tài liệu tham khảo Góc nhìn từ sự đấu tranh và thay thế giữa các lý luận phân phối thu nhập
Trang 1TP HCM, tháng 18/11/2012.
Trang 2MỤC LỤC:
I LỜI MỞ BÀI
úa trình tái sản xuất hiện nay bao gồm các quá trình: sản xuất, phân phối, thu nhập và
tiêu dùng.Trong đó quá trình phân phối là một khâu quan trọng không thể thiếu được trong quá trình này.Nó nối liền với sản xuất, trao đổi với tiêu dùng Phục vụ và thúc đẩy sản xuất, phục vụ tiêu dùng Không những thế, quan hệ phân phối còn là một yếu tố rất quan trọng trong quan hệ sản xuất, nó phản ánh mối quan hệ giữa lợi ích của mỗi thành viên và lợi ích của toàn xã hội.Các nước đang phát triển mặc dù có tốc độ tăng trưởng bình quân cao nhưng nó chỉ làm tăng phúc lợi của người giàu, người giàu được hưởng lợi rất nhiều, trong khi đó đại bộ phận dân
cư đặc biệt là người nghèo đời sống lại không được cải thiện Tại sao lại có tình hình trên?
Có nhiều cách để lý giải khác nhau, nhưng theo các nhà kinh tế học nguyên nhân chính cuả tình hình trên là do tác động của phân phối, trong đó yếu tố phân phối thu nhập giữ vai trò chủ đạo Nếu mức thu nhập bình quân thấp, phân phối thu nhập càng bất công thì dẫn đến kết quả là tổng cầu của nền kinh tế một quốc gia bị ảnh hưởng Với Việt Nam chúng ta- một đất nước đang trong thời kỳ quá độ lên CNXH do nền kinh tế còn nhiều thành phần kinh tế nên cũng còn có nhiều hình thức lợi ích kinh tế khác nhau và tất yếu là còn xuất hiện nhiều mâu thuẫn giữa các hình thức lợi ích kinh tế đó Một trong những yêu cầu của nền kinh tế là kịp thời phát hiện ra mâu thuẫn và tìm cách giải quyết các mâu thuẫn đó Việc giải quyết các quan hệ về lợi ích kinh tế được thể hiện thông qua quan hệ phân phối thu nhập Nếu phân phối thu nhập được công bằng hơn thì sẽ tăng được mức sống của đại bộ phận dân cư
Nhóm 15 xin trình bày bài tiểu luận “Góc nhìn từ sự đấu tranh và thay thế giữa các lý luận phân phối thu nhập”,với bố cục như sau:
I. LỜI MỞ BÀI
II. NỘI DUNG CHÍNH
Chương 1:Tổng quan
1.1. Lý do chọn đề tài
Trang 31.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.2.1. Đối tượng nghiên cứu
1.2.2. Phạm vi nghiên cứu
1.3. Mục tiêu nghiên cứu
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 3: Cơ sở thực tiễn
III. KẾT LUẬN
Tiểu luận được thực hiện từ mối quan tâm trên.Với vốn kiến thức của chúng em cùng những tìm hiểu trong thời gian qua,mong phần nào mô tả tình hình,lý giải nguyên nhân.Mặc dù cố gắng hết mình nhưng chúng em không thể không mắc thiếu sót.Rất mong
sự thông cảm và giúp đỡ của thầy
II NỘI DUNG CHÍNH
Xuất phát từ nhu cầu cấp thiết “sự đấu tranh và thay thế lẫn nhau về mặt lý luận xung quanh vấn đề phân phối thu nhập trong xã hội”, “tình hình thu nhập chung ở Việt Nam” Cải cách trong phân phối thu nhập sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lợi ích của
người lao động, và nên tiến hành như thế nào để đảm bảo được lợi ích người lao động, đến lợi ích của toàn quốc gia…? Đây là vấn đề đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo người lao động và chuyên gia nghiên cứu Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn nêu trên mà chúng tôi lựa chọn đề
Trang 4tài này nhằm hiểu rõ hơn về hệ thống phân phối thu nhập ở Việt Nam
1.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.2.1 Đối tượng nghiên cứu
-Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thu nhập và phân phối thu nhập Đề tài tập
trung đi sâu phân tích tình hình thu nhập và phân phối thu nhập của “tiền lương ở Việt Nam hiện nay”để tìm ra nguyên nhân và biện pháp giải quyết.
