Đối với tăng năng suất lao ñộng, ngoài các yếu tố gắn liền với việc nâng cao kỹ năng làm việc và trình ñộ tổ chức quản lý lao ñộng như trên thì tăng năng suất lao ñộng còn do các nguyên
Trang 1Tiền lương là một bộ phận quan trọng trong hệ thống chính sách kinh tế-
xã hội, là ñộng lực tăng trưởng kinh tế và giải quyết công bằng, tiến bộ xã
hội,nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước, khai thác tiềm năng sáng
tạo của người lao ñộng Trong ñiều kiện nước ta chuyển sang nền kinh tế thị
trường ñịnh hướng xã hội chủ nghĩa, một mặt chúng ta vẫn tuân thủ qui luật
phân phối theo lao ñộng, trong ñó tiền lương là một công cụ ñIều tiết quan
trọng; mặt khác do tác ñộng của qui luật cung – cầu, ñIều kiện kinh tế – xã hội
có bước cải thiện, ñòi hỏi chúng ta phải có giải pháp thích ứng về ñịnh hướng
tiền lương nói chung và tiền lương tôí thiểu, tiền lương vùng, ngành nói riêng
NGhị quết hội nghị lần 7 Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá VIII) ñã nêu
rõ: “Tiền lương gắn liền với sự phát triển kinh tế - xã hội của ñất nước, trả lương
ñúng cho người lao ñộng chính là thực hiện ñầu tư cho phát triển, góp phần quan
trọng làm lành mạnh, trong sạch ñội ngũ cán bộ, nâng cao tinh thần và hiệu suất
công tác” Tiếp ñó, báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng tại
Đại hội ñại biểu toàn quốc lần thứ IX, phần 4 mục IV một lần nữa khẳng ñịnh:
“Cải cách cơ bản chế ñộ tiền lương cán bộ, công chức theo hướng tiền tệ hoá
ñầy ñủ tiền lương, ñiều chỉnh tiền lương tương ứng với nhịp ñộ tăng thu nhập
trong xã hội, hệ thống bậc lương ñảm bảo tương quan hợp lý, khuyến khích
người có tài, người làm việc giỏi”
Trong thực tế 8 năm qua, kể từ 1993 ñến nay chính phủ ñã bốn lần thực
hiện nâng lương tối thiểu Tuy nhiên, ñây chỉ là giải pháp tạm thời chưa giải
quyết ñược vấn ñề cốt lõi - ñảm bảo thu nhập cho người lao ñộng, kích thích sản
xuất Sau ñây em xin nêu một số ý kiến của em về vai trò của chế ñộ tiền lương
trong quá trình tạo ñộng lực cho người lao ñộng, trong thời gian qua
Trang 21 Khái niệm và ñặc ñiểm chung về tiền lương
Tiền lương là số tiền mà người sử dụng sức lao ñộng (người mua sức lao
ñộng) trả cho người lao ñộng (người bán sức lao ñộng)
Do tính chất ñặc biệt của loại hàng hoá sức lao ñộng mà tiền lương không chỉ
thuần tuý là vấn ñề kinh tế mà còn là vấn ñề xã hội rất quan trọng, liên quan tới
ñời sống và trật tự xã hội Trong quá trình hoạt ñộng, nhất là trong hoạt ñộng
kinh doanh, ñối với các chủ doanh nghiệp, tiền lương là một phần chi phí cấu
thành chi phí sản xuất – kinh doanh Vì vậy, tiền lương ñược tính toán và quản
lý chặt chẽ Đối với người lao ñộng, tiền lương là thu nhập từ quá trình lao ñộng,
nó là phần thu nhập chủ yếu ñối với ñại ña số lao ñộng trong xã hội, tiền lương
có ảnh hưởng trực tiếp tới mức sống của họ Phấn ñấu nâng cao tiền lương là
mục ñích của hết thảy mọi người lao ñộng Mục ñích này tạo ñộng lực ñể người
lao ñộng phát triển trình ñộ và kĩ năng lao ñộng của mình Trong ñiều kiện của
một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần như ở nước ta hiện nay, phạm trù
tiền lương ñược thể hiện cụ thể trong từng thành phần và khu vực kinh tế Trong
thành phần kinh tế nhà nước và khu vực hành chính sự nghiệp (khu vực lao
ñộng ñược nhà nước trả lương), tiền lương là số tiền mà các doanh nghiệp quốc
doanh, các cơ quan, tổ chức của nhà nước trả cho người lao ñộng theo cơ chế và
chính sách của nhà nước, nó ñược thể hện trong hệ thống thang lương, bảng
