1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TÌM HIỂU QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI THAM GIA LAO ĐỘNG TRONG LUẬT LAO ĐỘNG HIỆN HÀNH Ở VIỆT NAM

16 437 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 481,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nhiều năm qua, chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, quy định chi tiết những điều cụ thể của Bộ Luật Lao động, nhằm tạo ra các cơ chế pháp lý phù hợp, bảo vệ quyền và lợi ích hợp

Trang 1

Khoa: Kinh Tế Vận Tải Môn: Quản trị nhân sự

oOo

BÀI TẬP LỚN

ĐỀ BÀI: TÌM HIỂU QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG KHI THAM GIA LAO ĐỘNG TRONG LUẬT LAO ĐỘNG HIỆN HÀNH Ở VIỆT

NAM

GVHD : Phạm Thị Nga SVTH : Trần Thị Hồng Nhung LỚP : KT09B

MSSV : 0954010108

TP.HCM Tháng 4 năm 2012

Trang 2

Trần Thị Hồng Nhung – 0954010108 1

Mục Lục LỜI MỞ ĐẦU 2

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 3

1.1 Mối quan hệ lao động 3

1.2 Khách thể của quan hệ pháp luật lao động: 4

CHƯƠNG 2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG 6

2.1 Người lao động có các quyền cơ bản sau: 6

2.1.1 Người lao động được trả lương theo số và chất lượng lao động: 6

2.1.2 Người lao động được đảm bảo an toàn trong khi làm việc: 7

2.1.3 Người lao động được bảo hiểm xã hội theo quy định của Nhà nước: 9

2.1.4 Người lao động được nghỉ ngơi theo pháp luật quy định và theo thoả thuận giữa các bên: 10

2.1.5 Người lao động có quyền được thành lập hoặc gia nhập tổ chức công đoàn: 10 2.2 Người lao động có những nghĩa vụ phải thực hiện: 11

2.2.1 Thực hiện các quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động và chấp hành kỷ luật lao động: 11

2.2.2 Người lao động phải tuân thủ sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động: 13 KẾT LUẬN 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 3

Trần Thị Hồng Nhung – 0954010108 2

LỜI MỞ ĐẦU

Bộ luật lao động nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã được Quốc hội nước ta khóa IX, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 23 tháng 6 năm 1994, sau đó có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1995 Đây là một Bộ Luật có ý nghĩa rất to lớn trong đời sống xã hội ở nước ta Nó đã thể chế hóa đường lối chính sách, chủ trương của Đảng

về vấn đề lao động đối với tất cả các thành phần kinh tế đang tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị trường ở nước ta

Trong nhiều năm qua, chính phủ đã ban hành nhiều nghị định, quy định chi tiết những điều cụ thể của Bộ Luật Lao động, nhằm tạo ra các cơ chế pháp lý phù hợp, bảo

vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và những lợi ích liên quan đến toàn xã hội Bộ luật lao động đề cập đến các lĩnh vực cơ bản như: chế

độ tuyển dụng, thôi việc, ngừng việc, vấn đề tiền lương, phụ cấp hưu trí và nghỉ mất sức, vấn đề sử dụng lao động trong các doanh nghiệp liên doanh, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,.v.v… đồng thời cũng đề cập đến những vấn đề kỉ luật lao động, chế độ trách nhiệm và các thủ tục giải quyết các tranh chấp về lao động, quyền lợi của người lao động, quyền lợi của người lao động trong các doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản

Nhận thức rõ quyền lợi và nghĩa vụ của mình sẽ giúp người lao động chủ động hơn trong khi kí hợp đồng và tham gia lao động Vì thế, việc tìm hiểu chính sách, chế

độ, quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động là rất cần thiết

Với đề tài tiểu luận: “Quyền và nghĩa vụ của người lao động theo qui định của pháp luật Việt Nam”, em xin phân tích và nêu ra những nội dung cơ bản nhất về quyền

và nghĩa vụ của người lao động theo sự hiểu biết của mình

Trong quá trình làm bài không thể tránh khỏi những thiếu sót, nên em rất mong những ý kiến đóng góp của thầy cô để bài viết của em thêm hoàn chỉnh hơn

Trang 4

Trần Thị Hồng Nhung – 0954010108 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Mối quan hệ lao động

Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người nhằm tạo ra một giá trị sử dụng nhất định Nhờ có lao động mà con người tách mình ra khỏi thế giới động vật, đồng thời biết vận dụng quy luật của thiên nhiên để chinh phục lại thiên nhiên