-Để nắm được đối tượng nghiên cứu trên, đề tài đã khai thác số liệu thứ cấp từ Tổng cục thống kê, sách, báo, Internet
1.2.2 Phạm vi nghiên cứu
Thu nhập của người dân Việt Nam hiện nay
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Nhằm hiểu rõ hơn về hệ thống phân phối thu nhập ở Việt Nam
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp qua internet:các trang web thống kê,ngành có liên quan;sách ,báo ,và các đề tài có nội dung liên quan đến đề tài của nhóm…nhằm làm rõ các khái niệm,thuật ngữ,…
Phương pháp thảo luận nhóm
Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
• Phương pháp suy luận
• Phương pháp phân tích-tổng hợp-so sánh
• Phương pháp toán thống kê
Chương 2: Cơ sở lý luận
Lý luận “thu nhập và phân phối thu nhập” không chỉ trở thành mối quan tâm từ thời kỳ CNTB mà còn trong các thời đại trước, ví dụ: Augustin Siant (354-450), Thomas d’Aquin(1225-1274), Thomas more(1478-1535), Tomado Campanon (1556-1639), Augustin Siant là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “giá cả công bằng” Theo ông, trong giá cả công bằng gồm 2 ý nghĩa: thứ nhất, giá cả công bằng phù hợp với giá cả trung bình, thứ tùy theo sự đánh giá của các đẳng cấp khác nhau Ông luôn kêu gọi mọi người phải làm việc và tuyên truyền cho khẩu hiệu “Ai không làm thì không ăn” Thomas d’Aquin, với sự bên vực lợi ích cho đại địa chủ và nhà thờ cho rằng
“lợi nhuận không mâu thuẫn với lòng tự thiện”, gọi lãi suất là một “quà tặng vô tư”, một khoảng tiền cho những rủi ro Theo ông, địa tô, lợi nhuận thương mại là sự trả công cho lao động gắn liền với quản lý tài sản đất, mà ruộng đất là tặng phẩm của thượng đế ban cho vua chúa, quan
Trang 5Thu nhập và phân
phối thu nhập là
không hợp lý
Đứng trên giai cấp tiểu tư sản
Símondi
proudhon
Đứng trên giai cấp công nhân
Biểu đồ 1: Thu nhập và phân phối thu nhập là không hợp lý
Biểu đồ 2: Thu nhập và phân phối thu nhập là công bằng
Trang 6Thu nhập và phân phối thu nhập là công bằng.
Lợi ích
Trường phái tư sản hiện đại
Trường phái Keynes
Trường phái tân cổ điển
Jean Baptisete Say
Giá trị - lao động
Petty
quesney
Adam Smith
RicardoMalthus
Một số khái niệm cơ bản:
Trang 7 Phân phối thu nhập là gì?
Trong một nền kinh tế thị trường thuần tuý, thu nhập được quyết định bởi những nguồn tài nguyên thanh toán mà các cá nhân và hộ gia đình nhận được trên thị trường các nguồn tài nguyên Mức lương, lãi suất, tiền thuê và lợi nhuận nhận được được quyết định bởi giá các nguồn tài nguyên trên thị trường các nguồn tài nguyên và số lượng các nguồn tài nguyên được sở hữu bởi các cá nhân và hộ gia đình Những hộ gia đình này cùng với những loại hàng hoá có giá trị cao nhất nhận được thu nhập cao nhất Số lượng đất đai, vốn và nhân lực (ở mức độ nào đó), một phần được quyết định bởi thu nhập nhận được do các thế hệ trong quá khứ của gia đình Hệ thống quyết định thu nhập này có thể dẫn tới một sự phân phối thu nhập hoàn toàn bất bình đẳng.II.1. Lý luận phân phối thu nhập của William Petty
Lí luận về tiền lương
- W.Petty lấy lí luận giá trị làm cơ sở lí luận tiền lương Ông xác định tiền lương là khoản giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết tối thiểu cho công nhân
