1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất

87 221 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 712,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khu công nghiệp, Khu chế xuất được thành lập trên cơ sở kiến tạo nhữngđiều kiện, yếu tố thuận lợi về pháp lý và kỹ thuật hạ tầng trên một địa bàn hạnchế phù họp với khả năng về tài chính

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong gần hai thập kỷ qua Việt Nam đã đạt được những kết quả to lớn trongviệc chuyến đối tù' nền kinh tế hoạch hoá tập trung do Nhà nước điều hành vàquản lý sang hệ thống kinh tế định hướng theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước Việt Nam đang dần hội nhập với nền kinh tế khu vực và thếgiới nhờ sự phát triển thương mại quốc tế, sự tăng đầu tư nước ngoài và quaviệc tham gia các tổ chức như : gia nhập Khu vục mậu dịch tự' do Châu á (AFTA), trở thành thành viên của diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu á Thái BìnhDương (APFC) và tổ chức thương mại thế giới (WTO) Những cải cách toàndiện về kinh tế xã hội tạo nên sự tăng trưởng kinh tế đáng kế, gần 8% hàngnăm và làm cho Việt Nam trở thành một nước có khả năng hấp dẫn các hoạtđộng đầu tư kinh doanh Đế có được thành quả như vậy do rất nhiều yếu tốtrong đó việc phát triến KCN, KCX đã đóng một vai trò hết sức quan trọng,góp phần rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế của đất nước

Đối với những nước thuần nông như Việt Nam thì việc phát triển KCN, KCXtrước hết tạo tiền đề cho đô thị hoá nông thôn, tạo bước chuyển chuyển dịch cơcấu kinh tế mới theo hướng phát triến công nghiệp KCN, KCX cũng chính làcàu nối giữa nước ta với thế giới bên ngoài, nó làm vai trò tiên phong trongviêc chuyến từ nền kinh tế khép kín sang nền kinh tế mở cửa

Từ năm 1992 lần đầu tiên tại Việt Nam xuất hiện một mô hình tố chức pháttrien sản xuất mới- khu chế xuất Tân Thuận( Thành phổ Hồ Chí Minh ) Đennay cả nước có hơn 73 KCN, KCX , KCNC được thành lập Trong đó có 69KCN ,3 KCX và 1 KCNC, với tổng diện tích đất trên 13.300ha (không kể khuDung Quất 14000 ha là khu kinh tế tổng hợp )

Việc phát triền KCN đã mang lại lợi ích to lớn: Tác động tích cực đến đầu tư,sản xuất công nghiệp đế xuất khấu và phục vụ tiêu dùng trong nước; làm tăngtrưởng nhanh và vững chắc GDP; tạo điều kiện cho việc bảo vệ môi sinh, môi

Trang 2

trường; Nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân; Tạo điều kiện cho việcchuyển giao công nghệ; Góp phần hình thành và phát triển các đô thị mới vàgiảm sự cách biệt giữa các vùng Giá trị sản lượng của các KCN và KCX bìnhquân trong những năm vừa qua đạt khoảng 1,7 đến 1,8 tỷ USD, giá trị xuấtkhâu đạt 1,1 đến 1.2 tỷ USD Đen nay các KCN trong cả nước đã thu hút trên

400 nghìn lao động

Tuy nhiên các KCN vừa mới xây dựng còn bộc lộ nhiều nhược điếm về quyhoạch và phân bố mạng lưới các KCN, thiếu các cơ sở hạ tầng kỹ thuật ngoàihàng rào, đặc biệt là các khu dân cư Pháp luật và sự quản lý của nhà nước đốivới các KCN còn có những vấn đề chưa phù hợp.Việc cung cấp lao động cótay nghề cũng còn bất cập và chưa chú trọng đến công tác tiếp thị, vận độngđầu tư Vì vậy nhiều KCN đâ có cơ sở hạ tầng nhưng không thu hút được cácnhà đầu tư, chỉ lấp đầy được khoảng 30 đến 35 % lô đất XNCN Các KCN tậptrung, KCX vừa được xây dựng chủ yếu thu hút các doanh nghiệp công nghiệpnước ngoài và doanh nghiệp có quy mô lớn Trong khi đó lại thiếu các cụmcông nghiệp và KCN cho các doanh nghiệp công nghiệp vừa và nhỏ

Xuất phát từ thực tế như vậy với mong muốn góp phần nhỏ bé của mình vàoviệc nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến quy hoạch KCN, KCX, sau mộtthời gian nghiên cứu, người viết xin mạnh dạn chọn đề tài: “ GIẢI PHÁPNHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ KHUCÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT Ở VIỆT NAM ”

Chuyên đề không đề cập đến quy hoạch và quản lý ở một vài khu cụ thể, màxem xét, đánh giá hoạt động này một cách tống thế trên cả nước, nghiên cúnthực trạng quy hoạch hiện nay ở các KCN, KCX và mạnh dạn đưa ra một vàigiải pháp, mô hình mới có thế áp dụng cho KCN,KCX ở Việt Nam trong thờigian tới

Trong khi nghiên cứu vấn đề, chuyên đề đã sử dụng phương pháp duy vật biệnchứng, đi tù' những nội dung có tính chất lý luận đến các vấn đề thực tiễn, trên

Trang 3

cơ sở đó đưa ra một sổ giải pháp nhằm hoàn thiện vấn đề đang nghiên cứu.Ngoài ra, các phương pháp so sánh, phân tích tống hợp, lấy ví dụ cũng được

sử dụng đế làm nổi bật vấn đề

Chuyên đề được trình bày với kết cấu gồm 3 chương:

Chương I: Tổng quan về khu công nghiệp, khu ché xuất - quy hoạch khu côngnghiệp, khu chế xuất

Chương II : Thực trạng quy hoạch và quản lý khu công nghiệp, khu chế xuấthiện nay

Chương III: Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý khucông nghiệp, khu chế xuất

Chuyên đề này được hoàn thành với sự hướng dẫn của thầy giáo TS NguyễnTiến Dũng, cùng các cán bộ công nhân viên chức trong ban quan lý khu đô thịmới Nam Trung Yên Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với sự chỉ bảotận tình và những ý kiến đóng góp của Thầy, và các cán bộ nhân viên trongban đã giúp đỡ em viết đề tài trong thời gian vừa qua

Khoá luận đã đề cập đến một vấn đề khá lớn và tương đối phức tạp, đòihỏi nhiều thời gian và kinh nghiệm thực tiễn Do điều kiện thời gian nghiêncứu chưa nhiều, khả năng có hạn nên khoá luận khó tránh khỏi những khiếmkhuyết Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến và chỉ dẫn của thầy, cô giáo

và những người có quan tâm đến vấn đề này

Trang 4

CHƯƠNG I TỐNG QUAN VỀ KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT - QUY

HOẠCH KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHÉ XUẤT.

I KHÁI NIỆM CHUNG VÈ KCN, KCX.

1 Các khái niệm CO’ bản

1.1 Sự hình thành của KCN, KCX trên thế giới

Điểm khởi đầu của quá trình công nghiệp hoá ở Châu Âu diễn ra vào nhữngnăm cuối thế kỷ XVIII tại Anh, gắn liền với cuộc cách mạng công nghiệp lầnthứ nhất với sự phát minh ra máy hơi nước và máy dệt Những nguồn lợi manglại từ việc khai thác tại các nước thuộc địa, quyền tự do của công dân và tự dokinh doanh buôn bán đã hội tụ đủ điều kiện cho sự phát triến sản xuất theophương thức công nghiệp tại hòn đảo này Sau đó công nghiệp hoá được mởrộng nhanh chóng trên toàn châu Âu, tạo nên một nhu cầu mới về công trìnhcông nghiệp hoá Và chính cuộc cách mạng công nghiệp lại đồng thời tạo ra kỷthuật mới và vật liệu mới đế thực hiện các nhiệm vụ xây dựng vừa mới đượcđặt ra, trước hết là công nghiệp sản xuất và chế tạo thép Đây có thế coi làmóc đầu tiên của sự hình thành các công trình công nghiệp

Sau chiến tranh thế giới thứ II, sự phát triến nhanh chóng của các nước côngnghiệp phát triển gặp phải những khó khăn gay gắt về nguồn nhân công tiềncông thấp ở trong nước và nguồn nguyên liệu cho công nghiệp vốn trước đâyđược tước đoạt một cách tự do từ các nước thuộc địa, nay đã giành được độclập Mặt khác, do trình độ công nghệ còn bị hạn chế, nên kỹ thuật tự động hoáchưa đủ sức giải quyết những khó khăn này của các nước phát triển

Trong khi đó, các nước đang phát triến vừa mới thoát ra khỏi ách đô hộ thựcdân của chủ nghĩa đế quốc lại rơi vào tình trạng khó khăn trong phát triển kinh

tế, thất nghiệp gia tăng, thiếu vốn đầu tư và ngoại tệ đế khai thác nguồn tài

Trang 5

nguyên thiên nhiên, xây dựng nền kinh tế dân tộc Mặt khác, do thiếu vốn,thiếu kỹ thuật công nghệ tiên tiến, thiếu cán bộ quản lý và công nhân lành nghề

có trình độ cao nên các nuớc đang phát triển khó có điều kiên tạo đầy đủ ngaymột lúc trên phạm vi cả nước những điều kiện và yếu tố để có được những sảnphấm công nghiệp chế tạo đế có được ngay những sản phẩm công nghiệp chếtạo đủ sức cạnh tranh trên thị trường thế giới

Vì vậy có sự gặp nhau về nhu cầu phát triển kinh tế của các nước phát triển

và các nước đang phát triển Sự thôi thúc tìm kiếm nguồn nhân công giá rẻ vànguyên liệu đã thúc đẩy các nước phát triển di chuyển các cơ sở sản xuất côngnghiệp dùng nhiều lao động, tài nguyên ra nước ngoài, đến gần các nguồn lực

đó Còn các nước đang phát triển, thấy được lợi thế và hạn chế của mình, đã cốgắng tạo ra một môi trường kinh tế thích hợp đế thu hút đầu tư tù' bên ngoàinhằm giải quyết những bế tắc của mình và thực hiện chiến lược công nghiệphoá hướng về xuất khẩu

