ngoài ra việc nghiên cứu đánh giá cácgiai đọan sinh trưởng phát triển của cây giúp chúng ta chủ động trong việc bốtrí thời vụ, xây dựng cơ cấu luân canh hợp lý và xác định thời điểm thu hoạchthích hợp Vì vậy chúng tôi tiến hành theo dõi các giai đoạn sinh trưởng chínhcủa các giống cà chua lai trong vụ xuân hè 2011 kết quả thu được ở bảng 4.1
Trang 30Bảng 4.1 Thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng (ngày)
STT Giống Thời gian từ trồng đến (ngày)
Ra hoa Đậu quả Bắt đầu chín Chín rô
Trang 314.1.1 Thời gian từ trồng đến ra hoa
Thời gian từ trồng đến ra hoa là một trong những thời kỳ sinh trưởngquan trọng của cây Đây là khoảng thời gian để cây hoàn thành giai đoạn sinhtrưởng sinh dưỡng bắt đầu chuyển sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực Thờigian từ trồng đến ra hoa của cây cà chua trải qua nhiều giai đoạn sinh trưởngquan trọng: giai đoạn hồi xanh, giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng Thời gian
từ trồng đến ra hoa của các giống phụ thuộc vào yếu tố di truyền Tuy nhiênkhi nhiệt độ càng cao thì cây cũng rút ngắn thời gian từ trồng đến ra hoa.Trong giai đoạn hồi xanh, cây non còn yếu, cần được chăm sóc cẩn thận, đặcbiệt phải cung cấp đủ nước Giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng tích lũy dinhdưỡng, hình thành và phát triển cơ quan sinh dưỡng, tích lũy cơ sở vật chấtcho sự phát triển tiếp theo của giai đoạn sinh trưởng sinh thực Thời gian từtrồng đến ra hoa phụ thuộc vào đặc tính di truyền của giống và sự tác độngtương đối của điều kiện ngoại cảnh
Quá trình phân hóa mầm hoa chịu sư tác động mạnh mẽ nhất của cácyếu tố như nhiệt độ, độ ẩm và ánh sáng Nếu nhiệt độ ban ngày 20-250C, banđêm 13-150C, ẩm độ đất 60-70%, ẩm độ không khí 55-65%, cường độ ánhsáng trong phạm vi 2000 lux thì số hoa phân hóa được nhiều nhất và tỷ lệ đậuquả cao nhất [10] Trong điều kiện vụ xuân hè, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều,cây ra muộn dễ gặp nhiệt độ cao, mưa nhiều dẫn đến hiện tượng rụng nụ, rụnghoa nhiều, tỷ lệ hữu dục kém Chính vì vậy, cần phải có biện pháp tác động
để khoảng thời gian từ trồng đến ra hoa ở mức trung bình
Qua kết quả theo dõi cho thấy thời gian từ trồng đến ra hoa của cácgiống cà chua lai dao động từ 30-33 ngày Các giống Q18, Q5, Q7, T26 rahoa sớm nhất (30 ngày), tiếp theo là giống đối chứng B22 và T119 (31 ngày),các giống ra hoa muộn hơn giống đối chứng B22 là Q14, Q19, Q4, Q8, T29,T357, T51 (32 ngày), giống có thời gian từ trồng đến ra hoa muộn nhất làT06, T33, T35 (33 ngày)
Trang 32Như vậy, nhìn chung các giống cà chua lai trong vụ xuân hè 2011 cóthời gian từ trồng đến ra hoa tương đối ngắn, do điều kiện thời tiết thuận lợi,nhiệt độ tăng cao dần, trời ít mưa, cường độ ánh sáng tương đối mạnh nên cácgiống sinh trưởng phát triển nhanh hơn, ra hoa sớm hơn.