- Tiền lương không thể vượt quá những tư liệu sinh hoạt cần tối thiểu Ông kịch liệt phản đối những trường hợp tăng tiền lương quá cao, bởi vì trong thời đại W.Petty, tư bản chưa có thể bắt công nhân lệ thuộc hoàn toàn vào nó, chủ nghĩa tư bản chưa có máy móc, tư bản còn phụ thuộc vào công nhân, tư bản phải dựa vào sự ủng hộ của nhà nước, đề ra những đạo luật cấp tăng lương
- Ông rút ra kết luận: tiền lương tỉ lệ nghịch với giá cả hoàn toàn trái ngược với kết luận của K.Marx: tiền lương tỉ lệ thuận với giá trị sức lao động Dù sai lầm, nhưng W.Petty đã nêu được
cơ sở khoa học của tiền lương là giá trị của các tư liệu sinh hoạt
-Về lợi tức: ông coi lợi tức là địa tô của tiền và cho rằng nó lệ thuộc vào mức địa tô (trên đất mà người ta có thể dùng tiền vay để mua) Trong cuốn “Bàn về tiền tệ”, ông coi lợi tức là số tiền thưởng, trả cho sự nhịn ăn tiêu, coi lợi tức cũng như tiền thuê ruộng
- Về giá cả sản xuất:
+ Giá cả sản xuất là do thu nhập quyết định, nó là số địa tô hằng năm.Ông cho rằng giá cả ruộng đất là địa tô nhân với 20 Đây là một sai lầm của Petty, vì ông không thấy được vai trò của lợi tức đối với giá cà ruộng đất Ông chưa thấy giá cả ruộng đất chính là địa tô tư bản hóa
Có thể thấy W.Petty là người đầu tiên nhấn mạnh tính chất khách quan của những quy luật tác động trong xã hội tư bản Đánh giá về W.Petty, F.Engels nói rằng “Bóng của W.Petty đã bao trùm lên khoa học kinh tế chính trị trong suốt hơn nửa thế kỉ từ 1691 đến 1752, tất cả mọi nhà kinh tế chính trị học dù tán thành hay phản đối ông, đều lấy ông làm điểm xuất phát ”
Trang 8II.2. Francois Quesney (1694-1774): đại diện tiêu biểu cho phái trọng nông:
Ông là người theo quan điểm “ qui luật sắt về tiền lương”, cần phải để cho tiền lương bằng
mức sống tối thiểu Bởi vì cung lao động luôn lớn hơn cầu lao động nên nhà tư bản có điều kiện
trả lương ở mức tối thiểu Vì trả lương ở mức tối thiểu nên sản phẩm của người công nhân nông
nghiệp bằng tổng của tiền lương và sản phẩm thuần túy Trong đó tiền lương là thu nhập của
người lao động, sản phẩm thuần túy là thu nhập của nhà tư bản Như vậy lợi nhuận là thu nhập
không cần lao động của nhà tư bản do công nhân tạo ra
II.3. Lý luận phân phối thu nhập của A dam Smith:
Ông sinh ngày 5/6/1723 trong một gia đình làm nghề hải quan ở Scotland Ông có rất
nhiều lí luận hay, một trong số đó là “lí luận về phân phối”
Trong lí luận này, ông chia xã hội ra thành 3 giai cấp cơ bản gắn liền với quyền sở hữu tư
liệu sản xuất và thu nhập
1. Giai cấp công nhân – thu nhập là tiền công
2. Giai cấp các nhà tư bản (bao gồm tư bản công nghiệp, nông nghiệp và thương nghiệp) – thu nhập
là lợi nhuận
3. Giai cấp chủ đất – thu nhập là địa tô
Về tiền công: ông cho rằng, tiền công là thu nhập của công nhân, gắn với lao động của họ,
nó là sự bồi hoàn nhờ công lao động
Theo ông, trong sản xuất hàng hóa đơn giản cũng có tiền công, nó bằng toàn bộ sản phẩm
của lao động Còn trong CNTB, tiền công cần phải đủ để đảm bảo cho người công nhân mua
phương tiện sống, tồn tại và phải cao hơn mức đó
Ông cho rằng, tiền công không thể thấp hơn chi phí tối thiểu cho cuộc sống của người công
nhân Nếu quá thấp họ sẽ không thể làm việc và bỏ ra nước ngoài Tiền công cao sẽ kích thích
tiến bộ kinh tế vì nó làm cho tăng năng suất lao động Ông thấy được các nhân tố tác động đến số
lượng tiền công Đó là điều kiện kinh tế - xã hội, truyền thống văn hóa, thói quen tiêu dùng; quan
hệ cung cầu trên thị trường lao động…
Tuy nhiên, ông không hiểu được bản chất của tiền công Ông chỉ thấy sự được sự khác nhau