Khu công nghiệp, Khu chế xuất được thành lập trên cơ sở kiến tạo nhữngđiều kiện, yếu tố thuận lợi về pháp lý và kỹ thuật hạ tầng trên một địa bàn hạnchế phù họp với khả năng về tài chính, quản lý ; là một sách lược khôn khéo;linh hoạt và rất có ý nghĩa cả về phương diện vận dụng tư duy lý thuyết kinh tếvào thực tiễn các quan hệ kinh tế quốc tế của các nước đang phát triển

Khu công nghiệp,Khu chế xuất cũng chính là những hình thức tạo ra nhữngđiều kiện có thể lợi dụng và phát huy nhanh chóng các lợi thế so sánh của mộtnước hoặc một vùng bằng cách tham gia tích cực vào phân công lao động quốc

tế Rõ ràng xét về mặt lợi ích và hiệu quả theo nguyên lý của lý thuyết lợi thế

so sánh, khu chế xuất là nơi hội tụ về quyền lợi của các nước đang phát triển

và các công ty xuyên quốc gia, người nắm giữ phần lớn nguồn đầu tư nướcngoài trên thế giới hiện nay

1.2 Bổi cảnh hình thành chủ trương xây dựng các khu công nghiệp tập trung ở Việt Nam ỉ

Trang 6

Thập kỷ 60 là thời kỳ hình thành và phát triên các khu công nghiệp tập trungkhá mạnh mẽ trên địa bàn cảc nước:

Ở miền Bắc, thực hiện đường lối công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, Nhànước đã chủ trương ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, do đó nhiều khu côngnghiệp lớn đã được xây dựng, gắn với các đô thị hiện có như: Hà Nội, HảiPhòng, Nam Định, Vinh, Bắc Giangv.v hoặc là các cơ sở đế phát triến cácthành phố mới như: Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên, Khu côngnghiệp Việt Trì - Lâm Thao Khu công nghiệp Uông bí, Khu công nghiệp PhảLại- Chí Linh, Khu công nghiệp Xuân Hoà, Xuân Mai, Hoà Bình,Bỉm Sơn

Ớ Miền Nam , dưới chế độ Mỹ- Nguy phần lớn các Khu công nghiệp pháttriển ở các đô thị lớn là: Sài Gòn, Biên Hoà, Tân Mai, Nha Trang, cần Thơ, ĐàNằng Từ giữa những năm 60, tại miền Nam cơ quan SONADEZI được thànhlập, với chức năng quản lý và phát triển các Khu công nghiệp tập trung từ khâuquy hoạch, đầu tư xây dựng đến quản lý quá trình vận hành- khai thác và sửdụng các Khu công nghiệp tập trung

Sau năm 1975, miền Nam được giải phóng, cả nước có khoảng 3000 xínghiệp công nghiệp thu hút 10% tống lao động xã hội của cảc nước và đongsgóp 32.4% trong tổng sản phẩm kinh tế quốc dân Tuy nhiên, các doanh nghiệpnày đã phải hoạt động trong những điều kiện hết sức khó khăn do thiếu nănglượng, thiếu nguyên vật liệu, cơ sở hạ tầng kỹ thuật yếu kém, công nghệ thiết

bị lạc hậu nên năng suất lao động thấp, các nhà máy chỉ phát huy được khoảng30-40% công suất Tình hình quản lý các khu công nghiệp rất yếu kém, dẫnđến tình trạng phát triến tụ' phát, vô tố chức gây ảnh hưởng xấu đến tình trạngphát triển tự phát, vô tố chức gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động sản xuất củatùng xí nghiệp

Từ năm 1986- 1990sau đại hội toàn quốc lần thứ 5, chủ trương phát triểncông nghiệp đã được đổi mới, theo hướng phục vụ sản xuất nông nghiệp, chế

Trang 7

biến nông sản, sản xuất hàng tiêu dùng và chuấn bị cơ sở vật chất phát triếncông nghiệp nặng cho những giai đoạn sau.

Từ năm 1991, thực hiện chiến lược ốn định và phát triển kinh tế- xã hội đếnnăm 2000, nhà nước đã có chủ trương ưu tiên phát triển một số ngành côngnghiệp như : Công nghiệp chế biến các nông sản, tạo điều kiện thúc đấy sảnxuất nông nghiệp và nông thôn; Công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàngxuất khẩu; Công nghiệp tư liệu sản xuất khai thác ché biến khoáng sản, ưu tiênphát triển ngành năng lượng, đẩy nhanh công nghiệp chế biến dầu khí, nângcao năng năng lực bưu điện, ổn định ngành than, phát triển một sổ ngành côngnghiệp vật liệu, nguyên liệu, điện tử, tin học v.v

Ngày 18/10/1991, Hội đồng Bộ trưởng đã có nghị định 322/HĐBT ban hànhkèm theo quy chế Khu chế xuất tại Việt Nam, mở đầu cho một giai đoạn hìnhthành các khu công nghiệp tập và Khu chế xuất trên lãnh thổ Việt nam, trongđiều kiện phát triển nền kinh tế thị trường nhiều thành phần coá sự quản lý củaNhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa

1.3 Định nghĩa KCN, KCX trên thế giới vù Việt Nam

- Đinh nghĩa Khu công nghiệp :

Tuỳ điều kiện từng nước mà Khu công nghiệp có những nội dung hoạtđộng kinh tế khác nhau Nhưng tựu trung lại, hiện nay trên thế giới có hai môhình phát trien Khu công nghiệp, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khácnhau về khu công nghiệp

- Định nghĩa 1:

Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất côngnghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kế cả dịch vụ sản xuất côngnghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, văn phòng, nhà ở Khu công nghiệp theo quan niệm này về thực chất là khu hành chính - kinh tế

Trang 8

đặc biệt như khu công nghiệp Batam Indonesia, các công viên công nghiêp ởĐài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu.

- Định nghĩa của Việt Nam:

Theo Qui chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao - banhành kèm theo Nghị định số 36/ CP ngày 24/ 4/ 1997, khu công nghiệp là

"khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng côngnghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lýxác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chínhphủ quyết định thành lập Trong khu công nghiệp có thế có doanh nghiệp chếxuất" Như vậy, khu công nghiệp ở Việt Nam được hiếu giống với địnhnghĩa hai

- Đinh nghĩa về Khu chế xuất

Với tính chất là khu chuyên sản xuất hàng xuất khấu, đứng ngoài chế độmậu dịch và thuế quan của một nước, ngày nay có nhiều cách hiểu khác nhau

về khu chế xuất, và do đó, có nhiều định nghĩa khác nhau về mô hình kinh tếnày

- Định nghĩa của Hiệp hội các khu chế xuất thế giới( WEPZA):

Theo điều lệ hoạt động của WEPZA, khu chế xuất bao gồm tất cả cáckhu vực được Chính phủ các nước cho phép như cảng tự do, khu mậu dịch tự

do, khu công nghiệp tự do hoặc bất kì khu vục ngoại thương hoặc khu vụckhác được WEPZA công nhận Định nghĩa này về cơ bản đồng nhất khu chế

Trang 9

xuất với khu vục miễn thuế Theo định nghĩa này, có thế xếp Hồng Kông vàSingapo vào các khu chế xuất.

- Định nghĩa của Tô chức phát triên công nghiệp Liên hợp quổc( UNIDO):

Theo UNIDO, khu chế xuất là "khu vực được giới hạn về hành chính, cókhi về địa lý, được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tụ’ do nhập khấutrang bị và sản phâm nhằm mục đích sản xuất sản phấm xuất khâu Chế độthuế quan được ban hành cùng với những qui định luật pháp ưu đãi, chủ yếu vềthuế nhằm thu hút đầu tư nước ngoài." Khái niệm khu chế xuất bao hàm viêcthành lập các nhà máy hiện đại trong một khu công nghệp và một loạt những

ưu đãi nhằm khuyến khích việc đầu tư của các nhà kinh doanh nước ngoài vàonước sở tại Với định nghĩa hẹp nói trên của UNIDO, về bản chất hoạt độngkinh tế khu chế xuất khác với khu mậu dịch tụ’ do, cảng tự do Bởi hoạt độngchính trong khu chế xuất là sản xuất công nghiệp, mặc dù trên thực tế các hoạtđộng kinh doanh cũng được thực hiện tại một số khu chế xuất

- Định nghĩa của Việt Nam:

Theo Qui chế khu công nghiệp, khu ché xuất, khu công nghệ cao- banhành kèm theo Nghị định số 36/ CP ngày 24/ 4/ 1997, khu chế xuất là "khuchuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ cho sản xuất hàngxuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân

cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập”.Như vậy, về cơ bản, khu chế xuất ở Việt Nam cũng được hiểu theo như địnhnghĩa hẹp của ƯN1DO

1.4 Sự giong và khác nhau giữa KCN, KCX:

a Giống nhau:

- Một là, qui mô khu chế xuất và khu công nghiệp gần như nhau, khoảng mộtvài trăm ha Thí dụ diện tích khu chế xuất Tân Thuận là 300 ha, khu chế xuấtLinh Trung là 60 ha, khu chế xuất Hải Phòng là 100 ha; diện tích khu công

Trang 10

nghiệp Biên Hoà là 365 ha, khu công nghiệp Nội Bài là 100 ha, khu côngnghiệp Sài Đồng là 97 ha

- Hai là, các doanh nghiệp trong khu chế xuất và khu công nghiệp chủ yếu cóqui mô vừa và nhỏ, thường dưới 5 triệu đôla, với sổ lao động khoảng từ 300đến 400 người Những ngành nghề đặc trung trong khu chế xuất và khu côngnghiệp là: điện tử, sợi dệt, may mặc, chế biến thực phấm, hàng tiêu dùng, cơkhí chế tạo, các ngành không gây ô nhiễm môi trường hoặc gây ô nhiễm ít cóthế xử lí bằng các biện pháp và phương tiện trong khu

Ba là, đổi tượng đầu tư trong khu chế xuất và khu công nghiệp là các tổchức kinh tế và cá nhân Việt Nam, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vàngười nước ngoài cư trú lâu dài ở Việt Nam, các tố chức kinh tế và cá nhân ởnước ngoài

- Bốn là, về hình thức đầu tư, trong khu chế xuất và khu công nghiệp đượcthành lập doanh nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư, doanh nghiệp liên doanh,hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh

- Năm là, để xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu chế xuất và khu côngnghiệp, có thể dùng phương thức trong nước tự đầu tư hoặc kêu gọi đầu tư trụctiếp của nước ngoài theo hình thức doanh nghiệp liên doanh hoặc doanhnghiệp 100% vốn nước ngoài

- Sáu là, để quản lí Nhà nước đối với khu chế xuất và khu công nghiệp, Thủtướng Chính phủ thành lập Ban quản lí Ban quản lí khu chế xuất và khu côngnghiệp là cơ quan thực hiện dịch vụ quản lí "một cửa" cho các nhà đầu tư

b Khác nhau:

- Thứ nhất, về mục tiêu hoạt động, doanh nghiệp khu chế xuất phải xuất khẩutoàn bộ sản phẩm ra thị trường ngoài nước, còn doanh nghiệp khu công nghiệpđược tiêu thụ sản phẩm tại thị trường trong nước và xuất khẩu

Trang 11

- Thứ hai, do xuất phát tù’ mục tiêu khác nhau, nên có một sổ điều kiện uu đãidành cho các doanh nghiệp trong khu chế xuất và khu công nghiệp cũng khácnhau.

