1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

XÓI mòn đất và kỹ THUẬT CANH tác NGÔ TRÊN đất dốc VÙNG núi tây bắc VIỆT NAM

18 590 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 242 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUYÊN ĐỀ: XÓI MÒN ĐẤT VÀ KỸ THUẬT CANH TÁC NGÔ TRÊN ĐẤT DỐC VÙNG NÚI TÂY BẮC VIỆT NAM Nhóm thực hiện: Lê Quang Vinh Đào Mạnh Quyền Đặng Thái Hưng Lê Thị Mỹ Châu Đào Thị Bến Trần Thị Ph

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ: XÓI MÒN ĐẤT VÀ KỸ THUẬT CANH TÁC NGÔ TRÊN

ĐẤT DỐC VÙNG NÚI TÂY BẮC VIỆT NAM

Nhóm thực hiện:

Lê Quang Vinh Đào Mạnh Quyền Đặng Thái Hưng

Lê Thị Mỹ Châu Đào Thị Bến Trần Thị Phương Loan

Lê Thị Hải Hoàng Thị Mai (Trồng trọt 18B)

Trang 2

I GIỚI THIỆU

Đất đồi núi (phần lớn là đất dốc) chiếm 3/4 diện tích đất tự nhiên của Việt nam Do thiếu đất sản xuất nên nông dân miền núi vẫn phải canh tác trên đất có độ dốc cao, dẫn đến việc đất bị xói mòn rất mạnh và năng suất cây trồng giảm nhanh Kết quả là đất bị thoái hoá, năng suất cây trồng thấp nên cuộc sống của nông dân rất thấp và bấp bênh

Đối với sản xuất ngô ở miền núi, có nhiều vấn đề cần phải nghiên cứu, vì

đó là nguồn sống rất quan trọng, đặc biệt là của đồng bào H’mông và các dân tộc sống ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa.Vì thế, xói mòn đất và Kỹ thuật canh tác ngô trên đất dốc vùng núi Tây Bắc Việt Nam cũng là 1 vấn đề đặc biệt quan trọng phải nghiên cứu

Vùng Tây Bắc bao gồm 4 tỉnh: Điện Biên, Lai Châu, Sơn La và Hoà Bình, là vùng có địa hình núi cao hiểm trở với dãy Hoàng Liên Sơn chạy dọc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam,cắt xẻ mạnh… Phía Bắc là những dãy núi cao, phân định biên giới Việt – Trung… Phía Đông và Đông Nam là dãy Hoàng Liên Sơn cao nhất Việt Nam và Đông Dương với đỉnh Phanxipan (3.143 m), Phía Tây và Tây Nam là các dãy núi cao kế tiếp nhau, phân định biên giới Việt – Lào Nằm giữa vùng Tây Bắc là sông Đà chảy theo hướng Tây Bắc – đông Nam Hai bên sông Đà là các sơn nguyên và cao nguyên đá vôi kế tiếp nhau

Trang 3

Vùng núi Tây Bắc có Khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Chế độ gió mùa có sự tương phản rõ rệt mùa hè – mùa đông.Biên độ nhiệt giữa ngày và đêm ở vùng cao nguyên là núi cao lớn hơn ở các thung lũng Độ

ẩm tương đối trung bình thường từ 78 – 93%,ở các tiểu vùng có độ chênh lệch

từ 2 – 5% Khu vực Tây Bắc có lượng mưa lớn, bình quân từ 1.800 – 2.500 mm/năm Các hiện tượng thời tiết đặc biệt ở Tây Bắc là gió Lào và gió lạnh địa phương.Ngoài ra: Mưa đá ,sương muối,băng giá…

Với khí hậu và địa hình như trên, các dân tộc vùng núi Tây Bắc đã sinh sống chủ yếu nhờ cây ngô Tuy nhiên, điều kiện sống của người dân vùng này còn khó khăn, nên đầu tư chăm bón còn hạn chế, chủ yếu dựa vào độ phì nhiêu

tự nhiên, dẫn tới đất đai ngày càng bị thoái hoá nghiêm trọng nhất là khu vực có

độ dốc lớn

II NỘI DUNG

2.1 Một số khái niệm :

Vùng núi Tây Bắc có địa hình phức tạp, người dân phải canh tác trên đất dốc- nơi thường xuyên xảy ra hiện tượng xói mòn Vậy đất dốc được hiểu như thế nào? Có liên quan gì đến hiên tượng xói mòn?

