1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

63 267 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với ưu thế tuyệt đối về số lượng trong cơ cấu lao động và cơ cấu dân số tại Việt Nam, có thể thấy lao động nông thôn đang trở thành lực lượng sản xuất đóng vai trò quan trọng, quyết định

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đào tạo nghề đối với lao động nông thôn tại Việt Nam là một vấn đề hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Theo số liệu thống kê, hiện nay “cư dân nông thôn chiếm 74,37% dân số và 75,6% lực lượng lao động (32,7 triệu trong 43 triệu lao động cả nước) và gần 90% số người nghèo của cả nước vẫn đang sống ở nông thôn Tỷ lệ thời gian nhàn rỗi ở nông thôn chiếm 19,3%, thất nghiệp ở thành thị 5,1%” Với ưu thế tuyệt đối về số lượng trong

cơ cấu lao động và cơ cấu dân số tại Việt Nam, có thể thấy lao động nông thôn đang trở thành lực lượng sản xuất đóng vai trò quan trọng, quyết định, then chốt trong việc đạt được các mục tiêu đã đề ra trong tiến trình CNH-HĐH đất nước, định hướng chiến lược phát triển dài hạn đến năm 2020 đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại và đặc biệt là vị thế, mức độ phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mở cửa hội nhập

Trong những năm qua, hoạt động đào tạo nghề đối với lao động nông thôn đã rất được trú trọng Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra; trong đó, chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

là một vấn đề bức thiết nhất cần được tập trung giải quyết Trong thực tế, song song với việc tiếp tục mở rộng quy đào tạo nghề đối với lao động nông thôn cũng đã có những giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo Nhưng những giải pháp này còn rất hạn chế, chưa tạo bước đột biến trong việc đạt chất lượng từ quá trình đào tạo nghề đối với lao động nông thôn Giải quyết tốt được “bài toán” chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

sẽ đồng thời đạt được được bốn vấn đề cơ bản:

- Thứ nhất: Đẩy nhanh tiến độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn

Trang 2

- Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp

- Thứ ba: Nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, tạo nguồn lao động chất lượng cho phát triển công nghiệp, xây dựng cơ bản và dịch vụ

- Thứ bốn: Tăng cường sự ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng và góp phần phát triển giáo – đào tạo, nâng cao dân trí

Thời gian qua, đã có một số nghiên cứu đề cập đến việc phát triển đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề đối với lao động nông thôn nói riêng tại Việt Nam để phù hợp với xu hướng hội nhập như: Mạc Văn Tiến (2010), phát triển dạy nghề hiện đại hội nhập với khu vực và thế giới; Đặng Kim Sơn (2008), phát triển nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam thực trạng và giải pháp Cũng có nhiều tác giả khác đã có những nghiên cứu, bài viết để bàn về thực trạng và đề ra những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề nói chung và đào tạo nghề đối với lao động nông thôn nói riêng trong những điều kiện cụ thể, như: Nguyễn Thị Kim Ngân (2007), giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập; Nguyễn Hữu Dũng (2006), bàn về chất lượng lao

động Việt Nam; Lê Bình (2009), đào tạo nghề cho lao động nông thôn: trình

độ phải tương xứng với bằng cấp; Vũ Quốc Tuấn (2010), đào tạo nghề cho lao động nông thôn: cần sự tham gia của các tổ chức xã hội; Nhật Anh (2010), dạy nghề cho lao động nông thôn: điểm nhấn là chất lượng; Phúc Hằng (2010), đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn Tuy nhiên, rất

ít tác giả nghiên cứu một cách toàn diện, sâu rộng về cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của nghiên cứu này là hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn Để đạt được mục tiêu chung đã đề ra, chuyên đề tập trung giải quyết những mục tiêu

cụ thể sau:

Trang 3

1) Thảo luận những vấn đề lý luận về chất lượng đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn.

2) Thảo luận các bài học kinh nghiệm về nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

3) Chỉ ra những vấn đề đặt ra cho nghiên cứu tiếp theo về nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn tỉnh Nam Định

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

a Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề bao gồm ba vấn đề chính sau:

- Một là: Chủ trương của Đảng và Nhà nước trong đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

- Hai là: Hệ thống tổ chức thực hiện hoạt động đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

- Ba là: Kết quả đạt được từ hoạt động đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

b Phạm vi nghiên cứu

Đây là nghiên cứu tổng quan Vì vậy, nghiên cứu này tổng hợp và hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn ở Việt Nam và các nước trên thế giới

4 Phương pháp nghiên cứu

a Nguồn số liệu

Nguồn số liệu được dùng trong nghiên cứu này bao gồm những thông tin

đã được công bố trên sách báo, tạp chí, trên các trang web, các số liệu của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh Nam Định, Sở Nông nghiệp tỉnh Nam Định, Tổng cục thống kê, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Tổng cục Dạy nghề, các tổ chức quốc tế liên quan đến dạy nghề và các nước

Trang 4

b Phương pháp tiếp cận

Phương pháp tiếp cận cơ bản trong nghiên cứu này là tiếp cận tổng thể Phương pháp này xem xét toàn bộ những vấn đề liên quan đến quá trình đào tạo nghề đối với lao động nông thôn nói chung, những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn nói riêng

Ngoài ra, nghiên cứu này còn áp dụng phương pháp tiếp cận hai chiều Khi đánh giá chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn, cần sử dụng hệ thống tiêu chí đánh giá theo đầu vào hiện đang được sử dụng rộng rãi trong quản lý chất lượng đào tạo; đồng thời cũng sử dụng hệ thống tiêu chí đánh giá theo đầu ra của ILO Từ đó, có bức tranh tổng thể về chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn, là cơ sở cho việc đề ra những giải pháp phù hợp, mang tính khác quan, có trình tự lôgíc, khoa học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông

Trang 5

I CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG

ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

1.1 Bối cảnh chung về đào tạo nghề đối với lao động nông thôn trong giai đoạn hội nhập

1.1.1 Nhu cầu đào tạo nghề đối với lao động nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hội nhập

1.1.1.1 Các chủ trương, chính sách trong phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hội nhập tác động đến nhu cầu phát triển đào tạo nghề đối với lao động nông thôn tại Việt Nam

- Thứ nhất: Với chủ trương mở cửa hội nhập, sau nhiều năm nỗ lực đàm phán và tự hoàn thiện, ngày 11/01/2007 Việt Nam trở thành thành viên 150 của tổ chức Thương mại thế giới (WTO) Việc ra nhập WTO tạo ra nhiều cơ hội nhưng cũng gặp không ít thách thức mới đối với Việt Nam

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, quá trình quốc

tế hoá sản xuất và phân công lao động diễn ra ngày càng sâu sắc, bên cạnh sự hợp tác là sự cạnh tranh và ngày càng quyết liệt; việc tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu đã trở thành yêu cầu đối với các nền kinh tế; chất lượng nguồn nhân lực sẽ là yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh và sự thành công của mỗi quốc gia Việc mở cửa thị trường lao động tạo

ra sự dịch chuyển lao động giữa các nước, đòi hỏi các quốc gia phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của mình; mặt khác, đòi hỏi người lao động phải

có năng lực cạnh tranh cao (trên cơ sở nâng cao vốn nhân lực, năng lực nghề nghiệp) Người lao động phải thường xuyên câp nhật kiến thức, kỹ năng nghề

và phải có năng lực sáng tạo, có khả năng thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của công nghệ và đòi hỏi người lao động phải học tập suốt đời Hiện nay hầu hết các nước đã chuyển đào tạo từ hướng cung sang hướng cầu của thị trường

