Ở khía cạnh khác, thị trường lao động phát triển sẽ cung cấp thông tin hữu ích để cácnhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư vào lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và các cơ sở giáodục nghề n
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cần thiết của đề tài
Các yếu tố cung, cầu, giá cả sức lao động, thông tin thị trường là những yếu tố cơbản của thị trường lao động Chúng có mối quan hệ qua lại chặt chẽ với nhau Giải quyết hàihòa các mối quan hệ này sẽ tác động rất lớn đến tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và pháttriển nguồn nhân lực Phát triển thị trường có nghĩa là làm tăng nguồn cung và cầu lao động,thông tin thị trường thông suốt và các giao dịch diễn ra thuận lợi và nhanh chóng Nhờ vậy,một khi thị trường lao động phát triển sẽ làm tăng khả năng kiếm được việc làm của ngườilao động và khả năng tuyển dụng lao động của doanh nghiệp, kết nối được cung cầu laođộng Việc sử dụng nguồn lực xã hội trở nên hiệu quả hơn do nhà đầu tư có nhiều thông tin
để đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý, người lao động quyết định công việc mà có thể khaithác tốt nhất năng lực của họ
Ở khía cạnh khác, thị trường lao động phát triển sẽ cung cấp thông tin hữu ích để cácnhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư vào lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và các cơ sở giáodục nghề nghiệp đưa ra các quyết định đào tạo đối với những nghề thị trường có sức cầu lớn.Đồng thời thông tin thị trường lao động còn có tác dụng điều chỉnh hành vi của người laođộng trong việc tự định hướng học nghề, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật
Có thể nói, thông tin thị trường còn có tác dụng làm khơi dậy nguồn cung nhân lực tiềmnăng của thị trường Trong một không gian kinh tế nhất định, cơ hội việc làm tốt hơn (nhờphát triển thị trường) sẽ làm nảy sinh dòng dịch chuyển lao động từ bên ngoài vào làm giatăng nguồn cung lao động Như vậy có thể nói thực hiện các biện pháp phát triển thị trườnglao động cũng có tác động tốt đối với phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng kinhtế
Về lý thuyết, thông tin thị trường lao động là một mạng lưới thông tin đặc biệt là hìnhthức liên kết giữa các nguồn thông tin về thị trường lao động từ các tổ chức, cá nhân có chứcnăng và nhiệm vụ sản xuất, lưu trữ, phổ biến và sử dụng thông tin thị trường lao động (ngườilao động, đơn vị sử dụng lao động, tổ chức giới thiệu việc làm, cơ sở đào tạo, cơ quan hoạchđịnh chính sách,…)
Thông tin cơ bản về thị trường lao động thường bao gồm: thông tin về cung – cầu laođộng, tiền công/tiền lương, về đào tạo dạy nghề, thất nghiệp, thiếu việc làm, chỗ làm việcmới, chỗ làm việc trống v.v…
Hệ thống thông tin thị trường lao động hiệu quả với thông tin đầy đủ, cập nhậtthường xuyên, độ tin cậy cao sẽ đáp ứng tốt cho việc quản lí vĩ mô và điều chỉnh các hoạtđộng của thị trường, thúc đẩy thị trường lao động phát triển Hệ thống thông tin thị trườnglao động hiệu quả là phải phù hợp, dễ hiểu, dễ tiếp cận phù hợp với mọi đối tượng đáp ứngnhu cầu của người sử dụng thông tin; có khả năng nhìn thấy được và giúp ứng phó nhanh với
Trang 2những thay đổi của thị trường lao động (ví dụ khủng hoảng tài chính dẫn đến nguy cơ mấtviệc làm); sử dụng nhiều kênh để phổ biến thông tin một cách kịp thời chân thật nhất.
Các nhà hoạch định chính sách thường sử dụng thông tin thị trường lao động vànhững dự báo xu hướng thị trường để đưa ra các chính sách mới và sửa đổi các chính sáchhiện hành như xây dựng các chương trình khuyến khích phát triển nguồn nhân lực, thực hiệnnhững cải cách trong dạy nghề, các chính sách tạo việc làm để đáp ứng sự thay đổi của thịtrường lao động
Phát triển thị trường lao động với nội dung cơ bản là giải quyết mối quan hệ giữacung và cầu lao động, giá cả sức lao động Mục tiêu chính sách của việc phát triển thị trườnglao động là đảm bảo công ăn việc làm cho người lao động, tăng tỷ lệ người lao động có việclàm ổn định, chắp nối việc làm hiệu quả, đảm bảo thực hiện bảo hiểm thất nghiệp có hiệuquả, sử dụng hiệu quả các quỹ hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm, tự tạo việc làm
Trong những năm gần đây, Bộ LĐ-TBXH đã đẩy mạnh thực hiện các chính sách pháttriển thị trường lao động Năm 2008, Bộ đã thành lập Trung tâm quốc gia dự báo và thôngtin thị trường lao động để nghiên cứu xây dựng mô hình dự báo cung cầu lao động và xâydựng hệ thống thông tin thị trường lao động cấp quốc gia nhằm khắc phục những bất cập,mất cân đối trong cung – cầu lao động Trước mắt, Bộ đang triển khai các hoạt động đầu tưnâng cao năng lực và hiện đại hóa hệ thống Trung tâm Giới thiệu việc làm; hỗ trợ các địaphương tổ chức giao dịch việc làm, đặc biệt là vận hành sàn giao dịch việc làm; hoạt động tổchức điều tra thị trường cầu lao động, xây dựng cơ sở dữ liệu về thị trường lao động tiến tớitriển khai trên phạm vi cả nước vào năm 2010
Ở cấp tỉnh, trước những đòi hỏi bức thiết từ thực tế quản lý thị trường lao động,Thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thịtrường lao động vào tháng 7/2009 và đang có những bước triển khai xây dựng giải pháp pháttriển hệ thống dự báo và thông tin thị trường lao động Một số tỉnh khác có thị trường laođộng phát triển như Bình Dương, Đồng Nai và một số tỉnh phía Bắc đang nghiên cứu xâydựng mô hình trên để giải quyết các vấn đề dự báo và thông tin thị trường lao động cấp địaphương
Ở Tiền Giang, thị trường lao động, hệ thống thông tin thị trường đang dần hình thành
và phát triển Do vậy, chưa tạo được sự gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp, cơ sở đào tạo,người lao động, người học nghề trong quá trình tuyển dụng, đào tạo bởi các bên chưa có đầy
đủ thông tin lẫn nhau về nhu cầu việc làm, học nghề, tuyển dụng, năng lực đào tạo Thực tếnày đòi hỏi phải có giải pháp xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động để đáp ứngnhu cầu thông tin của các bên sử dụng, đồng thời giúp thị trường lao động phát triển Mặtkhác, quá trình phát triển kinh tế xã hội nói chung và công nghiệp hóa nói riêng ngày càngtạo sức cầu lớn và đa dạng về nguồn nhân lực Để đảm bảo nguồn nhân lực cho tăng trưởngtrong dài hạn đòi hỏi phải có dự báo dài hạn về nguồn cung, cầu nhân lực từ đó có những
Trang 3giải pháp phát triển nguồn nhân lực và những điều chỉnh nhất định chiến lược phát triển kinh
tế, gắn kết giữa cung cầu nhân lực
Năm 2008, Ủy ban Nhân nhân tỉnh đã bổ sung nhiệm vụ và biên chế cho Trung tâmGiới thiệu việc làm Tiền Giang thành lập bộ phận chuyên trách thực hiện nhiệm vụ thông tin
và dự báo thị trường lao động Tuy nhiên, để đơn vị này hoạt động có hiệu quả cần thiết cónhững nghiên cứu cơ bản về mô hình hoạt động, cơ cấu tổ chức và cách thức vận hành hệthống thông tin thị trường lao động của một đơn vị có chức năng thông tin và dự báo thị
trường lao động trên địa bàn tỉnh Đề tài “ Dự báo cung cầu lao động và xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động tỉnh Tiền Giang giai đoạn 2010-2020” hy vọng sẽ
đóng góp tích cực vào việc nghiên cứu này
2 Mục tiêu của đề tài
- Dự báo nguồn cung và nhu cầu nhân lực phát triển kinh tế xã hội tỉnh Tiền giang giaiđoạn 2010-2020 làm cơ sở cho việc xây dựng chiến lược, chính sách, giải pháp phát triểnnhân lực của tỉnh (dự báo dài hạn)
- Nghiên cứu, xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động trên địa bàn tỉnh và khuvực nhằm cung cấp thông tin thị trường lao động chính xác, kịp thời, có chất lượng chongười có nhu cầu sử dụng (cơ quan quản lý, doanh nghiệp, người lao động, cơ sở đào tạo,học sinh,…)
- Đề xuất giải pháp phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nhân lực qua đào tạo đảm bảo
sự gắn kết giữa cung và cầu nhân lực
3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài vận dụng các phương pháp sau: khảo sát, phân tích tổng hợp, thống kê mô tả, lấy
ý kiến chuyên gia và áp dụng một số mô hình dự báo dân số, cung - cầu lao động,…
Trang 4PHẦN I THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
VÀ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG
TỈNH TIỀN GIANG
1 Khái quát tình hình kinh tế, xã hội tỉnh Tiền Giang
1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Tiền Giang là một tỉnh thuộc vùng ĐBSCL và đồng thời thuộc vùng KTTĐPN PhíaBắc và Đông Bắc giáp Long An và TP Hồ Chí Minh, phía Tây giáp Đồng Tháp, phía Namgiáp Bến Tre và Vĩnh Long, phía Đông giáp biển Đông, nằm trải dọc trên bờ Bắc sông Tiền,với chiều dài 120 km Diện tích tự nhiên 2.481,77 km2, chiếm khoảng 6% diện tích ĐBSCL
và 8,1% diện tích vùng KTTĐPN Tiền Giang có 10 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 8huyện (trong đó 1 huyện mới tách ra vào tháng 6/2008), thành phố Mỹ Tho và thị xã GòCông Dân số trung bình năm 2008 1.749.992 người, mật độ dân số 704 người/km2
Nằm trong vùng KTTĐPN, với hạt nhân thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang có cơhội lớn trong việc tiếp cận thị trường, thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật, kinhnghiệm quản trị và thông tin, đồng thời thừa hưởng lợi thế của người đi sau với vai trò là một
vệ tinh của TPHCM
Tiền Giang có mạng lưới giao thông đường bộ quan trọng với 4 tuyến quốc lộ chính(1A, 30, 50, 60), đường cao tốc TP HCM – Trung Lương và hai cầu huyết mạch Mỹ Thuận,Rạch Miễu, là tỉnh nối liền hai miền Đông - Tây Nam bộ; cùng với hệ thống các sông, bờbiển, cảng biển tạo thuận lợi cho phát triển giao thông thủy bộ, vận tải biển, giao lưu trao đổihàng hoá với tỉnh trong vùng, cả nước và khu vực Đông Nam Á
Tiền Giang có địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa trung tính chiếm khoảng53% diện tích toàn tỉnh, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện, cơ cấu cây trồng vậtnuôi phong phú, đa dạng và có điều kiện sinh trưởng nhanh Tuy nhiên, với tổng diện tíchđất nông nghiệp 182.720 ha, bình quân đầu người 1.076 m2, bình quân trên 1 lao động nôngnghiệp 2.925 m2 và có xu hướng giảm dần bởi áp lực gia tăng dân số, đặt ra yêu cầu cấp thiếtđối với Tiền Giang phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
Về tài nguyên, Tiền Giang có hơn 6 triệu m3 mỏ đất sét, trên 1 triệu m3 than bùn vàhơn 93 triệu m3 mỏ cát sông Tài nguyên thủy sản khá đa dạng gồm thủy sản nước ngọt, thủysản nước lợ và hải sản; tài nguyên rừng gồm rừng ngập mặn ven biển, rừng tràm tái sinhvùng Đồng Tháp Mười Nhìn chung, nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối nghèo nàn.Tiền Giang có tiềm năng khá về du lịch, với các di tích văn hóa lịch sử và sinh thái như ditích văn hóa Óc Eo, Gò Thành, di tích lịch sử Rạch Gầm- Xoài Mút, Ấp Bắc, lũy Pháo Đài,
Trang 5nhiều lăng mộ, đền chùa… và các điểm du lịch sinh thái ở Cù lao trên sông Tiền, vùng ĐồngTháp Mười và biển Gò Công.
1.2 Kinh tế - xã hội
Kinh tế Tiền Giang thời gian qua tăng trưởng tương đối khá Tổng sản phẩm nội địa(GDP) trên địa bàn tỉnh năm 2008 là 24.895 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn1996-2005 là 8,54% (tính theo giá so sánh 1994), cao hơn bình quân cả nước (7,23%), xấp xỉmức tăng bình quân của các tỉnh thuộc vùng KTTĐPN Giai đoạn 2006-2008 tăng trưởng11,77 % Trong đó, khu vực công nghiệp xây dựng, giai đoạn 2001-2005 tăng bình quân16,7%; 2006-2008 tăng đến 22,12% GDP bình quân đầu người 478 USD, bằng 96% so vùngĐBSCL và bằng 74,7% so cả nước Quy mô và nhịp độ tăng GDP cho ở bảng 1.1 và bảng1.2
Bảng 1.1 Quy mô GDP các ngành giai đoạn 1996-2008
Đơn vị: tỷ đồng, giá hiện hành
Nguồn: Niên giám thống kê 2000, 2007, Cục Thống kê Tiền Giang.
Bảng 1.2 Nhịp độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1996-2008
Trang 6Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch tích cực, tỷ trọng các ngành phi nông nghiệp tăngkhá nhanh Từ năm 2002, KCN Mỹ Tho và sau đó KCN Tân Hương cũng chính thức đi vàohoạt động, công nghiệp Tiền Giang có bước phát triển khá mạnh Một số KCN khác nhưLong Giang, Gia Thuận, Tàu Thủy Soài Rạp, KCN Dịch vụ dầu khí, đã đồng loạt triển khai
từ năm 2008, và các KCN giai đoạn sau năm 2010 sẽ tạo bước đột phá mới cho công nghiệpTiền Giang trong những năm sắp tới, đồng thời đặt ra yêu cầu lớn đối với nguồn nhân lực,đặc biệt là nguồn nhân lực được đào tạo nghề Tuy nhiên, đến thời điểm này, khu vực nôngnghiệp vẫn còn chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế với 44,79%, so với cả nước là 20,37%(2006) Cơ cấu kinh tế giai đoạn 1995-2007 được làm rõ ở bảng 1.3
Bảng 1.3 Cơ cấu kinh tế giai đoạn 1995-2008
Nguồn: Niên giám thống kê 2000, 2007, Cục Thống kê Tiền Giang.