Lao động của con người bao giờ cũng nằm trong một hình thái kinh tế - xã hội nhất định, bởi vì trong quá trình lao động con người không chỉ quan hệ với thiên nhiên

mà còn có quan hệ với nhau Quan hệ giữa con người với con người trong lao động nhằm tạo ra những giá trị vật chất, tinh thần phục vụ chính bản thân và xã hội gọi là quan hệ lao động Quan hệ lao động này là biểu hiện một mặt của quan hệ sản xuất và chịu sự chi phối của quan hệ sở hữu Chính vì thế, trong các chế độ xã hội khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm, tính chất của các quan hệ sở hữu thống trị mà có những phương thức tổ chức lao động phù hợp, và ở đâu có tổ chức lao động, có hợp tác và phân công lao động thì ở đó tồn tại quan hệ lao động

Trong nền kinh tế thị trường với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đã hình thành nhiều quan hệ lao động, các quan hệ lao động này ngày càng trở nên đa dạng và phức tạp, đan xen lẫn nhau Trong số các quan hệ lao động tồn tại trong đời sống xã hội, Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, tức là Luật lao động chủ yếu điều chỉnh quan hệ lao động được xác lập trên cơ sở hợp đồng lao động Đối với quan hệ lao động hình thành trên cơ sở hợp đồng lao động, pháp luật đặt ra các tiêu chuẩn, chuẩn mực hay khung pháp lý, trong đó quyền lợi của các bên được ấn định ở mức tối thiểu và nghĩa vụ ấn định ở mức tối đa Các chủ thể khi tham gia quan hệ này hoàn toàn được tự do, bình đẳng, tự nguyện, tự thỏa thuận các vấn đề

Trang 5

Trần Thị Hồng Nhung – 0954010108 4

liên quan đến quá trình lao động phù hợp với pháp luật và hiệu quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp

Chính vì thế, Điều 1 Bộ luật Lao động năm 1994 nước ta quy định : “Bộ luật lao động điều chỉnh quan hệ lao động giữa người lao động làm công ăn lương với người sử dụng lao động và các quan hệ lao động liên quan trực tiếp với quan hệ lao động” Đây

là loại quan hệ lao động tiêu biểu và cũng là hình thức sử dụng lao động chủ yếu, phổ biến trong nền kinh tế thị trường

Như vậy, khác với quan hệ lao động làm công ăn lương do Luật lao động điều chỉnh, quan hệ lao động của cán bộ, công chức làm việc trong bộ máy Nhà nước có những nét đặc trưng khác biệt, vì vậy quan hệ lao động này trước hết do Luật hành chính điều chỉnh Tuy nhiên, dưới góc độ là một quan hệ sử dụng lao động, Luật lao động cũng điều chỉnh các quan hệ lao động của cán bộ, công chức trong phạm vi phù hợp Điều 4 Bộ luật lao động quy định: “Chế độ lao động đối với công chức, viên chức Nhà nước, người giữ các chức vụ được bầu, cử hoặc bổ nhiệm, người thuộc lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân, người thuộc các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội khác và xã viên hợp tác xã do các văn bản pháp luật khác quy định nhưng tùy từng đối tượng mà được áp dụng một số uy định trong Bộ luật này”

1.2 Khách thể của quan hệ pháp luật lao động:

Trong quan hệ pháp luật lao động, việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của các chủ thể bao giờ cũng để hướng tới một mục đích, một lợi ích nào đó, và đó là khách thể của quan hệ pháp luật lao động Việc xác định đúng khách thể của quan hệ pháp luật lao động có ý nghĩa rất lớn vì nó phản ánh lợi ích, mục đích đó ở mức độ nào sẽ là yếu tố quyết định đến sự phát sinh, tồn tại hay chấm dứt quan hệ pháp luật lao động

Khi tham gia vào quan hệ pháp luật này, người lao động muốn sử dụng sức lao động của mình để có thu nhập đảm bảo cuộc sống cho họ và gia đình Còn bên sử dụng lao động cũng muốn có sức lao động để sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh hay dịch vụ Như vậy, khi thiết lập quan hệ pháp luật lao động với nhau, các bên đều hướng

Trang 6

Trần Thị Hồng Nhung – 0954010108 5

tới sức lao động của người lao động và đó chính là khách thể của mối quan hệ pháp luật này Tuy nhiên, không phải trong mọi trường hợp sức lao động đều là khách thể

mà chỉ có thể là khách thể khi sức lao động được đặt vào một tình trạng nhất định Vì vậy, muốn ổn định quan hệ pháp luật lao động, Nhà nước phải có những biện pháp, những quy định để ổn định và tăng cường sức lao động cho người lao động cũng như đảm bảo sử dụng nó hợp lý, hiệu quả và khoa học