lương do nhà nước quy ñịnh Trong các thành phần về khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh, tiền lương chịu sự tác ñộng, chi phối rất lớn của thị trường và thị
trường lao ñộng Tiền lương trong khu vực này dù vẫn nằm trong khuôn khổ của
luật pháp và theo những chính sách của chính phủ, nhưng là những giao dịch
trực tiếp giữa chủ và thợ, những “mặc cả” cụ thể giữa một bên làm thuê và một
bên ñi thuê
2.Yêu cầu của tổ chức tiền lương
Trang 3Đảm bảo tái sản xuất lao ñộng và không ngừng nâng cao ñời sống vật chất
và tinh thần cho người lao ñộng Đây là một yêu cầu quan trọng nhằm ñảm bảo
thực hiện ñúng chức năng và vai trò của tiền lương trong ñời sống xã hội Yêu
cầu này cũng ñặt ra những ñòi hỏi cần thiết khi xây dựng chính sách tiền lương
Làm cho năng suất lao ñộng không ngừng nâng cao Tiền lương là ñòn bẩy quan
trọng ñể nâng cao năng suất lao ñộng, tạo cơ sở nâng cao hiệu quả kinh doanh
Do vậy, tổ chức tiền lương phải ñạt yêu cầu làm tăng năng suất lao ñộng Mặt
khác ñây cũng là yêu cầu ñặt ra ñối với việc phát triển, nâng cao trình ñộ và kỹ
năng của người lao ñộng
Đảm bảo tính ñơn giản, rõ ràng, dễ hiểu Tiền lương luôn là mối quan tâm
hàng ñầu của mọi người lao ñộng Một chế ñộ tiền lương ñơn giản, rõ ràng, dễ
hiểu có tác ñộng trực tiếp tới ñộng cơ và thái ñộ làm việc của họ, ñồng thời làm
tăng hiệu quả của hoạt ñộng quản lý, nhất là quản lý tiền lương
3.Các nguyên tắc của tổ chức tiền lương
Trả lương ngang nhau cho lao ñộng như nhau Nguyên tắc này xuất phát
từ nguyên tắc phân phối theo lao ñộng Nguyên tắc này dùng thước ño lao ñộng
ñể ñấnh giá, so sánh và thực hiện trả lương Những người lao ñộng khác nhau về
tuổi tác, giới tính, trình ñộ v v nhưng có mức hao phí sức lao ñộng (ñóng góp
sức lao ñộng) như nhau thì ñược trả lương như nhau Đây là một nguyên tắc rất
quan trọng vì nó ñảm bảo ñược sự công bằng, ñảm bảo sự bình ñẳng trong trả
lương Điều này sẽ có sức khuyến khích rất lớn ñối với người lao ñộng Nguyên
tắc trả lương ngang nhau cho lao ñộng như nhau bao hàm ý nghĩa ñối với những
công việc khác nhau thì cần thiết phải có sự ñánh giá ñúng mức và phân biệt
công bằng, chính xác trong tính toán trả lương
Đảm bảo năng suất lao ñộng tăng nhanh hơn tiền lương bình quân Năng
suất lao ñộng không ngừng tăng lên, ñó là một qui luật Tiền lương của người
lao ñộng cũng tăng lên không ngừng do tác ñộng của nhiều nhân tố khách quan
Tăng tiền lương và tăng năng suất lao ñộng có liên quan chặt chẽ với nhau Xét
các yếu tố, các nguyên nhân trực tiếp làm tăng tiền lương và tiền lương bình
quân, ta thấy tiền lương tăng là do trình ñộ tổ chức và quản lý lao ñộng ngày
Trang 4càng hiệu quả hơn Đối với tăng năng suất lao ñộng, ngoài các yếu tố gắn liền
với việc nâng cao kỹ năng làm việc và trình ñộ tổ chức quản lý lao ñộng như
trên thì tăng năng suất lao ñộng còn do các nguyên nhân khác tạo ra như ñổi mới
công nghệ sản xuất, nâng cao trình ñộ trang thiết bị kỹ thuật trong lao ñộngkhai
thác và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên Rõ ràng là năng suất lao
ñộng có khả năng khách quan tăng nhanh hơn tiền lương bình quân Trong từng
doanh nghiệp thì thấy rằng, tăng tièn lương dẫn ñến tăng chi phí sản xuất, kinh
doanh ; tăng năng suất lao ñộng làm giảm chi phí cho từng ñơn vị sản phẩm.Một
doanh nghiệp chỉ thực sự kinh doanh có hiệu quả khi chi phí nói chung cũng
như chi phí cho một ñơn vị sản phẩm giảm ñi, tức mức giảm chi phí do tăng
năng suất lao ñộng phải lớn hơn mức tăng chi phí do tăng tiền lương bình quân
Rõ ràng nguyên tắc này là cần thiết ñể nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp, nâng cao ñời sống của người lao ñộng và phát triển kinh tế