4.1.2 Thời gian từ trồng đến đậu quả
Đây là khoảng thời gian có ý nghĩa quyết định đến năng suất cuối cùngcủa cây Thời gian trồng đến đậu quả được tính khi 50 – 70% số cây củagiống đó đậu quả Thời gian trồng đến đậu quả phụ thuộc vào đặc điểm ditruyền của từng giống đồng thời phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh vàchế độ chăm sóc Trong giai đoạn ra hoa nếu gặp điều kiện nhiệt độ cao thìhoa bị dị hình đầu nhụy, hạt phấn bị khô tỷ lệ hạt phấn hữu dục thấp nên ảnhhưởng không tốt đến quá trình thụ phấn thụ tinh Nhiệt độ thích hợp cho hạtphấn phát triển là 21-240C, khi nhiệt độ thấp dưới 150C và cao trên 350C hạtphấn bị ức chế gây ra hiện tượng thụ phấn thụ tinh không đầy đủ Từ đó ảnhhưởng đến năng suất và phẩm chất của quả
Thời gian từ trồng đến ra hoa và từ trồng đến đậu quả có tương quanchặt chẽ với nhau, giống nào ra hoa sớm thì sẽ đậu quả sớm và ngược lạigiống nào ra hoa muộn thì sẽ đậu quả muộn Chính vì vậy cần có chế độchăm sóc, bón phân và tưới tiêu hợp lý tạo điều kiện thuận lợi cho quátrình đậu quả
Kết quả theo dõi ở bảng 4.1 cho thấy: các giống cà chua lai từ trồngđến đậu quả giao động trong khoảng 37-40 ngày sau trồng Các giống đậu quảsớm nhất là giống Q5, Q7 và T119 có thời gian đậu quả là 37 ngày sau trồng,sau đó là giống đối chứng B22 và các giống Q18, T26 (38 ngày sau trồng),giống Q14, Q4, T51 là 39 ngày, cuối cùng là các giống Q19, Q8, T06, T29,T33, T35, T357, đậu quả muộn nhất (40 ngày sau trồng)
Trang 334.1.3 Thời gian từ trồng đến khi quả bắt đầu chín
Thời gian từ trồng đến khi quả bắt đầu chín được xác định khi 30% sốcây theo dõi có quả chín ở chùm thứ nhất Đây là chỉ tiêu để đánh giá khảnăng chín sớm và chín tập trung của giống
Sau khi đậu quả cây tập trung chất dinh dưỡng nuôi quả và khi tích luỹđến một mức nhất định thì chuyển sang giai đoạn chín Ở giai đoạn chín trongquả cà chua diễn ra quá trình biến đổi các chất hữu cơ tạo ra các chất đặc trưngcủa từng giống Điều này thể hiện ở màu sắc quả Màu sắc quả do 2 yếu tố:Lycopen và carotene quyết định Lycopen là sắc tố chính để tạo cho quả cà chua
có màu đỏ Những giống cà chua màu vàng lại do sắc tố caroten quyết định Haisắc tố này chịu ảnh hưởng của nhiệt độ Trong giai đoạn này chúng ta cần cungcấp đầy đủ nước và dinh dưỡng để đảm bảo cho quả phát triển và chín thuận lợi
Qua kết quả theo dõi thí nghiệm chúng tôi nhận thấy các giống cà chualai có thời gian từ trồng đến khi quả bắt đầu chín biến động trong khoảng 59-
63 ngày sau trồng, giống Q18 và giống Q7 có thời gian bắt đầu chín sớm nhất(59 ngày sau trồng), tiếp theo là các giống Q14, Q5, T26 và giống đối chứngB22 (60 ngày sau trồng), các giống Q19, Q4, T26, T29 (61 ngày) và giốngQ8, T06, T51 là 62 ngày sau trồng, giống có thời gian từ trồng đến bắt đầuchín muộn nhất là T33, T35, T357 (63 ngày) Trong thời gian này, đa phầncác giống cà chua lai nhiễm bệnh virus tăng lên cả về mức độ và cấp độ, do