Trang 7

Trần Thị Hồng Nhung – 0954010108 6

CHƯƠNG 2 QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG

2.1 Người lao động có các quyền cơ bản sau:

2.1.1 Người lao động được trả lương theo số và chất lượng lao động:

Phân phối theo lao động là một quy luật kinh tế khách quan Đó là sự vận dụng quy luật giá trị của nền sản xuất hàng hoá vào việc trả công lao động với ý nghĩa sức lao động là hàng hoá, tiền lương (tiền công) lầ giá cả sức lao động, tiền lương (tiền công) trả cho người lao động phải đảm bảo cho họ đủ bù đắp hao phí và duy trì cuộc sống lâu dài Xuất phát từ quan điểm, nhận thức sức lao động là hàng hoá, tiền lương là giá cả sức lao động, các quy định về tiền lương do Nhà nước ban hành phải phản ánh đúng giá trị sức lao động Tuỳ từng tính chất, đặc điểm khác nhau của từng loại lao động mà Nhà nước quy định chế độ tiền lương hợp lý và phải quán triệt nguyên tắc:

- Lao động có trình độ nghề nghiệp cao thành thạo, chất lượng cao, làm việc nhiều thì được trả công cao và ngược lại

- Những lao động ngang nhau thì phải trả công ngang nhau Tuy nhiên, ngoài việc căn cứ vào số lượng và chất lượng lao động của người lao động được biểu hiện qua thời gian lao động và trình độ nghề nghiệp hoặc số lượng và chất lượng sản phẩm làm ra, việc trả công lao động còn phải tính đến các điều kiện khác như: Thu nhập quốc dân, hoặc thu nhập của doanh nghiệp, năng suất lao động đạt được để điều tiết việc trả lương

Việc chuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch hoá tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đã làm thay đổi nhận thức về lý luận trong xây dựng chính sách tiền lương Theo cơ chế mới: Thừa nhận người lao động được tự do làm việc theo hợp đồng thoản thuận, tự do giữa các cơ sở sản xuất, nghĩa là công nhận

sự tồn tại khách quan của phạm trù sức lao động và như vậy tiền lương không chỉ thuộc phạm trù phân phối mà còn là phạm trù trao đổi, phạm trù giá trị Chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, ban hành phải xuất phát từ yêu cầu là quan tâm toàn diện tới mục đích, động cơ làm việc, các nhu cầu cũng như lợi ích kinh tế của người lao động; có

Trang 8

Trần Thị Hồng Nhung – 0954010108 7

như vậy mới khơi dậy được khả năng tiềm ẩn của người lao động để phát triển sản xuất, phát triển xã hội

Lao động của con người là một trong những yếu tố quan trọng và giữ vai trò quyết định trong quá trình sản xuất, được biểu hiện ở khả năng tư duy sáng tạo Trong điều kiện khoa học kỹ thuật phát triển và trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì xã hội nào, Nhà nước nào càng thu hút sử dụng tốt lao động sáng tạo, chất xám, càng thúc đẩy kinh tế phát triển

Chính vì vậy, khi hoạch định chính sách tiền lương cần đánh giá đúng vai trò quyết định của con người Trong nền kinh tế thị trường, tiền lương là biểu hiện bằng tiền giá trị sức lao động, là giá cả sức lao động Cũng như các thị trường khác thị trường sức lao động hoạt động theo quy luật cung cầu Mọi công dân có quyền thuê mướn, sử dụng sức lao động và trả công phù hợp với giá trị sức lao động theo đúng pháp luật Nhà nước

2.1.2 Người lao động được đảm bảo an toàn trong khi làm việc:

Những quy định về an toàn lao động và vệ sinh lao động được Nhà nước thống nhất quy định và tiêu chuẩn hoá Có hai loại tiêu chuẩn: Tiêu chuẩn cấp Nhà nước và tiêu chuẩn cấp ngành

- Tiêu chuẩn cấp Nhà nước là những tiêu chuẩn bắt buộc thi hành cho nhiều ngành, nhiều nghề trong phạm vi cả nước Các tiêu chuẩn này do Chính phủ hoặc cơ quan được Chính phủ uỷ quyền ban hành Đối tượng áp dụng tiêu chuẩn này bao gồm tất cả các cơ sở tư nhân, tổ chức sản xuất kinh doanh dịch vụ, nghiên cứu khoa học; các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, lực lượng vũ trang có sử dụng, vận chuyển, lưu giữ máy thiết bị, vật tư, chất phóng xạ, thuốc

nổ, hoá chất, nhiên liệu, điện… có sử dụng lao động trên lãnh thổ Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế, không phân biệt quy mô tổ chức lớn hay nhỏ, nhiều hay ít lao động và người quản lý là công dân Việt Nam hay nước ngoài