Tiền Giang chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đã khơi dậy và phát huycác nguồn lực, nhất là nguồn lực trong dân thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên đối vớinguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài còn khá khiêm tốn, tổng vốn đăng ký 493 triệu USD,trong đó vốn thực hiện đến năm 2008 164,9 triệu USD GDP từ khu vực này chỉ chiếm 4,2%tổng GDP toàn tỉnh Hạn chế này làm ảnh hưởng đến quá trình tiếp nhận, chuyển giao côngnghệ mới, nhân tố thúc đẩy phát triển chất lượng nguồn nhân lực
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 3.503 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký: 10.680 tỷ đồng,trong đó có 711 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, chiếm 20,29% tổng số doanh nghiệptrong tỉnh Trong tổng số doanh nghiệp có 2.708 doanh nghiệp tư nhân, 599 công ty TNHH,
100 Công ty TNHH 1 thành viên, 96 công ty cổ phần Có 93 Hợp tác xã, quỹ tín dụng nhândân với tổng vốn hoạt động hơn 797 tỷ đồng Gồm 16 hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, 38hợp tác xã nông nghiệp, 10 hợp tác xã thương mại dịch vụ, 10 hợp tác xã vận tải, còn lại làhợp tác xã thủy sản và quỹ tín dụng nhân dân Các hợp tác xã và quỹ tín dụng nhân dân vớihơn 40.000 xã viên và tạo thêm việc làm cho hơn 25.000 lao động
Bảng 1.4 Cơ cấu GDP phân theo thành phần kinh tế
Đơn vị tính: %
Trang 72 Kinh tế tập thể 0,5 1,7 1,1 1,3
5 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 4,6 2,0 2,5 4,2
Nguồn: Niên giám thống kê 2000, 2007, Cục Thống kê Tiền Giang
Tổng thu ngân sách năm 2008 là 3.255 tỷ đồng, trong đó thu trên địa bàn 1.959 tỷđồng Vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2001-2008 là 38.196,83 tỷ đồng, chiếm 35% trênGDP, trong đó năm 2008 là 8.474 tỷ đồng, chiếm 34,04%
Về giáo dục, Tiền Giang đã đạt được những thành tựu nhất định Cuối năm 2004, tỉnhđạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và đến tháng 12/2005, toàn tỉnh đạt chuẩnphổ cập giáo dục THCS Cuối năm 2006, số học sinh phổ thông đạt 1.659 em/ 1 vạn dân,thấp hơn bình quân vùng ĐBSCL (1.688), vùng KTTĐPN (1.715), cả nước (1.932) Điềunày có thể lý giải do lượng trẻ em trong độ tuổi tiểu học giảm mạnh, do Tiền Giang sớm đạtđược những thành tựu trong chương trình kế hoạch hóa gia đình so với nhiều tỉnh Tuynhiên, số học sinh THPT chỉ đạt 266 em trên 1 vạn dân, xấp xỉ vùng ĐBSCL (261) và thấphơn nhiều so với vùng KTTĐPN (300), cả nước (365) Là tỉnh đứng áp chót trong các tỉnhvùng KTTĐPN, và thấp hơn các tỉnh có đường ranh giới chung Tiền Giang như Vĩnh Long(361), Bến Tre (315) và Long An (297), phải chăng Tiền Giang chưa tập trung cao cho giáodục THPT (Phụ lục 11)
Tiền Giang có hệ thống các cơ sở y tế khá phát triển, ngoài hệ thống các bệnh việntrung tâm tỉnh, khu vực, các huyện, trạm y tế các xã (100% xã đều có trạm y tế), tỉnh còn cócác bệnh viện chuyên khoa như tâm thần, lao, mắt, phụ sản, y học cổ truyền Các chươngtrình chăm sóc sức khỏe ban đầu, công tác dân số, gia đình và trẻ em đạt kết quả khá tốt, tỷ
lệ sinh giảm nhanh hơn so với bình quân các tỉnh trong vùng Tuy nhiên, nhìn chung cơ sởvật chất cho công tác chăm sóc sức khỏe chưa đạt yêu cầu, chất lượng phục vụ chưa cao, sốlượng giường bệnh/ 1 vạn dân chỉ đạt 17,6 giường, cao hơn trung bình vùng ĐBSCL (16,9),nhưng thấp vùng KTTĐPN (22,4) và cả nước (21) Số bác sĩ / 1 vạn dân 4,0 bác sĩ, thấp hơnvùng ĐBSCL (4,2), vùng KTTĐPN (5,2) và cả nước (5,0) (Phụ lục 13)
Thu nhập bình quân đầu người/tháng năm 2008 của dân cư Tiền Giang 1.074.000đồng, trong đó thu nhập từ nông, lâm, ngư nghiệp chiếm đến 36% (cả nước năm 2004:27,54%) cho thấy người dân Tiền Giang dựa vào nguồn lợi nông nghiệp là chủ yếu Tổng chitiêu bình quân đầu người /tháng năm 2008 là 765.000 đồng, trong đó chi cho ăn, uống, hútchiếm 46,3%, tỷ trọng chi ngoài ăn uống có tăng lên nhưng rất chậm Tỷ lệ hộ nghèo năm
2008 là 9,3% Tình trạng nhà ở trong cư dân được cải thiện, nhưng năm 2005 còn đến 33,1%nhà tạm với điều kiện sống, vệ sinh không được đảm bảo Năm 2008, tỷ lệ hộ dân sử dụngđiện là 99,8%, tỷ lệ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh là 79,4%, tỷ lệ sử dụng hố xí hợp vệsinh là 38,1%, một bộ phận dân cư ở vùng nông thôn, xa trung tâm không có điều kiện tiếp
Trang 8TP Mỹ Tho 10%
TX Gò Công 6%
H Cái Bè 17%
H Tân Phước 3%
H.châu Thành 15%
H.Chợ Gạo 11%
H.Gò Công Tây
8%
H.Cai Lậy 19%
H.Gò Công Đông 8%
H.Tân Phú Đông 3%
cận các phúc lợi xã hội Điều kiện thu nhập và điều kiện sống như vậy sẽ là trở ngại đáng kể
cho Tiền Giang trong quá trình nâng cao chất lượng cuộc sống, tình trạng sức khỏe, một yếu
tố phản ánh chất lượng nguồn nhân lực.
An ninh trật tự an toàn xã hội, môi trường, vệ sinh đô thị được đánh giá khá tốt so vớicác tỉnh trong khu vực Đây là nhân tố tích cực tạo môi trường thuận lợi để phát triển du lịch,nghỉ dưỡng, thu hút cư dân từ bên ngoài, đặc biệt cư dân từ các thành phố công nghiệp vàthu hút nguồn nhân lực trình độ cao
2 Thực trạng phát triển thị trường lao động tỉnh Tiền Giang
2.1 Thực trạng phát triển dân số - yếu tố ảnh hưởng đến nguồn cung nhân lực của thị trường lao động
2.1.1 Quy mô và tốc độ tăng dân số
Tiền Giang là một tỉnh đông dân, có quy mô lớn thứ 2 trong các tỉnh vùng ĐBSCL,sau An Giang Năm 2008, dân số trung bình 1.749.992 người, chiếm khoảng 9,72% dân sốvùng ĐBSCL, 9,75% dân số vùng KTTĐPN và 1,95% dân số cả nước Mật độ dân số 704người/km2, cao gấp 1,61 lần trung bình vùng ĐBSCL và 2,72 lần so với trung bình cả nước.Tiền Giang có mật độ dân số đứng thứ hai trong vùng, sau Vĩnh Long Trong 10 năm (1996-2005) dân số tăng 118.144 người, tốc độ tăng bình quân 7,23%o/năm (cả nước 14,5%o) Giaiđoạn 2006-2008 tăng 51.141 người, tốc độ tăng 9,94%o/năm
Mức sinh dân số Tiền Giang giảm khá nhanh, trong 13 năm (1995-2008) tỷ lệ sinhgiảm từ 25,25%o xuống còn 16,5%o, bình quân mỗi năm giảm 0,67%o, trong đó giai đoạn2005-2008 giảm 0,18%o Mức giảm sinh chậm hơn trong những năm gần đây, cho thấy việcthực hiện giảm sinh ngày càng khó khăn hơn khi gần đạt mức sinh thay thế Với tỷ lệ chếtbiến động không lớn - bình quân 5%o/năm, nên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm cùng mức độvới tỷ lệ sinh, từ 18,82%o năm 1995 xuống 11,29%o năm 2008 (Phụ lục 1)
2.1.2 Đặc điểm và cơ cấu dân số
- Cơ cấu dân số theo đơn vị hành chánh
Nguồn: Niên giám Thống kê
2008, Cục Thống kê Tiền Giang
Trang 9Biểu đồ 1.1 cho thấy, qui mô dân số theo đơn vị hành chánh khá đều, ngoại trừ huyệnTân phú Đông và huyện Tân Phước có qui mô khoảng 3% dân số toàn tỉnh Riêng huyện TânPhước thuộc vùng Đồng Tháp Mười bị nhiểm phèn nặng và thường xuyên ngập lũ nên dùtỉnh đã tập trung cải tạo nhằm phân bổ lại dân cư nhưng qui mô và mật độ dân cư còn thấp
168 người/km2 (Biểu đồ 1.2)
Biểu đồ 1.2: Mật độ dân số theo đơn vị hành chánh năm 2008
3.737 979
168
702 762 1.028 814 765 547 217
TP Mỹ Tho
TX Gò Công
H Tân Phước
H Cái Bè H.Cai Lậy H.châu Thành
H.Chợ Gạo H.Gò Công Tây
H.Gò Công Đông
H.Tân Phú Đông
TP Mỹ Tho là trung tâm hành chính, kinh tế của tỉnh nên mật độ dân số rất cao 3.737người/ km2, các huyện còn lại không chênh lệch lớn về mật độ dân số Điều đáng quan tâm làhầu hết các huyện có mật độ dân số cao, bình quân đất nông nghiệp trên đầu người rất thấp,trong khi kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp nên đặt ra nhiều vấn đề đối với tỉnh về đầu
tư, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo việc làm, tăng năng suất lao động và thu nhập
- Cơ cấu dân số thành thị - nông thôn
Trong giai đoạn 1996-2008, dân số thành thị tăng bình quân 1,92%/năm, nông thôntăng 0,61%/năm, tạo nên sự chuyển dịch cơ cấu dân số thành thị - nông thôn từ 12,8%-87,2% (1995) lên 14,9% - 85,1% (2008) Tuy nhiên, tỷ lệ này thay đổi không nhiều, (thấphơn nhiều so với cả nước, vùng KTTĐPN và cả vùng ĐBSCL) cho thấy tốc độ đô thị hoácũng như mức độ phát triển chậm của kinh tế Tiền Giang, đặc biệt là phát triển sản xuất côngnghiệp, dịch vụ
Bảng 1.5 Tỷ lệ dân số thành thị giai đoạn 1995-2008
Đơn vị tính: %
Trang 102 Cả nước 20,75 24,18 26,88 27,12 na
Nguồn : Niên giám thống kê 2000, 2006, Tổng cục Thống kê.
Niên giám thống kê 2000, 2006, 2008, Cục Thống kê Tiền Giang.
- Cơ cấu dân số theo độ tuổi
Bảng 1.6 C c u dân s Ti n Giang theo nhóm tu iơ cấu dân số Tiền Giang theo nhóm tuổi ấu dân số Tiền Giang theo nhóm tuổi ố Tiền Giang theo nhóm tuổi ền Giang theo nhóm tuổi ổi
Nguồn: Tổng điều tra dân số ngày 1/4/1999, Điều tra biến động dân số ngày 1/4/2006, Tổng cục Thống kê.
Bảng 1.6 cho thấy, có sự giảm tuyệt đối và tương đối ở nhóm 0-14 tuổi Đây là nhómtuổi đi nhà trẻ, học mẫu giáo, tiểu học và THCS Sự giảm dân số ở nhóm tuổi này tạo điềukiện thuận lợi để Tiền Giang nâng chất các hoạt động giáo dục dưới tuổi phổ thông trunghọc, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, và nhờ vậy nâng cao chất lượng nguồn cung nhânlực
Nhóm 15-59 tuổi tăng 120.013 người, bình quân mỗi năm tăng hơn 17.100 người.Đây là nguồn nhân lực dồi dào bổ sung vào lực lượng lao động, là động lực phát triển kinh tế
xã hội của tỉnh, nhưng đồng thời cũng là sự thách thức đối với tỉnh trong việc giải quyết nhucầu việc làm và các vấn đề xã hội khác
Mặc dù tỷ trọng nhóm dân số dưới 15 tuổi có xu hướng giảm dần và tăng dần các nhóm tuổicòn lại Tuy nhiên, nhìn chung dân số Tiền Giang được xem là dân số trẻ
2.1.3 Xu hướng di chuyển dân cư dưới tác động của thị trường lao động
Là tỉnh đông dân, nên từ những năm 1990, số dân xuất cư ra ngoài tỉnh tìm việc khálớn, trong giai đoạn 1996-2000, chênh lệch giữa xuất cư và nhập cư trên 18.000 người/năm.Tuy nhiên xu hướng này ngày càng giảm, đến giai đoạn 2001-2008 bình quân chỉ cònkhoảng 4.000 người/năm Từ sau năm 2002, nhờ sự ra đời của nhiều doanh nghiệp thuộc cácngành thâm dụng lao động trên địa bàn Tiền Giang, làm giảm bớt sự di chuyển lao động phổthông ra ngoài tỉnh Trong thời gian này dân nhập cư vào Tiền Giang có xu hướng gia tăng.Tuy nhiên, kết quả điều tra dân số ngày 1/4/2009 (kết quả tổng hợp sơ bộ: 1.670.216 người)
Trang 11cho thấy chênh lệch giữa xuất cư và nhập cư bình quân giai đoạn 2001-2008 trên 14.000người mỗi năm.
Quan sát trong 12 tháng trước ngày 1/4/2006, tổng số dân xuất cư ra ngoài tỉnh là15.329 người, trong đó nơi đến tập trung vào các địa phương có công nghiệp, dịch vụ pháttriển để tìm cơ hội việc làm, học tập như TP HCM (11.139 người), Bình Dương (845), Long
An (670), Đồng Nai (421) Người xuất cư tập trung vào nhóm tuổi 15-29, chiếm đến 68,25%tổng số người xuất cư Tổng số dân nhập cư cùng thời gian trên là 10.735 người, trong đóTPHCM (2.865), Bến Tre (2.619), Long An (1.126), Đồng Tháp (791), Vĩnh Long (705) [].Quan sát cho thấy, dân nhập cư vào Tiền Giang chủ yếu là lao động phổ thông, số doanhnhân, lao động có kỹ năng thì không nhiều Thống kê 6 doanh nghiệp thuộc các ngành thâmdụng lao động (may, chế biến thủy sản) ở KCN Mỹ Tho có 1.216 lao động là người ngoàitỉnh, chiếm 18,67% tổng số lao động hiện có của doanh nghiệp, trong khi các doanh nghiệpthuộc các ngành khác người lao động ngoài tỉnh chiếm tỷ lệ không đáng kể (Tổng hợp từ kết
quả khảo sát 54 doanh nghiệp) Điều này đặt ra vấn đề đã đến lúc cần xác định quy mô hợp
lý các ngành thâm dụng lao động tại Tiền Giang Sự phát triển quá nóng các ngành này có nguy cơ làm ảnh hưởng đến chất lượng dân số và chất lượng nguồn nhân lực.