về số lượng giữa tiền công trong sản xuất hàng hóa giản đơn và trong CNTB Ông quan niệm tiền
công là giá cả của lao động bởi vì ông không hiểu phạm trù sức lao động Đây là một hạn chế lớn
của ông khi phân tích lí luận về tiền công
II.4. Lý luận về phân phối thu nhập của D.Ricardo
Vấn đề phấn phối chiếm vị trí quan trọng trong lý luận kinh tế của ông
Trang 9- Về tiền lương, ông coi trọng lao động cũng như các hàng hóa khác có giá cả thị trường và giá cả
tự nhiên Giá cả thị trường của lao động là tiền lương, nó lên xuống chung quanh giá cả tự nhiên
+ Giá cả tự nhiên của lao động bằng với giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết cho cuộc sống của người công nhân và gia đình anh ta Nó phụ thuộc vào điều kiện lịch sử, trình độ phát triển, truyền thống và hình thức tiêu dùng của mỗi dân tộc
+ Ông ủng hộ “ quy luật sắt về tiền lương”, tiền lương phải ở mức tối thiểu và không được cao hơn mức đó Ông cho rằng người công nhân không nên than phiền về tiền lương thấp
vì đây là quy luật tự nhiên
+ Ông chống lại sự can thiệp của Nhà nước vào thị trường lao động và không nên giúp đỡ người nghèo vì như vậy sẽ vi phạm quy luật tự nhiên
- Về lợi nhuận, Ông cho rằng, người công nhân tạo ra giá trị lớn hơn tiền lương của mình Đó là lợi nhuận của tư bản Điều đó chứng tỏ Ông đã thấy sự bóc lột
Tuy nhiên, ông không thừa nhận nó bởi vì ông không có khái niệm giá trị thặng dư Ông cho rằng, lợi nhuận là thu nhập của tư bản công nghiệp nhận được so với tư bản ứng trước (k-> p)
- Về địa tô, ông đạt thành công lớn khi phân tích địa tô Ông giải thích lý luận này trên cơ sở lý luận giá trị-lao động
+ Theo ông, do ruộng đất có hạn, năng suất lại thấp bởi độ màu mỡ ngày càng giảm, năng suất bất tương xứng mà nhu cầu lương thực thì ngày càng cao bởi dân
số tăng nhanh nên cần phải canh tác trên cả ruộng đất xấu Do đó, giá cả thị trường của nông sản sẽ được quyết định bởi giá trị nông sản sản xuất trên ruộng đất xấu.+ Chênh lệch giữa giá trị nông sản phẩm được sản xuất trên đất trung bình và đất tốt với giá trị nông sản phẩm trên đất xấu gọi là địa tô
II.5. Lý luận phân phối thu nhập của Sismond
Sismondi (1773-1842), một nhà kinh tế học tiểu tư sản nổi tiếng, khi dựa trên lý luận giá tri
- lao động đã cho rằng lợi nhuận là thu nhập của tư bản được lấy từ sản phẩm của lao động của công nhân
Sismondi cho rằng tiền lương của người công nhân thấp là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản Ông đã vạch ra quá trình tích lũy của chủ nghĩa tư bản là quá quá trình tích tụ tập trung những của cải vào tay người giàu có và tích tụ sự bần cùng về phía người lao động làm thuê Theo ông tiền lương phải bằng tất cả những sản phẩm lao động của công nhân mà muốn có được điều đó thì chỉ có trên nền sản xuất nhỏ, nơi mà người chủ tư liệu sản xuất cũng đồng thời là người trực tiếp lao động, sản xuất sản phẩm, ở đó không tồn tại quan hệ thuê mướn Vì vây ông chỉ ủng hộ việc phát triển nền sản xuất nhỏ
Trang 10Theo ông, địa tô là tặng phẩm của tự nhiên Đây là một hạn chế lớn của sismondi , bởi vì ông không thấy được bản chất bóc lột của địa chủ (cũng là một tầng lớp không lao động) Tuy nhiên, ông thấy được những người canh tác trên ruộng đất xấu cũng phải nộp tô, đây là mầm móng của lý luận địa tô tuyệt đối mà trước ông không một tác giả nào thấy kể cả Ricardo.