Đảm bảo mối quan hệ hợp lý về tiền lương giữa những người lao ñộng
làm các nghề khác nhau trong nền kinh tế quốc dân Đảm bảo mối quan hệ hợp
lý về tiền lương giữa những người lao ñộng làm việc trong các nghề khác nhau
nhằm ñẩm bảo sự công bằng, bình ñẳng trong trả lương cho người lao ñộng
Thực sự nguyên tắc này là cần thiết và dựa trên những cơ sở như: trình ñộ lành
nghề bình quân của người lao ñộng ở mỗi ngành; ñiều kiện lao ñộng; ý nghĩa
kinh tế của mỗi ngành trong nền kinh tế quốc dân; sự phân bổ theo khu vực sản
xuất
Nếu có một lực lượng lao ñộng có trình ñộ và ñược bố trí vào những vị trí
thích hợp nhưng chính sách tiền lương không phù hợp thì tinh thần công nhân
viên sẽ sa sút, năng suất lao ñộng thấp, làm cho giá của sản phẩm cao dẫn ñến
thất bại trong kinh doanh … Do ñó cần phải tạo ñộng lực trong lao ñộng thông
qua chính sách tiền lương
II-Tạo ñộng lực
1.Khái niệm tạo ñộng lực trong lao ñộng :
Trang 5Là tạo ra những kích thích sự nỗ lực, sự khát khao ñạt ñược những mục
tiêu trong lao ñộng Tạo ñộng lực là ñáp ứng các nhu cầu của con người (tức là
ñem lại lợi ích cho người lao ñộng)
2.Một số học thuyết
a)Thuyết hệ thống phân cấp các nhu cầu của Abraham Maslow:
Chúng ta ñã lập luận rằng, hành vi của một cá nhân tại một thời ñiểm nào
ñó thường ñược quyết ñịnh bởi nhu cầu mạnh nhất của họ Bởi vậy, ñIều quan
trọng ñối với các nhà quản lý là phải biết ñược những nhu cầu thông thường
quan trọng nhất Abraham Maslow ñã triển khai một sơ ñồ rất thú vị có tác dụng
lý giải Theo Maslow, dường như có một hệ thống phân cấp trong ñó nhu cầu
của con người ñược xếp như ñã minh hoạ qua hình 1
Theo hình1 thì nhu cầu sinh lý ñược ñặt ở ñỉnh hệ thống phân cấp vì
chúng có xu hướng, có sức mạnh cao nhất cho tới khi chúng ñược thoả mãn
Đây là những nhu cầu cơ bản của con người ;thức ăn, quần áo, nhà ở Cho tới
khi các nhu cầu này chưa ñược ñáp ứng ñủ ñến mức cần thiết cho cơ thể con
người hoạt ñộng, phần lớn các hoạt ñộng của con người có lẽ sẽ ở mức này và
các nhu cầu khác sẽ ít có ñộng cơ thúc ñẩy
Nhưng ñiều gì sẽ xảy ra ñối với ñộng cơ thúc ñẩy của một người khi
những nhu cầu cơ bản này bắt ñầu ñược ñáp ứng ñầy ñủ Khi các nhu cầu sinh lý
ñược ñáp ứng ñầy ñủ, thì các nhu cầu khác sẽ trở nên quan trọng, chúng thúc
ñẩy và khống chế hành vi của cá nhân.Và khi những nhu cầu này ñược ñáp ứng
tới một mức ñộ nào ñó, những nhu cầu khác lại xuất hiện và tiếp tục như vậy
tiến xuống phía dưới của hệ thống phân cấp
Khi các nhu cầu sinh lý ñược ñáp ứng, các nhu cầu về an toàn hoặc an
ninh trở nên nổi trội hơn (hình2) Những nhu cầu này chủ yếu là nhu cầu không
bị ñe doạ thân thể và bị tước mất các nhu cầu sinh lý cơ bản Nói cách khác, ñây
là một nhu cầu tự duy trì Ngoài ra, người ta còn lo lắng tới tương lai như có thể
duy trì ñược của cải hoặc công việc ñể có thể cung cấp thức ăn và nơi ở cho
ngày mai không Nên sự an toàn hay an ninh của một cá nhân bị ñe doạ thì
những ñiều khác dường như không quan trọng
Trang 6Khi các nhu cầu sinh lý và an toàn ñã ñược thoả mãn khá tốt thì nhu cầu
xã hội hoặc hội nhập (liên kết, giao kết) sẽ xuất hiện với tư cách là các nhu cầu
nổi trội trong cấu trúc nhu cầu, như minh hoạ qua (hình3) Vì mọi người là thành
viên của xã hội, họ có một nhu cầu ñược thuộc về các nhóm khác nhau và ñược
các nhóm chấp thuận Khi nhu cầu xã hội trở nên nổi trội, một người sẽ cố gắng
có ñược các quan hệ tốt ñẹp với người khác
Sau khi các cá nhân bắt ñầu thoả mãn nhu cầu nhập cuộc của họ, nói
chung họ muốn nhiều thứ khác nữa chứ khong phải chỉ trở thành thành viên