2.2 Thực trạng các yếu tố cung - cầu nhân lực trong thị trường lao động tỉnh Tiền Giang
2.2.1 Thực trạng nguồn cung nhân lực
2.2.1.1 Quy mô, cơ cấu nguồn cung nhân lực
Với quy mô lớn và trẻ, dân số Tiền Giang tạo sức cung lớn về lực lượng lao động.Giai đoạn 1996-2007, bình quân lực lượng lao động (dân số 15 tuổi trở lên hoạt động kinhtế) tăng 1,55%, đến năm 2007 đạt 983.251 người, tăng thêm 153.441 người so năm 1996.Trong thời gian trên, tốc độ tăng dân số bình quân chỉ là 0,81%, còn tốc độ tăng dân số trongtuổi lao động bình quân là 1,43 % Sự khác nhau này làm thay đổi cơ cấu dân số Tỷ trọnglao động trong tuổi tăng từ 61,73 % lên 66,03 % và tỷ trọng dân số từ 15 tuổi trở lên tăng từ72,89% lên 77,95% Sự gia tăng số người trong tuổi lao động cũng như dân số từ 15 tuổi trởlên là nguyên nhân chính làm tăng quy mô lực lượng lao động Tuy nhiên, tỷ lệ tham gia lựclượng lao động (dân số >= 15 tuổi hoạt động kinh tế so dân số >= 15 tuổi) gần như ổn định,xấp xỉ 72% (Bảng 1.7) Mức tăng này tạo áp lực khá lớn đối với nền kinh tế của tỉnh, sự quátải đối với nguồn cung việc làm đã dẫn đến một bộ phận dân cư ra ngoài tỉnh làm việc, tuynhiên, xu hướng này đã giảm đáng kể sau năm 2002
B ng 1.7 Quy mô l c lực lượng lao động Tiền Giang giai đoạn 1996-2007 ượng lao động Tiền Giang giai đoạn 1996-2007ng lao động Tiền Giang giai đoạn 1996-2007ng Ti n Giang giai o n 1996-2007ền Giang theo nhóm tuổi đ ạn 1996-2007
Trang 12Dân số trung bình
Lực lượng lao động (Dân số
15 + tuổi HĐKT)
Dân số
15 + tuổi HĐKT
so Dân
số 15 + tuổi (%)
Dân số trong tuổi lao động
Dân số trong tuổi LĐ
so tổng dân số (%)
Nguồn: Số liệu thống kê Lao động - Việc làm từ năm 1996 đến 2007, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.
Lực lượng lao động có xu hướng tăng dần ở các nhóm sau tuổi 35 Sau 10 năm, nhómtuổi 15-34 giảm từ 58,25 % còn 45,25 %, nhóm tuổi 35-54 tăng từ 35,70 % lên 45,72% Xuhướng già hóa lực lượng lao động vừa nêu cần phải được tính đến trong việc xác định cơ cấukinh tế ngành, quy mô các ngành cần sử dụng lao động trẻ tuổi như các ngành may, chế biếnlương thực-thực phẩm và các ngành thâm dụng lao động khác trong định hướng phát triểncông nghiệp của tỉnh (phụ lục 4)
Mặt khác, sự thay đổi cơ cấu tuổi lực lượng lao động cũng như cơ cấu dân số độ tuổilao động là nguyên nhân làm cho tỷ lệ tham gia lực lượng lao động (Dân số 15 + tuổi HĐKT
so Dân số 15 + tuổi) của Tiền Giang khá cao, dao động trên dưới 73% Trong đó, sự gia tăngtuyệt đối và tương đối của nhóm tuổi 25-44, nhóm có tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trên90%, là nguyên nhân chính của tình trạng trên Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động còn phụthuộc vào xu hướng của các nhóm dân số không hoạt động kinh tế Ở Tiền Giang, giai đoạn1996-2007, so với dân số từ 15 tuổi trở lên, tỷ lệ người đi học tăng từ 4,98% lên 6,65%,người già yếu tăng từ 10% lên 12,24% Trong khi đó người nội trợ giảm từ 7,43% còn 5,1%
và người ốm đau - tàn tật giảm từ 4,27% còn 1,9% (phụ lục 3) Hai xu hướng thay đổi nàygần như bù trừ nhau nên tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 10 năm qua gần như không đổi.Trong cùng thời gian trên tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cả nước giảm khá nhanh từ75,8% còn 71,1%, do tỷ lệ người đi học tăng nhanh từ 7,18% lên 12,2%
2.2.1.2 Chất lượng nguồn cung nhân lực
Trang 13Trong phạm vi đề tài này, chất lượng nguồn cung nhân lực được xem xét qua các chỉ
số về trình độ học vấn và trình độ chuyên môn kỹ thuật Trình độ học vấn của lực lượng laođộng Tiền Giang được thể hiện ở bảng 1.8
Bảng 1.8 Cơ cấu lực lượng lao động theo trình độ học vấn năm 2007
Chưa tốt nghiệp tiểu học
Tốt nghiệp tiểu học
Tốt nghiệp THCS
Tốt nghiệp THPT
4 Vùng KTTĐPN 100 1,86 12,93 32,69 23,10 29,42
Nguồn: Số liệu Thống kê Lao động- việc làm năm 2007, Bộ Lao động Thương binh và XH.
Bảng trên cho thấy mặt bằng trình độ học vấn của lực lượng lao động Tiền Giang kháthấp, có tới hơn 22% chưa tốt nghiệp tiểu học, gần 44% tốt nghiệp tiểu học và chỉ có hơn34% tốt nghiệp THCS trở lên Trong khi đó tỷ lệ tốt nghiệp THCS trở lên của cả nước vàvùng KTTĐPN là trên 52% Đây là điểm yếu lớn nhất của nguồn nhân lực Tiền Giang.Những hạn chế này gây khó khăn trong chương trình đào tạo nghề cho lực lượng lao động,bởi lẽ mặt bằng học vấn tối thiểu cho đào tạo CNKT lành nghề phải từ THCS trở lên
Mặt bằng học vấn vừa nêu cho phép nhận định không mấy lạc quan về trình độchuyên môn kỹ thuật sẽ được làm rõ trong bảng 1.9
Bảng 1.9 Cơ cấu LLLĐ theo trình độ chuyên môn kỹ thuật năm 2007
CNKT không có bằng
Có chứng chỉ nghề ngắn hạn
Có bằng nghề dài hạn
Trung học chuyên nghiệp
Cao đẳng
Đại học trở lên
1 Tiền Giang 100 76,15 15,27 1,61 0,44 3,56 1,47 1,49
2 Toàn Quốc 100 65,25 18,31 2,66 2,14 5,28 1,93 4,43
3 Vùng ĐBSCL 100 66,82 23,71 2,09 0,70 3,12 1,36 2,21
Trang 144 Vùng KTTĐPN 100 52,26 27,26 3,64 3,05 5,04 2,03 6,72
Nguồn : Số liệu Thống kê Lao động- việc làm 2007, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.
Năm 2007, lao động qua đào tạo Tiền Giang chiếm 23,85% lực lượng lao động, cứ 4người tham gia hoạt động kinh tế thì có chưa đến 1 người được đào tạo Trong khi đó, tỷ lệlao động qua đào tạo của cả nước, vùng ĐBSCL và vùng KTTĐPN lần lượt là 34,75%;33,18% và 47,74% Năm 1996, tỷ lệ lao động qua đào tạo của Tiền Giang là 9,28%, cao hơnbình quân vùng ĐBSCL (7,53%) và thấp hơn cả nước (12,31%), đến năm 2007 Tiền Giangtụt xa so cả nước và cả vùng ĐBSCL (Bảng 1.10) Lực lượng lao động khá dồi dào, nhưngtrong đó có hơn 76% chưa qua đào tạo, Tiền Giang sẽ gặp nhiều khó khăn trong tiến trìnhCNH cũng như quá trình hội nhập vùng KTTĐPN
Bảng 1.10 Tỷ lệ lao động qua đào tạo giai đoạn 1996-2007
tỷ lệ giữa cao đẳng - đại học, THCN, CNKT lành nghề và CNKT bán lành nghề là 1 / 1,62 /0,80 / 76,58 Theo Viện Chiến lược phát triển, chính sách công nghiệp - Bộ Công thương(2001), ở giai đoạn phát triển công nghiệp từ thủ công lên cơ khí như Việt Nam hiện nay thì
tỷ lệ nhân lực công nghiệp hợp lý phải là 1 / 4 / 20 / 60 (Bảng 1.11) Như vậy, mặc dù thiếunhân lực qua đào tạo nhưng lại thừa tương đối ở cấp đại học-cao đẳng và thiếu trầm trọngCNKT lành nghề Xem xét tỷ lệ thất nghiệp của lao động có chuyên môn kỹ thuật vùngĐBSCL, cho thấy có sự thừa tương đối ở nhóm có trình độ cao, tỷ lệ thất nghiệp CNKT lànhnghề và bán lành nghề là 1,45%, THCN là 1,66%, cao đẳng là 1,97% và đại học là 2,64% []
Tỷ lệ thất nghiệp của những người tốt nghiệp đại học cao gần gấp 2 lần so với người đượcđào tạo CNKT Tiền Giang nằm trong vùng ĐBSCL, có lẽ cũng không phải là một ngoại lệ
Trang 15Thực trạng nói trên là bằng chứng của chính sách đào tạo nguồn nhân lực không hợp
lý cũng như tâm lý “ thích làm thầy hơn làm thợ ” của nhiều học sinh và phụ huynh học sinh
Hệ quả là nguồn lực đầu tư cho giáo dục đào tạo vốn đã hạn hẹp lại bị lãng phí do một bộphận nhân lực được đào tạo nhưng chưa được sử dụng Chính sách đào tạo không hợp lý thểhiện ở chỗ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra mục tiêu đến năm 2010 học sinh trong độ tuổiphổ cập bậc trung học vào học THPT chiếm 50%, THCN 15% và dạy nghề 15% (công văn
số 3420/THPT ngày 23/4/2003 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc thực hiện phổ cập bậctrung học) Theo thống kê thực tế có khoảng 68% học sinh theo đuổi hết chương trình và tốtnghiệp THPT và 50% học sinh tốt nghiệp THPT vào học hệ đại học hoặc cao đẳng Như vậy,
Bộ Giáo dục và Đào tạo đang hướng đến mục tiêu cứ 10 học sinh THCS có ít nhất hơn 2 họcsinh vào đại học hoặc cao đẳng (chưa kể số học sinh trung cấp liên thông lên cao đẳng - đạihọc) và chưa đến 8 học sinh học TCCN hoặc học nghề Tỷ lệ này còn rất xa với tỷ lệ hợp lý(1 / 4 / 10-15) Trong thực tế bất hợp lý này càng rõ ràng hơn Báo cáo năm học 2007-2008của Sở Giáo dục Tiền Giang, có 78,26% số học sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10, 6,57% vàocác trường nghề và TCCN, 15,17% không tiếp tục học tập Đây là nguyên nhân chính dẫnđến sự lệch hướng trong cơ cấu đào tạo nguồn nhân lực
Bảng 1.11 Tương quan lực lượng LĐ đượng lao động Tiền Giang giai đoạn 1996-2007 đào tạo nghề nghiệp năm 2007 ạn 1996-2007c o t o ngh nghi p n m 2007ền Giang theo nhóm tuổi ệp năm 2007 ăm 2007
CNKT bán lành nghề
CNKT lành nghề
Trung học chuyên nghiệp
Cao Đại học
đẳng-1 Tiền Giang : - Số lượng 166.024 4.337 35.088 29.110
Nguồn: Số liệu thống kê Lao động- Việc làm 2007, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội;
(i): Báo cáo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2002), trích trong “Phát triển nguồn nhân lực ĐBSCL”, Bùi Thị Thanh, 2005; (ii): Viện Chiến lược phát triển, chính sách công nghiệp (2001), trích trong “ Những luận cứ khoa học của việc phát triển nguồn nhân lực công nghiệp cho vùng kinh tế trọng điểm phía Nam”, TS Trương Thị Minh Sâm, 2003.
Xét theo ngành kinh tế, lao động qua đào tạo trong ngành nông – lâm – ngư nghiệpchỉ chiếm 6,91%, công nghiệp – xây dựng chiếm 66,47% và dịch vụ chiếm 38,78% (Bảng1.12) Như vậy có thể nói lao động làm việc trong ngành nông nghiệp hầu hết là chưa quađào tạo Nếu như cải thiện trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động trong ngành nông
Trang 16nghiệp sẽ giúp Tiền Giang nâng cao năng suất lao động trong ngành này và là điều kiện thúcđẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp.Thực tế trong những năm gần đây Tiền Giang thực hiện chính sách hỗ trợ học nghề cho laođộng nông nghiệp - nông thôn nhưng cần có sự thay đổi về nội dung và hình thức để nângcao hiệu quả đào tạo Từ năm 2004 đến 2008 Tiền Giang hỗ trợ đào tạo 25.636 người nhưngchủ yếu dưới hình thức dạy nghề thường xuyên có thời gian đào tạo khá ngắn Một nghiêncứu cho thấy có 59,4% số người được hỏi đã áp dụng được kiến thức vào công việc, 65,1%cải thiện được thu nhập và 92,04% kiến nghị nhà nước nên tiếp tục chương trình hỗ trợ họcnghề cho lao động nông thôn nhưng cần phải điều chỉnh thời gian đào tạo và tăng thêm thiết
bị, dụng cụ thực hành (Báo cáo Sở lao động Thương binh và Xã hội)
Bảng 1.12 Lực lượng lao động có việc làm qua đào tạo
theo ng nh kinh t n m 2007ào tạo nghề nghiệp năm 2007 ế năm 2007 ăm 2007
Lĩnh vực được đào tạo LLLĐ có việc
làm (người)
LLLĐ có việc làm được đào tạo (người)
Tỷ lệ qua đào tạo (%)
Nguồn: Số liệu thống kê Lao động- Việc làm 2007, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.