Theo Luật sửa đối, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nuớc ngoài ban hànhvào tháng 7 năm 2000 và Nghị định số 24/ 2000/ NĐ- CP ngày 31 tháng 7 năm

2000 qui định chi tiết thi hành Luật Đầu tu' nuớc ngoài tại Việt Nam, điều kiện

uu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp dành cho doanh nghiệp khu công nghiệp

và doanh nghiệp khu chế xuất như sau:

+ Đối với doanh nghiệp khu chế xuất, bất kế là của chủ đầu tư trong hayngoài nước đều được hưởng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp cao vànhư nhau, doanh nghiệp sản xuất thuế thu nhập doanh nghiệp là 10%, đượcmiễn 4 năm kể từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo;doanh nghiệp dịch vụ thuế thu nhập doanh nghiệp là 15%, được miễn 2 năm kể

từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 3 năm tiếp theo

+ Đối với doanh nghiệp khu công nghiệp, doanh nghiệp sản xuất thuế thu nhậpdoanh nghiệp là 10% (với điều kiện xuất khẩu từ 80% sản phẩm trở lên) đượcmiễn 4 năm kế từ khi kinh doanh có lãi và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo, là15% (với điều kiện xuất khẩu trên 50% sản phẩm) được miễn 2 năm kế từ khikinh doanh có lãi và giảm 50% trong 3 năm tiếp theo; doanh nghiệp dịch vụthuế thu nhập doanh nghiệp là 20%, được miễn 1 năm kế từ khi kinh doanh cólãi và giảm 50% trong 2 năm tiếp theo

2 Mục tiêu và đặc điếm của khu công nghiệp, khu chế xuất:

2 / Mục tiêu:

Sự hình thành và phát triển của các khu công nghiệp, khu chế xuất trênthế giới gắn liền với những mục tiêu của các nước thành lập khu công nghiệp,khu chế xuất và những mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài

Muc tiêu của nhà đầu tư nước ngoài:

Trang 12

- Giảm chi phí sản xuất sản phâm bằng cách tận dụng các yếu tố sản xuất rẻ ởcác nước đang phát triển.

Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế các nước phát triển, nhất là từđầu những năm 60, đã vấp phải khó khăn về nguồn lao động ở các nước đó.Khi tại các nước này, nguồn nhân công tiền công thấp ngày càng khan hiếm,giá lao động, chi phí bảo hiếm xã hội ngày một tăng, đã thúc đấy các công tyxuyên quốc gia nhanh chóng quyết định chuyển các ngành công nghiệp có hàmlượng lao động sống cao sang các nước đang phát triển Thêm vào đó, do giáđất ngày càng cao, sự phát triển của các ngành dùng nhiều nguyên liệu, côngnghiệp tiêu chuân hóa như cơ khí chế tạo, sản xuất cấu kiện không đòi hỏitrình độ công nghệ cao tại các nước tư bản phát triển tỏ ra không còn hiệu quả

do các khoản chi phí vận chuyến nguyên liệu nhập khẩu từ bên ngoài ngàycàng tăng, làm giảm khả năng cạnh tranh của họ trên thị trường thế giới Điềunày có thể giúp chúng ta lí giải vì sao các công ty xuyên quốc gia lại thườngđầu tư vào những ngành công nghiệp nhẹ, chế biến, lắp ráp như dệt, may mặc,điện tử, sản xuất kim khí ở các khu công nghiệp, khu chế xuất của các nướcđang phát triển

- Tránh hàng rào thuế quan do chính sách bảo hộ mậu dịch của các nước đangphát triển, tận dụng các chính sách ưu đãi về tài chính, nhất là về thuế và các

ưu đãi khác của các nước này nhằm tăng cường lợi ích của các công ty xuyênquốc gia

- Bảo vệ môi trường của các nước phát triển

Sự phát triến 0 ạt các ngành công nghiệp, nhất là các ngành công nghiệpnhiều phế thải đã gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường không kiếm soát nổi ởcác nước phát triển, làm cho chi phí bảo vệ môi trường ngày càng tăng Xuhướng chung của các công ty xuyên quốc gia là muốn chuyển các ngành côngnghiệp này sang các nước đang phát triển để bảo vệ môi trường nước họ vàgiảm chi phí sản xuất

Trang 13

- Tạo địa bàn hoạt động và thực hiện chiến lược phát triến lâu dài.

Khi đầu tư ra nước ngoài, trong đó có đầu tư vào khu công nghiệp, khu chếxuất, các công ty tư bản nước ngoài muốn mở rộng địa bàn hoạt động, tạo chồđứng, chuẩn bị cho những bước đi lâu dài trong chiến lược phát triển của họ.Đầu tư của các nước phương Tây, Nhật Bản, Đài Loan và Hồng Kông vàoTrung Quốc là điển hình của xu hướng đó

Mưc tiẽư của các nước thành lâp:

Trong khi các công ty tư bản nước ngoài tìm kiếm lợi ích của mìnhthông qua các động cơ không cần che giấu đó, thì các nước tiếp nhận đầu tưcũng cố gắng đạt được những mục tiêu chiến lược của mình thông qua việcthành lập các khu công nghiệp, khu chế xuất Ớ đây khó có thế đề cập đến mụctiêu của tùng nước đang phát triển, bởi lẽ mỗi nước trong mỗi khu vực cónhững điều kiện và mục tiêu phát triển kinh tế riêng Song nếu phân tích từgiác độ vĩ mô, có thế tóm lại mục tiêu cơ bản và thống nhất của các nước nàynhư sau:

- Thu hút vốn đầu tư nước ngoài

Đây là mục tiêu quan trọng nhất của khu công nghiệp, khu chế xuất Với tínhchất là "vùng lãnh thổ" hoạt động theo một qui chế riêng trong môi trường đầu

tư chung của cả nước, khu công nghiệp, khu chế xuất trở thành công cụ hữuhiệu thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đế mở mang hoạt động sản xuất kinhdoanh trong khu và đạt tới tốc độ tăng trưởng kinh tế chung của cả nền kinh tế

Các nước chủ nhà, trong nhiều trường hợp, đã thông qua khu công nghiệp,khu chế xuất như một cầu nối trung gian đế thu hút vốn đầu tư nước ngoài vàocác phần lãnh thổ còn lại của đất nước

- Mở rộng hoạt động ngoại thương

Thông qua việc thành lập khu công nghiệp, khu chế xuất, nước chủ nhàmuốn đấy mạnh hoạt đông ngoại thương với các nước

Trang 14

Sau khi giành được độc lập sau chiến tranh thế giới lần thứ II, nhiều nướcđang phát triển ở Châu Á - Thái Bình Dương muốn đẩy mạnh công nghiệphoá, xây dựng nền kinh tế độc lập của mình Họ vấp phải khó khăn không thểvượt qua do thiếu nguồn ngoại tệ Thành lập khu chế xuất đế tăng nhanh xuấtkhâu hàng hoá và thu ngoại tệ là con đường mà nhiều nước theo đuổi.

Những nước xưa nay vốn dựa vào hoạt động xuất khâu và chuyến khâu đếphát triển kinh tế như Singapo, Hồng Kông thường thông qua việc mở khu chếxuất, bảo đảm những biện pháp quản lý đặc biệt và điều kiện ưu đãi nhằm thuhút phương tiện và nguồn hàng các nước đến đế thực hiện dịch vụ xuất khẩu vàchuyên khâu

Đối với nước đang phát triển khác, việc lập ra các khu công nghiệp, khuchế xuất đế thu hút vốn đầu tư và kĩ thuật tiên tiến của nước ngoài, mở rộngcông nghiệp xuất khẩu, từ đó tạo ra những mặt hàng xuất khẩu có giá trị lớn làđiều quan tâm nhất Theo hướng này, ở nhiều nước Châu Á - Thái BìnhDương, xuất khấu hàng công nghiệp sản xuất ở khu công nghiệp, khu chế xuấtchiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng kim ngạch xuất khẩu ở các nước đó

- Tạo công ăn việc làm

Khuyến khích toàn dụng lao động là một trong những mục tiêu quan trọngcủa các nước đang phát triển Sau chiến tranh thế giới lần thứ II, sự bùng nổdân số và tình trạng thất nghiệp đã làm cho bức tranh kinh tế của các nước nàycàng trở nên ảm đạm Trong khi các nước mới dành được độc lập dư thừa sứclao động thì tình trạng thiếu nguồn lao động, đặc biệt là lao động tiền côngthấp ở các nước tư bản phát triến đặt các nước này trước sự lựa chọn sử dụngnguồn lao động dồi dào trong đội quân thất nghiệp khổng lồ ở các nước đangphát triển

Mở mang khu công nghiệp, khu chế xuất để tạo ra nhiều hơn chồ làm việc làmục tiêu chung của các nước đang phát triển Thực tiễn cho thấy, khu công

Trang 15

nghiệp, khu chế xuất là công cụ hữu hiệu thực hiện chiến lựoc lâu dài về toàndụng lao động ở các nước đó.