Trang 6

lao động Chương trình việc làm toàn cầu của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), đã khuyến cáo các quốc gia tổ chức đào tạo nghề linh họat theo hướng cầu của thị trường lao động, nhằm tạo việc làm bền vững

Đây là thách thức rất lớn, và hiện nay chất lượng nguồn nhân lực và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta còn rất thấp Về cơ bản, hiện tại Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp, nghèo, chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế Theo đánh giá của Ngân hàng thế giới (WB) chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm (thang điểm 10) - xếp thứ 11 trong

12 nước ở Châu Á được tham gia xếp hạng Nước ta còn thiếu nhiều chuyên gia trình độ cao, thiếu công nhân lành nghề; chỉ số kinh tế tri thức (KEI) còn thấp (đạt 3,02 điểm, xếp thứ 102/133 quốc gia được phân loại); lao động nông thôn chủ yếu chưa được đào tạo nghề, năng suất lao động thấp trong khi lực lượng lao động này lại chiếm số lượng lớn trong cơ cấu dân số và cơ cấu lao động Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam thấp (Năm 2006 xếp thứ 77 trong 125 quốc gia và nền kinh tế tham gia xếp hạng, đến năm 2009 xếp thứ 75/133 nước xếp hạng) Vì vậy, cần phải đẩy nhanh việc nâng cao chất lượng giáo dục- đào tạo

có kỹ năng nghề và có năng lực làm việc trong môi trường đa văn hóa Trong

đó, cần đặc biệt quan tâm đến đào tạo nghề đối với lao động nông thôn.

- Thứ hai: Quá trình CNH-HĐH nông nghiệp nông thôn tiến triển chậm Một trong những nguyên nhân cơ bản cũng xuất phát từ trình độ của lực lượng lao động nông thôn Theo số liệu công bố năm 2007 thì Việt Nam mới

có khoảng 27% lao động qua đào tạo nói chung, trong đó lao động nông thôn

đã qua đào tạo mới chỉ chiếm khoảng gần 17%, còn lại khoảng 83% lao động nông thôn chưa qua đào tạo Bên cạnh đó, số lao động đã được đào tạo cũng không đạt chất lượng phù hợp với yêu cầu của xã hội Tất cả những yếu tố trên là lý do cơ bản dẫn đến sự ”chậm chạp” trong tiến trình CNH-HĐH nông

Trang 7

nghiệp nông thôn Do đó, yêu cầu đặt ra là phải tăng cường việc đào tạo nghề

và đào tạo nghề có chất lượng đối với lao động nông thôn

- Thứ ba: Trong định hướng chiến lược phát triển đến năm 2020, Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; tỷ lệ lao động nông nghiệp chiếm khoảng 30% lao động toàn xã hội Trong khi đó, hiện lao động nông nghiệp chiếm hơn 70% lực lượng lao động toàn xã hội Như vậy, trong khoảng 10 năm tới chúng ta phải giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp khoảng 40% từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp Số lao động này sẽ làm gì

và làm như thế nào khi họ chưa được trang bị kiến thức, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp trong khi phải rời bỏ nghề nông nghiệp đã gắn bó với gia đình, dòng tộc từ nhiều đời? Giải pháp quan trọng nhất là phải tăng cường đào tạo nghề cho họ để họ có cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp, duy trì cuộc sống và tạo điều kiện cho việc đạt được mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước đã đề ra

Nhìn chung, trên nhiều góc độ phân tích đều cho thấy việc mở rộng đào

tạo nghề đối với lao động nông thôn là nhu cầu cấp thiết trong giai đoạn mở cửa hội nhập tại Việt Nam

1.1.1.2 Sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ ứng dụng trong sản xuất và tốc độ đô thị hóa, tăng dân số tạo ra sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế tất yếu đối với nông thôn

Những thành tựu khoa học công nghệ được áp dụng vào sản xuất, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp đã giải phóng đáng kể sức người, sức vật; trong khi đó, tốc độ đô thị hóa nhanh chóng; cùng với sự gia tăng của dân số cả thành thị và nông thôn làm thu hẹp dần diện tích đất sản xuất nông nghiệp gây hiện tượng dư thừa lao động Giải pháp tối ưu là phải nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu lao động nông thôn, phát triển thêm các hình thức sản xuất phi nông nghiệp tại khu vực nông thôn và mở rộng sản xuất công nghiệp để thu

Trang 8

hút lao động nông nghiệp dôi dư Do đó, một lần nữa khẳng định việc mở rộng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn là vấn đề cấp thiết, cần sớm được giải quyết.

1.1.2 Cơ sở cho sự phát triển đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

Nhận thức được tầm quan trọng của đào tạo nghề, thời gian qua các cơ quan quản lý nhà nước đã từng bước xây dựng hoàn thiện các tiền đề cho phát triển hoạt động đào tạo nghề tại Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đào tạo nghề đối với lao động nông thôn, cụ thể như sau:

1.1.2.1 Xây dựng được bộ máy quản lý và mạng lưới đào tạo nghề rộng khắp

Là đơn vị quản lý Nhà nước cao nhất về dạy nghề, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội đã xây dựng được hệ thống quản lý theo chiều dọc, giao cho Tổng cục Dạy nghề chị trách nhiệm chính về hoạt động dạy nghề trên phạm vi cả nước Tổng cục Dạy nghề đã phối hợp chặt chẽ với các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội các tỉnh thành kiểm soát việc thành lập các cơ sở dạy nghề tại địa phương và quá trình triển khai hoạt động dạy nghề tại cơ sở Các đầu mối trợ giúp chuyên môn về công tác dạy nghề gồm 4 trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật: ĐH SPKT Hưng Yên, ĐH SPKT Nam Đinh, ĐH SPKT Vinh, ĐH SPKT TP Hồ Chí Minh và một số trường Cao đẳng SPKT khác đang phát huy tác dụng

Hiện nay, mạng lưới cơ sở dạy nghề được phát triển nhanh, rộng khắp trên toàn quốc, tính đến tháng 11 năm 2009 có 265 trường TCN, 107 CĐN và

684 TTDN và hơn 1000 cơ sở khác có tham gia dạy nghề Quy mô dạy nghề tăng nhanh (năm 2001 dạy nghề cho 887,3 ngàn người, đến năm 2008 là 1,538 triệu người), nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề năm 2008 lên 26%, dự kiến năm 2009 là 28% Cơ cấu ngành nghề đào tạo đã từng bước được điều chỉnh theo cơ cấu ngành nghề trong sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đã mở thêm nhiều nghề đào tạo mới mà thị trường lao động có nhu cầu và các nghề

Trang 9

phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho người lao động.