2.2.2 Thực trạng nguồn cung nhân lực qua đào tạo
2.2.2.1 Nguồn cung nhân lực qua đào tạo từ hệ thống các cơ sở đào tạo trong tỉnh
Hệ thống các cơ sở đào tạo trên địa bàn tỉnh Tiền Giang gồm: 1 trường đại học, 2trường cao đẳng, 3 trường TCCN, 3 trường trung cấp nghề, 1 trường CNKT, 2 trung tâm dạynghề và 7 trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp (phụ lục 10) Ngành nghề đào tạo vàquy mô tuyển sinh bình quân giai đoạn 2005- 2007 của các trường như sau:
- Trường đại học Tiền Giang được thành lập từ năm 2005 (trên cơ sở hợp nhất trườngCao đẳng cộng đồng và trường cao đẳng sư phạm), đào tạo đa ngành đa cấp Hệ đại học đàotạo các ngành Kế toán, Quản trị kinh doanh, xây dựng, sư phạm tiểu học, trung học; hệ caođẳng đào tạo các ngành kế toán, quản trị kinh doanh, công nghệ thông tin, công nghệ thựcphẩm, cắt may, kỹ thuật điện-điện tử, công nghệ ô tô, xây dựng, phát triển nông thôn và cácngành sư phạm; hệ TCCN đào tạo các nghề kế toán, kinh doanh thương mại, nghiệp vụ dulịch, may, công nghệ thực phẩm, điện-điện tử, và đào tạo giáo viên phổ thông Quy môtuyển sinh 2.400 học sinh, trong đó hệ đại học 600 học sinh
Trang 17- Trường Cao đẳng Y tế (được nâng cấp từ trường trung học y tế vào đầu năm 2008)đào tạo ngành điều dưỡng đa khoa hệ cao đẳng và các nghề: điều dưỡng, dược, hộ sinh, yhọc cổ truyền hệ trung cấp Quy mô tuyển sinh 900 học sinh.
- Trường Cao đẳng nông nghiệp (được nâng cấp từ trường trung học dạy nghề nôngnghiệp và phát triển nông thôn Nam bộ từ đầu năm 2008), đào tạo hệ cao đẳng TCCN vàtrung cấp nghề ở các ngành trồng trọt, chăn nuôi, thú y, bảo vệ thực vật, chế biến nông sản,
kế toán, quản lý đát đai Quy mô tuyển sinh 1.000 học sinh/năm
- Trường trung học bưu chính viễn thông và công nghệ thông tin III đào tạo hệ TCCN
và trung cấp nghề ở lĩnh vực bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, quản trị kinh doanh.Quy mô tuyển sinh 500 học sinh
- Trường trung cấp kinh tế kỹ thuật mới thành lập, tuyển sinh năm 2008, đào tạo hệTCCN ở các nghề kế toán, tin học, du lịch, điện-điện tử, hàn Quy mô tuyển sinh 380 họcsinh
- Trường trung học văn hóa nghệ thuật, đào tạo hệ TCCN với các nghề thư viện, múa,thanh nhạc, quản lý văn hóa, du lịch Quy mô tuyển sinh 140 học sinh
- Trường trung cấp nghề Tiền Giang (nâng cấp từ trường dạy nghề Tiền Giang, năm2007) đào tạo hệ cao đẳng các nghề điện công nghiệp, điện tử công nghiệp, công nghệ ô tô,quản trị mạng, kế toán doanh nghiệp, và hệ trung cấp đào tạo các nghề điện - điện tử, côngnghệ ô tô, hàn, cắt gọt kim loại, xây dựng, may, quản trị mạng, đồ họa, kế toán doanhnghiệp Quy mô tuyển sinh 860 học sinh
- Trường trung cấp nghề khu vực Gò Công (nâng cấp từ trung tâm dạy nghề, năm2008) đào tạo hệ trung cấp các nghề điện, công nghệ ô tô, hàn, cắt gọt kim loại, may, kế toándoanh nghiệp Quy mô tuyển sinh 340 học sinh
- Trường trung cấp nghề khu vực Cai Lậy (nâng cấp từ trung tâm dạy nghề, năm2008) đào tạo hệ trung cấp các nghề điện, công nghệ ô tô, hàn, cắt gọt kim loại, may Quy
mô tuyển sinh 320 học sinh
Ngoài ra trên địa bàn Tiền Giang còn có Trường công nhân kỹ thuật giao thông; 2trung tâm dạy nghề Tân Phước, Châu Thành (được thành lập từ năm 2005); 7 trung tâm kỹthuật tổng hợp hướng nghiệp và 3 trung tâm giới thiệu việc làm đào tạo hệ sơ cấp nghề vàdạy nghề thường xuyên Qui mô đào tạo khoảng 2.500 học viên
Kết quả đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên địa bàn Tiền Giang giaiđoạn 1996 -2008 cho ở bảng 2.13
Bảng 2.13 Học sinh tốt nghiệp các trường trong tỉnh giai đoạn 1996-2008
Đơn vị tính: người96-2000 01-2005 06-2008 96-2008 BQ/năm
Trang 181.Công nhân kỹ thuật 11.230 27.164 30.587 68.981 5.748
Nguồn: Niên giám thống kê 2000, 2006, 2008, Cục Thống kê Tiền Giang;
Báo cáo công tác dạy nghề Tiền Giang giai đoạn 2001-2005, năm 2006, 2007, 2008.
Bình quân giai đoạn 1996-2008, số học sinh tốt nghiệp CNKT dài hạn và ngắn hạn5.748 học sinh/năm, hệ TCCN 1.050 học sinh, cao đẳng – đại học 739 học sinh/năm
Nhờ tập trung đầu tư, năng lực đào tạo của các cơ sở giáo dục nghề nghiệp tăng lênđáng kể Số học sinh tuyển mới từ hệ trung cấp (TCCN và trung cấp nghề) đến trình độ đạihọc ở các cơ sở đào tạo trong tỉnh năm 2008 là 4.926 học sinh, trong đó hệ đại học 572 họcsinh, cao đẳng 1.211 học sinh, TCCN 1.903 học sinh và trung cấp nghề 1.240 học sinh (Phụlục 10) Nếu tính cả số học sinh đào tạo theo các hình thức liên kết giữa các cơ quan, đơn vịtrong tỉnh với các cơ sở đào tạo ngoài tỉnh thì quy mô tuyển sinh hệ trung cấp trở lên trên địabàn tỉnh Tiền Giang hàng năm 5.400 học sinh Tuy nhiên, số lượng tuyển sinh mới bắt đầutăng nhanh từ năm 2008 nên nguồn cung nhân lực qua đào tạo có trình độ từ trung cấp trởlên mới thật sự tăng lên sau năm 2010
2.2.2.2 Nguồn cung nhân lực qua đào tạo từ hệ thống các cơ sở đào tạo ngoài tỉnh
Tiền Giang nằm gần trung tâm đào tạo nhân lực Tp HCM và Tp Cần Thơ, các nămgần đây trung bình có khoảng 5.000 học sinh vào học hệ cao đẳng-đại học các trường thuộccác trung tâm đào tạo này và một số trường thuộc các tỉnh miền Đông và miền Tây Nam bộ(báo cáo Sở Giáo dục) và ước tính có khoảng 3.000 học sinh học hệ trung cấp (chưa có thống
kê chính thức) Ngành học rất đa dạng từ kinh doanh - quản lý, công nghệ kỹ thuật, khoa họcgiáo dục, khoa học xã hội, khoa học tự nhiên… Các trường đại học có đông học sinh TiềnGiang vào học (mỗi năm có hơn 100 học sinh) như các trường ĐH Cần Thơ, ĐH Kinh tế TpHCM, ĐH Nông lâm, ĐH Bách khoa, ĐH sư phạm kỹ thuật Tp HCM, ĐH Dân lập CửuLong… Nhóm trường thứ hai có số học sinh vào học tương đối đông là ĐH Công nghiệp,Khoa học tự nhiên, Ngân hàng, Khoa học xã hội nhân văn, Kiến trúc… các ĐH dân lập nhưHồng Bàng, Hùng Vương, Công nghệ, Công nghệ Sài Gòn…
Sự đa dạng các ngành học, cấp học và với số lượng khá lớn học sinh Tiền Giang theohọc các trường nói trên tạo nên nguồn cung nguồn nhân lực qua đào tạo ở dạng tiềm năngkhá lớn và với chất lượng cao cho tỉnh Tuy nhiên, trong thực tế dưới tác động của thị trườnglao động, học sinh Tiền Giang sau khi tốt nghiệp về tỉnh làm việc không phải là nhiều, nhất
là ở bậc đại học, cao đẳng Kết quả nghiên cứu của GS TS Hồ Đức Hùng và nhóm tác giả
Trang 19thực hiện năm 2005 bằng hình thức tổ chức các buổi thảo luận nhóm (PRA) với các sinh viêncủa Tiền Giang đang học tập tại TP HCM (trong khuôn khổ đề tài khoa học “ Nghiên cứu cơcấu đầu tư từ các nguồn vốn trong xã hội ở tỉnh Tiền Giang – Hiện trạng và giải pháp ”), chothấy có đến 90% trong số họ có ý định ở lại TP HCM tìm việc làm sau khi tốt nghiệp Lý do
mà họ ở lại là muốn có một việc làm với thu nhập cao, muốn có cơ hội nâng cao năng lựcbản thân qua thử thách công việc, muốn có cơ hội học tập cao hơn Đối với những ngườimuốn trở về Tiền Giang, nhóm nghiên cứu nhận thấy điểm học tập trung bình của họ (6,2)thấp hơn nhóm còn lại (6,8), như vậy, có thể kết luận rằng những người có ý định trở về TiềnGiang làm việc đa số là những người có năng lực chưa xuất sắc
Hiện nay chưa có một nghiên cứu đầy đủ và toàn diện về vấn đề này Tuy nhiên, để
có thể đánh giá mức độ đóng góp nguồn cung tiềm năng này vào nguồn nhân lực của tỉnhqua phép so sánh sau So sánh giữa số lao động có trình độ cao đẳng - đại học tăng lên sau
11 năm (1996-2007) là 15.508 người và số học sinh tốt nghiệp trình độ trên trong cùng thờigian trên là 35.800 học sinh (trong tỉnh 8.296 và ngoài tỉnh khoảng 27.500), thì ước tínhtrong 11 năm qua có khoảng 20.300 học sinh tốt nghiệp cao đẳng đại học không về tỉnh làmviệc hoặc rời tỉnh tìm việc làm nơi khác, chiếm tỷ lệ 56,7% so với số học sinh tốt nghiệp.Nếu tính riêng số học sinh học các trường ngoài tỉnh tỷ lệ không về tỉnh làm việc ắt hẳn sẽcao hơn Có thể nhận định, Tiền Giang chưa khai thác có hiệu quả nguồn cung tiềm năngnày
2.2.2.3 Đánh giá mức độ đáp ứng nguồn cung nhân lực qua đào tạo đối với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Nguồn cung nhân lực qua đào tạo được phản ảnh qua 3 mặt: số lượng, chất lượng và
cơ cấu
Thứ nhất, về số lượng, mắt dù có nhiều cố gắng trong đầu tư, nhưng nhìn chung, hệ
thống các sơ sở đào tạo khá mỏng, hầu hết mới thành lập hoặc nâng cấp từ năm 2005 trở lạiđây nên cơ sở vật chất, lực lượng giáo viên còn khá khiêm tốn So với các tỉnh khác trongkhu vực (Long An, Vĩnh Long, An Giang, Đồng Tháp) số lượng và quy mô các cơ sở đàotạo của Tiền Giang khiêm tốn hơn Do vậy, chỉ số học sinh-sinh viên hệ đại học-cao đẳng,TCCN học tại Tiền Giang là 32 học sinh trên 1 vạn dân (năm 2006), trong khi cả nước là
228, vùng KTTĐPN là 354, và vùng ĐBSCL nơi có điều kiện kinh tế xã hội gần giống nhưTiền Giang, thì số học sinh cũng đạt 66 học sinh/1 vạn dân, cao hơn 2 lần (phụ lục 12)
Hạn chế này dẫn đến nguồn cung nhân lực qua đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu củadoanh nghiệp Khảo sát 60 doanh nghiệp, có đến 70,37% cho rằng khó hoặc rất khó tuyểndụng lao động qua đào tạo Mức độ thường xuyên thiếu hụt lao động của doanh nghiệp đốivới lao động qua đào tạo ở trình độ chứng chỉ nghề chiếm 22,22%; CNKT có bằng 27,78%;
Trang 20THCN 20,37%; cao đẳng 20,37% và đại học trở lên chiếm 44,44% trong tổng số doanhnghiệp được khảo sát (Báo cáo Sở lao động Thương binh và Xã hội).
Đối với người học, so sánh giữa số học sinh theo học các trường đào tạo từ hệ trungcấp nghề, TCCN trở lên với số học sinh tốt nghiệp THPT và số học sinh tốt nghiệp THCSkhông vào lớp 10 (kể cả số học sinh học dở dang THPT), cho thấy hàng năm Tiền Giang cókhoảng 2.000 học sinh tốt nghiệp THPT và hơn 2.300 học sinh tốt nghiệp THCS vì nhiều lý
do khác nhau không tiếp tục việc học tập, 7.100 học sinh học dở dang hoặc không tốt nghiệpTHPT Điều này làm hạn chế nguồn cung nhân lực qua đào tạo
Kết quả khảo sát 232 lao động chưa qua đào tạo có độ tuổi từ 15 đến 30, cho biết họkhông thể tiếp tục việc học tập bởi các lý do: kinh tế khó khăn không thể tiếp tục việc họctập (29,74%), không có khả năng học tiếp hoặc thi trượt (27,16%), phải phụ giúp việc nhà(18,53%), thích đi làm kiếm tiền (17,67%), không thích việc học (3,88%), lý do khác(3,02%) Công việc hiện tại của họ chủ yếu là tham gia làm kinh tế gia đình (38,79%), đanglàm việc tại doanh nghiệp (20,26%), đang làm việc tại cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ nhỏ(18,53%), nội trợ, ốm đau, (12,50%) Trong số những người được khảo sát, có 43,1% cónguyện vọng tiếp tục việc học tập, trong đó 38,79% có nhu cầu học nghề, 4,31% có nhu cầuhọc văn hóa Nhu cầu học nghề của họ chủ yếu tập trung ở nhóm trình độ thấp: hệ sơ cấp
nghề (57,78%), trung cấp nghề (28,89%), TCCN (10,0%), cao đẳng đại học (3,33%) Như
vậy, nếu như có chính sách khuyến khích và giúp giải quyết những khó khăn về kinh tế sẽ thu hút một lượng khá lớn người lao động chưa qua đào tạo tham gia học nghề và như thế sẽ làm tăng nguồn cung nhân lực qua đào tạo nghề (Báo cáo Sở Lao động TBXH).