2.1.1 Đất dốc

- Khái niệm đất dốc: Đất dốc là đất có bề mặt nằm nghiêng, thường gồ ghề hoặc lượn song, nằm nghiêng là mặt dốc hoặc sườn dốc, góc tạo bởi sườn dốc và mặt nằm ngang là độ dốc của mặt đất

- Những hạn chế đối với việc mở rộng diện tích canh tác trên đất dốc: + Xói mòn và suy thoái đất

+ Độ phì kém, đất bị thoái hoá

+ Hạn hán trong mùa khô

+ Giảm độ che phủ

2.1.2 Xói mòn đất

a/ Hiện tượng xói mòn:

Trang 4

- Xói mòn là hiện tượng làm di dời tầng bề mặt của đất; Rất nhiều nguồn dinh dưỡng và chất hữu cơ tập trung ở trong đất nằm ở ngay diện tích bề mặt; Xói mòn làm cho đất mất đi độ màu mỡ; Các chất dinh dưỡng bị trôi theo dòng suối, dòng sông, và có thể gây ra ô nhiễm hạ nguồn;

- Nguyên nhân:

+ Tác động của điều kiện tự nhiên: mưa, gió, lũ lụt, trọng lực …

Hiện tượng xói mòn đất do gió thường xảy ra ở những vùng đất có thành phần cơ giới nhẹ: như những vùng đất cát ven biển, đất vùng đồi bán khô hạn Tuy nhiên nguy cơ mất đất do hiện tượng xói mòn do gió cũng rất nghiêm trọng

Xói mòn theo lớp bề mặt:Nước chảy trên bề mặt và cuốn trôi theo dòng một phần lớp chất dinh dưỡng

Xói mòn tại những điểm nứt/rãnh: thường khi mưa lâu, dòng chảy tự nhiên /tạo thành những khe nhỏ; dòng chảy từ nhỏ thành lớn sẽ gây ra sự xói mòn đất; khi các điểm nứt trở nên quá lớn thì xói mòn chuyển sang hình thái xói mòn ở cấp độ

+ Xói mòn do tác động của con người: đốt, chặt phá rừng, canh tác không đúng kỹ thuật, chuyển đổi mục đích sử dụng đất không hợp lý

- Những nơi thường xảy ra xói mòn:

+ Đất dốc: Độ dốc càng cao bao nhiêu, rủi ro về xói mòn càng cao bấy nhiêu

+ Tại những vùng đồi có độ dốc kéo dài

+ Tại những vùng đồi có những con sông nhỏ/nhọn;

+ Tại những nơi mà kết cấu của đất thường vỡ mảnh và đất dễ bị cuốn trôi theo dòng nước;

+ Tại những nơi thường chịu tác động của các biện pháp canh tác thường xuyên

b/ Tác hại của xói mòn đất

*Xói mòn gây tác hại trực tiếp đến đất đai

-Đất bị thoái hóa bạc màu

Trang 5

-Làm thay đổi tính chất vật lý của đất, đất trở nên khô cằn, khả năng thấm, hút và giữ nước của đất kém

-Làm tổn hại tới môi trường sống của vi sinh vật, động thực vật đất, nên hạn chế khả năng phân giải của chúng, do đó độ phì của đất giảm

*Tác hại của xói mòn đất đến sản xuất:

-Năng suất cây trồng giảm nhanh chóng

-Tăng chi phí sản xuất để phục hồi đất, thu nhập của người dân thấp, đời sống gặp khó khăn

-Môi trường bị ô nhiễm nghiêm trọng, hạn hán, lũ lụt xảy ra liên tục, làm

ô nhiễm nguồn nước và gây nhiều thiệt hại cho nhà nước và nhân dân

c/ Các biện pháp khắc phục

• Canh tác theo đường đồng mức

• Canh tác theo bậc thang

• Cây che phủ đất

• Luân canh hoa màu

• Trồng cỏ theo băng

• Đai đổi hướng chảy theo đường đồng mức

• Bờ tường đá

2.2 Hiện trạng xói mòn đất ở vùng núi Tây Bắc hiện nay

Tại Việt Nam, quá trình hoang mạc và thoái hóa đất là kết quả của sự xói mòn, đá ong hóa, hạn hán, cát bay, đất bị nhiễm phèn, nhiễm mặn Hiện cả nước có 8-9 triệu ha đất chưa sử dụng có nguy cơ trở thành sa mạc, tập trung ở

4 vùng, trong đó có Tây Bắc do địa hình dốc, rừng cạn kiệt, đất bị xói mòn

* Tình hình xói mòn của vùng núi tây Bắc: Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới ẩm và có lượng mưa tương đối lớn (từ 1.800 – 2000 mm) nhưng lại phân bố không dều và tập trung chủ yếu trong các tháng mùa mưa từ tháng 4 –

5 đến tháng 10 vùng núi tây bắc có lượng mưa lớn lại tập trung tạo ra dòng chảy có cường độ lớn đấy là nguyên nhân chính gấy ra hiện tượng xói mòn đất đai ở vùng núi tây bắc việt nam Hàng năm nước từ các con sông mang phù sa

Trang 6

đổ vào biển đông với lượng khoảng 200 triệu tấn, người ta ước tính trung bình

và có khi đạt 2000g/m3

Nguyên nhân chính dẫn đến sự xói mòn ở vùng núi tây bắc là do sự khai phá rừng lấy gỗ và lấy đất canh tác Từ năm 1983 – 1994 trên cả nước có khoảng 1.3 triệu ha rừng đã bị khai phá để lấy gỗ và lấy đát trồng trọt gây nên

sự xói mòn và rửa trôi lớp đất mặt làm cho đất ở những nơi này càng ngày càng trở nên bạc màu Chỉ tính riêng vùng núi phía bắc sông Hồng và dọc theo dãy Trường Sơn thì đã có khoảng 700.000 ha đất bị bạc màu

Xói mòn do gió mặc dù xảy ra ít nghiêm trọng hơn nhưng cũng là vấn đề đáng quan tâm ở vùng núi phía bắc Để làm giảm sự xói mòn nhiều biện pháp

đã được thực hiện như trồng cây gây rừng, phủ xanh đồi trọc

* Tầm quan trọng của việc bảo vệ đất đai:

- Vấn đề chính của việc bảo tồn đất đai là giảm sự xói mòn, ngăn ngừa sự cạn kiệt nguồn dinh dưỡng trong đất và giảm sự lạm dụng quá mức đất canh tác Thường thì sự bảo vệ đất không nhận được kết quả rõ rệt vì tốc độ xói mòn diễn ra chậm

- Bảo tồn đất trồng trọt trên các vùng có độ dốc: Trên các đồi trọc, sườn đồi dược sử dụng để canh tác do có độ dốc nên sự xói mòn xảy ra mãnh liệt hơn

ở vùng bình nguyên

* Nguyên nhân gây hiện tượng xói mòn trên vùng núi Tây Bắc:

- Lượng mưa và cường độ mưa; Đây là một yếu tố quan trọng nhất gây xói mòn vùng núi tây bắc Ở đây lượng mưa có thể đạt 3000 mm nên tốc đọ xói mòn càng mạnh