Sismondi đã công khai vạch rõ tình cảnh khổ cực của giai cấp công nhân làm thuê là do sự phát triển của sản xuất cơ khí hóa Ông đã phê phán lý luận “Bồi thường hay chủ nghĩa công nghiệp” của J.B.Say và cho rằng chủ nghĩa tư bản càng phát triển thì tình hình của giai cấp công nhân càng điêu đứng và tiền lương của họ càng sụt giảm Điều đó chứng tỏ ông là người có cảm tình với giai cấp công nhân Lần đầu tiên sismondi đã đề cập đến vấn đề bảo hiểm xã hội Ông thấy đời sống của người công nhân không ổn định nên tán thành việc thành lập các quỹ trợ cấp cho công nhân khi đau ốm, già yếu và những nhu cầu cần thiết khác Ông đòi hỏi phải có bảo hiểm tai nạn và chăm sóc công nhân khi tai nạn lao động xảy ra và thực hiện chế độ bảo hộ lao động cho người công nhân
II.6. Lý luận phân phối thu nhập của Robert Mathus
Mathus đã sử dụng yếu tố tầm thường trong học thuyết của Adam Smith, tức là việc quy định tỷ giá lao động Theo ông, chi phí để sản xuất ra hàng hóa bao gồm lượng lao động ( sống
và vật chất) đã chi phí và lợi nhuận của tư bản ứng trước Như vậy, Methus phủ nhận vai trò của lao động là nguồn gốc tạo ra giá trị và coi lợi nhuận là yếu tố cấu thành khác của giá trị Từ đó ông giải thích lợi nhuận như là khoảng thặng dư ngoài số lao động hao phí để sản xuất hàng hóa Tức là, lưu thong là lĩnh vực trong đó lợi nhuận xuất hiện do bán hàng hóa đắt lên
Vậy lợi nhuận là một khoảng cộng thêm vào giá cả, xuất hiện là do chuyển nhượng, nhưng
ai là người trả khoảng đó? Theo ông lợi nhuận không thể xuất hiện trong việc trao đổi giữa các nhà tư bản Mathus nhận định trong phạm vi khả năng những người đảm nhiệm sản xuất không thể tìm ra lượng cầu có khả năng thanh toán phần lượng cung của mình Do đó tình trạng thừa hàng hóa sẽ xuất hiện Xã hội chỉ có nhà tư bản và công nhân thì không thể tránh khỏi tai họa.Theo Mathus, lối thoát của chủ nghĩa tư bản là phải tăng mức tiêu dùng của giai cấp không sản xuất Họ phải hoang phí hơn để nên lượng cầu đầy đủ cho nhà tư bản Chính vì vậy, phải có địa tô, thuế, chi phí cho quân đội và chiến tranh ngày càng tăng
Điểm tiến bộ của ông so với thời kì cổ điển:
- Cái mới của ông là đã giải thích được thước đo giá trị Theo ông, lao động có thể mua được, giá trị hàng hóa là do chi phí để sản xuất ra hàng hóa đó quy định
- Kích thích sự tiêu dùng của “người thứ ba’ để hạn chế khủng hoảng
- Thấy được “lưu thông ” với tư cách vai trò trong “ tư bản”
Trang 11Điểm thụt lùi:
- Phủ nhận vai trò là nguồn gốc tạo ra giá trị
- Cải cách mang tính phi nhân đạo “ phải có địa tô, thuế, chi phí cho quân đội và chiến tranh ngày càng tăng’ Trong khi đó, đời sống xã hội đang gặp lẩn quẩn
II.7. Học thuyết kinh tế của Jean Baptiste Say ( 1766-1832):
Đặc điểm phương pháp luận của J.B.Say
- Phương pháp luận của J.B.Say mang tính tâm lí chủ quan trong việc đánh giá các hiện tượng và quá trình kinh tế, phủ định qui luật khách quan.Đây là điểm khác biệt với trường phái cổ điển
- Ông muốn tách chính trị ra khỏi kinh tế Ông cho rằng kinh tế là một môn khoa học nghiên cứu việc sản xuất, phân phối và tiêu dùng đơn thuần về mặt kĩ thuật chứ không nghiên cứu quan hệ giữa người với người trong quá trình đó Ông cho rằng qui luật của sản xuất là vĩnh cửu
- Trong quá trình nghiên cứu, Say đã tách rời các khâu của quá trình tái sản xuất:sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng
2.7.1 Lý luận về phân phối thu nhập của ông