Thứ hai, cơ cấu nguồn cung lao động qua đào tạo không phù hợp, lĩnh vực đào tạo
chưa đa dạng và có sự trùng lắp giữa các cơ sở đào tạo Tiền Giang có đến 6 trường đào tạo
hệ TCCN, trong khi chỉ có 3 trường đào tạo CNKT lành nghề (theo Luật dạy nghề, hệ CNKTđược chuyển đổi thành trung cấp nghề) Khảo sát 751 lao động có trình độ sơ cấp trở lênđang làm việc ở các doanh nghiệp thì chỉ có 27,97% được đào tạo từ trường dạy nghề hoặctrung tâm dạy nghề nhưng có đến 37,68% được đào tạo từ trường TCCN hoặc trường caođẳng-đại học, 27,7% được đào tạo tại doanh nghiệp (Báo cáo Sở Lao động TBXH) Điều đócho thấy hệ thống các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề chưa được phát triển, cơ cấu các
cơ sở đào tạo và dạy nghề chưa hợp lý Ngành nghề đào tạo chủ yếu là các nhóm nghề cơ khíđộng lực, cơ khí chế tạo, điện, điện tử, điện lạnh, may Khả năng nghiên cứu, dự báo, nắmbắt nhu cầu, định hướng phát triển của thị trường lao động của các cơ sở đào tạo chưa đượctốt, chậm phát triển ngành nghề mới Nhiều nghề thị trường đã tạm “bão hòa” nhưng vẫn tiếptục đào tạo như sửa chữa ô tô, điện tử dân dụng, kế toán, quản trị kinh doanh Trong khi đó
có những ngành nghề thị trường đang thiếu thì cung ứng không đủ như cơ khí chế tạo, kỹ
thuật xây dựng, dịch vụ du lịch Sự mất cân đối giữa nhóm cơ sở đào tạo (các trường đại
học, THCN) và nhóm cơ sở dạy nghề (trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề) đã được lãnh
Trang 21đạo tỉnh nhận thức và tháng 5/2009 đã thông qua “Quy hoạch mạng lưới các cơ sở đào tạonguồn nhân lực tỉnh Tiền Giang đến năm 2020” Tuy nhiên phải mất nhiều thời gian mới
điều chỉnh được những hạn chế và mất cân đối này.
Thứ ba, chất lượng nguồn cung nhân lực qua đào tạo còn nhiều bất cập Theo ý kiến
của 60 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Tiền Giang, tùy theo trình độ chuyên môn kỹ thuật củangười lao động đang làm việc tại doanh nghiệp (từ trình độ chứng chỉ nghề đến trình độ đạihọc), có từ 1,85% đến 18,52% doanh nghiệp cho rằng kiến thức người lao động được đào tạo
là “ rất tốt ” ; 27,78% đến 44,44% là “ tương đối tốt ” và 16,67% đến 27,78% là “ được ”
Về kỹ năng của người lao động, có từ 3,7% đến 20% doanh nghiệp cho là “ rất tốt ”, 27,78%đến 40,74% là “ tương đối tốt ” và 14,81% đến 25,93% là “ được ” Như vậy, tùy theo trình
độ chuyên môn kỹ thuật được đào tạo, có từ 20% đến 40% ý kiến cho rằng kiến thức và kỹnăng của nguồn nhân lực chỉ “ tạm được ” hoặc “ không đáp ứng được ” yêu cầu công việchoặc không xác định được (Báo cáo Sở Lao động Thương binh và Xã hội)
Đối với các cơ sở giáo dục nghề nghiệp đào tạo kỹ năng nghề bậc thấp và bậc trung(như trường dạy nghề và trung tâm dạy nghề), chất lượng đào tạo tại các cơ sở này còn đượcphản ánh qua “mức độ phù hợp” của chương trình giảng dạy, thiết bị thực hành, phươngpháp giảng dạy, trình độ giáo viên, thời gian đào tạo Thăm dò ý kiến của 60 doanh nghiệp,
sự ít phù hợp hoặc không phù hợp của các yếu tố trên lần lượt là 48% (tổng số doanh nghiệp
có ý kiến); 55,56%; 50%; 33,3% và 55% Rõ ràng cần có sự đổi mới đối với các yếu tố đầu
vào cấu thành chất lượng đào tạo ở các trường dạy nghề, trung tâm dạy nghề
Để nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường/trung tâm dạy nghề, nhóm các ý kiến(từ 60 doanh nghiệp) đề nghị tăng thêm thời gian thực hành (16,45%), đầu tư thiết bị thựchành hiện đại (12,50%) và đề nghị có sự liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp(15,79%), có tỷ lệ khá cao so với các nhóm ý kiến khác càng cho thấy doanh nghiệp có yêucầu cao hơn đối với kỹ năng thực hành của người lao động sau khi được đào tạo Thực tế dễthấy là mặt bằng công nghệ thiết bị thực hành của các cơ sở đào tạo đang sử dụng tronggiảng dạy thường có độ trể nhất định so với công nghệ được sử dụng trong quy trình sản xuất
tại doanh nghiệp Để khắc phục điểm yếu này vấn đề đặt ra là cần có sự liên kết giữa nhà
trường và doanh nghiệp trong đào tạo nghề, nhất là trong đào tạo thực hành.
Khảo sát trực tiếp 356 người lao động đang làm việc tại doanh nghiệp có trình độchuyên môn kỹ thuật từ CNKT có bằng trở lên (trong tổng số 2.512 người lao động đượckhảo sát), có 25% cho rằng công việc mà họ đang làm ít hoặc không phù hợp với nghề, lĩnhvực được đào tạo; trên 32,59% cho rằng kiến thức và kỹ năng mà họ được đào tạo chỉ đápứng một phần hoặc đáp ứng rất ít yêu cầu công việc họ đang làm; 44,66% có nhu cầu đượcđào tạo lại, trong đó có 69,81% có nhu cầu đào tạo nâng cao, 15,72% đào tạo cập nhật kiếnthức và 6,29% đào tạo nghề khác (Báo cáo Sở Lao động Thương binh và Xã hội) Mức độkhông phù hợp giữa kiến thức và kỹ năng đối với công việc cho thấy có sự lãng phí khá lớn
Trang 22trong đào tạo nguồn nhân lực cũng như sự bất cập của nguồn nhân lực có kỹ năng đối vớiyêu cầu phát triển kinh tế xã hội Tiền Giang.
2.2.3 Thực trạng cầu nhân lực theo ngành và thành phần kinh tế
2.2.3.1 Cầu nhân lực theo ngành kinh tế
Với kinh tế chủ yếu là nông nghiệp (chiếm 45,27% GDP), Tiền Giang có đến 58,81%lực lượng lao động làm việc trong ngành nông nghiệp và hơn 40% lao động làm việc trongngành công nghiệp, dịch vụ Trong khi đó tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của cả nước là47,8%, vùng ĐBSCL là 48,3% và vùng KTTĐPN đến 71,87% (Bảng 1.13) Sau 11 năm(1996-2007), tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 63,57% còn 58,81%, lao động côngnghiệp tăng từ 11,29% lên 14,46%, lao động dịch vụ gần như không thay đổi (Biểu đồ 1.1).Thời điểm năm 1996, tỷ trọng lao động nông nghiệp của cả nước và vùng ĐBSCL đều caohơn Tiền Giang (69,8% và 65,66%), đến năm 2007 trật tự đã đảo ngược Điều này cho thấy
sự chuyển dịch cơ cấu lao động cùng với xu hướng CNH diễn ra ở Tiền Giang chậm tươngđối so với bình quân các tỉnh trong vùng và cả nước Tỷ trọng lao động nông nghiệp cao cònphản ánh sự kém hiệu quả trong việc sử dụng nguồn nhân lực Năng suất lao động ngànhnông nghiệp (tính theo giá trị sản xuất năm 2007) chỉ bằng gần 1/4 năng suất lao động ngànhcông nghiệp
Bảng 1.13 Cơ cấu lực lượng lao động theo ngành kinh tế năm 2007
Nông-lâm-ngư nghiệp Công nghiệp- xây dựng Dịch vụ
Công nghiệp - xây dựng 14,46%
ngư nghiệp 58,81%
Nông-lâm-`
Biểu đồ 1.3 Cơ cấu lao động Tiền Giang theo ngành kinh tế 1996/2007
Trang 23Nguồn : Số liệu Thống kê Lao động- việc làm năm 1996, 2007, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội.
2.2.3.2 Cầu nhân lực theo thành phần kinh tế
Lực lượng lao động Tiền Giang có đến 86,29% làm việc trong thành phần kinh tế cáthể (làm ra 64,43% GDP), kế đến kinh tế tư nhân 8,36%, kinh tế nhà nước 4,6%, kinh tế tậpthể và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chưa đến 1% Kinh tế Tiền Giang chủ yếu là kinh tế
hộ, quy mô nhỏ, năng suất lao động thấp (Bảng 1.13), một lần nữa cho thấy hiệu quả sử dụngnguồn nhân lực Tiền Giang chưa cao Điều này đòi hỏi Tiền Giang quan tâm thực hiện pháttriển đa dạng các thành phần kinh tế đặc biệt kinh tế tư nhân, tập thể và kinh tế có vốn đầu tưnước ngoài, nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực
Bảng 1.13 Cơ cấu lao động và năng suất lao động
theo thành phần kinh tế năm 2007
Thành phần kinh tế Lao động
(người)
Cơ cấu lao động (%)
Năng suất lao động (triệu đồng GDP /người)
5 Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài 4.294 0,44 259,27
Nguồn : Số liệu Thống kê Lao động- việc làm 2007, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội;
Niên giám thống kê 2006, Cục Thống kê Tiền Giang.
2.2.3.3 Đánh giá cầu nhân lực qua tình trạng hoạt động kinh tế
Quan sát tình trạng hoạt động kinh tế của lực lượng lao động Tiền Giang cho thấy có93,13% lực lượng lao động đủ việc làm; 5,18% thiếu việc làm và 1,69% thất nghiệp (trong
đó tỷ lệ thất nghiệp thành thị 4,87%) Tỷ lệ người đủ việc làm đều cao hơn toàn quốc vàvùng ĐBSCL nhưng thấp hơn vùng Đông Nam bộ và tỷ lệ thất nghiệp đều thấp hơn toànquốc và các vùng Sau 10 năm (1996-2006), tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị có xu hướnggiảm từ 5,63% còn 4,87% và hệ số sử dụng thời gian lao động khu vực nông thôn tăng từ61,78% lên 79,93% (Phụ lục 8 và 9)
Trang 24Mức độ toàn dụng nhân lực của Tiền Giang khá cao bởi các lý do Thứ nhất, trongnhững năm gần đây Tiền Giang phát triển khá mạnh các ngành thâm dụng lao động Riêng
số lao động trong các ngành may, chế biến thủy sản trong giai đoạn 2002-2007 đã tăng lên4,39 lần Sự phát triển khá nóng các ngành thâm dụng lao động còn dẫn đến tình trạng thiếunhân lực trong nhiều doanh nghiệp Kết quả khảo sát 54 doanh nghiệp thì có đến 20,37%doanh nghiệp cho rằng thường xuyên thiếu lao động phổ thông và 22,22% doanh nghiệpthiếu lao động trình độ sơ cấp nghề (Báo cáo Sở Lao động TBXH) Thực tế này đòi hỏi TiềnGiang cần xác định quy mô, cơ cấu, giới hạn phát triển các ngành công nghiệp thâm dụnglao động, từng bước nâng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ caohơn Thứ hai, ngoài việc đầu tư phát triển sản xuất công nghiệp dịch vụ, chuyển dịch cơ cấukinh tế và cơ cấu lao động, hệ số sử dụng thời gian lao động tăng đáng kể còn nhờ vào việctập trung đầu tư phát triển, thâm canh trong nông nghiệp, trong giai đoạn 1995-2004 hệ số sửdụng đất cây hàng năm tăng từ 2,6 lần lên 2,98 lần Thứ ba, Tiền Giang nằm trong vùngKTTĐPN (70 km) có thị trường lao động phát triển, nhu cầu nhân lực lớn đã tạo lực hút khámạnh đối với nguồn nhân lực của tỉnh
2.2.4 Sự phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh tác độngđến cầu nhân lực
Tiền Giang có 02 khu công nghiệp, 04 cụm công nghiệp đã có doanh nghiệp đi vàohoạt động, tổng diện tích là 327 ha, trong đó Khu công nghiệp Mỹ Tho, Cụm công nghiệpTrung An và Cụm công nghiệp An Thạnh đã lắp đầy với tổng diện tích là 106 ha Các khu,cụm công nghiệp khác: KCN Long Giang, KCN Tàu thuỷ Soài Rạp, KCN Dịch vụ Dầu khí,CCN Tam Hiệp, CCN Bình Đông, CCN Gia Thuận đang trong quá trình khởi động
* KCN Mỹ Tho.
Diện tích 79,14 ha, thuộc xã Bình Đức- huyện Châu Thành và xã Trung An - TP MỹTho Đến nay, cơ bản đã đầu tư hoàn chỉnh hạ tầng kỹ thuật, đã lắp đầy 100% diện tích côngnghiệp với 27 dự án, trong đó có 8 dự án có vốn đầu tư nước ngoài, thu hút hơn 7.700 laođộng Hoạt động với các ngành nghề: chế biến nông, thủy sản, may mặc
* Khu công nghiệp Tân Hương
Diện tích 197,33 ha, thuộc xã Tân Hương, huyện Châu Thành, đã thực hiện hơn 60%
cơ sở hạ tầng giai đoạn I (138 ha) có 13 nhà đầu tư thuê lại đất với tổng diện tích 45,9 ha,đến nay đã có 4 dự án đã triển khai hoạt động sử dụng hơn 900 lao động Định hướng kêugọi đầu tư những ngành: dệt may, da giày, bao bì, thuốc, phân vi sinh, chế biến nông sản, lắpráp cơ khí
* Cụm công nghiệp Trung A n.
Trang 25Diện tích 17,46 ha, thuộc địa bàn xã Trung An, TP Mỹ Tho, đã lắp đầy 100% diệntích với 11 dự án đã đi vào hoạt động, thu hút trên 3.400 lao động Ngành nghề sản xuất:may mặc, sản xuất đồ gỗ, nhựa….