trong nhóm Khi ñó họ có nhu cầu ñược tôn trọng – cả tự trọng và sự nhận biết
từ người khác, như thể hiện qua (hình 4) Hầu hết mọi người có một nhu cầu
ñược ñánh giá cao dựa trên cơ sở thực tế – sự nhận biết và sự tôn trọng từ phía
người khác Việc thoả mãn những nhu cầu ñược tôn trọng này tạo ra cảm giác tự
tin, uy tín, quyền lực và sự kiềm chế Con người bắt ñầu cảm thấy họ có ích và
có chút ảnh hưởng ñối với môi trường xung quanh Thế nhưng cũng có nhũng
trường hợp con người không thể thoả mãn nhu cầu ñược tôn trọng của họ bằng
hành vi có tính xây dựng Khi nhu cầu này trở nên mạnh thì một cá nhân có thể
Trang 7sử dụng những hành vi phá hoại hoặc không chín chắn ñể thoả mãn mong muốn
ñược chú ý, chẳng hạn một ñứa trẻ có thể tức giận, các cá nhân có thể giảm bớt
giờ làm việc hoặc tranh luận với công nhân khách hoặc với chủ.Vì vậy, sự nhận
biết không phải lúc nào cũng ñạt ñược thông qua hành vi chín chắn hoặc hành vi
thích hợp ñôi khi nó có thể có ñược do những hành ñộng mang tính “phá hoại”
hoặc vô trách nhiệm Thực tế, một vài vấn ñề xã hội mà chúng ta ñang gặp phải
hiện nay có thể có nguồn gốc sâu xa do sự vỡ mộng về các nhu cầu ñược tôn
Khi các nhu cầu ñược tôn trọng bắt ñầu ñược thoả mãn ñầy ñủ, nhu cầu tự
khẳng ñịnh mình trở nên mạnh hơn, như thể hiện qua (hình 5) Tự khẳng ñịnh
mình là nhu ñể tăng ñến mức tối ña tiềm năng của một người Một nhạc sĩ phải
chơi nhạc, một nhà thơ phải sáng tác, một vị tướng phải cầm quân, một giáo sư
phải giảng dạy Maslow nói : “một con người có thể là gì, thì anh ta sẽ phải là
cái ñó”.Vì vậy, tự khẳng ñịnh mình là một mong muốn làm cái ñiều mà người ta
có thể ñạt ñược Các cá nhân thoả mãn nhu cầu này theo các cách khác nhau Ơ
người này nó ñược thể hiện dưới dạng mong muốn trở thành một bà mẹ lý
tưởng; ở người khác nó lại ñược thể hiện trong việc quản lý một tổ chức; hoặc ở
Trang 8Tuy nhiên cấu trúc nhu cầu trên không nhất thiết phải theo các phần như
Maslow ñã mô tả Ông không có ý ñịnh nói rằng cấu trúc này có thể áp dụng
phổ biến Maslow thấy ñây là một mô hình ñặc trưng hầu như luôn vận hành
Đồng thời ông cũng nhận ra rằng, có rất nhiều ngoại lệ ñối với xu hướng chung
này.Ví dụ, nhà lãnh ñạo Ân Độ Mahatma Gandhi thường xuyên hy sinh nhu cầu
sinh lý và an toàn ñể ñáp ứng các nhu cầu khác, khi Ân Độ ñang ñấu tranh giành
ñộc lập, thoát khỏi chế ñộ thực dân Anh Trong các sự kiện lịch sử của ông,
Gandhi ñã ñI hàng tuần mà không ăn uống ñể phản ñối sự bất công của chính
phủ Anh Ông ñã hành ñộng ở mức tự giác trong khi một số nhu cầu khác của
ông không ñược thoả mãn
b)Thuyết hai nguyên tố (Thuyết hệ ñộng cơ - vệ sinh) của Fredrick Herzberg
Phân tích dữ liệu thu thập ñược từ các cuộc phỏng vấn, Herzbergkết luận
rằng, con người có hai loại nhu cầu, về cơ bản ñộc lập với nhau và ảnh hưởng
tới những hành vi theo những cách khác nhau Ông thấy rằng, khi con người
cảm thấy không thoả mãn với công việc của mình, họ rất lo lắng về môi trường
họ ñang làm việc Mặt khác, khi cảm thấy hài lòng về công việc thì con người
lại quan tâm tới chính công việc Herzberg ñã gọi loại nhu cầu ñầu tiên là vệ
sinh hoặc các nhân tố bảo trì : vệ sinh vì chúng mô tả môi trường của con người
và bảo ñảm chức năng sơ ñẳng là ngăn ngừa sự chán nản của công việc, bảo trì
Trang 9vì chúng không bao giờ ñược thoả mãn hoàn toàn – chúng phải tiếp tục ñược
duy trì Ông gọi loại nhu cầu thứ hai là các ñộng cơ thúc ñẩy vì dường như
chúng có hiệu quả trong việc kích thích con người thực hiện công việc tốt hơn
Các nhân tố vệ sinh
Các chính sách của công ty và công tác quản trị, giám sát các ñiều kiện