- Độ dốc và chiều dài sườn dốc: Tây Bắc là vùng có địa hình đồi núi cao hiểm trở có độ dốc lớn nên tốc độ dòng chảy tương đối mạnh dẫn đến tăng tốc

độ xói mòn

Trang 7

- Độ che phủ cây: Hiện nay nạn phá rừng diễn biến phức tạp tại vùng núi tây bắc làm giảm độ che phủ của cây khiến cho hiện tượng xói mòn càng nghiêm trọng hơn

Phá rừng làm rẫy đang làm tăng nguy cơ sa mạc hóa

* Các biện pháp chống xói mòn trên đất dốc Tây Bắc:

- Làm giảm độ dốc và chiều dài sườn dốc: Bằng cách san ruộng thành bậc thang, đào mương đắp bờ, trồng cây thành hàng để ngăn chiều dài của dốc thành những đoạn ngắn hơn

- Dùng các biện pháp nông lâm nghiệp để che phủ kín mặt đất: gieo trồng theo hướng ngang của sườn dốc, làm luống trồng ngang với sườn dốc Trồng kín dất vừa làm tăng độ phì vừa bảo vệ lớp đất mặt

- Ở những nơi có nhiều đá, độ dốc cao và dài thì bờ tường đá là thích hợp nhất Dọc theo đường đồng mức cắt ngang mặt dốc làm bề mặt để đặt và giữ chặt các hòn đá lên nhau

- Tích cực công tác trồng và bảo vệ rừng phòng hộ, trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc

2.3 Kỹ thuật canh tác đất dốc

2.3.1 Tái sinh các loại đất đã bị thoái hoá không canh tác được.

Có thể dùng các loài cây hoang dại, ngắn ngày, chống chịu tốt, đa chức năng, có triển vọng áp dụng để cải tạo đất và làm thức ăn chăn nuôi như: đại mạch, cao lương, đậu tương lông Các loại cỏ tín hiệu, cỏ lông ẩm, cỏ lông Ruzi

có bộ rễ phát triển mạnh, có khả năng phá vỡ lớp đất rắn bề mặt và khi phân

Trang 8

huỷ sẽ làm cho đất tơi xốp hơn Khả năng chịu lạnh khá tốt, vì vậy sẽ là nguồn thức ăn quý cho gia súc trong mùa khô

2.3.2 Dùng tàn dư thực vật che phủ bề mặt

Phủ đất là biện pháp hữu hiệu chống xói mòn đất thông qua việc tránh tiếp xúc trực tiếp của hạt mưa với mặt đất và hạn chế dòng chảy bề mặt Ngoài

ra còn làm tăng hàm lượng hữu cơ cho đất qua sự phân huỷ lớp vật liệu phủ đất

Độ xốp của đất được cải thiện nhanh từ đó làm tăng khả năng hấp thụ và giữ nước của đất, tăng cường hoạt tính sinh học của đất, tạo điều kiện cho bộ rễ cây trồng phát triển tốt Che phủ đất cũng góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng phân bón thông qua việc chống xói mòn rửa trôi đất, tăng dung tích hấp thụ của đất Một tác dụng quan trọng nữa là hạn chế gần như tuyệt đối cỏ dại cạnh tranh với cây trồng, từ đó giảm công lao động làm cỏ và góp phần tăng năng suất cây trồng

Vật liệu dùng để che phủ: Rất đơn giản và dễ kiếm: Sản phẩm phụ sau thu hoạch (rơm, rạ, thân cây…), các loại cỏ, cây hoang dại, ưu tiên các loại cây hoang dại, bán hoang dại và các loại cây đã thích nghi cao

Từ thực nghiệm quay mô nhỏ, kỹ thuật che phủ đất dốc bằng tàn dư thực vật đã và đang được phổ biến rộng rãi, được bà con các dân tộc miền núi phía Bắc áp dụng có hiệu quả