* Cụm công nghiệp An Thạnh
Diện tích 10 ha, thuộc địa bàn thị trấn Đông Hòa Hiệp, huyện Cái Bè, đã giao 100%diện tích đất, hiện có 29 dự án hoạt động thu hút trên 700 lao động, chuyên xay xát và laubóng gạo
* Cụm công nghiệp Tân Mỹ Chánh
Diện tích 23,5 ha, thuộc địa bàn phường 10, TP Mỹ Tho, đã đầu tư 95% hạ tầng kỹthuật, có 07 doanh nghiệp thuê lại đất với tổng diện tích 9,7 ha; có 02 doanh nghiệp đã đi vàohoạt động, thu hút trên 150 lao động Định hướng đầu tư: sản xuất hàng gia dụng, chế biếnlương thực thực phẩm
* Cụm công nghiệp Song Thuận
Diện tích 57,9 ha, thuộc địa bàn xã Song Thuận, huyện Châu Thành, đã có 12 dự ánđầu tư được triển khai, đã đưa vào hoạt động 07 dự án, thu hút trên 1.800 lao động ngành chếbiến thủy sản Định hướng đầu tư: chế biến lương thực- thực phẩm, cơ khí
Tiến độ phát triển các khu, cụm công nghiệp của tỉnh còn chậm do việc quảng báhình ảnh cũng như công tác xúc tiến đầu tư chưa đúng mức và so với với những tỉnh, thànhphố khác chính sách ưu đãi đầu tư chưa thực sự hấp dẫn Tuy nhiên, sự ra đời và phát triểncác KCC, CCN đã làm gia tăng đáng kể sức cầu nhân lực trên thị trường, góp phần là giảm
áp lực nhu cầu việc làm và giảm di dân ngoài tỉnh Tính đến cuối năm 2008 có 14.650 laođộng làm việc tại các doanh nghiệp trong các KCN, CCN, trong đó có hơn 88% lao động làngười Tiền Giang Khảo sát hơn 50 doanh nghiệp trong các KCN, CCN cho thấy:
Lao động chủ yếu là lao động trẻ, nhóm dưới 29 tuổi chiếm đến 57,93%, nhóm trên
40 tuổi chiếm 24,71% do các KCN, CCN của tỉnh mới hình thành và do đa số làm trong cácdoanh nghiệp chế biến nông, thủy sản và may mặc
Trình độ học vấn tương đối khá với hơn 90% đã tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên,1% chưa tốt nghiệp tiểu học Về chuyên môn, kỹ thuật, lao động được đào tạo từ sơ cấp trởlên chiếm 84,03%, trong đó trình độ cao đẳng trở lên chiếm hơn 12,5%; TCCN chiếm10,65%, CNKT có bằng 5,95%, CNKT không bằng chiếm đến 44,95%
Về chuyên ngành đào tạo, lao động có trình độ TCCN trở lên nghề kế toán, quản trịchiếm hơn 33%, còn lại là lao động kỹ thuật; công nhân kỹ thuật không bằng và lao độngtrình độ sơ cấp chủ yếu là nghề may, sơ chế thủy sản
Mặc dù mức độ phát triển và thu hút lao động vào làm việc trong các KCN, CCNchưa nhiều nhưng đã xảy ra tình trạng thiếu hụt nhân lực Có đến 36 % doanh nghiệp thường
Trang 26xuyên thiếu hụt nhân lực và sự thiếu hụt không chỉ ở lao động có chuyên môn cao, lao độngqua đào tạo, mà còn thiếu hụt cả lao động phổ thông (20,37%).
3 Thực trạng hệ thống thông tin thị trường lao động và các hoạt động hỗ trợ thị trường lao động
3.1 Thực trạng hệ thống thông tin thị trường lao động
3.1.1 Các cơ quan, tổ chức có chức năng thu thập, xử lý, cung cấp thông tin thị trườnglao động
Trong tỉnh, ngoài Cục Thống kê, nhiều tổ chức, cơ quan cũng thu thập, xử lý và cungcấp thông tin thị trường lao động trực tiếp hoặc gián tiếp Các nhà cung cấp thông tin thịtrường lao động, cũng vừa là đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin chủ yếu như:
Cục Thống kê Điều tra dân số, lực lượng lao động, các kết
quả thống kê
Sở Lao động – TBXH Thống kê việc làm và thất nghiệp, điều tra
doanh nghiệp Ban Quản lý các khu công nghiệp Thông tin về doanh nghiệp trong các khu
công nghiệp
Sở Giáo dục và Đào tạo Thống kê về giáo dục
Sở Kế hoạch và Đầu tư Thông tin về đầu tư
Trung tâm Giới thiệu việc làm Thông tin việc làm
Người sử dụng lao động Nhu cầu lao động
Báo chí, Đài truyền hình – truyền
- Thông tin tình hình việc làm ở các doanh nghiệp
- Các điều kiện tham gia cơ hội làm việc của
Trang 27người lao động (trình độ nghề nghiệp, sức khỏe, giới tính)
- Các chương trình giáo dục và đào tạo ở địa phương
Người lao động tìm việc - Tìm kiếm cơ hội làm việc và những yêu cầu của
công việc, lương bổng, điều kiện làm việc Người sử dụng lao động (các
Dữ liệu liên quan đến thông tin được hình thành từ nhiều nguồn, qua các cuộc điềutra, báo cáo hoặc qua việc đăng ký:
Thông tin việc làm - Điều tra LĐ-VL, TĐT dân số
- Điều tra DN Thông tin thiếu việc làm - Điều tra LĐ-VL
Thông tin thất nghiệp - Điều tra LĐ-VL
- Đăng ký tại các TTGTVL
- Điều tra DN Thông tin việc làm trống - Điều tra DN
- Đăng ký tại các TTGTVL Thông tin về đào tạo - Điều tra LĐ-VL, TĐT dân số
- Báo cáo của các cơ sở đào tạoHiện nay các cuộc điều tra chủ yếu được tiến hành do Trung ương thực hiện như điềutra dân số chu kỳ 10 năm 1 lần, điều tra lao động – việc làm hàng năm (do Tổng cục tổchức); điều tra doanh nghiệp hàng năm, gần đây nhất, năm 2008, là cuộc điều tra thực trạng
và nhu cầu sử dụng lao động các hợp tác xã phi nông nghiệp và năm 2009 là điều tra thựctrạng và nhu cầu sử dụng lao động các doanh nghiệp trong tỉnh (do Bộ LĐTBXH)
Các cuộc điều tra, thu thập thông tin ở cấp tỉnh thực hiện qua:
- Cục thống kê thực hiện điều tra thống kê hàng năm và công bố dưới dạng niên giámthống kê với nhiều nội dung, trong đó có các nội dung về dân số - lao động, thông tin doanhnghiệp, về đào tạo …
Trang 28- Định kỳ Sở Lao động – TBXH điều tra ở một số doanh nghiệp lớn có sử dụng nhiềulao động tình hình sử dụng lao động, thu thập các thông tin như: thông tin về doanh nghiệp,biến động lao động, nhu cầu sử dụng lao động để báo cáo theo yêu cầu của Bộ Lao động TB
và XH
- Các phòng lao động – TBXH huyện báo cáo định kỳ về Sở Lao động TB và XHtình hình biến động lao động của doanh nghiệp, cung cấp các thông tin về số lượng lao động,tình hình mất việc làm, thiếu việc làm và nhu cầu sử dụng lao động
Ngoài ra thông tin về việc làm trống cung cấp qua các Trung tâm GTVL, thông tin vềđào tạo cung cấp từ các cơ sở đào tạo trong tỉnh
3.1.2 Nội dung và phương thức cung cấp thông tin
Nội dung thông tin thị trường gồm 2 mặt: thông tin về cung và thông tin về cầu
Nội dung thông tin Nguồn thông tin
Cung
lao
động
- Dân số và sự phân chia dân số
theo địa bàn, độ tuổi, giới tính,
- Lực lượng lao động (người lao
động tìm việc), lao động đã qua
đào tạo (từ các cơ sở đào tạo), tỷ
lệ có việc làm, thiếu việc làm,
thất nghiệp
- Các cuộc TĐT dân số của TCTK
- Các cuộc điều tra LĐ-VL hàng năm của TCTK
- Từ các cơ sở đào tạo trong tỉnh về số lượng, ngành nghề đào tạo
- Từ các TTGTVL qua người lao động đăng ký tìm việc
- Xu hướng phát triển thị trường
cầu lao động trong doanh nghiệp
- Các thống kê báo cáo do Sở TBXH thực hiện
LĐ Thống kê của Sở Kế hoạch & Đầu tư, Cục Thống kê thông tin về doanh nghiệp
3.1.2.1 Thông tin về cầu lao động
* Thông tin từ Sở LĐ-TBXH
Trang 29Sở LĐ-TBXH hàng năm thực hiện điều tra doanh nghiệp như trong năm 2008 và năm
2009 theo chương trình của Bộ LĐ-TBXH với nội dung chủ yếu thống kê tình hình sử dụnglao động, thông tin chỗ làm việc trống, chỗ làm việc mới, tiền lương/thu nhập, số giờ làmviệc,…Tuy nhiên kết quả Bộ công bố rất chậm nên thông tin này ở địa phương vẫn chưa sửdụng được
Ở cấp tỉnh, Sở thống kê thông tin thị trường lao động chủ yếu là tình hình sử dụng laođộng trong các doanh nghiệp: số lượng, cơ cấu lao động, lao động mất việc làm, thiếu việclàm, biến động lao động, nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp,… Tuy nhiên nguồn dữ liệutổng hợp không đầy đủ (chủ yếu là các doanh nghiệp lớn) do doanh nghiệp không thực hiệnđúng chế độ báo cáo, nhất là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và phân bố ở các huyện.Nguồn dữ liệu chủ yếu phục vụ công tác báo cáo cho cơ quan quản lý cấp trên
* Thông tin từ doanh nghiệp
Kết quả khảo sát 42 doanh nghiệp trong các khu – cụm công nghiệp sử dụng nhiềulao động và có nhu cầu tuyển dụng lao động lớn, cho thấy doanh nghiệp chuyển tải thông tinnhu cầu tuyển dụng lao động qua nhiều phương thức: tự thông báo tuyển dụng tại doanhnghiệp chiếm 85,71%, tuyển qua các TTGTVL là 73,81%, qua phương tiện thông tin đạichúng là 38,1%, qua liên kết với cơ sở đào tạo 23,81%, hình thức khác 11,9% tổng số doanhnghiệp được khảo sát Và hiệu quả tuyển dụng cao nhất là qua hình thức tự tuyển, kế đến làqua các TTGTVL và qua liên kết với các cơ sở đào tạo
Thông tin về nhu cầu lao động của doanh nghiệp được cung cấp qua nhiều phươngtiện và nhiều kênh khác nhau trên thị trường lao động Tuy nhiên hình thức chủ yếu vẫn là tựtuyển, cho thấy các công cụ hỗ trợ thị trường ở tỉnh chưa phát triển
*Thông tin qua các trung tâm giới thiệu việc làm
Đối với hình thức tuyển dụng qua các TTGTVL thì doanh nghiệp tuyển dụng chủ yếuqua TTTGTVL Tiền Giang chiếm 93,94%, các TTGTVL khác trong tỉnh không quá 30%doanh nghiệp có đăng ký tuyển dụng Trong năm 2008 nhu cầu các doanh nghiệp tuyển dụngqua các TTGTVL trên 40.000 lao động, trong đó qua TTGTVL Tiền Giang chiếm gần 50%.Điểm tích cực là ngày càng có nhiều doanh nghiệp đăng ký tuyển dụng qua các TTGTVL
Ngoài việc doanh nghiệp đăng ký cầu tuyển dụng qua TTGTVL, các TTGTVL cònchủ động khai thác nhu cầu từ doanh nghiệp Nhưng việc này chỉ có TTGTVL Tiền Giangthực hiện để phục vụ hoạt động các phiên giao dịch việc làm hàng tháng
Có được thông tin, các trung tâm chuyển tải thông tin đến người lao động qua cáchọat động:
- Qua hoạt động tư vấn – giới thiệu việc làm ở hầu hết các trung tâm Và ngày càng
có nhiều người lao động quan tâm đến loại thông tin này
Trang 30Tuy nhiên, theo ý kiến của 542 người lao động được khảo sát thì thông tin đa dạng dễtiếp cận chiếm 25,83%, thông tin vừa đủ để tìm hiểu 42,25%, còn ít thông tin chưa đáp ứngnhu cầu tìm việc 29,7% Cho thấy thông tin tại các TTGTVL vẫn chưa đáp ứng sự mong đợicủa người lao động Mặc dù vậy, vẫn có 71,22% số người mong muốn thông tin việc làmnên được chuyển qua TTGTVL.
Đối với 33 doanh nghiệp đã có đăng ký tuyển dụng qua TTGTVL chỉ có 15,15%doanh nghiệp cho biết là được đáp ứng hoàn toàn và gần đủ nhu cầu, 36,36% doanh nghiệpcho rằng được đáp ứng ở mức độ trung bình, 45,45% cho là được đáp ứng ít hoặc rất ít Điềunày cho thấy các TTGTVL vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp
- Qua các phiên giao dịch việc làm định kỳ hàng tháng tại TTGTVL Tiền Giang và ởcác khu vực Hoạt động giao dịch việc làm qua các phiên giao dịch việc làm đã thu hút được
sự quan tâm và tham gia giao dịch ngày càng nhiều từ phía doanh nghiệp và người lao động.Tuy nhiên mức độ thỏa mãn nhu cầu các đối tượng tham gia vẫn còn chưa được đáp ứng:
Trung bình các phiên giao dịch việc làm có 10 doanh nghiệp tham gia, với nhu cầutrên 1.000 lao động, doanh nghiệp tuyển dụng được chỉ gần 10% nhu cầu Trong 42 doanhnghiệp được khảo sát thì 54,76% doanh nghiệp đã có tham gia, cho thấy còn nhiều doanhnghiệp vẫn còn chưa có nhu cầu tham gia tuyển dụng trực tiếp tại các phiên giao dịch việclàm mà chủ yếu là gởi thông tin gián tiếp
Người lao động tham gia các phiên giao dịch việc làm ngày càng nhiều, nhưng tỷ lệngười lao động tìm được việc làm chưa cao Ý kiến của 194 người có tham gia phiên giaodịch thì có 77,32% nhận xét thông tin tương đối nhiều, nhiều và rất nhiều; có 19,59% nhậnxét thông tin còn ít và 2,06% là rất ít, cho thấy thông tin tại các phiên giao dịch vẫn còn chưađáp ứng nhu cầu cho người lao động
Từ đó có thể thấy thông qua các phiên giao dịch việc làm thì doanh nghiệp và ngườilao động mức độ kết nối chưa cao, cần phải có những giải pháp để thực hiện kết nối việc làmqua các phiên giao dịch việc làm hiệu quả hơn
- Thông tin cung cấp trên website: www.vieclamtiengiang.vn của TTGTVL TiềnGiang Website việc làm của tỉnh đã thật sự là kênh cung cấp thông tin hiệu quả, khi số lượttruy cập khai thác thông tin ngày càng nhiều Tính từ khi khai thác đến nay đã có 320.000lượt truy cập
Theo khảo sát 452 người lao động thì có 58,12% sử dụng mạng internet để tìm hiểuthông tin việc làm, là phương tiện tìm hiểu thông tin việc làm thứ hai (đứng thứ nhất là đếntrực tiếp các TTGTVL) Riêng 259 người tìm hiểu qua website vieclamtiengiang.vn thì43,24% người lao động cho rằng thông tin ít sinh động chỉ vừa đủ để tìm hiểu và 20% chorằng thông tin còn ít và khó tiếp cận Ý kiến của 118 người có đăng tin tuyển dụng quawebsite thì 67,8% cho rằng việc đăng thông tin tìm việc qua website là dễ dàng và 28,81%
Trang 31Đối với 42 doanh nghiệp được khảo sát thì có 22 doanh nghiệp đã có tìm hiểu thôngtin qua website của tỉnh, có 14 doanh nghiệp đã có đăng thông tin tuyển dụng Trong đó 12doanh nghiệp cho rằng đăng thông tin là dễ và 2 doanh nghiệp cho rằng khó.