1.1.2.2 Hoàn thiện hệ thống chính sách phù hợp cho sự phát triển của hoạt động đào tạo nghề

Một trong những thành công không nhỏ của công tác quản lý Nhà nước

về dạy nghề trong thời gian qua là công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật với sự ra đời của Luật Dạy nghề, hình thành hệ thống chính sách dạy nghề tương đối đồng bộ như: xã hội hoá dạy nghề, chính sách đối với giáo viên, học sinh học nghề, chính sách hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn, người dân tộc thiểu số, bộ đội xuất ngũ, người tàn tật, người nghèo, người thất nghiệp, lao động xuất khẩu và các chính sách hỗ trợ dạy nghề cho các đối tượng xã hội khác, tạo bước ngoặt trong lĩnh vực dạy nghề, đặt nền móng vững chắc cho dạy nghề ổn định và phát triển

Với việc ban hành Luật Dạy nghề, văn bản pháp quy cao nhất về dạy nghề; Luật đã quy định các bậc trình độ đào tạo áp dụng tại Việt Nam gồm Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề và Cao đẳng nghề phù hợp với mô hình đào tạo nghề tiên tiến trên thế giới Luật dạy nghề đã xác định mục tiêu đào tạo cụ thể với từng bấc trình độ đào tạo, từ đó xác định nội dung chương trình, phương pháp đào tạo phù hợp

Các chính sách về bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ cán bộ giảng dạy và quản

lý cũng được thể hiện rõ trong Luật; thu nhập của người tham gia hoạt động dạy nghề ngày càng nâng cao

Việc chuẩn hóa các nội dung mang tính chính sách trong Luật đã tạo bước chuyển biến tích cực trong hoạt động dạy nghề tại Việt Nam thời gian qua Bởi các cơ sở đào tạo và các cơ quan quản lý nhà nước đã có một hành lang pháp lý cụ thể để triển khai các hoạt động nhằm phát triển đào tạo nghề

Trang 10

theo định hướng không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho công cuộc CNH-HĐH đất nước.

1.1.2.3 Đầu tư nguồn lực thỏa đáng cho phát triển đào tạo nghề

Một trong những khó khăn trong hoạt động dạy nghề tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo, đó là nguồn lực tài chính Do dạy nghề gắn liền với thực hành để rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp cho người học nên chi phí đầu tư trang thiết bị máy móc, phòng học thực hành tốn hơn các lĩnh vực đào tạo khác Bên cạnh đó, trong quá trình thực hành cần tiêu tốn một lượng lớn vật

tư nhưng lại phải là những lại vật tư, máy móc hiện đại, thế hệ mới nhất để người học không xa dời thực tiễn sản xuất sau khi tốt nghiệp

Tuy nhiên, vấn đề trên đã được tháo gỡ thông qua việc tăng tỷ lệ ngân sách đầu tư/HSSV cho các cơ sở dạy nghề, đồng thời tăng cường kiểm tra kiểm soát để nguồn đầu tư này được sử dụng đúng mục đích

Việc khó khăn của người học cũng đã được phần nào khắc phục khi chủ trương cho HSSV vay vốn trong thời gian học tập, có chế độ miễn giảm học phí với từng đối tượng chính sách cụ thế

Nguồn đầu tư cho đào tạo nghề cũng tăng lên khi các chủ trương kêu gọi doanh nghiệp tham gia chia sẻ trách nhiệm trong giáo dục đào tạo Những hình thức doanh nghiệp cho cơ sở đào tạo mượn máy móc công nghệ mới, nhận HSSV đến thực tập trải nghiệm đã làm cho cơ sở vật chất của các trường tăng áo nhưng đạt hiệu quả thật; các cơ sở đào tạo vẫn sử dụng vốn ngân sách nhưng có thêm một nguồn đầu tư bổ sung cho việc đáp ứng máy móc, trang thiết bị vật tư phục vụ giảng dạy, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo nghề

1.1.2.4 Hoàn thiện chương trình và nội dung chương trình đào tạo phù hợp

Trong giáo dục đào tạo nói chung và đào tạo nghề nói riêng thì chương trình đào tạo đóng vai trò quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng

Trang 11

Bộ LĐ-TB&XH đã giao cho Tổng cục Dạy nghề chủ trì xây dựng 164 chương trình khung trình độ cao đẳng, trung cấp nghề Trong số này, 114 chương trình khung đã được ban hành, 50 chương trình khung đã tổ chức thẩm định Đến nay, các trường đều căn cứ chương trình khung để đào tạo, gồm 70% kiến thức, kỹ năng bắt buộc và 30% phần tự chọn do các trường tự biên soạn chương trình Đối với 30% chương trình tự chọn, các trường phải căn cứ vào nhu cầu của thị trường lao động theo ngành, vùng để biên soạn, hoàn thiện chương trình và tự tổ chức thẩm định, phê duyệt đưa vào áp dụng trong đào tạo.

Việc xây dựng chương trình khung giúp các trường vừa có chuẩn mực nhất định theo yêu cầu chung, vừa có "độ mở" để nâng cao trình độ đào tạo Nhiều trường còn được phép chủ động tham khảo chương trình đào tạo của các trường nước ngoài, giúp học viên nâng cao tay nghề, có khả năng sử dụng các loại máy móc, công nghệ hiện đại

Trên thực tế, 164 chương trình khung trình độ cao đẳng nghề đã được xây dựng nhưng 30% còn lại vẫn chưa được nhiều trường bổ sung và ít có khả năng phát triển Tổng cục Dạy nghề có chủ trương 30% chương trình còn lại, các trường cần thu hút doanh nghiệp tham gia xây dựng chương trình khung nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thực của doanh nghiệp và thị trường lao động Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các trường vẫn chưa làm được điều này

1.1.2.5 Tạo môi trường cho đào tạo nghề phát triển

Một trong những nguyên nhân người học coi học nghề là lựa chọn thứ 2, thứ 3 sau học đại học là vấn đề dư luận xã hội Nhìn chung, tại Việt Nam quan điểm cho con em, hoặc người học đi học nghề chỉ là phương án phụ bởi học nghề xong khó tìm việc làm, khó phấn đấu để có vị thế trong xã hội Bên cạnh đó, người sử dụng lao động cũng chạy theo hình thức và chưa thực sự tin tưởng và chất lượng đào tạo nghề, khả năng làm việc của người học nghề

Trang 12

Để khắc phục những tồn tại bất cập, các cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo nghề cùng với chính những cơ sở dạy nghề tiến hành tuyên truyền sâu rộng, đồng thời tiếp tục nâng cao chất lượng đào tạo nghề; tìm mọi biện pháp

để doanh nghiệp cùng tham gia vào quá trình đào tạo, thẩm định đầu ra và có chính sách khuyến khích sử dụng lao động qua đào tạo nghề

Với sự nỗ lực trên mọi phương diện, đào tạo nghề đã dần khẳng định được vị thế và có một vị trí vững chắc trong hệ thống giáo dục đào tạo Việt Nam Số lượng cơ sở dạy tăng cả về chất và lượng; đồng thời số lượng người học tăng nhanh theo từng năm Các doanh nghiệp cũng mở rộng cơ hội hơn cho người học nghề tìm việc làm Môi trường cho sự phát triển của đào tạo nghề đã được cải thiện, đó là những tín hiệu tích cực từ xã hội đối với đào tạo nghề, người học tích cực học hơn, cơ sở dạy nghề không ngừng đầu tư nhân lực, vật lực để đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho xã hội

1.1.3 Yêu cầu đặt ra cho đào tạo nghề đối với lao động nông thôn trong giai đoạn hội nhập

Với xu hướng phát triển trong tình hình mới, việc đào tạo nghề đối với lao động nông thôn trở thành một vấn đề quan trọng, then chốt trong phát triển kinh tế xã hội giai đoạn hội nhập Tuy nhiên, hướng đi này chỉ trở nên có hiệu quả khi gắn mở rộng quy mô đào tạo với việc không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo

Cơ cấu ngành nghề đào tạo cần được chuẩn hóa và đa dạng hóa để tạo đầu ra rộng hơn cho lực lượng lao động nông thôn chuyển đổi nghề Bên cạnh

đó, cũng cần có các dự báo chính xác về nhu cầu ngành nghề theo hướng “đi tắt, đón đầu” một cách có tính toán Ngoài các chính sách hỗ trợ ban đầu cũng cần có các hình thức xã hội hóa để huy động nguồn lực và giảm áp lực lên ngân sách Nhà nước Tập trung từng bước cải biến chương trình đào tạo theo hướng cầu

Trang 13

Có chính sách kích thích mở rộng cầu, tạo đầu ra cho quá trình đào tạo nghề đối với lao động nông thôn Khuyến khích hỗ trợ phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua đào tạo để thu hút lao động Kết hợp đồng thời các giải pháp để đẩy mạnh tốc độ đào tạo nghề đối với lao động nông thôn kịp thời đáp ứng nhu cầu xã hội trong nước và quốc tế.