làm việc, các quan hệ liên nhân cách, tiền, vị thế và sự an toàn có thể ñược coi là
các nhân tố bảo trì ñây không phải là một phần vốn có bên trong cong việc, mà
chúng có liên quan tới các ñiều kiện trong ñó công việc ñược thực hiện
Herzberg ñề xuất việc sử dụng ñộc ñáo từ vệ sinh với ý nghĩa y học của nó (bảo
vệ và môi trường) Ông thấy rằng, các nhân tố vệ sinh không tạo ra sự tăng
trưởng khả năng sản xuất của công nhân ; chúng chỉ ngăn chặn những tổn thất
do những hạn chế của công việc gây ra khi công nhân vận hành công việc Đây
là nguyên nhân gần ñây Herzberg ñã gọi chúng là những nhân tố bảo trì
Các ñộng cơ thúc ñẩy
Các nhân tố làm thoả mãn những cảm giác về thành tích, sự trưởng thành
nghề nghiệp và sự thừa nhận rằng ai cũng có thể có những kinh nghiệm trong
công việc tuỳ theo mức ñộ khó khăn và phạm vi, ñều ñược coi như các ñộng cơ
thúc ñẩy Herzberg ñã xử dụng thuật ngữ này bởi vì những yếu tố ấy dường như
có khả năng gây ảnh hưởng tích cực ñến sự thoả mãn nghề nghiệp, thường dẫn
tới nâng cao tổng sản phẩm ñầu ra của người ñó
Trang 10Bảng1 - Động cơ thúc ñẩy và các nhân tố vệ B sinh
Động cơ thúc ñẩy Các nhân tố vệ sinh
Bản thân công việc Môi trường
Thành tích Chính sách và quản trị
Sự thừa nhận thành tích ñạt ñược Giám sát
Công việc có tính chất thử thách Điều kiện làm việc
Trách nhiệm cao Quan hệ liên nhân cách
Tăng trưởng và phát triển Tiền, vị thế, sự an toàn
Trong những năm gần ñây việc nghiên cứu hệ ñông cơ - vệ sinh ñược mở
rộng nhờ các nhà khoa học và kế toán nhằm bao quát mọi cấp ñộ của tổ chức, từ
giới quản lý cấp cao cho tới những người làm thuê Theo giờ Ví dụ, trong một
nghiên cứu quy mô lớn tại nhà máy chế tạo công cụ texas, scott Meyers kết luận
rằng, thuyết ñộng cơ - vệ sinh của Herzberg “có thể dễ dàng giải trình thành hoạt
ñộng giám sát ở tất cả các mức ñộ trách nhiệm Đó là một khuôn mẫu dựa vào
ñó các giám sát viên có thể ñánh giá và lường hết ñược triển vọng của sự ủng hộ
thường xuyên qua các “gợi ý có lợi”, mà họ phải chịu ñựng, và do ñó, tăng cảm
giác của mình về khả năng tự tin và tự chủ” Có lẽ bằng ví dụ sẽ phân biệt rõ
hơn về nhân tố vệ sinh - ñộng cơ, và giúp giải thích lý do phân loại các nhu cầu
như herzberg ñã làm
Chúng ta hãy giả ñịnh một người ñang có hệ ñộng cơ cao và ñang làm
việc ở mức ñộ 90% khả năng Anh ta có mối quan hệ tốt với giám sát viên và
hoàn toàn thoả mãn với tiền lương, ñIều kiện làm việc của mình, và là thành vên
của một nhóm làm việc tâm ñầu ý hợp Giả sử giám sát viên của anh tabỗng
nhiên chuyển ñi và thay thế vào ñó là một người mà anh ta không thể làm việc
ñược, hoặc giả sử anh ta thấy rằng một người nào ñó nhận thù lao nhiều hơn
nhưng công việc của người này kém hơn so với công việc của anh ta Những
nhan tố này sẽ ảnh hưởng tới hành vi của cá nhân ñó như thế nào? Vì trình ñộ
Trang 11vận hành hoặc năng suất phụ thuộc vào cả khả năng lẫn hệ ñộng cơ nên những
nhu cầu vệ sinh không ñược thoả mãn này (giám sát và tiền) có thể dẫn tới hạn
chế sản lượng Năng suất bị tụt giảm có thể trong trường hợp không chủ ñịnh
hoặc có thể người thợ không nhận thứcrõ ràng ñược mình ñang thụt lùi Trong
tất cả hai trường hợp, năng suất sẽ giảm như minh hoạ trên hình 6
Hình 6 - ảnh hưởng của sự không thoả mãn các nhân tố vệ sinh
90% (khi các nhân tố vệ sinh ñược thoả mãn)
- 60%(sau khi không ñược thoả mãn)
Trong minh hoạ trên, thậm chí nếu giám sát viên trước ñây của người
công nhân ñó trở lại và lương của anh ta dược ñIều chỉnh lên trên mức anh
mong muốn, thì năng suất của anh ta có lẽ chỉ tăng tới mức ban ñầu Ngược lai,