Tạo lớp che phủ đất bằng lớp thực vật sống Cây lạc dại là cây họ đậu sinh trưởng vô hại, có tác dụng che phủ chống xói mòn đất dốc, cho sinh khối lớn, làm thức ăn gia súc và làm chất hữu cơ giàu đạm cải tạo đất, rễ có nốt sần

có khả năng cố định đạm cho đất Lạc dại sinh trưởng quanh năm, nhờ thảm lạc dại che phủ mà hạn chế được xói mòn đất, khả năng giữ độ ẩm và độ phì đất được cải thiện rõ rệt Ngoài ra, còn thu hoạch được chất hữu cơ cải tạo đất

Một số cây họ đậu khác như đậu mèo, đậu gạo…cũng được dùng để che phủ đất dốc nhằm cải thiện cấu trúc lý tính của đất, hoạt hoá hệ sinh vật và vi sinh vật trong đất và làm tăng năng suất cây trồng Tuy nhiên, cần dựa vào mùa

Trang 9

vụ và loài cây trồng để bố trí trồng cho thích hợp, giảm cạnh tranh và phát huy được tiềm năng của chúng

2.3.3 Kiến thiết tiểu bậc thang kết hợp che phủ đất và làm đất tối thiểu

Kinh nghiệm làm ruộng bậc thang ở miền núi đã có từ lâu, nhưng chỉ áp dụng được ở nơi có tầng đất dày và độ dốc thấp cộng với đầu tư công lao động lớn Đối với những sườn núi có độ dốc cao, tầng đất mỏng thì tạo tiểu bậc thang kết hợp che phủ đất và chọc lỗ gieo thẳng mà không làm đất là một kỹ thuật rất

có hiệu quả, nâng cao năng suất cây trồng, bảo vệ và tăng độ phì cho đất Tiểu bậc thang được kiến tạo bề mặt từ 30-40cm và nên trồng các loại cây thích hợp

để bảo vệ bờ bậc thang, có thể kết hợp trồng cỏ để làm thức ăn gia súc, trồng cây họ đậu qua đông để bảo vệ và cải tạo đất

2.4 Canh tác ngô vùng Tây Bắc

2.4.1 Canh tác ngô theo phương thức truyền thống

Theo phương thức canh tác truyền thống, với điệu kiện hiện tại thì thời gian bỏ hoá đất đã bị rút ngắn, làm đất dễ dàng bị thoái hoá gây hiện tượng xói mòn đất Dưới đây là chu trình sử dụng đất của người Thái ở Sơn La:

Chọn

nương

nương

nương

Bỏ hoá

(3-15 năm)

Trồng các

vụ tiếp theo

hoạch

sóc

2.4.2.Kỹ thuật canh tác ngô bền vững trên đất dốc

Xin giới thiệu 1 số nghiên cứu cho vấn đề canh tác ngô trên đất dốc:

2.4.2.1 Tạo tiểu bậc thang trồng ngô, kết hợp che phủ đất (Báo Nông nghiệp

ngày 12 tháng 12 năm 2008)

Ở nhiều nơi do đất trồng ngô bị xói mòn và thoái hóa đến mức giống mới và phân hoá học không còn phát huy tác dụng Do hiệu quả kinh tế thấp

Trang 10

dẫn đến thua lỗ nên nông dân trồng ngô sẽ chuyển sang trồng sắn và sau đó đất

sẽ bị bỏ hoá

Để khắc phục tình trạng trên, nhóm các nhà khoa học thuộc Viện KHKT Nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc, Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã tiến hành thử nghiệm biện pháp tạo tiểu bậc thang (TBT) trên đất có độ dốc lớn

phía Bắc Kết quả cho thấy, với biện pháp canh tác này đã hạn chế xói mòn đất rất lớn, chỉ 0,53 tấn/ha đất bị trôi tức là giảm 84,5% so với đối chứng