- Du nhập kĩ thuật, công nghệ tiên tiến và học tập kinh nghiệm quản lý củacác công ty tư bản nước ngoài

Vào những năm của thập kỷ 70 và 80, đế tránh bị tụt hậu về kinh té, đặcbiệt là trong sản xuất công nghiệp và tăng sức cạnh tranh hàng xuất khấu trênthị trường thế giới, các nước đang phát triển muốn mau chóng phát triển khoahọc kĩ thuật của mình, nâng cao trình độ quản lý kinh tế đất nước Xây dựngkhu công nghiệp, khu chế xuất đế thu hút vốn đầu tư nước ngoài, từ đó tạo điềukiện nhập khấu kĩ thuật, công nghệ của các công ty tư bản nước ngoài, học tậpkinh nghiệm quản lý kinh tế của họ là biện pháp hữu hiệu mà nhiều nước từng

áp dụng

- Làm cầu nổi hội nhập nền kinh tế trong nước với kinh tế thế giới, thúc đấy

sự phát triển kinh tế trong nước

Trước hết, hàng tiêu dùng tù’ các khu công nghiệp cung cấp cho thị trườngnội địa ở thành thị và nông thôn đủ sức cạnh tranh và ngăn chặn hàng nhậplậu từ nước ngoài, đồng thời góp phần tăng sản xuất hàng xuất khấu Còn khuchế xuất, với tính chất là khu vực sản xuất hàng xuất khẩu, hoạt động của khuchế xuất chủ yếu hướng ra thị trường thế giới Vì vậy, có thể xem khu côngnghiệp, khu chế xuất như là một cửa ngõ khai thông nền kinh tế trong nướcvới kinh tế khu vực và thế giới

Mặt khác, khu công nghiệp, khu chế xuất vốn là một bộ phận cấu thànhcủa kinh tế trong nước, tạo nên sức hút với nhà đầu tư nước ngoài Tạo ra nănglực sản xuất mới, thu hút lao động trong nước vào làm việc ở các khu côngnghiệp, khu chế xuất, phát triển mối liên kết với các doanh nghiệp trong nướcnằm ngoài khu công nghiệp, khu chế xuất thông qua các hợp đồng gia công,cung cấp nguyên liệu giữa các xí nghiệp này là thực tế diễn ra ở nhiều khu

Trang 16

công nghiệp, khu chế xuất, đặc biệt là các đặc khu kinh tế Trung Quốc, khucông nghiệp, khu ché xuất ở Hàn Quốc và Đài Loan.

Dù được thành lập trong những điều kiện khác nhau, với tính chất và thờiđiểm khác nhau, nhưng những mục tiêu của khu công nghiệp, khu chế xuất đềugắn liền với mục tiêu phát triến kinh tế của tùng quốc gia Chính vì vậy, liềulượng và tính chất ưu tiên đối với mục tiêu cụ thế của tùng nước cũng rất khácnhau, thế hiện qua những ưu đãi mà Chính phủ các nước này dành cho khucông nghiệp, khu chế xuất Thí dụ, trong khi Đài Loan, Hàn Quốc, Malaixia,Philipin dường như đặt lên hàng đầu mục tiêu xuất khẩu và tạo việc làm,Xrilanca và Ấn Độ chú trọng vào việc thu hút vốn, thì Trung Quốc lại ưu tiênnhiều hơn cho mục tiêu thúc đẩy, lôi kéo sự phát triến nền kinh tế khu vựcngoài khu công nghiệp, khu chế xuất

Ở Việt Nam, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tăng nhanh xuất khẩu đế cóthu nhập ngoại tệ, góp phần thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước,tạo công ăn việc làm cho người lao động là nhiệm vụ quan trọng nhất của hoạtđộng đầu tư trực tiếp Việc thành lập các khu công nghiệp, khu chế xuất ở ViệtNam là biện pháp tích cực để thực hiện mục tiêu chiến lược đó

Song đế có các khu công nghiệp, khu chế xuất thành công, điều cơ bảncủa các nước chủ nhà là phải gắn mục tiêu của các khu với mục tiêu của cáccông ty xuyên quốc gia - đối tượng đầu tư chủ yếu của các khu Nói cách kháchai bên phải tìm được điểm gặp nhau, đó chính là lợi ích của các bên mà khucông nghiệp, khu chế xuất là công cụ thực hiện Lợi ích đó chỉ có thế đạt đượctrong môi trường đầu tư do các nước chủ nhà tạo ra đế sẵn sàng đón nhận đầu

tư của các công ty xuyên quốc gia

2.2 Đặc điêm:

Các khu công nghiệp, khu chế xuất đều là công cụ thu hút vốn đầu tư trựctiếp nước ngoài để tạo ra những năng lực sản xuất mới, hiện đại đáp ứng nhucầu về hàng hoá của thị trường trong nước và thế giới Với cơ cấu được hình

Trang 17

thành trên cơ sở kĩ thuật và công nghệ tiên tiến, khu công nghiệp, khu chế xuấtbao gồm những đặc điểm sau:

- Thứ nhất, trong khu chế xuất và khu công nghiệp được thành lập các doanhnghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp (đối với khu công nghiệp) hàng xuấtkhâu (đổi với khu chế xuất), và các doanh nghiệp thực hiện các dịch vụ chosản xuất công nghiệp (đối với khu công nghiệp) cho sản xuất hàng xuất khấu

và hoạt động xuất khẩu (đổi với khu chế xuất), là những doanh nghiệp cơ bảnđáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiệnđại hoá

- Thứ hai, việc hình thành khu chế xuất và khu công nghiệp tạo nên sự thayđối một cách căn bản về hạ tầng kĩ thuật trong và ngoài khu, là cơ sở để hìnhthành các khu vực đô thị, các thành phố công nghiệp trong tương lai

- Thứ ba, khu chế xuất và khu công nghiệp góp phần vào việc tạo ra hiệu quảkinh tế - xã hội, trước hết là giải quyết công ăn việc làm cho người lao động,tăng thu nhập và nâng cao phúc lợi cho khu VỊTC lãnh thố có các khu này

- Thứ tư, tạo nên sự liên kết với các cơ sở kinh tế trong nước, trước hết là khuvực quanh khu chế xuất và khu công nghiệp

II LÝ LUẬN CHUNG VÈ QUY HOẠCH KHU CÔNG NGHIỆP

1.Một số khái niệm về quy hoạch xây dụng đô thị và quy hoạch KCN

Quy hoạch xây dựng ở đô thị là một công việc kết hợp giữa khoa học vànghệ thuật nhằm sắp xếp, bổ trí địa giới mặt bằng đất đai với mục đích sửdụng khu đất một cách hợp lý nhất, như khu nhà ở, khu vực làm việc của các

cơ quan nhà nước, khu công nghiệp tập trung, khu thương mại, dịch vụ, vănhoá, nơi vui chơi giải trí V.V

Các lô đất được phân chia bởi mạng lưới đường phố đáp ứng được các chỉtiêu, tiêu chuẩn và quy phạm, chỉ rõ yêu cầu cụ thể về kiến trúc và quy hoạchđối với các công trình dự kiến xây dựng( chiều cao công trình, hình thức kiếntrúc của quần thế, hệ số sử dụng đất đai và việc sử dụng kết cấu hạ tầng kỹ

Trang 18

thuật v.v Các chỉ tiêu, tiêu chuấn, quy phạm đó được định ra đế phục vụcho việc khai thác, sử dụng đáp ứng được mục tiêu về các mặt kinh tế, vănhoá xã hội và dễ dàng trong phân cấp quản lý, giúp cho các cấp chính quyền ở

đô thị kiểm soát được việc sử dụng đất đai

Quy hoạch xây dựng đô thị bao gồm :

+ Quy hoạch chung là quy hoạch cho toàn bộ lãnh thố của một đô thị, trongthời gian từ 10 dến 20 năm Đồ án quy hoạch chung thường được làm trên tỷ

lệ 1/5000- 1/10000

+ Quy hoạch chi tiết là quy hoạch cho từng phần lãnh thổ hoặc từng khuchức năng được phân định từ quy hoạch chung Đồ án quy hoạch chi tiết đượclàm trên tỷ lệ 1/500- 1/2000

Quy hoạch Khu công nghiệp là một bộ phận trong quy hoạch xây dựng ở đôthị: là việc tổ chức không gian kiến trúc và bố trí các công trình công nghiệptrên một khu vực lãnh thổ Quy hoạch Khu công nghiệp là quy hoạch chi tiết,được quy định như sau:

- Quy hoạch Khu công nghiệp không gắn với các đô thị cũ, mà hình thànhnhư một yếu tố tạo thị, trước khi lập quy hoạch chi tiết khu công nghiệp phảitiến hành lập quy hoạch chung 1/5000 hoặc 1/10000 của toàn đô thị dự kiến

- Đối vói các cụm khu công nghiệp bao gồm nhiều khu công nghiệp tậptrung thì lập quy hoạch chi tiết 1/2000 nhằm cụ thế hoá các quy hoạch chung,làm căn cứ cho các bước quy hoạch chi tiết các khu công nghiệp tập trung

- Đối với các khu công nghiệp đã có chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹthuật khu công nghiệp , quy hoạch được lập trên tỷ lệ bản đồ 1/2000 đến1/500 để phục vụ công tác đầu tư và xây dựng

2 Sự cần thiết phải xây dựng quy hoạch ỏ’ đô thị nói chung và khu công nghiệp nói riêng.

Trang 19

Sự thành công của quy hoạch xây dựng trong những thập kỷ vừa qua lànhanh chóng mở rộng các đô thị trên quy mô lớn với những cơ cấu kinh tế- xãhội phong phú đa dạng, với những chi phí to lớn cho đường sá, cầu cống, nhà

ga Ben cảng, sân bay các công viên, vườn thú, sân chơi thư viện, truờng học,các công trình công cộng khác Những thay đối khác đang và sẽ phụ thuộc vào

sự sáng suốt của các nhà lập quy hoạch và những ngươi ra quyết định, phụthuộc vào tầm nhìn chiến lược lâu dài và tính triệt đế của công tác quy hoạch