chúng ta hãy lấy ví dụ cũng như người ñó và giả ñiịnh rằng không xảy ra tình
trạng bất mãn như trên, anh ta sẽ làm việc với 90% khả năng Giả sử anh ta có
cơ hội trưởng thành và thoả mãn các nhu cầu ñộng cơ của mình trong một môi
trưòng cho phép anh ta tự do thử nghiệm những sáng kiến và sáng tạo nào ñó
quyết ñịnh giải quyết vấn ñề và gánh vác trách nhiệm Tình huống này sẽ có ảnh
hưởng gì ñối với cá nhân ñó? Nếu anh ta có thể ñáp ứng ñược mông muốn của
giám sát viên trong việc thực hiện các trách nhiệm mới này, anh ta có thể vẫn
làm việc với 90% khả năng, nhưng với tư cách cá nhân, anh ta có thể ñã có ñủ
chín chắn và trưởng thành về khả năng và có thể có năng suất cao hơn nữa, như
minh hoạ trên hình 7 Khả năng của anh ta tăng lên
Hình 7 - ảnh hưởng của việc làm thoả mãn các ñộng cơ thúc ñẩy
- 90%(sau khi có các ñộng cơ thúc ñẩy)
90%(trước khi có cácñộng cơ thúc ñẩy)
Trang 12
Các nhân tố vệ sinh khi ñược thoả mãn có xu hướng loại trừ sự bất mãn
và hận chế trong công việc, nhưng chúng ít thúc ñẩy cá nhân vươn tới ñặc tính
vận hành cao hơn hoặc khả năng cao hơn Tuy nhiên, sự thoả mãn các ñộng cơ
sẽ cho phép cá nhân lớn lên và phát triển một cách chắc chắn, thôngthường là
tăng khả năng Do ñó, các nhân tố vệ sinh ảnh hưởng tớithiện ý hoặc hệ ñộng cơ
của cá nhân
c)Thuyết kỳ vọng của victor Vroom
Chúng ta từng nói tới ñộ mạnh của nhu cầu Vậy những yếu tố nào ảnh
hưởng ñến ñộ mạnh của nhu cầu Victor Vroom ñã ñua ra một cách tiếp cận
trong thuyết kỳ vọng nhằm cố gắng trả lời câu hỏi này Hơn nữa, thuyết của ông
phù hợp với ñiều khẳng ñịnh trước ñây của chúng ta là, nhu cầu ñược cảm nhận
tạo nên hành vi của con người
Dưói hình thức ñơn giản hoá, nhu cầu ñược cảm nhận tạo nên hành vi, và
việc tạo lập hành vi ñược thúc ñẩy này trong một công việc sẽ tăng lên, nếu một
người nhận thức ñược mối quan hệ tích cực giữa cố gắng và thực hiện Hành vi
ñược thúc ñẩy tiếp tục tăng lên, nếu có mối tương quan thuận giữa việc thực
hiện tốt công việc và kết quả hoặc giải thưởng, ñặc biệt nếu kết quả hoặc giải
thưởng ñược ñánh giá cao Do ñó, có ba mối quan hệ nâng cao hành vi ñược
thúc ñẩy: một mối quan hệ tích cực giữa cố gắng và thực hiện, một mối quan hệ
tích cực giữa thực hiện tốt và giải thưởng và sự phân phát hoặc ñạt ñược kết quả
cao hoặc giải thưởng ñược ñánh giá cao Hãy xem xét một ví dụ Có một nhà
quản lý mới hiểu rõ tuần làm việc 60 giờ là ñiều kiện sống còn ñể thực hiện tốt
công việc Hơn nữa, nhà quản lý cũng hiểu ñược là việc thực hiện tốt một công
việc có thể sẽ là ñiều kiện ñể thăng tiến sớm, và ñi liền với ñiều kiện này là sự
tăng lương thêm 10% Nếu chuỗi sự kiện này xảy ra, người quản lý sẽ sẵn sàng
làm việc tích cực hơn, củng cố thêm lòng tin vào kiểu hành vi ñó “thành công
nuôI dưỡng thành công” Nhưng nếu tình hình thực hiện công việc ñược cải
thiện, nhà quản lý không ñược thăng chức hoặc lương tăng ít hơn mức hy vọng
thì ñộng cơ thúc ñẩy,sự tự nguyện và lòng tin của anh ta sẽ giảm xuống
III-Vai trò của tiền lương với tạo ñộng lực cho người lao ñộng
Trang 13Như chúng ta ñã biết tiền lương là một trong những vấn ñề nhạy cảm
ñược cá nhân, người lao ñộng, tập thể và xã hội quan tâm.Vì nó liên quan ñến
ñời sống trực tiếp của từng người lao ñộng, liên quan ñến công tác-sản xuất của
từng cơ sở sản xuất kinh doanh, từng ñơn vị hành chính-sự nghiệp cũng như
hoạt ñộng của toàn xã hội Mỗi người lao ñộng khi làm việc mục ñích ñầu tiên
của họ là nhận về một khoản tiền lương mà khoản tiền lương này trước hết phải
ñủ ñể người lao ñộng tái sản xuất lại sức lao ñộng mà họ ñã bỏ ra ñể sản xuất ra