Lý luận về ba “nhân tố sản xuất” :
Say cho rắng có ba nhân tố tham gia vào việc sản xuất giá trị Đó là:
+ Lao động của công nhân: tạo ra tiền lương
+ Tư bản: tạo ra lợi nhuận
+ Đất đai: tạo ta địa tô
- Mỗi nhân tố có một vai trò riêng trong việc tạo ra giá trị Như vậy đây là sự phát triển giáo điều của A.Smith về các bộ phận của giá trị hàng hóa Mục đích của Say là phát triển quan điểm này của A.Smith để che giấu nguồn gốc thật sự của lợi nhuận mà ngay chính các nhà kinh tế cổ điển
đã phân tích
Lý luận về lợi nhuận :
Say coi lợi nhuận không phải là kết quả của sự bóc lột lao động của công nhân mà là kết quả của đầu tư tư bản
Ông cũng phân biệt nhà tư bản cho vay và nhà kinh doanh
Lợi tức là thu nhập do tư bản mang lại và tương đối ổn định và lợi nhuận kinh doanh là phần thưởng về năng lực hoạt động của doanh nhân, là công của lao động quản lí của doanh nhân
2.7.2 Nhận xét lí luận thu nhập của J.B.Say
Quan điểm thu nhập của Say đối lập với học thuyết giá trị lao động về nguồn gốc của thu nhập Ông phủ nhận sự bóc lột của chủ tư bản đối với người làm thuê Quan điểm về thu nhập của Say là cơ sở để hình thành học thuyết năng suất cận biên sau này
II.8. Lí luận phân phối thu nhập của những người xã hội không tưởng
Saint Simon (1760-1825) kịch liệt phê phán xã hội đương đại và đề nghị thay thế nó bằng một xã hội tốt đẹp hơn trong tương lai Khi phê phán một cahcs kịch liệt xã hội tư bản, đòi thay thế nó bằng một xã hội mới thì Saint Simon cũng vạch ra được những nét cơ bản của xã hội
Trang 12tương lai đó Ông mô tả đó là một hệ thống công nghiệp Xã hội công nghiệp sẽ phát triển trên
cơ sở nền sản xuất đại công nghiệp phát triển theo một kế hoạch ấn định trước Trong xã hội mới, ông đặt nguyên tắc “nghĩa vụ lao động” cho tất cả mọi người, kể cả nhà tư bản Mục đích của xã hội mới là sản xuất những sản phẩm cần thiết có ích để tạo điều kiện cho con nguwoif phát triển toàn diện Việc xây dựng xã hội mới được xây dựng theo con đường hòa bình, chuyển chính quyền từ giai cấp không sản xuất sang giai cấp những nhà công nghiệp
Giống như Saint Simon, Charles Fourier (1772 - 1832) đã hình dung một xã họi mới với
mô hình một xã hội bình đẳng bao gồm các tổ hợp người sản xuất được thành lập trên cơ sở tự nguyện của mọi người, sự “cộng đoàn” dựa trên sự “hấp dẫn say mê” Xã hội “cộng đoàn” là một
xã hội không có giai cấp và hài hòa, không có sự bần cùng, không có sự bất bình đẳng và chiến tranh Theo Charles Fourier, muốn xây dựng một xã hội “cộng đoàn” thì cần phải đem việc ccnah tác nông nghiệp tahy cho những công việc kĩ nghệ càng nhiều càng tốt Như vậy nông nghiệp sản xuất theo kế hoạch là cơ sở của chế độ mới, còn công nghiệp chỉ giữ vai trò phụ thuộc trong nông nghiệp Charles Fourier chống lại đại canh tác mà đề nghị hướng nông nghiệp vào trồng hoa, trái cây và chăn nuôi tiểu gia súc Tổ chức lao động thành từng tốp nhỏ và mọi người có thể chuyển đỏi từ tốp chuyên môn này sang tốp khác tùy theo sựu lựa chọn của mình
II.9. Lí luận thu nhập của Karl Marx
Lí luận thu nhập của Karl Marx (1818-1883) đưuọc xây dựng trên cơ sở lí luận giá trị lao động và mang đầy tính chất phê phán của chủ nghĩa tư bản Về tiền lương, Marx đã vạch trần bản chất của tiền lương CNTB nhờ phát minh ra tính chất hai mặt của lao động: lao động cụ thể và lao động trừu tượng từ đó phát hiện ra phạm trù sức lao động Sức lao động là toàn bộ sức lực tồn tai trong cơ thể của người lao động Trong điều kiện không còn tư liệu sản xuất và được tự do