Do đó, công tác quy hoạch phải do cơ quan chuyên môn, thay mặt chínhquyền đô thị, đế chuẩn bị những đồ án quy hoạch có tính định hướng, trên cơ

sở chuấn xác các khái niệm trong quy hoạch hiện đại Vậy quy hoạch hiện đại

là tìm được bản chất của nó trong các vấn đề cấp thiết của đời sống xã hội đôthị và nó đã thành công trong trong những năm cuối của thế kỷ XX

Đổi với KCN, KCX cũng vậy, việc phát triển Khu chế xuất ,Khu côngnghiệp phải tính đến sự phân bố lực lượng sản xuất trên lãnh thổ nhằm đảmbảo sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và bảo vệ môi trường, môi sinh Đồngthời phát triển Khu công nghiệp, Khu chế xuất cũng cần xem xét đến tính cânđối trong phát triển khu vực, lãnh thố và tính phát triển bền vũng Ngoài racòn phải tính đến sự phát triển hài hoà giữa các vùng, lãnh thố, tận dụng đượclợi thế so sánh giữa các vùng, lãnh thổ để đảm bảo sự phát triển cân đốichung, hợp lý của cả nước Vì vậy có thể khẳng định rằng đế phát triển KCN,KCX một cách hợp lý cần phái có quy hoạch rõ ràng cụ thể Bên cạnh nhữngquy hoạch mang tính tổng thế chiến luợc lâu dài nhằm định hướng phát triểnKCN cho phù họp với quy hoạch chung phát trien kinh tế- xã hội, cần phải cónhững quy hoạch chi tiết, quy hoạch chuyên ngành nhằm cụ thế quy hoạchtổng thể triển khai và đảm bảo quy hoạch tổng thể được thực hiện

3 Nội dung công tác quy hoạch KCN

+ Quy hoạch tống thế và sử dụng đất đai KCN

Trang 20

Mục đích và nội dung quy hoạch tông thế phát triến Khu công nghiệp lànghiên cứu trên mặt bằng tổng thể của khu công nghiệp để định huớng chiếnluợc phát triển những vấn đề chung nhất của khu công nghiệp Quy hoạch tổngthể bao gồm :

- Định hướng chiến lược phát triến các KCN trong thời gian 15- 20 năm

- Xác định mặt bằng sử dụng đất đai ở KCN trong gian đoạn đầu, dự kiếntrong 5- 10 năm , trong đó có luận chứng để xác định tính chất, cơ sở kinh tế

kỹ thuật, quy mô các công trình công nghiệp , sổ lượng cán bộ công nhân , cácchỉ tiêu chủ yếu trong cải tạo và phát triển KCN Xác định các căn cứ pháp lý

đế quản lý xây dựng, làm cơ sở cho việc lập đồ án quy hoạch chi tiết và quyhoạch chuyên ngành để đưa các dự án vào đầu tư trên các lô đất ở KCN

Nội dung quy hoạch tổng thế phát triến khu công nghiệp gắn liền với việc

sử dụng đất đai hợp lý đế tổ chức sản xuất, phát triển các cụm công nghiệpchuyên ngành, trên cơ sở tuân thủ luật đất đai và điều lệ quản lý sử dụng đấtđai trong khu công nghiệp

Đất khu công nghiệp là đất mà ở đó có đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật, điệnnước, giao thông vận tải, xử lý phế thải, kiểm soát được môi trường Đất quyhoạch xây dựng khu công nghiệp có thể là đất nông nghiệp, đất dân ở vùngnông thôn , khi chuyển sang đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật thì trởthành đất khu công nghiệp

+ Quy hoạch chi tiết và quy hoạch chuyên ngànhQuy hoạch chi tiết và quy hoạch chuyên ngành nhằm mục đích quản lý đấtđai khu công nghiệp trong cải tạo và xây dựng mới, là công cụ đế cụ thế hoácác quy định của quy hoạch chung, làm cơ sở để giới thiệu địa điểm , cấpchứng chỉ quy hoạch, lập các dự án đầu tư, giao đất và cấp giấy phép xâydựng Nội dung của quy hoạch chi tiết là xác định địa giới mặt bằng lô đất chotừng công trình công nghiệp, vạch ra mạng lưới đường sá, chỉ rõ yêu cầu vềmặt kiến trúc và quy hoạch đối với công trình sẽ xây dựng trên lô đất đó (

Trang 21

chiều cao công trình, hình thức sử dụng kết cấu hạ tầng kỹ thuật) Trên cơ sở

đó đi đến xác định các chỉ tiêu quản lý cụ thế đối với mỗi khu đất về giới hạnxây dựng, hệ số sử dụng đất đai với công trình, mật độ xây dựng, độ cao côngtrình, tính chất kiến trúc, cảnh quan môi trường, công viên cây xanh và hìnhthức sử dụng kết cấu hạ tầng của đô thị

Quy hoạch chi tiết có nhiệm vụ tập họp và cân đối các yêu cầu đầu tư, cải tạo

và xây dựng mới tại các khu đất đã có quy hoạch, xác định mặt bằng sử dụngđất đai, phân chia các lô đất và quy định chế độ quản lý, sử dụng cho các đốitượng sử dụng đất đai, xác định chỉ giới đường đỏ, chỉ giới xây dựng của cáccông trình, soạn thảo quy chế xây dựng ở khu công nghiệp

Nhiêm vu và vẽu cầu của bản quy hoach chi tiết KCN:

- Xác định rõ phạm vi ranh giới lập quy hoạch, kèm theo bản đồ địa chính do

Sở Địa chính Sở Xây dựng cấp tỉnh, thành phố lập theo quyết định giao đấtcủa cơ quan Nhà nước có thấm quyền

- Xác định tính chất của KCN phù hợp với các quy định của quy hoạch tốngthế các KCN, dự án đầu tư và hướng dẫn của Bộ công nghiệp, trong đó xácđịnh rõ loại công nghiệp nào được bố trí tại đây và loại hình công nghiệp nàokhông được bố trí tại đây Tuy nhiên, việc kiểm soát quy hoạch không nên loạitrù’ một ngành công nghiệp nào mà bản thân nó tụ’ chứng minh được là an toàn

và có khả năng kiểm soát tác động ngoài hàng rào

- Quy hoạch sử dụng đất đai, gồm : xác lập cơ cấu sư dụng đất, phân khu chứcnăng và tiến hành chia lô đất xây dựng XNCN

- Quy hoạch hệ thống cây xanh và kiến trúc cảnh quan

- Quy hoạch xây dựng cơ sở hạ tầng, gồm : Quy hoạch hệ thống giao thông,cấp nước, cấp điện, thông tin liên lạc, chuẩn bị kỹ thuật đất đai, thoát nướcmưa, nước bẩn và xử lý các chất thải độc hại; tổng hợp đường dây, đường ống

kỹ thuật

Trang 22

- Quy hoạch chỉ giới xây dựng, chỉ giới đường đỏ và các quy định kiếm soátphát triển đến từng lô đất xây dựng.

- Phân kỳ xây dựng và nội dung xây dựng đợt đầu, trong đó quy định rõ cácgiai đoạn thực hiện đầu tư, ranh giới khu đất và các dự án ưu tiên xây dựng đợtđầu

- Đe xuất điều lệ quản lý xây dựng KCN

4 Nguyên tắc lập quy hoạch xây dựng khu công nghiệp

Khi quy hoạch khu công nghiệp cần phải tuân theo các nguyên tắc sau:

- khu công nghiệp phải được quy hoạch phù hợp với loại hình công nghiệptheo quy hoạch tổng thể phát triển các khu công nghiệp

- Khu công nghiệp phải được quy hoạch phù hợp với quy hoạch chung của

đô thị, theo các định hướng về giao thông, hệ thống hạ tầng kỹ thuật, khoảngcách ly với khu dân cư và cảnh quan đô thị

- Bố trí các bộ phận chức năng của KCN phải phù hợp với cơ cấu chiếm đất

của chúng, tạo điều kiên thuận lựi cho việc tố chức giao thông đổi nội, đốingoại trong KCN, phù họp với yêu cầu về điều kiện vệ sinh, phóng hoả,cũng như yêu cầu về cảnh quan đô thị

- Các lô đất xây dựng XNCN cần được lựa chọn hợp lý về quy mô và hìnhdáng, có khả năng thay đổi quy mô linh hoạt phù hợp với nhu cầu của cácdoanh nghiệp công nghiệp mà không dẫn đến các thay đối lớn hệ thống giaothông và hạ tầng kỹ thuật trong KCN

- Đảm bảo yêu cầu vận chuyến hàng hoá cho từng XNCN cũng như việc đilại của công nhân, lựa chon hợp lý dạng vận chuyển, tổ chức mạng lướiđường, bề rộng đường

- Tận dụng điều kiện địa hình tự nhiên đế hạn chế san lấp và duy trì cảnhquan tự nhiên Đảm bảo độ dốc san nền và tố chức hợp lý hướng thoát, hệthống cống thu nước mưa kết họp hồ điều hoà đế tránh xa úng lụt

Trang 23

- Hệ thống cấp điện, thông tin bưu điện cấp nước và thu nước thải phảiđược tiếp nối vào từng lô đất xây dựng công trình một cách thuận lợi.

- Chất thải rắn phải được thu gom và xử lý, XNCN và công trình có mức

độ độc hại lớn phải bố trí tại cuối hướng gió chủ đạo, hạn chế dến mức caonhất ô nhiễm môi trường trong quá trình xây dựng cũng như vận hành

- Đảm bảo tỷ lệ diện tích cây xanh và tố chức trồng cây xanh hợp lý nhằmnâng cao chất lượng môi trường và cảnh quan trong KCN

- Phải dự kiến phân kỳ xây dựng đế thuận lợi cho việc đầu tư xây dựng vàkhai thác hệ thống hạ tầng kỹ thuật cũng như hoàn thiện KCN

CHƯƠNG II THựC TRẠNG QUY HOẠCH VÀ QUẢN LÝ KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHÉ XUẤT Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA

I ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH CHUNG VÈ KCN, KCX HIỆN NAY Ở NƯỚC TA.