Trang 9

Trần Thị Hồng Nhung – 0954010108 8

- Tiêu chuẩn cấp ngành, cấp cơ sở là tiêu chuẩn do cơ quan quản lý cấp ngành ban hành phù hợp với các tiêu chuẩn của Nhà nước và có giá trị bắt buộc thi hành trong phạm vi đối tượng mà tiêu chuẩn quy định áp dụng

Mặt khác, khi xây dựng mới hoặc mở rộng, cải tạo cơ sở để sản xuất, sử dụng, bảo quản, lưu giữ các loại máy thiết bị, vật tư và các chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh phải có luận chứng về các biện pháp đảm bảo an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động và môi trường xung quanh Luận chứng này phải được các cơ quan thanh tra Nhà nước về an toàn lao động, vệ sinh lao động chấp thuận trên cơ sở những quy trình được ghi trong các tiêu chuẩn về an toàn lao động và tiêu chuẩn vệ sinh lao động

Bất cứ đơn vị sử dụng nào, nơi làm việc cũng phải đảm bảo về không gian, độ thoáng, độ sáng, tiêu chuẩn vệ sinh cho phép về hơi, khí độc, bụi, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung và các yếu tố có hại khác Các yếu tố đó phải được kiểm tra,

đo lường định kỳ Nghiêm cấm việc thải vào không khí, nguồn nước hoặc đất đai các chất gây độc hại khi việc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép

Nơi làm việc, nơi đặt máy thiét bị, nơi có chất nguy hại phải có bảng chỉ dẫn về

an toàn lao động, vệ sinh lao động và phải đặt ở vị trí mọi người dễ thấy, dễ đọc; trong trường hợp có nguy cơ gây tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, phải thực hiện ngay những biện pháp khắc phục nguy cơ đó hoặc phải ngừng hoạt động

Người lao động làm việc ở những nơi có các yếu tố nguy hiểm, độc hại phải được cung cấp những phương tiện bảo vệ cá nhân – đó là những trang bị mà người lao động sử dụng để phòng ngừa, hạn chế sự tác động của các yếu tố nguy hiểm, độc hại

có thể dẫn đến tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Các phương tiện bảo vệ cá nhân được Nhà nước tiêu chuẩn hoá về chất lượng và quy cách

Mọi người lao động, không phân biệt công dân Việt Nam hay người nước ngoài làm những công việc có yếu tố nguy hiểm, độc hại dưới bất kỳ hình thức nào trong mọi thành phần kinh tế đều được người sử dụng lao động trang bị các phương tiện cá nhân

Trang 10

Trần Thị Hồng Nhung – 0954010108 9

cần thiết cho việc phòng ngừa tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp Người lao động có trách nhiệm sử dụng, bảo quản tốt các phương tiện bảo vệ cá nhân

2.1.3 Người lao động được bảo hiểm xã hội theo quy định của Nhà nước:

Bảo hiểm xã hội là một hoạt động không thể thiếu được trong đời sống xã hội

và càng không thể thiếu đối với người lao động, đó là một đảm bảo rất quan trọng và

có ý nghĩa thiết thực, góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động trong những trường hợp rủi ro Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến công tác bảo hiểm và thực hiện bảo hiểm xã hội đối với người lao động Quyền được hưởng bảo hiểm xã hội là một trong những quyền cơ bản của người lao động được pháp luật ghi nhận và bảo vệ Nhà nước và các đơn vị sử dụng lao động có trách nhiệm thực hiện các chế độ bảo hiểm đối với người lao động Điều 56 Hiến pháp 1992 quy định: “…Nhà nước quy định thời gian lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi, và chế độ bảo hiểm xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động” Để đảm bảo quyền lợi bảo hiểm xã hội của người lao động, Luật lao động không chỉ quy định quyền được hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất, mà còn quy định trách nhiệm của Nhà nước, các đơn vị sử dụng lao động trong việc đóng góp bảo hiểm và thực hiện các chế độ bảo hiểm cho người lao động Các quyền và nghĩa vụ của người lao động, Nhà nước và các đơn vị sử dụng lao động được ghi nhận, quy định tại các điều 140, 141, 142, 143, 144,

145, 146, và 148 của Bộ Luật Lao động Thể hiện nội dung của nguyên tắc này, các quy định của Luật lao động phải đảm bảo cho người lao động trong mọi thành phần kinh tế không phân biệt nghề nghiệp, thành phần xã hội, tôn giáo, giới tính, nếu có tham gia vào quan hệ lao động, có đóng góp bảo hiểm xã hội thì đều được đảm bảo các điều kiện về vật chất trong trường hợp tạm thời hoặc vĩnh viễn mất sức lao động, mất việc làm nhằm giúp họ khắc phục khó khăn, ổn định đời sống, tạo điều kiện để họ an tâm lao động, thúc đẩy sản xuất phát triển

Ngày đăng: 15/01/2016, 19:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w