1.2 Chất lượng đào tạo nghề và nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

1.2.1 Chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

1.2.1.1 Chất lượng đào tạo nghề

a Khái niệm chất lượng

Chất lượng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau tùy thuộc vào góc độ nhìn nhận của từng chủ thể Có thể nói chất lượng là một phạm trù tổng hợp

về kinh tế, kỹ thuật, văn hóa xã hội, tâm lý, thoi quen và sự khen, chê

Theo tử điển Bách khoa Việt Nam, chất lượng được hiểu là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật và hiện tượng, chỉ rõ nó

là cái gì, phản ánh tính ổn định tương đối của sự vật – hiện tượng để phân biệt

nó với sự vật – hiện tượng khác Chất lượng được coi là thuộc tính khách quan của sự vật và hiện tượng Chất lượng của sự vật, hiện tượng luôn được biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính vốn có của nó Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật – hiện tượng lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách rời khỏi sự vật

Ở góc độ quản lý thì chất lượng được hiểu như là sự thực hiện mục tiêu

và làm thỏa mãn nhu cầu của chủ thể và đối tượng Trong lĩnh vực sản xuất – kinh doanh, chất lượng của sản phẩm được đặc trưng bởi các yếu tố về nguyên vật liệu chế tạo, quy trình và công nghệ sản xuất, các đặc tính sử dụng

kể cả về mẫu mã, thị hiếu, mức độ đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

Theo định nghĩa của ISO 9000-2010 thì chất lượng là mức độ đáp ứng các yêu cầu của một tập hợp các đặc tính vốn có

Trang 14

Theo tiêu chuẩn Việt Nam ISO 8402, người ta hiểu chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) có tác dụng tạo cho nó có khả năng làm thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc nhu cầu tiềm ẩn Dưới góc độ cải tiến chất lượng sản phẩm thì người ta hiểu chất lượng sản phẩm như là tổng hợp các tính chất, đặc trưng của sản phẩm được cải tiến liên tục để tạo nên giá trị sử dụng cho phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng với chi phí thấp nhất, trong những điều kiện sản xuất, kinh tế - xã hộ nhất định.

Tóm lại, chất lượng là cái làm nên phẩm chất giá trị của một vật Chất lượng là khả năng của tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan

b Khái niệm đào tạo nghề

Theo nghĩa hiểu đơn nhất, đào tạo nghề là một quá trình diễn ra từ khi bắt đầu đến khi kết thúc khóa học, tại đây người dạy truyền đạt kiến thức, rèn luyện kỹ năng và giúp cho người học định hướng được thái độ, nhân cách theo hướng chuẩn mực Quá trình này diễn ra liên tục, có sự biến đổi để phù hợp với đối tượng học tập Song song với những hoạt động của người dạy, người học cùng tham gia vào quá trình học tập bằng cách đọc, nghe, suy nghĩ

để có kiến thức, có hiểu biết nhằm thay đổi suy nghĩ, từ đó dẫn đến thay đổi hành vi Thông qua quá trình học tập, người học sẽ tích lũy được kiến thức nghề nghiệp, rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp và hình thành lên thái độ đúng mực tương xứng với vị trí của mình trong nghề nghiệp và trong xã hội

Nếu như trước khi được đào tạo nghề, do chưa hiểu biết những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp họ sẽ không biết phải làm công việc mà mình chưa được học như thế nào hoặc có thể làm nhưng không đúng, hiệu quả công việc không cao; thì sau quá trình đào tạo có đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để biết phải làm thế nào cho đúng, cho đủ và cho tốt nhất Quá trình đào tạo nghề giúp cho người học được thao tác nhiều lần, hiểu được bản chất của vấn đề từ đó hình thành lên kỹ năng nghề nghiệp; và nếu có ý thức nghề

Trang 15

nghiệp tốt sẽ phát triển được năng lực nghề nghiệp ở mức cao hơn, đạt đến kỹ xảo, thậm chí là nghệ thuật trong nghề nghiệp mình đã học.

Khái niệm đào tạo nghề được mô tả khá cụ thể, chi tiết; theo Luật dạy nghề, đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng

và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học

Do đặc thù của hoạt động đào tạo nghề, việc tổ chức quá trình đào tạo cũng có những điểm riêng biệt để phù hợp hơn với đối tượng, và mục tiêu đề

ra cho đào tạo nghề

Trong Luật dạy nghề cũng quy định cụ thể về các trình độ đào tạo trong dạy nghề và các hình thức dạy nghề:

- Các trình độ đào tạo trong dạy nghề có ba trình độ: đào tạo là sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề Trong đó, quy định rõ về mục tiêu, thời gian học nghề; nội dung, phương pháp dạy nghề; chương trình dạy nghề, giáo trình dạy nghề, cơ sở dạy nghề và chứng chỉ nghề cấp cho người học theo từng trình độ

- Các hình thức dạy nghề gồm: Chính quy và dạy nghề thường xuyên + Dạy nghề chính quy được thực hiện với các chương trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các cơ sở dạy nghề theo các khoá học tập trung và liên tục

+ Dạy nghề thường xuyên được thực hiện với các chương trình dạy nghề Chương trình bồi dưỡng, nâng cao, cập nhật kiến thức và kỹ năng nghề;

c Khái niệm chất lượng đào tạo nghề

Qua phân tích khái niệm về chất lượng và đào tạo nghề, có thể nói khái niệm chất lượng đào tạo nghề là khả năng của tập hợp các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người học nghề đạt được sau quá trình học nghề Hoặc có thể phát biểu một cách khái quát hơn về khái niệm chất lượng đào tạo nghề, là sự phù hợp với mục tiêu đề ra qua sự đánh giá của các đối

Trang 16

tượng tham gia vào quá trình đào tạo nghề Bao gồm: người học nghề, người dạy nghề, người làm công tác quản lý đào tạo và đặc biệt là người sử dụng lao động sau khi đã được đào tạo nghề

Như vậy, qua khái niệm về chất lượng đào tạo nghề có thể thấy được trình độ nhất định mà người học phải có sau khi học nếu quá trình đào tạo nghề đảm bảo chất lượng Tuy nhiên, trình độ này không phải là một chỉ số cố định duy nhất mà có thể thay đổi theo thời gian do yêu cầu trong lao động sản xuất khi các thành tựu khoa học mới được ứng dụng vào sản xuất Chất lượng đào tạo nghề là một phạm trù động và rất linh hoạt

1.2.1.2 Chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

a Khái niệm đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

Về cơ bản, khái niệm đào tạo nghề đối với lao động nông thôn dựa trên

cơ sở khái niệm chung về đào tạo nghề Do đó, những vấn đề đặt ra với đào tạo nghề đối với lao động nông thôn cũng là những vấn đề đã đề cập trong đào tạo nghề nói chung Điểm riêng biệt xuất phát từ đặc thù của đối tượng đào tạo, đó là lao động nông thôn

Với những đặc điểm đã được đề cập về lao động nông thôn, có thể khái niệm đào tạo nghề đối với lao động nông thôn là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho lao động nông thôn để người học nghề có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học