đó dinh dưỡng không được cung cấp đầy đủ cũng ảnh hưởng tới tốc độ chíncủa quả, nhưng ảnh hưởng nhất vẫn là do nhiệt độ cao dẫn đến thời gian chínkéo dài
4.1.4 Thời gian từ trồng đến chín rộ
Thời gian từ trồng đến chín rộ được xác định khi có 70-80% số cây trên
ô thí nghiệm có quả chín ở chùm thứ nhất và chùm thứ hai Đây là chỉ tiêuđánh giá khả năng chín tập trung hay chín rải rác của các giống cà chua
Trang 34Giống cà chua lai có thời gian từ khi quả bắt đầu chín đến khi chín rộ càngngắn thì chín càng tập trung Cà chua trồng trong điều kiện vụ xuân hè do thờigian quả chin gặp nhiệt độ cao, ánh sáng mạnh làm ảnh hưởng đến sự hìnhthành các sắc tố làm cho quả không được hấp dẫn Đặc biệt thời gian này dễgặp mưa làm quả dễ bị nứt, thối, làm giảm năng suất và chất lượng thươngphẩm của sản phẩm Do đó, xu hướng nghiên cứu chọn tạo của các nhà chọngiống là tạo ra các giống lai có khả năng chín rộ sớm và chín tập trung đểkhắc phục những bất lợi trên đồng ruộng, giảm công thu hái, tiện cho thuhoạch bảo quản và tiêu thụ.
Qua số liệu ở bảng 4.1 thì thời gian từ trồng đến chín rộ của các giống
cà chua lai dao động trong khoảng từ 66-72 ngày sau trồng Giống có thờigian từ trồng đến chín rộ sớm nhất là Q18, Q7 (66 ngày sau trồng), tiếp theo
là các giống Q14, T26 (68 ngày), giống Q4, Q5, T119 (69 ngày), giống Q19,Q8, T06, T35, T51 là 70 ngày sau trồng, giống có thời gian từ trồng đến chín
rộ cùng thời điểm với giống đối chứng B22 (71 ngày) là giống T357, giống cóthời gian từ trồng đến chín rộ muộn nhất là T29, T33 (72 ngày sau trồng)
Nhìn chung, thời gian từ chín đến chín rộ của các giống nghiên cứu daođộng chủ yếu trong khoảng từ 7-11 ngày nên có thể đánh giá là các giốngchín tương đối tập trung Có thể thấy trong vụ xuân hè thì nhiệt độ cao đãkhiến cho sau khi đậu thì quả thành thục và chín nhanh chóng Yêu cầu chúng
ta phải có biện pháp kỹ thuật chăm sóc, bón phân, tưới tiêu nước hợp lý tạođiều kiện cho quá trình quả chín thuân lợi, nhằm năng suất và chất lượng quả
4.2 ĐỘNG THÁI TĂNG TRƯỞNG CHIỀU CAO CÂY
Động thái tăng trưởng chiều cao cây là một chỉ tiêu quan trọng để đánhgiá tốc độ tăng trưởng của từng giống qua từng giai đoạn sinh trưởng và phấttriển từ đó giúp chúng ta có các biện pháp kỹ thuật chăm sóc phù hợp, tạođiều kiện cho cây sinh trưởng và phát triển tốt nhất nhằm thu được năng suất
Trang 35cao nhất Sự tăng chiều cao cây là do sự tăng trưởng số đốt và kéo dài cáclóng Sự tăng trưởng chiều cao cây liên quan đến khả năng chín sớm, chín tậptrung của các giống Giống sinh trưởng cao hay thấp chủ yếu do yếu tố ditruyền quy định nhưng cũng chịu sự chi phối mạnh mẽ của các yếu tố bênngoài như nhiệt độ, ẩm độ, kỹ thuật chăm sóc…
Chúng tôi tiến hành theo dõi động thái tăng trưởng về chiều cao cây và
số lá qua 6 lần, mỗi lần cách nhau 7 ngày Thời gian bắt đầu tiến hành theo dõi
là sau khi cây trồng ra ruộng được 17 ngày và thu được kết quả ở bảng 4.2