những sản phẩm dựa trên những nguyên nhiên vật liệu mà người sử dụng lao
ñộng ñã sẵn có
Để tái sản xuất lại sức lao ñộng mà người lao ñộng ñã bỏ ra thì người sử
dụng lao ñộng phải ñảm bảo cho người lao ñộng có ñủ lương thực, thực phẩm
tối thiểu ñể duy trì cuộc sống hàng ngày và thời gian nghỉ ngơi, giải trí…ñủ ñể
họ tái sản xuất lại sức lao ñộng mà họ ñã bỏ ra Để thoả mãn ñược nhu cầu này
thì người lao ñộng phải nhận ñược một khoản tiền lương từ người sử dụng sức
lao ñộng của họ.Nếu số tiền lương mà họ nhận ñược thấp chỉ ñủ ñể họ duy trì
ñược cuộc sống hàng ngày thì ñổi lại sức lao ñộng mà họ bỏ ra ñể sản xuất sản
phẩm cho doanh nghiệp cũng chỉ là cầm chừng chứ không hề có sự cố gắng
nâng cao năng suất lao ñộng trong sản xuất Nếu tiền lương mà họ nhận ñược
cao thì ñủ cho họ duy trì ñược cuộc sống và thoả mãn ñược một số nhu cầu khác
của họ Chẳng hạn như tiên lương không những ñủ nuôi sống bản thân mà còn
nuôi sống ñược gia ñình và mua sắm ñược một số ñồ dùng phục vụ cho sinh
hoạt …Điều ñó làm cho họ có thêm ñộng lực ñể làm việc.Họ làm việc không
những tận tình có trách nhiệm với công việc của mình mà còn có xu hướng tìm
tòi học hỏi thêm kĩ năng kĩ xảo ñể làm việc ñạt hiệu quả năng suất lao ñộng cao
hơn ñể không phụ lòng mong mỏi của người sử dụng sức lao ñộng Còn nếu tiền
lương quá thấp không ñảm bảo cuộc sống hàng ngày cho họ thì sẽ dẫn ñến tình
trạng bê trễ trong công việc, khi làm việc thì tỏ ra mệt mỏi, không muốn làm
việc vì tiền lương không ñủ ñể họ tái sản xuất sức lao ñộng.Và có xu hướng ñi
tìm việc khác ñể có thể có mức tiền lương cao hơn ñủ ñể họ tái sản xuất sức lao
ñộng và tái sản xuất mở rộng sức lao ñộng của mình
Trong cuộc sống hàng ngày thì nhu cầu là những ñòi hỏi khách quan sẵn
có của con người.Nhu cầu phụ thuộc vào ñIều kiện kinh tế xã hội nhất ñịnh, mà
Trang 14chủ thể của nhu cầu là con người, nhóm người của cả xã hội.Nhu cầu không
phải là cố ñịnh, cứng nhắc mà luôn thay ñổi theo hướng tăng lên theo sự phát
triển của xã hội.Trong cuộc sống nếu một nhu cầu ñược thoả mãn thì ngay sau
nó lại phát sinh thêm một nhu cầu mới cao hơn nhu cầu trước Để thoả mãn
ñược nhu cầu thì con người cần phải sống và làm việc một cách tích cực,ñể ñáp
lại sự làm việc tích cực ñó thì chính là tiền lương.Tiền lương có cao thì lượng
nhu cầu ñược thoả mãn cũng cao hơn, vậy tiền lương không những là bộ phận
cơ bản ñể tái sản xuất mở rộng sức lao ñộng mà tiền lương còn giúp cho người
lao ñộng mua sắm ñược các vật dụng cần thiết phục vụ cho nghỉ ngơi, giải trí
…và còn tích luỹ ñể ñề phòng khi ốm ñau Do ñó tiền lương là một bộ phận cơ
bản quan trọng ñối với mỗi con người vì nó ñảm bảo cho tái sản xuất và tái sản
xuất mở rộng sức lao ñộng ñồng thời còn ñáp ứng ñược cả nhu cầu về vật chất
nữa
Trang 15I- Tiền lương chưa ñảm bảo táI sản xuất sức lao ñộng và chưa tạo ñược
ñộng lực cho người lao ñộng
Từ sau ñợt cải cách tiền lương năm 1993 nước ta bắt ñầu ñã có sự thay
ñổi trong phân phối tiền lương và thu nhập Quyền lợi của người lao ñộng dược
bảo ñảm hơn, tiền lương ñược gắn với hiệu quả công việc và năng suất lao ñộng
Các doanh nghiệp ñã chủ ñộng sử dụng vốn làm tăng lợi nhuận, tăng ngân sách
và cải thiện ñiều kiện làm việc cho người lao ñộng…Tuy nhiên trong quá trình
thực hiện cải cách vẫn còn bộc lộ nhiều nhược ñiểm
Tiền lương chưa ñảm bảo tái sản xuất sức lao ñộng.Từ năm 1983, mức
tiền lương tối thiểu 120.000 ñồng/tháng là mức thấp chưa ñảm bảo mức sống
bình thường của người lao ñộng Mặc dù thời kì 1991-1998, tốc ñộ tăng lương
bình quân là 7,5% song tiền lương thực tế của người lao ñộng lại giảm gần 6%