Trên thực tế tại nông thôn Việt Nam, người lao động nông thôn làm việc chủ yếu theo tổ chức gia đình, dòng họ, làng xóm; tức là xuất phát từ mối quan hệ huyết thống, làng xã họ tìm đến nhau để cùng lao động theo hình thức đổi công, giao việc Những công việc này chiếm phần đa thời gian lao động của họ bởi mô hình sản xuất nhỏ lẻ, manh mun và hiệu quả lao động thường là không cao Khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, sự phát triển

Trang 17

nhanh, mạnh của nền kinh tế làm cho thu nhập bình quân tăng lên Tuy nhiên,

do không thể thích ứng được với yêu cầu về chất lượng lao động nên phần lớn

bộ phận lao động nông thôn tiếp tục tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp nhưng giản đơn Vì vậy, thu nhập của họ không

có nhiều thay đổi so với khu vực thành thị, tạo khoảng cách về thu nhập ngày một lớn giữa lao động được đào tạo và lao động nông thôn không qua đào tạo

Vô hình dung, lao động nông thôn phần nào tự tạo ra khoảng cách giàu nghèo trong xã hội Để tăng thu nhập, họ phải tìm được những công việc tốt hơn, có thu nhập cao hơn Với những điều kiện hiện có, giải pháp tích cực nhất sẽ là học nghề Việc được trang bị được nghề nghiệp một cách bài bản, có đầy đủ kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp giúp cho họ không chỉ bị động đi tìm việc mà còn có cơ hội hơn trong tự tạo việc làm cho bản thân và tạo việc làm cho những người xung quanh cùng cảnh ngộ

b Khái niệm chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

Từ cách tiếp cận khác nhau về khái niệm chất lượng, có thể thấy chất lượng đào tạo nghề là tổng hòa những phẩm chất và năng lực tạo nên trong quá trình đào tạo bồi dưỡng cho người học so với thang chuẩn giá trị của Nhà nước hoặc xã hội quy định

Nhìn chung, có nhiều quan điểm về chất lượng đào tạo nghề nhưng đều hướng vào mục tiêu đào tạo đã đề ra Những mục tiêu này cần được công khai, có đánh giá Mục tiêu phải được đảm bảo bằng những quy trình, thủ tục, nội dung, phương pháp thông qua các hoạt động chủ yếu của cơ sở đào tạo Như vậy, chất lượng đào tạo nghề được đánh giá qua mức độ đạt được của mục tiêu đào tạo đã đề ra đối với một chương trình đào tạo nghề Chất lượng đào tạo nghề là sự trùng khớp với mục tiêu đào tạo, gắn liền với sự hoàn thiện

về kiến thức, kỹ năng, thái độ của sản phẩm đào tạo được xã hội chất nhận và thị trường nghiệm thu Chất lượng đào tạo nghề chính là sản phẩm đàu ra, hay

Trang 18

nói cách khác chính người học nghề sau khi tốt nghiệp Như vậy, chúng ta cần chú ý đến ba năng lực của người học sau khi tốt nghiệp là có khả năng tìm được việc làm, tạo được việc làm trong thị trường lao động có những biến động, thay đổi; có khả năng học tập để nâng cao trình độ, kiến thức, chuyển đổi nghề.

Qua phân tích trên, chúng ta thấy rằng chất lượng đào tạo nghề phải là kết quả của quá trình đào tạo và được thể hiện trong hoạt động nghề nghiệp của người học nghề sau khi tốt nghiệp và quá trình thích ứng với thị trường lao động Do đó, có thể khái niệm chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn chính là sự phù hợp với mục tiêu đề ra qua sự đánh giá của các đối tượng tham gia vào quá trình đào tạo nghề đối với lao động nông thôn Bao gồm: chính những lao động nông thôn được đào tạo, người dạy nghề cho lao động nông thôn, người làm công tác quản lý đào tạo và đặc biệt là người sử dụng lao động nông thôn sau khi đã được đào tạo nghề

1.2.2 Nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

Nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn chính là cải thiện theo hướng tích cực sự phù hợp với mục tiêu đề ra qua sự đánh giá của các đối tượng tham gia vào quá trình đào tạo nghề đối với lao động nông thôn Hay nói cách khác, nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn là quá trình tác động làm tăng kiến thức, kỹ năng, thái độ của người được đào tạo nghề nhằm đáp ứng tốt nhất đòi hỏi, yêu cầu của người sử dụng lao động trong từng thời kỳ nhất định

Vì vậy, muốn nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn trước hết phải xác định được những yếu tố tác động trực tiếp đến quá trình đào tạo nghề và chi phối chất lượng của quá trình đào tạo nghề Từ đó, tìm ra giải pháp khống chế, giảm thiểu những tác động bất lợi, phát huy

Trang 19

những ưu điểm đang sẵn có để đạt được chất lượng tối đa theo yêu cầu của xã hội Thông thường, sự tác động này có thể thực hiện qua hai phương thức sau:

1.2.2.1 Tác động trực tiếp

Việc tác động trực tiếp thể hiện sự chủ động của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn; thông qua những quy định, quy chế hoặc luật bắt buộc các đối tượng tham gia vào quá trình đào tạo nghề đối với lao động nông thông phải tuân thủ để đảm bảo và nâng cao chất lượng Việc đặt ra quy định chuẩn mực đối với chất lượng đầu ra của quá trình đào tạo cũng như những định mức khác sẽ

dễ dang kiểm soát chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

Tuy nhiên, với sự phát triển của khoa học và công nghệ ứng dụng trong sản xuất thì đòi hỏi các tiêu chuẩn, tiêu chí cũng phải thường xuyên thay đổi

để lao động qua đào tạo có thể đáp ứng nhu cầu của nơi sử dụng lao động Do

đó, đây cũng là một trong những khó khăn nhất định khi sử dụng phương thức tác động này

1.2.2.2 Tác động gián tiếp

Trong nền kinh tế thị trường, đào tạo được coi là một hoạt động dịch vụ đặc biệt, với đầu vào là người học, cơ sở vật chât, chính sách Sau quá trình đào tạo, sản phẩm đầu ra là những người học có trình độ (kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người học tích lũy được trong quá trình học tập); khách hàng sử dụng dịch vụ đào tạo cũng chính là người học, gia đình người học và đặc biệt

là người sử dụng lao động

Theo quy luật cung cầu: có cầu sẽ có cung Do đó, khi khách hàng cần sản phẩm tốt (chất lượng đào tạo tốt), thì người sản xuất, cung ứng dịch vụ (các cơ sở đào tạo, người dạy) tất yếu sẽ phải tìm cách nâng cao chất lượng đào tạo để đáp ứng nhu cầu khách hàng của mình

Vậy phương thức tác động gián tiếp thực hiện như thế nào? một trong những phương án khả thi nhất là thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo môi trường

Trang 20

kinh doanh thuận lợi để các doanh nghiệp mở rộng sản xuất thu hút lao động thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô như: chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ của chính phủ.