Từ kết quả theo dõi ở bảng 4.2 chúng tôi có đồ thị biểu diễn động tháităng trưởng chiều cao cây (đồ thị 4.1)
Đồ thị 4.1 Đông thái tăng trưởng chiều cao cây
Trang 36Bảng 4.2 Đông thái tăng trưởng chiều cao cây
STT Giống Thời gian theo dõi sau trồng (ngày)
Trang 37Qua bảng 4.2 và đồ thị 4.1 cho thấy, trong giai đoạn từ 17-24 ngày sautrồng, tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống cà chua lai tương đốichậm (tăng (1,97-6,42 cm/tuần), giống T119 tăng trưởng mạnh nhất (6,42cm/tuần), giống Q7 tăng trưởng chậm nhất (1,97 cm/tuần), giống đối chứngB22 là 3,78 cm/tuần, các giống còn lại tăng trưởng dao động trong khoảng3,15-4,86 cm/tuần) Nguyên nhân do giai đoạn này cây mới trồng ra ruộngnên cây cần phải có thời gian để bén rễ hồi xanh và mới đầu sinh khối của câycòn thấp nên khả năng tích lũy không cao Hơn nữa thời tiết lại không thuậnlợi cho cây sinh trưởng (nhiệt độ thấp và cường độ ánh sáng yếu) Giai đoạn
từ 24-31 ngày sau giai đoạn hồi xanh tốc độ tăng trưởng chiều cao cây củacác giống bắt đầu tăng lên (5,3-9,96 cm/tuần) Trong giai đoạn từ 31-52 ngàysau trồng lúc đầu tốc độ tăng trưởng chiều cao cây của các giống tăng mạnh
do cây được bón phân vào đất để bổ sung chất dinh dưỡng cho cây (trungbình mỗi ngày các giống có tốc độ tăng trưởng chiều cao cây từ 2,15-2,94cm/ngày), đến khoảng thời gian sau 52 ngày sau trồng cây có xu hướng tăngtrưởng chậm lại do cây chuẩn bị chuyển sang giai đoạn sinh trưởng sinh thực
4.3 ĐỘNG THÁI TĂNG TRƯỞNG SỐ LÁ TRÊN THÂN CHÍNH
Lá cây là cơ quan có chức năng quang hợp, hô hấp và dự trữ chất dinhdưỡng cho cây cà chua nên lá đóng vai trò quan trọng quyết định đối với năngsuất thực thu Lá còn đặc trưng cho hình thái của giống và được quy định bởiđặc tính di truyền Số lá, sự phân bố lá trên cây và diện tích lá tiếp xúc vớiánh sáng quyết định khả năng quang hợp do đó quyết định năng suất và chấtlượng quả Sự tăng trưởng số lá có quan hệ với sự tăng trưởng chiều cao cây.Theo dõi động thái ra lá để xác định thời điểm và biện pháp kỹ thuật nhằmtăng số lá trên thân tạo tiền đề cho sự hình thành các yếu tố năng suất sau này.Những giống có số lá trên cây ít thì khả năng chống chịu kém với điều kiệnmôi trường
Động thái tăng trưởng số lá được thể hiện ở bảng 4.3 và đồ thị 4.2
Trang 38Qua bảng 4.3 và đồ thị 4.2 cho thấy: Động thái tăng trưởng số lá trênthân chính cũng tuân theo động thái tăng trưởng chiều cao cây, sau trồng 17ngày các giống có số lá dao động trong khoảng 4,11-5,33 (lá) và có tốc độtăng trưởng số lá chậm, giống có số lá thấp nhất là Q7 (4,11 lá), cao nhất làT119 (5,33 lá), giống đối chứng B22 là 4,33 lá Giai đoạn 24 ngày sau trồngcác giống có số lá trên thân chính biến động trong khoảng 5,17-7,72 lá, tốc độtăng trưởng số lá cũng bắt đầu tăng lên, giống T119 vẫn tăng trưởng mạnhnhất(7,72 lá), tăng trưởng chậm nhất vẫn là Q7 (5,17 lá).
Đồ thị 4.2 Đồ thị biểu diễn đông thái tăng trưởng số lá trên thân chính