Ngoài ra, biện pháp canh tác này cũng thể hiện tác dụng rất tích cực đối với sinh trưởng phát triển của ngô, tăng chiều cao cây từ 9,1 cm (đối chứng) lên 19,1 cm và 24,1 cm (TBT và che phủ đất), đồng thời khắc phục được các yếu tố hạn chế của đất dốc và tăng năng suất ngô từ 10,6% đến 31,9% Đồng thời giảm nhẹ lao động nặng nhọc như làm đất, làm cỏ (giảm 25% - 91,7% công làm cỏ); góp phần cải thiện đời sống nông dân vùng cao mà vẫn bảo tồn được tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường sinh thái

Kỹ thuật tạo tiểu bậc thang trên đất dốc:

Dùng thước chữ A để kiến thiết TBT từ dưới chân đồi theo đường đồng mức Như thế toàn bộ chất dinh dưỡng bề mặt đất sẽ được giữ lại ở mặt bậc thang dưới Khoảng cách giữa các bậc thang tuỳ thuộc vào độ dốc của nương, nương càng dốc khoảng cách càng xa Độ rộng thích hợp của bề mặt bậc thang khoảng 40 – 50 cm (gieo được 2 hàng ngô so le) Sau khi hoàn thành TBT thì tận dụng và thu thập thân ngô vụ trước, xác cỏ dại, rơm rạ… làm vật liệu che phủ Toàn bộ vật liệu phủ được phủ trên bề mặt của TBT với lượng phủ trung bình 7 tấn khô/ha

Kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc ngô trên tiểu bậc thang:

- Gieo trồng: Trên bề mặt của TBT gieo 2 hàng ngô so le nhau, khoảng cách 30

x 40cm Cuốc hốc tra hạt, 1 – 2 hạt/hốc Độ sâu lấp hạt 3 – 4cm

- Phân bón: + Lượng bón (350kg urê + 500kg supe lân + 180kg kali clorua)/ha

Trang 11

+ Cách bón: Bón lót: supe lân + 1/3 urê, bón ngay trước khi gieo Bón thúc: Lần 1: 1/3 urê + 1/2 kali (bón khi ngô 3-4 lá); lần 2: 1/3 urê +1/2 kali (bón khi ngô 7-9 lá)

- Chăm sóc và bảo vệ thực vật: Giống như canh tác ngô trên đất bằng

- Thu hoạch: Chỉ thu bắp, giữ lại toàn bộ thân, lá ngô và tàn dư làm vật liệu phủ cho vụ sau Trước khi gieo ngô vụ sau chỉ cần sửa qua bề mặt bậc thang cho phẳng là được

2.4.2.2 Kỹ thuật canh tác ngô và biện pháp nâng cao độ che phủ đất

Các kỹ thuật nâng cao độ che phủ đất và canh tác theo kiểu làm đất tối thiểu trên đất dốc có thể giúp chúng ta sử dụng hiệu quả những tiềm năng của vùng cao để tăng và ổn định năng suất cây trồng mà vẫn bảo tồn được tài nguyên đất và nước để canh tác lâu dài

a/ Kỹ thuật canh tác ngô có che phủ bằng lớp xác thực vật chết

* Các loại vật liệu che phủ gồm:

-Tàn dư cây trồng: rơm, rạ, thân lá ngô, lá mía, thân lá đậu đỗ.

-Thân lá thực vật hoang dại: cỏ dại, cỏ lào, cúc quỳ

-Các loài cỏ chăn nuôi sinh khối lớn: Brachiaria, Panicum, Paspalum,

Pennisetum, Tripsacum, v.v

* Chuẩn bị ruộng:

Ngày đăng: 15/01/2016, 22:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2. Ảnh hưởng của che phủ đất đến độ xói mòn đất - XÓI mòn đất và kỹ THUẬT CANH tác NGÔ TRÊN đất dốc VÙNG núi tây bắc VIỆT NAM
Bảng 2. Ảnh hưởng của che phủ đất đến độ xói mòn đất (Trang 14)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w