1 Tình hình các khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2000:

1.1 Sự thành lập và qui hoạch khu công nghiệp, khu chế xuất:

1.1.1 Sự thành lập khu công nghiệp, khu chế xuất:

- Qui mô và số lượng các khu công nghiệp, khu chế xuất:

Tính đến năm 2000, đã có 67 khu công nghiệp, khu chế xuất được thànhlập (không kế khu công nghiệp Dung Quất rộng 14000 ha nằm ở vùng TrungBộ) Tổng diện tích đất tự nhiên của các khu công nghiệp, khu chế xuất là

II 023 ha, trong đó diện tích đất công nghiệp có thế cho thuê là 7.290 ha

Như vậy, qui mô bình quân của một khu là 164,5 ha Khu công nghiệp códiện tích lớn nhất (không kế khu công nghiệp Dung Quất mà thực chất là khu

Trang 24

Số lượng

Diện tích đất tựnhiên (ha)

Diện tích đấtcông nghiệp(ha)

Trang 25

Vùng Số khu công

nghiệp

Diện tích(ha)

Trang 26

chưa kể khu công nghiệp Dung Quất)

Nguôn : Vụ quản lý KCN, KCX

Các khu công nghiệp, khu chế xuất phân bố không đều theo lãnh thổ: tậptrung chủ yếu tại 3 vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ vàđồng bằng sông Cửu Long (chiếm 56/ 64 khu) Trong khi đó, vùng TâyNguyên chưa có một khu công nghiệp hay khu chế xuất nào Vùng núi Bắc Bộ

có 2 khu công nghiệp, đó là khu công nghiệp Thụy Vân thuộc tỉnh Phú Thọđược thành lập năm 1997 và khu công nghiệp Sông Công thuộc tỉnh TháiNguyên mới được thành lập năm 1999 với diện tích nhỏ so với mặt bằng chungcủa cả nước Tại những vùng này, việc xây dựng khu công nghiệp, khu chếxuất là rất khó khăn do vị trí địa lý kém thuận lợi, cơ sở hạ tầng chưa pháttriển

về diện tích, vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc có 10 khu với tổng diệntích 1.307 ha, chiếm 11,86%; vùng kinh tế trọng điếm phía Nam có 33 khu vớitống diện tích 7.110 ha, chiếm 64,5%; vùng kinh tế trọng điếm miền Trung có

7 khu với diện tích 628,6 ha, chiếm 5,7% tổng diện tích các khu công nghiệp,khu chế xuất đã được thành lập Như vậy, các khu công nghiệp, khu chế xuấttập trung chủ yếu tại 3 vùng kinh tế trọng điểm không chỉ về mặt sổ lượng màcòn cả về mặt diện tích

Ngoài ra, tại vùng kinh tế trọng điểm Trung Bộ, Chính phủ đã quyết địnhthành lập khu công nghiệp Dung Quát( thực chất là khu kinh tế tống hợp vớidiện tích 14.000 ha) và nghiên cứu xây dựng mô hình kinh tế mở Chu Lai

ỉ 1.2 Qui hoạch khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2000.

Đen nay, đã có 96 khu công nghiệp, khu chế xuất được xác định trong quihoạch đến năm 2010

Bảng 3:SỐ các khu công nghiệp, khu chế xuất tại các vùng theo qui hoạch.

Trang 27

Nhìn chung qui hoạch phát triển khu công nghiệp, khu chế xuất phù hợpvới định hướng phát triến kinh tế- xã hội của cả nước và từng vùng, tham giatích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nói cách khác,đây là chủ trưong hoàn toàn đúng đắn, nhằm mục tiêu tạo đà tăng trưởng chocông nghiệp, tăng nguồn hàng xuất khẩu, tạo việc làm và từng bước thực hiệnviệc phát triến công nghiệp theo qui hoạch, tránh phát triến các cơ sở côngnghiệp một cách tự’ phát, tiết kiệm đất, thu hút và sử dụng hiệu quả vốn đầu tưphát triển hạ tầng, hạn chế ô nhiễm do chất thải công nghiệp, thúc đấy các cơ

sở sản xuất, dịch vụ cùng phát triển

Trang 28

Thực tế thời gian qua cho thấy khu công nghiệp, khu chế xuất đuợc hìnhthành từ khu vực chua có các yếu tố hạ tầng và doanh nghiệp công nghiệp,hoặc trên cơ sở qui hoạch lại các doanh nghiệp đã được thành lập từ trước đó.Ngoài ra có một số khu công nghiệp đế sắp xếp lại các cơ sở công nghiệp qui

mô vừa và nhỏ của địa phương, tạo điều kiện qui hoạch, tố chức lại sản xuấtcông nghiệp, kết cấu hạ tầng và xử lý môi trường ở các tỉnh

1 2 Thực trạng thu hút đầu tư vào khu công nghiệp, khu chế xuất.

Sau hơn 10 năm xây dựng và phát triển, với những chính sách ưu đãi vượttrội, KCN, KCX ở Việt Nam đã thực sự hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước vàngoài nước Các lĩnh vực đầu tư vào KCN, KCX bao gồm xây dựng cơ sở hạtầng KCN, KCX, sản xuất công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp

Có thể xem xét và đánh giá tình hình thu hút đầu tư vào khu công nghiệp,khu chế xuất trong thời gian qua bằng các chỉ tiêu cơ bản sau: số dự án đầu tưtại các khu công nghiệp, khu chế xuất; tỷ lệ cho thuê đất trong khu côngnghiệp, khu chế xuất; tống vốn đầu tư đăng ký tại các vùng

- Số dự án đầu tư tại các khu công nghiệp, khu chế xuất

Đến đầu quí III năm 2000, số dự án đầu tư tại các khu công nghiệp, khuchế xuất là 1.092 với tống vốn đầu tư đăng ký 9.362,7 triệu đôla và 26.841,8 tỷđồng (bao gồm cả các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng và các dự án sản xuấtcông nghiệp) Trong đó:

+ Có 1.025 dự án đầu tư vào lĩnh vực sản xuất, dịch vụ trong các khu côngnghiệp, khu chế xuất, với vốn đầu tư đăng ký 8.202,6 triệu đôla và 15.552,8

tỷ đồng Trong số 1.025 dự án loại này, có 623 dự án có vốn đầu tư trự’c tiếpnước ngoài

+ Có 67 dự án đầu tư vào xây dựng và kinh doanh cơ sở hạ tầng khu côngnghiệp, khu chế xuất, với tống vốn đầu tư đăng ký 1.160 triệu đôla và 11.289

tỷ đồng

Trang 29

Có thế thấy sự phân bố không đều theo vùng lãnh thố của khu côngnghiệp, khu chế xuất đã gây nên hệ quả tất yếu là vốn đầu tư chỉ tập trung chủ

Trang 30

yếu ở ba vùng kinh tế trọng điếm và vùng đồng bằng sông Cửu Long (chiếmtới 56 trên tổng số 67 khu của cả nuớc) Vùng Tây Nguyên chưa có một khunào được thành lập nên chưa thu hút dược vốn đầu tư Tình cảnh tương tự cũngdiễn ra với vùng núi Bắc Bộ, khi hai khu công nghiệp duy nhất (khu côngnghiệp Thụy Vân và khu công nghiệp Sông Công) mới được thành lập, hệthống cơ sở hạ tầng trong khu hầu như chưa có gì.

- Tỷ lệ cho thuê đất trong khu công nghiệp, khu chế xuất

Với phương thức kinh doanh vừa đầu tư xây dựng hoàn thiện cơ sở hạtầng, vừa tranh thủ kêu gọi, thu hút đầu tư, đến nay các khu công nghiệp, khuchế xuất đã cho thuê được 2.432 ha, chiếm khoảng 32% tống diện tích đấtcông nghiệp có thể cho thuê của các khu (tính cả doanh nghiệp Việt Nam cósẵn trong khu)

Một số khu đã cho thuê được nhiều đất như khu công nghiệp Biên Hoà IIthuộc tỉnh Đồng Nai (đã cho thuê 243 ha trên tổng số đất có thế cho thuê là

261 ha, tương đương với tỉ lệ 93.1%), khu công nghiệp Gò Dầu thuộc tỉnhĐồng Nai (đã cho thuê 104 ha trên tổng số đất có thể cho thuê là 136 ha, tươngđương với tỉ lệ 76.47%), hai khu chế xuất Tân Thuận và Linh Trung ở thànhphố Hồ Chí Minh (đã cho thuê 57,71% với khu chế xuất Tân Thuận và 60.23%với khu chế xuất Linh Trung) Có 3 khu đã cho thuê gần hết diện tích đất côngnghiệp giai đoạn I và hiện nay đang thực hiện giai đoạn II đó là khu côngnghiệp Việt Nam- Singapore, khu công nghiệp Việt Hương (đều thuộc tỉnhBình Dương) và khu công nghiệp Sài Đồng B ở Hà Nội

Một trong những chỉ tiêu quan trọng đế đánh giá sự thành công của cáckhu công nghiệp, khu chế xuất - theo UNIDO - là tỷ lệ đất cho thuê củakhu.Trong khi hiện nay, các khu ở Đài Loan; khu Masan, Iri của Hàn Quốc;khu Penang của Malaixia có tỷ lệ đất cho thuê đều đạt hơn 80%, thì ở cáckhu của các nước Châu Á khác, tỷ lệ này thường chưa đến 50% Việt Nam chỉđạt mức 32% (tính tới thời điếm hiện nay), một con số phản ánh rõ tình trạng

Trang 31

Tỉ lệ đất cho thuê (%) Số khu

Có nhiều loại hình doanh nghiệp xin thuê đất để đầu tư trong khu Trước hết

là doanh nghiệp Việt Nam mà chủ yếu là các doanh nghiệp thuộc thành phầnkinh tế quốc doanh - được thành lập từ trước khi khu được thành lập, nhằmthực hiện chủ trương xây dựng khu công nghiệp, khu ché xuất trên cơ sở quihoạch các doanh nghiệp có trước; hoặc các doanh nghiệp xin đầu tư mới vàocác khu trong năm 1997, 1998, 1999, 2000 (điển hình là các doanh nghiệptrong các khu công nghiệp ở thành phố Hô Chí Minh, Rình Dương); các doanhnghiệp di chuyến tù’ nội thành ra theo chủ trương qui hoạch doanh nghiệp cókhả năng gây ô nhiễm Ngoài doanh nghiệp trong nước, còn có loại hình doanh

Trang 32

nghiệp liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp 100% vốn đầu tưnước ngoài Loại hình doanh nghiệp này thừa đủ khả năng thuê lại đất củacông ty phát triển hạ tầng với giá thường cao hơn so với giá thuê đất nằm ngoàikhu (do hệ thống kết cấu hạ tầng đã được đầu tư) Điều này cũng giải thích vìsao phần lớn doanh nghiệp khu công nghiệp, khu chế xuất được thành lậptrong những năm gần đây là doanh nghiệp có vốn đầu tư trục tiếp nước ngoài.Còn số doanh nghiệp trong nước thuộc các thành phần kinh tế thành lập vàhoạt động trong các khu chưa nhiều ngoài các doanh nghiệp hoạt động trướckhi thành lập khu.