Kết quả trên cho thấy website là kênh cung cấp thông tin quan trọng cho người laođộng có nhu cầu tìm hiểu thông tin việc làm, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng tốt nhu cầu củangười muốn truy cập thông tin
- Thông tin cung cấp cho các cơ quan, đoàn thể địa phương Hình thức này do đượccác trung tâm, nhất là các trung tâm thuộc các tổ chức đòan thể cung cấp cho cơ quan đoànthể cấp dưới, tuy nhiên cơ chế cung cấp thông tin chưa thường xuyên Tại các huyện côngtác tuyên truyền phổ biến thông tin chưa được đẩy mạnh đến với người lao động tại địaphương
- Thông tin cung cấp cho các cơ sở đào tạo trong tỉnh, thông qua việc Trung tâmtham gia các ngày hội việc làm của các trường Có 3/9 trường đã có liên kết với TTGTVLTiền Giang đó là Trường Đại học Tiền Giang, Trường Cao đẳng Nông nghiệp Nam Bộ vàTrường Trung cấp nghề Tiền Giang Hình thức trao đổi thông tin 2 chiều, trường cung cấpdanh sách học sinh, sinh viên theo các ngành nghề đào tạo cho Trung tâm để cung cấp chocác đơn vị có nhu cầu tuyển dụng Trung tâm cung cấp thông tin nhu cầu tuyển dụng laođộng cho nhà trường để chuyển tải đến sinh viên Ngòai hình thức này, giữa 2 bên chưa cómối liên hệ nào có thể coi là chặt chẽ, thường xuyên và ổn định Kết quả khảo sát cho thấy,tất cả các trường đều có nhu cầu được TTGTVL của tỉnh cung cấp thông tin tuyển dụngthường xuyên cho trường để các trường có định hướng đào tạo và tham gia tư vấn việc làmvào các ngày hội tư vấn giới thiệu việc làm trường tổ chức
* Ban quản lý các khu công nghiệp.
Hàng tháng hoặc định kỳ 6 tháng, Ban quản lý thu thập thông tin nhu cầu lao độngcủa các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp Hình thức thu thập thông tin chủ yếu quađiện thoại, một số bằng bằng văn bản
Ban quản lý đã cung cấp cho các Trung tâm Giới thiệu việc làm, một số cơ sở đào tạotrong tỉnh có nhu cầu thông qua hình thức văn bản Tuy nhiên do chưa có hình thức thu thậpthống nhất và ổn định nên chất lượng thông tin chưa cao, cần phải được rà soát lại Một sốdoanh nghiệp đăng ký nhu cầu tuyển dụng đối với Ban quản lý, nhưng khi Trung tâm Giớithiệu việc làm liên hệ để giới thiệu lao động thì doanh nghiệp phản hồi không có hoặc hếtnhu cầu tuyển dụng Phương thức cung cấp thông tin bằng văn bản không thuận lợi chongười sử dụng thông tin, vì sẽ khó lưu trữ và xây dựng nguồn thông tin lâu dài để có thể đốichiếu so sánh trong từng giai đoạn Cần thiết phải xây dựng cơ chế trao đổi cung cấp thôngtin hiệu quả hơn
* Thông tin từ Cục thống kê.
Trang 32Qua niên giám thông kê, Cục thống kê cung cấp các thông tin về số lượng doanhnghiệp, số lượng lao động làm việc trong doanh nghiệp phân theo huyện và phân theo cácngành kinh tế Các thông tin này ở dạng “tổng cầu” có ích cho nghiên cứu hơn Thông tinchưa được công bố trên website của tỉnh Từ đó cho thấy hình thức công bố thông tin thống
kê chưa được rộng rãi cho đối tượng có nhu cầu sử dụng, thông tin chưa được chi tiết, nguồn
dữ liệu cũ so với thời điểm công bố và số lượng ấn phẩm thống kê còn khiêm tốn (chủ yếuphục vụ co các cơ quan lãnh đạo và các cơ quan quản lý quan trọng trong tỉnh) cho nên dạngthông tin này khó tiếp cận và không thuận tiện cho người sử dụng thông tin
* Thông tin từ Sở Kế hoạch và Đầu tư
Sở Kế hoạch và Đầu tư cung cấp thông tin về đăng ký kinh doanh (số lượng doanhnghiệp, ngành nghề sản xuất kinh doanh, quy mô, địa điểm,…) thông tin này được báo cáothường xuyên định kỳ cho Bộ chủ quản, Cục Thuế tỉnh, Cục Thống kê tỉnh, Công an tỉnh,các sở ban ngành thuộc lĩnh vực đầu tư Ngoài ra thông tin này được cung cấp cho các cơquan ban ngành khác khi có nhu cầu qua hình thức bằng văn bản Tuy nhiên, giữa số liệuđăng ký và thực tế họat động sản xuất kinh doanh có khỏang cách khá lớn nên thông tin khótiếp cận và khó sử dụng
3.1.2.2 Thông tin về cung lao động
* Thông tin từ Cục Thống kê.
Thông tin về cung lao động từ kết quả điều tra dân số, điều tra lao động việc làm(ngành thống kê tiếp nhận từ Bộ LĐ-TBXH bắt đầu năm 2008) và các cuộc điều tra khác củangành thống kê được công bố qua các ấn phẩm thống kê và thông thường sau 1 năm mớicông bố kết quả nên có những nhược điểm như đã nêu ở phần thông tin về cầu lao động
Đối với thông tin liên quan đến cơ sở đào tạo công bố qua niên giám với các thôngtin: số lượng các trường phổ thông, cơ sở đào tạo và dạy nghề, số lượng học sinh tốt nghiệptừng năm… Tuy nhiên thông tin còn ở dạng tổng quát, không phản ánh được số lượng cácngành nghề đào tạo và số lượng học sinh được đào tạo và tốt nghiệp từng năm theo từngngành
Hình thức phổ biến/cung cấp thông tin thống kê chủ yếu hiện nay là qua các ấn phẩmtruyền thống trên giấy, website của TCTK chưa cập nhật các thông tin số liệu mới nên cũng
là khó khăn cho việc tiếp cận các thông tin thống kê và thông tin đưa ra còn chưa kịp thời,kết quả một số cuộc điều tra công bố chậm đã làm giảm ý nghĩa và giá trị các số liệu thu thậpđược
* Thông tin từ các cơ quan quản lý (Sở Giáo dục – Đào tạo, Sở Lao động – TBXH)
thông tin được tổng hợp từ báo cáo của các trường thuộc Sở quản lý về kế hoạch đào tạo, sốlượng học sinh, ngành nghề đào tạo Nguồn thông tin thứ cấp này tương đối đầy đủ về các
Trang 33cơ sở đào tạo, tuy nhiên thông tin chỉ phục vụ cho công tác quản lý nhà nước, các báo cáo vềđào tạo, ít được chia sẽ ra bên ngoài.
* Thông tin từ các cơ sở đào tạo
Hiện nay, trong quá trình đổi mới hoạt động đào tạo theo định hướng thị trường đápứng nhu cầu xã hội, các cơ sở đào tạo không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị nghề nghiệp chongười lao động đáp ứng nhu cầu xã hội mà còn giúp họ có được việc làm Để thực hiện tốtđiều này, các cơ sở đào tạo có nhu cầu chuyển tải thông tin nguồn cung lao động cơ sở mìnhđào tạo đến được với người sử dụng lao động, đồng thời rất cần sự hỗ trợ cung cấp thông tin
từ nhiều phía mà tiêu biểu là các TTGTVL và các đơn vị sử dụng lao động trong mối quan
hệ cung cầu trên thị trường lao động
Kết quả khảo sát 9 cơ sở đào tạo trong tỉnh cho thấy đa số các cơ sở đào tạo và dạynghề chưa xây dựng được hệ thống thông tin của cơ sở mình về năng lực đào tạo, ngànhnghề đào tạo, số lượng học sinh tốt nghiệp theo nghề từng năm, khả năng hợp tác liên kếtđào tạo với các đơn vị sử dụng lao động
Một số cơ sở đào tạo có thành lập ban chuyên trách hay trung tâm hỗ trợ sinh viên,ngoài việc hỗ trợ sinh viên trong chương trình tư vấn tuyển sinh, tư vấn nghề nghiệp, giớithiệu việc làm, các trung tâm này còn giữ vai trò cung cấp thông tin cho các bên sử dụng nhưcác doanh nghiệp, TTGTVL, các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và dạynghề Tuy nhiên, cũng còn nhiều cơ sở đào tạo chưa thành lập đơn vị có chức năng làm đầumối trong việc thu thập và cung cấp thông tin nên việc kết nối thông tin đến các đơn vị sửdụng còn hạn chế
Trường ĐH Tiền Giang, Trường Trung cấp nghề Tiền Giang, Trường CĐ Nôngnghiệp Nam Bộ đã có liên kết với các TTGTVL và doanh nghiệp để tổ chức các ngày hội tưvấn – giới thiệu việc làm cho sinh viên khi ra trường như đã nêu ở phần trên
Hiện nay một số trường cũng quan tâm đến việc thu thập thông tin của học sinh saukhi tốt nghiệp về tỷ lệ tìm được việc làm, việc làm phù hợp với ngành nghề được đào tạo,mức độ đáp ứng yêu cầu công việc…để trường có cơ sở định hướng, điều chỉnh trong côngtác đào tạo của mình, đồng thời là nguồn thông tin làm cơ sở cho các công tác đánh giá, dựbáo thị trường lao động Việc thực hiện thông qua các hình thức: liên hệ phản hồi từ phíadoanh nghiệp, gửi phiếu khảo sát, gọi điện thoại, thông qua liên hệ giữa giáo viên hay cácphòng khoa với sinh viên Tuy nhiên, công tác này chưa thực hiện thường xuyên, phươngpháp chưa hiệu quả, thiếu đội ngũ và kinh phí để thực hiện, tỷ lệ phản hồi rất thấp nên một
số cuộc khảo sát không tổng hợp được, không phản ánh được tình hình chung
Ở chiều ngược lại, hầu hết các cơ sở đào tạo nhận thấy chưa có được thông tin về cầulao động trên thị trường do chưa có sự liên kết giữa nhà trường với doanh nghiệp, vớiTTGTVL và với các cơ quan quản lý nhà nước Các thông tin nếu có được cũng rất rời rạc,
Trang 34thiếu tính hệ thống và có được từ những cách thức riêng cho nên các cơ sở đào tạo chưa có 1
hệ thống thông tin về cầu lao động để làm cơ sở cho việc định hướng đào tạo cho mình Đốivới thông tin cung cấp, nhà trường cần được các cuộc “ngồi lại” giữa các cơ quan có liênquan để trao đổi thống nhất tiến hành thực hiện các chương trình đào tạo cụ thể ngành nghềphù hợp đáp ứng nhu cầu xã hội Cần có một cơ quan có chức năng điều phối, cần một cơchế phối hợp thống nhất, cung cấp thông tin thường xuyên và kịp thời Đa số các trườngnhận thấy Trung tâm GTVL của tỉnh có thể đảm nhận vai trò này
3.1.2.3 Đánh giá thực trạng hệ thống thông tin thị trường lao động.
* Mặt được:
- Hoạt động quản lý nhà nước về thông tin thị trường lao động đã được tăng cường,các cơ chế chính sách về thu thập báo cáo và các chỉ tiêu cơ bản về thị trường lao động đãđược ban hành
- Vai trò của TTGTVL Tiền Giang trong việc quan sát, thu thập, phân tích và cungcấp thông tin thị trường lao động để phục vụ cho doanh nghiệp, người lao động, cơ sở đàotạo, cơ quan quản lý nhà nước đã bước đầu được xác lập, đóng góp tương đối tích cực vàohoạt động phát triển thị trường lao động của tỉnh Thông tin thị trường lao động được phổbiến rộng rãi qua nhiều hình thức giao dịch việc làm phong phú như tổ chức sàn giao dịchviệc làm, ngày hội tư vấn – GTVL, xây dựng website người tìm việc - việc tìm người đangphát triển tốt
- Nguồn cung cấp thông tin thị trường cung – cầu lao động ngày càng đa dạng: cáccuộc điều tra khảo sát về dân số - lao động – việc làm hàng năm từ Trung ương đến địaphương, các cơ sở đào tạo, ban quản lý khu công nghiệp, các TTGTVL, các cơ quan banngành khác đã có sự quan tâm và cũng là nguồn cung cấp thông tin quan trọng
* Mặt tồn tại, hạn chế:
- Chưa có bộ chỉ tiêu thông tin thị trường lao động thống nhất làm cơ sở cho việc tổchức thu thập, xử lý, lưu trử, cung cấp và chia sẽ thông tin Chưa có quy định về cơ chế tráchnhiệm trong việc cung cấp thông tin
- Không có sự gắn kết chặt chẽ giữa các đơn vị làm nhiệm vụ thông tin thị trường laođộng, các nguồn thông tin còn rời rạc chưa được chia sẽ giữa các bên, nên hiệu quả khai thácthông tin còn thấp Chất lượng thông tin trong nhiều trường hợp không đáp ứng được yêucầu của người sử dụng, nhiều thông tin còn chưa đầy đủ, độ tin cậy không cao
+ Hiện nay các TTGTVL chưa xây dựng một hệ thống các trạm quan sát, thu thập cơ
sở dữ liệu về nhu cầu tuyển dụng và nhu cầu đăng ký tìm việc Từ đó thông tin nhận đượcchưa đầy đủ, không phản ánh được chính xác thông tin về cung - cầu lao động, công tác dựbáo, nhận dạng xu hướng thị trường vẫn chưa có độ chính xác và tin cậy cao Với vai trò là
Trang 35đầu mối giao dịch trực tiếp, kết nối cung và cầu lao động, nhưng các TTGTVL nhưng vẫnchưa chú trọng thực hiện tốt vai trò này.