Nhìn chung, có thể đưa ra nhiều cách thức khác nhau để cùng đạt tới

mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn Tuy nhiên, để phát triển bền vững cần phải biết kết hợp một cách hài hòa các phương pháp Đồng thời, những quyết sách đề ra phải phù hợp với những quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường, trong đó quy luật cung cầu phải được hết sức coi trọng trong nhiều lĩnh vực, kể cả trong đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

1.2.3 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội

Trước hết, khi đề cập đến sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn phải khẳng định rằng lý do lớn nhất hiện nay chính là chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế của xã hội Thậm chí, nếu chúng ta đạt được một mức chuẩn nhất định thì vẫn phải tiếp tục nâng cao chất lượng; vì theo quan điểm tiếp cận hiện đại, đào tạo phải theo hướng cầu, tức là phải căn

cứ vào yêu cầu về kiến thức, kỹ năng, thái độ mà người sử dụng lao động đặt

ra Trong khi đó, cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ ứng dụng trong sản xuất thì “cầu” đòi hỏi trình độ nghề nghiệp của người lao động phải tăng lên không ngừng để thích ứng với tư liệu sản xuất mới

Do đó, việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn là đòi hỏi tất yếu Bên cạnh đó, nếu nâng cao được chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn sẽ giải quyết được một số vấn đề sau:

- Thứ nhất: Đẩy nhanh tiến độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông thôn Người lao động nông thôn có nghề sẽ có

Trang 21

cơ hội chuyển đổi nghề nghiệp (từ nông nghiệp sang tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp hoặc dịch vụ), khi có việc sẽ tăng thu nhập và góp phần thay đổi diện mạo khu vực nông thôn.

- Thứ hai: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Người lao động nông thôn được đào tạo, bồi dưỡng đủ kiến thức nghề nghiệp sẽ làm chủ các tư liệu sản xuất và nâng cao năng suất lao động và phát triển nghề phụ tiểu thủ công nghiệp tại địa phương

- Thứ ba: Nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo, tạo nguồn lao động chất lượng cho phát triển công nghiệp, xây dựng cơ bản và dịch vụ Đối với nước nông nghiệp như Việt Nam, lao động nông thôn chính là nguồn cung lao động tiềm năng cho các ngành sản xuất phi nông nghiệp Tuy nhiên, bước cản lớn nhất vẫn là trình độ nghề nghiệp của người lao động nông thôn Do đó, nếu nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn sẽ là điều kiện tiên quyết tiến trình phát triển công nghiệp, dịch vụ, đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 như định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội mà Đảng và Nhà nước đã đề ra

- Thứ bốn: Tăng cường sự ổn định chính trị, an ninh, quốc phòng và góp phần phát triển giáo – đào tạo, nâng cao dân trí

Trang 22

Sơ đồ 1: Mối quan hệ biện chứng giữa nâng cao chất lượng đào tạo

và ổn định xã hội

Lao động nông thôn chiếm số lượng lớn trong cơ cấu dân cư và cơ cấu lao động cả nước; do đó, có mối quan hệ biện chứng giữa nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn và ổn định xã hội, nâng cao dân trí

1.2.4 Đặc điểm của nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

1.2.4.1 Đối tượng đào tạo có những đặc điểm riêng

Đặc điểm của đối tượng đào tạo sẽ có tác động nhất định đến việc nâng cao chất lượng đào tạo Qua nghiên cứu, có thể tổng hợp một số đặc điểm đối tượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn như sau:

* Nhóm thứ nhất: Những đặc điểm mang tính ưu điểm

- Chịu khó, cần cù lao động Đây là một đặc điểm rất tích cực của lực lượng lao động nông thôn Chính sự chịu khó, cần cù lao động đã giúp họ giảm thiểu rủi ro khi tham gia vào hoạt động trong hệ thống kinh tế nông thôn, thông thường gắn liền hoặc rất gần với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp

- Có nhiều kinh nghiệp thực tế trong lao động sản xuất Thông thường, lao động nông thôn gắn bó, tiếp cận với nghề từ nhỏ, có sự kế thừa theo họ

Ổn định CT,

AN, QP

Trang 23

tộc, huyết thống nên được thừa hưởng những kinh nghiệp trong lao động sản xuất từ những thế hệ trước truyền lại.

- Ham học hỏi Do luôn tồn tại một khoảng cách nhất định giữa thành thị

và nông thôn về mọi mặt Theo bản năng con người ta luôn có mong muốn vươn lên và đó là động lực lam cho lao động nông thôn mong muốn có thêm kiến thức để tiến gần đến mức sống, trình độ của khu vực thành thị

* Nhớm thứ hai: Những đặt điểm mang tính hạn chế

- Trình độ, thể lực hạn chế do kinh tế kém phát triển, mức sống thập Điều này ảnh hưởng đến năng suất lao động và trình độ phát triển kinh tế

- Trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cũng như trình độ tiếp cận thị trường thấp Đặc điểm này cũng ảnh hưởng đến khả năng tự tạo việc làm của lao động

- Lao động nông thôn nước ta còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động

Để góp phần đạt mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn, đòi hỏi cần phải có những điều chỉnh nhất định để phù hợp với đối tượng đào tạo; phát huy và tận dụng những đặc điểm có lợi và hạn chế, khắc phục những những mặt hạn chế

1.2.4.3 Ngành nghề đào tạo đa dạng

Ngoài 164 nghề đã được các cơ quan quản lý nhà nước về đào tạo nghề, hiện trong dân còn hàng trăm nghề khác chưa được đưa chính thức vào hệ thống chương trình đào tạo nghề; số nghề này giúp cho người học để có nghề

có thể tìm cho mình cơ hội mưu sinh Tuy nhiên, đối với hoạt động đào tạo nghề đối với lao động nông thôn có thể chia làm 2 nhóm nghề chính: nhóm nghề nông nghiệp và nghề phi nông nghiệp

Trang 24

- Với nhóm nghề nông nghiệp, có nhiều thuận lợi trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn bởi đối tượng được đào tạo đã có nhiều kinh nghiệm thực tế qua lao động sản xuất.

- Với nhóm nghề phi nông nghiệp, việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn sẽ gặp nhiều khó khăn do còn nhiều nghề mới mẻ với người được đào tạo; trong khi khả năng tiếp cận kiến thức mới, sự bảo thủ, ngại thay đổi là một trong những đặc điểm mang tính bản chất của đối tượng đào tạo

1.2.4.3 Cơ sở vật chất phục vụ đào tạo

Trong quá trình đào tạo nghề đối với lao động nông thôn, ngoài đào tạo những nghề nông nghiệp còn đào tạo cả nhóm nghề phi nông nghiệp Chính điều kiện sẵn có tại địa phương là tiền đề thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn khi triển khai những nhóm nghề nông nghiệp như các phần dạy thực hành, trải nghiệm thực tế để nâng cao kỹ năng nghề

Nhưng đối với việc triển khai đào tạo những nghề phi nông nghiệp sẽ gặp rất khó khăn do thiếu thốn về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà xưởng, máy móc Trong khi các cơ sở đào tạo nghề lớn tập trung chủ yếu tại thành thị thì các cơ sở dạy nghề tuyến huyện, xã lại không đủ cơ sở vật chất cần thiết Do dó, để nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với nhóm nghề phi nông nghiệp mà quá trình đào tạo nghề đòi hỏi phải có cơ sở vật chất đặc thù cần quan tâm đến việc lựa chọn nghề đào tạo phù hợp với cơ sở vật chất hoặc linh hoạt trong phương thức tổ chức đào tạo nghề (kết hợp đào tạo nghề tại địa phương và thực tập, kiến tập tại các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp có đủ cơ

sở vật chất cần thiết)

1.3 Tiêu chí đánh giá nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

Trang 25

1.3.1 Một số hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề

Tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nói chung và đào tạo nghề, nghề đối với lao động nông thôn nói riêng được xem xét tùy theo từng góc độ Có nhiều quan điểm khác nhau về tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nói chung, nhưng đều xuất phát từ luận giải về chất lượng đào tạo