1.3 Thực trạng đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trong khu công nghiệp, khu chế xuất:

- Qui mô xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp, khu chế xuất:

Tổng vốn đầu tư đăng ký xây dựng cơ sở hạ tầng các khu công nghiệp,khu chế xuất, tính đến đầu năm 2000, vào khoảng 1.148,1 triệu đôla và 24.429

tỷ đồng Cụ thế như sau:

+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tổng vốn đầu tư đăng ký là 12 triệuUSD

+ Doanh nghiệp liên doanh có tống vốn đầu tư đăng ký là 879,5 triệu USD

+ Doanh nghiệp Việt Nam có tổng vốn đầu tư đăng ký là 256,6 triệu USD và24.429 tỷ đồng

Đen hết tháng 12/ 1999 có 56 khu công nghiệp, khu chế xuất triển khaiđầu tư xây dựng hạ tầng Các khu này đã thực hiện được 396,5 triệu USD và1.133 tỷ đồng vốn xây dựng hạ tầng, chỉ bằng 25% tống số vốn đầu tư đăng kýhoặc dự toán được duyệt Vì vậy, đẩy nhanh thực hiện vốn xây dựng hạ tầngtrong thời gian trước mắt đang là vấn đề cấp thiết đối với hệ thống các khucông nghiệp, khu chế xuất Việt Nam

Trang 33

về qui mô bình quân, một khu có diện tích là 164,5 ha với vốn đầu tư xâydựng hạ tầng theo dự kiến trong hồ sơ dự án là 28,8 triệu USD (bình quânkhoảng 175.000 USD/ha).

Theo số liệu tổng kết của WEPZA, một khu công nghiệp hay một khu chếxuất điến hình có diện tích khoảng 100 ha với vốn đầu tư ban đầu xây dựng hạtầng khoảng 50 triệu USD, tạo việc làm cho 10.000 lao động và tạo ra giá trịxuất khẩu và GDP khoảng 200 triệu USD Cũng theo WEPZA, qui mô khu đóđem lại hiệu quả cao nhất, vì phát huy nhanh vốn đầu tư xây dựng hạ tầng, dễđảm bảo các điều kiện hoạt động cho khu như điện, nước, thông tin, giao thôngvận tải, dễ vận động đầu tư vào khu mà không gây những hậu quả lớn về môitrường, về kinh tế - xã hội do tích tụ với mật độ lớn các doanh nghiệp và số laođộng làm việc thường xuyên trong khu Như vậy, đa phần các khu côngnghiệp, khu chế xuất ở Việt Nam trước mắt chưa thể gọi là "điến hình"

- Tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất

Nhìn chung, tiến độ đầu tư xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, khu chếxuất chậm Ngoài một số khu công nghiệp, khu ché xuất đã xây dựng xonghoặc cơ bản đã xây dựng xong cơ sở hạ tầng như khu công nghiệp Nomura HảiPhòng, khu công nghiệp Đà Nằng ở Đà Nằng, khu chế xuất Tân Thuận và khuchế xuất Linh Trung ở thành phố Hồ Chí Minh, khu công nghiệp Amata vàkhu công nghiệp Biên Hoà II ở Đồng Nai, khu công nghiệp Việt Nam -Singapore và khu công nghiệp Việt Hương ở Bình Dương, giai đoạn I khucông nghiệp Nội Bài Hà Nội với đầy đủ các hạng mục công trình hạ tầng như

hệ thống giao thông nội khu, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống đường dây vàtrạm điện, hệ thống xử lý chất thải, nhất là hệ thống xử lý nước thải, cây xanh

và công trình công cộng trong khu, các khu công nghiệp còn lại đang trong quátrình đền bù, giải phóng mặt bằng, trong đó một số đang san lấp mặt bằng,chuẩn bị xây dựng các công trình kết cấu hạ tầng

Trang 34

Riêng khu công nghiệp Dung Quất có diện tích 14.000 ha, nằm trên địaphận 2 tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi, bao gồm nhiều khu công nghiệp nhỏ,một số khu đô thị, khu dân cư và các công trình công cộng đã được khởicông tháng 1 năm 1998 Xây dựng khu công nghiệp Dung Quất đòi hỏi cónguồn vốn đầu tư rất lớn, dự tính nguồn đầu tư phát triến cơ sở hạ tầng sẽ tù'nhiều nguồn khác nhau như vốn Ngân sách, đầu tư theo hình thức BOT, vốnđầu tư của tư nhân trong nước và nước ngoài Đen thời điểm hiện nay, các chủđầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đang tập trung đầu tư di dân, tái định cư và giảiphóng mặt bằng, xây dựng hệ thống giao thông, cấp điện, nước, thông tin liênlạc, chuấn bị cho việc xây dựng nhà máy lọc dầu số 1- công trình đầu tiên vàcũng là công trình trọng điểm của khu công nghiệp này.

Như đã nói ở trên, chủ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp,khu chế xuất đa phần là các doanh nghiệp Việt Nam Các doanh nghệp ViệtNam (chủ yếu là doanh nghiệp quốc doanh) đầu tư hạ tầng đến nay đã thựchiện được 1.697 tỷ đồng, mà nguồn vốn đế xây dựng hạ tầng chủ yếu là tù'nguồn tín dụng ưu đãi và từ tiền thuê đất ứng trước của các nhà đầu tư thứ cấp(đối với một số ít khu) và một phần nhở là vốn tự có của doanh nghiệp Dovậy, doanh nghiệp trong nước xây dựng hạ tầng thường được tập trung vốn íthơn, vừa đầu tư, vừa khai thác đem vào kinh doanh dẫn đến việc xây dựng hạtầng chậm và có chất lượng không bằng các khu công nghiệp do doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài xây dựng

Việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng khu công nghiệp, khu chế xuất của cácdoanh nghiệp Việt Nam đều thực hiện theo hình thức cuốn chiếu, chủ đầu tưphân kỳ công tác xây dựng cơ sở hạ tầng trên cơ sở vốn đầu tư hạn hẹp Vì thế,hầu hết các khu công nghiệp, khu chế xuất này hiện nay đều chưa có cơ sở hạtầng hoàn chỉnh (trừ khu công nghiệp Biên Hoà 11 đã được xây dựng xong cơ

sở hạ tầng và đã cho thuê được hơn 90% diện tích đất có thể cho thuê)

2 Tình hình phát triển KCN trong 3 năm 2001, 2002 và 2003:

Trang 35

Trong các năm này, các KCN cho thuê thêm được trên 1921 ha, bằng72% diện tích đất cho thuê trong các năm trước đó.

2.1.2 Thực hiện von đầu tư xây dựng hạ tầng KCN.

Trong 2 năm 2001-2002, tổng vốn đầu tư xây dựng hạ tầng các KCN ướcđạt trên 3000 tỷ đồng, vốn đầu tư thực hiện của các KCN chủ yếu tạp trungvào các KCN do doanh nghiệp Việt Nam làm chủ đầu tư vốn thực hiện củacác doanh nghiệp FDI ít do một số KCN do doanh nghiệp FDI có một số đãxây dựng hoàn thiện cơ sở hạ tầng như Nomura, Tân Thuận, Long Bình, ĐàNằng hoặc đã hoàn thiện cơ sở hạ tầng giai đoạn I và hiện đang tập trung thuhút đầu tư lấp đầy giai đoạn này như khu Nôi Bài, Thăng Long (Hà Nội),AMATA (Đồng Nai), Linh Trung (TP Hồ Chí Minh), Việt Nam-Singapore(Bình Dương)

Vốn hỗ trợ từ ngân sách: Thủ tướng Chính phủ đã quyết định chính thứccho phép 5 địa phương thực hiện đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN theohình thức đơn vị sự nghiệp có thu, trong đó có 3 địa phương đã tiến hành đầu

tư từ vốn ngân sách là Phú Thọ (khu Thuỵ Vân), Thanh Hoá (Lễ Môn), ĐàNằng (Hoà Khánh) với tống vốn thực hiện 200 tỷ đồng, trong đó có trên 41 tỷ

Trang 36

vốn ngân sách, số còn lại là tù’ nguồn vốn vay của Quỹ hồ trợ phát triến hoặc

từ vốn ứng trước của các nhà thầu

2.1.3 về thu hút đầu tư.