+ Việc tiếp cận với doanh nghiệp để thu thập thông tin nhu cầu tuyển dụng lao độngcủa doanh nghiệp còn nhiều khó khăn, cơ chế quy định cung cấp thông tin còn chưa chặtchẽ, thông tin thu thập được chưa chuẩn xác và đầy đủ
+ Các cơ sở đào tạo chưa có đầu mối để gắn kết thông tin với các đơn vị khác, chưa
có mối liên hệ thường xuyên với các TTGTVL, các doanh nghiệp
+ Thông tin từ các cơ quan quản lý nhà nước: Cục Thống kê, Sở LĐ-TBXH, Sở Kếhoạch – Đầu tư, Sở Giáo dục – Đào tạo chưa được chia sẻ rộng rãi cho các đơn vị có nhu cầu
sử dụng, thông tin chủ yếu được cung cấp chia sẻ nội bộ trong khu vực nhà nước
- Hình thức, phương tiện cung cấp chưa đa dạng và không tiện ích, không thuận lợicho quá trình khai thác cập nhật Ví dụ như website việc làm của tỉnh, các sản phẩm thống
kê, các báo cáo hành chánh của các cơ quan, tổ chức
Những tồn tại và hạn chế vừa nêu đặt ra vấn đề cần thiết phải thiết lập một hệ thốngthông tin thị trường trong đó quy định nội dung thông tin, thời gian, cơ chế trách nhiệm trongviệc cung cấp thông tin, phát triển các hình thức cung cấp thông tin đa dạng và tiện ích Việcxây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động là một công việc lớn, phức tạp, lâu dài cầnđược sự quan tâm của các ngành, các cấp và nhiều đối tượng có liên quan
3.2 Các hoạt động hỗ trợ thị trường lao động
TTGTVL làm nhiệm vụ là cầu nối trung gian giữa người người sử dụng lao động vàngười lao động, thiết lập các chương trình thu thập, phân tích, lưu giữ và cung cấp thông tinthị trường lao động cho các đối tượng sử dụng; tư vấn về các cơ hội việc làm, nghề nghiệp;bên cạnh đó TTGTVL cũng có vai trò quan trọng trong việc đào tạo ngắn hạn đáp ứng nhucầu trước mắt của thị trường lao động, giúp người lao động thích ứng với công việc Điềunày cho thấy vai trò của các trung tâm trong việc thực hiện các hoạt động hỗ trợ cho thịtrường lao động, giới thiệu việc làm có hiệu quả sẽ góp phần tăng số lượng và chất lượnggiao dịch trên thị trường lao động thúc đẩy thị trường lao động phát triển và vận hành tốthơn
3.2.1 Hệ thống các TTGTVL trong tỉnh
Hiện tại Tiền Giang có 4 Trung tâm Giới thiệu việc làm phân bố tập trung tại Thànhphố Mỹ Tho, gồm TTGTVL Tiền Giang thuộc Sở Lao động – TBXH và 3 trung tâm thuộccác tổ chức đoàn thể: Liên đoàn Lao động, Đoàn Thanh niên CSHCM và Hội Liên hiệp phụ
nữ tỉnh Trong đó TTGTVL Thanh niên có 3 văn phòng đại diện tại Huyện Đoàn các huyệnCái Bè, Chợ Gạo và Gò Công Đông TTGTVL Tiền Giang chuẩn bị đưa vào hoạt động 2 chi
Trang 36nhánh vào đầu năm 2010 tại Thị xã Gò Công và huyện Cai Lậy đáp ứng nhu cầu giao dịchviệc làm tại các huyện phía Đông và phía Tây của tỉnh.
Trong thời gian qua các trung tâm đã và đang được đầu tư nâng cao năng lực hoạtđộng như: cải tạo cơ sở vật chất, đầu tư máy móc trang thiết bị, tăng cường đội ngũ cán bộ.Hầu hết các trung tâm có đủ điều kiện về cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động; riêngTTGTVL Tiền Giang đang được đầu tư cở vật chất, trang thiết bị nâng cấp sàn giao dịchviệc làm với quy mô đáp ứng nhu cầu giao dịch việc làm của cả tỉnh
Về kinh phí hoạt động có trung tâm được cấp kinh phí để hoạt động, một số trungtâm khác chỉ được đơn vị quản lý cấp một phần, nên các trung tâm còn gặp khó khăn về kinhphí để hoạt động
Đội ngũ cán bộ nhân viên:
nhân viên
Số nhân viên thực hiện tư vấn - GTVL
Các TTGTVL của các tổ chức đoàn thể do số biên chế ít nên số nhân viên phụ tráchcông tác tư vấn – giới thiệu việc làm còn thiếu Đa số nhân viên thực hiện tư vấn tại cáctrung tâm đều chưa được tập huấn về nghiệp vụ nên công tác tư vấn, giới thiệu việc làm còngặp nhiều khó khăn Do đó để nâng cao hiệu quả hoạt động cần thiết phải có sự củng cố tăngcường đội ngũ cán bộ và nâng cao về nghiệp vụ
3.2.2 Hiệu quả hoạt động các trung tâm
3.2.2.1 Công tác tư vấn, giới thiệu việc làm.
Kết quả thực hiện năm 2008 cho ở bảng sau:
Đơn vị tính: lượt người
TTGTVL
Trang 37Số liệu tư vấn, giới thiệu việc làm Trung tâm GTVL Tiền Giang qua
các năm
0 2000 4000 6000 8000 10000 12000
lượt người
tư vấn việc làm
giới thiệu việc làm
Qua số liệu cho thấy TTGTVL Tiền Giang vẫn giữ vai trò là TTGTVL tiêu biểu củatỉnh với kết quả thực hiện giới thiệu việc làm chiếm tỷ lệ cao và TTGTVL Hội Liên hiệp phụ
nữ quy mô và năng lực nhỏ nên kết quả giao dịch việc làm còn hạn chế Tuy vậy, trong năm
2008 các Trung tâm đã giải quyết việc làm cho 4.008 lao động và thu hút được sự quan tâmngày càng nhiều từ phía đơn vị sử dụng lao động và người lao động tham gia giao dịch việclàm, góp phần làm giảm nhu cầu bức bách của xã hội về việc làm
Riêng TTGTVL Tiền Giang, quá trình phát triển công tác tư vấn giới thiệu việc làmgiai đoạn 2004-2008 cho ở biểu đồ sau:
3.2.2.2 Chức năng môi giới cung ứng lao động cho doanh nghiệp.
Trước đây việc cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trong và ngoài tỉnh của cáctrung tâm thực hiện nhiều, nhất là cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trong các khuchế xuất ở TP.HCM Hiện tại, TTGTVL Tiền Giang, TTGTVL Liên đoàn Lao động vẫn còn
ký kết hợp đồng cung ứng lao động cho doanh nghiệp ở KCN Mỹ Tho, Bình Dương,Tp.HCM nhưng chỉ cung ứng được khoảng 20% nhu cầu của các doanh nghiệp, chủ yếu làlao động phổ thông các ngành như may mặc, lắp ráp điện tử do lực lượng lao động phổthông có nhu cầu tìm việc rất ít
3.2.2.3 Đào tạo kỹ năng cho người lao động đáp ứng nhu cầu doanh nghiệp.
Hình thức này đã giảm sút rất mạnh do các doanh nghiệp gặp khó khăn trong tuyểndụng lao động phổ thông (may mặc, chế biến thủy sản, lắp ráp điện tử…) nên đa số các
Trang 38doanh nghiệp tự tuyển dụng và đào tạo tay nghề cho lao động khi vào làm việc và kèm theocác chế độ khuyến khích người lao động vào làm việc.
3.2.2.4 Tư vấn đào tạo đối với các cơ sở đào tạo
Trong thời gian vừa qua các cơ sở đào tạo trong tỉnh đã có mối liên kết với cácTTGTVL (chủ yếu là TTGTVL Tiền Giang) thông qua việc mời Trung tâm tham gia cácngày hội tư vấn việc làm cho sinh viên và cung cấp thông tin về thị trường lao động cho các
cơ sở đào tạo có nhu cầu: trường Đại học Tiền Giang, trường Cao đẳng nông nghiệp Nam
Bộ, trường Trung cấp nghề Tiền Giang,…
3.2.2.5 Đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm.
Tên đơn vị
Học viên tốt nghiệp trung bình/
năm
Học viên được giới thiệu việc làm
Ngành nghề đào tạo
May công nghiệp, sữa chữa máy may công nghiệp, điện tử
2 TTGTVL Liên đoàn
chữa máy tính, kế toán
4 TTGTVL Hội Liên hiệp
Giới thiệu việc làm chủ yếu ở ngành may giới thiệu cho các công ty may trong tỉnh,ngoài ra còn giới thiệu ngành điện tử đến các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, khuchế xuất tại TP.HCM
3.2.2.6 Tổ chức các phiên giao dịch việc làm
Tháng 10/2007 TTGTVL Tiền Giang đã khai trương sàn giao dịch việc làm và trangweb việc làm Đến nay công tác vận hành Sàn giao dịch việc làm đã được mang lại kết quảthiết thực kết nối cung – cầu lao động, cụ thể:
Trang 39- Trong năm 2008 đã tổ chức 4 phiên giao dịch việc làm có 243 lượt doanh nghiệp,
cơ sở dạy nghề, TTGTVL tham gia, với 83 lượt đơn vị tham gia trực tiếp, 160 lượt tham giagián tiếp thông qua sàn giao dịch, nhu cầu tuyển dụng trên 20.000 lao động Qua các phiêngiao dịch việc làm đã có 5.786 lượt người lao động tham gia, 2.300 lượt lao động đăng kýtìm việc, có 1.733 lượt lao động được phỏng vấn trực tiếp, 654 người được tuyển dụng trựctiếp và 680 người được hẹn phỏng vấn tại doanh nghiệp sau phiên giao dịch; có 200 lượt laođộng đăng ký đi xuất khẩu lao động, 250 người đăng ký học nghề
- Năm 2009 đẩy mạnh thực hiện công tác giao dịch việc làm dự kiến cả năm thựchiện 12 Phiên giao dịch (1 phiên/tháng), trong 6 tháng đầu năm 2009 đã tổ chức 8 phiên giaodịch việc làm có 180 lượt doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề, TTGTVL tham gia, với 75 lượt đơn
vị tham gia trực tiếp, 105 lượt tham gia gián tiếp thông qua sàn giao dịch, nhu cầu tuyểndụng trên 12.000 lao động Qua các phiên giao dịch việc làm đã có 6.849 lượt người laođộng tham gia, 2.613 lượt lao động đăng ký tìm việc, có 1.606 lượt lao động được phỏng vấntrực tiếp, 270 người được tuyển dụng trực tiếp và 622 người được hẹn phỏng vấn tại doanhnghiệp sau phiên giao dịch; có 94 lượt lao động đăng ký đi xuất khẩu lao động, 129 ngườiđăng ký học nghề
Qua công tác tổ chức các phiên giao dịch việc làm cho thấy sàn giao dịch việc làm làmột mô hình hoạt động hiệu quả, tiết kiệm thay thế cho các hội chợ việc làm trước đây Quahoạt động các phiên giao dịch việc làm, từng bước đã đưa hoạt động giao dịch việc làm ngàycàng đến gần với người lao động hơn, giúp họ làm quen với việc đăng ký qua mạng, tạo điềukiện cho họ có nhiều cơ hội việc làm, học nghề, xuất khẩu lao động trong tương lai, gópphần quan trọng kết nối cung cầu lao động
Đối với trang web www.vieclamtiengiang.vn của TTGTVL Tiền Giang đi vào hoạtđộng từ năm 2007 đến nay đã gần 2 năm, đây thật sự là kênh tìm hiểu thông tin việc làm hiệuquả đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của người lao động, đến nay đã có trên 270.000 lượttruy cập, trung bình mỗi tháng có trên 10.000 lượt truy cập và trên 300 lượt truy cập mỗingày Sáu tháng đầu năm 2009 đã có 592 lượt lao động đăng ký tìm việc trên website dựkiến năm 2009 sẽ có trên 1.000 lượt lao động đăng ký
3.2.2.7 Công tác xuất khẩu lao động
Trong năm 2008 đã có 481 lao động chính thức đăng ký và tham gia đi làm việc cóthời hạn ở nước ngoài Trong đó đã chính thức xuất cảnh 120 lao động (Malaysia: 9, NhậtBản: 53, Hàn Quốc: 58)
Sang năm 2009 đến tháng 9/2008 có 423 lao động chính thức đăng ký và tham gia.Trong đó đã chính thức xuất cảnh 48 lao động (Nhật Bản: 3, Hàn Quốc: 45)
Qua kết quả cho thấy công tác xuất khẩu lao động của tỉnh ngày càng được người laođộng quan tâm và tham gia, xuất khẩu lao động đã góp phần cải thiện cuộc sống tăng thu
Trang 40nhập cho gia đình; tuy nhiên công tác xuất khẩu lao động hiện nay vẫn còn nhiều khó khăndo: ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế các nước làm giảm nhu cầu tuyển dụng lao động,công tác vận động tuyên truyền còn yếu, người lao động tâm lý ngại đi xa, điều kiện về taynghề, học vấn, thể chất và phí cao nên số lượng lao động đăng ký tham gia cũng chưa nhiều.
3.2.2.8 Công tác thông tin thị trường lao động:
TTGTVL Tiền Giang đã phối hợp với phòng Lao động – TBXH các huyện, thành, thịtrong tỉnh để thu thập thông tin nhu cầu việc làm, học nghề, xuất khẩu lao động tại địaphương để vận động người lao động tham gia các Phiên giao dịch việc làm; đồng thời cungcấp thông tin nhu cầu tuyển dụng của Trung tâm về địa phương phổ biến cho người laođộng Các TTGTVL cũng đã cung cấp thông tin nhu cầu tuyển dụng cho các Đoàn thể tại địaphương
Tuy hệ thống các TTGTVL phân bố không đồng đều chủ yếu ở Tp.Mỹ Tho, cácTrung tâm còn hạn chế về đội ngũ cán bộ, cũng như công tác tư vấn, giới thiệu việc làmnhưng thông qua các hoạt động của mình các TTGTVL đóng vai trò rất quan trọng trongviệc gắn kết cung cầu lao động, hỗ trợ thị trường lao động phát triển góp phần giải quyết vấn
đề việc làm Để nâng cao hơn nữa vai trò của các TTGTVL, đẩy mạnh tăng cường các hoạtđộng hỗ trợ thị trường lao động phát triển cần thiết phải có những chính sách phát triển cácTTGTVL trong thời gian tới
3.3 Thực trạng chính sách thu hút lao động có chuyên môn cao thúc đẩy phát triển thị trường lao động.
3.3.1 Chính sách thu hút của nhà nước
Học hỏi kinh nghiệm từ sự thành công của một số địa phương, từ năm 2003, TiềnGiang ban hành chính sách trợ cấp đối với cán bộ công chức, viên chức được cử đi đào tạo,bồi dưỡng và thu hút, tạo nguồn nhân lực có trình độ cao Chính sách đã được điều chỉnhnhiều lần theo hướng ưu đãi và khuyến khích hơn Nhờ vậy, chính sách này đã có nhữngthành công nhất định trong việc khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức Tiền Giang họctập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đặc biệt là trình độ sau đại học, gópphần vào việc thực hiện kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực có trình độ sau đại học của TiềnGiang giai đoạn 2004-2010
Ở mục tiêu thứ hai của chính sách, thu hút, tạo nguồn nhân lực có trình độ cao (tiến
sĩ, thạc sĩ, cử nhân đạt loại khá trở lên), hầu như đạt kết quả rất hạn chế Từ khi ban hànhchính sách hầu như chưa có trường hợp nào có trình độ sau đại học về tỉnh công tác trongcác cơ quan nhà nước Hỗ trợ tạo nguồn hơn 20 học sinh tốt nghiệp đại học tiếp tục học sauđại học và 19 học sinh đang học đại học ở nước ngoài Thật ra, so với các tỉnh khác thì mứctrợ cấp của Tiền Giang không thấp hơn, nhưng chính sách này không đạt kết quả là do các