Theo cách nhìn của Lê Đức Ngọc “tại Hội thảo Nâng cao chất lượng đào tạo – Đại học Quốc gia Hà Nội”: Chất lượng đào tạo thể hiện chính qua năng lực của người được đào tạo sau khi hoàn thành chương trình đào tạo Những năng lực đó gồm: Khối lượng, nội dung, trình độ kiến thức được đào tạo và

kỹ năng thực hành, năng lực nhận thức, năng lực tư duy cùng những phẩm chất nhân văn được đào tạo

Cùng với quan điểm trên, có tác giả đã cho rằng nội hàm của chất lượng đào tạo được thể hiện:

Trang 26

Có thể nhận thấy, 5 tiêu chí trên thể hiện nội hàm của chất lượng đào tạo,

là mục tiêu mà các nhà trường, cơ sở đào tạo tại Việt Nam hướng tới

Việc đánh giá chất lượng sản phẩm từ quá trình sản xuất vật chất nói chung đã khó, lại càng trở lên khó hơn khi đánh giá chất lượng sản phẩm từ quá trình đào tạo Bởi không chỉ đánh giá sau khi hoàn thành công đoạn đào tạo (sau khi người học kết thúc khóa học và tốt nghiệp), mà phải đánh giá cả quá trình sau khi đào tạo, hoặc phải thông qua hiệu quả công việc mà họ đảm nhận sau khi ra trường

Đối với mỗi cơ sở đào tạo, chất lượng đào tạo trở thành yếu tố sống còn cho sự tồn tại và phát triển trong tương lai

Trong nền kinh tế thị trường, với mỗi trình độ khác nhau yêu cầu về chất lượng mỗi ngành nghề, mỗi cơ sở đào tạo cũng khác nhau nhưng điều đáng quan tâm là mặc dù ở trình độ nào (cao hay thấp) thì cũng phải đạt chuẩn về chất lượng mà khách hàng yêu cầu (khách hàng của quá trình đào tạo là xã hội nói riêng và người học, gia đình người học, người sử dụng lao động nói riêng) Do đó, nhiệm vụ quan trọng là phải xác định được chuẩn của mỗi

Trang 27

ngành, nghề, trình độ đào tạo; cụ thể là xác định được chuẩn chất lượng cho các bậc học, các ngành, nghề học khác nhau.

Đối với lĩnh vực đào tạo nghề, tiêu chí để đánh giá chất lượng được xem xét qua một số yếu tố như sau:

Theo quan niệm về chất lượng đầu ra

Theo quan niệm này, để đánh giá chất lượng của đào tạo nghề người ta dựa vào các tiêu chí sau:

- Phẩm chất xã hội, nghề nghiệp (Đạo đức, ý thức, trách nhiệm)

- Sức khỏe

- Kiến thức, kỹ năng

- Năng lực hành nghề

- Khả năng thích ứng với thị trường lao động

- Năng lực nghiên cứu và khả năng phát triển nghề nghiệp của người học sau khi tốt nghiệp

Các tiêu chí về kiến thức, kỹ năng theo Bloom được phân thành các mức nhất định:

Bảng 1 : Phân loại mức kiến thức, kỹ năng theo Bloom

Trung bình Hiểu Hình thành kỹ năng ban đầu (theo chỉ dẫn)Trung bình khá Vận dụng Hình thành kỹ năng cơ bản (độc lập)Khá Phân tích/tổng hợp Liên kết, phối hợp kỹ năng

Rất tốt Phát triển/sáng tạo Phát triển/sáng tạo

Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO)

Quan điểm của ILO là xem xét chất lượng trên cơ sở các đầu vào của quá trình đào tạo và các điều kiện đảm bảo chất lượng, quan điểm này dựa

Trang 28

trên nguyên lý: Với điều kiện đầu vào tốt và đảm bảo cho quá trình đào tạo tốt

sẽ tạo ra sản phẩm tốt

Tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo trường dạy nghề, theo ILO có 9 nhóm, bao gồm:

Bảng 2: Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề theo ILO

3 Các tiêu chí về chương trình đào tạo 135

4 Các tiêu chí về cán bộ quản lý và giáo viên 85

5 Các tiêu chí về thư viện và học liệu 25

7 Các tiêu chí về khuôn viên và cơ sở hạ tầng 40

8 Các tiêu chí về xưởng thực hành, thiết bị đầu tư 60

Các tiêu chí được xem xét và đánh giá với các mức điểm khác nhau Trường, hay cơ sở dạy nghề nào có mức điểm đánh giá càng cao thể hiện chất lượng đào tạo càng cao

Sản phẩm trong quá trình đào tạo là sản phẩm đặc biệt Với ý nghĩa rộng

đó là nhân cách người lao động mà trong đó yếu tố quan trọng hàng đầu là kỹ năng, kiến thức và kinh nghiệm đáp ứng được thị trường lao động Sản phẩm này sẽ tạo ra mọi sản phẩm khác cho xã hội, nó luôn tự vận động, tự phát triển Do vậy, có thể nói đây là sản phẩm quý giá nhất trong mọi sản phẩm (Chất lượng đào tạo toàn diện trong nhà trường được đánh giá qua các mặt: Phẩm chất và năng lực của người học sinh, được biểu hiện qua mục tiêu đào tạo, kiến thức, kỹ năng và thái độ so với chuẩn quy định)

1.3.2 Vận dụng các hệ thống tiêu chí vào việc đánh giá nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

Trang 29

Trên cơ sở hai hệ thống tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo thông qua kiến thức, kỹ năng của Bloom và đánh giá chất lượng đào tạo các trường dạy nghề của ILO có thể xây dựng nội dung đánh giá nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn.

Để tạo sự khách quan trong đánh giá nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thông, cần phải đánh giá trên ba nhóm đối tượng chính:

- Nhóm 1: Những người đào tạo bao gồm các nhà quản lý đào tạo và giáo viên giảng dạy

- Nhóm 2: Người được đào tạo, là người học nghề

- Nhóm 3: Người sử dụng lao động, là các chủ doanh nghiệp hoặc người quản lý trực tiếp lao động trong quá trình sản xuất kinh doanh

Ngoài ra, cũng có thể tổ chức đánh giá nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn từ nhóm gia đình người học (phụ huynh hoặc những người bảo trợ cho người học nghề)

Cả ba những nhóm đối tượng chính tham gia đánh giá nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn đều có thể áp dụng hệ thống của Bloom hoặc kết hợp cả hai hệ thống tiêu chí đánh giá Riêng nhóm gia đình người học nghề chỉ nên áp dụng hệ thống của Bloom khi bản thân người đánh giá có hiểu biết nhất định về nghề con, em hoặc người mình bảo trợ theo học, nếu không hiểu biết về nghề thì nên dùng hệ thống tiêu chí của ILO sẽ đảm bảo tính khách quan; giúp cho việc đánh giá đạt độ chính xác hơn Từ

đó, làm cơ sở để tiếp tục đưa ra những nội dung cần điều chỉnh để nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến nâng cao chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn

Qua nghiên cứu nhận thấy có 10 yếu tố ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến chất lượng đào tạo nghề đối với lao động nông thôn, bao gồm:

Trang 30

1.4.1 Mục tiêu đào tạo

Mục tiêu đào tạo nghề là đích hướng tới của quá trình đào tạo nghề Theo Luật dạy nghề của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 số 76/2006/QH11 ngày 29/11/2006 đã nêu mục tiêu chung của đào tạo nghề là: “Đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức

kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”

Mục tiêu đào tạo nghề đối với lao động nông thôn là hết sức cụ thể, căn

cứ vào mục tiêu chung về đào tạo nghề, phải xác định được đích đến từ quá trình đào tạo nghề cho đối tượng lao động nông thôn phù hợp khả năng học tập của lao động nông thôn và công việc sau khi tốt nghiệp