Trong hai năm qua, có trên 500 dự án FDI được cấp GPĐT mới vào cácKCN , KCX, với tổng vốn đầu tư đăng ký 1772 triệu USD ( bằng 43% vốn dầu

tư cấp mới của cả nước) và có trên 300 dự án tăng vốn, với tống vốn đầu tưtăng thêm 779 triệu USD (bằng 44% tổng vốn đầu tư tăng thêm của cả nuớc)

Cũng trong các năm này có thêm trên 130 dự án đầu tư trong nước đầu tưvào các KCN , với tổng vốn đầu tư gần 17.000 tỷ đồng Các dự án đầu tư trongnước vào các KCN chủ yếu tập trung ở các địa phương thuộc vùng trọng điếmkinh tế Nam Bộ

2.1.4 Tình hình sản xuất kinh doanh.

Tuy năm 2001, 2002, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn do thị trườngxuất khẩu (nhất là đối với doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử, may mặc), tuynhiên với việc có thêm một số doanh nghiệp mới đi vào sản xuất (như CanonViệt Nam, một số doanh nghiệp ở Bình Dương, Đồng Nai, ) nên nhìn chungtổng doanh thu, kim ngạch xuất khẩu của các doanh nghiệp trong KCN vẫntăng

Tổng doanh thu đạt trên 11 tỷ USD, xuất khẩu trên 6,2 tỷ USD, nộp ngânsách gần 410 triệu USD Trong đó, các doanh nghiệp FDI trong KCN đạtdoanh thu khoảng 7,8 tỷ us, xuất khẩu đạt 4,8 tỷ USD, nộp ngân sách trên 320

tr USD

Đen nay có trên 400 ngàn lao động đang làm việc tại các KCN, trong đó

có 233 ngàn lao động làm việc tại các doanh nghiệp KCN

2.2 Tình hình phát triển KCN năm 2003.

- Thành lập thêm 15 KCN , tổng diện tích khoảng 3000 (căn cứ các dự ánđang trình tại Bộ ta, Bộ xây dựng và tình hình chuẩn bị ở các địa phương)

Trang 37

-Thu hút thêm 300 dự án FDI đầu tu mới, tống vốn đăng ký khoảng 800

tr USD và gần 300 dự án đầu tư trong nước với tống vốn đăng ký mới khoảng

9000 tỷ đồng Tổng diện tích đất thuê thêm là 1200 ha

- Tình hình sản xuất kinh doanh: doanh thu đạt khoảng 6 tỷ USD, xuấtkhấu 3,6 tỷ USD, nộp ngân sách 320 tr USD Trong đó doanh thu của cácdoanh nghiệp FDI đạt khoảng 4,8 tỷ USD, xuất khẩu khoảng 2,8 tỷ USD, nộpngân sách trên 200 tr USD

2.3 Đánh giả tình hình thực hiện trong ba năm vừa qua.

2.3 ỉ Các thành tim đã đạt được.

- Thu hút đầu tư, các KCN đã thu hút được nhiều dự án đầu tư trong nước vàđặc biệt là đầu tư nước ngoài (thu hút trên 2300 dự án đầu tư, tổng vốn đầu tưtrên 9,8 tỷ USD và 55 800 nghìn tỷ đồng), đây là nguồn vốn quan trọng chođầu tư phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Ngoài việc thu hút vốn đầu tư vào các cơ sở sản xuất và dịch vụ sản xuất,việc các doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế (doanh nghiệp quốcdoanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp ngoài quốcdoanh) tham gia đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng KCN, ngoài việc tạo nguồn vốnđầu tư phát triển cơ sở hạ tầng , đã đa dạng hoá công tác xúc tiến đầu tư, gópphần hấp dẫn trong việc thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước

- Góp phần tăng trưởng kinh tế, tạo thêm năng lực sản xuất mới, tạo nguồnhàng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, góp phần chuyếndịch cơ cấu kinh tế và đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá hiện đại hóa; tạo điềukiện phát triến công nghiệp theo quy hoạch, tránh tụ’ phát, phân tán; tiết kiệmđất đai; sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư, tiết kiệm chi phí sản xuất

- Tạo việc làm, tạo thêm việc làm cho người lao động, tạo thu nhập chongười lao động và chuyển đổi cơ cấu lao động Ngoài số lao động trực tiếptrong các doanh nghiệp KCN , các KCN cũng tạo thêm việc làm, đặc biệt tronglĩnh vực xây dựng, cung ứng vật liệu và dịch vụ

Trang 38

- Là hạt nhân thúc đấy phát triến kinh tế vùng, lãnh thô, đấy nhanh tốc độ dôthị hoá Điều này có thế dàng nhận thấy ở những vùng có KCN phát triểnmạnh như Nhơn Trạch (Đồng Nai), Thuận An (Bình Dương) Trong quátrình phát triển KCN, các điều kiện về cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong khu vựcđược cải thiện, mặt khác do nhu cầu về các dịch vụ gia tăng, nên ngoài kết quả

về doanh thu, xuất khấu, nộp ngân sách, các KCN góp phần thúc đấy hoạtđộng kinh doanh dịch vụ và tạo doanh thu cho các cơ sở dịch vụ

Các KCN được thành lập trong thời gian qua ngoài việc đấy nhanh tốc độ đôthị hoá tại các trung tâm công nghiệp lớn, đã bắt đầu có tác động lan toả tíchcực trong việc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn

- Tập trung xử lý chất thải, bảo vệ môi trường Do tập trung các cơ sở sảnxuất nên có điều kiện thuận lợi trong việc kiếm soát, xử lý chất thải và bảo vệmôi trường, KCN là địa điểm tốt đế di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từnội thành, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững Đây là một trong số các mụctiêu đặt ra đổi với việc thành lập KCN

- Cơ chế quản lý một cửa, tại chỗ đã được các BQL KCN cấp tỉnh thực hiệntrong quá trình quản lý hoạt động KCN một cách có hiệu quả và được đánh giácao Bằng cơ chế uỷ quyền, các BQL KCN cấp tỉnh có thế giải quyết cácvướng mắc của doanh nghiệp trong thời gian ngắn nhất, tiết kiệm chi phí chonhà đầu tư

Các thảnh tuu ban đầu của quá trình phát triển KCN cỏ thể thấy do cácnguyên nhân:

+ Đường lối, chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước trong phát triếnKCN để tạo tiền đề cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Chủtrương đối mới, mở cửa nền kinh tế, mở rông hợp tác quốc tế và phát huynộilực đẻ tăng trưởng kinh tế đã được quán triệt rộng rãi từ Trung ương đến địaphương và các thành phần kinh tế

Trang 39

+ Tuy hệ thống chính sách phát triến KCN chưa thật hoàn chỉnh nhưngbước đầu đã tạo được hành lang pháp lý cho việc vận hành các KCN Đây làvấn đề cần được tiếp tục hoàn thiện trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tếcủa công tác phát triển KCN.

+ Sự quan tâm chỉ đạo của Bộ, ngành trong công tác quản lý, phát triếnKCN Bằng cơ chế uỷ quyền, các Bộ, ngành đã tạo điều kiện cho BQL pháthuy tốt cơ chế quản lý một cửa, tại chỗ, thực hiện các giám sát về chuyên môn

đế đảm bảo sao cho các vướng mắc của doanh nghiệp được giải quyết nhanh

và đúng pháp luật

+ ý chí quyết tâm và sự quan tâm của Đảng bộ, HĐND, UBND các tỉnh,thành phố đối sự phát triển KCN trên địa bàn là nhân tố quan trọng đế phát huylợi thế của địa phương, của vùng Bài học các địa phương có KCN phát triểncho thấy, sự thống nhất ý chí của các cấp ở địa phương là yếu tố quyết định đốivới sự phát triển của KCN, đưa các chủ trương chính sách về phát triển KCNcủa Đảng và Nhà nước đi vào cuộc sống

+Tình thần quyết tâm khắc phục khó khăn, chủ động tìm kiếm giải pháphiệu quả đế xây dựng phát triển KCN của các BQL KCN , các doanh nghiệpphát triển hạ tầng, các doanh nghiệp KCN được coi là một trong các yếu tốquan trọng nhất đảm bảo sự thành công của việc phát triển KCN

2.3.2 Những tổn ta ị trong công tác phát triên KCN và nguyên nhân.

Bên cạnh các thành tựu đã đạt được, công tác phát triến KCN thời gianqua đã thể hiện một số tồn tại

+ Quy hoạch phát triển KCN chưa thực sự gắn với quy hoạch phát triểnkinh tế xã hội của ngành, của vùng lãnh thố Do vậy hiệu qua sử dụng vốn vàxây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật thấp, đôi khi tạo nên sự cạnh tranh không lànhmạnh trong thu hút đầu tư

Trang 40

Bất cập này có thế sơ bộ đánh giá nguyên nhân là do chưa có một quyhoạch tổng thể mang tính quốc gia đối với việc phát triển các KCN trên cơ sởcân đối theo địa phương và vùng lãnh thổ, theo ngành và theo chiến lược pháttriển kinh tế xã hội.

+ Công tác vận động xúc tiến đầu tư trong bối cảnh hội nhập và gia tăngcạnh tranh tù' các nước trong khu vục gặp nhiều khó khăn

Trong những năm đầu việc thu hút đầu tư vào các KCN , KCX chủ yếutập trung vào đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhưng trong bối cảnh thu hút đầu tưnước ngoài gặp một sổ khó khăn do khủng hoảng kinh tế thế giới vừa qua vàthực tế thu hút đầu tư tại một số địa phương đã cho thấy đầu tư trong nướcngày càng đóng vai trò quan trọng

Do vậy, với sự thông thoáng của Luật doanh nghiệp , ngoài việc chú trọngvận động đầu tư trực tiếp nước ngoài, phải đặc biệt chú ý các dự án đầu tưtrong nước với những cơ chế, chính sách thích hợp nhằm phát huy cao nhất nộilực

+ về cơ chế chính sách, hiện nay vẫn tồn tại hai hệ thống pháp luật vềđầu tư (pháp luật về đầu tư trong nước và pháp luật về đầu tư nước ngoài),trong khi với cùng điều kiện thương mại như nhau (giá thuê đất, giá thuê cơ sở

hạ tầng, chi phí nhân công ) nhưng cóphân biệt tương đối rõ rệt giữa đầu tưtrong nước với đầu tư nước ngoài, điều này gây thắc mắc cho các nhà đầu tưđồng thời cũng là trở ngại khi chúng ta tham gia qúa trình hội nhập nền kinh tếthế giới và khu vực

Điều này chỉ có thế khắc phục được khi thống nhất mặt bằng pháp lý ápdụng cho đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài

+ Phát sinh các vấn đề xã hội, bên cạnh những thành tựu về đóng gópphát triển kinh tế -xã hội, việc phát triển KCN, KCX thời gian vừa qua cũngthể hiện một số bất cập mang tính xã hội, như việc tập trung lao động quá cao

ở một sổ khu vục trong khi các điều kiện hạ tầng xã hội (đường giao thông,

Ngày đăng: 15/01/2016, 16:24

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 5: Phân loại khu công nghiệp, khu chế xuất theo tỷ lệ cho thuê đất. - Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quy hoạch và quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất
Bảng 5 Phân loại khu công nghiệp, khu chế xuất theo tỷ lệ cho thuê đất (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w