do giá cả tăng Năm 1998 so với 1993, chỉ số giá sinh hoạt tăng 52%, tiền lương
thực tế chỉ còn 87% Riêng ñối với lực lượng vũ trang, nghỉ hưu, mất sức,tiền
lương thực tế chỉ còn 79%.Năm 1999,nhà nước tăng lương tối thiểu lên 180.000
ñồng (tăng 25%) mới chỉ bù vào mức tăng giá ở một số nhu yếu phẩm Trong
thực tế người lao ñộng còn phải chi một số tiền ñáng kể mà chỉ số giá chưa phản
ánh ñược như tiền ñóng góp nhà trường, tiền học thêm, chi phí chữa bệnh, chi
cho an ninh và các khoản ñóng góp xã hội khác Chính vì lẽ ñó tiền lương thực
tế của người lao ñộng nhận ñược còn thấp hơn nhiều
Tiền lương không thực hiện chức năng kích thích lao ñộng, người lao
ñộng không sống bằng tiền lương mà sống bằng thu nhập Trong tổng thu nhập,
phần tiền lương chỉ chiếm 1/4 – 1/3, còn lại là từ các khoản do ñơn vị mang lại
(còn gọi là phần mềm) Việc phân phối phần mềm này ñược các doanh nghiệp
phân phối một cách tuỳ tiện gây ra sự rối loạn trong phân phối NgoàI ra còn có
khoản thu nhập khác từ kinh tế phụ gia ñình, từ các nguồn khác Tình trạng như
trên dẫn ñến tiền lương khong ñược sử dụng như ñòn bẩy kinh tế ñể thu hút và
duy trì người lao ñộng an tâm làm việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh
Nhưng từ 01/01/2001 nhà nước ñã tăng tiền lương tối thiểu từ 180.000
Trang 16đồng/tháng lên 210.000 đơng /tháng nhằm đảm bảo được phần nào tiền lương
thực tế của cán bộ, cơng chức, lực lượng vũ trang, những người hưởng lương từ
ngân sách nhà nước và người lao động trong các doanh nghiệp
1.Tác động của tiền lương trong khu vực doanh nghiệp nhà nước
Trong các doanh nghiệp nhà nước, cơ chế tiền lương,cơ chế phân phối, sử
dụng các quỹ khen thưởng, phúc lợi, lợi nhuận để lại cho doanh nghiệp đều
chậm đổi mới Việc xác định đơn giá tiền lương, quản lý tiền lương và thu nhập
khơng gắn với năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả cơng tác, dẫn đến tình
trạng chênh lệch tiền lươngvà thu nhập là quá lớn giữa các ngành, giữa các
doanh nghiệp; một số doanh nghiệp cĩ mức thu nhập quá cao, khơng hợp lý
Trong đIều kiện tiền lương và thu nhập thực tế giảm sút mạnh, hầu hết các cơ
quan, đơn vị, các tổ chức Đảng, đồn thể đều dã bằng cách này hay cách khác
tìm các nguồn thu để trợ cấp thêm cho cán bộ, viên chức với mức phổ biến là từ
100.000 đồng/tháng đến 200.000đồng/tháng, cĩ nơi đến700.000đồng/tháng hoặc
800.000 đồng/tháng Suy cho cùng thì tất cả các khoản nàyđều cĩ nguồn gốc từ
ngân sách nhà nươc, nhưng lại nằm ngồi sự quản lý của các cơ quan chức năng
của nhà nước, nằm ngồi sự kiểm sốt của ngân sách nhà nước Tình hình đĩ đã
làm cho tiền lương mất dần tác dụng, khơng tương xứng với sức lao động bỏ ra,
khơng cịn là động lực khuyến khích người lao động; tiền lương khơng phải là
nguồn thu nhập chính của người lao động; nĩ đã quay lại tính chất phường hội
như trước cải cách tiền lương năm 1993 Tình hình này cũng đã dẫn đến hiện
tượng “ chảy máu chất xám” đang diễn ra hàng ngày với qui mơ ngày càng lớn
Khá nhiều người cĩ trình độ chuyên mơn cao, do tiền lương và thu nhập thấp
nên đã bỏ cơ quan nhà nước ra làm kinh doanh, hay đi làm cho các cơ quan, văn
phịng đại diện, các tổ chức kinh tế nước ngồi
Trong quá trình thực hiện chế độ lương mới, việc đIều chỉnh bổ sung một
số chính sách phụ cấp cĩ tính chất cục bộ ở một số ngành, các chế độ học phí,
viện phí cho phép để lại một số phần để tăng thu nhập cho cán bộ, tình trạng thu
tiền học, tiền khám chữa bệnh tràn lan và thái quá… đã làm cho hệ thống lương
mang tính chắp vá, cĩ nguy cơ phá vỡ quan hệ tiền lương, phá vỡ những nguyên