về thân thể, muốn tồn tại người có sức lao động sẽ phải bán sức lao động của mình cho nhà tư bản, nghĩa là làm thuê cho nhà tư bản, và nhận được một khoản thu nhập do bán sức lao động đó
là tiền lương Tiền lương tư bản chủ nghĩa chỉ là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị sức lao động kết quả của nguời công nhân là tạo ra một giá trị mới v+m, nhưng họ chỉ được nhận một khoản bằng với giá trị sưc lao động của mình Đó là tiền lương Nó bằng với những giá trị tư liệu sinh hoạt tối thiểu cần thiết cho người công nhân và gia đình anh ta cùng với những phí tổn đào tạo Phần còn lại giá trị lao động tạo ra thuộc về nhà tư bản Marx gọi là giá trị thặng dư (m) vậy bản chất tiền lương TBCN là quan hệ bóc lột giá trị thặng dư được phân chia giữa các nhà tư bản, nó biểu hiện thành lợi nhuận của các doanh nghiệp, lợi tức của tư bản chủ nghĩa cho vay và địa tô của chủ đất
II.10. Lí luận phân phối thu nhập của trường phái Keynes
Trang 13Keynes (1883- 1946) cho rằng lãi suất là số tiền trả cho việc không sử dụng tiền mặt trong một khoảng thời gian nhất định chứ nó không chứa đựng một quan hệ xã hội nào và có hai nhân
tố ảnh hưởng tới lãi suất:
Thứ nhất, khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông Nếu khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông càng tăng thì lãi suất càng giảm và ngược lại thứ hai, sự ưa thích tiền mặt lãi suất có quan hệ chặt chẽ với tình hình đàu tư tư bản khi quyết định một cuộc đầu tư accs nhà đàu tư sẽ so sánh giữa lãi suất và hiệu quả cận biên của tư bản Keynes phân biệt nhà tư bản cho vay với doanh nhân Nhà tư bản cho vay là người có tư bản cho người khác vay và thu nhập của họ là lợi tức cho vay Theo Keynes, việc tăng đầu tư sẽ dẫn đến giảm hiệu quả cận biên của tư bản mối quan
hệ giữa đầu tư và hiệu quả cận biên của tư bản được thể hiện qua khái niệm “đường cong đầu tư” hay “đường cong hiệu quả cận biên của tư bản” hiệu quả cận biên của tư bản có mối quan hệ với lãi suất nếu lãi suất cao hơn hoặc bằng lãi suất cận biên của tư bản thì nhà tư bản sẽ không tiếp tục đầu tư Như vật giới hạn của các cuộc đầu tư là sự chênh lệch giữa hiệu quả cận biên của tư bản và lãi suất
II.11. Các quan điểm của các nhà kinh tế học tư sản hiện đại
Các quan điểm về thu nhập của các nhà kinh tế học tư sản hiện đại đã phát triển quan điểm của các nhà tư sản cổ điển hiện nay khi đề cập đến vấn đề lợi nhuận có thể phân biệt 4 quan điểm cơ bản; thuyết “tiết dục” coi lợi nhuận là tiền thưởng cho chủ tư bản vì anh ta đã tiết kiệm trong tiêu dung chấp nhận sự “rủi ro” trong kinh doanh, chịu thử thách trong khi chờ đợi kết quả đầu tư vào sản xuất; thuyết coi lợi nhuận là thu nhập có lao động của nhà tư bản Đây là lao động trí óc, sự sáng tạo tỏng snar xuát kinh doanh và do tiến hành cỉa tiến kĩ thuật; thuyết coi lợi nhuận
và thu nhập do sự tồn tại của các độc quyền Đặc điểm chung của của tất cả các học thuyết này là phủ nhận bản chất bóc lột của nhà tư bản, xem thu nhập của tư bản là thu nhập tự nhiên trong xã hội tư bản
Tổng kết sự đấu tranh và thay thế giữa lý luận phân phối thu nhập
Sự đấu tranh và thay thế lẫn nhau trong phân phối thu nhập có hai quan điểm chính là “thu nhập
và phân phối thu nhập trong xã hội tư bản chủ nghĩa là công bằng” và “thu nhập và phân phối thu nhập trong xã hội tư bản chủ nghĩa là bất công bằng”