Theo ba cấp trình độ đào tạo nghề, sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề; mục tiêu đào tạo có hướng đích cụ thể với từng cấp trình độ:

- Dạy nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn

- Dạy nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn

Trang 31

- Dạy nghề trình độ cao đẳng nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế; có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ, tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình

độ cao hơn

1.4.2 Nội dung đào tạo

Nội dung đào tạo kết hợp với mục tiêu đào tạo sẽ là cơ sở quan trọng xây dựng lên chương trình đào tạo

Theo ba cấp trình độ đào tạo nghề, sơ cấp nghề, trung cấp nghề, cao đẳng nghề; nội dung đào tạo nghề được xác định cụ thể như sau:

- Nội dung dạy nghề trình độ sơ cấp phải phù hợp với mục tiêu dạy nghề trình độ sơ cấp, tập trung vào năng lực thực hành nghề, phù hợp với thực tiễn

và sự phát triển của khoa học, công nghệ

- Nội dung dạy nghề trình độ trung cấp phải phù hợp với mục tiêu dạy nghề trình độ trung cấp, tập trung vào năng lực thực hành các công việc của một nghề, nâng cao trình độ học vấn theo yêu cầu đào tạo, bảo đảm tính hệ thống, cơ bản, phù hợp với thực tiễn và sự phát triển của khoa học, công nghệ

- Nội dung dạy nghề trình độ cao đẳng phải phù hợp với mục tiêu dạy nghề trình độ cao đẳng, tập trung vào năng lực thực hành các công việc của một nghề, nâng cao kiến thức chuyên môn theo yêu cầu đào tạo của nghề, bảo đảm tính hệ thống, cơ bản, hiện đại, phù hợp với thực tiễn và đáp ứng sự phát triển của khoa học, công nghệ

1.4.3 Phương pháp đào tạo

Ngày đăng: 15/01/2016, 19:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đại hội Đảng X (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đại hội Đảng X
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
9. Đặng Kim Sơn (2008), Phát triển nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam thực trạng và giải pháp,http://www.isgmard.org.vn/Information%20Service/Report/Plenary%20Meeting%20Report%2017-11-2008/Group%201/Bao%20cao%20de Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam thực trạng và giải pháp
Tác giả: Đặng Kim Sơn
Năm: 2008
11. Nguyễn Huyền (2007), Đào tạo nghề thời hội nhập: Dạy cái doanh nghiệp cần!, http://www.khoahocphattrien.com.vn/news/kinhtexahoi/?art_id=2837 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề thời hội nhập: Dạy cái doanh nghiệp cần
Tác giả: Nguyễn Huyền
Năm: 2007
12. UBND tỉnh Bắc Ninh (2008), Nâng cao chất lương lao động từ công tác đào tạo nghề,http://www.bacninh.gov.vn/Story/GiaoDucDaoTao/ThongTinGiaoDuc/2008/11/14701.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lương lao động từ công tác đào tạo nghề
Tác giả: UBND tỉnh Bắc Ninh
Năm: 2008
13. Lê Ngọc (2007), Việt Nam có bao nhiêu “lao động qua đào tạo”?http://www2.vietnamnet.vn/giaoduc/vande/2007/06/708430 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam có bao nhiêu “lao động qua đào tạo”
Tác giả: Lê Ngọc
Năm: 2007
14. Kiều Oanh (2008), Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 50% vào 2010, http://vietnamnet.vn/giaoduc/2008/01/766071 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 50% vào 2010
Tác giả: Kiều Oanh
Năm: 2008
15. Báo Bắc Giang (2009), Nâng cao chất lượng lao động nông thôn, http://bacgiangview.com/Xa-Hoi/Nang-cao-chat-luong-lao-dong-nong-thon.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng lao động nông thôn
Tác giả: Báo Bắc Giang
Năm: 2009
16. Quỳnh Lam (2008), Đến năm 2015, Việt Nam sẽ hoàn thiện tiêu chuẩn đánh giá và cấp chứng chỉ nghề quốc gia cho khoảng 150 nghề,http://vneconomy.vn/59838P0C11/se-thanh-lap-trung-tam-danh-gia-ky-nang-nghe-quoc-gia.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Đến năm 2015, Việt Nam sẽ hoàn thiện tiêu chuẩn đánh giá và cấp chứng chỉ nghề quốc gia cho khoảng 150 nghề
Tác giả: Quỳnh Lam
Năm: 2008
19. Đinh Thắng (2010), Đào tạo nghề cho lao động nông thôn sát thực tế, http://www.baohoabinh.com.vn/218/42817/Dao_tao_nghe_cho_lao_dong_nong_thon_sat_thuc_te.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn sát thực tế
Tác giả: Đinh Thắng
Năm: 2010
20. Vũ Quốc Tuấn (2010), Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Cần sự tham gia của các tổ chức xã hội, doanhnhansaigon.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đào tạo nghề cho lao động nông thôn: Cần sự tham gia của các tổ chức xã hội
Tác giả: Vũ Quốc Tuấn
Năm: 2010
21. Đỗ Đình Trường (2009), Quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa trường cao đẳng nghề cơ điện luyện kim Thái Nguyên với doanh nghiệp. Luận văn Thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý hoạt động liên kết đào tạo giữa trường cao đẳng nghề cơ điện luyện kim Thái Nguyên với doanh nghiệp
Tác giả: Đỗ Đình Trường
Năm: 2009
22. Nhật Anh (2010), Dạy nghề cho lao động nông thôn: Điểm nhấn là chất lượng, http://www.daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=78&NewsId=97665 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy nghề cho lao động nông thôn: Điểm nhấn là chất lượng
Tác giả: Nhật Anh
Năm: 2010
27. Tổng cục Dạy nghề (2010), Dự thảo Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011-2020.28. Báo cáo của WB, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Chiến lược phát triển dạy nghề giai đoạn 2011-2020
Tác giả: Tổng cục Dạy nghề
Năm: 2010
2. Quốc hội khóa XI (2005), Luật Giáo dục của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 7 sô 38/2005/QH11 năm 2005 Khác
3. Quốc hội khóa XI (2006), Luật Dạy nghề của Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 10 số 76/2006/QH11 ngày 29/11/2006 Khác
4. Bộ LĐ-TB&XH (2007), Quyết định số 16/2007/QĐ-BLĐTBXH ngày 29/05/2007 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội về việc ban hành tạm thời danh mục 48 nghề đào tạo trình độ cao đẳng nghề, trình độ trung cấp nghề năm 2007 Khác
5. Thủ tướng Chính phủ (2009), Công văn số 56/TB-VPCP ngày 20/02/2009 về việc kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân tại buổi họp bàn về đào tạo nghề cho lao động nông thôn Khác
6. Thủ tướng Chính phủ (2009), Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 Khác
7. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008), Đề án tam nông Khác
8. Cục thống kê tỉnh Nam Định, (2006, 2007, 2008, 2009), Niên giám Thống kê tỉnh Nam Định Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1: Mối quan hệ biện chứng giữa nâng cao chất lượng đào tạo - Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Sơ đồ 1 Mối quan hệ biện chứng giữa nâng cao chất lượng đào tạo (Trang 22)
Bảng 2: Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề theo ILO - Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Bảng 2 Các tiêu chí đánh giá chất lượng đào tạo nghề theo ILO (Trang 28)
Bảng 3. Các loại bằng cấp, chứng chỉ nghề áp dụng tại Autralia - Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong sản xuất nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Bảng 3. Các loại bằng cấp, chứng chỉ nghề áp dụng tại Autralia (Trang 46)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w